Với mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, góp phần bổ s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của luận văn, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, những người đã ân cần dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt những năm học tập dưới mái trường này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Nguyễn Thị Yến – giảng viên khoa Luật Kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội Cô đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình làm luận văn
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý, chỉ bảo của các thầy
cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Hương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA VÀ CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 5
1.1.1 Khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 5
1.1.2 Đặc điểm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 10
1.2 Khái niệm và đặc điểm các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng kỳ hạn 13
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng quyền chọn 17
1.2.3.Khái niệm và đặc điểm hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa 22
1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA 27
2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa trong nước 27
2.1.1 Hợp đồng kỳ hạn 27
2.1.2 Hợp đồng quyền chọn 40
2.1.3 Hợp đồng môi giới và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 45
2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nước ngoài 50
Trang 42.2.1.Nội dung giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nước ngoài 51 2.2.2 Nội dung hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nước ngoài 54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA 59
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 59 3.2 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 62
3.2.1.Cần sửa đổi khái niệm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn 62 3.2.2 Hạn chế quyền hạn của thành viên kinh doanh trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 65 3.2.3 Xây dựng văn bản pháp luật quy định riêng về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa 67
KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cho đến nay,sở giao dịch hàng hóa (Commodity exchange) đã không còn
xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới Kể từ lần đầu tiên xuất hiện ở Chicago (Mỹ) năm 1848, sở giao dịch hàng hóa đã không ngừng phát triển và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại hàng hóa, góp phần phát triển nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, ở Việt Nam, trước khi Luật Thương mại năm 2005 được ban hành, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch là quan hệ thương mại còn khá mới mẻ và lạ lẫm với nhiều người, do người kinh doanh chủ yếu giao dịch thông qua phương thức giao ngay, còn về mặt luật pháp thì trước
đó, chưa từng có quy định dưới luật đề cập đến vấn đề này Với thị trường tiềm năng hơn 80 triệu dân, trong đó phần lớn là sản xuất nông nghiệp, cộng với nền kinh tế ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục
và sự hội nhập thương mại quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu về sự hình thành
sở giao dịch hàng hóa và pháp luật điều chỉnh các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch là rất lớn
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua Luật Thương mại và hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 Luật Thương mại năm 2005 đã dành 11 điều tại mục 3 Chương 2 để quy định về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Việc Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận chính thức hình thức mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là cơ sở pháp lý quan trọng để các giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa hình thành và phát triển ở nước ta, tạo điều kiện cho các thương nhân Việt Nam tiếp cận và sử dụng hình thức kinh doanh mới này
Tuy nhiên, với 11 điều luật, Luật Thương mại năm 2005 mới chỉ quy định các khái niệm cơ bản, thành lập và chức năng của sở giao dịch, chủ thể, quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể … tham gia vào hoạt động mua bán thông qua sở giao dịch Theo đó, việc điều chỉnh các nội dung liên quan đến các hợp đồng
Trang 6liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được đề cập đến rất hạn chế
Với mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, góp phần bổ sung và hoàn thiện các quy định của
pháp luật điều chỉnh các hợp đồng này, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật hiện
hành về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là vấn đề đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu Có thể kể đến một số bài viết, công trình nghiên cứu như:
- “Giáo trình Luật Thương mại” (2006), tập 2, Chương IX của trường Đại học Luật Hà Nội; bài viết: “Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa (hợp đồng giao sau) nhìn từ góc độ của Luật dân sự” của TS Phạm Văn
Tuyết, Tạp chí Luật học số 5/2006; bài viết: “Đặc trưng cơ bản của quan hệ
mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa theo pháp luật Việt Nam” của
thạc sĩ Nguyễn Thị Yến, Tạp chí Luật học số 6/2007; bài viết: “Quan niệm về
thị trường hàng hóa giao sau và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa”
của PGS.TS Nguyễn Viết Tý, Tạp chí Luật học số 1/2010;bài viết: “Một số bình
luận về thực thi pháp luật mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Dung, Tạp chí Luật học số 1/2011và một số bài viết
liên quan đến vấn đề này được đăng tải trên các trang web
- Luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Yến
- Khóa luận tốt nghiệp: “Pháp luật về hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền
chọn trên thị trường hàng hóa giao sau” của tác giả Bùi Thị Hương Xuân
(2008); “Mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch theo pháp luật Việt Nam hiện
hành” của tác giả Phạm Chí Dũng (2008); “Tìm hiểu các quy định của pháp
Trang 7luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quaSở giao dịch hàng hóa” của tác giả
Hoàng Thị Thu Hằng (2012)
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu đề cập đến những vấn đề chung, khái quát về sở giao dịch hàng hóa và mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là triết học Mác – Lênin, các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến đề tài của luận văn Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, diễn giải để
thực hiện đề tài
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích làm sáng tỏ bản chất pháp
lý và thực tiễn quy định của pháp luật về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh các loại hợp đồng này
Để thực hiện mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, từ đó làm rõ được những đặc trưng cơ bản của các hợp đồng này so với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường và hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài sở giao dịch;
- Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa;
Trang 8- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa;
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa;
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Các hợp đồng liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Luận văn không tập trung nghiên cứu hoạt động mua này dưới góc độ khoa học kinh
tế mà chỉ nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp lý có liên quan hiện hành
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Khái quát về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và
các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến
hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các
hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA VÀ CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
1.1 Khái niệm và đặc điểm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
