1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn tại huyện phúc thọ, thành phố hà nội hiện nay

77 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 624,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; “ Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”, Đào Trí Úc chủ biên

Trang 1

HOÀNG MINH PHƯỢNG

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TIỄN

TẠI HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60380101

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS CHU HỒNG THANH

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi

Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Minh Phượng

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 6

1.1 Khái niệm, chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật 6

1.2 Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật 14

1.3 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện 18

1.3.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện 18

1.3.2.Đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện 19

1.4 Sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TIỄN TẠI HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HIỆN NAY 33

2.1 Khái quát về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện 33

2.1.1 Thực trạng về công tác giáo dục pháp luật nói chung và trên địa bàn huyện Phúc Thọ nói riêng 33

2.1.2 Những kết quả của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Phúc Thọ 38

2.2 Những ưu điểm và các mặt hạn chế trong công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện tại huyện Phúc Thọ trong thời gian qua 44

2.2.1 Những ưu điểm 44

2.2.2 Những hạn chế trong công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức 45 2.2.3 Nguyên nhân cơ bản của một số hạn chế nêu trên 46

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN HIỆN NAY 49

3.1 Phương hướng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện hiện nay 49

Trang 4

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện ở cả Trung ương và địa phương 53 3.2.2 Xác định cụ thể, đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật phù hợp cho cán bộ, công chức cấp huyện 55 3.2.3 Kết hợp giáo dục pháp luật gắn với củng cố chuyên môn và bồi dưỡng

về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức 60 3.2.4 Công tác giáo dục pháp luật cần xuất phát đặc thù của cán bộ, công chức cấp huyện với các cấp khác 61 3.2.5 Tăng cường đầu tư, bảo đảm kinh phí, xây dựng cơ chế phối hợp thực hiện giữa các cơ quan, tổ chức trong hoạt động giáo dục pháp luật cho cán

bộ, công chức 62 3.2.6 Thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá và có các hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với hoạt động giáo dục pháp luật cho cán

bộ, công chức cấp huyện 64 3.2.7 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo của chính quyền đối với công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức 65

KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật luôn giữ một vị thế vô cùng quan trọng trong việc duy trì trật tự

kỷ cương; thúc đẩy Nhà nước phát triển lớn mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Muốn xây dựng được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành công thì bên cạnh điều kiện cần là ban hành một hệ thống pháp luật đầy

đủ, đồng bộ phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội nước ta, còn phải có điều kiện đủ là đưa được hệ thống pháp luật vào cuộc sống, làm cho mọi thành viên trong xã hội đều nhận thức được các qui định của pháp luật, xây dựng được lòng tin vào ý thức pháp luật, tự giác tham gia vào các lĩnh vực đời sống pháp luật, tạo điều kiện cho nhà nước quản lý bằng pháp luật

Trong đó xây dựng nền hành chính Việt Nam trong sạch, vững mạnh là một tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nền hành chính đó đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ vững vàng về bản lĩnh chính trị, có đạo đức, lối sống lành mạnh, mà còn phải có kiến thức, hiểu biết pháp luật ở trình độ cao và tinh thông nghiệp vụ, bởi lẽ, cán bộ, công chức là khâu chủ yếu để thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước phải được cán bộ, công chức triển khai thì mới có thể đi vào trong đời sống xã hội được Cán bộ, công chức là những người trực tiếp chuyển

“pháp luật trên giấy tờ” thành “pháp luật trong hành động” Vì vậy, để quản lý được nhà nước và xã hội bằng pháp luật có hiệu quả, để pháp luật đi vào cuộc sống thực sự phát huy được tác dụng thì yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là Nhà nước ta phải quan tâm đến hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, đặc biệt đội ngũ cán bộ, công chức phải được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật và có ý thức pháp luật ở trình độ cao để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Trang 6

Chính vì vậy, song song với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Đảng và Nhà nước ta luôn coi hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức là một phương thức chiếm vị trí, vai trò vô cùng đặc biệt của sự tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Trên tinh thần quán triệt

đó, trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được cấp

ủy Đảng và chính quyền huyện Phúc Thọ coi trọng và xác định là mục tiêu theo đuổi lâu dài trong quá trình quản lý nhà nước ở địa phương Đồng thời xem đây

là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống chính trị ở địa phương

Với nhiều hình thức, phương tiện tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phong phú như hiện nay, hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện đã được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, kịp thời và không ngừng được nâng cao, hoàn thiện cả về nội dung lẫn phương thức thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả tích cực

Tuy nhiên hiện nay, qua các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy: ở nhiều địa phương, việc vi phạm pháp luật, làm trái pháp luật của cán bộ, công chức không phải ít Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến vi phạm đó, có một nguyên nhân cơ bản, đó là cán bộ, công chức chưa nắm vững kiến thức về nhà nước và pháp luật Vì vây, làm thế nào để tất cả cán bộ, công chức trên địa bàn huyện khi đã tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội phải nắm bắt, am hiểu pháp luật một cách chặt chẽ, áp dụng pháp luật một cách đúng đắn trước hết là trong lĩnh vực mình quản lý đang được xem là vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ nhận thức đó, tôi đã chọn đề tài: “ Hoạt động giáo dục pháp

luật cho cán bộ, công chức cấp huyện qua thực t iễn tại huyện Phúc Thọ ,Thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

