1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh người đại diện vốn của tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp

76 102 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 752,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế với đề tài “Pháp luật điều chỉnh Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp” tác giả mong muốn nghiên cứu một cách tập trung chủ thể Ngườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH

VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

Mã số : 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

trong bộ môn Pháp luật kinh tế, trải qua một quá trình tìm tòi nghiên cứu em đã hoàn thành xong luận văn Thạc sĩ luật học

Qua luận văn này em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô đặc biệt

là TS Vũ Đặng Hải Yến - người đã luôn quan tâm, giúp đỡ tận tình trong những

ngày em bắt đầu tìm hiểu đề tài cho đến lúc em hoàn thành xong công trình nghiên cứu

Đồng thời, qua đây, em cũng xin cam đoan tác phẩm này là công trình nghiên cứu của bản thân và chưa từng được công bố trước đây

Do thời gian tìm hiểu chưa nhiều, kiến thức còn chưa thật sâu rộng, công trình không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy, cô xem xét để em

có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CẢM ƠN VÀ CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC & NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN TẠI DOANH NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) 5 1.1.1 Các cơ sở hình thành của SCIC 5

1.1.1.1 Cơ sở thực tiễn 5

1.1.1.2 Cơ sở pháp lý 7

1.1.2 Sự ra đời và đặc điểm của SCIC 8

1.1.3 Vai trò của SCIC 13

2.1 Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp 16

2.2.1 Cơ sở lý luận của sự ra đời chế định Người đại diện vốn………….…16

2.2.2 Khái niệm, đặc điểm 18

2.2.3 Vai trò của Người đại diện vốn nhà nước của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước 20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 23 2.1 Nguyên tắc và hình thức ủy quyền Người đại diện 24

2.2 Tiêu chuẩn Người đại diện 29

2.3 Quyền và nghĩa vụ của Người đại diện 36

2.3.1 Quyền được tham gia ứng cử và bầu vào Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Ban kiểm soát của Người đại diện 36

2.3.2 Quyền tham gia biểu quyết các vấn đề trong doanh nghiệp có vốn nhà nước mà Người đại diện được ủy quyền 37

2.3.3 Cơ chế thông tin giữa SCIC và Người đại diện 42

Trang 4

2.4 Đánh giá Người đại diện 54 2.5 Thôi làm Người đại diện và chấm dứt ủy quyền Người đại diện 57 CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

NGƯỜI ĐẠI DIỆN VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH

DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 59 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp 59 3.2 Một số kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp 62

3.2.1 Cần quy định cụ thể các hình thức ủy quyền đại diện vốn nhà nước cho Người đại diện 62 3.2.2 Điều chỉnh lại việc áp dụng luật cán bộ, công chức cho Người đại diện một cách phù hợp hơn 63 3.2.3 Phân định rõ trường hợp phải xin ý kiến chỉ đạo của Người đại diện đối với từng loại doanh nghiệp 64 3.2.4 Cần quy định một tỷ lệ cụ thể chế độ thưởng, phụ cấp cho Người đại diện 65 3.2.5 Phân định rõ mức độ của các tiêu chí trong hoạt động đánh giá Người đại diện 66

LỜI KẾT 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài: Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

(SCIC) là mô hình quản lý vốn nhà nước tập trung khác biệt với mô hình quản lý thông qua các bộ, ngành, địa phương mang tính chất hành chính trước đây Trong những năm đầu hoạt động, SCIC đã đạt được những thành tựu nhất định Đặc biệt trong những năm nền kinh tế thế giới đang chìm trong khủng hoảng và suy thoái SCIC vẫn có những đường hướng đúng đắn đưa một số doanh nghiệp mà SCIC quản lý vốn đại diện nhà nước phát triển, tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Đặc biệt trong năm 2011, con số đó đạt trên 20%, một số doanh nghiệp đạt tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu trên dưới 60% (CTCP FPT - 200%, CTCP Vận tải Biển

và Xuất nhập khẩu Quảng Ninh - 135%, CTCP Du lịch Việt Nam tại TPHCM - 116%, CTCP Cơ khí Khoáng sản Hà Giang - 76%, CTCP Xây dựng và Phát triển

đô thị Tây Ninh - 68%, CTCP Điện tử - Ảnh màu Nha Trang - 62%, CTCP Viễn thông FPT - 61%) [17]

Để đạt được những thành tựu đó, có vai trò rất lớn của những Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp Họ là những đầu mối thông tin, tạo ra cơ chế phối hợp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất giữa SCIC với doanh nghiệp Tuy nhiên, với phương pháp quản lý này, SCIC trở nên thụ động hơn khi phải phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin mà Người đại diện cung cấp Chính vì thế, nếu như không có cơ chế phối hợp nhịp nhàng, không có những quy định chặt chẽ để xác định rõ trách nhiệm của Người đại diện sẽ dễ dẫn đến mối quan hệ giữa SCIC và Người đại diện trở nên lỏng lẻo, vốn đầu tư của nhà nước không được đảm bảo để bảo toàn và phát triển

Bên cạnh đó, những quy định hiện nay của pháp luật về Người đại diện vốn của SCIC khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn cũng đã bộc lộ những thiếu sót và sự bất hợp lý nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của phương pháp quản

lý này

Chính vì thế, dưới góc độ của người học luật và nghiên cứu pháp luật, mong muốn tìm hiểu chuyên sâu và đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về cơ

Trang 7

chế quản lý vốn nhà nước trên, tác giả xin lựa chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh

Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp”

Tình hình nghiên cứu đề tài: Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà

nước là một mô hình ra đời trên cơ sở sự học tập mô hình Temasek Holdings của Singapore Ngay từ khi chuẩn bị ra đời nó đã nhận được sự quan tâm tìm hiểu của không ít học giả trong nhiều lĩnh vực Về lĩnh vực pháp lý, có thể kể đến một số

công trình tiêu biểu như bài luận “Bản chất của cơ chế thực thi quyền đại diện chủ

sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung đăng trên tạp chí luật học số 7/2009; Hay bài viết “Cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước” của Phạm Thị Hương đăng trên tạp chí Quản lý Nhà nước Số 202(11/2012) Nhà nghiên cứu luật học Lê Thị Thanh

cũng có một bài viết đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật có tựu đề “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước” Và còn một số các công trình nghiên cứu khác của các học giả xoay quanh phạm vi Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước SCIC

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở phạm vi rộng như nghiên cứu toàn bộ quy định của pháp luật về hoạt động của SCIC hay cũng nghiên cứu một mảng nhỏ nhưng chỉ mới tập trung vào các vấn đề như cơ chế quản lý tài

chính, bản chất đại diện vốn của SCIC Chính vì thế với đề tài “Pháp luật điều

chỉnh Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp” tác giả mong muốn nghiên cứu một cách tập trung chủ thể Người đại diện

vốn của SCIC để làm rõ cơ chế quản lý vốn gần như chủ yếu hiện nay của SCIC có hoạt động hiệu quả Từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế này để góp phần “bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước”

Phạm vi nghiên cứu cứu đề tài: Với đề tài trên, tác giả tập trung nghiên cứu

các quy định của pháp luật về Người đại diện vốn hiện nay được quy định trong Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là

Trang 8

Nghị định số99/2012/NĐ-CP) ; Thông tư số 117/2010/TT-BTC ngày 05/8/2010 của

Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là Thông tư số 117/2010/TT-BTC) Đặc biệt tác giả còn có sự liên hệ trực tiếp với Quy chế người đại diện vốn nhà nước ban hành theo Quyết định số 06/QĐ-ĐTKDV.HĐTV ngày

06 tháng 02 năm 2013 của Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (sau đây gọi tắt là Quy chế người đại diện 2013) và các văn bản liên quan dưới góc độ xem xét thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về Người đại diện vốn Đồng thời, tác giả còn có sự đối chiếu với hoạt động của Người đại diện tại các doanh nghiệp mà SCIC cử đại diện từ 2009 đến nay

Phương pháp và nội dung nghiên cứu đề tài: Trong phạm vi nghiên cứu

của đề tài, ngoài việc sử dụng các biện pháp nghiên cứu chung mang tính định hướng như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề

thì tác giả còn sử dụng một loạt các biện pháp khoa học khác Cụ thể:

Chương I: Tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê và phân tích để làm rõ các khái niệm Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, Người đại diện của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đặc điểm của hai khái niệm trên Đồng thời bằng phương pháp phân tích và chứng minh, tác giả cũng làm rõ vai trò của SCIC cũng như người đại diện của Tổng công ty này

Chương II: Tác giả đã sử dụng phương pháp liệt kê, phân tích để làm rõ những quy định hiện nay của pháp luật về Người đại diện vốn Đồng thời bằng phương pháp so sánh, chứng minh tác giả cũng làm rõ những điểm mạnh và những điểm còn tồn tại hiện nay về pháp luật Người đại diện vốn

Chương III: Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp, tác giả đã đưa ra một

số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về Người đại diện vốn

Cơ cấu của đề tài: Với nội dung như đã trình bày ở trên, đề tài được chia

làm 3 chương chính như sau:

Chương I: Khái quát về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

& Người đại diện của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp

Trang 9

Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về Người đại diện của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp

Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về Người đại diện của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn tại doanh nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC & NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA TỔNG CÔNG TY

ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN TẠI DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)

