1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

86 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 726,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù các tác giả có đề cập đến quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trong các công trình nghiên cứu thông qua việc phân tích cá c quyền hợp thành quyền tự do kinh doanh nhưng đó là

Trang 1

BỘ GIÁO DỤ C V À ĐÀ O T ẠO B Ộ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NG UYỄN ÁNH TUY ẾT

PHÁP LU ẬT BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO CẠNH TRANH C ỦA DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Luật kinh tế

M ã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬ T H ỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NG ỌC CƯỜNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cao học, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo – TS Bùi Ngọc Cường vì sự giúp đỡ nhiệt tình và những kinh nghiệm quý báu của Thầy đã dành cho em trong suốt thời gian hướng dẫn em hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

Em cũng xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Sau đại học, cùng các thầy cô trong tổ bộ môn Pháp luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội và sự động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian qua./

Học viên:

Nguyễn Ánh Tuyết

Trang 4

M ỤC LỤC

Trang

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do cạnh tranh của các

doanh nghiệp

6

1.1 Quan niệm về quyền tự do cạnh tranh 6 1.2 Cơ sở hình thành quyền tự do cạnh tranh 7 1.2.1 Đặc điểm của nền kinh tế thị trường 8 1.2.2 Ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 9 1.3 Yếu tố đảm bảo quyền tự do cạnh tranh 13 1.3.1 Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế 13 1.3.2 Kiểm soát các hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh: chống độc

quyền và kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1.4 Giới hạn của quyền tự do cạnh tranh 16

Chương 2: C ác biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tự do cạnh tranh

của các doanh nghiệp

19

2.1 Pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 20

2.2.1 Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 24 2.2.2 Kiểm soát lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc

quyền

25

2.3 Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh 29 2.4 Cải cách thủ tục hành chính góp phần thúc đẩy doanh nghiệp thực

hiện quyền tự do cạnh tranh

34

2.5 Nhà nước ban hành chế tài xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh nhằm 38

Trang 5

bảo vệ quyền tự do cạnh tranh

Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo đảm quyề n tự do cạnh tranh

của doanh nghiệp

của tự do cạnh tranh

68

3.2.5 Minh bạch hóa chính sách, pháp luật 70

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh nói chung, tự do cạnh tranh nói riêng Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở từng thời kỳ lịch sử cụ thể thì mức độ đảm bảo việc thực hiện nhu cầu tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh cũng k hác nhau Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng Lý luận và thực tiễn đã chứng minh hệ thống pháp luật là một trong nhữ ng nhân tố quyết định cho việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh

Kể từ Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng năm 1986, Việt Nam đã trải qua rất nhiều cải cách hạ tầng thể chế của nền kinh tế Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng đã quyết định mở cửa nền kinh tế, chấp nhận các quy tắc của nền kinh tế thị trường có định hướng và vì vậy nền kinh tế của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, cải thiện cuộc sống cho đại bộ phận của người dân Quá trình chuyển đổi từ nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường làm thay đổi về căn bản vai trò của nhà nước trong thị trường Có những điều được coi là hiển nhiên trong nền kinh

tế kế hoạch hóa trở nên không còn phù hợp với kinh tế thị trường và ngược lại, có những điều không được chấp nhận trong kinh tế tập trung lại thích hợp trong kinh tế thị trường Cạnh tranh là một phạm trù như vậy

Kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế cạnh tranh là chủ yếu Trong kinh tế thị trường, việc nhà nước chỉ huy một cách tập trung – thể hiện bằng các quy định, chỉ thị, mệnh lệnh hành chính đối với hoạt động kinh doanh của các thành phần ki nh

tế, kể cả quốc doanh, ngoài quốc doanh, đầu tư nước ngoài – không còn phù hợp Mặt khác, chúng ta cũng đang chuyển đổi sang một nền kinh tế mở cửa hơn, hội nhập hơn với mức độ lớn hơn với kinh tế thế giới Điều này có nghĩa mở rộng cạnh tranh nhằm đảm bảo cho tự do thương mại và ổn định để phát triển Với tư cách là người quản lý xã hội, nhà nước cần xây dựng chính sách duy trì cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh

Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực th úc đẩy phát triển kinh tế Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích thích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và giá bá n hà ng hóa Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp

lý Cạnh tranh tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều

Trang 7

lựa chọn cho khách hàng và người tiêu dùng Để cạnh tranh tồn tại và duy trì thì bản thân các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh tế phải được tự do thực hiện các hoạt động nhằm kinh doanh, cạnh tranh với các chủ thể khác trong nền kinh

tế, cũng vì vậy mà quyền tự do cạnh tranh được hình thành và ghi nhận

Nhận thức được ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường cũng như tầm quan trọng của quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực thi trên thực

tế, mà hiện nay quyền tự do cạnh tranh đã được Nhà nước ghi nhận và cụ thể hóa trong các Văn bản QPPL Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi doanh nghiệp đều

có thể thực hiện được quyền tự do cạnh tranh của mình, nếu không có các biện pháp bảo đảm, cơ chế thực thi phù hợp thì quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ tồn tại trên giấy và không thể đi vào đời sống Do đó, vấn đề bảo đảm t hực hiện quyền tự do cạnh tranh được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết Quyền đã có nhưng để hiện thực hóa đưa quyền tự do cạnh tranh vào cuộc sống thì cần có những biện pháp bảo đảm thực hiện Chính vì thế việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật bảo đảm quyền

tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm đảm bảo cho quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực thi trên thực tế là hết sức

cần thiết Đ ó cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “ Pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền tự do cạnh tranh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự

do kinh doanh nói chung, cùng với quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản, quyề n tự do thành lập doanh nghiệp, quyền tự do hợp đồng, quyền tự do định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đã hợp thành quyền tự do kinh doanh của doanh

nghiệp Có thể nói trong hơn chục năm trở lại đây, đã có khá nhiều các công trình

nghiên cứu khoa học về quyền tự do kinh doanh được công bố và đã đạt được những thành công nhất định Các công trình này không chỉ đa dạng về nội dung mà cả hình thức như khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ, sách tham

khảo… vv Điển hình như: “Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam” - luận văn thạc sỹ luật học thực hiện năm 1996 của Bùi Ngọc Cường; “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta” - luận án tiến sỹ luật học thực hiện năm 2001 của Bùi Ngọc Cường; “Một số vấn

đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam” - sách chuyên khảo của B ùi Ngọc Cường viết năm 2004; hay “Q uyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của pháp luật hiện hành - Thực trạng và giải pháp, khoá luận tốt nghiệp năm 2011 của Nguyễn Thị Nguyệt Gần đây, có thêm một số công

trình mới nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, như:

Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp , khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh H oa (2004); Luật D oanh nghiệp 2005 với việc mở rộng quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam , luận văn Thạc sỹ luật học của Trần Tuấn

Trang 8

Anh (2006); “Pháp luật về quyề n tự do kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Giang (2012); “Bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005- Lý luận và thực tiễn”, luận văn Thạc sĩ Luật học Nguyễn Thu

Huyền (2012)

Trong các công trình đã nghiên cứu chủ yếu đề cập đến quyền tự do kinh doanh nói chung và các biện pháp bảo đảm để thực hiện quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù các tác giả có đề cập đến quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trong các công trình nghiên cứu thông qua việc phân tích cá c quyền hợp thành quyền tự do kinh doanh nhưng đó là việc phân tích các yếu tố cấu tạo quyền tự

do kinh doanh nói chung, còn việc nghiên cứu độc lập, riêng rẽ quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và pháp luật bảo đảm thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp là một công trình nghiên cứu độc lập thì chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này

Do đó, có thể nói đề tài của tác giả là công trình nghiên cứu đầu tiên về quyền

tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Tác giả hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ mở đường cho các công trình nghiên cứu khác về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp sau này

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp trong việ c thực hiện quyền tự

do cạnh tranh của mình, pháp luật về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu, làm rõ những quy định nhằm đảm bảo q uyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động thương mại Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng trong việc đảm bảo quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của các bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trên thực tế

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời tiếp thu đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, phương pháp biện chứ ng

Ngoài ra, đề tài còn được thực hiện kết hợp với phương pháp nghiên cứu thực tiễn như phương pháp thu thập và xử lý thông tin đối với các sự kiện thực tế, các

Trang 9

buổi phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan chức năng liên quan đến hoạt động kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Lựa chọn nghiên cứu đề tài này tác giả mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề

lý luận về quyền tự do cạnh tranh và pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành

và tổng kết thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế về vấn đề này

Để đạt được mục đích trên, tác giả phải tập trung giải quyết những nhiệm vụ

(iii) Đi sâu phân tích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành bảo đảm thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

(iv) Phân tích các biện pháp pháp lý cụ thể bảo đảm thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

(v) Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đánh giá hạn chế trong việc bảo đảm thực thi quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luậ t về bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

6 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận v ăn

Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu về quyền tự do cạnh tranh và pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, Luận văn đã đưa ra được cái nhìn toàn diện về quyền tự do cạnh tranh và các yếu tố bảo đảm thực thi quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trên thực tế

Luận văn đi sâu phân tích pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, thực tiễn thực thi quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Trên cơ

sở đó chỉ ra những điểm còn bất cập hạn chế trong công tác bảo đảm thực thi quyền

tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trên thực tế

Luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo thực thi quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

7 Kết cấu của lu ận văn

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2 Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

Chương 3 Thực trạng và giải pháp đảm bảo quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 11

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do cạnh tranh của các

doanh nghiệp

1 1 Quan niệm về quyền tự do cạnh tranh

Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã hội V ới đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam đã thực thi những nguyên lý của cơ chế thị trường mà trước đó chưa từng đ ược biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của sự phát triển đó là cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy các chủ thể kinh doanh Mỗi nhà sản xuất hay thương gia luôn vận dụng những

ưu thế và tiềm năng của mình để tối đa hóa lợi nhuận Cạnh tranh vì thế đã trở thành quy luật kinh tế phổ biến, đem lại diện mạo và sắc thái riêng cho nền kinh tế thị trường Điều này cũng cho phép hiểu rằng một môi trường kinh doanh thực sự phải

là một môi trường mà sự cạnh tranh luôn được kích thích và duy trì Ở đó, cơ hội cạnh tranh tự do cho tất cả các chủ thể kinh doanh phải được đảm bảo như một nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh

Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay

nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”[1]

Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[2]

Có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua của các thành viên của một thị trường hàng hóa, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần [3]

Có thể nói cạnh tranh đã đe m lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, đa dạng, linh hoạt phong phú và ngày càng phát triển Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do cạnh tranh, tự do hành xử trên thị trường

Quyền tự do cạnh tranh được coi là thuộc tính tự nhiên của các nhà kinh doanh Vì vậy, nó phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các nhà kinh

doanh và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do cạnh tranh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự

do kinh doanh của doanh nghiệp Có thể hiểu quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp về thực chất là khả năng của chủ thể được thực hiện những hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ kinh doanh dưới n hững hình thức thích

Trang 12

hợp với khả năng vốn, khả năng quản lý của mình nhằm thu lợi nhuận [4] Quyền tự

do kinh doanh là hệ thống các quyền gắn với chủ thể kinh doanh, mà chủ yếu và trước hết là:

- Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sả n;

- Quyền tự do thành lập doanh nghiệ p;

- Quyền tự do hợp đồng;

- Quyền tự do cạnh tranh theo phá p luật

- Quyền tự do định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp

Các quyền tự do trên có mối quan hệ hữu cơ tạo thành thể thống nhất của nội dung quyền tự do kinh doanh Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Giá trị to lớn của quyền

tự do cạnh tranh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế, là động lực thúc đẩy việc thực hiện các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do hợp đồng…

Thừa nhận cho cá nhân, tổ chức có quyền kinh doanh, cũng có nghĩa là Nhà nước phải thừa nhận các chủ thể được làm những gì mà pháp luật không cấm để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình, trong đó có quyền tự do cạnh t ranh Thế nhưng phải hiểu rằng, quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh Đó là hình thức cạnh tranh tích cực, trong sáng, các doanh nghiệp có thể

sử dụng bất cứ chiêu thức nào để phát triển doanh nghiệp của mình, nếu không trá i pháp luật và làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội

Quan niệm về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp phải được nhìn nhận, xem xét một cách toàn diện trên những khía cạnh cơ bản sau:

Một là, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được nhìn nhận như là một giá trị tự thân của doanh nghiệp, mà Nhà nước phải thừa nhận và bảo vệ Quyền này là của bản thân mỗi doanh nghiệp, không phải là sự ban phát hay trao tặng của Nhà nước Nó là một phần hợp thành và đóng vai trò quan trọng trong

hệ thống các quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Hai là, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp có trở thành hiện thực và phát huy tác dụng trong thực tiễn hay không, tùy thuộc vào việc Nhà nước có đáp ứng được những đòi hỏi mà quyền tự do cạnh tranh đặt ra để kịp thời thể chế hóa và bảo vệ bằng pháp luật

Ba là, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp tồn tại như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, nó phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới nếu như muốn thực hiện địa vị hợp pháp, tính nhân văn tiến bộ trong quá trình thực hiện quyền thống trị của mình

Tóm lại có thể hiểu, Q uyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp là quyền của các doanh nghiệp có thể sử dụng bất cứ biện pháp, chiêu thức nào để phát triển doanh nghiệp của mình trong khuôn khổ quy định pháp luật nhằm cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh khác

1.2 Cơ sở hình thành quyền tự do cạnh tranh

Trang 13

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Do đó có vai trò quan trọng không những với tư cá ch là động lực của sự phát triển, mà còn với

tư cách là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh Trong cơ chế thị trường, nếu lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh tranh đòi hỏi họ phải điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như sử dụ ng các nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật… ) có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình Cạnh tranh có vai trò quan trọng không chỉ với bản thân từng nhà kinh doanh mà còn có ý nghĩa đối với cả nền kinh tế nói chung Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường và ý nghĩa to lớn mà cạnh tranh mang lại, quyền tự

do cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thành một cách tất yếu và được bảo đảm thực hiện

1.2.1 Đ ặc điểm của nền kinh tế thị trường

Ngày nay, cạnh tranh được thừa nhận như là một đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó Nền kinh tế thị trường khi vận hành phải tuân theo những quy luật khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để giành được ưu thế so với đối thủ của mình trên thị trường Chính vì thế, ở nước ta cạnh tranh được coi là một trong những động lực thúc đẩy của sự phát triên kinh tế - xã hội, trong nền kinh tế có sự điều tiết của N hà nước

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ xã hội hóa cao Nó

là hình thức, phương thức vận hành kinh tế, trong đó các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ các tài nguyên, quy định: sản xuất cái g ì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?

Xuất phát từ đặc điể m của nền kinh tế thị trường: nơi mà cung cầu là c ốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng về trình độ công nghệ của người sản xuất Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp gia nhập thị trường theo ý muốn và tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận và phải cạnh tranh nhau Với sự ganh đua để đáp ứng nhu cầu của thị trường, các doan h nghiệp tìm mọi cách

để cạnh tranh với nhau bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm… Để các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh của mình, pháp luật cần ghi nhận cho họ quyền được cạnh tranh, quyền tự do thực hiện các hành vi nhằm phát triển doanh nghiệp, duy trì sự cạnh tranh bền vữ ng với các doanh nghiệp khác

Cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trường Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự tồn tại của tự do, có như thế các nguồn lực thị trường mới có thể vận hành tốt và đem lại hiệu quả cho sự phát triển Chỉ có trong nền kinh tế thị trường với những đặc trưng

cơ bản của nó quyền tự do cạnh tranh mới được hình thành:

Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao Các chủ thể kinh tế tự bù đắp nhữ ng chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của

Trang 14

mình Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết, liên doanh, tự do tổ chức quá trình sản xuất theo luật định Đây là đặc trưng rất quan trọng của kinh tế thị trường Đặc trưng này xuất phát từ những điều kiện khách quan của việc tồn tại nền kinh tế hàng hóa Đồng thời cũng là biểu hiện và là yêu cầu nội tại của kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa không bao dung hành vi bao cấp, nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ, năng động

Hai là, trên thị trường hàng hóa rất phong phú Người ta tự do mua bán, hàng hóa Trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua Họ gặp nhau ở giá cả thị trường Đặc trưng này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của kinh tế thị trường với kinh tế tự nhiên

Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường Giá cả thị trường vừa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàn g hóa và dịch vụ Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả là kết quả của sự thương lượng và thỏa thuận giữa người mua và người bán Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của quy luật lưu thông hàng hóa Trong quá trình trao đổi mua bán hàng hóa, người bán luôn luôn muốn bán với giá cao, người mua lại luôn muốn mua với giá thấp Đối với người bán, giá cả phải đáp ứ ng nhu cầu bù đắp được chi phí và có lợi nhuận Chi phí sản xuất là giới hạn, là phần cứng của giá cả, còn lợi nhuận càng nhiều càng tốt Đối với người mua , giá cả phải phù hợp với lợi ích giới hạn của họ Giá cả thị trường dung hòa được cả lợi ích của người mua lẫn lợi ích của người bán Tất nhiên, trong cuộc giằng co giữa người mua và người bán để hình thành giá cả thị trường, lợi thế sẽ nghiêng về người b án, nếu như cung ít, cầu nhiều

và ngược lại, lợi thế sẽ nghiêng về phía người mua nếu như cung nhiều, cầu ít Đ ó là quy luật của nền kinh tế thị trường

Bốn là, cạnh tranh là tất yếu của kinh tế thị trường Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hóa độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế Theo yêu cầu của quy luật giá trị tất cả các đơn vị sản xuất hàng hóa đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động, xã hội cần thiết Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch

Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường mà cạnh tranh là một tr ong những quy luật vận động cũng vì thế các chủ thể trực tiếp kinh doanh cạnh tranh với nhau cần thiết phải được quy định quyền tự do cạnh tranh Có như vậy, thì trong nền kinh tế thị trường các chủ thể mới có thể có đủ điều kiện thực hiện kinh doanh và cạnh tranh với nhau Việc ghi nhận quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

1.2.2 Ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Sau vài thế kỷ thăng trầm của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng hơn về bản

Trang 15

chất và ý nghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế Với

ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn là đối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Xuất phát từ ý nghĩa to lớn

mà cạnh tranh mang lại cho nền kinh tế và xã hội, cạnh tranh cần phải được bảo vệ

và duy trì Để cạnh tranh có thể tồn tại và phát huy được giá trị to lớn của mình đố i với xã hội, Nhà nước và pháp luật cần ghi nhận quyền tự do cạnh tranh cho các doanh nghiệp – các chủ thể trực tiếp thực hiện các hành vi cạnh tranh Có thể nói, với những ý nghĩa mà cạnh tranh mang lại chính là một trong những cơ sở quan trọng góp phần hình thành quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh có ý nghĩa xã hội lớn lao

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩ y tăng

trưởng và tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải có nhiều biện pháp, giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, qua đó góp phầ n tiết kiệm các nguồn lực chung của nền kinh tế Mặt khác, cạnh tranh cũng tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, sử dụng lao động có hiệu quả, tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân

Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường, đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh

và bóc lột khách hàng Vai trò điều phối của cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh Dẫu biết rằng, cạnh tranh là một chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không có điểm dừng diễn ra trong đời sống của thương trường, song được các lý thuyết kinh tế mô tả bằng hình ảnh phát triển của các chu trình theo hình xoắn ốc T heo đó, chu trình sau có mức độ cạnh tranh và khả năng kinh doanh cao hơn so với chu trình trước D o đó, khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người chiến thắng sẽ có được thị phần lớn hơn điểm xuất phát Thành quả này được sử dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có

sự tích tụ dần trong quá trình kinh doanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường Trong cuộc cạnh tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọi nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao cho những người có khả năng sử dụng một cách tốt hơn Sự dịch chuyển như vậy đảm bảo cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu

Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc c ủa sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là quyền

Trang 16

tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong sở hữu của hoạt động doanh nghiệp Khi

sự tự do kinh doanh bị tiêu diệt thì mọi sự thi đua chỉ là n hững cuộc tụ họp theo phong trào, không thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước và pháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh, tự do cạnh tranh Trong sự tự do cạnh tranh, quyền được sáng tạo trong khuôn khổ tôn t rọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề cao như một kim chỉ nam của sự phát triển Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế Sự sáng tạo không mệt mỏi của c on người trong cuộc cạnh tranh nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổi qua nhiều thế hệ liên tiếp là cơ sở thúc đẩy sự phát triển liên tục và đổi mới không ngừng Sự đổi mới trong đời sống kinh tế được thể hiện thông qua nhữ ng thay đổi trong cơ cấu thị trường, hình thành những ngành nghề mới đáp ứng những nhu cầu của đời sống hiện đại, sự phát triển liên tục của khoa học kỹ thuật là sự tiến bộ trong nhận thức của tư duy con người về các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội

Đối với xã h ội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn

lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội Trong cạnh tranh các doanh nghiệp yếu kém bị đào thảo, doanh nghiệp mới xuất hiện D oanh nghiệ p làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng một cách hợp lý

Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường Khi cung một hàng hóa nào đó thấp hơn cầu, hàng hóa đó trở nên khan hiếm thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân Khi đó, người kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đ ó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho s ản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội

Cạnh tranh tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều lựa chọn cho khách hàng, cho người tiêu dùng Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm, họ được cung phụng bởi các bên tham gia cạnh tranh Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thể cung ứng, bởi họ là người có quyền bỏ phiếu bằng đồng tiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi Nói khác đi, cạnh tranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái mà họ muốn Một nguyên lý của thị trường là ở đâu có nhu cầu, có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặt các nhà kinh doanh, người tiêu dùng không còn phải số ng trong tình trạng xếp hàng chờ mua nhu yếu phẩm như thời kỳ bao cấp, mà ngược lại, nhà kinh doanh luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất

Với sự ganh đua của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách hạ giá thành sản phẩm nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình Sự tương tác giữa nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh đã làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ đạt được mức rẻ nhất có thể,

Trang 17

các doanh nghiệp có thể thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong khả năng chi tiêu của họ Với ý nghĩa đó, cạnh tranh góp phần loại bỏ khả năng bóc lột người tiêu dùng từ phía nhà kinh doanh

Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng về trình độ công nghệ của người sản xuất Trong mối quan hệ đó, sở thích của người tiêu dùng là động lực chủ yếu của yếu tố cầu, công nghệ sẽ quyết định về yếu

tố cung của thị trường Tùy thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu, người tiêu dùng

sẽ quyết định việc sử dụng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể Phụ thuộc vào những tính toán về công nghệ, về chi phí… nhà sản xuất sẽ quyết định mức độ đáp ứng nhu cầu

về loại sản phẩm, về giá và chất lượng của chúng Thực tế cho thấy, mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng phụ thuộc vào khả năng tài chính, trình độ công nghệ của doanh nghiệp Nhữ ng gì mà doanh nghiệp chưa thể đáp ứng sẽ là các đề xuất từ phía thị trường để doanh nghiệp lên kế hoạch cho tương lai Do đó, có thể nói nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng có va i trò định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với mỗi chủ thể kinh doanh , cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường

xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ k hoa học kỹ thuật, phát triển sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Qua đó nâng cao trình độ của công nhân

và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp Mặt khác, cạnh tranh sàng lọc khách quan đội ngũ nhữ ng người thực sự không có khả năng thích ứ ng với sự thay đổi của thị trường

Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn Cạnh tranh đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất N hững nỗ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hóa, dịch vụ đã buộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệm bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ có được Mọi sự lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đến những thất bại trong kinh doanh Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh là động lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiê n, vật liệu được sử dụng tối ưu

Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường K hi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người b án làm cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ nhữ ng cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng đòi hỏi việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đảy các doanh nghiệp không ngừng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhằm

Trang 18

nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thị trường, mong giành phần thắng về mình Cứ như thế cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật trong đời sống kinh tế và xã hội Trên thực tế, sự thay đổi và phát triển liên tục của các thế hệ máy vi tính và sự phát triển của hệ thống viễn thông quốc tế hiện đại cho thấy rõ vai trò của cạnh tranh trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật

Tóm lại xuất phát từ nền kinh tế thị trường với những đặc trưng cơ bản của nó cùng với ý nghĩa của cạnh tranh mang lại đối với xã hội và nền kinh tế mà quyền tự

do cạnh tranh cần thiết được Nhà nước và pháp luật ghi nhận và có cơ chế bảo đảm thực hiện trên thực tế

1.3 Yếu tố đảm bảo quyền tự do cạnh tranh

Mặc dù, quyền tự do cạnh tranh là quyền tự nhiên của các doanh nghiệp nhưng chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì quyền tự do cạnh tranh mới có thể trở thành thực quyền Tuy nhiên, dù được ghi nhận nhưng nếu không được sự tôn trọng

và tạo điều kiện thực hiện từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức, c á nhân khác thì nó mãi mãi chỉ là “cơ hội” mà không trở thành “hiện thực” Do đó, cần đến một vai trò khác nữa từ phía pháp luật là bảo đảm các điều kiện thực hiện quyền tự do cạnh tranh

Quyền tự do cạnh tranh một mặt bao gồm nhữ ng quyền mà họ được hưởng , mặt khác đó là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Hai mặt này tồn tại thống nhất trong chế định pháp lý tự do cạnh tranh Nếu chỉ thừa nhận quyền của chủ thể mà không đảm bảo cho nó những điều kiện để thực hiện thì quyền tự do cạnh tranh cũng chi mang tính hình thức

Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên Thế giới đều thừa nhận cạnh tranh

và đưa ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh lành mạnh Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp thì các yêu cầu sau đây phải được đảm bảo:

1.3.1 Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế

Cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh nghiệp Chỉ khi nào được tự do gia nhập thị trường, tự do hợp đồng và bảo đảm quyền sở hữ u thì lúc đó các chủ thể tham gia thị trường mới có đủ năng lực để quyế t định phương thức kinh doanh Lúc đó, cạnh tranh mới có đất để tồn tại và phát huy tác dụng Sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế được đảm bảo như sau:

Trong thị trường tự do và lành mạnh, các doanh nghiệp tự quyết định việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ phía Nhà nước và các doanh nghiệp khác Người tiêu dùng mua những hàng hóa mà họ cần Thị trường đưa các doanh nghiệp và người tiêu dùng đến với nhau Cơ chế thị trường

Trang 19

trong đó giá cả thay đổi theo sự vận động của c ung cầu quyết định hành vi của các doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp gia nhập thị trường theo ý muốn, tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận, và phải cạnh tranh nhau Kết quả là trong khi một vài doanh nghiệp thành công thì sẽ có những doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất, thậm chí là phải rời bỏ thị trường Đây là quy tắc tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp và được tuân thủ theo nguyên tắc của thị trường

Pháp luật bảo đảm loại trừ những hành vi phản cạnh tranh trong việc đua tranh giành lợi nhuận trên thị trường Từ đó, việc bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của các thành viên thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh, bảo vệ sự lành mạnh của quan hệ thị trường là yêu cầu tất yếu hiện nay

1.3.2 Kiểm soát các hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh: chống độc quyền và kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Để quyền tự do cạnh tranh được tồn tại cần phải có một môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, trong đó độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh phải được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ bằng chính sách và pháp luật Có như vậy, quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp mới thực sự được đảm bảo

Độc quyền trong kinh doanh thường gây ra những hậu quả tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế D oanh nghiệp đ ộc quyền có thể lạm dụng vị trí độc quyền thông qua hạn chế sản lượng và tăng giá bán một cách độc đoán làm thiệt hại cho người tiêu dùng Độc quyền không tạo sức ép hoặc khuyến khích người sản xuất quan tâm đến cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất và phư ơng thức quản lý Không những thế độc quyền còn ngăn chặn tự do cạnh tranh và cản trở cạnh tranh lành mạnh, do đó giảm động lực phát triển của nền kinh tế Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành

và tồn tại bằng cách nào cũng thường gây ra những hậu quả t iêu cực đối với nền kinh

tế quốc dân Vì những hậu quả của độc quyền trong kinh doanh, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi chống độc quyền là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của N hà nước Nhà nước phải kiểm soát và chống độc quyền

Hành vi cạnh tranh không là nh mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi ích của Nhà nước, của các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng Bên cạnh đó, thiệt hại

mà hành vi gây ra có thể là hiện thực (đã xảy ra) nhưng cũng có thể là tiềm năng Ở đâu có tự do cạnh tranh là ở đó có khả năn g xảy ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là kết quả tất yếu của một hệ thống kinh

tế thị trường tự do cạnh tranh Tuy nhiên, nếu không có biện pháp hạn chế, kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sẽ ảnh hưởn g không nhỏ đến quyền lợi của người tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhâ n phầ n lớn hoạt động vì lợi nhuậ n của chính mình, cần phải có cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế Thông qua cạnh tranh người mua là người được hưởng lợi và xã hội cũng phát triển Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung cấp các sản phẩm

có ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất, giá thành rẻ nhất và chất lượng tốt nhất nhằm được

Trang 20

người tiêu dùng lựa chọn T uy nhiên, sự nỗ lực của một doanh nghiệp c hân chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ quy tắc cơ bản của cạnh tranh, cố ý lừa dối người tiêu dùng và giành lợi thế bằng cách hạ thấp đối thủ cạnh tranh

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật kiểm soát, chống độc quyền đều có mục đích chung là bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm cho các hoạt động cạnh tranh được diễn ra bình thường và đúng quy luật Nếu không có các quy định pháp luật trong lĩnh vực này, các thỏa thuận, liên kết trái pháp luật sẽ hạn chế cạnh tranh và độc quyền sẽ triệt tiêu cạnh tranh, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp Việc thiết lập hệ thống pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát, chống độc quyền chính là một bảo đảm pháp lý quan trọng bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được tôn trọng

1.3.3 Hạn chế, xoá bỏ các quy định, thủ tục hành chính cản trở đến tự do cạnh tranh

Trong đời sống hàng ngày, người dân và doanh nghiệp phải tuân thủ rất nhiều các quy định về thủ tục hành chính Thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực đang là rào cản đối với hoạt động kinh doanh, gây tốn kém, ảnh hưởng đến quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Trong một số lĩnh vực, thủ tục hàn h chính vẫn còn bất cập, chồng chéo, không hợp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp, vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, chất lượng ban hành VBQPPL chưa cao, vẫn còn một số quy định chưa sát thực tế, ch ưa cụ thể Việc hiện đại hóa, ứng dụng CNTT vào giải quyết TTHC còn hạn chế Vì những tồn tại nêu trên, các doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính vẫn phải đi lại nhiều lần, tốn nhiều thời gian, chi phí, làm chậm hoặc mất cơ hội đầu tư, kinh doanh, làm giảm khả năng cạnh tranh, góp phần hạn chế quyền tự do kinh doanh nói chung, quyền tự do cạnh tranh nói riêng