1.1.1 Khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Vào những năm 1840, khi mà việc sản xuất ngày càng phát triển nhờ sự cải tiến về công nghệ thì những người nông dân nước Mỹ thường đến Chicago để bán ngũ cốc cho các thương gia Những người này sẽ đưa lượng hàng hóa này đi khắp cả nước Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không
đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân Khối lượng sản xuất ngày càng lớn trong khi hệ thống vận tải chưa phát triển phù hợp không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa Khi những người nông dân đến Chicago họ không hề biết trước giá cả thị trường, hơn nữa, vào thời điểm đó ở Chicago có rất ít các cộng
cụ để cất trữ hàng hóa và cũng không có một quy trình chuẩn nào để cân và đánh giá chất lượng ngũ cốc, khiến cho nông dân rơi vào thụ động và phụ thuộc vào thương nhân Thị trường tiêu thụ hỗn loạn, các nhà đầu cơ lợi dụng tình trạng này để ép giá làm giá ngũ cốc giảm mạnh sau vụ thu hoạch rồi sau đó lại tăng lên khi nguồn cung đã được giải tỏa Những hiện tượng mang tính chu kỳ như vậy đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho người sản xuất lương thực, do đó, những người nông dân đã tìm cách tránh rủi ro bằng cách bán ngũ cốc trước khi vận chuyển đến nơi tiêu thụ, kể cả với mức giá thấp hơn một ít so với giá dự kiến khi ngũ cốc được đưa đến thị trường Người mua và người bán lúc này phải thỏa thuận với nhau về số lượng ngũ cốc, chất lượng, giá cả, thời gian, địa điểm giao hàng và nhận tiền Ban đầu, những hoạt động này diễn ra tự phát, riêng lẻ nhưng dần dần do tính ưu việt của nó trong việc tiêu thụ cũng như lưu thông hàng hóa, hoạt động này lại trở nên ngày càng phổ biến Do vậy, một thị trường mới được hình thành, một thị trường mà ở đó người mua và người bán gặp nhau để thỏa thuận, cam kết với nhau về việc mua bán, giao hàng và
Trang 10nhận tiền trong tương lai Tuy nhiên, ở một thị trường mới như vậy, việc tìm được đúng người mua và người bán đúng với số lượng và chất lượng hàng hóa nông sản mình cần không phải là một việc dễ dàng Chính vì vậy, trên thị trường lúc này xuất hiện một người thứ ba – người trung gian với vai trò chắp nối những người cần mua và cần bán lại với nhau Nhưng việc chắp nối của người trung gian thực không đơn giản, để hành nghề họ cũng phải bỏ thời gian và sức lao động và để thu được lợi nhuận họ cũng phải gánh chịu những rủi ro khi không gặp được đúng người mua và người bán Các hiện tượng như vậy đã đặt
ra cho các nhà kinh tế một nhiệm vụ cần phải giải quyết, một mặt để giải tỏa được những ách tắc trong lưu thông, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác đây cũng là một thị trường kinh doanh hết sức hấp dẫn Chính
vì vậy, vào năm 1848, Chicago Boad of Trade (CBOT) đã được mở ra bởi 82 thương nhân buôn ngũ cốc ở một thị trấn nhỏ là Midwesterm như là một trung tâm mua bán nơi mà những người nông dân và các thương nhân có thể gặp gỡ
để đổi tiền lấy việc giao ngay những loại hàng hóa nông sản như lúa mì, trên cơ
sở những quy định nhất định đã được CBOT thiết lập sẵn về việc đánh giá và cân đo lúa mì, việc cất trữ phần lúa mì còn lại chưa được giao dịch, cũng như việc đấu thầu giá cả và giải quyết các tranh chấp diễn ra Đây chính là sở giao dịch hàng hóa đầu tiên trên thế giới
Như vậy, sở giao dịch hàng hóa đầu tiên trên thế giới ra đời trên cơ sở sự phát triển của hoạt động mua bán nông sản, nhằm bảo hiểm rủi ro cho những người sản xuất cũng như kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp Cùng với sự hội nhập kinh tế và làn sóng tự do hóa thương mại trên toàn cầu, sự hình thành các sở giao dịch hàng hóa ngày càng nhiều với khối lượng giao dịch ngày càng lớn, có thể kể đến những sở giao dịch lớn trên thế giới như Sở giao dịch thương nghiệp Chicago, Sở giao dịch kỳ hóa Chicago, Sở giao dịch bông New York, Sở giao dịch thương nghiệp New York, Sở giao dịch hàng hóa Nhật Bản, Sở giao dịch kim loại London …
Trang 11Ở Việt Nam, mua bán hàng hóa tương lai xuất hiện từ rất sớm với việc người nông dân bán những ruộng lúa của mình cho tư thương trước khi thu hoạch với giá cả được thỏa thuận vào thời điểm giao kết hợp đồng và giao hàng khi đến vụ thu hoạch Tuy nhiên, do quy mô nhỏ bé và xuất hiện đơn lẻ, tự phát nên quan hệ này chỉ dừng lại ở các quan hệ dân sự giữa người nông dân và tư thương Từ năm 2002 trở lại đây, ở Việt Nam xuất hiện một số sàn giao dịch hàng hóa như Sàn giao dịch hạt điều do Hiệp hội cây điều Việt Nam phối hợp với Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) và một đối tác của Mỹ mở ra, Sàn giao dịch thủy sản Cần Giờ (viết tắt tiếng Anh là Can Gio ATC), Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (Buon Ma Thuot Coffee Exchange Center - BCEC),
Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX), trước đây là Sở giao dịch hàng hóa Triệu Phong vàmới đây nhất, ngày 24/4/2013, Sở giao dịch hàng hóa INFO chính thức được thành lập theo Quyết định số 2556/GP-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương Các sở giao dịch hàng hóa trên chủ yếu tập trung vào mua bán các mặt hàng nông sản, có chuẩn hóa chất lượng, phương thức giao dịch và căn cứ vào tình hình biến động của thị trường
Về mặt pháp lý, hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Thương mại năm 2005 và được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 158/2006/NĐ - CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ Đây là hình thức mua bán có thể đáp ứng tốt hơn mong muốn của các nhà sản xuất nhằm giảm thiểu rủi ro cho hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa nông sản Theo TS Phạm Duy Liên thì: “thị trường sở giao dịch hàng hóa là thị trường ở đó người ta buôn bán, trao đổi với nhau không phải là hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng, nhận tiền sẽ được thực hiện trong tương lai” [19]
Khác với các nước có một luật riêng điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nhưng lại không đưa ra khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, ở Việt Nam, hoạt động mua bán hàng hóa qua sở
Trang 12giao dịch hàng hóa được quy định chung trong Luật Thương mại năm 2005 (từ
Điều 63 đến Điều 73), trong đó, Khoản 1 Điều 63 quy định: “mua bán hàng hóa
qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai”
Có thể thấy, việc đưa ra khái niệm “mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa” là một cố gắng đáng ghi nhận của các nhà lập pháp Việt Nam, giúp các thương nhận có thể hiểu về hoạt động mua bán hàng hóa còn khá mới mẻ này và giúp định hình quan niệm của luật pháp Việt Nam về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Tham khảo Luật mua bán hàng hóa tương lai hay Luật về Sở giao dịch hàng hóa nông sản của một số nước như Singapore, Thái Lan, Canada, Hàn Quốc, khó có thể tìm thấy khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được ghi nhận trong luật như ở Việt Nam Luật của các quốc gia này chủ yếu đưa ra những khái niệm về các vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa như khái niệm hàng hóa giao dịch qua
sở giao dịch hàng hóa, các chủ thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, các giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa Cụ thể, khi đưa ra khái niệm về hàng hóa giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa, Luật mua bán hàng hóa tương lai của Singapore quy định: “hàng hóa có nghĩa là bất kỳ một vật phẩm, sản phẩm, hoặc đồ vật, là đối tượng của: a Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai; b Hợp đồng giao hàng kỳ hạn; c Dàn xếp việc mua bán hàng hóa; d Những hợp đồng mua bán hàng hóa khác; hoặc mua bán hàng rời; và bao gồm những chỉ dẫn, quyền và những lợi ích của hàng hóa đó và các chỉ dẫn, quyền và lợi ích bản chất khác mà Bộ trưởng có thể quy định đó là một hàng hóa bằng cách thông báo trên tờ Gazette” [1, tr 36]
