1 LỜI NÓI ĐẦU Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC 5 1.1 Khái niệm chung về người thừa kế 5 1.2 Người thừa kế không phụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC TRONG BLDS
2005 – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Phùng Trung Tập
HÀ NỘI - 2013
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo –
PGS TS Phùng Trung Tập, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa pháp luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn./
Học viên Nguyễn Thị Ngọc Mai
Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2013
Trang 31
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI THỪA KẾ
KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC
5
1.1 Khái niệm chung về người thừa kế 5
1.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 13
1.2.2 Căn cứ xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 16
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển các quy định của pháp luật về người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
18
Chương 2 NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI
CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH
24
2.1 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong mối quan
hệ với người để lại di sản
24
2.2 Điều kiện của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 32
2.2.1 Không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng
ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật
33
Trang 42.3 Phần di sản mà người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
được hưởng
48
2.3.2 Những trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật
58
Chương 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THỪA KẾ
KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
64
3.1 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về người thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung của di chúc
64
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 73
3.2.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào
nội dung của di chúc
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự BLHS: Bộ luật Hình sự Luật HN & GĐ: Luật Hôn nhân và Gia đình
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, các quan
hệ pháp luật, quan hệ xã hội theo đó cũng phát triển…trong đó phải kể đến là sự mở rộng của các quan hệ thừa kế, bởi lẽ trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật nói chung và bản thân chế định này cũng phản ánh trở lại bản chất của chế độ xã hộ đó Ở nước ta, pháp luật
về thừa kế được quy định khá sớm ngay từ các Bộ luật cổ như Bộ luật Hồng Đức (năm 1483), Bộ luật Gia Long (năm 1815), cũng đã có quy định về vấn đề này Cho đến thời kỳ Pháp thuộc có Bộ dân Luật Bắc Kì 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm
1936, sau này thừa kế được phát triển và ghi nhận qua các bản Hiến pháp của nước ta, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 Từ việc được ghi nhận ở các bản Hiến pháp, với tư cách là Đạo luật cơ bản, Luật mẹ đã làm cơ sở cho việc ghi nhận thừa kế với tư cách là một chế định độc lập trong BLDS năm 1995, đánh dấu một bước phát triển của pháp luật nước ta về thừa kế Hiện nay, BLDS năm 2005 tiếp tục kế thừa và bổ sung thêm các quy định của BLDS năm 1995 về vấn đề thừa kế Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình áp dụng cũng như giải quyết các vấn đề
về thừa kế của các Tòa án.Tuy nhiên, do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ và mở rộng của các quan hệ xã hội mà pháp luật không thể dự liệu hết được các tình huống có thể xảy ra Từ đó dẫn đến tồn tại nhiều vụ việc phức tạp, các tranh chấp về thừa kế xảy ra nhiều trên thực tế nhưng các quy định của pháp luật về vấn đề này lại chưa được hoàn thiện, đồng bộ để làm cơ sở giải quyết, khiến các Tòa án gặp rất nhiều khó khăn trong công tác xét xử của mình
Những vướng mắc, bất cập của pháp luật về thừa kế chủ yếu diễn ra xung quanh các vấn đề xác định di sản thừa kế, xác định người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật , người thừa không có quyền hưởng di sản Một trong những khó khăn, vướng mắc điển hình là những tranh chấp liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Vấn đề này mặc dù đã được quy định trong BLDS nhưng những quy định này còn quá chung chung khiến việc áp dụng giải quyết gặp rất nhiều khó khăn, việc giải quyết của các Tòa án về vấn đề này chưa được “thấu tình đạt lý” Từ những thực trạng trên và đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của pháp
Trang 7luật thừa kế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc lựa chọn
đề tài
“Những quy định của pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc trong BLDS năm 2005 – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm
luận văn thạc sĩ để có thể nghiên cứu một cách khái quát đầy đủ về vấn đề này là một việc làm cần thiết đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lý luận cũng như trong thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong một số công trình nghiên cứu về những vấn đề trong chế định quyền thừa
kế từ trước tới nay như: Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sỹ, một
số bài viết trên các Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án, Tạp chí Dân chủ và pháp luật và một số các sách chuyên khảo về thừa kế cũng có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Cụ thể, Phạm Văn
Tuyết “Xung quanh việc xác định hai phần ba suất của một người thừa kế theo luật”, Tạp chí Luật học số 2, (1996); Trần Thị Huệ “Bàn về việc xác định hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật”, Tạp chí Luật học số 2, (1998) Trong hai bài
viết này tác giả Phạm Văn Tuyết và Trần Thị Huệ đã đưa ra các quan điểm và lập luận riêng trong việc xác định phần di sản mà người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được nhận Là những bài nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này, do đó việc nghiên cứu của các tác giả mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh của vấn đề này mà chưa
đi vào nghiên cứu một cách sâu rộng về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Tiếp đến là một số sách chuyên khảo của các tác giả, TS Nguyễn Ngọc
Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ; TS Phạm Văn Tuyết (2007), Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội; TS Phùng Trung Tập (2008), Pháp luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội; TS Nguyễn Minh Tuấn (2009), Pháp luật thừa kế Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội…cùng nhiều đề tài
khoa học, bài viết khác Tuy nhiên, trong các công trình này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung về thừa kế còn đối với vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mới chỉ dừng lại ở việc đề cập dưới dạng các mục nhỏ trong các công trình nghiên cứu trên Chưa thực sự khái quát đầy đủ các vấn đề về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 8Như vậy, có thể xem luận văn này như một tài liệu chuyên khảo nghiên cứu một cách độc lập, hệ thống về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của
di chúc trong BLDS hiện hành
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các quy định của pháp luật trong BLDS năm
2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật HN & GĐ năm 2000, BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009…để làm rõ các vấn đề xung quanh người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc để từ đó có cái nhìn tổng quát về vấn đề này đồng thời luận văn đi vào phân tích thực trạng của các quy định trong BLDS năm 2005 trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế có liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của Tòa án, từ đó đưa ra những kết luận nhất định
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này, trên cơ sở phân tích đánh giá các quy định hiện hành làm rõ phạm vi người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, phần di sản mà họ được hưởng Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung các quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là xây dựng được khái niệm về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, căn cứ xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, phân tích, lập luận để có thể xác định được phạm vi người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, cách xác định phần
di sản mà họ được hưởng Từ những phân tích, lập luận này đưa ra các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu có hiệu quả đề tài này, việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật và quan điểm của Đảng về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Bộ luật Dân sự
Luận văn đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu Với phương pháp này luận văn được xem xét trong sự vận động
và phát triển của các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế không
Trang 9phụ thuộc vào nội dung của di chúc nói riêng Để từ đó có thể tham khảo, kế thừa một cách có chọn lọc các quan điểm, nhận định của các nhà khoa học, các nhà luật học…về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc qua đó xây dựng được những cách hiểu thống nhất, khái quát về vấn đề này Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, logic… nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung của luận văn
6 Đóng góp của Luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, có tính hệ thống và tương đối toàn diện về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trong nội dung của luận văn có những điểm mới sau đây:
- Xây dựng được khái niệm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, xác định được quan hệ giữa người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc với người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc Luận văn đưa ra được các căn cứ xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cũng như phạm vi những những người này đồng thời đưa ra cách xác định về phần di sản mà họ được hưởng