Việc đặt ra nhiều loại giấy phép con là một trong những rào cản đối với doanh nghiệp tham gia thị trường Việc thực hiện quá nhiều thủ tục hà nh chính gây phiền

hà cho doanh nghiệp, làm mất thời gian, mất cơ hội đầu tư kinh doanh

Vì thế một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho quyền tự do cạnh tranh được thực thi trên thực tế đó là cần thực hiện cải cách thủ tục hành chính Xóa

bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân, cản trở tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, hoàn thiện các thủ tục hành chính mới, theo hướng công khai; đơn giản và thuận tiện cho doanh nghiệp

Kết quả cải cách thủ tục hành chính những năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp đã được cải thiện một bước đáng kể, thông qua các biện pháp như cải cách thủ tục hành chính gắn với

Trang 21

thực hiện cơ chế một cửa liên thông, công khai hóa, minh bạch hóa các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính được rà soát, sửa đổi, bãi bỏ theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp Đơn giản thủ tục hành chính

là một trong những khâu quan trọng góp p hần gỡ bỏ những rào cản thực hiện quyền

tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp được thực thi quyền tự do cạnh tranh trên thực tế

1.3.4 Xây dựng các chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh

Quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp luôn bị giới hạn bởi lợi ích hợp pháp của N hà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêu dùng và của các chủ thể kinh doanh khác Việc doanh nghiệp tuân thủ các quy định của Luật cạnh tranh được coi là cơ sở pháp lý qua n trọng bảo đảm quyề n và lợi ích hợp phá p của các chủ thể nêu trên Tuy nhiên, vì mục tiêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp có thể sẵn sàng thực hiện những hành vi cản trở cạnh tranh xâm phạm đến quyền và lợi ích của các chủ thể khác, làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh

Để ngăn ngừa các hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh, bên cạnh những quy định xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quyền cạnh tranh, Nhà nước cần xây dự ng chế tài đối với những hành vi cạnh tranh khô ng lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi cho những chủ thể bị các hành vi đó xâm hại, thông qua đó duy trì bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo quyền tự do cạnh tranh được tôn trọng

Sẽ là hình thức nếu như Nhà nước đặt ra cơ chế kiểm soát mà không có cơ chế thực thi việc kiểm soát Thật vậy, để đảm bảo việc kiểm soát các hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh có hiệu quả, N hà nước đã quy định những chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh Đâ y là một trong những biện pháp mang tính răn đe cho những hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, tạo

cơ sở để các doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh bình đẳng, không xâm phạm đến quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp khác

1.4 Giới hạn của quyền tự do cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp gia nhập thị trường theo ý muốn, tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận và phải cạnh tranh nhau Kết quả là trong khi một vài doanh nghiệp thành công thì sẽ có những doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất, thậm chí là phải rời bỏ thị trường Đây là quy tắc tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp và được tuân thủ theo nguyên tắc của thị trường Tuy nhiên, thực tế thị trường luôn nảy sinh những biểu hiện tiêu cực từ cạnh tranh Do những thôi thúc tư nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận, bằng những toan tính không phù hợp với truyền thống kinh doanh lành mạnh, những biểu hiện tiêu cực đó đã xâm hại trật tự kinh doanh, đe dọa hoặc xâm hại trực tiếp đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc của người tiêu dùng Các hành vi hạ n chế cạnh tranh trực tiếp xâm hại trật tự kinh tế, hủy hoại cạnh tranh

và xâm phạm quyền tự do kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp khác

Trang 22

Với quyền tự do cạnh tranh của mình các doanh nghiệp có thể tự do thực hiện các hoạt động như: tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn

mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các quan hệ kinh tế… Những khả năng xử sự này là thuộc tính tự nhiên của các doanh nghiệp chứ không phải do Nhà nước ban tặng Song những khả năng xử sự đó muốn trở thành hiện thực thì phải được N hà nước thể chế hóa bằng pháp luật và khi đó nó mới trở thành “thực quyền” Cũng chính vì vậy mà quyền tự do cạnh tranh với tư cách là quyền năng của chủ thể cũng có giới hạn nhất định, ví như Lê ni n từng chỉ rõ: “Sống trong một xã hội mà lại thoát khỏi xã hội ấy để được tự do, đó là điều không thể được” [5]

Tư tưởng về sự tự do không đồng nghĩa với tự do vô Chính phủ Theo đó mọi

sự tự do quá trớn tạo ra nguy cơ tiêu diệt tự do Bởi hành vi tự do q uá trớn của một người có thể xâm phạm tự do của người khác và cuối cùng cả hai đều bị mất tự do

Tự do cạnh tranh không phải là tự do vô nguyên tắc, vô điều kiện mà là sự tự do trong khuôn khổ của pháp luật Các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp nhằm cạnh tranh với nhau phải không được trái quy định của pháp luật

Với mục đích bất chính và với những thủ pháp không đàng hoàng, tất cả các hành vi bất chính trong cạnh tranh đều là những biến tướng của cạnh tranh, lợi dụng

tự do để xâm hại đến trật tự cạnh tranh trên thị trường Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh có thể dẫn tới tình trạng chèn ép, tìm cách loại bỏ lẫn nhau, lừa đảo, gian lận thương mại… Vì vậy, trách nhiệm đảm bảo thực hiện quyền

tự do cạnh tranh ở đây của pháp luật còn là đặt ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền tự do cạnh tranh, tức là xác định những hành vi mà các chủ thể phải thực hiện hoặc cần phải tránh thực hiện để không làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và của N hà nước Sự can thiệp này là cần thiết vì nó giúp cho nền kinh tế- xã hội không bị hủy hoại bởi chính động lực “tự do” lợi nhuận và đảm bảo sự phát triển của một xã hội tiến bộ, một N hà nước pháp quyền

Nhận thức về sự tự do luôn gắn liền với nhu cầu phải gạt bỏ các biểu hiện nhân danh tự do để hủy hoại sự tự do Sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật sẽ giải phóng mọi sự kiềm tỏa của các biểu hiện bất chính đối với tự do của những chủ thể đang bị xâm hại [6] Nhà nước bằng các chính sách và công cụ pháp luật can thiệp vào đời sống thị trường để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển trong một trật tự, đảm bảo sự phát triển công bằng và lành mạnh Với sự giục giã của lợi nhuận và khả năng sáng tạo những thủ pháp cạnh tranh trong kinh doanh, các doanh nghiệp khi tham gia thương trường không ngừng tiến hành cải tiến và nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý lao động, quản lý sản xuất kinh doanh

để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Bên cạnh nhữ ng tính toán để nâng cao khả năng kinh doanh một cách chính đáng, còn phát sinh nhiều toan tính không lành mạnh nhằm tiêu diệt đối thủ để chiếm lĩnh vị trí thống trị thị trường, giảm bớt sức ép của cạnh tranh, nhiều thủ đoạn chiếm đoạt thị phần của người khác một

Trang 23

cách bất chính, lừa dối khách hàng để trục lợi N hững biểu hiện không lành mạnh ấy ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn độ phức tạp trong biểu hiện làm ô nhiễm môi trường kinh doanh của thị trường Sự hỗn loạn của thị trường từ những hành vi bất chính trong cạnh tranh buộc pháp luật và Nhà nước vào cuộc để sắp xếp lại trật tự thị trường cho phù hợp với những nguyên tắc vốn có của nó, mang lại sự công bằng, bình đẳng cho các doanh nghiệp

Với tư cách là nội dung quan trọng trong chính sách cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh ngăn chặ n các doanh nghiệp thu lợi nhuận bằng việc thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nâng cao nhận thức của xã hội về truyền thống kinh doanh, khích lệ sự năng động, tự chủ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp

Như vậy, có thể đánh giá rằng, chính nhữ ng giới hạn của tự do cạnh tranh góp phần đảm bảo quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được tôn trọng và thực thi trên thực tế Nếu không có sự ghi nhận và bảo đảm thực hiện của pháp luật đối với quyền tự do cạnh tranh thì không tồn tại quyề n tự do cạnh tranh thực sự

Trang 24

Chương 2: C ác biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của các

doanh nghiệp

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó có vai trò quan trọng không những với tư cách là động lực của sự ph át triển, mà còn với tư cách là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh Và để đảm bảo một môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh, pháp luật hiện hành đã ghi nhận

quyền tự do cạnh tranh tại Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2004 “ 1 Doanh nghiệp được

tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh 2 Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật này” Đây chính là cơ sở pháp lý đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh

được tự do cạnh tranh, được thực hiện các hành vi cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật

Để tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh trước hết quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia môi trường kinh doanh đó phải được tôn trọng Một môi trường cạnh tranh lành mạnh với những thủ tục hành chính thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực hiện tối đa đến mức có thể Bên cạnh đó, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật còn đặt ra những quy định nhằm ngăn chặn và loại trừ những hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh, cũng như kiểm soát tình trạng độc quyền Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động thương mại Có như vậy, các chủ thể kinh doanh mới có thể tích cực tiến hành các hoạt động cạnh tranh lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật, vì lợi ích người tiêu dùng và xã hội

Mặt khác, để ngăn chặn và xử lý những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật hiện hành đã đặt ra rất nhiều quy phạm, chế tài nhằm áp dụng đối với những chủ thể có hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh Có thể nói, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được tôn trọng và thực hiện trên thực tế hay không phụ thuộc vào chính những bảo đảm pháp lý mà Nhà nước ghi nhận

Để quyền tự do cạnh tranh thực hiện được thì cần phải thể chế hóa các nội dung đòi hỏi khác nhau của quyền tự do cạnh tranh bằng những quy định pháp luật

cụ thể Mặc dù, quyền tự do cạnh tranh là quyền tự nhiên của các doanh nghiệp nhưng chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì quyền tự do cạnh tranh mới có thể trở thành thực quyền Tuy nhiên, dù được ghi nhận nhưng nếu không được sự tôn trọng

và tạo điều kiện thực hiện từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác thì nó mãi mãi chỉ là “cơ hội” mà không trở thành “hiện thực” Do đó, cần đến một vai trò khác nữa từ phía pháp luật là bảo đảm các điều kiện thực hiện quyền tự do cạnh tranh Như vậy, có thể nhận thấy, nếu không có sự ghi nhận và bảo đảm thực hiện của pháp luật đối với quyền tự do cạnh tranh thì không tồn tại quyền tự do cạnh