Trang 13Cũng đưa ra khái niệm về hàng hóa giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa, Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada năm 1997 quy định:
“hàng hóa được hiểu là hàng hóa nông sản, lâm sản, hải sản, khoáng sản, kim loại, nhiên liệu hydrocacbon, tiền tệ hoặc đá quý, và bất kỳ một loại hàng hóa, vật phẩm, dịch vụ quyền hoặc lợi ích, dù ở dạng gốc hay đã qua chế biến được lựa chọn là hàng hóa theo các quy định trong Luật này.” [1, tr 141]; Luật về Sở giao dịch hàng hóa nông sản của Thái Lan năm 2001 quy đinh: “hàng nông sản
là các loại nông sản và hàng hóa chế biến từ nong sản được Ban giám đốc Sở giao dịch quy định cho Giao dịch kỳ hạn” [1, tr 93]
Về các giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch mua bán hàng hóa, Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada năm 1997 quy định:
“hợp đồng được hiểu là hợp đồng hàng hóa tương lai hoặc quyền chọn hàng hóa tương lai”; “quyền chọn hàng hóa tương lai được hiểu là một quyền, được mua nhằm xem xét quyền mua hoặc quyền bán liên quan đến hợp đồng hàng hóa tương lai với một mức giá cụ thể và trong một khoảng thời gian cụ thể hoặc bất
kỳ sự lựa chọn nào khác có đối tượng của quyền là một hợp đồng hàng hóa tương lai” [1, tr 141] Luật về Sở giao dịch hàng hóa nông sản của Thái Lan năm
2001 quy định: “giao dịch kỳ hạn là việc mua và bán một loại hàng nông sản dưới hình thức bán đấu giá tại sở giao dịch trong đó hàng hóa sẽ được giao và nhận tại một thời điểm trong tương lai với số lượng và giá cả đã được thỏa thuận trước, tuân theo những nguyên tắc, thủ tục và điều kiện do Ban giám đốc Sở giao dịch quy định” [1, tr 93] Luật mua bán hàng hóa tương lai của Singapore quy định: “hợp đồng mua bán hàng hóa là: hợp đồng giao hàng kỳ hạn; hợp đồng được lập theo những hình thức mua bán khác nhau đối với một loại hàng hóa; hoặc hợp đồng được lập theo một giao dịch dàn xếp việc mua bán hàng hóa” [1, tr 37]
Có thể thấy, dù không đưa ra một khái niệm chính thống, song cũng giống như pháp luật Việt Nam, pháp luật các nước đều ghi nhận mua bán hàng hóa qua
sở giao dịch hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa tương lai qua trung gian,
Trang 14theo đó, các bên mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa xác định hoặc mua bán quyền chọn mua, quyền chọn bán của một loại hàng hóa xác định theo quy định của sở giao dịch hàng hóa, giá cả được thỏa thuận vào thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai
1.1.2 Đặc điểm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm sinh lợi khác Như vậy, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là một hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, hay nói các khác, là hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa qua
sở giao dịch hàng hóa
Thứ hai, chủ thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch
hàng hóa bao gồm khách hàng, thành viên kinh doanh, thành viên môi giới của
sở giao dịch hàng hóa.Ngoài ra, còn có trung tâm thanh toán và trung tâm giao nhận hàng hóa của sở giao dịch hàng hóa
Thứ ba, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là phương thức mua
bán hàng hóa thông qua trung gian – sở giao dịch hàng hóa Nội dung các hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được sở giao dịch hàng hóa tiêu chuẩn hóa về số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng Chỉ có giá được các bên trong hợp đồng thỏa thuận Ngoài ra, khi mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, quan hệ mua bán phải tuân thủ các điều kiện do từng sở giao dịch quy định Do đó, các bên tham gia mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa không nhất thiết phải xem xét khả năng thực
tế của bên kia, người mua không phải lo lắng về hàng hóa có được đảm bảo chất
Trang 15lượng, số lượng và người bán cũng không cần phải lo lắng về khả năng thanh toán của bên mua Bởi những điều này đã được sở giao dịch hàng hóa bảo đảm
Thứ tư,mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa song song tồn tại hai
nhóm quan hệ: quan hệ mua bán hàng hóa tương lai được thiết lập giữa người mua và người bán thông qua chủ thể trung gian (sở giao dịch hàng hóa); và quan
hệ dịch vụ được thiết lập giữa khách hàng với thành viên môi giới, thành viên kinh doanh của sở giao dịch hàng hóa, trừ trường hợp thành viên kinh doanh của
sở giao dịch hàng hóa hoạt động tự doanh
Trước khi thiết lập quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, người bán, người mua (gọi chung là khách hàng) phải tham gia vào quan hệ dịch
vụ, đó là dịch vụ môi giới hay ủy thác mua bán hàng hóa theo pháp luật từng nước Nếu khách hàng thỏa mãn điều kiện do thành viên sở giao dịch yêu cầu,
họ sẽ tham gia quan hệ dịch vụ trực tiếp với thành viên sở giao dịch; nếu không,
họ sẽ tham gia quan hệ với người môi giới của mình, người môi giới của khách hàng có thể trực tiếp hoặc thông qua một hoặc một vài chủ thể trung gian để chuyển lệnh mua, lệnh bán của khách hàng đến thành viên sở giao dịch Như vậy, một hoặc một chuỗi quan hệ dịch vụ được thiết lập trước khi khách hàng mua, bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Quan hệ dịch vụ hay những quan
hệ dịch vụ này là tiền đề, là điều kiện để khách hàng tiến hành mua, bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Khi tham gia quan hệ dịch vụ, lệnh mua, lệnh bán hàng hóa của khách hàng sẽ được các chủ thể thực hiện dịch vụ chuyển lên
sở giao dịch hàng hóa để khớp lệnh, qua đó thỏa mãn nhu cầu mua, bán hàng hóa của khách hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận Bù lại, các chủ thể thực hiện dịch
vụ trung gian bao gồm: thành viên sở giao dịch, người môi giới của khách hàng, một hoặc một số chủ thể trung gian (nếu có) và bản thân sở giao dịch sẽ được hưởng thù lao khi lệnh mua, lệnh bán của khách hàng được khớp trên sở giao dịch Tuy nhiên, quan hệ dịch vụ sẽ không xảy ra nếu thành viên sở giao dịch hàng hóa tự mua, bán hàng hóa cho chính mình nhằm mục đích lợi nhuận
Trang 16Khi lệnh mua, lệnh bán hàng hóa của khách hàng được khớp trên sở giao dịch hàng hóa, hình thành một quan hệ thứ hai là quan hệ mua bán hàng hóa qua
sở giao dịch hàng hóa.Đây là giao dịch chính, là mục đích của các bên khi tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Thứ năm, đối tượng của giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng
hóa là hàng hóa Tuy nhiên, hàng hóa được các bên thỏa thuận giao kết phải là hàng hóa được phép giao dịch tại sở giao dịch, tuân thủ các quy định về loại hàng, tiêu chuẩn chất lượng, chủng loại … Theo thông lệ chung, hàng hóa được mua bán qua sở giao dịch thường là những hàng hóa được giao kết với số lượng lớn và có sự biến động mạnh về giá cả, ví dụ: nông sản (gạo, hạt tiêu, cà phê
…), vàng, kim loại màu … Hàng hóa được giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa
có thể đã hiện hữu hoặc chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng
Thứ sáu, trong hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, giá
mua hàng hóa là giá tại thời điểm giao kết hợp đồng còn thời gian giao hàng được các bên ấn định vào một thời điểm trong tương lai theo quy định của từng
Trang 17hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được giao kết, người mua chỉ phải đặt một khoản tiền ký quỹ để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng mà chưa phải thanh toán cho toàn bộ giá trị hàng hóa mà mình đã đặt mua; ngược lại, người bán cũng chưa phải giao hàng mà chỉ phải đặt một khoản tiền ký quỹ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ (iv) Trong hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, các bên không phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự vi phạm hợp đồng đối với nhau mà chủ thể trung gian sẽ chịu trách nhiệm nếu xảy ra vi phạm, tranh chấp liên quan đến giao hàng, thanh toán trong quan hệ mua bán