- Luận văn trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành về thừa kế và thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đã đưa ra được các kiến nghị cụ thể nhằm
bổ sung và hoàn thiện các quy định về thừa kế liên quan và quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Những kiến nghị mà luận văn đưa ra hoàn toàn dựa trên các cơ sở khoa học các quan điểm, đánh giá của các nhà khoa học cũng như các nhà luật học về vấn đề liên quan nhằm góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế của pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm ba chương
Chương 1: Lý luận chung về người thừa kế và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Chương 2: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định của pháp luật Dân sự hiện hành
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và kiến nghị hoàn thiện
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG
PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC 1.1 Khái niệm chung về người thừa kế
1.1.1 Khái niệm người thừa kế
Trong bất kì một chế độ xã hội nào, con người muốn tồn tại và phát triển được đều cần có những cơ sở vật chất nhất định Nói cách khác, con người với tư cách là một thực thể xã hội, con người không thể sống và phát triển khi không có tài sản Tài sản là phương tiện sống của con người, hàng ngày con người khai thác công dụng của tài sản để thỏa mãn cho những nhu cầu của mình, ăn, mặc, ở, sinh hoạt, đi lại …Khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống khác Khi nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, Nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản nói trên, trong đó, quyền để lại di sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật, từ đó quá trình dịch chuyển
di sản được gọi là quyền thừa kế Trong quá trình dịch chuyển đó, người chết có tài sản để lại được gọi là người để lại di sản thừa kế, người được hưởng di sản từ quá trình dịch chuyển trên, gọi là người thừa kế
Theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành thì người thừa kế bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật Sở dĩ, có sự phân chia thành hai loại thừa kế trên là dựa trên cơ sở xác định người thừa kế được hưởng di sản thừa kế bằng cách thức dịch chuyển nào Nếu quá trình dịch chuyển này được thực hiện dựa trên ý chí của người đã chết thể hiện trong nội dung của di chúc mà họ để lại,
được gọi là: Thừa kế theo di chúc và người được hưởng di sản thừa kế bằng hình thức dịch chuyển này sẽ được gọi là người thừa kế theo di chúc Ngược lại, sự dịch
chuyển trên được thực hiện “Theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp
luật qui định” (Điều 674 BLDS năm 2005) sẽ được gọi là: Thừa kế theo pháp luật và người được hưởng di sản thừa kế trong trường hợp này là người thừa kế theo pháp
Trang 11Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế là một trong những nguyên tắc quan trọng và đặc trưng trong chế định quyền thừa kế
Theo đó cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản hợp pháp của mình
sẽ có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (Điều 164 BLDS năm 2005), trong đó có quyền định đoạt tài sản, quyền để lại tài sản của cá nhân sau khi chết thông qua di chúc chính là sự cụ thể hóa của quyền định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu Theo quy định của BLDS năm 2005 về chế định quyền sở hữu, quyền sở hữu đối với tài sản của cá nhân là một quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối Vì vậy, khi còn sống cá nhân có toàn bộ quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình thì sau khi chết đi quyền năng đó vẫn được pháp luật bảo hộ, thông qua việc thừa nhận cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Thông qua di chúc, người để lại di sản thể hiện ý chí của mình trong việc định đoạt tài sản, cụ thể của sự định đoạt đó là xác định ai sẽ là người được hưởng di sản, được hưởng bao nhiêu di sản, hưởng như thế nào và khi nào được hưởng Như vậy, bằng một di chúc hợp pháp
người để lại di sản sẽ chỉ định ai là người thừa kế theo di chúc của họ
Việc chỉ định ai được hưởng di sản trong nội dung của di chúc là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người lập di chúc, do đó người thừa kế theo di chúc có thể là bất kì ai Hay nói cách khác bất kì ai cũng có thể được chỉ định là người thừa kế theo di chúc Theo đó, người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức hoặc thậm chí là Nhà nước Cá nhân, người thừa kế theo di chúc có thể là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người lập di chúc nhưng cũng có thể họ không
có bất kì mối quan hệ nào trong ba mối quan hệ trên với người để lại di sản Tổ chức, Nhà nước là người thừa kế theo di chúc nếu những chủ thể này được người lập di chúc chỉ định cho hưởng di sản theo di chúc Tuy nhiên, cá nhân hay tổ chức, để có thể là người thừa kế theo di chúc đều phải tuân theo những điều kiện nhất định được quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005:
“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”
Trang 12Quy định trên đã chỉ ra những điều kiện nhất định đối với người thừa kế nói chung và người thừa kế theo di chúc nói riêng
Khi chỉ định chủ thể được hưởng di sản trong di chúc, bản thân người lập di chúc cũng sẽ xác định phần di sản mà người đó được hưởng và cách thức cũng như thời điểm hưởng phần di sản đó Từ nội dung đó, người thừa kế theo di chúc sẽ được xác định một cách cụ thể
Một vấn đề đặt ra ở đây, chúng ta cần phân biệt người thừa kế theo di chúc với người được di tặng Bởi, người di tặng cũng là người được hưởng di sản theo ý chí của người lập di chúc thể hiện trong nội dung của di chúc hay nói cách khác người được hưởng di sản theo di chúc bao gồm: người thừa kế theo di chúc và người được di tặng Nhưng, người được di tặng và người thừa kế theo di chúc không phải là một Di tặng
là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc dành một phần di sản để tặng cho người khác Như vậy, di tặng là sự tặng cho tài sản và người được di tặng được hiểu là người được nhận phần di sản của người chết như một món quà, một phần quà tặng với
ý nghĩa là sự kỉ niệm và họ không phải gánh chịu nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 671 BLDS năm 2005 Còn bản thân người thừa kế theo di chúc lại là chủ thể được người để lại di sản chỉ định cho hưởng
di sản với tư cách là người thừa kế của họ thông qua di chúc, do đó họ phải có nghĩa
vụ của người thừa kế nói chung theo quy định của pháp luật
Để có cái nhìn toàn diện và đầy đủ về người thừa kế theo di chúc, chúng ta phải
có khái niệm khái quát về vấn đề này Đó là cơ sở để xác định những vấn đề pháp lý khác liên quan đến người thừa kế theo di chúc cũng như để phân biệt người thừa kế theo di chúc với các chủ thể khác cũng được hưởng di sản thừa kế của người chết để lại
Hiện nay, pháp luật Dân sự Việt Nam không có khái niệm cụ thể về người thừa
kế theo di chúc, nhưng từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát
về người thừa kế theo di chúc như sau: Người thừa kế theo di chúc là cá nhân đang còn sống, cơ quan tổ chức đang tồn tại vào thời điểm mở thừa kế hoặc thai nhi sinh
ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã được người để lại di sản chỉ định làm người thừa kế của mình bằng một di chúc hợp pháp 1
1
Phạm Văn Tuyết, (2003), Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, tr.49
Trang 13Như vậy, việc xác định người thừa kế theo di chúc sẽ dựa trên ý chí chủ quan của người để lại di sản được thể hiện trong nội dung của di chúc Căn cứ trên sự xác định đó, dẫn đến phạm vi người thừa kế theo di chúc rộng hơn so với người thừa kế theo pháp luật và bản thân người thừa kế theo di chúc cũng có thể đồng thời là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
1.1.1.2 Người thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế Việt Nam ghi nhận hai hình thức thừa kế, thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 674
BLDS năm 2005, cụ thể: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”
Nếu như quyền thừa kế là tổng hợp các quy định của pháp luật về sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người còn sống khác2, thì thừa kế theo pháp luật với tư cách là một trong hai hình thức thừa kế, được hiểu là sự dịch chuyển tài sản của người chết để lại theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế theo quy định của pháp luật cho những người còn sống khác Người còn sống được hưởng di sản theo hình thức dịch chuyển này được gọi là người thừa kế theo pháp luật
Người thừa kế theo pháp luật là người được hưởng di sản của người chết để lại theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luât quy định Dựa trên các quy định của pháp luật về hàng thừa kế, về điều kiện và trình tự thừa kế chúng ta có thể xác định được chủ thể là người thừa kế theo pháp luật Nói cách khác, người thừa
kế theo pháp luật là người được hưởng di sản của người chết để lại theo luật định Cụ thể, Điều 676 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
“Người thừa kế theo pháp luật
1 Những người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự sau đây:
a Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ , con nuôi của người chết;
b Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là
2
Trường Đại học Luật Hà Nội, (2008), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam,tập 1 , Nxb CAND
Trang 14bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết
là cụ nội, cụ ngoại;
2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau;