1.1.1 Các cơ sở hình thành của SCIC

1.1.1.1 Cơ sở thực tiễn

Nền kinh tế thế giới luôn vận động và biến đổi không ngừng Ở một giai đoạn nhất định, phụ thuộc vào những đặc điểm riêng, có những mô hình kinh tế tài chính lại tỏ ra ưu việt hơn so với những mô hình kinh tế tài chính khác và ngược lại Trong giai đoạn hiện nay, kinh tế thế giới đánh dấu sự ra đời và phát triển của những nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là một số nước ở khu vực châu Á và Mỹ La Tinh, các chuyên gia kinh tế đánh giá một trong ba mô hình tài chính được xem là

có khả năng chi phối trong tương lai là Sovereign Wealth Fund – các quỹ tài chính hình thành dựa trên tài sản dự trữ của quốc gia, không tham gia thị trường chứng

khoán Mô hình này ra đời do hiện tượng bùng nổ của cải trong vài thập niên qua

nên tài sản của nhiều quốc gia (đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi) tăng vọt Khác với thông lệ cũ, tiền bạc dư thừa thường được đổi thành kim loại quý như vàng hay ngoại tệ mạnh rồi cất trong ngân khố phòng khi "hoạn nạn", thường gọi là dự trữ quốc gia, thì nay các quốc gia đã thành lập các quỹ nhằm kinh doanh khai thác nguồn dự trữ đó, hoặc gây ảnh hưởng kinh tế, chính trị phục vụ các mục tiêu quốc gia Các quỹ này hoạt động như các quỹ đầu tư tài chính Tính đến năm 2007, trên thế giới đã có nhiều quốc gia có giá trị quỹ này trên 20 tỷ đô la Điển hình như: 1/Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất với Quỹ ADIA, trị giá 875 tỷ; 2/ Singapore: Quỹ GIC (Goverment of Singapore Corp), trị giá 330 tỷ; và Temasek, trị giá 100 tỷ; 3/ Ả Rập Saudi: Với nhiều quỹ khác nhau, trị giá 300 tỷ;…… [18]

Bắt kịp xu thế chung của nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng vận dụng mô hình Sovereign Wealth Fund và đưa nó vào hoạt động trong thực tiễn Tuy nhiên,

mô hình mà Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước được trực tiếp căn cứ vào để xây dựng và học hỏi là mô hình Tập đoàn Temasek Holdings của Singapore

Trang 11

– một loại quỹ Sovereign Wealth Fund Temasek là một công ty tư nhân thành lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1974 và thuộc sở hữu của Bộ Tài chính Singapore Công

ty này sở hữu và quản lý tài sản dựa trên nguyên tắc thương mại, cụ thể hơn là Luật công ty Singapore Theo Hiến pháp và pháp luật của Singapore, Tổng thống cũng như Chính phủ không được tham gia vào các quyết định đầu tư của Temasek, ngoại trừ liên quan đến việc bảo vệ dự trữ quá khứ của công ty này Mọi hoạt động của Temasek chỉ tuân theo quyết định của Hội đồng quản trị công ty Hoạt động chính của Temasek đầu tư, kinh doanh và thoái vốn, trong đó Temasek hình thành danh mục đầu tư bằng cách tăng, giữ hoặc giảm cổ phần đầu tư và tham gia vào doanh nghiệp được đầu tư với tư cách cổ đông Temasek không trực tiếp ra quyết định cho hoạt động của công ty đầu tư mà thực hiện thông qua quyền cổ đông bằng cách biểu quyết tại cuộc họp cổ đông Để thực hiện quyền cổ đông đó, Temasek sẽ tiến hành

ủy quyền cho một số cá nhân có năng lực và đạt yêu cầu mà Temasek đề ra [ ] Như vậy, hoạt động đầu tư của Temasek hoàn toàn mang tính thương mại, tách rời

cơ chế quản lý hành chính của nhà nước mang tính chất áp đặt Đồng thời, vị thế của Temasek khi tham gia đầu tư vào doanh nghiệp cũng không có bất cứ sự ưu tiên nào mà hoàn toàn ngang bằng với các cổ đông khác Điều này tạo nên một cơ chế công bằng, làm tăng sự hấp dẫn đầu tư của công ty này

Với mô hình quản lý vốn ưu việt như trên, Temasek đã đạt được những thành tựu nhất định Tính đến năm 2009, Temasek đã có hơn 170.000 nhân viên với 32 công ty con, trong đó 9 công ty ở nước ngoài Trong nước, Temasek nắm giữ khoảng 1/5 tổng giá trị thị trường chứng khoán nội địa Trong số 10 công ty niêm yết lớn nhất của Singapore thì Temasek kiểm soát tới 7 công ty Tập đoàn này đang

là cổ đông lớn nhất của Singapore Airlines – một trong những hãng hàng không hàng đầu thế giới Ngoài ra, trong danh sách địa chỉ đầu tư của Temasek còn có rất nhiều tập đoàn công nghiệp và dịch vụ lớn khác như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Sing Tel, Tập đoàn Kinh tế CMS, Tập đoàn Keppel hay Ngân hàng DBS, Tập đoàn Điện lực Singapore Power… Các công ty có Temasek là cổ đông đóng góp hơn 15% GDP của cả nước Cụ thể, từ số vốn ban đầu 354 triệu đôla Singapore nhận từ Bộ Tài chính, sau hơn 30 năm, hiện tổng giá trị danh mục đầu tư ròng của

Trang 12

Temasek đạt 164 tỷ đôla Singapore [19] Đây là một mức tăng trưởng mơ ước nhưng không dễ thực hiện đối với hầu hết các quỹ đầu tư trên thế giới

Vì vậy, bên cạnh những điểm tương đồng nhất định về điều kiện kinh tế giữa Singapore và Việt Nam như thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo, một trong những lý do quan trọng khác để Việt Nam tham khảo mô hình Temasek, xây dựng mô hình tài chính của riêng mình là xuất phát từ tham vọng đạt được những thành công như công ty này Do đó, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập một mô hình tài chính tương tự có tên là Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

1.1.1.2 Cơ sở pháp lý

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước được ra đời dựa trên Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 về phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước

để tạo cơ sở pháp lý cho việc hoạt động của tổng công ty này Lúc mới ra đời và đi vào hoạt động, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước còn chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, được hưởng những ưu đãi nhất định đối với một doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, sau năm 2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 hết hiệu lực, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước chịu

sự điều chỉnh chung của Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005 với tư cách pháp lý độc lập và ngang bằng với bất cứ doanh nghiệp nào khác hoạt động theo các luật này

Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 quy định về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác và Thông tư số 117/2010/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu Các văn bản này đã góp phần tạo nên khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động tài chính của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và SCIC nói riêng Đến năm 2010, để phù hợp với quy định tại Nghị định số 25/2010/NĐ-CP của Chính phủ Về chuyển

Trang 13

đổi công ty Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 992/QĐ-TTg ngày 30/6/2010 về việc chuyển Công ty Đầu tư SCIC thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Đây cũng là một căn cứ pháp lý quan trọng cho

tổ chức cũng như hoạt động của SCIC

Bên cạnh những văn bản pháp lý trên, trong thẩm quyền của mình, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước cũng đã ban hành một số văn bản pháp

lý khác mang tính nền tảng như Quy chế người đại diện vốn nhà nước ban hành theo Quyết định số 20/QĐ-ĐTKDV.HĐQT ngày 09/6/2009 của Hội đồng quản trị Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước nay đã được thay thế bởi Quy chế người đại diện vốn mới ban hành kèm quyết định số 06/QĐ-ĐTKDV.HĐTV ngày 06/02/2013 của Hội đồng quản trị Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

Các văn bản trên không chỉ là cơ sở pháp lý cho sự ra đời của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước mà còn là khung pháp lý cơ bản để SCIC có thể tiến hành các hoạt động của mình một cách chuyên nghiệp và chặt chẽ nhất

1.1.2 Sự ra đời và đặc điểm của SCIC

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ra đời trong bối cảnh khá đặc biệt, đó là lúc cơ chế các bộ, ngành, địa phương là cơ quan chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước đang bộc lộ những mặt trái nhất định Cơ chế hành chính chủ quản có nguồn gốc hình thành từ quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, theo đó, doanh nghiệp nhà nước từ chỗ là những đơn vị được nhà nước cấp phát vốn giao chỉ tiêu kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm Đồng thời, với quá trình này, cơ quan hành chính cấp trên của doanh nghiệp không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng vẫn nắm giữ vai trò “chủ quản”

về hai phương diện: chủ quản hành chính và đại diện chủ sở hữu nhà nước [ ] Chính vì thế, mặc dù thực hiện cơ chế hoạch toán tự chủ nhưng đội ngũ quản lý vốn

ở những doanh nghiệp nhà nước trực thuộc bộ, ngành, địa phương này vẫn mang nặng tư tưởng quan liêu, trì trệ của nền kinh tế bao cấp Điều này khiến cho hiệu

Trang 14

quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp còn thấp, chưa bảo đảm được việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, gây thất thoát lãng phí Trước thực tế đó, nhu cầu xây dựng một mô hình quản lý vốn nhà nước hiệu quả được đặt ra đối với Chính Phủ Việt Nam Qua quá trình tìm hiểu và rút kinh nghiệm

từ mô hình Temasek Holdings của Singapore, ngày 20/6/2005 Thủ tướng Chính phủ

đã ký Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước Tại Điều 2 Quyết định này, SCIC được định nghĩa như

sau: “Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (sau đây gọi tắt là Tổng

công ty) là một tổ chức kinh tế đặc biệt của nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và các luật khác có liên quan

Tổng công ty có tư pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước, nước ngoài theo quy định của pháp luật

Tổng công ty có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội và có các công ty thành viên, chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số khu vực trong nước và ngoài nước”

Khái niệm trên đã lãm rõ loại hình tổ chức, tư cách pháp nhân và luật điều chỉnh SCIC Đó cũng chính là những đặc điểm cơ bản của SCIC

Thứ nhất, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là một tổ chức kinh tế đặc biệt của nhà nước

Không giống những cơ quan khác do nhà nước lập ra nhằm thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết kinh tế - xã hội, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước được khẳng định ngay từ đầu là một tổ chức kinh tế Điều này có nghĩa hoạt động chủ yếu của tổ chức này là hoạt động kinh doanh – hoạt động có tính chất nghề nghiệp, được tiến hành thường xuyên và có mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, SCIC không phải là một tổ chức kinh tế đơn thuần, bình thường như bất cứ một tổ chức kinh tế nào khác mà nó là một tổ chức “kinh tế đặc biệt” Tính chất đặc biệt của nó được thể hiện ở những điểm sau:

Một là, SCIC là một tổ chức kinh tế với chức năng chính là đại diện quản lý

vốn nhà nước Cụ thể hơn, SCIC không hoạt động kinh doanh dựa trên vốn tự có

Trang 15

mà chỉ là “thay mặt” cho chủ sở hữu - nhà nước để thực hiện chức năng này Theo Quyết định 151/2005/QĐ-TTg số vốn điều lệ của SCIC là 5000 tỷ và trong dự thảo mới nhất con số đó lên tới 50.000 tỷ Tương tự như chế định “đại diện” trong Bộ luật dân sự, SCIC trong trường hợp này đã được nhận ủy quyền từ nhà nước, phạm

vi ủy quyền của SCIC được ghi nhận trong chính Điều lệ của SCIC

Hai là, bên cạnh việc đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu SCIC còn thưc

hiện những chức năng xã hội nhất định Chức năng đó là điều tiết nền kinh tế, phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, duy trì sự chi phối của kinh tế nhà nước đối với một số ngành và lĩnh vực nhất định Sở dĩ có thể khẳng định được như vậy vì một trong những chức năng, nhiệm vụ chính của SCIC là đầu tư vào những ngành, lĩnh vực quan trọng mà nhà nước cần chi phối để thành lập doanh nghiệp mới (điểm a khoản 3 Điều 3 Quyết định 151/2005/QĐ-TTg) và Thực hiện việc đầu

tư và quản lý vốn đầu tư của Tổng công ty vào các lĩnh vực, ngành kinh tế quốc dân theo nhiệm vụ Nhà nước giao (khoản 3 Điều 3 Quyết định 151/2005/QĐ-TTg) Như vậy, đặc điểm này có sự tương đồng nhất định với các doanh nghiệp nhà nước thông thường khác

Ba là, hoạt động chính của SCIC là đầu tư và kinh doanh vốn Không giống

như bất cứ một doanh nghiệp thông thường khác, hoạt động chủ yếu của nó là để tạo ra một loại hàng hóa hoặc cung ứng một dịch vụ nhất định Nghiệp vụ chủ yếu của SCIC là kinh doanh, đầu tư thông qua việc góp vốn, trở thành đại diện cổ đông nhà nước Không chỉ có hoạt động đầu tư, góp vốn, SCIC được quyền thoái vốn – bán cổ phần, chuyển nhượng phần vốn góp trở lại thành tiền tệ đối với những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm vai trò chủ đạo Đây cũng chính là một trong những nghiệp vụ kinh doanh vốn hiện nay của SCIC Bên cạnh hoạt động chính này, SCIC còn có một số hoạt động đầu tư khác như đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác; Cung cấp các dịch vụ tài chính: tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính, tư vấn cổ phần hoá, tư vấn chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; nhận uỷ thác các nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…

Trang 16

Thứ hai, Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước là một doanh nghiệp Cụ thể hơn theo quy định của Nghị định số 25/2010/NĐ-CP của Chính phủ

Về chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và Quyết định số 992/QĐ-TT ngày 30/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc chuyển Công ty Đầu tư SCIC thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu thì loại hình doanh nghiệp hiện tại của SCIC là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Như vậy, điều này có nghĩa SCIC sẽ mang tất cả các đặc điểm của một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thông thường

Một là, do một chủ thể làm chủ sở hữu Khoản 1 Điều 4 Quyết định

151/2005/QĐ-TTg quy định rõ:

1 Vốn điều lệ ban đầu: 5.000 (năm nghìn) tỷ đồng, bao gồm:

a) Vốn ngân sách nhà nước cấp: 1.000 (một nghìn) tỷ đồng theo Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ;

b) Vốn tiếp nhận từ các công ty quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định này tại thời điểm thành lập Tổng công ty (công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên, công ty cổ phần được chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập hoặc mới thành lập)

Điểm đặc biệt của SCIC là một phần vốn điều lệ của Tổng công ty này lại không trực tiếp được cấp phát mà lại tiếp nhận từ các doanh nghiệp có vốn nhà nước Tuy nhiên về sâu xa toàn bộ vốn điều lệ của SCIC đều xuất phát từ ngân sách nhà nước Do đó, chủ sở hữu duy nhất của SCIC chính là nhà nước

Hai là, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của

công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty Điều này có nghĩa, trong trường hợp SCIC kinh doanh thua lỗ, có bất cứ khoản nợ nào vượt quá vốn điều lệ thì SCIC cũng chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ đã đăng ký

Ba là, có tư cách pháp nhân SCIC đáp ứng tất cả các quy định tại Điều 84 Bộ

luật dân sự:

Trang 17

- Ðược thành lập hợp pháp: Như đã nhắc đến ở trên, SCIC được thành lập bởi Quyết định số 151/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ Quyết định này chính

là căn cứ pháp lý rõ ràng nhất ghi nhận sự ra đời hợp pháp của SCIC

- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: SCIC được tổ chức dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Căn cứ vào chương III Điều lệ doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 152/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, bộ máy tổ chức của SCIC bao gồm Hội đồng quản trị (nay là Hội đồng thành viên); Ban kiểm soát; Tổng giám đốc; Phó tổng giám đốc; Kế toán trưởng; Bộ máy giúp việc Ngoài

ra công ty còn được phép thành lập các công ty thành viên, chi nhánh và văn phòng đại diện của Tổng công ty theo quy định chung của pháp luật Mỗi chức danh đều được quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quy trình bổ nhiệm cũng như bãi miễn Đồng thời Điều lệ SCIC cũng quy định rất rõ cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong Tổng công ty tạo nên một cơ cấu hết sức chặt chẽ

- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định 151/2005/QĐ-TTg và Khoản 1 Điều 3 Quyết định 152/2005/QĐ-TTg có quy định rõ vốn điều lệ của SCIC là 5000 tỷ đồng SCIC lại được tổ chức dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đối với hình thức này pháp luật quy định rõ công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của mình

- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: Theo quy định của pháp luật, SCIC có con dấu riêng, được mở tài khoản ngân hàng để thực hiện các giao dịch Ngoài ra, các hoạt động của SCIC thực hiện chỉ phát sinh quyền

và nghĩa vụ cho SCIC mà không cho bất cứ một chủ thể pháp lý nào khác

Bốn là, không được phát hành cổ phần Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn

với đặc thù một chủ sở hữu nên pháp luật đã hạn chế quyền được phát hành cổ phần của loại hình doanh nghiệp này nói chung và SCIC nói riêng để đảm bảo sự tồn tại của hình thức này Đặc biệt đối với SCIC không chỉ là một tổ chức kinh tế đơn thuần mà là một tổ chức kinh tế đặc biệt của nhà nước, được thành lập còn nhằm củng cố vị trí, vai trò của nền kinh tế nhà nước Chính vì thế việc duy trì chủ sở hữu duy nhất – nhà nước là cần thiết Tuy nhiên, pháp luật lại cho phép SCIC phát hành

Trang 18

trái phiếu (Khoản 4 Điều 3 Quyết định 151/2005/QĐ-TTg) như là một phương thức huy động vốn

Thứ ba, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước hoạt động chịu

sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan Đặc

điểm này là hệ quả tất yếu của đặc điểm thứ hai Do SCIC được tổ chức dưới hình thức một doanh nghiệp do đó nó phải tuân theo quy định của Luật doanh nghiệp

2005 và các văn bản liên quan Tuy nhiên, khi ra đời SCIC không tuân theo sự điều chỉnh của văn bản này mà chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhà nước

2003 SCIC chỉ chịu chung sự điều chỉnh với các doanh nghiệp tư nhân khác đến năm 2010, khi Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 hết hiệu lực Việc chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản liên quan có nghĩa SCIC phải được tổ chức, hoạt động cũng như chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật này

Tóm lại, qua những đặc điểm trên cho thấy SCIC vừa mang những đặc điểm chung của một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thông thường vừa mang những đặc điểm đặc thù riêng, đặc trưng cho tính chất “tổ chức kinh tế đặc biệt” của mình

1.1.3 Vai trò của SCIC

Với chức năng quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, sự ra đời của SCIC nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước Cụ thể hơn, SCIC được thành lập để thực hiện mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc tách bạch chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương với chức năng đầu tư, kinh doanh vốn thông qua một tổ chức tài chính chuyên nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả, quyền tự chủ của doanh nghiệp phù hợp với Luật Doanh nghiệp, đồng thời tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2006, SCIC quản lý danh mục đầu tư gồm các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như: dịch vụ tài chính, năng lượng, công nghiệp, viễn thông, xây dựng, vận

Trang 19

tải, hàng tiêu dùng, y tế, công nghệ thông tin… Thực hiện vai trò cổ đông năng động, SCIC còn chủ động triển khai các hoạt động tái cơ cấu đối với một số doanh nghiệp đặc biệt như: Vinaconex, Constrexim, Nhựa Tiền phong, Tổng công ty Ðiện

tử tin học (VEIC), Bảo Minh, Vinamilk, Công ty cổ phần du lịch Kim Liên, Traphaco ; giúp doanh nghiệp tìm kiếm cổ đông chiến lược (Domesco; Bảo Minh; Vinare; Muối Ninh Thuận); hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề bất cập về quản trị, tài chính, đặc biệt là việc xử lý các khoản nợ xấu của doanh nghiệp như: Vinaconex; Xuất nhập khẩu Tổng hợp II; Công ty Ðầu tư phát triển giao thông vận tải [20]

Nguồn thu được từ bán vốn và lợi nhuận qua các năm, SCIC đã tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp/dự án thuộc ngành nghề lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Ngoài việc đầu tư hiện hữu khoảng 5.500 tỷ đồng (tăng vốn đối với các doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ chi phối hoặc hoạt động có hiệu quả), SCIC đã trực tiếp đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng, viễn thông, cảng biển và tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp mới với số vốn hơn 3.500 tỷ đồng Sau sáu năm hoạt động, các chỉ tiêu tài chính như doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của SCIC đều tăng trưởng với tốc độ khá Tính đến ngày 30-9-2012, tổng tài sản của SCIC tăng hơn chín lần so với năm 2006 (từ 5.900 tỷ đồng lên hơn 54.000

tỷ đồng) do tăng vốn chủ sở hữu, tập trung đôn đốc thu nợ Quỹ Hỗ trợ sản xuất doanh nghiệp trung ương Tổng nguồn vốn chủ sở hữu tăng gần bảy lần (từ 3.600 tỷ đồng lên hơn 25.000 tỷ đồng) do bổ sung vốn điều lệ, lợi nhuận tích lũy thông qua đầu tư kinh doanh, thặng dư bán vốn Lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt hơn 2.900

tỷ đồng tăng gần 27 lần so với năm 2006 Chín tháng đầu năm 2012, lợi nhuận sau thuế hơn 2.700 tỷ đồng, đạt 66% kế hoạch năm 2012, tăng 15% so cùng kỳ năm