1.2 Khái niệm và đặc điểm các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Như đã trình bày ở trên, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được thực hiện thông qua hai nhóm quan hệ: một là nhóm quan hệ dịch vụ, hai là nhóm quan hệ mua bán hàng hóa
Quan hệ dịch vụ là quan hệ giữa người có nhu cầu mua, bán hàng hóa qua
sở giao dịch hàng hóa (khách hàng) với những người thực hiện dịch vụ (thành viên môi giới và thành viên kinh doanh của sở giao dịch hàng hóa).Quan hệ dịch
vụ được thể hiện dưới hình thức hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được thiết lập giữa người bán và người mua thông qua sở giao dịch; hoặc thành viên sở giao dịch hàng hóa hoạt động tự doanh, mua bán hàng hóa cho chính mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận.Quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được thể hiện dưới hình thức hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng kỳ hạn
Theo Điều 64 Luật Thương mại năm 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn
“Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam
Trang 18kết nhận hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng” (Khoản 2 Điều 64)
Có thể thấy, việc Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm hợp đồng
kỳ hạn, một trong hai loại hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa đã đặt nền móng cho các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch Tuy nhiên, khái niệm này tỏ ra chưa thật chuẩn xác, chưa mô tả được đầy đủ nội dung của hoạt động này và không thực sự tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới Hoạt động mua bán hàng hóa tương lai, bao gồm mua bán hàng hóa tương lai qua sở giao dịch hàng hóa và mua bán hàng hóa tương lai ngoài sở giao dịch hàng hóa được thực hiện dưới các dạng: mua bán kỳ hạn, thể hiện dưới hình thức hợp đồng kỳ hạn (tiếng Anh là Forward contract); mua bán hàng hóa tương lai, thể hiện dưới hình thức hợp đồng tương lai (tiếng Anh
là Futures contract); mua bán quyền chọn đối với hàng hóa tương lai, thể hiện dưới hình thức hợp đồng quyền chọn (tiếng Anh là Options contract) Hợp đồng
kỳ hạn dùng để chỉ những quan hệ mua bán hàng hóa tương lai được thực hiện ngoài sở giao dịch hàng hóa; hợp đồng tương lai dùng để chỉ những quan hệ mua bán hàng hóa tương lai qua sở giao dịch hàng hóa; hợp đồng quyền chọn
được thực hiện trong hoặc ngoài sở giao dịch hàng hóa [18, tr 116] Ở đây, Luật
Thương mại năm 2005 quy định hợp đồng kỳ hạn là một trong hai loại hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Điều này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn trong cách hiểu về hợp đồng này
Về cơ bản, có thể thấy hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng mua hay bán một số lượng hàng hóa nhất định ở một thời điểm xác định trong tương lai theo một mức giá nhất định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp đồng hay ngày đáo hạn Thời gian từ khi ký kết hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của hợp đồng Tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn, không hề có sự trao đổi hàng hóa hay thanh toán tiền.Hoạt động thanh toán xảy ra trong tương lai tại thời điểm xác định trong hợp đồng Vào lúc đó, hai bên thỏa thuận buộc phải thực hiện nghĩa vụ mua bán
Trang 19theo mức giá đã xác định trong hợp đồng, bất chấp giá thị trường lúc đó là bao nhiêu
Về đặc điểm, theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định
số 158/2006/NĐ - CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa (gọi tắt là Nghị định số 158/2006/NĐ - CP), hợp đồng kỳ hạn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng kỳ hạn Trong hoạt động mua bán hàng hóa
qua sở giao dịch hàng hóa, người mua và người bán không trực tiếp thực hiện các giao dịch với sở giao dịch hàng hóa mà phải thông qua một chủ thể trung gian, đó là thành viên kinh doanh của sở giao dịch hàng hóa.Pháp luật các nước đều ghi nhận quyền nhận ủy thác mua bán hàng hóa từ khách hàng của thành viên kinh doanh Thông qua hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, khi thực hiện các giao dịch mua, bán hàng hóa với sở giao dịch hàng hóa, thành viên kinh doanh sẽ nhân danh chính mình và những hành vi của thành viên kinh doanh sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho chính họ chứ không phải khách hàng
Như vậy, chủ thể của hợp đồng kỳ hạn lúc này không phải là người mua, người bán hàng hóa (khách hàng) mà thành viên kinh doanh doanh được nhận
ủy thác từ phía khách hàng Trong trường hợp thành viên kinh doanh mua bán hàng hóa cho chính mình, thành viên kinh doanh sẽ có tư cách của một nhà đầu
tư, một khách hàng có quyền đặt lệnh trực tiếp tại sở giao dịch hàng hóa
Thành viên kinh doanh của sở giao dịch hàng hóa phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Điều 21 Nghị định số 158/2006/NĐ - CP, bao gồm: (i) Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (ii) Vốn pháp định là bẩy mươi lăm tỷ đồng trở lên; (iii) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải có bằng đại học, cử nhân trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật
Trang 20Doanh nghiệp, (iv) Các điều kiện khác theo quy định của Điều lệ hoạt động của
Sở giao dịch hàng hóa
Thứ hai,về đối tượng của hợp đồng Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
kỳ hạn khi các bên hướng tới việc giao nhận hàng trên thực tế.Trong trường hợp người bán, người mua trong hợp đồngkỳ hạn không hướng tới việc giao và nhận hàng thực qua sở giao dịch hàng hóa mà dùng hợp đồng để đầu cơ về giá hàng hóa nhằm tìm kiếm lợi nhuận, đối tượng của các giao dịch lúc này chính là hợp đồng kỳ hạn
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của hợp đồng kỳ hạn là hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, được Bộ trưởng Bộ Công thương công bố trong từng thời kỳ và theo điều lệ của từng sở giao dịch hàng hóa
Thứ ba, thời điểm giao hàng và giá cả Trong hợp đồng kỳ hạn, thời điểm
giao hàng không phải là thời điểm giao kết hợp đồng mà là một thời điểm trong tương lai được các bên thỏa thuận ấn định Theo thông lệ chung của các sở giao dịch hàng hóa các nước, thời gian giao hàng do từng sở giao dịch quy định áp dụng đối với từng mặt hàng cụ thể
Giá hàng hóa trong hợp đồng kỳ hạn cũng không phải là giá hàng hóa đang giao dịch trên thị trường vào thời điểm giao kết hợp đồng do sở giao dịch hàng hóa công bố mà là giá giao sau, một mức giá mà cả người bán và người mua đều
dự liệu rủi ro về giá trong tương lai và là mức giá mà cả hai bên đều chấp nhận được Đây được coi là điểm đặc trưng nhất của hợp đồng kỳ hạn so với các hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường
Thứ tư, nội dung của hợp đồng Nội dung hợp đồng kỳ hạn phải tuân thủ
các điều khoản được tiêu chuẩn hóa tại sở giao dịch hàng hóa nơi hợp đồng được giao dịch Cụ thể, những điều khoản mẫu như: đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng, điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán … đã được sở giao dịch hàng hóa quy định cụ thể Hợp đồng kỳ hạn có nội dung tương tự giống như hợp đồng theo mẫu, có nghĩa là các điều khoản đã được chuẩn hóa và buộc
Trang 21các bên phải tuân theo khi muốn tham gia vào hợp đồng Nhưng hợp đồng kỳ hạn không phải là hợp đồng theo mẫu, vì hợp đồng theo mẫu chỉ do một bên soạn thảo và đưa ra, bên kia của hợp đồng chỉ có quyền ký hoặc không ký Còn trong hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng là do một bên đưa ra các yêu cầu mua hoặc bán một lượng hàng hóa với giá cả, số lượng, kỳ hạn … nhất định, một bên chấp nhận mua hoặc bán lượng hàng hóa đó thông qua trung gian là sở giao dịch hàng hóa với giá cả trùng hoặc sát nhất với mức giá mà bên kia đưa ra
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng quyền chọn
Khoản 3Điều 64 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hợp đồng về
quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi
là tiền mua quyền) Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó”
Như vậy, hợp đồng quyền chọn xác lập quyền chứ không phải nghĩa vụ, đó