3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng
di sản hoặc từ chối nhận di sản”
Căn cứ vào quy định trên, chúng ta thấy rằng người thừa kế theo pháp luật là người có một hoặc đồng thời hai mối quan hệ trong các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế
Họ là những người mà khi còn sống người để lại di sản có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu thương Do vậy, khi chết đi người để lại di sản vẫn cần có một phần trách nhiệm với những người này Điều này phù hợp với truyền thống đạo đức tôn trọng hiếu, lễ, nghĩa của người dân Việt Nam Ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng là ba căn cứ quan trọng để xác định diện thừa kế theo pháp luật hay nói cách khác là căn cứ xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật của người
để lại di sản
Nếu như việc xác định người thừa kế theo di chúc phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người để lại di sản, từ đó dẫn đến người thừa kế có thể là bất kì ai: cá nhân, cơ quan, tổ chức và thậm chí là Nhà nước thì ngược lại, để xác định người thừa kế theo pháp luật chúng ta phải dựa vào diện thừa kế hay chính là dựa trên ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng của người để lại di sản với những người được xác định
là người thừa kế theo pháp luật Như vậy, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, không thể là cơ quan, tổ chức hay Nhà nước Bởi các chủ thể này không thể tồn tại một trong ba mối quan hệ trên với người để lại di sản
Người thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản theo quy định của pháp luật tuân theo các trình tự và thủ tục nhất định Trình tự dịch chuyển tài sản của người chếtcho những người thừa kế theo pháp luật tuân theo hàng thừa kế được quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005, theo trình tự dịch chuyển này thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hàng đầu bởi giữa họ có mối quan hệ thân thuộc, thiêng liêng
và gẫn gũi nhất Khi không còn những người gẫn gũi nhất do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc do từ chối nhận di sản thì những người thuộc hàng thừa kế tiếp theo sẽ được hưởng di sản Như vậy, dù cùng là những người
Trang 15thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng không phải tất cả những người này đều được hưởng di sản thừa kế cùng một lúc Nhận thấy, thứ tự ưu tiên hưởng di sản theo hàng là thứ tự tuyệt đối Không có trường hợp nào hai cá nhân thuộc hai hàng thừa kế khác nhau cùng hưởng di sản theo pháp luật
Như vậy, người thừa kế theo pháp luật là người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật Pháp luật xác định người nào là người thừa kế theo pháp luật của người
để lại di sản thừa kế thông qua diện thừa kế Việc hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật dựa theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế theo quy định của pháp luật Điểm khác biệt rõ nhất giữa người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc là người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và cá nhân này phải mang trong mình ít nhất một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản Phần di sản được hưởng, thời điểm được hưởng và cách thức hưởng di sản của những người này dựa vào quy định của pháp luật chứ không bị sự chi phối bởi ý chí chủ quan của người lập di chúc
1.1.2 Điều kiện của người thừa kế
1.1.2.1 Người thừa kế là cá nhân
Điều 635 BLDS năm 2005 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”
Dựa vào quy định trên, nhận thấy người thừa kế là cá nhân muốn được hưởng
di sản phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:
Thứ nhất: Phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Với đặc trưng cơ bản của thừa kế là sự nối tiếp về sở hữu tài sản giữa người còn sống với người đã chết nên người tiếp nhận di sản phải là người còn sống Sẽ là vô nghĩa nếu tài sản được dịch chuyển từ một người chết này sang người chết khác3 Như vậy, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, khi hiểu về thuật ngữ “còn sống” chúng ta phải hiểu theo một diện rộng Bởi lẽ, trên thực
tế có những trường hợp vào thời điểm phân chia di sản thừa kế thì người thừa kế đã chết nhưng thực tế vào thời điểm mở thừa kế thì họ vẫn là những người còn sống, do
đó bản thân họ có quyền được hưởng di sản, đương nhiên trong trường hợp này phần
di sản đó lại trở thành phần di sản mà họ để lại và được chia cho những người thừa kế
3
Ths Phạm văn Tuyết, (2003), Bàn về điều kiện của người thừa kế, Tạp chí Dân chủ pháp luật, số (1), Tr.20 -41
Trang 16của người này Hoặc có trường hợp vào thời điểm mở thừa kế, người thừa kế đang mất tích nhưng họ chưa bị tuyên bố chết hoặc đã bị tuyên bố chết nhưng ngày được coi là
đã chết được xác định sau thời điểm mở thừa kế thì trường hợp này vẫn được xác định
là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và được quyền hưởng di sản Như vậy, cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế, cho dù chỉ cần sống trong một quãng thời gian ngắn sau khi người để lại di sản chết thì cũng đã đủ tư cách thừa kế Tuy nhiên, dù là một khoảng thời gian ngắn nhưng khoảng thời gian này phải xác định được, nếu khoảng thời gian này không thể xác định được sẽ coi là những người này chết cùng
thời điểm Về nguyên tắc theo quy định tại Điều 641 BLDS: “Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi
là chết cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là những người chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này”, như vậy, trường hợp những người chết
cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn không thể xác định rõ ai chết trước (trong các
vụ tai nạn máy bay, đắm thuyền, vụ nổ, thiên tai, hỏa hoạn, do thảm họa chiến tranh,
do cùng nhau tự tử, do cùng bị người khác giết), thì những người này dù bản thân họ
có quyền hưởng di sản của nhau nhưng do không đáp ứng được điều kiện “còn sống vào thời điểm mở thừa kế” dẫn đến việc họ không được thừa kế di sản của nhau
Thứ hai: Phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
BLDS năm 2005 quy định về điều kiện của cá nhân là người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, tuy nhiên đối với trường hợp thai nhi được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì quyền thừa kế của những người này vẫn được pháp luật bảo hộ, giống như một sự bảo lưu quyền thừa kế cho những chủ thể đặc biệt này Tuy vậy, để được hưởng di sản thì thai nhi phải sinh ra và còn sống, cá nhân không thể hưởng thừa
kế được nếu sinh ra nhưng không còn sống Việc xác định như thế nào là “sinh ra và còn sống” là một vấn đề khá phức tạp Khi một đứa trẻ được sinh ra và sống bình thường thì việc xác định đứa trẻ đó là người thừa kế hoàn toàn không có gì khó khăn Ngược lại, nếu một đứa trẻ sinh ra và chết ngay sau đó thì ranh giới để xác định là còn sống hay đã chết là một vấn đề không hề đơn giản và chưa được BLDS của chúng ta
Trang 17ghi nhận rõ Ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ là một khoảnh khắc Một đứa trẻ được xác định là sinh ra và còn sống, khi sinh ra sống được năm phút, mười phút, một giờ, hai giờ hay một ngày, hai ngày Việc xác định sinh ra và còn sống là hết sức quan trọng, bởi hai sự kiện trên sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý rất khác nhau Để xác định chính xác tình trạng “còn sống” hay “đã chết” đối với một đứa trẻ sinh ra rồi mới chết cần căn cứ vào một số quy định pháp luật sau, Điều 23 Nghị định
số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định về đăng ký và quản lý
hộ tịch thì: “Trẻ em sinh ra và sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng
ký khai sinh và đăng ký khai tử Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ
tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ
“Trẻ chết sơ sinh”, Từ quy định này chúng ta có thể suy ra rằng một đứa trẻ sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên thì được coi là “sinh ra và còn sống”
Việc bảo lưu quyền thừa kế của thai nhi chỉ được thực hiện khi thai nhi đó đã thành thai trước khi người để lại di sản chết, quy định này chủ yếu nhằm mục đích xác định mối quan hệ huyết thống giữa người để lại di sản và với người thừa kế theo pháp luật của họ Người được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng trước đó
đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì mặc nhiên được coi là có quan hệ huyết thống với người để lại di sản Về vấn đề này chúng ta cần căn cứ vào một số văn
bản pháp luật sau, Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Con sinh
ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân là con chung của vợ chồng …” và khoản 2 Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày
03/10/2001 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã xác định theo phương pháp suy đoán một thai nhi tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa
kế, nếu trong khoảng thời gia này, đứa trẻ được sinh ra thì mặc nhiên sẽ được coi là thành thai trước thời điểm mở thừa kế, là người thừa kế của người để lại di sản4 Tuy nhiên, nếu có trường hợp đứa trẻ được sinh ra sau thời hạn này nhưng có căn cứ chứng minh là con đẻ của người chết thì hoàn toàn có quyền hưởng di sản của họ
Tổng kết vấn đề điều kiện của người thừa kế là cá nhân, chúng ta thấy người thừa kế là cá nhân phải thỏa mãn được các điều kiện là còn sống vào thời điểm mở điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành
4
Điều 21 Xác định con chung của vợ chồng
Trang 18thai trước khi người để lại di sản chết Đây là những điều kiện quan trọng để chúng ta xác định chính xác những cá nhân nào có quyền hưởng di sản của người chết
1.1.2.2 Người thừa kế là tổ chức