2011 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư tại SCIC năm 2011 đạt 17% [21] Với những đóng góp to lớn đó, SCIC đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba

SCIC ra đời là sự đáp ứng tốt nhất giữa yêu cầu quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước và các đặc thù của nền kinh tế thị trường nhằm đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp này không quá khác biệt và chệch hướng

Trang 20

khỏi các nguyên tắc vận hành của nền kinh tế thị trường Đó cũng là hệ quả tất yếu

vì hình thức “bộ chủ quản” trước đây ngày càng không phù hợp với sự phát triển của các tổng công ty Các tổng công ty càng ngày càng bành trướng sang các lĩnh vực kinh doanh không thuộc thẩm quyền của bộ chủ quản, ví dụ tổng công ty Hàng hải tham gia lĩnh vực ngân hàng; tổng công ty Điện lực “chen chân” vào lĩnh vực bất động sản hay tổng công ty dầu khí bổ sung thêm một loạt các ngành nghề mới khác xa nghiệp vụ chính như ngân hàng, bảo hiểm Bên cạnh đó, bản thân các hoạt động kinh doanh cốt lõi của các tổng công ty cũng phức tạp lên rất nhiều, đòi hỏi phải có đội ngũ quản lý chuyên sâu chứ không phải các quan chức hành chính như trước Xét trong bối cảnh đó, SCIC ra đời là một bước tiến trong quản trị công ty, hiểu theo nghĩa là quá trình giám sát và kiểm soát nhằm thực thi quản trị bảo đảm lợi ích của các cổ đông, cho các tổng công ty

Như vậy, qua các thành tựu mà SCIC đã đạt được trong những năm qua, có thể tổng kết vai trò chủ chốt của SCIC:

Thứ nhất, là cổ đông năng động, tích cực của doanh nghiệp, góp phần đưa

ra những phương hướng hoạt động đúng đắn, tích cực góp phần đưa doanh nghiệp phát triển Bên cạnh đó, SCIC còn góp phần định hướng xã hội chủ nghĩa cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Đảm bảo và củng cố vai trò của nền kinh

tế nhà nước

Thứ hai, là nhà đầu tư chiến lược có hiệu quả Hiện nay, SCIC chú trọng

chú trọng đến phát triển bền vững và gia tăng giá trị công ty thông qua việc đầu tư linh hoạt, chuyển đổi cơ cấu đầu tư theo hướng giảm đầu tư với số lượng lớn, phân tán để tập trung, chú trọng vào chất lượng, quy mô và hiệu quả đầu tư Đặc biệt, SCIC đã đổi mới cơ chế đầu tư vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp, phù hợp với cơ chế thị trường, chuyển từ cơ chế bao cấp về vốn (cấp vốn không hoàn lại) sang hình thức đầu tư tài chính vào doanh nghiệp Hoạt động đầu tư của SCIC còn góp phần tạo công cụ để đẩy nhanh quá trình cải cách sắp xếp và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển

Thứ ba, là một nhà tư vấn tài chính chuyên nghiệp, tin cậy Điều này được

thể hiện rất rõ ở những thành tựu cổ phần hóa doanh nghiệp mà SCIC đã thực hiện

Trang 21

như đã trình bày ở trên SCIC chính là cầu nối giúp nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận với các dự án đầu tư; tư vấn giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác chiến lược, tiếp cận thị trường vốn, áp dụng các tiêu chí quản trị doanh nghiệp tốt nhất

Với vai trò quan trọng như trên, việc xây dựng và củng cố sự lớn mạnh của SCIC là rất cần thiết Tuy nhiên, với đặc thù trong hoạt động – đầu tư và kinh doanh vốn chủ yếu bằng việc góp vốn với các tổ chức kinh tế khác và đặc thù là một tổ chức, việc thực hiện đại diện cổ đông, thành viên góp vốn của nhà nước sẽ khiến SCIC gặp không ít khó khăn Khó khăn thứ nhất đó là SCIC không thể trực tiếp quản lý một số lượng các doanh nghiệp khổng lồ có vốn góp của nhà nước hiện nay Theo báo cáo tổng kết, đánh giá công tác đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tính đến tháng 9/2012, SCIC đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 420 DN, trong đó có 412 công ty cổ phần, 3 công ty TNHH hai thành viên trở lên và 5 công ty TNHH một thành viên với vốn nhà nước theo giá trị sổ sách là 13.928 tỷ đồng, giá thị trường ước đạt trên 40.000 tỷ đồng [22] Khó khăn thứ hai, nếu SCIC trực tiếp quản lý số vốn góp đó, hoạt động cũng không thể sâu sát với doanh nghiệp, không thể kịp thời có những quyết sách đúng đắn Chính vì thế, giải pháp đặt ra đó là quản lý doanh nghiệp thông qua Người đại diện vốn

2.1 Người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp

2.2 1 Cơ sở lý luận cho sự ra đời của chế định Người đại diện

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước về bản chất chính là chủ thể “Đại diện” vốn cấp một của Nhà nước Về nguyên tắc SCIC sẽ tự mình thực hiện quản lý và sử dụng số vốn đó trong phạm vi mà nhà nước ủy quyền và chỉ được ủy quyền lại cho chủ thể khác khi được chủ sở hữu – Nhà nước đồng ý Như vậy, người đại diện vốn của Tổng công ty kinh doanh vốn nhà nước chính là người đại diện cấp hai của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng vốn Nhà nước Dựa trên nguyên tắc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự, SCIC có thể ủy quyền toàn bộ hoặc một phần những quyền và nghĩa vụ mà Nhà nước đã ủy quyền cho SCIC Vậy tại sao SCIC lại tiến hành quản lý vốn tại doanh nghiệp thông qua cơ

Trang 22

chế “Người đại diện” Có thể khẳng định, cơ sở sâu xa của việc áp dụng cơ chế quản lý vốn này xuất phát từ lý luận về chủ sở hữu

Đối với tài sản, chủ sở hữu là người có quyền quyết định cao nhất, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Người sở hữu tài sản sẽ được hưởng những lợi ích nhất định mà tài sản đó mang lại chính vì thế họ không dễ trao quyền sở hữu tài sản đó cho người khác Đối với các chủ thể có nguồn vốn lớn và đầu tư trong nhiều lĩnh vực như Nhà nước, việc tự mình thực hiện quản lý và đầu tư vốn để mang lại hiệu quả kinh tế một cách tốt nhất là điều không phải dễ dàng Chính vì thế, việc cần đến một tổ chức chuyên nghiệp, hiểu biết chuyên sâu về kinh tế để quản lý vốn đầu tư có hiệu quả là một việc hết sức cần thiết Nhưng cần phải thông qua cơ chế nào để Nhà nước có thể vận dụng sự quản lý và đầu tư vốn hiệu quả của

tổ chức chuyên nghiệp đó mà không phải chuyển giao quyền sở hữu vốn Trong các

cơ chế hiện hành, có lẽ không có cơ chế nào tỏ ra hiệu quả bằng cơ chế đại diện Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và SCIC có thể thấy rõ điều này SCIC có thể được trao quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc thậm chí là định đoạt tài sản mà Nhà nước giao nhưng chỉ trong phạm vi mà Nhà nước cho phép và Nhà nước luôn tạo cơ chế để kiểm soát các hoạt động của SCIC liên quan đến nguồn vốn đó Nhà nước không mất đi quyền sở hữu tối cao mặc dù đã giao nguồn vốn của mình cho SCIC quản lý và đầu tư

Mối quan hệ giữa SCIC và Người đại diện vốn của nó lại càng thể hiện rõ điều này Bản thân SCIC không là chủ sở hữu của nguồn vốn mà nhà nước giao cho

nó Chính vì thế, việc chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu nguồn vốn này sang cho một chủ thể khác là điều hoàn toàn không thể SCIC mặc dù là tổ chức kinh tế kinh doanh và đầu tư vốn mang tính chất chuyên nghiệp, tuy nhiên việc tự mình quản lý vốn ở hơn 400 doanh nghiệp, ở nhiều lĩnh vực khác nhau là một công việc không phải đơn giản, bắt buộc SCIC phải thực hiện qua một cơ chế trung gian khác Cơ chế trung gian đó phải chịu sự giám sát chặt chẽ của SCIC, thực hiện trong phạm vi SCIC cho phép Và cơ chế tỏ ra hiệu quả, đáp ứng được tất cả các yêu cầu đó chính

là “Người đại diện của SCIC tại doanh nghiệp”

Trang 23

2.2.2 Khái niệm, đặc điểm

Khái niệm về Người đại diện vốn được quy định một cách tổng quát nhất là

khoản 4 Điều 3 Nghị định số 99/2012/NĐ-CP: “Người đại diện theo ủy quyền đối

với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Người đại diện) là cá nhân được chủ sở hữu ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu tại doanh nghiệp” Để cụ thể hóa khái niệm này cho phù

hợp với vai trò Người đại diện vốn của SCIC, tại Khoản 3 Điều 2 Quy chế người

đại diện vốn 2013 có định nghĩa như sau: “Người đại diện là người được Tổng công

ty ủy quyền làm đại diện một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của Tổng công ty tại doanh nghiệp để thực hiện toàn bộ hoặc một số quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của

cổ đông Nhà nước hoặc thành viên góp vốn tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng công ty, bao gồm:

a Người đại diện là cán bộ doanh nghiệp: Là cán bộ làm việc chuyên trách tại doanh nghiệp được Tổng công ty uỷ quyền làm Người đại diện vốn tại doanh nghiệp

b Người đại diện là cán bộ Tổng công ty: Là cán bộ, nhân viên của Tổng công ty được Tổng công ty uỷ quyền làm Người đại diện kiêm nhiệm hoặc làm Người đại diện chuyên trách (biệt phái) tại doanh nghiệp

c Người đại diện là cán bộ cơ quan nhà nước: Là cán bộ hành chính nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử làm Người đại diện kiêm nhiệm tại doanh nghiệp trước khi chuyển giao vốn cho Tổng công ty và được Tổng công ty kế thừa làm Người đại diện theo quy định của pháp luật