Trang 25

tranh trên thực tế Những bảo đảm pháp lý để thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:

2.1 Pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cùng tồn tại trong một nền kinh tế của mỗi quốc gia, quyền

tự do cạnh tranh của họ là ngang nhau Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp được thực thi trên thực tế, cần thiết phải có cơ chế bảo đảm thực thi mà trước hết pháp luật cần bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Thật vậy, quyền tự do cạnh tranh chỉ được đảm bảo thực hiện khi nề n kinh tế đó tồn tại sự bình đẳ ng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Không có sự thiên vị hay ưu ái, phân biệt đối xử nào giữa các thành phần kinh tế Tất cả các doanh nghiệp tồn tại bình đẳng với nhau, cùng được thực hiện quyền tự do cạnh tranh ngang nhau

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, Hiến pháp 1992 cùng các Văn bản QPPL đã ghi nhận điều này là một nguyên tắc cơ bản, bảo đảm pháp lý quan trọng để doanh nghiệp thực hiệ n quyền tự

do cạnh tranh của mình

Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2001) đã thừa nhận quyền bình đẳng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một nguyên tắc hiến định, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các doanh nghiệp thực hiện quyền tự

do cạnh tranh của mình một cách bình đẳng Trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế, bên cạnh hai thành phần kinh tế Nhà nước

và tập thể, còn có kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Theo quy định của Hiến pháp 1992

và một số văn bản pháp luật khác, thì trong quan hệ sản xuất kinh doanh , các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế không phân biệt quy mô, hình thức lĩnh vực và phạm vi kinh doanh đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, bình đẳng trước pháp luật Các biện pháp khuyến khích đầu tư, bảo hộ đầu tư, căn cứ tính thuế để áp dụng pháp luật về thuế, chế độ sử dụng lao động, bảo hiểm, giải quyết tranh chấp… đều phải tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế

Điều 22 Hiến pháp 1992 quy định: “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.”

Nguyê n tắc bình đẳng trước phá p luật của các doanh n ghiệp thuộc m ọi thành phần kinh tế còn được ghi nhận tại các văn bản QPPL khác Luật Thương mại 2005 cũng dành riêng một điều khoản ghi nhận quyền bình đẳng thực hiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc m ọi thành phần kinh tế khác nhau là một n guyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại Điều đó đã được cụ thể hóa tại Điều 10 Luật

Trang 26

Thương mại 2005: “Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương m ại Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương m ại.”

Trong một môi trường kinh doanh mà lợi nhuận là động lực thúc đẩy cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sự thành đạt, là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp đều cố gắng hết khả năng của mình nắm bắt các c ơ hội kinh doanh, tuy nhiên để các doanh nghiệp thực hiện được quyền tự do cạnh tranh của mình thì các doanh nghiệp cần sự bình đẳng, cơ hội ngang nhau để doanh nghiệp nào nhanh hơn, vận dụng cơ hội tốt hơn thì sẽ giành được ư u thế Một môi trường mà điểm xuất phát của các doanh nghiệp khác nhau, cơ hội dành cho doanh nghiệp có sự phân biệt đối xử thì ở đó cạnh tranh sẽ mất đi ý nghĩa, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp bị xâm phạm

Một doanh nghiệp sẽ không thể cạnh tranh với một doanh nghiệp khác nếu doanh nghiệp ấy bị phân biệt đối xử hoặc doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh kia được giành cho nhiều ưu đãi hơn, hay nói cách khác bất bình đẳng sẽ làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Chính vì thế quyền tự do cạnh tranh cần thiết phải được ghi nhận và đảm bảo trên cơ sở quyề n bình đẳ ng giữa các doanh nghiệp được tôn trọng

Cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các d oanh nghiệp Chỉ khi nào các doanh nghiệp được tự do gia nhập thị trường mới có đủ năng lực để quyết định phương thức kinh doanh, lúc đó, cạnh tranh mới có đất để tồn tại

Như vậy, quy định trên của Luật doanh nghiệp 2005 đã xác lập nguy ên tắc đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là nguyên tắc tự do, bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp Có thể nói, quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết đầu tiên trong việc thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp chỉ có quyền tự do cạnh tranh thực sự khi điểm xuất phát của các doanh nghiệp là như nhau, không có sự phân biệt đối xử, ưu

ái dành riêng cho một doanh nghiệp nào Quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp là ngang nhau khi các doanh nghiệp có sự bình đẳng như nhau

Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta cũng đã định hướng không ngừng tăng cường việc bảo đảm quyền bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành

phần kinh tế N ghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng cũ ng có nhấn mạnh “… Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội cho mọi tổ

Trang 27

chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm cơ hội và khả năng lựa chọn bình đẳng của các thành phần kinh t ế trong tiếp cận về vốn, đất đai, lao động, công nghệ, trong sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu…”

Với chủ trương này, cơ hội tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh của cac chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế là bình đẳng và được pháp luật bảo đảm Cơ cấu và tương quan thị trường cũng đang tiến dần tới sự cân bằng, cho dù kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo Nhưng cần xác định “vai trò chủ đạo” không đồng nghĩa với việc được quyền nắm giữ tất cả hay chủ yếu các

cơ hội kinh doanh trên thị trường Khi nghiên cứu xây dựng pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh, chúng ta cũng cần xác định rõ những nội dung của điều chỉnh pháp luật phù hợp và bảo đảm cho sự bình đẳng của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế Tất cả các hành vi ngăn cản bất hợp pháp

sự gia nhập thị trường của các chủ thể kinh tế tiềm năng đều phải chịu chế tài của pháp luật Khi tham gia thị trường, các chủ thể đều có quyền thực hiện cạnh tranh bình đẳng Mọi biểu hiện lạm dụng ưu thế để cạnh tranh hay lạm dụng ưu thế để thống lĩnh quyền lực thị trường, đối xử bất bình đẳng đối với các đối thủ cạnh tranh khác đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh

2.2 Pháp luật kiểm soát độc quyền

Chế định pháp luật này gồm tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước nhằm kiểm soát, giới hạn hoặc cấm đoán tất cả các thỏa thuận, liên kết dẫn đến sự hạn chế hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh; giám sát các chủ thể đang nắm giữ vị trí có quyền lực thị trường để kìm chế, ngăn cản không cho các chủ thể này lạm dụng vị thế quyền lực thị trường hạn chế sự cạnh tranh; giới hạn và điều hòa lợi ích của các chủ thể có vị thế độc quyền thị trường trong một tương quan hợp

lý với lợi ích chung của toàn xã hội Mục đích lớ n nhất của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền là bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường, bảo vệ

cơ chế cạnh tranh và môi trường cạnh tranh lành mạnh Một môi trường cạnh tranh bình đẳng, không có sự độc quyền chính là cơ sở quan trọn g để các doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh của mình trên thực tế

Độc quyền là hình thái thị trường trong đó chỉ có một người bán duy nhất Doanh nghiệp này không phải cạnh tranh với bất cứ đối thủ cạnh tranh nào trong việc bán sản phẩm của mình trên thị trường Với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ ấn định giá độc quyền sản phẩm ở mức mà mình sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất Kết quả là người tiêu dùng và xã hội phải gánh chịu giá cả sản phẩm ở mức cao Mặt khác, doanh nghiệp độc quyền không phải gánh chịu sức ép của cạnh tranh do đó không có nhu cầu phải cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất

Một cách khái quát, độc quyền có những dạng biểu hiện như sau:

- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: được hiểu là thỏa t huận hoặc sự thông đồng giữa những nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp độc lập)

Trang 28

với nhau hoặc giữa người sản xuất, kinh doanh cung cấp dịch vụ với các bên có liên quan nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường

- Lạm dụng vị trí thốn g lĩnh, vị trí độc quyền gây hạn chế cạnh tranh: Đây là trường hợp các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền lạm dụng vị trí của mình có những hành vi gây hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp khi đã có được vị trí thống lĩnh sẽ tìm cách sử dụng vị trí của mình như một lợi thế để có hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng Thông thường

đó là các hành vi bán phá giá nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý…

- Hành vi tập trung kinh tế c ó nguy cơ dẫn đế n độc quyền: Để đối phó với cạnh tranh trên thị trường, một số doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ cùng một loại mặt hàng hoặc những mặt hàng có mối liên hệ hữu cơ với nhau trong quá trình sản xuất hoặc tiêu thụ, cùng liên kết với nhau hình thành một tập đoàn kinh tế chi phối khối lượng sản xuất, cung ứng và giá cả thị trường Đây chính là quá trình tích tụ tư bản trên phạm vi toàn xã hội và diễn ra một cách tự phát Tập trung kinh tế có nhiều hình thức đa dạng trên thị trường Tuy nhiên, về cơ bản tập trung kinh tế có những hình thức sau: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác

Ảnh hưởng của độc quyền đến nền kinh tế là một trong những vấ n đề trọng tâm khi nghiên cứu xây dựng chính sách cạnh tranh ở nhiều quốc gia Sự tồn tại sức mạnh độc quyền sẽ làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, giá sản phẩm luôn cao hơn gấp nhiều lần so với chi phí sản xuất, chất lượng hàng hóa không được chú trọng đề cao, khi môi trường cạnh tranh tích cực bị phá vỡ áp lực của cạnh tranh không còn, nhu cầu chi phí sản xuất tỏ ra không cần thiết và vì vậy, việc đổi mới áp dụng công nghệ mới cũng không còn đáng quan tâm