Ngoài người thừa kế là cá nhân, chúng ta còn có người thừa kế là cơ quan, tổ chức với tư cách là người thừa kế theo di chúc của người để lại di sản Như vậy, với tư cách là người thừa kế theo di chúc, cơ quan, tổ chức cũng phải đáp ứng những điều kiện nhất định của người thừa kế
Người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Tuy nhiên, nếu vào thời điểm mở thừa kế tổ chức còn tồn tại nhưng vào thời điểm phân chia di sản thừa kế cơ quan, tổ chức đó không còn tồn tại (do việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản) thì phần di sản khi chưa chia vẫn thuộc về cơ quan, tổ chức đó hay thuộc về một cá nhân, tổ chức nào đó hay di sản sẽ được coi là tài sản vô chủ và thuộc về Nhà nước? Hoặc trong trường hợp pháp nhân đó
bị giải thể, bị tuyên bố pháp sản vào thời điểm mở thừa kế, nhưng sau thời điểm đó lại được thành lập lại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì pháp nhân
đó có được quyền thừa kế di sản không?, về vấn đề này BLDS của chúng ta chưa có quy định cụ thể Đối với pháp nhân, tổ chức do hợp nhất, sáp nhập, chia, tách về bản chất là sự thay đổi phương thức tồn tại và đồng thời quyền và nghĩa vụ của pháp nhân,
tổ chức này sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới theo quy định của BLDS năm
2005, do đó phần di sản mà pháp nhân, tổ chức được hưởng sẽ thuộc về pháp nhân, tổ chức mới Nhưng đối với trường hợp pháp nhân, tổ chức đã bị giải thể, bị phá sản, năng lực chủ thể của pháp nhân, tổ chức đó đã chấm dứt, di sản sẽ được chia theo pháp luật (áp dụng tương tự đối với trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật)
1.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 19(quy định của luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ các thành viên trong gia đình) Xuất phát từ điều đó, BLDS năm 2005 quy định, khi người để lại di sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình mà không cho cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động hưởng di sản thì những chủ thể này vẫn được hưởng một phần di sản bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật Quy định này thể hiện sự phù hợp của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng với các phong tục, tập quán và truyền thống đạo đức của người Việt Nam ta
Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 669 BLDS năm 2005, “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần
ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều
643 của bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Quy định trên là một cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Tuy nhiên, quy định này mới chỉ đưa ra cho chúng ta biết những đối tượng nào có thể được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chưa đưa ra được khái niệm một cách khái quát về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Khi nghiên cứu về bất kì một vấn đề pháp lý nào chúng ta cũng cần có những cách hiểu khái quát về vấn đề đang nghiên cứu đó Như vậy, việc đưa ra một khái niệm về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, là một yêu cầu quan trọng khi nghiên cứu về vấn đề
này Ở Việt Nam, trong BLDS năm 2005 ngay cả khái niệm về “người thừa kế” cũng
chưa có một quy định cụ thể, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
có phải là người thừa kế hay không, nếu là người thừa kế thì là người thừa kế nào?, người thừa kế theo di chúc hay người thừa kế theo pháp luật? đây là những vấn đề cần
làm rõ trong khi tìm hiểu khái niệm về “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”
Từ điển giải thích luật học, giải thích vấn đề này như sau:
Trang 20Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hiểu là người thừa kế mà pháp luật quy định luôn được hưởng phần di sản nhất định nếu người để lại
di chúc không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn phần di sản đó Theo quy định của BLDS, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động và cha,
mẹ, vợ, chồng của gười để lại di sản là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Nếu người để lại di sản lập di chúc không cho những người này hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (nếu di sản đươc chia theo pháp luật) thì họ vẫn được hưởng di sản bằng hai phần
ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, trừ trường hợp họ không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
Mặc dù Điều 669 BLDS năm 2005 chưa đưa ra được khái niệm khái quát về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nhưng từ quy định này chúng
ta có thể nhận thấy rõ ba vấn đề sau:
Thứ nhất: Cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên mà
không có khả năng lao động là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, đồng thời những người này cũng là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 676 BLDS Như vậy, thực chất người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản Khi tài sản được chia theo pháp luật thì họ chính là những người thừa kế đầu tiên được xác định để hưởng di sản của người chết
Thứ hai: Những chủ thể trên chỉ có thể hưởng di sản theo Điều 669 khi người
để lại di sản có để lại di chúc và di chúc hợp pháp, nhưng trong di chúc họ không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc có cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật
Thứ ba: Người từ chối nhận di sản theo Điều 642 BLDS năm 2005 và người bị
tước quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 không thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản Bởi, người
từ chối nhận di sản là người có quyền được hưởng di sản nhưng bản thân họ đã tự mình khước từ quyền lợi đó, pháp luật tôn trọng và cho phép họ thực hiện quyền này, ngược lại, người bị tước quyền hưởng di sản là những người ban đầu họ là chủ thể có
Trang 21quyền hưởng nhưng do những hành vi nhất định của mình mà pháp luật tước đi quyền
Xác định được người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là ai, được hưởng di sản khi nào và phần di sản của họ được hưởng là bao nhiêu chúng ta cần phải dựa trên những căn cứ nhất định mới có thể xác định được một cách cụ thể Dựa vào khái niệm trên theo quan điểm của tác giả, chúng ta có các căn cứ sau:
1.2.2 Căn cứ xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1.2.2.1.Là người thuộc diện thừa kế và hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản
Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 quy định, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,
mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Đối chiếu quy định này với quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm: cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di chúc Như vậy, khi đối chiếu hai quy định này với nhau chúng ta thấy rằng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là những người có quan hệ gần gũi nhất của người chết Họ thực chất là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản Giữa họ và người chết có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng gần gũi nhất Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không phải ai khác mà chính là những người thuộc diện thừa kế và hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản Tuy nhiên, không phải tất cả người thừa
kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản đều là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Cụ thể, tất cả các con bao gồm cả con đẻ, con nuôi
Trang 22của người để lại di sản đều là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản nhưng những người con này chỉ có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc khi vào thời điểm mở thừa kế họ là người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động Như vậy, chúng ta thấy rõ ở đây diện những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản sẽ rộng hơn “diện” những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1.2.2.2.Là người không được người để lại di sản cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật
Là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản những người này có thể được hưởng di sản theo pháp luật, khi người để lại di sản không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp hoặc một số trường hợp khác mà pháp luật quy định Tuy nhiên, người có tài sản sau khi chết đi có thể lập
di chúc tự định đoạt tài sản của mình, theo sự định đoạt này thì một số người thừa kế trên có thể không được hưởng di sản hoặc được hưởng nhưng phần hưởng lại ít hơn phần di sản tối thiểu mà pháp luật quy định họ được hưởng Trong trường hợp này, mặc dù pháp luật tôn trọng ý chí của người để lại di chúc nhưng pháp luật cũng luôn bảo vệ quyền của một số người thừa kế nhất định và cho họ được hưởng phần di sản tối thiểu Do vậy, chỉ khi người để lại di sản không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật thì vấn đề thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mới đặt ra
1.2.2.3.Là người không từ chối nhận di sản, không bị tước quyền hưởng di sản
Khi xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, ngoài hai căn cứ nêu trên chúng ta còn phải dựa trên căn cứ thứ ba không kém phần quan trọng, đó là, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không được là người từ chối nhận di sản, người bị tước quyền hưởng di sản Bởi nếu rơi vào một trong hai trường hợp này thì bản thân những người này sẽ không được hưởng di sản theo Điều 669 BLDS Khi là người từ chối nhận di sản hoặc bị tước quyền hưởng di sản thì ngay cả những người thừa kế nói chung và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nói riêng đều không có quyền hưởng phần di sản mà đáng ra mình được hưởng
Vậy một lần nữa chúng ta phải khẳng định rằng để xác định được chính xác những chủ thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người
Trang 23để lại di sản chúng ta phải dựa trên đồng thời cả ba căn cứ nêu trên Có như vậy mới