Như vậy, định nghĩa Người đại diện của SCIC đã giữ được tinh thần của khái niệm chung về Người đại diện vốn nhà nước, làm rõ được địa vị pháp lý, chức năng và phạm vi thực hiện chức năng của người đại diện Ngoài ra, so với định nghĩa về Người đại diện được quy định tại Điều 1 Quy chế người đại diện vốn của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ban hành kèm theo quyết định

số 20/QĐ-ĐTKDV-HĐQT ngày 09 tháng 6 năm 2009 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trước đây, khái niệm của văn bản hiện hành còn phân loại cụ thể người đại diện Có thể thấy, những tiêu chí mà khái niệm

Trang 24

trên làm rõ cũng chính là những đặc điểm cơ bản của người đại diện vốn nhà nước của SCIC

Thứ nhất, về địa vị pháp lý, người đại diện vốn của SCIC là người được

SCIC ủy quyền Như vậy, SCIC đã ủy quyền lại quyền đại diện vốn nhà nước của

mình cho Người đại diện Xét về bản chất, SCIC cũng là “Đại diện vốn nhà nước” chính vì thế SCIC chỉ được ủy quyền lại cho Người đại diện những nội dung không vượt quá phạm vi mà nhà nước đã uỷ quyền lại cho Tổng công ty này Đặc điểm này đã phân biệt Người đại diện của SCIC với những Người đại diện vốn nhà nước khác, đơn cử như những Người đại diện của các bộ, ngành, UBND tỉnh tại doanh nghiệp do Bộ, ngành, UBND tỉnh đó trực tiếp quản lý Người đại diện vốn của SCIC phải chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động đại diện của mình và chịu sự kiểm soát của SCIC kể cả những Người đại diện là cán bộ cơ quan nhà nước được tổng công ty kế thừa khi tiếp nhận chuyển giao vốn nhà nước Với tư cách là Người đại diện vốn của SCIC tại doanh nghiệp, chủ thể này thực hiện các hoạt động với tư cách của chủ thể giao đại diện Mọi hoạt động không vượt quá phạm vi ủy quyền của Người đại diện đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho SCIC Ngược lại, theo quy định chung của Bộ luật dân sự, những hoạt động nào vượt ra ngoài phạm vi đại diện thì SCIC không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với phần nội dung vượt quá đó

Thứ hai, nội dung và phạm vi ủy quyền Người đại diện làm đại diện một

phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của Tổng công ty tại doanh nghiệp để thực hiện toàn bộ hoặc một số quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của cổ đông Nhà nước hoặc thành viên góp vốn tại doanh nghiệp Như vậy phạm vi ủy quyền được quy định tương ứng với nội dung ủy quyền của Người dại diện Người đại diện sẽ được thực hiện toàn bộ hay một số quyền và nghĩa vụ của cổ đông nhà nước phụ thuộc vào họ được đại diện toàn bộ hay một phần vốn góp của SCIC tại doanh nghiệp Từ quy định này cũng có thể hiểu, SCIC có thể cử hơn một người làm Người đại diện tại một doanh nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, phạm vi ủy quyền của những người này có thể không giống nhau tùy thuộc vào trình độ, năng lực của họ

Trang 25

Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát nhất Người đại diện của SCIC chính là người được SCIC ủy quyền để thay SCIC thực hiện quyền và nghĩa vụ của đại diện cổ đông, thành viên góp vốn nhà nước tại doanh nghiệp cụ thể, chịu trách

nhiệm về mọi hoạt động trực tiếp với SCIC

2.2.3 Vai trò của Người đại diện vốn nhà nước của Tổng công ty đầu tư

và kinh doanh vốn nhà nước

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là đầu mối quản lý một số doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước hiện nay Theo báo cáo tổng kết, đánh giá công tác đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tính đến tháng 9/2012, SCIC đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 420 doanh nghiệp, trong đó

có 412 công ty cổ phần, 3 công ty TNHH hai thành viên trở lên và 5 công ty TNHH một thành viên với vốn nhà nước theo giá trị sổ sách là 13.928 tỷ đồng, giá thị trường ước đạt trên 40.000 tỷ đồng So sánh từ thời điểm tiếp nhận đến ngày 31-12-

2011, quy mô vốn nhà nước theo giá trị sổ sách của các doanh nghiệp đã tăng hơn 88% Lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng đạt gấp hơn ba lần so với thời điểm tiếp nhận Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân tăng từ mức 15,8% (thời điểm nhận bàn giao) lên 18,5% (ngày 31-12-2011) Những thành tựu đạt được đó của SCIC nhờ một phần đóng góp rất lớn của đội ngũ những Người đại diện vốn Hiện nay, việc quản lý vốn nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua 492 Người đại diện với cơ cấu 415 Người đại diện công tác tại doanh nghiệp, giữ các chức danh lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp (chiếm 84,6%), 35 Người đại diện kiêm nhiệm là cán bộ các đơn vị thuộc các Bộ, ngành, địa phương (chiếm 7,3%), 42 Người đại diện là cán bộ của SCIC (chiếm 8,1%) [23] Nhấn mạnh vai trò của những Người đại diện, tại Hội nghị Đại diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp năm 2012 được tổ

chức tại Đà Nẵng, Tổng Giám đốc SCIC Lại Văn Ðạo khẳng định: Thông qua hệ

thống người đại diện, SCIC đã chủ động tham gia các Ðại hội cổ đông; nghiên cứu, góp ý và biểu quyết các quyết định, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp; thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin và kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp; tham gia mua cổ phần phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu tại các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng cho vốn nhà

Trang 26

nước Trong thời gian qua, về cơ bản, việc phối hợp giữa SCIC và Người đại diện khá chặt chẽ, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư vốn, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Nhìn chung vai trò của Người đại diện SCIC được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, là đầu mối thông tin, góp phần cho SCIC nắm vững tình hình hoạt động của doanh nghiệp Người đại diện là người thay thế SCIC thực hiện

quyền đại diện cổ đông, thành viên góp vốn nhà nước tại doanh nghiệp Chính vì thế, họ là người nắm bắt được hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp một cách sâu sát nhất Thông qua hoạt động thông tin với SCIC họ sẽ kịp thời phản ánh tình hình của doanh nghiệp để từ đó SCIC có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhất Như đã kể trên, hiện nay SCIC quản lý vốn góp của nhà nước ở trên 400 doanh nghiệp Do vậy, nếu không có hệ thống những Người đại diện, việc tiếp nhận thông tin và quản lý số doanh nghiệp này dường như quá sức với SCIC Bên cạnh đó, nếu như có thể thực hiện được hoạt động quản lý trên thì các thông tin mà SCIC nắm bắt được từ doanh nghiệp cũng chưa chắc đảm bảo tính kịp thời, chính xác Trong khi hoạt động kinh doanh tính thời cơ luôn được đặt lên hàng đầu Vì thế, có thể khẳng định Người đại diện chính là đầu mối thông tin không thể thiếu của SCIC

Thứ hai, là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào những quyết sách, hoạt động hàng ngày phát triển doanh nghiệp Được ủy quyền để thực hiện

chức năng, nhiệm vụ của đại diện vốn nhà nước, Người đại diện có cơ hội tham gia vào hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Tuy nhiên, hoạt động đó không chỉ là thụ động, gián tiếp phục tùng, truyền đạt lại quyết định của SCIC mà trong chừng mực nhất định Người đại diện được chủ động quyết định Chính vì thế, hoạt động đầu tư đó có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực, sự nhạy bén và lòng trung thành với mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn nhà nước của Người đại diện

Qua những nội dung trên có thể thấy hoạt động của SCIC không thể thiếu vắng vai trò của Người đại diện Mặc dù theo số liệu thống kê, SCIC hiện nay chỉ mới quản lý khoảng 3% vốn đầu tư của nhà nước tuy nhiên đây là mô hình đang có

Trang 27

triển vọng phát triển Vì vậy, để số vốn đó có thể sinh lời và phát triển hơn thì việc xây dựng một đội ngũ Người đại diện với kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao càng được đặt lên hàng đầu

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU

TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Đối với bất cứ một nhà nước nào, vấn đề kinh tế và chính trị luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Trong mối quan hệ đó, kinh tế giữ vai trò tiền

đề, kinh tế có vững mạnh thì chính trị mới bền lâu Chính vì thế, nhà nước với hệ thống bộ máy các cơ quan của mình không chỉ làm chức năng quản lý, điều tiết xã hội mà còn thực hiện chức năng kinh doanh phát triển kinh tế Chức năng ấy được thực hiện qua các doanh nghiệp có vốn nhà nước Đặc biệt hơn, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam tiến hành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần nhưng vẫn mong muốn định hướng xã hội chủ nghĩa thì các doanh nghiệp có vốn nhà nước càng phải giữ vững vai trò chủ đạo

Nhằm nâng cao vai trò đó của nền kinh tế nhà nước cũng như tăng cường hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, SCIC đã ra đời Cùng với việc xây dựng một đội ngũ Người đại diện, SCIC đã đạt được những thành tựu nhất định trong hoạt động đại diện vốn nhà nước của mình Có thể thấy, hầu như các doanh nghiệp có vốn nhà nước mà SCIC đại diện hiện nay, SCIC đều phải thực hiện nghiệp vụ đó thông qua Người đại diện Chính vì thế, nếu như không có cơ chế quản lý chặt chẽ và phù hợp

có thể dẫn đến sự lạm quyền, tắc trách của Người đại diện gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước Tuy nhiên, nếu cơ chế quản lý đó quá chặt chẽ lại không thể phát huy được tính chủ động của Người đại diện Do đó, có thể khẳng định xây dựng được một Quy chế Người đại diện hoàn thiện là một trong những cơ sở nền tảng để có thể quản lý vốn đầu tư nhà nước hiệu quả Nhận thức được tầm quan trọng của việc đặt hoạt động Người đại diện vào một khung pháp lý nhất định, bên cạnh sự ra đời của các văn bản pháp luật như Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Thông tư số 117/2010/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính của công

ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Quy chế người đại diện ban

Trang 29

hành kèm theo quyết định số 20/QĐ-ĐTKDV-HĐQT ngày 09 tháng 6 năm 2009 đã

ra đời (Sau đây gọi tắt là Quy chế Người đại diện 2009) Song sau gần 4 năm điều chỉnh, quy chế này đã bộc lộ một số thiếu sót nhất định như chưa quy định rõ hơn mối quan hệ phối hợp giữa SCIC và người đại diện, trong đó SCIC là cổ đông thực

sự tại doanh nghiệp, thông qua người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ cổ đông Nhà nước và quan hệ giữa SCIC và người đại diện là quan hệ hợp tác SCIC không phải là một cơ quan chủ quản cấp trên của doanh nghiệp như trước đây, mà

là đối tác của doanh nghiệp; việc xác lập quyền và nghĩa vụ của người đại diện chưa đầy đủ, chưa cụ thể Chính vì thế Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước đã ban hành Quyết định số 06/QĐ-ĐTKDV.HĐTV ngày

06 tháng 02 năm 2013 thay thế cho Quy chế trên Có thể thấy đây là những văn bản quy định nội bộ nhưng có vai trò pháp lý to lớn bởi nó quy định đến một hệ thống những người có vai trò nhất định đối với việc thành bại trong hoạt động đầu tư vốn của nhà nước Theo quy định của Quy chế trên, pháp luật điều chỉnh Người đại diện vốn của SCIC bao gồm những nội dung sau:

- Nguyên tắc ủy quyền Người đại diện

- Tiêu chuẩn Người đại diện

- Quyền và nghĩa vụ của Người đại diện

- Đánh giá Người đại diện

- Thôi là Người đại diện và chấm dứt ủy quyền Người đại diện

2.1 Nguyên tắc và hình thức ủy quyền Người đại diện

Về nguyên tắc ủy quyền: Đối với bất cứ một hoạt động pháp lý nào, pháp

luật đều đặt ra những nguyên tắc nhất định và xem đó là quy chuẩn để soi chiếu cho các hoạt động cụ thể Có như vậy, khi các quy định chi tiết trái với nguyên tắc chung thì các quy định đó lập tức được xem xét để bãi bỏ Tuy nhiên, nguyên tắc chung áp dụng cho hoạt động ủy quyền Người đại diện hiện nay lại chưa được quy định cụ thể tại bất cứ văn bản pháp lý nào Đây quả thực là một điểm thiếu sót của pháp luật, bởi như đã phân tích ở trên, thiếu sót này đã làm mất đi giá trị tham chiếu

đó

Trang 30

Tuy nhiên, tại Điều 3 Quy chế người đại diện nguyên tắc ủy quyền cho người

đại diện của SCIC được quy định cụ thể, bao gồm:

Thứ nhất, Tổng công ty là chủ thể chỉ định, giao nhiệm vụ và thực hiện các

hoạt động khác để giám sát người đại diện Nội dung này được thể hiện rõ tại

khoản 1 Điều 3 Quy chế người đại diện: “Tổng công ty chỉ định và giao nhiệm vụ

cho Người đại diện; đánh giá hoạt động của Người đại diện; miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Người đại diện; quyết định mức lương, thưởng, phụ cấp và các lợi ích khác của Người đại diện theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng công ty” Nguyên tắc này nhằm tránh sự chồng chéo trong mối quan hệ quản lý

Người đại diện, đảm bảo cho ý kiến chỉ đạo đối với Người đại diện là nhất quán Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn đảm bảo sự thống nhất trong cơ chế quản lý cũng như trong chế độ đối với những Người đại diện là cán bộ cơ quan nhà nước và Người đại diện là cán bộ tổng công ty hoặc cán bộ doanh nghiệp

Thứ hai, số lượng, thành phần và cơ cấu Người đại diện giữa các doanh nghiệp là khác nhau Khoản 2 Điều 3 Quy chế người đại diện vốn quy định: “Tuỳ

theo quy mô vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ vốn của Tổng công ty tại doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, năng lực của cán bộ và chiến lược, mục tiêu của Tổng công ty đối với từng doanh nghiệp, Tổng công ty quyết định số lượng, thành phần và cơ cấu Người đại diện phù hợp Trường hợp uỷ quyền cho từ hai Người đại diện trở lên thì Tổng công

ty xác định cụ thể số vốn uỷ quyền cho mỗi Người đại diện” Nguyên tắc này hoàn

toàn hợp lý bởi lẽ giữa các doanh nghiệp luôn có sự khác biệt nhất định về các đặc điểm nội tại kể cả trong trường hợp các doanh nghiệp đó cùng hoạt động trên cùng một lĩnh vực Vì vậy, đối với các lĩnh vực khác nhau, tùy vào tính chất phức tạp SCIC sẽ có sự cơ cấu nhất định đối với đội ngũ Người đại diện của công ty đó Không chỉ căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, quy mô vốn của doanh nghiệp và tỷ lệ vốn của SCIC cũng là một yếu tố quan trọng để làm căn cứ quyết định cơ cấu Người đại diện

Với các doanh nghiệp mà SCIC tiếp nhận quyền đại diện vốn hoặc đầu tư vốn, không phải doanh nghiệp nào cũng đang hoạt động hiệu quả, có những doanh

Trang 31

nghiệp hoạt động tốt đem lại nguồn lợi cổ tức lớn cho SCIC như Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk; Công ty cổ phần dược Hậu Giang nhưng cũng có những công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc làm ăn thua lỗ như Jetstar Pancific Airline…Mặt khác, để đầu tư hiệu quả SCIC đang tập trung xây dựng và thúc đẩy

kế hoạch cơ cấu lại các doanh nghiệp Nhà nước, đẩy nhanh thoái vốn tại những doanh nghiệp cổ phần hóa mà SCIC đang nắm giữ theo tinh thần: Bán đi các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, chỉ giữ lại vốn tại khoảng 100 doanh nghiệp lớn, làm ăn hiệu quả nhất, để tập trung vào những lĩnh vực then chốt, quan trọng của nền kinh tế Tính đến thời điểm ngày 30/6/2011, SCIC đã bán vốn tại gần 520 doanh nghiệp (trong đó bán hết vốn tại 466 doanh nghiệp) với giá trị sổ sách gần 1.300 tỉ đồng, thu về gần 2.800 tỉ đồng, đạt tỉ lệ trung bình gấp gần 2,17 lần so với mệnh giá [24] Như vậy, đối với mỗi doanh nghiệp cụ thể, nó luôn có những đặc điểm riêng và căn cứ vào đó SCIC luôn có những mục tiêu nhất định, chính vì thế không thể đồng nhất trong quản lý

Một nguyên tắc nữa mà Quy chế người đại diện tập trung làm rõ đó là việc phân chia phạm vi ủy quyền cho mỗi người đại diện trong trường hợp một doanh nghiệp có hai người Đại diện trở lên Quy định này là hoàn toàn cần thiết bởi lẽ mỗi người đại diện có năng lực và trình độ khác nhau Căn cứ vào những nội dung đó để xây dựng phạm vi ủy quyền có thể đảm bảo tạo nên một cơ cấu Người đại diện tại doanh nghiệp hợp lý

Nguyên tắc cuối cùng mà Quy chế Người đại diện tập trung làm rõ đó là trong trường hợp SCIC không ủy quyền đại diện vốn, theo đó, khoản 3 Điều 3

Quy chế này quy định: “Các trường hợp Tổng công ty không ủy quyền đại diện vốn,

Tổng công ty sẽ trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của cổ đông/thành viên góp vốn tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật” Nguyên tắc này đã trả lời có

những thắc mắc trước đây của nhiều chuyên gia kinh tế rằng có cần thiết phải cử người đại diện ở tất cả các doanh nghiệp mà SCIC làm đại diện vốn không? Câu trả lời ở đây là không SCIC hoàn toàn có thể tự mình làm đại diện trực tiếp ở một số các doanh nghiệp Đó có thể là các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và phần vốn góp mà SCIC làm đại diện ở doanh nghiệp đó chiểm tỷ lệ thấp hoặc trong trường

Trang 32

hợp SCIC tiến hành phối hợp song song hai phương pháp quản lý, SCIC vẫn cử Người đại diện tại doanh nghiệp nhưng trong những trường hợp quan trọng SCIC tự mình thực hiện chức năng đại diện quyền cổ đông, thành viên góp vốn của nhà nước Việc không bắt buộc SCIC phải cử người đại diện trong trường hợp này sẽ giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước cho việc duy trì bộ máy Người đại diện

ở các doanh nghiệp Vì xét đến cùng, nguồn tài chính để SCIC đảm bảo cho bộ máy này hoạt động cũng xuất phát từ “tiền thuế” của nhân dân là chủ yếu

Về hình thức ủy quyền: nội dung này không được ghi nhận thành một điều

khoản riêng biệt mà được quy định chung trong khoản 4 Điều 3 Nghị định số

99/2012/NĐ-CP: “Người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại

doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Người đại diện) là cá nhân được chủ sở hữu ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu tại doanh nghiệp” Theo đó, hình thức ủy quyền được quy định phải là văn bản Tuy

nhiên, trong Quy chế người đại diện 2009 trước đây, nội dung này được quy định tại khoản 2 Điều 3 như sau:

a Ủy quyền bằng văn bản: đối với trường hợp Tổng công ty cử người trực tiếp thực hiện đại diện vốn

b Ủy quyền thông qua hợp đồng: đối với trường hợp Tổng công ty ủy quyền lãnh đạo doanh nghiệp đại diện vốn hoặc thuê Người đại diện

c Đối với trường hợp Người đại diện đã được các Bộ, UBND các tỉnh, Thành phố hoặc Tổng công ty cử hoặc ủy quyền đại diện vốn thì Quy chế này được xác định là cam kết giữa Người đại diện và Tổng công ty trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cổ đông nhà nước tại doanh nghiệp