là quyền mua hoặc quyền bán một lượng hàng hóa nhất định với mức giá nhất định (giá thực hiện) tại một thời điểm trong tương lai
Hợp đồng quyền chọn đưa ra một quyền lựa chọn thực hiện hay không thực hiện một giao dịch nhất định vào một thời điểm trong tương lai Nếu hợp đồng quyền chọn được thực hiện, bên mua hoặc bên bán quyền chọn sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các điều khoản hợp đồng bằng cách giao hàng, hoặc nếu không thực hiện quyền chọn, thì sẽ thanh toán bằng tiền mặt.Đối với bên mua, khả năng lỗ sẽ chỉ giới hạn trong giá phải trả để mua quyền chọn mua Lý do là vì nếu tại thời điểm thực hiện quyền chọn mua, giá thị trường thấp hơn giá thực hiện, bên mua quyền chọn sẽ không thực hiện quyền chọn mua nữa mà sẽ mua hàng hóa trên thị trường.Nếu một quyền chọn không được thực hiện, nó sẽ hết hiệu lực, không xảy ra trao đổi hàng hóa và bên mua quyền chọn sẽ mất khoản tiền mua quyền chọn
Trang 22Hợp đồng quyền chọn mang lại lợi ích cho cả bên mua và bán quyền Bên bán quyền chắc chắn được hưởng khoản tiền bán quyền, không phụ thuộc vào việc bên mua quyền có giao và nhận hàng thực trong tương lai hay không; chỉ khi sự biến động của hàng hóa vượt quá khoản tiền này, bên bán quyền mới gặp rủi ro Bên mua quyền giữ thế chủ động trong giao dịch, nếu giá cả biến động vượt quá khoản tiền bán quyền, họ sẽ được hưởng lợi nhuận không giới hạn; nếu giá cả ít biến động hoặc biến động theo chiều hướng bất lợi, rủi ro của họ chỉ giới hạn ở khoản tiền mua quyền
“Hợp đồng quyền chọn không phải là giao dịch trung hòa – lợi nhuận của bên mua quyền chọn sẽ không phản ánh đúng thiệt hại của bên bán quyền chọn
cụ thể, hoặc bất kỳ sự lựa chọn nào khác có đối tượng của quyền là một hợp đồng hàng hóa tương lai” [1, tr141] Luật mua bán hàng hóa tương lai Singapore năm 2007 định nghĩa: “Giao dịch quyền chọn hàng hóa tương lai là một giao dịch về hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai, trong đó cho phép một người có quyền đối ứng mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa nhất định ở một mức giá
ấn định trước trong khoảng thời gian nhất định và bao gồm những lựa chọn về đối tượng mua bán của hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai” [1, tr 39 ]
Về đặc điểm, hợp đồng quyền chọn có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, chủ thể của hợp đồng quyền chọn Cũng giống như hợp đồng kỳ
hạn, chủ thể của hợp đồng quyền chọn là thành viên kinh doanh được nhận ủy thác từ phía khách hàng thông qua hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Trang 23Hai là, đối tượng của hợp đồng quyền chọn Đối tượng của hợp đồng
quyền chọn là hàng hóa khi người mua quyền chọn thực hiện việc giao hoặc nhận hàng thực qua sở giao dịch; hoặc là quyền không giao và nhận hàng thực qua sở giao dịch khi người giữ quyền chọn rơi vào thế bất lợi hơn so với thời điểm giao kết hợp đồng; hoặc là quyền chọn mua, quyền chọn bán hàng hóa gắn với việc mua hoặc bán lượng hàng hóa xác định với mức giá định trước đã được giao kết
Ba là, giá trong hợp đồng quyền chọn Giá trong hợp đồng quyền chọn
không phải là giá trả cho lô hàng mà khách hàng muốn mua mà là phí quyền chọn hay còn gọi là tiền mua quyền (premium) Khoản tiền này do bên mua quyền đề nghị và bên bán quyền chấp nhận và sẽ không hoàn trả nếu bên mua không thực hiện hợp đồng Nói cách khác, hợp đồng quyền chọn mua, quyền chọn bán cho phép dồn nghĩa vụ về một bên – bên bán quyền Khi đã nhận khoản tiền bán quyền (chọn mua hoặc chọn bán), bên bán quyền bị ràng buộc về nghĩa vụ theo hợp đồng Nếu giá cả thị trường biến động theo hướng bất lợi cho bên bán quyền (cao hơn hoặc thấp hơn so với giá thỏa thuận trong hợp đồng), bên bán quyền vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình nếu bên mua quyền thực hiện việc nhận hàng (đối với quyền chọn mua) và giao hàng (đối với quyền chọn bán) Trường hợp này bên bán quyền sẽ gặp rủi ro, vì khoản tiền mà bên bán quyền thu được là giới hạn nhưng rủi ro về giá cả thị trường là không giới hạn Nếu giá cả thị trường biến động theo hướng có lợi cho bên bán quyền, bên mua quyền không thực hiện hợp đồng quyền chọn đã giao kết, bên bán quyền cũng chỉ được lợi trong phạm vi khoản tiền bán quyền hay phí quyền chọn đã được nhận Điều này đòi hỏi bên bán quyền phải có tiềm lực kinh tế mạnh và phải có
dự đoán tốt về sự biến động giá cả trong tương lai để không bị rủi ro quá cao đồng thời vẫn thu được lợi nhuận từ việc bán, mua hàng hóa và bán quyền chọn mua, quyền chọn bán đối với hàng hóa Còn đối với bên mua quyền, rủi ro của
họ đã được hạn chế trong khoản tiền mua quyền mà họ phải trả cho bên chấp nhận bán quyền, nếu mất, họ chỉ mất khoản phí này, còn nếu được, họ sẽ được
Trang 24nhiều hơn khoản phí đã bỏ ra Điều này tạo ra sự khác biệt cơ bản với hợp đồng
kỳ hạn: “Hợp đồng kỳ hạn là một giao dịch trung hòa, nghĩa là mỗi một đô – la
mà bên mua kỳ hạn thu được sẽ là một đô – la mà bên bán kỳ hạn bị mất Số đô
la mà mỗi bên thu được hay mất đi trong một hợp đồng kỳ hạn bằng nhau và đối ngược nhau
Rủi ro đối với bên mua là không giới hạn, và rủi ro đối với bên bán cũng vậy.” [1, tr 6]
Bốn là, mục đích của hợp đồng quyền chọn Cũng giống như hợp đồng kỳ
hạn, hợp đồng quyền chọn được xác lập nhằm hạn chế rủi ro cho cả bên bán và bên mua Tuy nhiên, nếu trong hợp đồng kỳ hạn, đến thời điểm giao hàng, bên bán bắt buộc phải giao và bên mua bắt buộc phải nhận hàng hóa hoặc thanh toán khoản tiền chênh lệch, cho dù giá cả trên thị trường đã thay đổi khiến một bên không còn có lợi trong hợp đồng Nhưng với hợp đồng quyền chọn, đối với bên mua quyền, họ có quyền thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng đã giao kết
Sự lựa chọn không thực hiện hợp đồng không bị coi là vi phạm hợp đồng Như vậy, khoản phí quyền chọn thực sự là khoản tiền để bảo hiểm rủi ro cho bên mua quyền, nếu giá cả biến động mạnh, họ cũng chỉ chịu rủi ro là khoản tiền phí mà mình đã trả mà không phải chịu toàn bộ rủi ro từ hợp đồng
Bên bán quyền cũng được lợi từ hợp đồng quyền chọn, bởi vì sự biến động giá cả trên thị trường không quá mạnh, không vượt quá khoản phí quyền chọn
mà họ đã nhận được thì họ sẽ được lợi Ngược lại, nếu sự biến động thị trường theo hướng bất lợi, khoản tiền bán quyền thu được sẽ bù đắp cho họ một phần rủi ro, trong khi ở hợp đồng kỳ hạn, rủi ro này hoàn toàn không được bù đắp Như vậy, sau khi thực hiện việc mua và bán quyền chọn, mặc dù nghĩa vụ và sự
bị động trong việc thực hiện hợp đồng đều thuộc về bên bán quyền nhưng lợi ích
về cơ hội giảm thiểu rủi ro trong quan hệ mua bán hàng hóa vẫn được chia cho
cả hai bên
Trang 25Từ sự phân tích khái niệm và đặc điểm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn nêu trên, có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm có đặc trưng cơ bản sau:
(i) Sở giao dịch hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa Việc mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa giúp các nhà đầu tư có điều kiện dễ dàng và thuận lợi
để lựa chọn đối tác của mình.Đồng thời, sở giao dịch hàng hóacũng là đơn vị chịu trách nhiệm cuối cùng về mọi hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.Trong sở giao dịch hàng hóa còn có thể xuất hiện nhiều chủ thể làm trung gian cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa như thành viên sở giao dịch, trung tâm thanh toán, trung tâm giao nhận hàng hóa (ii) Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là hợp đồng song
vụ, theo đó, các bên cam kết thực hiện nghĩa vụ trong tương lai Trong hợp đồng
kỳ hạn, bên bán có nghĩa vụ giao một khối lượng hàng xác định cho bên mua và
có quyền nhận tiền vào một thời điểm trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận trước; bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền như đã thỏa thuận trong hợp đồng và