có thể bảo vệ quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cũng như quyền lợi của những người thừa kế khác
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển các quy định của pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành pháp lệnh thừa kế năm 1990
1.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1945
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Việt Nam còn là một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến Bản chất của pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ giúp giai cấp này quản lý xã hội Do đó, ở giai đoạn này hệ thống pháp luật chỉ là công cụ của thực dân Pháp nhằm thực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Cộng hòa Pháp được biết đến là một nước có hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, song với bản chất của một nước đi xâm lược thì Pháp đã tận dụng những hủ tục phong kiến lạc hậu của xã hội phong kiến nước ta thời kỳ đó để xây dựng hệ thống pháp luật làm công cụ nhằm thực hiện âm mưu khai thác thuộc địa của mình Bởi thế, pháp luật dân sự Việt Nam ra đời trong giai đoạn này cũng chứa đựng bản chất thực dân- phong kiến khá rõ nét, được thể hiện cụ thể trong Bộ Dân luật Bắc Kì năm 1931, Dân luật Trung kì năm 1936 Tư tưởng trọng nam, khinh nữ của ý thức hệ phong kiến vẫn tồn tại phổ biến trong các quan hệ xã hội Do đó, quan hệ thừa kế trong giai đoạn này cũng chịu ảnh hưởng lớn của ý thức hệ trên Trong lĩnh vực thừa kế di sản, quyền bình đẳng
về thừa kế không được bảo đảm, quyền của người vợ bị hạn chế Khi người vợ chết trước, người chồng được thừa nhận là người chủ sở hữu duy nhất đối với toàn bộ tài sản riêng của vợ Ngược lại, nếu người chồng chết trước thì theo quy định tại Điều 346 Dân luật Bắc Kì và Điều 314 Dân luật Trung Kì, người vợ chỉ được quyền hưởng dụng tài sản riêng của mình Tức là người vợ hoàn toàn không được hưởng di sản thừa kế của người chồng để lại Do chịu ảnh hưởng tư tưởng của chế độ phong kiến nên cơ sở chính để xác định vấn đề thừa kế thời kì này là quan hệ huyết thống, còn quan hệ hôn nhân chỉ được coi là thứ yếu Từ những tư tưởng phong kiến lạc hậu, bất bình đẳng trên mà pháp luật thừa kế thời kì này mặc dù, đã thể chế hóa được quyền thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam nhưng nó vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng, tần dư của chế độ phong kiến Những quy định pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế thời nói riêng thời kì này vẫn còn mang tính “sơ khai” chưa đầy đủ Do đó,
Trang 24trong giai đoạn này vấn đề về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc chưa được đề cập đến
1.3.1.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế năm 1990
Trong giai đoạn từ năm 1945-1990, nước ta giành độc lập, pháp luật nói chung
và pháp luật về thừa kế nói riêng của chế độ mới đã được xây dựng, củng cố và hoàn thiện hơn
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước ta giành được độc lập và bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Mỗi Nhà nước đều có một hệ thống pháp luật riêng để làm công cụ hữu hiệu cho việc quản lý xã hội, thực hiện chức năng của Nhà nước Do vậy, cùng với việc củng cố chính quyền, củng cố nền kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc củng cố và phát triển hệ thống pháp luật của nước nhà Nền kinh tế có sự thay đổi, các mối quan hệ xã hội cũng có sự thay đổi dần dần để phù hợp với thực tiễn khách quan Nhiệm vụ của
hệ thống pháp luật lúc này là phải có sự điều chỉnh phù hợp với các quan hệ xã hội mới Hệ thống pháp luật thời kì này đã được hình thành và phát triển hơn, trong đó có quyền thừa kế của công dân cũng được coi trọng Pháp luật thừa kế của nhà nước ta giai đoạn này đã xóa bỏ nhưng tàn tích của chế độ phong kiến trong quan hệ thừa kế
và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình…loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn…người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản của chồng
Giai đoạn này, một loạt các văn bản pháp luật được ban hành và có quy định về vấn đề thừa kế như Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22 tháng 05 năm 1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong Dân luật để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam Đặc biệt trong thời kì này
có sự ra đời của bản Hiến pháp quan trọng, Hiến pháp năm 1946 Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về thừa kế nói riêng chưa có văn bản
nào có quy định đề cập tới “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”
Mặc dù, pháp luật thời kì này đã có sự phát triển hơn so với giai đoạn trước năm 1945, những tư tưởng phong kiến lạc hậu đã dần được xóa bỏ nhưng vấn đề bảo vệ quyền lợi của cá nhân một số người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc chưa được chú
Trang 25trọng Đó có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc chưa có quy định nào
trong các văn bản này đề cập về “người người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”
Cho đến năm 1981, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số TANDTC, ngày 24-7-1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, theo thông
81-tư này lần đầu tiên vấn đề về “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” được ghi nhận Cụ thể, “Người lập di chúc phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc (nếu có) Những người thừa kế bắt buộc gồm: vợ góa hoặc chồng góa, con chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động; bố mẹ già yếu và túng thiếu
Phần di sản dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc, ít nhất bằng 2/3 suất của thừa kế theo luật Nếu di chúc truất quyền thừa kế của người thừa kế bắt buộc hoặc phần dành cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít hơn 2/3 suất thì phải trích cho đủ…”
Như vậy, theo Thông tư số 81, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được xác định là những chủ thể sau: Vợ góa hoặc chồng góa, con chưa thành niên, còn đã thành niên nhưng không có khả năng lao động; bố mẹ già yếu và túng thiếu Trong thông tư gọi những người này là người thừa kế bắt buộc mà không gọi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Tuy nhiên, đây có thể được coi là những quy định đầu tiên, manh nha về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Để có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì bản thân những người này phải đáp ứng một số điều kiện nhất định sau: Cha, mẹ phải là người già yếu, túng thiếu, con đã thành niên thì là người không có khả năng lao động Đáp ứng được những điều kiện này thì họ mới có thể được hưởng phần di sản bắt buộc Thông tư số 81 –TANDTC quy định về người thừa kế bắt buộc được coi là một văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, là cơ sở quan trọng cho việc ghi nhận vấn đề này trong các văn bản pháp lý tiếp theo
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1996, cùng với sự phát triển của kinh tế-
xã hội ở nước ta, quyền dân sự cũng được củng cố và phát triển phù hợp Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 được bàn hành là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao
Trang 26đầu tiên quy định khá đầy đủ về vấn đề thừa kế ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi có Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995
Kế thừa các quy định tại Thông tư số 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 cũng có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, cụ thể: Điều 20 của pháp lệnh:
“Những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội của di chúc
Trong những trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng ít nhất hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh này:
a) Cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khả năng lao động và túng thiếu;
b) Con chưa thành niên”
Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 không những có sự kế thừa các quy định của Thông tư số 81 về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà
có sự phát triển, bổ sung để hoàn thiện hơn quy định này, cụ thể bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được
chia theo pháp luật (Điều 20) Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”
Sau Pháp lệnh thừa kế, BLDS năm 1995 của chúng ta ra đời và tiếp tục ghi nhận vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, tuy nhiên, BLDS
năm 1995 đã thay đổi cách gọi “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” thành “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” và được quy định tại Điều 672 BLDS
Hiện nay, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được quy
định tại Điều 669 BLDS, cụ thể: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người
Trang 27từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Như vậy, cả BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 đều có sự bổ sung và phát triển hơn so Thông tư số 81 và Pháp lệnh thừa kế năm 1990 về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Trong BLDS năm 1995 và năm 2005 đều
đã loại bỏ điều kiện già yếu và túng thiếu đối với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Thiết nghĩ, quy định này là một bước phát triển của pháp luật Dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng Bởi quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong các văn bản trên là một quy định mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiển được sự phù hợp của pháp luật với truyền thống đạo đức xã hội Người để lại di sản có toàn quyền định đoạt đối với tài sản của mình trước khi chết, nhưng sự định đoạt đó dù được pháp luật bảo hộ nhưng cũng không thể gây ảnh hưởng và xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế khác, những người mà khi còn sống người để lại di sản có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng họ