Rõ ràng nội dung trên không phù hợp với quy định chung của pháp luật Điểm không phù hợp ở đây là quy định hình thức SCIC cử người trực tiếp thực hiện đại diện vốn bằng văn bản, còn đối với hai trường hợp còn lại: ủy quyền cho lãnh đạo doanh nghiệp hoặc thuê người đại diện và Người đại diện đã được các Bộ, UBND các tỉnh, thành phố cử thì hình thức lại là hợp đồng hoặc cam kết Trong khi đó, pháp luật quy định hợp đồng có thể được lập dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc hành vi Như vậy, việc phân chia các hình thức ủy quyền trên không dựa trên cùng

Trang 33

một căn cứ Tất yếu dẫn đến các hình thức ủy quyền được liệt kê trên là không chính xác

Nhận thức được sự bất hợp lý đó, Quy chế người đại diện năm 2013 đã lược

bỏ quy định này Tuy nhiên, việc không đề cập đến nội dung này của Quy chế người đại diện năm 2013 nhìn chung cũng chưa thật hợp lý Việc phân chia rõ thành các hình thức ủy quyền góp phần xác định rõ các căn cứ pháp lý để có cơ chế giám sát hoạt động của Người đại diện một cách phù hợp Như đã phân tích ở trên, Người đại diện có vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa SCIC và doanh nghiệp để qua đó SCIC có thể nắm bắt được tình hình doanh nghiệp Chính vì thế, yêu cầu pháp lý hóa mối quan hệ giữa SCIC và Người đại diện rất quan trọng Quy định đó tạo cơ

sở pháp lý ràng buộc Người đại diện một cách cụ thể từ đó tăng cường trách nhiệm của họ hơn trong công tác làm đại diện của mình Đồng thời, đó cũng sẽ là căn cứ vững chắc để hai bên có thể giám sát chặt chẽ quyền lợi và trách nhiệm lẫn nhau

Một vấn đề nữa khi quy định về hình thức ủy quyền đó là SCIC nên có sự khuyến khích nhất định đối với hình thức ủy quyền bằng hợp đồng, thay thế các quyết định cử Người đại diện mang tính chất hành chính bằng các văn bản ủy quyền mang tính chất hợp đồng dân sự Khuyến khích hình thức ủy quyền này có nghĩa SCIC sẽ khuyến khích người đại diện hoạt động một cách độc lập, chuyên trách không phải kiêm nhiệm như người đại diện là cán bộ của SCIC hay là cán bộ của cơ quan nhà nước Rõ ràng, một khi được tập trung thực hiện một chức năng, nhiệm

vụ, cá nhân sẽ chuyên tâm hơn trong công việc của mình Hơn nữa, khi phân tích dưới góc độ lợi ích, cán bộ nhà nước khi thôi làm người đại diện họ sẽ trở về với bộ,

cơ quan chủ quản; cán bộ của SCIC cũng tương tự như vậy, khi không còn là người đại diện họ lại trở lại với công việc trước đây của mình Còn đối với người đại diện được ủy quyền thông qua một hợp động dân sự thì không Khi không hoàn thành các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng, đương nhiên họ sẽ bị đào thải (trừ trường hợp hợp đồng có quy định khác), lợi ích kinh tế sẽ bị ảnh hưởng Điều này

sẽ thôi thúc những Người đại diện được ủy quyền thông qua hợp đồng hết mình hơn với công việc để đảm bảo lợi ích kinh tế của mình

Trang 34

Một lý do nữa cho thấy rõ hình thức ủy quyền bằng hợp đồng cần được ưu tiên đó là xuất phát từ bản chất thỏa thuận của hợp đồng Khi không còn muốn một người làm đại diện của một doanh nghiệp cụ thể, SCIC hoàn toàn có thể đơn phương chấm dứt với người đó mà không cần phải quá đắn đo, cân nhắc Điều đó lại không đơn giản đối với Người đại diện được cử bằng một quyết định mang tính chất hành chính, trừ khi Người đại diện đó không còn đạt tiêu chuẩn của Người đại diện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, một điểm yếu của việc áp dụng hình thức này đó là tạo nên mối liên kết lỏng lẻo giữa SCIC và Người đại diện Hầu như mối liên kết gắn kết duy nhất giữa hai đối tượng này là lợi ích kinh tế, khi lợi ích này thay đổi rất dễ dẫn đến sự dao động đối với lòng trung thành của Người đại diện Do đó, đối với việc áp dụng hình thức ủy quyền bằng hợp đồng, chỉ nên dừng lại ở cơ chế khuyến khích và cần thiết phải duy trì hình thức ủy quyền khác trong một số doanh nghiệp nhất định có vốn nhà nước Hoặc, có thể áp dụng song song nhiều hình thức ủy quyền đối với Người đại diện trong cùng một doanh nghiệp, trong đó quy định tỷ lệ Người đại diện không được phép vượt quá của hình thức ủy quyền bằng hợp đồng

Như vậy, việc quy định các hình thức ủy quyền trong những trường hợp cụ thể là rất cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm cho Người đại diện cũng như tạo cơ chế cho hoạt động giám sát cho SCIC

2.2 Tiêu chuẩn Người đại diện

Người đại diện của SCIC tại các doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, thật chính xác khi cho rằng họ là chìa khóa quyết định thành công của hoạt động đầu tư vốn của SCIC Có thể nói, chọn được Người đại diện phù hợp là SCIC đã đầu tư thành công được một nửa tại doanh nghiệp đó Bởi hoạt động của họ có sâu sát, phản ánh của họ có chính xác thì đường lối chỉ đạo của SCIC mới sáng suốt, đúng đắn Chính vì vai trò quan trọng đó nên pháp luật đặt ra những yêu cầu tương đối gắt gao đối với Người đại diện Cụ thể, nội dung này được quy định tại Điều 6 Nghị định 66/2011/NĐ-CP, và Khoản 5 Điều 13 Thông tư số 117/2010/TT-BTC

Căn cứ vào điều khoản này, có thể phân chia tiêu chuẩn Người đại diện thành hai

Trang 35

nhóm tiêu chuẩn cụ thể, nhóm những tiêu chuẩn căn bản và nhóm những tiêu chuẩn đặc thù

Nhóm những tiêu chuẩn căn bản: Để được cân nhắc trở thành Người đại diện

của SCIC tại doanh nghiệp cá nhân đó tất yếu phải đáp ứng được những điều kiện

cơ bản được quy định ở các điểm sau:

- Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam trừ trường hợp đại diện vốn tại doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài hoặc trong các trường hợp đặc biệt khác;

- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

- Có sức khoẻ để đảm đương nhiệm vụ;

- Có đủ năng lực hành vi dân sự;

- Hiểu biết và có ý thức chấp hành pháp luật;

- Không trong thời gian bị cấm đảm nhiệm chức vụ, chức danh hoặc bị xem xét xử lý kỷ luật, điều tra, truy tố, xét xử; không trong thời gian thi hành quyết định

kỷ luật từ khiển trách trở lên

Sở dĩ đây được xem là những tiêu chuẩn căn bản bởi lẽ đối với bất cứ công việc nào cá nhân muốn thực hiện đều phải đáp ứng được những điều kiện này Bên cạnh những yếu tố sức khỏe và năng lực hành vi dân sự được đáp ứng, pháp luật còn đề cao các yếu tố về phẩm chất đạo đức của cá nhân Quy định này là hết sức cần thiết, bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “có tài mà không có đức là người vô dụng” Đặc biệt đối với Người đại diện, những người trực tiếp thay mặt SCIC để thực hiện công việc quản lý vốn tại doanh nghiệp, nếu không có phẩm chất đạo đức tốt, rất nhiều khả năng họ sẽ lợi dụng vị trí của mình để làm lợi cho bản thân và gây thiệt hại đến lợi ích của SCIC nói riêng và lợi ích của cả nhà nước nói chung

Nhóm những tiêu chuẩn đặc thù: Bên cạnh việc phải đáp ứng các điều kiện

cần, cá nhân chỉ có thể trở thành Người đại diện của SCIC khi đáp ứng thêm các điều kiện đủ sau:

- Đáp ứng yêu cầu về thời hạn uỷ quyền

- Không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;

Trang 36

- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp; có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí chức danh được uỷ quyền làm Người đại diện;

- Đối với người trực tiếp đại diện phần vốn của Tổng công ty tại các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài phải có đủ trình độ ngoại ngữ để làm việc trực tiếp với người nước ngoài không cần phiên dịch;

- Không là vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý của Tổng công ty hoặc người được Tổng công ty giao trực tiếp quản lý vốn tại doanh nghiệp đó;

- Không có quan hệ góp vốn thành lập doanh nghiệp, cho vay vốn, ký kết hợp đồng mua bán với doanh nghiệp có vốn đầu tư của Tổng công ty mà người đó được

cử trực tiếp quản lý, trừ trường hợp có cổ phần được mua khi doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá;

Không tham gia góp vốn thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh với doanh nghiệp mà người đó được ủy quyền đại diện, trừ trường hợp các doanh nghiệp đó có vốn đầu

tư trực tiếp hoặc gián tiếp của Tổng công ty;

Các tiêu chuẩn đặc thù chủ yếu tập trung vào yêu cầu đối với năng lực và quan

hệ của Người đại diện để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của họ, tránh tối

đa khả năng xảy ra các giao dịch tư lợi Đặc biệt, đối với điều kiện về thời hạn, nhận thức được tầm quan trọng của điều kiện này Nghị định 66/2011/NĐ-CP cũng như Quy chế Người đại diện 2013 đã tách nó thành một điều khoản độc lập Cụ thể Điều

5 Quy chế này quy định như sau: “ Thời hạn uỷ quyền Người đại diện là thời hạn

theo nhiệm kỳ Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của doanh nghiệp Trường hợp Người đại diện được ủy quyền vào giữa nhiệm kỳ Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên doanh nghiệp thì thời hạn uỷ quyền Người đại diện phải phù hợp với thời hạn còn lại của nhiệm kỳ Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của doanh nghiệp đó” Ngoài ra, Người đại diện phải đủ tuổi đảm nhiệm đến

hết thời hạn, đối với trường hợp tiếp tục ủy quyền thì Người đại diện phải đáp ứng ít