Hậu quả của độc quyền không chi gây ra những tác động tiêu cực đến quá trình cạnh tranh mà nghiêm trọng hơn nó tạo ra sức ì rất lớn đối với bản thân các doanh nghiệp độc quyền, làm tê liệt khả năng cạnh tranh, dẫn tới sản xuất và thị trường trì trệ, vấn đề chế độ chính sách đối với người lao động như: tiền lương, việc làm, thu nhập, bảo hiểm… và công bằng xã hội cũng bị ảnh hưởng Không những thế, hậu quả của độc quyền còn thể hiện ở chỗ làm cho lợi nhuận sản xuất kinh doanh chi tập trung vào tay một số người, hoạt động sản xuất bị duy trì ở mức độ chi phí cao

mà không có động lực cắt giảm nhữ ng chi phí sản xuất không cần thiết (những động lực này chỉ xuất hiện khi có môi trường cạnh tranh) Nhu cầu tiêu dùng trong xã hội

bị khống chế, hạn hẹp do độc quyền phân phối hàng hóa, sản phẩm dịch vụ Các doanh nghiệp độc quyền luôn c ó xu hướng liê n hệ và tranh thủ sự ủng hộ c ủa các cơ quan quản lý Nhà nước để bảo vệ vị thế độc quyền, tìm kiếm các ưu đãi có tính phân biệt đối xử so với các chủ thể kinh doanh khác Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa trong bộ máy N hà nước

Dù được hình thành và tồn tại bằng cách nào, độc quyền cũng thường gây ra các hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế Độc quyền trong kinh doanh là nhân tố kìm hãm động lực phát triển của nền kinh tế N hà nước phải tìm mọi các h để kiểm soát

Trang 29

quá trình tập trung kinh tế, ngăn chặn hình thành độc quyền, ngăn chặn các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, kiểm soát hành vi của các doanh nghiệp đang giữ vị trí thống lĩnh thị trường, đồng thời giảm thiểu sự can thiệp bằng các mệnh lệnh hành chính vào sự vận hành của nền kinh tế để tạo thế độc quyền cho một số doanh nghiệp đặc biệt

Có thể hiểu Pháp luật kiểm soát độc quyền là sự can thiệp một cách đáng kể của cơ quan công lực vào tự do định đoạt tài sản và tự do khế ước của doanh nghiệp

vì m ục đích bảo vệ cạnh tranh.[7]

Luật cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004, có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2005, đã đáp ứng được nhu cầu kiểm soát độc quyền trong nền kinh tế

và chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Có thể nói đây là m ột nỗ lực

to lớn của N hà nước trong việc tìm cách bảo vệ cạnh tranh của nền kinh tế đang có nguy cơ bị thao túng, bị bóp méo trước những hành vi hạn chế cạnh tranh dẫn đến độc quyền và những hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Tại chương II, Luật cạnh tranh 2004 quy định về kiểm soát các hành vi có xu hướng dẫn đến độc quyền nhằm hạn chế, triệt tiêu cạnh tranh, bao gồm: Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Mục 1); Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền (Mục 2); Tập trung kinh tế (Mục 3) Các hành vi hạn chế cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền được Luật cạnh tranh 2004 quy định là đối tượng điều chỉnh, kiểm soát để bảo vệ cạnh tranh trong nền kinh tế

2.2.1 Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Mục 1 Chương II Luật cạnh tranh)

Trong thực tiễn kinh doanh trên thị trường, có nhiều trường hợp các doanh nghiệp thỏa thuận hợp tác với nhau về nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực Khi tham gia vào một thỏa thuận nào đó, các doanh nghiệp thường mong muốn đạt được những lợi ích nhất định mà họ cho rằng họ khó có thể có nếu chỉ hoạt động độc lập Trên cơ sở quyền tự do kinh doanh, trong khuôn khổ pháp luật đã được thừa nhận ở các nước có nền kinh tế thị trường, trong đó có Việt Nam, đa số các thỏa thuận, hợp tác được thừa nhận là hợp phá p và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản xuất, lưu thông kinh

tế Tuy nhiên, bên cạnh đó đã xuất hiện và gây thiệt hại cho người tiêu dùng và nền kinh tế những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Có thể hiểu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là những thỏa thuận của nhiều đối thủ cạnh tranh của nhau nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ cạnh tranh L uật cạnh tranh 2004 quy định về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Mục 1 Chương II đã xác định một cách toàn diện các vấn đề về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Cụ thể là các vấn đề sau: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

bị cấm được miễn trừ

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Luật cạnh tranh 2004 không đưa ra một

định nghĩa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Cách thức xác định của Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 là liệt kê một cách cụ thể các thỏa thuận được coi là hạn chế cạnh tranh Theo quy định tại Điều 8 Luật cạnh tranh 2004, các thỏa thuận sau đây được

Trang 30

coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: “1 Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; 2 Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; 3 Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; 4 Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; 5 Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối t ượng của hợp đồng;

6 Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; 7 Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; 8 Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.”

Như vậy, chỉ nhữ ng hành vi thuộc 8 loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 mới được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm:

Theo quy định tại Điều 9 Luật cạnh tranh 2004 có ba loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối, đó là các thỏa thuận được quy định tại Khoản 6,7,8 Điều

8 Luật cạnh tranh 2004, bao gồm: Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ Đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối, đây là các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có tác động tiêu cực rất đáng kể đến quá trình vận hành lành mạnh của quy luật cạnh tranh, làm giảm, bóp méo, hạn chế cạnh tranh trong nền kinh tế, vi phạm nghiêm trọng đến quyền tự do kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp khác không phải là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Kết quả tiêu cực là rõ ràng, cả người tiêu dùng, nền kinh tế, xã hội đều bị thiệt hại

Đối với các trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn lại thuộc quy định tại Khoản 1,2,3,4,5 Điều 8 Luật cạnh tranh 2004, L uật chỉ cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên

Về các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm được miễn trừ: Mục đích của

việc cho phép miễn trừ thường là để bảo vệ những lợi ích quan trọng hơn cạnh tranh, hoặc để tạo điều kiện cho cạnh tranh được diễn ra tốt hơn trong tương lai

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định tại Khoản 1,2,3,4,5 Điều 8 Luật cạnh tranh 2004 khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp từ 30% trở lên bị cấm Tuy nhiên, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm này có thể được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng được các điều kiện mà theo quy định tại Điều 10 Luật cạnh tranh 2004 đã quy định

2.2.2 Kiểm soát lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền

Trang 31

Vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền là kết quả của quá trình tích tụ tư bản thông qua cạnh tranh của một doanh nghiệp là nỗ lực không mệt mỏi bằng công sức của các doanh nhân và chính sự nỗ lực của họ đã đóng góp cho xã hội, cho người tiêu dùng sự thịnh vượng và văn minh Do vậy, pháp luật không thể cấm các doanh nghiệp hướng đến vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền để có được lợi nhuận cao nhất, đó là m ục đíc h chính đá ng c ủa các doanh nghiệp cầ n phải được Nhà nước thừa nhận và khuyến khích Tuy nhiên, khi đã có được vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn có xu hướng lợi dụng các vị trí đó để thu được lợi nhuận bằng quyền lực thị trường của mình Việc các doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền để gây hạn chế cạnh tranh là khó tránh khỏi Do vậy, pháp luật kiểm soát độc quyền của các quốc gia đều quan tâm đến việc kiểm soát các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền Luật cạnh tranh 2004 của nước

ta đã quy định vấn đề này tại Mục 2 Chương II, quan tâm điều chỉnh các vấn đề sau: Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền (Điều 11, Điều 12); Xác định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm (Điều 13 và Điều 14); Kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích

Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền (Điều 11, Điều 12):

Theo quy định tại Điều 11 L uật cạnh tranh 2004 của nước ta, doanh nghiệp được coi là có ví trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lê n trên thị trường liên quan; + Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; + Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan Theo quy định tại Điều 12 Luật cạnh tranh 2004 quy định doanh nghiệp đượ c coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan

Xác định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và lạm dụng vị trí độc quyền

bị cấm (Điều 13 và Điều 14)

Pháp luật không cấm các doanh nghiệ p có vị trí thống lĩnh thị trường ha y vị trí độc quyền Pháp luật chỉ kiểm soát các doanh nghiệp này, bảo vệ cạnh tranh bằng cách cấm những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền của các doanh nghiệp Do vậy, pháp luật cạnh tranh của các nước nói chung, Luật cạnh tranh

2004 của Việt Nam nói riêng, bên cạnh việc quy định các tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp, vị trí độc quyền của

Trang 32

doanh nghiệp còn quy định rất cụ thể về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp nói trên

Đối với doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, Điều 13 Luật cạnh tranh 2004 đã quy định cụ thể việc cấm các do anh nghiệp này có các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Đối với doanh nghiệp có vị trí độc quyền theo quy định tại Điều 14 Luật cạnh tranh 2004 thì ngoài việc bị cấm các hành vi quy định tại Điều 13 đã nêu trên (áp dụng đối với doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường), doanh nghiệp có vị trí độc quyền còn bị cấm các hành vi sau đây:

+ Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng

+ Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng

Nhìn chung, Luật cạnh tranh 2004 đã quy định một cách khá đầy đủ về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm Các hành vi này có tác dụng tiêu cực đến cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường V iệt Nam

Kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (Điều 15)

Như đã đề cập, việc Nhà nước duy trì lĩnh vực độc quyền nhà nước là cần thiết và được thừa nhận phổ biến trên thế giới T uy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này có quyền lợi dụng ưu thế này

để trục lợi, gây hạn chế, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội Chính vì vậy, đa

số pháp luật cạnh tranh của các nước đều quan tâm đến việc kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, vấn đề này được ghi nhận tại Điều 15 Luật cạnh tra nh 2004

Có thể nói đây là những quy định quan trọng đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các hành vi của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích của nước

ta

2.2.3 Kiểm soát tập trung kinh tế

Tập trung kinh tế là khái niệm dùng để chỉ cách thức tích tụ, tập trung của doanh nghiệp trên thị trường nhằm hình thành các doanh nghiệp lớn hơn [8] Cách tiếp cận vấn đề tập trung kinh tế của Luật cạnh tranh 2004 là tiếp cận dưới góc độ kiểm soát tính tiêu cực của tập trung kinh tế Tại Mục 3 Chương II Luật cạnh tranh

2004 đã xác định một cách toàn diện các vấn đề về kiểm soát tập trung kinh tế Cụ thể là các vấn đề sau: các hành vi tập trung kinh tế; trường hợp tập trung kinh tế bị cấm; các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm được miễn trừ; thông báo tậ p trung kinh tế

Trang 33

Về các hành vi tập trung kinh tế: Điều 16 Luật cạnh tranh quy định: “Tập

trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: 1 Sáp nhập doanh nghiệp; 2 Hợp nhất doanh nghiệp; 3 Mua lại doanh nghiệp; 4 Liên doanh giữa các doanh nghiệp; 5 Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.”