Theo chiều dài của lịch sử phát triển các quy định pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, chúng ta nhận thấy rõ được sự phát triển của các quy định pháp luật về vấn đề này, từ sự ghi nhận manh nha đầu tiên trong Thông tư số 81- TANDTC, ngày 24 -7 1981, cho đến Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và BLDS đầu tiên của nhà nước ta năm 1995 Trên tinh thần tiếp tục kế thừa và phát triển quy định này dựa trên các văn bản pháp lý trên BLDS năm 2005 hiện nay là văn bản pháp lý quan trọng ghi nhận vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của
di chúc tại Điều 669 Sự kế thừa và phát triển đó thể hiện sự phù hợp của pháp luật với
sự phát triển của các quan hệ xã hội, với phong tục, tập quán truyền thống đạo đức xã hội của nhân dân ta
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc nhận thức rõ về mặt lý luận đối với người thừa kế nói chung và người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nói riêng là điều hết sức quan trọng Dựa trên những cơ sở lý luận này chúng ta mới có thể có cái nhìn khái quát về người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, hiểu được một cách khái quát thế nào là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, so với những người thừa kế khác họ có những điểm gì khác biệt, điểm gì tương đồng Thực chất họ cũng chính là người những thuộc diện thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất của người để lại di sản Những căn cứ được đưa ra trong phần lý luận chung là cơ sở giúp chúng ta có thể xác định một cách chính xác phạm vi những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Phần lý luận là cơ sở, là tiền đề cho chúng ta dựa vào khi nghiên cứu về vấn đề này Phần cơ sở lý luận ở Chương I là nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định về vấn đề người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc trong phần Chương II
Trang 29Chương 2 NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH
2.1 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong mối quan hệ với người để lại di sản
2.1.1 Xác định theo quan hệ hôn nhân
Theo quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005, thì vợ hoặc chồng của người để lại di sản được xác định là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người đó Xét thấy, giữa những chủ thể này với người lập di chúc khi còn sống đã tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp Điều này xuất phát từ quy định tại khoản 6
Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 như sau, "hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Đồng thời cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật HN & GĐ quy định “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Như vậy, một quan hệ hôn nhân được
coi là hợp pháp nếu như nó tuân thủ đầy đủ các điều kiện và thủ tục của Luật HN &
GĐ về kết hôn Việc xác định một quan hệ hôn nhân có hợp pháp hay không có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi theo quy định của pháp luật, vợ, chồng là người thừa kế theo pháp luật của nhau, khi quan hệ hôn nhân giữa họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp Đồng thời, từ căn cứ đó có thể xác định vợ, chồng có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của nhau theo quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005 Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ hôn nhân được xác lập thông qua việc đăng ký kết hôn Thủ tục đăng ký kết hôn đều được quy định trong Luật HN & GĐ kể từ năm 1959 cho đến Luật HN & GĐ năm 1986 và hiện nay là Luật HN & GĐ năm 2000 Theo quy định của Luật HN & GĐ năm 2000, nam, nữ muốn xác lập quan hệ hôn nhân với nhau phải tiến hành các thủ tục về đăng kí kết hôn nhưng để tiến hành được các thủ tục này thì bản thân họ phải đáp ứng được các điều kiện về kết hôn do Luật HN & GĐ năm 2000 quy định tại các Điều 9, Điều 10, 11, và 14, như về độ tuổi kết hôn, về sự tự do ý chí,
tự nguyện trong kết hôn, không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, không vi phạm quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời và không phạm các điều cấm của pháp luật như: Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ
Trang 30kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính Người mất năng lực hành vi dân sự không được phép kết hôn
Khi đáp ứng được các điều kiện trên, các chủ thể kết hôn phải tiến hành thủ tục đăng kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Mặc dù, khi xác định một quan hệ hôn nhân được coi là hợp pháp chúng ta phải dựa trên các cơ sở pháp lí trên Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều cuộc hôn nhân không tiến bộ, trái với pháp luật hiện hành Nhằm để giải quyết dứt điểm những quan hệ vợ chồng không tuân thủ các qui định của Luật HN & GĐ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 qui định chi tiết về đăng kí kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc Hội về việc thi hành Luật
HN & GĐ năm 2000, tại Điều 2 quy định: Quan hệ vợ chồng chưa đăng kí kết hôn mà được xác lập trước ngày 3-1-1987, thì việc đăng kí kết hôn không bị hạn chế về thời gian.Tuy nhiên, nếu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3-1-1987 đến ngày 1-1-2001 mà có đủ điều kiện đăng kí theo quy định của luật HN & GĐ, thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn Từ sau ngày 1-1-2003 mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Luật HN &GĐ quy định cho các đối tượng này trong thời hạn 2 năm từ ngày 1-2001 đến ngày 1-1-2003 mà họ không đăng kí kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ không phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp Không chỉ có Nghị quyết số 35/2000/QH10
1-đã quy định về thời hạn giải quyết những quan hệ hôn thực tế cho đến ngày 1-1-2003
mà Luật HN & GĐ năm 2000 cũng không thừa nhận quan hệ hôn nhân thực tế, cụ thể
khoản 1 Điều 11 Luật HN & GĐ quy định “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”
Như vậy, các căn cứ pháp lý trên là cơ sở để chúng ta có thể xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa người vợ hoặc người chồng với người để lại di sản Nếu nam,
nữ chung sống với nhau trước ngày 3-1-1987 mà không có đăng ký kết hôn cho đến thời điểm người vợ hoặc người chồng chết thì quan hệ hôn nhân của họ vẫn được coi
là hợp pháp Nếu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3-1-1987 đến ngày 1-1-2001 mà có đủ điều kiện đăng kí kết hôn mà họ không đăng kí và trong thời hạn này một trong hai bên vợ, chồng chết thì người còn lại vẫn có thể được xác định là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của người để lại di sản Vì trong thời hạn từ ngày 1-1-2001 đến ngày 1-1-2003 là thời hạn để những người này thực
Trang 31hiện việc đăng kí kết hôn và pháp luật thừa nhận trong thời hạn này nếu họ có yêu cầu xin ly hôn thì tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết, như vậy được hiểu
là trong thời hạn này họ được coi là vợ chồng dù chưa đăng kí kết hôn Tuy nhiên, từ sau ngày 1-1-2003 nếu họ chưa đăng kí kết hôn và một trong hai bên chết thì người còn lại không được xác định là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản, vì quan hệ hôn nhân của họ với người để lại di sản tính đến thời điểm này không được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp
Tóm lại, việc xác định quan hệ hôn nhân giữa người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc với người để lại di sản là hết sức quan trọng Bởi chỉ có quan
hệ hôn nhân hợp pháp với người để lại di sản thì người vợ hoặc người chồng đó mới
có thể được xác định là người kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và quyền lợi của họ mới được bảo đảm
2.1.2 Xác định theo quan hệ huyết thống
Điều 36 Luật HN & GĐ năm 2000 quy định, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
và đồng thời con cái cũng phải có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Như vậy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con và giữa con với cha mẹ không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền của mỗi người Đây không chỉ là quyền và nghĩa vụ của mỗi người về mặt đạo đức xã hội mà nó còn là các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho những chủ thể này Xuất phát từ điều đó mà BLDS năm 2005 đã quy định cha, mẹ, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản Bởi việc người để lại di sản không cho những người này hưởng di sản hoặc hưởng ít hơn phần
di sản mà đáng lẽ họ được hưởng là một sự vi phạm nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng của người để lại di sản với những người này
Khi xem xét mối quan hệ giữa những chủ thể trên với người để lại di sản, chúng ta thấy rằng giữa họ được liên hệ với nhau bởi mối quan hệ huyết thống trực hệ
Theo quy định của luật thừa kế Việt Nam, quyền thừa kế theo pháp luật của con không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ Theo phân tích ở trên thì
Trang 32nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng kí kết hôn, kể từ ngày Luật HN & GĐ có hiệu lực thì không được coi là vợ chồng, tuy nhiên nếu họ có con chung với nhau thì những người con này vẫn đương nhiên được xác định là người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản nếu đáp ứng đủ điều kiện của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, bởi giữa họ với người để lại di sản thừa kế có quan hệ huyết thống với nhau Dù cha, mẹ họ có quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không cũng không ảnh hưởng đến quan hệ huyết thống giữa họ với cha, mẹ của mình Theo quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005, quy định cha, mẹ, các con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản là những chủ thể có quyền được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam luôn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người con xét về quan hệ huyết thống với cha, mẹ và nghĩa vụ của người làm cha, mẹ với con Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai hay con gái, con trong giá thú hay con người giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự, theo qui định của pháp luật họ đều là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản đồng thời họ còn là những chủ thể có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của người lập di chúc Cha đẻ, mẹ đẻ của con dù là con trong giá thú hay con ngoài gía thú, giữa họ vẫn luôn tồn tại quan hệ huyết thống với nhau, do vậy cha đẻ,