có quyền nhận hàng vào thời điểm đã thỏa thuận Trong hợp đồng quyền chọn, bên mua quyền được mua hoặc được bán hàng hóa có nghĩa vụ trả một khoản tiền nhất định và có quyền chọn mua hoặc chọn bán hàng hóa tại thời điểm trong tương lai theo thỏa thuận, bên bán quyền có quyền nhận tiền và phải thực hiện nghĩa vụ mà mình đã cam kết với bên mua
(iii) Hàng hóa được các bên thỏa thuận giao kết trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa phải là hàng hóa được phép giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa; tuân thủ các quy định về loại hàng, tiêu chuẩn chất lượng, chủng loại và các điều kiện khác mà sở giao dịch hàng hóa đặt ra Hàng hóa được giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa có thể đã hiện hữu hoặc chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng (hàng hóa hình thành trong tương lai) Theo quy định tại Nghị định số 158/2006/NĐ - CP, danh mục hàng hóa giao dịch tại sở giao dịch
Trang 26hàng hóa sẽ do Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) công bố trong từng thời kỳ
(iv) Trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, giá của hàng hóa do các bên mua bán thỏa thuận là giá của hàng hóa tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời hạn giao hàng được xác định tại thời điểm trong tương lai (v) Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật về hợp đồng thương mại nói chung và quy tắc giao dịch ở mỗi sở giao dịch hàng hóa nói riêng
1.2.3 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Như đã phân tích ở trên, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được thực hiện thông qua hai nhóm quan hệ: một là nhóm quan hệ dịch vụ, hai là nhóm quan hệ mua bán hàng hóa Quan hệ dịch vụ được thể hiện dưới hình thức hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm hợp đồng môi giới và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.Nghị định số 158/2006/NĐ - CP của Chính phủ chỉ đề cập đến hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.Theo đó, việc điều chỉnh hai dạng hợp đồng này được tuân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng nói chung và theo Điều lệ hoạt động của sở giao dịch hàng hóa
Về mặt khái niệm, hợp đồng môi giới và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa cũng giống như các hợp đồng dịch vụ khác, đó là
sự thỏa thuận giữa bên làm dịch vụ và bên thuê dịch vụ về việc thực hiện một công việc nhất định để hưởng thù lao Cụ thể, trong hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, công việc phải thực hiện là môi giới giữa những người có nhu cầu mua hàng hóa với những người có nhu cầu bán hàng hóa qua sở giao dịch.Công việc phải thực hiện trong hợp đồng ủy thác mua bán
Trang 27hàng hóa là việc nhận ủy thác từ khách hàng (nhận lệnh ủy thác) để chuyển lệnh mua hoặc lệnh bán một loại hàng hóa nhất định với số lượng, giá cả và tháng giao hàng xác định lên sở giao dịch Khi lệnh mua, lệnh bán hàng hóa được khớp với lệnh bán, lệnh mua hàng hóa tương thích hay nói cách khác, khi hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được xác lập, bên làm dịch
vụ được xem là hoàn thành nhiệm vụ và được hưởng thù lao
Về đặc điểm, hợp đồng môi giới và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóacó những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
được xác lập giữa thành viên môi giới của sở giao dịch hàng hóa (bên môi giới)
và khách hàng (bên được môi giới); hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được xác lập giữa khách hàng (bên ủy thác) và thành viên kinh doanh của sở giao dịch (bên nhận ủy thác) Bên môi giới và bên nhận ủy thác phải là thương nhân và đáp ứng đủ các điều kiện để trở thành thành viên môi giới, thành viên kinh doanh theo quy định của sở giao dịch
Thứ hai, trong hợp đồng môi giới, thành viên môi giới sẽ nhân danh chính
mình trong quan hệ với khách hàng và sẽ nhân danh khách hàng trong quan hệ với bên thứ ba Do đó, trong phạm vi ủy quyền, thành viên môi giới được giao dịch với bên thứba và mọi hành vi do thành viên môi giới thực hiện sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho khách hàng Trong hợp đồng ủy thác, thành viên kinh doanh của sở giao dịch hàng hóa tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa theo sự
ủy quyền và vì lợi tích của bên ủy thác (khách hàng) để hưởng thù lao Nhưng khác với thành viên môi giới của sở giao dịch hàng hóa, thông qua hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, thành viên kinh doanh giao dịch với bên thứ ba sẽ nhân danh chính mình và những hành vi của thành viên kinh doanh sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho chính họ chứ không phải cho khách hàng (bên ủy thác)
Thứ ba, nội dung của hợp đồng môi giới và hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa do các bên thỏa thuận, trong đó, bao gồm
Trang 28hai nội dung chính là công việc bên nhận môi giới, ủy thác phải làm và thù lao dịch vụ mà bên nhận môi giới, ủy thác được nhận
Thứ tư, hình thức của hợp đồng môi giới không được Luật Thương mại
năm 2005 quy định, theo đó, các bên có thể tùy nghi lựa chọn hình thức của hợp đồng Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa phải được lập thành văn bản (Khoản 2 Điều 45 Nghị định số 158/2006/NĐ – CP)
1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Pháp luật có các quy phạm điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là hết sức cần thiết nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, vì:
Thứ nhất, việc quy định hình thức, nội dung, điều kiện của các hợp đồng có
liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch, nếu không có quy định cụ thể sẽ không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể và dẫn đến sự mất ổn định của hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Thứ hai, việc quy định các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóanhằm đảm bảo sự ổn định của hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nói riêng và hoạt động thương mại nói chung Với những quy định của pháp luật hiện hành, khi xác lập một quan hệ dịch vụ hay quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, các chủ thể buộc phải tuân theo những quy phạm nhất định của pháp luật, của sở giao dịch hàng hóa, không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Nếu như các chủ thể vi phạm các quy phạm pháp luật, các quy tắc giao dịch của sở giao dịch hàng hóa thì sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định Những hậu quả pháp lý này sẽ là lời cảnh báo các chủ thể khi tham gia giao dịch phải nghiêm túc thực hiện, tránh những thiệt hại có thể xảy ra gây bất lợi cho chính họ
Trang 29Thứ ba, việc quy định các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là cơ sở để giải quyết khi các tranh chấp liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa xảy ra Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không bắt buộc các bên chủ thể tham gia giao dịch với ai, nội dung gì….nhưng khi các bên đã tự nguyện tham gia vào giao dịch, họ phải chịu trách nhiệm từ chính việc tham gia đó cũng như phải gánh chịu hậu quả pháp lý khi không tuân thủ quy định của pháp luật Việc pháp luật có những quy định về các hợp đồng có liên quan đến mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa giúp cho các bên tham gia giao dịch và Tòa án dễ dàng xác định được quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà các bên phải gánh chịu khi xảy ra tranh chấp
Thứ tư, việc quy định các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại Cho dù ở Việt Nam hay một số nước trên thế giới, pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nói chung và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nói riêng còn khá mới mẻ hay xuất hiện đã lâu thì sự ra đời của các quy phạm pháp luật này cũng góp phần hoàn thiện các quy định về mua bán hàng hóa nói riêng và pháp luật thương mại nói chung Sự tồn tại của các quy phạm pháp luật về hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng môi giới, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa góp phần điều chỉnh một cách toàn diện các quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại, hạn chế việc sử dụng quy phạm pháp luật dân sự trong việc điều chỉnh các hoạt động thương mại đặc thù, đồng thời, giúp cho pháp luật Việt Nam trở nên tương thích với pháp luật thương mại thế giới