Trang 37

nhất còn đủ ba mươi sáu tháng công tác trước khi đến tuổi nghỉ hưu Tuy nhiên đối

với một số trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 5 như “a Các doanh

nghiệp đang triển khai bán vốn theo kế hoạch; b Các doanh nghiệp chưa triển khai bán vốn nhưng Người đại diện là lãnh đạo doanh nghiệp đã phối hợp tốt với Tổng công ty, điều hành doanh kinh doanh hiệu quả và hiện tại chưa bố trí được người thay thế” thì SCIC vẫn xem xét uỷ quyền cho Người đại diện khi không đủ

tuổi đảm nhiệm hết thời hạn hoặc kéo dài thời gian uỷ quyền đối với Người đại diện đến tuổi nghỉ hưu Đây là một quy định mới của Quy chế người đại diện 2013 so với Quy chế người đại diện 2009 Sở dĩ Quy chế Người đại diện 2013 bổ sung thêm quy định này để tương ứng với quy định tại Nghị định số 66/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu

và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp

có vốn góp của Nhà nước có hiệu lực từ 25/9/2011

Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động của Người đại diện được gắn bó nhất định với doanh nghiệp Việc thay thế Người đại diện giữa nhiệm kỳ chắc chắn

sẽ gây không ít bất lợi cho Người đại diện kế nhiệm vì họ phải dành thời gian nghiên cứu và tìm hiểu doanh nghiệp cũng như hoạt động dở dang mà người tiền nhiệm để lại Một bất lợi nữa khi thay đổi Người đại diện giữa nhiệm kỳ đó là trong trường hợp Người đại diện vốn được bầu vào làm thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát Tư cách thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoàn toàn độc lập với tư cách Người đại diện vốn nên việc Người đại diện của SCIC chấm dứt không đồng nghĩa với việc Người đại diện kế nhiệm sẽ đương nhiên thay thế trở thành thành viên Hội đồng quản trị hoặc thành viên Ban kiểm soát (trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác) Điều này là một bất lợi lớn cho SCIC trong việc tham gia quản lý hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp

Ngoài ra để đảm bảo tính thống nhất với Luật Doanh nghiệp 2005, khoản 2

Điều 4 Quy chế người đại diện 2013 còn có quy định: “Ngoài các tiêu chuẩn nêu

trên, trường hợp Người đại diện tham gia ứng cử vào Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, thành viên Ban Kiểm soát, Kế toán trưởng

Trang 38

phải có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan và Điều lệ doanh nghiệp”

Qua những quy định trên về tiêu chuẩn của Người đại diện, bên cạnh những quy định phù hợp và thiết thực vẫn tồn tại những quy định chưa thật sự hợp lý

Thứ nhất, quy định Người đại diện vốn phải là công dân Việt Nam còn mang

tính chất khiên cưỡng Việc hạn chế những người không có quốc tịch Việt Nam làm Người đại diện không thật sự hợp lý vì quy định này đã loại bỏ một số những đối tượng có trình độ, năng lực cao có thể trở thành những Người đại diện, thậm chí những cá nhân trong nước chưa thật sự đáp ứng được Mặc dù mục đích sâu xa của quy định này là nhằm hạn chế sự can thiệp quá sâu của những người nước ngoài vào công việc kinh doanh của những doanh nghiệp nhà nước có vốn góp Tuy nhiên, cần xem xét lại việc hạn chế này có nhất thiết phải áp dụng lên tất cả các doanh nghiệp mà SCIC đại diện vốn? Một ví dụ điển hình nhất để thấy sự hạn chế này không thật sự cần thiết trực tiếp từ mô hình quản trị của Tập đoàn Temasek Holdings Không chỉ trong đội ngũ quản lý mà trong tổng số nhân viên của họ có gần 40% là người nước ngoài có nghiệp vụ cao Với mô hình quản trị mang tính

“mở” như vậy, họ vẫn quản lý tốt, lợi ích của Nhà nước vẫn được đảm bảo Vì vậy,

để xây dựng một mô hình quản lý chuyên nghiệp hơn cần thiết phải xem xét lại tính cần thiết tiêu chuẩn này

Thứ hai, một số Người đại diện là cán bộ cơ quan nhà nước hoạt động kiêm

nhiệm chưa thực sự đáp ứng được trình độ, năng lực mà pháp luật yêu cầu Hoạt động kinh doanh là một hoạt động mang tính chất đặc thù, đặc biệt vai trò của Người đại diện không đơn thuần chỉ là “người đưa tin” cho SCIC mà trong nhiều trường hợp cụ thể, họ được chủ động đưa ra những quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp Chính vì thế, việc đòi hỏi Người đại diện có trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên, thực tế cho thấy cán bộ quản lý hành chính từ các bộ ngành không phải ai cũng đáp ứng được những tiêu chí này, đặc biệt hoạt động của họ lại là hoạt động kiêm nhiệm, chức năng chính của họ khi được tuyển vào làm cán bộ của cơ quan nhà nước là chức năng quản lý hành chính Đặc biệt, đối với cán bộ các bộ ngành như Nông

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[10] Thông tư số 03/2012/TT-BNVban hành ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện
[19] Mô hình Temasek Holdings của Singapore trong thực tiễn xây dựng Tổng công ty SCIC Việt Nam; Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Đại học Ngoại Thương năm 2008 Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Temasek Holdings của Singapore trong thực tiễn xây dựng Tổng công ty SCIC Việt Nam
[18] “Các mô hình tài chính chi phối tương lai”, industry building service, truy cập ngày 15/4/2013 tại địa chỉ http://www.saga.vn/dfincor.aspx?id=11536 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tài chính chi phối tương lai”, "industry building service, truy cập ngày 15/4/2013
[19] Temasek (2013) Câu hỏi thường gặp, Trang thông tin điện tử của công ty Temasek truy cập ngày 21/5/2013 tại địa chỉ http://www.temasek.com.sg/faqs,[21] Nghi Lộc (2012) Hiệu quả vốn phụ thuộc người đại diện, Thời báo Ngân hàng , truy cập ngày 12/5/2013 tại địa chỉhttp://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/5-hieu-qua-von-phu-thuoc-nguoi-dai-dien-4742.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: truy cập ngày 21/5/2013 "tại địa chỉ http://www.temasek.com.sg/faqs, [21] Nghi Lộc (2012) "Hiệu quả vốn phụ thuộc người đại diện", Thời báo Ngân hàng ", truy cập ngày 12/5/2013
[20] Theo Vneconomy (2012) SCIC đạt 2.700 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong 9 tháng năm 2012, Gafin truy cập ngày 12/52013 tại địa chỉhttp://gafin.vn/2012100502304639p0c36/scic-dat-2700-ty-dong-loi-nhuan-sau-thue-trong-9-thang-nam-2012.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo Vneconomy (2012) SCIC đạt 2.700 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong 9 tháng năm 2012, Gafin truy cập ngày 12/52013
[29] Theo Đầu tư chứng khoán (2012)Có thể nhân rộng cơ chế người đại diện của SCIC,Báo mới, truy cập ngày 13/5/2013 tại địa chỉhttp://www.baomoi.com/Co-the-nhan-rong-co-che-nguoi-dai-dien-cua-SCIC/45/9475285.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có thể nhân rộng cơ chế người đại diện của SCIC,Báo mới, truy cập ngày 13/5/2013
[31] Anh Việt ( 2012) Nỗi buồn của cánh đồng mẫu lớn,Báo điện tử của Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang; truy cập ngày 15/4/2013 tại địa chỉhttp://www.agpps.com.vn/angiang/tintuc.php?idTin=3281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh Việt ( 2012) Nỗi buồn của cánh đồng mẫu lớn,Báo điện tử của Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang; truy cập ngày 15/4/2013
[32] Như Bình - Bạch Hoàn (2013) "Xin thoát khỏi SCIC", Tuổi trẻ online,truy cập ngày 15/4/2013 tại địa chỉhttp://tuoitre.vn/kinh-te/537020/xin-thoat-khoi-scic.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin thoát khỏi SCIC
[33] Theo VIR (2011), "Đề xuất cơ chế đãi ngộ đối với đại diện vốn nhà nước",Báo mới truy cập ngày 21/5/2013 tại địa chỉhttp://www.baomoi.com/De-xuat-co-che-dai-ngo-doi-voi-dai-dien-von-nha-nuoc/127/6720994.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất cơ chế đãi ngộ đối với đại diện vốn nhà nước
Tác giả: Theo VIR
Năm: 2011
[34] Thái An (2009), "Thu hồi, giảm cấp bù lỗ xăng dầu hơn 1.025 tỉ đồng", Người lao động, truy cập ngày 23/4/2013 tại địa chỉhttp://nld.com.vn/20091202112627788p0c1014/thu-hoi-giam-cap-bu-lo-xang-dau-hon-1025-ti-dong.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hồi, giảm cấp bù lỗ xăng dầu hơn 1.025 tỉ đồng
Tác giả: Thái An
Năm: 2009
[35] BNCDT (2013), "Chuyện SCIC nhìn từ Vinamilk", Nguyễn Tấn Dũng, truy cập ngày 21/1/2013 tại địa chỉhttp://nguyentandung.org/chuyen-scic-nhin-tu-vinamilk.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện SCIC nhìn từ Vinamilk
Tác giả: BNCDT
Năm: 2013
[36] Giang Thanh (2012) Dấu hỏi vai trò người đại diện vốn Nhà nước, Đầu tư chứng khoán, truy cập ngày 15/5/2013 tại địa chỉhttp://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/CHHIGG/dau-hoi-vai-tro-nguoi-dai-dien-von-nha-nuoc.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu hỏi vai trò người đại diện vốn Nhà nước, Đầu tư chứng khoán, truy cập ngày 15/5/2013
[3] Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước Khác
[4] Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 về phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước Khác
[5] Nghị định 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 của Chính phủ quy định về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác Khác
[6] Thông tư số 117/2010/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu Khác
[7] Nghị định số 25/2010/NĐ-CP của Chính phủ Về chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Khác
[8] Quyết định số 992/QĐ-TTg ngày 30/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Công ty Đầu tư SCIC thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Khác
[9] Nghị định số 66/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước Khác
[11] Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w