mẹ đẻ với các con đẻ thuộc “diện” thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của nhau
Việc xác định cha, mẹ và con có ý nghĩa rất quan trọng, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của cha, mẹ với con cũng như con với cha, mẹ Trong quan hệ thừa kế, xác định quan hệ huyết thống giữa những người này có ý nghĩa trong việc xác định người thừa
kế theo pháp luật của người để lại di sản nói chung và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nói riêng Việc xác định cha mẹ cho con được quy định trong Luật HN & GĐ cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan, cụ thể, Điều 63 Luật HN & GĐ năm 2000 quy định:
1 “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân là con chung của vợ chồng
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng
Trang 332 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”
Dựa vào quy định trên, trong thời kì hôn nhân mà người vợ sinh con, về nguyên tắc con đó được xác định là con chung của hai vợ chồng, hay nói cách khác người chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó
Ngoài ra, cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 63 nói trên, được coi là “người
vợ có thai trong thời kì hôn” là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu trong thời hạn 300 ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng được xác định là “con chung” của hai vợ chồng, tức là người chồng của mẹ đứa trẻ đã chết, hoặc đã ly hôn sẽ được “suy đoán” là cha của đứa trẻ đó.5
Trong thực tế, có nhiều trường hợp mặc dù, con được sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng người chồng không thừa nhận đó là con đẻ của mình vì nhiều lý do khác nhau Trong trường hợp này việc xác định cha mẹ cho con phải có chứng cứ và được tòa án xác định
Trường hợp giữa cha, mẹ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc xác định cha mẹ cho con không thể xác định bằng nguyên tắc được quy định trong Điều 63 nêu trên Trong trường hợp này các bên phải đưa ra được chứng cứ để xác định quan
hệ giữa cha mẹ và con, có thể bằng con đường xác định AND để xác định quan hệ huyết thống
Hiện nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển mạnh, vấn đề thụ tinh trong ống nghiệm đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và ở nước ta cũng đã có nhiều thành công trong lĩnh vực này Vì vậy, việc xác định cha, mẹ cho con được sinh
ra theo phương pháp khoa học không những là vấn đề nhân đạo mang tính xã hội, mà còn là một vấn đề pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các quyền nhân thân và quyền tài sản của công dân, trong đó có quyền thừa kế tài sản Việc xác định cha mẹ cho con theo phương pháp khoa học được quy định tại Điều 20 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ quy định về sinh con theo phương pháp khoa học như
5
Xem: Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 34sau: “ 1 Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người
mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân
2.Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”
Quy định trên là căn cứ giúp chúng ta xác định cha mẹ cho con trong trường hợp đứa trẻ được sinh ra theo phương pháp khoa học Từ quy định này có thể hiểu chồng của mẹ đứa trẻ được sinh ra bằng phương pháp khoa học được xác định là cha của đứa trẻ đó
Đối với trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học khi xác định cha, mẹ cho con, phát sinh một vấn đề chúng ta cần trao đổi ở đây, trường hợp một cặp vợ, chồng vì rất yêu thương nhau, vì biết mình bị bệnh không còn sống được bao lâu nên trước khi chết người chồng có để lại tinh trùng của mình ở ngân hàng tinh trùng và ba năm sau vì thương nhớ người chồng đã mất, người vợ đã tiến hành thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng đã mất đó Như vậy trong trường hợp này đứa trẻ sinh
ra có được coi là con đẻ của người chồng đã chết hay không? Và nếu là con đẻ của người chồng đã chết thì đứa trẻ có phải là người thừa kế theo pháp luật và có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của người để lại di sản hay không?
Trường hợp này, theo quan điểm của tác giả xét về mặt huyết thống đứa trẻ đó sinh ra có thể được xác định là con đẻ của người chồng đã mất, tuy nhiên đứa trẻ đó không được coi là người thừa kế theo pháp luật hay người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản mặc dù xét trong mối quan hệ với người để lại di sản người này có quan hệ huyết thống với người để lại di sản Bởi, theo
quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005 “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết…” Đối chiếu quy định này, thì
trường hợp nêu trên đứa trẻ đó mặc dù có quan hệ huyết thống hay nói cách khác là con đẻ của người để lại di sản nhưng lại không đáp ứng được các điều kiện về người thừa kế được quy định tại Điều 635 nêu trên(đứa trẻ được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế là 4 năm, tức là vào thời điểm mở thừa kế đứa trẻ không tồn tại), do vậy, đứa trẻ đó không thể trở thành người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 35của người chết Hơn nữa theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ quy định về sinh con theo phương pháp khoa học, thì con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho noãn cho trứng, cho phôi Như vậy, trong trường hợp này đứa trẻ đó không được xác định là người thừa kế của người chết
Việc xác định quan hệ huyết thống giữa cha, mẹ và con là hết sức quan trọng trong tất cả các trường hợp, bởi đó là cơ sở để xác định chủ thể thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 669 BLDS Tuy nhiên, không phải tất cả những người có quan hệ cha, mẹ, con với nhau đều có thể là người thừa kế theo pháp luật của nhau nói chung và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nói riêng Khi xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mới chỉ là đi xác định điều kiện cần của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Để có thể xem xét xem họ có phải
là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản hay không còn phải xem xét them các điều kiện đủ khác nữa (vấn đề này sẽ được trình bày
ở phần tiếp theo)
2.1.3 Xác định theo quan hệ nuôi dưỡng
Điều 669 BLDS năm 2005 quy định, các con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Các con ở đây bao gồm: con đẻ (người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản) và con nuôi (người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản) của người để lại di sản Quan hệ giữa con nuôi với cha
mẹ nuôi được pháp luật quy định như sau: “Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ” Quy định này được hiểu là giữa con đẻ với con nuôi đều có quyền và nghĩa
vụ như nhau, có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ và được cha, mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, có quyền thừa kế di sản của cha, mẹ khi cha, mẹ chết đi Và đều
có thể được xác định là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi dược quy định tại Điều 74 Luật HN
& GĐ năm 2000
Luật HN & GĐ năm 2000 quy định về điều kiện nhận nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của người là cha nuôi, mẹ nuôi đối với con nuôi, quyền và nghĩa vụ của người con nuôi đối với cha, mẹ nuôi; thủ tục nhận nuôi con nuôi…Hiện nay, tất cả
Trang 36những vấn đề liên quan đến việc nhận con nuôi được quy định trong Luật nuôi con nuôi năm 2010 Như vậy, quan hệ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi được xác lập trên cơ sở của việc nhận nuôi, việc nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng các điều kiện cũng như thủ tục được quy định trong Luật nuôi con nuôi năm 2010 Tuy nhiên, trên thực tế có những quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi với người con nuôi rất gắn bó, tuy rằng việc nhận nuôi con nuôi đó đã không tuân thủ theo những thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, như việc nuôi dưỡng đã diễn ra từ rất lâu nhưng giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi vẫn chưa tiến hành thủ tục đăng ký theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010, vậy trường hợp này sẽ giải quyết thế nào?,quan hệ nuôi dưỡng giữa họ có được pháp luật thừa nhận hay không? Nhằm giải quyết vấn đề này, Điều 23 Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/03/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định như sau:
“1.Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi
2.Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới của nước láng giềng làm con nuôi trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa đang ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”
Theo quy định trên nếu việc nuôi dưỡng đã được hình thành từ trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa được đăng ký thì sẽ phải tiến hành thủ tục đăng ký trong thời hạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015, đây là khoảng thời gian mà luật quy định để những người trường hợp nuôi con nuôi thực tế tiến hành việc đăng ký Sau thời điểm này mà việc nhận nuôi con nuôi không được đăng ký thì quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi không được pháp luật thừa nhận