Tóm lại, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa tương lai thông qua trung gian, các bên thỏa thuận mua bán hàng hóa vào thời điểm hiện tại nhưng việc giao hàng và thanh toán được thực hiện vào một thời điểm trong tương lai Hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa song song tồn tại hai nhóm quan hệ: nhóm quan hệ dịch vụ và
Trang 30nhóm quan hệ mua bán hàng hóa Tương ứng với đó là các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng môi giới, hợp đồng ủy thác, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn Các hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại nói chung, pháp luật về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và quy tắc giao dịch riêng của từng sở giao dịch hàng hóa
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH
HÀNG HÓA 2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóatrong nước
Ở Việt Nam, pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nói chung và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa nói riêng còn rất sơ sài, chỉ có 11 điều luật trong Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 158/2006/NĐ - CP và Thông tư
số 03/2009/TT – BCT Các quy phạm này mới chỉ nêu khái niệm hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.Về quy tắc giao dịch của sở giao dịch hàng hóa, cho đến nay, duy nhất
Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) là đơn vị ban hành được quy chế thành viên và quy chế giao dịch tại sở giao dịch
Để có cái nhìn cụ thể về các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, ngoài các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, luận văn có trình bày một số quy định của các sở giao dịch hàng hóa trên thế giới như là một ví dụ cụ thể về nội dung của các hợp đồng
2.1.1 Hợp đồng kỳ hạn
2.1.1.1 Nội dung hợp đồng kỳ hạn
Theo các quy định pháp luật hiện hành, dựa trên thực tiễn quy định giao dịch mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam và thực tiễn mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa của một số nước, hợp đồng kỳ hạn có thể bao gồm các nội dung sau:
Đối tượng của hợp đồng
Trong trường hợp các bên hướng tới việc giao nhận hàng thực qua sở giao dịch, đối tượng của hợp đồng kỳ hạn là hàng hóa Theo quy định của pháp luật
Trang 32Việt Nam, hàng hóa giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa do Bộ Công thương quy định trong từng thời kỳ
Ngày 18 tháng 8 năm 2010, Bộ Công thương ban hành Quyết định số 4361/
QĐ – BCT về việc công bố danh mục hàng hóa được phép giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa Theo đó, các sở giao dịch hàng hóa được thành lập và hoạt động tại Việt Nam chỉ được phép thực hiện các giao dịch mua bán có đối tượng là hàng hóa nằm trong danh mục hàng hóa do Bộ Công thương ban hành
Dù được chủ thể nào quy định, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng kỳ hạn hay đối tượng được giao dịch tại sở giao dịch khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Một là, hàng hóa được tiêu chuẩn hóa về số lượng, chất lượng, chủng loại
… theo quy chuẩn của từng sở giao dịch hàng hóa Ví dụ: các chủng loại cà phê khi tham gia giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật sau đây: Robusta loại I S 18 có số mã hàng hoá R1A, độ ẩm 12,5%, tạp chất 0.5%, tỷ lệ đen vỡ 2%, cỡ sàng No18/No16 và tỷ lệ tối thiểu tính theo %: 90/10; Robusta loại I S 18 Wet polished có số mã hàng hoá R1B, độ ẩm 12,5%, tạp chất 0.1%, tỷ lệ đen vỡ 0.1- 0.3%, cỡ sàng No18/No16 (100%/S16) và tỷ lệ tối thiểu tính theo %: 90/10; Robusta loại I S
16 có số mã hàng hoá R1C, độ ẩm 12,5%, tạp chất 0.5%, tỷ lệ đen vỡ 2%, cỡ sàng No16/No13 và tỷ lệ tối thiểu tính theo %: 90/10 [23]; hiệp ước kỳ hóa dầu thô của Sở giao dịch thương phẩm Chilongpour của Malaisia quy định phẩm cấp
cơ bản của hàng hóa là: dầu thô tản mản loại ưu của Malaisia chưa qua lọc hàm lượng axit béo của nó (lấy phân tử lượng dầu thô là 256 làm chuẩn) khi được rót vào máy dầu của cảng không được vượt quá 4 %, hàm lượng axit béo từ máng dầu đưa ra không vượt quá 5 %, tạp chất thủy ngân không được vượt quá 0,25%” [10, tr 1264] Tiêu chuẩn hóa đối tượng hợp đồng là điểm đặc trưng của hợp đồng kỳ hạn và là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự ra đời của sở giao dịch hàng hóanhằm tránh rủi ro về việc giao nhận hàng hóa không phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng
Trang 33Hai là,hàng hóa thường được giao kết với một số lượng tương đối lớn Giá
trị lớn hay nhỏ của từng hợp đồng tùy thuộc vào loại hàng hóa được giao dịch tại sở cũng như tùy thuộc vào từng sở giao dịch cụ thể Lượng hàng hóa được giao dịch của mỗi hợp đồng phải không quá lớn để các nhà đầu tư vừa và nhỏ cũng có thể giao dịch nhưng cũng không quá nhỏ để bù đắp được chi phí giao dịch phát sinh khi phải trả thù lao cho trung gian
Ba là, hàng hóa có thể chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng Bởi
vì hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng mua bán hàng hóa giao sau thông qua sở giao dịch hàng hóa Vào thời điểm giao kết, người mua chưa quan tâm đến việc hàng hóa đã hiện hữu hay chưa, chỉ đến khi giao hàng, nếu người mua có nhu cầu nhận hàng thực tế thì người bán phải có hàng để thực hiện hợp đồng Trường hợp việc giao hàng, nhận hàng thực tế không diễn ra mà các bên chỉ thanh toán cho nhau khoản tiền chênh lệch thì hàng hóa không phải là mục đích hướng đến của hợp đồng mà chỉ là phương tiện để các bên đầu cơ nhằm tìm kiếm lợi nhuận
từ chênh lệch giá
Bốn là, hàng hóa thường có sự biến động mạnh về giá và do thị trường
quyết định giá cả Hàng hóa giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa chịu sự tác động mạnh mẽ của quy luật cung cầu: khi nguồn cung tăng, giá hàng hóa giảm và ngược lại, khi nguồn cung đã được giải tỏa, giá lại tăng Quy luật “được mùa, rớt giá” hàng năm vẫn lặp đi lặp lại gây thiệt hại rất lớn cho người sản xuất và cả các thương nhân Vì vậy, với việc mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa,
cả người bán và người mua đều tự bảo hiểm cho quyền lợi của chính mình, hạn chế rủi ro do thị trường mang lại
Thực tiễn giao dịch cho thấy, mỗi sở giao dịch khác nhau có thể giao dịch một hoặc nhiều loại hàng hóa khác nhau Ví dụ: hàng hóa giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) và Sở giao dịch hàng hóa Info là cà phê, cao su, thép; kỳ hóa của Sở giao dịch hàng hóa Chicago là lúa mì, ngô, yến mạch, bột đậu nành, dầu, đậu, gà đông lạnh, sản phẩm phụ nông nghiệp … ngoài ra, sở giao dịch này còn kinh doanh vàng, bạch kim, tấm gỗ dán …; Sở giao dịch bông
Trang 34New York giao dịch bông, xi rô quýt, trái khoán kho bạc nhà nước trung hạn; Sở giao dịch gạo, bông Chicago giao dịch kỳ hóa bông, lúa nước; Nhật Bản có 18
sở giao dịch hàng hóa, ví dụ: sở giao dịch đường cát Tokyo giao dịch đường thô, đường tinh, đường đen, đường rau quả ngọt ….; Sở giao dịch lương thực gạo Tokyo giao dịch đậu đỏ, đậu vàng Mỹ, đậu vàng Trung Quốc; Sở giao dịch tơ sợi Osaka giao dịch sợi bông, sợi lông, sợi nhân tạo; Sở giao dịch hàng hóa Naruto giao dịch đậu đỏ, đậu trắng, đậu nành, nhập khẩu đậu vàng, khoai tây, đường tinh chế, đường thô … [10, tr 1275]
Như vậy, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng kỳ hạn khi thỏa mãn các điều kiện của giao dịch hàng hóa tương lai và được quy định tại Sở giao dịch hàng hóa.Tuy nhiên, những hàng hóa này là đối tượng của hợp đồng kỳ hạn trong trường hợp các bên hướng tới việc giao nhận hàng thực qua Sở giao dịch.Trong trường hợp người bán và người mua trong hợp đồng hướng tới việc dùng hợp đồng để đầu cơ về giá hàng hóa nhằm tìm kiếm lợi nhuận thì lúc đó, chính hợp đồng kỳ hạn là đối tượng của các giao dịch