Với quy định như trên, Luật cạnh tranh 2004 thiên về liệt kê các hành vi tập trung kinh tế Tuy nhiên, khác với cách liệt kê các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Điều 8, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm tại Điều 13, các hành

vi lạm dụng vị trí độc quyền tại Điều 14 là cách liệt kê đóng, cách thức liệt kê các hành vi tập trung kinh tế tại Điều 16 là cách liệt kê mở, theo đó Khoản 5 Điều 16 Luật cạnh tranh 2004 dự trù các hành vi tập trung kinh tế khác nhau theo quy định của pháp luật Nhìn chung, các nội dung của từng loại hành vi tập trung kinh tế cũng phù hợp với các quy định tương ứng của Luật doanh nghiệp và các quy định khác về vấn đề tập trung kinh tế

Về trường hợp tập trung kinh tế bị cấm: Trong trường hợp tập trung kinh tế có

khả năng gây hạn chế cạnh tranh, pháp luật kiểm soát độc quyền sẽ cấm hành vi tập

trung kinh tế Điều 18 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật” Căn cứ vào quy định này, có thể nhận thấy:

+ Thứ nhất, các doanh nghiệp có hành vi tập trung kinh tế bị cấm theo Điều

18 Luật cạnh tranh 2004 là các doanh nghiệp kinh doanh hàn g hóa hay dịch vụ thuộc một thị trường liên quan

+ Thứ hai, Luật cạnh tranh 2004 của nước ta dựa vào tiêu chí thị phần và tiêu chí quy mô doanh nghiệp để quy định hành vi tập trung kinh tế có bị cấm hay không

Về các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm được miễn trừ: Theo quy định tại

Điều 19 Luật cạnh tranh 2004 tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau: “1 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; 2 Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát

triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ.”

Đối với hai trường hợp này, pháp luật kiểm soát độc quyền hướng đến bảo vệ các lợi ích quan trọng hơn cạnh tranh bao gồm cả việc hướng đến nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tương lai

Về thông báo tập trung kinh tế

Sử dụng phương pháp tiền kiểm trong việc kiểm soát độc quyền vốn là cách thức mà nhiều nước áp dụng trong đó có kiểm s oát tập trung kinh tế, Luật cạnh tranh

2004 đã quy định các vấn đề về thông báo việc tập trung kinh tế Theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật cạnh tranh 2004 đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp tập

Trang 34

trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau kh i thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho

cơ quan quản lý cạnh tranh kiểm soát tập trung kinh tế một cách kịp thời

Ngoài ra để có thể tiến hành kiểm soát hiệu quả tập trung kinh tế trong thực tiễn, đồng thời không làm cản trở quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp, Luật cạnh tranh 2004 cũng đã quy định một cách cụ thể các vấn đề về hồ sơ thông báo việc tập trung kinh tế (Điều 21), thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế (Điều 22), thời hạn trả lời thông báo tập trung kinh tế (Điều 23), và thực hiện tập trung kinh tế (Điều 24)

2.3 Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh r a đời nhằm đảm bảo thương mại được diễn ra một cách công bằng và không bị tác động tiêu cực bởi những hành

vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện là do nhu cầu của thị trường Về nguyên tắc, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh nhữ ng hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cụ thể của mọi chủ thể tham gia thị trường nhằm mục đích cạnh tranh, thể hiện tính không lành mạnh có thể vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh

Với tư cách là lĩnh vực pháp luật đặc thù của nền kinh tế thị trường, pháp luật cạnh tranh bảo vệ cạnh tranh bằng cách chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ hạn chế cạnh tranh Có thể thấy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh có vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh bằng cách quy định các nguyên tắc trong cạnh tranh, quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biện pháp

xử lý vi phạm đối với hành vi này

Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh Nhà nước và xã hội

Thứ ba, răn đe và nghiêm cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tín h răn đe thể hiện rõ trong Luật cạnh tranh 2004 quy định các hình thức xử lý vi phạm đối với các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả hành vi mà các chủ thể vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại, thậm c hí bị truy cứu trách nhiệ m hình sự M ục đích

mà pháp luật cạnh tranh quy định như vậy là để răn đe và nghiêm cấm các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh Q ua đó tạo tâm lý và thái độ tôn trọng pháp luật của chủ thể kinh doanh

Trang 35

Tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đẩy quá trình cạnh tranh tự do hay bảo vệ thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh Luật cạnh tranh bảo vệ

và khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái của cạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền của doanh nghiệp, chống lại các hành

vi cản trở cạnh tranh, cũng như thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường Vì vậy, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp đó là buộc doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh một cách văn minh hơn, bài bản hơn và sẽ không có đất dung thân cho các doanh nghiệp làm ăn chụp giật Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩn thận hơn trước khi đưa ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh, bởi lẽ những quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đáng kể tới thị trường và sẽ được giám sát chặt chẽ

Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của các chủ thể nhằm mục đích cạnh tranh, được thực hiện bằng các thủ đoạn không trung thực, không lành mạnh (có thể là trái pháp luật hoặc đi ngược lại đạo đức, tập quán truyền thống trong kinh doanh) cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh khác và người tiêu dùng xã hội Tính không lành mạnh và mức độ thiệt hại phụ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường Tuy nhiên chỉ xác định là cạnh tranh không lành mạnh khi hành vi của một chủ thể xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác đang cùng tồn tại trong một thị trường hàng hóa, dịch vụ hay thị trường liê n quan, những hành vi này được tiến hành vì mục đích cạnh tranh và có biểu hiện không lành mạnh Về nguyên tắc, các chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm có quyền kiện các chủ thể đã thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyề n yêu cầu được giải quyết Biện pháp chế tài được áp dụng trong các trường hợp này là buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, mục đích của pháp luật trường hợp này không chỉ đơn thuần ở việc buộc các chủ thể vi phạm phải thực hiện trách nhiệm pháp lý theo chức năng bù đắt thiệt hại, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp về nhân thân cũng như về tài sản cho người sản xuất kinh doanh khác

và người tiêu dùng xã hội, mà cao hơn là nhằm răn đe, nghiêm cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ xâm hại và làm vẩ n đục m ôi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế, qua đó tạo điều kiện cho quyền tự do cạnh tranh được tôn trọng thực hiện

Mục đích của pháp luật là nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ nội hàm khái niệm cạnh tranh không lành mạnh và nhóm các hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh Theo quy định

tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định: “ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Theo quy định tại Điều 39 Luật cạnh tranh 2004 đã liệt kê các hành vi

được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm:

Trang 36

“Hành vi cạnh tranh không lành m ạnh trong Luật này bao gồm:

1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2 Xâm phạm bí m ật kinh doanh;

3 Ép buộc trong kinh doanh;

4 Gièm pha doanh nghiệp khác;

5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

7 Khuyến m ại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

8 Phân biệt đối xử của hiệp hội;

vì m ục đích cạnh tranh và c ó biể u hiệ n không là nh mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh diễn ra dưới nhiều hành vi và thủ đoạn tinh vi, với những biến tướng muôn hình muôn vẻ Tại Luật cạnh tranh 2004 đã có quy định việc kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận tại Chương III gồm 10 Điều luật Nếu như các quy định tại Chương II nhằm mục đ ích kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp thì các quy định trong Chương này nhằm loại bỏ nhữ ng thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh Cách tiếp cận của Chương III theo hướng làm rõ nội dung của hành vi cạnh tran h không lành mạnh, sau đó đưa ra quy định cấm đối với từng trường hợp của hành vi Đây là cách tiếp cận khoa học tạo cơ sở cho các chủ thể kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền vận dụng trong quá trình thực thi Chương III không quy định miễn trừ bởi lẽ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Chương này có tác động xấu và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp và quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng Do vậy, để đảm bảo trật tự kinh doanh, tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh, pháp luật cần có quy định nghiêm khắc đối với các loại hành vi này

Để duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền tự do cạnh tranh được tôn trọng, Pháp luật cạnh tranh đã có những quy định nghiêm cấm, ngăn c ản các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn (Điều 40 Luật cạnh tranh)

Trang 37

Điều luật này nghiêm cấm hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” nhằm ngăn ch ặn cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trên thị trường Điều luật cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn có chứa thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của pháp luật để làm khách hàng lầm tưởng rằng hàng hóa, dịch vụ đó là hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác đã có uy tín trên thị trường hoặc có xuất xứ từ địa lý có uy tín nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh

Xâm phạm bí mật kinh doanh (Điều 41 Luật cạnh tranh)

Điều luật này nghiêm cấm hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm bảo vệ

bí quyết kinh doanh, quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp Điều luật nghiêm cấm một số hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh sau:

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằ ng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó Quy định này được hiểu là nghiêm cấm việc tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh

mà không được sự đồng ý của người sở hữu bí mật kinh doanh đó

- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doa nh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

- Vi phạm hợp đồng bả o mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó

Hợp đồng bảo mật là hợp đồng mà theo đó một bên hợp đồng được quyền tiếp cận thông tin bí mật về kinh doanh của một chủ sở hữu nhưng có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó Bên có nghĩa vụ bảo mật làm lộ thông tin về bí quyết kinh doanh cho bên thứ ba thì bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh theo quy định của điều luật

- Tiếp cận, thu thậ p thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của các cơ quan nhà nước, hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, mục đích xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm Quy định này bao gồm hai trường hợp:

+ Doanh nghiệp tiếp cận, thu thập bất luận trái phép hay được phép bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác thông qua cá c hồ sơ mà doanh nghiệp phải nộp khi thực hiện thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

+ Dùng các biện pháp chống lại biện pháp bảo mật của các cơ quan nhà nước

về bí mật kinh doanh và sử dụng những thông tin bí mật này phục vụ mục đích và hoạt động kinh doanh của mình

Ép buộc trong kinh doanh (Điều 42 Luật cạnh tranh)

Điều luật này quy định nghiêm cấm việc ép buộc trong kinh doanh nhằm ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp đối với đối th ủ cạnh tranh, đồng thời bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị

Trang 38

trường, bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng Cấm ép buộc trong kinh doanh được hiểu là cấm doanh nghiệp có hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doa nh của đối thủ cạnh tranh không giao dịch hoặc ngừ ng giao dịc h với đối thủ cạnh tranh

Gièm pha doanh nghiệp khác (Điều 43)

Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnh tương đối phổ biến trong hoạt động kinh doanh, nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc kìm hãm sự phát triển kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thông qua việc giảm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp đó Điều luật quy định cấm gièm pha doanh nghiệp khác thông qua hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra t hông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó

Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác (Điều 44)

Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác được hiểu là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Điều luật này nghiêm cấm hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45)

Quảng cáo là việc giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Nhu cầu quảng cáo đang ngày càng tăng được thể hiện trên phương tiện thông tin đại chúng Chính vì vậy, để điều chỉnh hoạt động quảng cáo theo hướng duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, Nhà nước đã quy định cấm thực hiện các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 Theo đó, các hành vi bị quảng cáo bị cấm được ghi nhận tại các K hoản 2,3,4 Điều 45 Luật cạnh tranh

Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 46)

Khuyến mại là hoạt động thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Trong nền kinh tế thị trường, khuyến mại được xem là một trong những công cụ xúc tiến thương mại hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng Tuy nhiên, hoạt động khuyến mại hiện nay cũng chưa có một cơ chế kiểm soát chặt chẽ nên nhìn chung còn bộc lộ nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng Vì vậy, Điều 46 Luật cạnh tranh 2004 đã ghi nhận cấm doanh nghiệp thực hiện một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực khuyến mại Điều luật này nghiêm cấm một số hành vi khuyến mại trái pháp luật nhằm ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trên thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh cũng như người tiêu dùng

Phân biệt đối xử của hiệp hội (Điều 47)

Hiệp hội ngành nghề đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp các doanh nghiệp kinh doanh cùng một lĩnh vực Quyết định của Hiệp hội ngành nghề trong

Trang 39

nhiều trường hợp có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên D o vậy, Luật cạnh tranh đã dành một điều khoản nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội đối với doanh nghiệp thành viên hoặc doanh nghiệp thành viên trong tương lai với mục đích là ngăn chặn khả năng tạo ra những điều kiện bất lợi về cạnh tranh cho một hoặc một số doanh nghiệp thành viên của hiệp hội, nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp cùng ngành nghề trên thị trường M ục đích của hiêp hội cùng ngàn h nghề là tạo ra sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp thành viên để các doanh nghiệp thành viên có thể mở rộng thị trường, phát triển kinh doanh, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ… Dó đó, việc hiệp hội đưa ra bất kỳ chính sách nào hoặc thực hiện bất

kỳ hành vi nào nhằm hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh của một, một số hoặc tất cả các thành viên của hiệp hội thì đều bị coi là trái pháp luật

Bán hàng đa cấp bất chính ( Điều 48)

Bán hàng đa cấp là một hình thức bán hàng trực tiếp không thông qua địa điểm bán lẻ cố định mà thông qua mạng lưới người tham gia độc lập gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau và được pháp luật của các quốc gia bảo hộ Tương tự như các quốc gia trên thế giới, Luật cạnh tranh Việt Nam chỉ điều chỉnh nhữ ng hành vi bán hàng đa cấp nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng Điều này đã được cụ thể hóa tại Điều 48 Luật cạnh tranh khi quy định nghiêm cấm hành vi bán hàng đa cấp bất chính nhằm ngăn chặn phương thức kinh doanh trái pháp luật phát sinh trong nền kinh tế thị trường, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng

Tóm lại, mặc dù có sự phân chia thành hai lĩnh vực, song cả pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền đều nhằm mục đích bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm cho các hoạt động cạnh tranh được diễn ra bình thường và đúng quy luật Nếu không có các quy định pháp luật trong lĩnh vực này, các thỏa thuận, liên kết trái pháp luật sẽ hạn chế cạnh tranh và độc quyền sẽ triệt tiêu cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh làm vẩn đục môi trường cạnh tranh nói chung, quyền tự do cạnh tranh của mỗi chủ thể nói riêng Quyền tự do cạnh tr anh bị xâm hại điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, cơ hội phát triển của các doanh nghiệp

2.4 C ải cách thủ tục hành chính góp phần thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh

Trong đời sống hàng ngày, người dân và doanh nghiệp phải tuân thủ rất nhiều các quy định về thủ tục hành chính Mục đích thủ tục hành chính được đặt ra là nhằm đảm bảo sự quản lý của N hà nước đối với các hoạt động kinh tế Tuy nhiên quá nhiều thủ tục hành chính, bản thân thủ tục hành chính lại rườm rà sẽ là rào cản lớn để doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh của mình Thủ tục hành chính, với những giấy phép con tạo ra rào chắn, barie ngăn cản quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Đành rằng quyền tự do có những giới hạn nhất định

Trang 40

bởi sự điều chỉnh của N hà nước và pháp luật, tuy nhiên nếu Nhà nước can thiệp quá sâu vào các hoạt động kinh tế, quy định quá nhiều thủ tục hành chính sẽ gây phiền hà cho người dân thì nền kinh tế thị trường sẽ không mang đúng bản chất của nó, quyền

tự do cạnh tranh của doanh nghiệp bị xâm phạm hoặc khó có thể được đảm bảo thực hiện trên thực tế Để quyền tự do cạnh tranh được thực hiện bên cạnh việc được pháp luật ghi nhận, cần thiết phải có những cơ chế bảo đảm, mà cải cách thủ tục hành chính là một trong những biện pháp hữ u hiệu nhằm bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực hiện

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng

và Nhà nước ta quan tâm ngay từ những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Trong nhiều nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ: Thực hiện cải cách cơ bản các thủ tục hành chính, cả về thể chế và tổ chức thực hiện; loại bỏ những khâu bất hợp lý và phiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật.[9]

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, năm 1994, Chính phủ ban hành N ghị quyết

số 38/NQ-CP ngày 4 tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức Với việc ban hành Nghị quyết này, Chính phủ đã thể hiện quyết tâm đạt đượ c bước chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước; giữa cơ quan nhà nước và các cơ quan, đơn vị khác, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc Có thể nói, kết quả thực hiện Nghị quyết nói trên của Chính phủ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm cuối thế kỷ 20 Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn

2001 - 2010 mà trong đó xác định: X óa bỏ về cơ bản các thủ tục hà nh c hính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân, hoàn thiện các thủ tục hành chính mới, theo hướng công khai; đơn giản và thuận tiện cho người dân , doanh nghiệp

Kết quả cải cách thủ tục hành chính những năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp đã được cải thiện một bước đáng kể, thông qua một loạt biện pháp như cải cách thủ tục hành chính gắn với thực hiện cơ chế một cửa, công khai hóa, minh bạch hóa các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính được rà soát, sửa đổi, bãi bỏ theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì thủ tục hành chính ở nước ta vẫn còn xu hướng phổ biến là cơ quan hành chính giành thuận lợi cho mình, đẩy khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp Vẫn còn tư tưởng bao cấp, cục bộ của các bộ, ngành khi xây dựng và ban hành thủ tục hành chính Do đó, thủ tục hà nh chính vẫn còn nhiều phiền hà, phức tạp, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, làm lỡ cơ hội đầu tư và cản trở sức sản xuất của các thành phần kinh tế trong xã hội

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1987
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đ ại hội Đ ảng toàn quốc lần thứ VII , NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đ ại hội Đ ảng toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1991
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[4] Quốc hội, Hiến Pháp 1992 ban hành ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp thứ 11, Q uốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến Pháp 1992 ban hành ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp thứ 11
[5] Quốc hội, Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ban hành ngày 14/06/2005, tại kì họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ban hành ngày 14/06/2005, tại kì họp thứ 7
[7] Quốc hội, Luật D oanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29 /11/2005 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước C ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật D oanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29 /11/2005 tại kỳ họp thứ 8
[8] Quốc hội, Luật doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 tại Kì họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 tại Kì họp thứ 10
[9] Quốc hội, Luật Đ ầu tư số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 tại Kì họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đ ầu tư số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005tại Kì họp thứ 8
[10] Quốc hội , Luật Hợp tác xã số Luật Hợp tác xã số 18/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 tại Kì họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp tác xã số Luật Hợp tác xã số 18/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003" tại "Kì họp thứ 10
[11] Quốc hội, Luật Tố tụng hành chính số 64/2010/QH 12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 tại Kì họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội c hủ nghĩa Việt Nam khoá XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tố tụng hành chính số 64/2010/QH 12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 tại Kì họp thứ 8
[12] Quốc hội, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14/ 6/2005, tại kì họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14/ 6/2005, tại kì họp thứ 7
[13] Chính phủ, Nghị định số 05/2006/NĐ -CP ngày 09 tháng 1 năm 2006, về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2006/NĐ -CP ngày 09 tháng 1 năm 2006
[14] Chính phủ, Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 1 năm 2006, về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 1 năm 2006
[15] Chính phủ, Nghị định số 110/2005/NĐ -CP ngày 24 tháng 8 năm 2005, về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 110/2005/NĐ -CP ngày 24 tháng 8 năm 2005
[16] Chính phủ, Nghị định số 116/2005/NĐ -CP ban hành ngày 15/9/2005, về việc quy định chi tiết một số điều của Luật cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2005/NĐ -CP ban hành ngày 15/9/2005
[17] Chính phủ, Nghị định số 120/2005/NĐ -CP ban hành ngày 30/9/2005, quy định xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2005/NĐ -CP ban hành ngày 30/9/2005
[18] Chính phủ, Nghị định số 20/2008/NĐ -CP ban hành ngày 14/2/2008, quy định về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính . [19] Chính phủ, Nghị định số 43/2010/NĐ -CP ban hành ngày 15/4/2010, về đăng kýdoanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 20/2008/NĐ -CP ban hành ngày 14/2/2008", quy định về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính . [19] Chính phủ, "Nghị định số 43/2010/NĐ -CP ban hành ngày 15/4/2010
[20] Chính phủ, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ban hành ngày 08/ 6/2010 , về Kiểm soát thủ tục hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ban hành ngày 08/ 6/2010
[21] Thủ tướng Chính phủ, Q uyết định số 263/QĐ -TTg ban hành ngày 05/3/2012 Phê duyệt Kế hoạch rà soát thủ tục hành chính trọng tâm năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Q uyết định số 263/QĐ -TTg ban hành ngày 05/3/2012
[22] Bộ Công Thương, Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08 tháng 11 năm 2005, hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ -CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08 tháng 11 năm 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w