Quan hệ nuôi dưỡng không chỉ phát sinh giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi mà còn có thể phát sinh giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng Theo quy định của pháp luật thì giữa người con riêng với cha dượng, mẹ kế đã thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì họ được thừa kế theo pháp luật của nhau (Điều 679 BLDS năm 2005 quy định về quan hệ thừa kế giữa cha
Trang 37dượng mẹ kế với con riêng) Điều 38 Luật HN & GĐ năm 2000 quy định bố dượng,
mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng chung sống với mình và đã thể hiện được nghĩa vụ của người cha, người mẹ đối với con, thì theo quy định của pháp luật họ thuộc diện thừa kế của nhau Nếu con riêng của người vợ , người chồng mà chết trước cha dượng, mẹ kế của mình thì con của họ được thừa kế
thế vị nhận di sản của ông bà kế khi qua đời “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế tài sản của nhau và còn được thừa kế theo quy định tại Điều 676, Điều 677 bộ luật này”
Việc xác định con riêng với cha dượng, mẹ kế có được quyền hưởng di sản của nhau hay không dựa trên điều kiện: Giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con
Quy định trên mang tính chung chung, dẫn đến thực trạng nhiều tòa án có cách hiểu và cách áp dụng khác nhau trong cùng một sự kiện Có sở nào để xác định điều kiện có sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con? Pháp luật cũng không chỉ rõ việc nuôi dưỡng phải được thể hiện từ hai phía hay một phía Đây là một vấn đề
mà BLDS cũng như các văn bản pháp luật liên quan phải có những quy định cụ thể, để
từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Thiết nghĩ, tránh tình trạng xảy ra các tranh chấp liên quan cũng như thiếu căn cứ trong quá trình áp dụng pháp luật, các nhà làm luật cần có những quy định hướng dẫn cụ thể về vấn đề hiểu thế nào là có quan hệ nuôi dưỡng như cha con, mẹ con giữa những người là con riêng với cha dượng, mẹ kế
Quan hệ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng là cơ sở để chúng ta xác định những chủ thể có quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của người để lại di sản Mặc dù, trong BLDS năm 2005 không quy định cụ thể cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, nhưng căn cứ vào các quy định tại Điều 679 BLDS, Điều 676 BLDS năm 2005 chúng ta thấy rằng, cha dượng,
mẹ kế với con riêng có quyền thừa kế di sản của nhau theo quy định của pháp luật, do vậy việc cha dượng, mẹ kế và con riêng có thể được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần của BLDS
2.2 Điều kiện của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 38Như đã phân tích ở các phần trên, chúng ta thấy rằng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thực chất là người thừa kế theo pháp luật và thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản Là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản cho nên người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc chỉ có thể là cá nhân Theo quy định của pháp luật, điều kiện của người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Như vậy, với tư cách là người được hưởng di sản của người chết bản thân những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc phải đáp ứng được điều kiện chung của người thừa kế, ngoài ra với tư cách là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì những người này còn phải đáp ứng được các điều kiện khác của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, cụ thể như sau:
2.2.1 Không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật
* Không được người để lại di chúc cho hưởng di sản
Khi tiến hành phân chia di sản của người chết để lại, nguyên tắc đầu tiên mà chúng ta cần phải tuân thủ đó là tôn trọng ý chí định đoạt của người để lại di chúc thể hiện trong nội dung của di chúc Tức là đối với trường hợp phân chia di sản thừa kế
mà người chết có để lại di chúc thì chúng ta cần phải tuân thủ theo nội dung của di chúc (điều kiện di chúc hợp pháp) Di sản được phân chia cho ai, phân chia như thế nào…phải tuân thủ theo đúng nội dung của di chúc Tuy nhiên, đối với trường hợp có những người thuộc Điều 669 BLDS thì việc phân chia này cũng có phần hạn chế nhất định Trường hợp, người để lại di sản có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động còn sống mà người này không cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật thì chúng ta phải xác định những người này là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, mặc dù có thể trong di chúc không xác định cho họ được hưởng di sản
Vấn đề đặt ra, hiểu thế nào là không được người để lại di chúc cho hưởng di sản? Pháp luật không có quy định rõ về vấn đề này Theo quan điểm của tác giả không được người để lại di chúc cho hưởng di sản có thể hiểu theo hai cách sau:
Trang 39Thứ nhất: Bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản
Điều 648 BLDS năm 2005 quy định, người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Với tư cách là chủ sở hữu của tài sản, người để lại di sản khi còn sống là chủ sở hữu đối với tài sản hợp pháp của mình, quyền sở hữu là một quyền tuyệt đối và nó được pháp luật thừa nhận và bảo hộ đới với cá nhân không chỉ khi cá nhân đó còn sống mà ngay cả khi cá nhân đó chết đi Do đó, việc định đoạt tài sản cho ai, truất quyền hưởng di sản của ai là quyền của người lập di chúc và quyền này được pháp luật thừa nhận
Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế là một trong những quyền năng của người lập di chúc Hiện nay, vấn đề này chưa được quy định một cách thống nhất
Do vậy, về vấn đề này các luật gia của chúng ta còn có nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất: Truất quyền được nói rõ: Là việc người lập di chúc
tuyên bố một cách minh bạch trong di chúc rằng một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật không có quyền hưởng di sản6
Quan điểm thứ hai: Truất quyền hưởng di sản không được nói rõ: Là việc
người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người để hưởng toàn bộ di sản nhưng lại không nói gì đến những người thừa kế theo pháp luật không được chỉ định Khi đó người thừa kế không được chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản không được nói rõ7 Tác giả của quan điểm này còn cho rằng người bị truất quyền hưởng di sản không mất tư cách của người thừa kế mà họ có do được luật định
Theo quan điểm của tác giả, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, đó là truất quyền hưởng di sản thừa kế là việc người lập di chúc tuyên bố một cách minh bạch trong di chúc rằng một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật không được quyền hưởng di sản Theo quan điểm này, người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế phải được người lập di chúc chỉ rõ họ, tên và chỉ rõ người đó bị truất quyền hưởng di sản Theo quy định tại khoản 1 Điều 648 BLDS năm 2005, chúng ta thấy rằng người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế luôn là người thừa kế theo pháp luật hay nói cách khác là người có quyền hưởng di sản thừa kế theo luật, do đó khi họ bị truất quyền đó thì lẽ đương nhiên họ không phải là người thừa kế theo luật của người lập di chúc nữa
Trang 40Hay chính là người thừa kế đã bị truất quyền hưởng di sản sẽ mất tư cách người thừa
kế mà họ có được do luật định
Trong trường hợp này người bị truất quyền hưởng di sản không được hưởng di sản của người lập di chúc dưới bất kì hình thức nào kể cả theo di chúc hay theo pháp luật, trừ trường hợp họ là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Việc quy định như vậy là dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí định đoạt của người lập
di chúc Ngược lại, người bị truất quyền thừa kế là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì họ vẫn có quyền được hưởng một phần di sản nhất định theo quy định tại Điều 669 BLDS Đây là một sự hạn chế về quyền định đoạt của người lập
di chúc, nhưng nó bảo đảm sự phù hợp giữa các quy định của pháp luật với các quy phạm đạo đức xã hội
Thứ hai: Là người thừa kế theo pháp luật không được chỉ định trong di chúc
Trường hợp người thừa kế theo pháp luật của người để lại di chúc nhưng không được chỉ định trong di chúc cũng là người không được hưởng di sản theo di chúc nhưng họ lại không phải là người bị truất quyền hưởng di sản vì họ không bị người lập di chúc chỉ định một cách minh bạch, rõ ràng trong di chúc là truất quyền hưởng di sản, do vậy, bản thân những người này không bị mất tư cách người thừa kế
mà họ có do luật định Tức là trong trường hợp có một phần di sản nào đó được chi theo pháp luật thì những người này vẫn có quyền hưởng và ngoài ra họ cũng có thể được hưởng một phần di sản khác với tư cách là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, nếu họ thuộc trường hợp được quy định tại Điều 669 BLDS năm
2005
Như vậy, không được người để lại di chúc cho hưởng di sản có thể xảy ra trong hai trường hợp: một là bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản được nêu trong di chúc, hai là không được người để lại di chúc chỉ định trong di chúc
* Cho hưởng nhưng ít hơn hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật
Cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không
có khả năng lao động mặc dù có thể được người lập di chúc cho hưởng di sản theo di chúc, nhưng phần di sản được hưởng đó ít hơn 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật (hai phần ba một suất thừa kế theo luật sẽ được đề cập cụ thể tại mục 2.3.1), thì những người này vẫn được hưởng một phần di sản ít nhất bằng 2/3 một suất thừa kế đó với tư cách là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Hai phần ba một suất