Quy mô hợp đồng hay đơn vị hợp đồng
Quy mô hợp đồng quy định số lượng hàng hóa tối thiểu được giao dịch trên mỗi hợp đồng và được Sở giao dịch hàng hóa quy định chặt chẽ
“Đơn vị hợp đồng: là đơn vị giao dịch, giao dịch hàng giao theo kỳ hạn của
sở giao dịch hàng hóa, được tiến hành thông qua hiệp ước kỳ hạn Mỗi phần số lượng hàng hóa bao gồm trong hợp đồng kỳ hóa là do sở giao dịch quy định thống nhất Hai bên mua bán đều không có quyền quyết định Số lượng giao dịch quy định thống nhất này chính là đơn vị giao dịch Ví dụ: một đơn vị giao dịch hợp đồng kỳ hóa thiếc của Sở giao dịch London là 25 tấn Sở giao dịch gạo
Sa – Đường Nhật Bản quy định số lượng bao hàm trong một hợp đồng hàng hóa định kỳ đậu nành là 250 túi 60 kg, tức 15000 kg đậu nành là một đơn vị giao dịch Tức là mỗi lần hai bên mua bán giao dịch, không cần phải báo số lượng mua bán mà chỉ phải báo số phần hợp đồng mua bán.Từ số phần hợp đồng có thể biết được số lượng thực tế giao dịch Vì thế, số lượng hàng hóa của mỗi
Trang 35lầngiao dịch chỉ có thể bằng hoặc là bội số của đơn vị giao dịch, mà không được nhỏ hơn” [10, tr 1264]
Đơn vị báo giá
Đơn vị báo giá là số tăng giảm mỗi loại giá đơn vị hàng hóa khi có điều chỉnh giá cả, thông thường do sở giao dịch hàng hóa công bố Ví dụ: đơn vị báo giá vàng của sở giao dịch hàng hóa New York Mỹ là 0,1 USD một ounce Đơn
vị báo giá bông của Sở giao dịch bông New York là 0.01 USD một ound Còn đơn vị báo giá đậu nành của Sở giao dịch hàng hóa Nhật Bản là 10 yên một túi; giả thiết giá đậu nành hiện tại là 3000 yên một túi, khi tăng giá lên thì lấy 3010 yên, 3020 yên, tức là lấy 10 yên làm đơn vị báo giá tăng lên Ngược lại thì lấy giá hạ theo tuần tự 2990 yên, 2980 yên, lấy 10 yên làm đơn vị báo giá hạ xuống Nhật Bản gọi là đơn vị mở giá” [10, tr 1264]
Địa điểm giao hàng
Địa điểm giao hànglà địa điểm, nơi thuận tiện tồn giữ hàng hóa mà sở giao dịch hàng hóa chỉ định để thực hiện giao hàng hóa theo hợp đồng trong sở giao dịch Quy định pháp luật của một số nước là chỉ những kho tàng được phê chuẩn của ngành được quyền của nhà nước mới được làm địa điểm giao hàng hợp pháp, còn sở giao dịch hàng hóa được quyền lập pháp, điều nhân viên kiểm tra chất lượng hàng hóa của mình, đến kho kiểm nghiệm chất lượng hàng hóa, để đảm bảo mỗi phần giao dịch hợp đồng kỳ hóa đều được tiến hành trên cơ sở giao nhận hàng phù hợp chất lượng, số lượng, đề phòng tổn hại hàng hóa hoặc lừa gạt trong quá trình lưu kho Ví dụ: sở giao dịch hàng hóa Chilongpour của Malaisia, trong một suất hợp đồng hàng hóa dầu thô đã quy định: bất kỳ hiệp ước kỳ hóa nào chưa tiêu thụ hết trước khi đến hạn, đều căn cứ vào số lượng và chất lượng quy định theo hợp đồng của 20 ngày đầu tháng trước đó để tiến hành giao hàng mặt tại biển Bắc, Malaisia, cảng Penang và công trình máng dầu Brazicote [10,
tr 1264]; Sở giao dịch hàng hóa Hồng Kông quy định địa điểm giao nhận bông
là thành phố Calston bang Texax Mỹ, địa điểm giao nhận đậu vàng là Tokyo hoặc Kanagawa [10, tr 1279]
Trang 36 Giá giao nhận: là ngôn ngữ là sở giao dịch hàng hóa dùng, là giá phải được thực hiện khi hai bên mua bán giao nhận hàng hóa thực tế, cũng là giá dùng để thanh toán khi bên bán không giao nộp hàng hóa thực tế và xóa bỏ giao nhận hàng hóa [10, tr 1264]
Tháng giao nhận: là tháng hợp đồng (Contract month), là một trong những điều kiện giao dịch hàng hóa, là tháng giao nhận hàng thực tế mà sở giao dịch hàng hóa quy định thống nhất với loại hàng giao theo kỳ hạn nào đó Khi hợp đồng đến hạn, khách hàng bên mua và khách hàng bên bán cần căn cứ vào số lượng và chất lượng hợp đồng quy định, giao tiền, tiếp nhận hàng hóa hoặc giao hàng, tiếp nhận tiền để thực hiện hợp đồng Sở giao dịch hàng hóa quy định tháng hợp đồng khác nhau đối với mỗi loại hàng giao theo hạn, bởi vì các loại hàng khác nhau, thường quy định theo mùa vụ thu hoạch, thời kỳ vận chuyển và tập quán Tính thời vụ của tháng giao nhận lúa gạo, các nông sản … khá chặt chẽ Có một số sở giao dịch hàng hóa cho phép hai bên mua bán hoặc bất kỳ một bên nào được phép giao nhận vào một ngày tùy ý trong tháng giao nhận Cùng một loại hợp đồng hàng giao theo hạn, có thể quy định tháng giao nhận xa gần khác nhau, kỳ hạn gần là 1 tháng, kỳ hạn xa có thể dài tới 2 năm Vì thế hợp đồng kỳ hóa của cùng một loại hàng hóa do tháng giao nhận khác nhau, giá của
nó cũng khác nhau.Ví dụ: “trong một suất hiệp ước kỳ hóa dầu thô của Sở giao dịch hàng hóa Chilongpouar Malaisia đã quy định kỳ giao hàng có các tháng 12,
1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 11 … Ngày hết hạn của hợp đồng hàng hóa định kỳ mỗi tháng
là ngày 15 của tháng đó Nếu ngày 15 không phải là ngày giao dịch thì lấy ngày giao dịch cuối cùng trước ngày 15 làm ngày hết hạn; tại Sở giao dịch hàng hóa Hồng Kông, tháng giao nhận bông là 3, 5, 7, 10, 12; tháng giao nhận đường thô
là 1, 3, 5, 7, 9, 10 [10, tr 1279]
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kỳ hạn (Điều 65 Luật Thương mại năm 2005)
Khoản 1 Điều 41 Nghị định số 158/2006/NĐ - CP quy định: “các bên
trong hợp đồng kỳ hạn có thể lựa chọn thực hiện hợp đồng theo một trong hai
Trang 37phương thức dưới đây:a) Thanh toán bù trừ qua Trung tâm thanh toán vào phiên cuối cùng của ngày cuối cùng giao dịch hợp đồng; b) Giao nhận hàng hoá qua Trung tâm giao nhận hàng hoá.”
Như vậy, có hai phương thức thực hiện hợp đồng kỳ hạn Một là, nếu các
bên có nhu cầu nhận hàng thực, các bên sẽ giữ hợp đồng cho đến khi đến hạn, người bán có nghĩa vụ giao hàng cho Trung tâm giao nhận hàng hóa, người mua
có nghĩa vụ nhận hàng ở Trung tâm giao nhận hàng hóa Việc thanh toán, nhận hàng, nhận tiền được thực hiện tại Trung tâm thanh toán của sở giao dịch hàng hóa thông quan thành viên kinh doanh đã nhận ủy thác của các bên tham gia giao dịch Người bán và người mua mặc dù đã có giao dịch và nhu cầu nhận hàng thực nhưng không trực tiếp thanh toán và giao nhận hàng cho nhau; nếu có tranh chấp liên quan đến hàng hóa hoặc thanh toán, họ cũng không chịu trách nhiệm trước nhau mà Trung tâm thanh toán và Trung tâm giao nhận hàng hóa sẽ chịu trách nhiệm giải quyết thông qua thành viên kinh doanh đã nhận ủy thác của các bên tham gia giao dịch
Hai là, đặt một lệnh bán đối ứng (nếu là bên mua) hoặc đặt một lệnh mua
đối ứng (nếu là bên bán) trước khi giao dịch đến hạn hoặc khi giao dịch đến hạn
để thoát khỏi vị thế của mình trên sở giao dịch hàng hóa (Khoản 2, Khoản 3 Điều 65).Theo đó, trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên mua có thể thanh toán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán cho bên bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bán có thể thanh toán bằng tiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán cho bên mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng Với cách thức này, lợi ích mà các bên hướng tới là nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở biến động giá hàng hóa trên thị trường giữa thời điểm đặt lệnh
và thời điểm thoát khỏi vị thế mua/bán
Trang 38Có thể lấy một ví dụ cụ thể về các nội dung của hợp đồng kỳ hạn như sau [24]
Hàng hóa giao
dịch
Cà phê Robusta loại R2B
Thời gian giao
dịch
Giao dịch khớp lệnh liên tục: Từ 14h00 đến 17h00 Giao dịch thỏa thuận: Từ 14h00 đến 17h00
Ngày giao dịch Từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần, trừ các ngày nghỉ theo
quy định trong Bộ luật Lao động Việt Nam
Địa chỉ giao dịch
Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột
Số 153, Nguyễn Chí Thanh, Tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Giá niêm yết VND/kg
Bước giá
Khối lượng giao
dịch
10 VND/kg (20.000 VND/lô) Giao dịch khớp lệnh liên tục: Tối thiểu 01 lô (02 tấn) Giao dịch thỏa thuận: Tối thiểu là 9 lô (18 tấn)
Khối lượng mỗi