Trang 7

cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; “ Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”, Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, của Viện nghiên cứu

khoa học pháp lý, Bộ tư pháp, Hà Nội, 1995; “ Một số vấn đề giáo dục pháp luật

ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “ Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ( không chuyên luật) ở nước ta hiện nay”, Luận án phó tiến sĩ luật học của

Đinh Xuân Thảo, 1996; “ Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp – hình thức

đặc thù của giáo dục pháp luật”, Luận án phó tiến sĩ của Dương Thanh Mai,

1996; “ Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta – Thực trạng và

giải pháp”, Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng, 1997; “ Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, của Vụ phổ biến giáo dục pháp luật ,

Bộ tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997; “ Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống

các trường Chính trị ở nước ta hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Khoa nhà

nước-pháp luật, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999; “ Đổi mới giáo

dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc

sĩ của Nguyễn Ngọc Hoàng, 2000; Đề tài “ Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý

thức và lối sống theo luật pháp” trong chương trình khoa học công nghệ cấp

Nhà nước ; tác giả Đào Duy Tấn trong luận án Tiến sĩ Triết học “ Những đặc

điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Hà Nội,

2000 Một số bài viết trên các tạp chí, như: “ Làm thế nào để xây dựng ý thức

pháp luật và lối sống theo pháp luật”, tác giả Đào Trí Úc – Tạp chí nhà nước và

pháp luật, số 4/1993 Các giáo trình: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Luật hành chính của các cơ sớ đào tạo luật học, hành chính cũng có một số chương đề cập đến vấn đề này

Các công trình nghiên cứu trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ Tuy nhiên có thể nói rằng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

Trang 8

đầy đủ và có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp huyện nói riêng Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã

kế thừa và vận dụng có chọn lọc những tri thức khoa học đã có, đồng thời phát triển những tri thức khoa học đó, kết hợp với những sáng tạo mới của mình, nhằm tiếp tục phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng liên quan tới hoạt động giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán

bộ, công chức cấp huyện nói riêng, qua khảo sát tại một huyện cụ thể trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp Huyện hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Phân tích cơ sở lý luận chung về giáo dục pháp luật, trên cơ sở đó làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện nói riêng

Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện hiện nay

Từ thực trạng đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện

4 Phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng: luận văn nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công

chức cấp huyện

Về địa bàn khảo sát: Học viên chỉ tập trung tiến hành thực tế tại huyện

Phúc Thọ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ( vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử ).Trong quá trình thực hiện luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, lịch sử - cụ thể; Đồng thời, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: thống kê, so sánh, điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức cấp huyện; đánh giá về thực trạng, tìm

ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cơ bản trong công tác xây dựng ý thức pháp luật Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng dạy về nhà nước và pháp luật tại các cơ sở đào tạo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp

huyện qua thực tiễn tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp

luật cho cán bộ, công chức cấp huyện hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN

1.1 Khái niệm, chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật

* Khái niệm giáo dục pháp luật:

Giáo dục pháp luật là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và pháp luật Hiện nay trong khoa học pháp lý Việt Nam đang tồn tại nhiều quan điểm về giáo dục pháp luật Từ nhiều góc độ tiếp cận rộng, hẹp khác nhau tuỳ theo cơ sở xuất phát để nghiên cứu và vận dụng vào quá trình giáo dục pháp luật

cụ thể

Có khái niệm cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức Nghĩa là, nếu tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức là đã có thể đạt được sự tôn trọng pháp luật, ý thức pháp luật và

tự khắc trên thực tế sẽ có được “sản phẩm phụ” là một công dân với ý thức chấp hành pháp luật cao Chính vì vậy giáo dục pháp luật không được đặt ra như một hoạt động độc lập, dẫn đến việc chậm chạp trong việc đưa môn giáo dục pháp luật vào giảng dạy trong các trường học

Một quan điểm khác lại đồng nhất giáo dục pháp luật với hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật và giới thiệu các văn bản pháp luật Theo quan điểm này thì việc giáo dục pháp luật chẳng qua chỉ là công việc của các phương tiện thông tin đại chúng, của các đợt tuyên truyền, giới thiệu các văn bản pháp luật mới hoặc khi cần thiết

Lại có quan điểm còn phủ nhận giáo dục pháp luật, cho rằng không có khái niệm giáo dục pháp luật, bởi vì pháp luật là các qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân thủ, giáo dục pháp luật thực chất chỉ là phổ biến pháp luật và nội hàm của nó không bao hàm tuyên truyền, giải thích pháp luật

Có thể nói những quan niệm trên đều hiểu một cách phiến diện, giản đơn

về giáo dục pháp luật cũng như đã đánh giá thấp vai trò của giáo dục pháp luật,

Trang 11

chưa thấy được vai trò của giáo dục pháp luật trong đời sống xã hội, trong công cuộc xây dựng, hội nhập và phát triển hiện nay Vì vậy chưa đưa ra được một khái niệm chính xác, khoa học, phản ánh đủ, đúng bản chất và vai trò của giáo dục pháp luật

Để xây dựng một khái niệm đúng đắn về giáo dục pháp luật, trước hết phải xuất phát từ khái niệm giáo dục pháp luật Theo Từ điển Tiếng việt thì: “ giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất năng lực như yêu cầu đặt ra [ 27 tr.394].”

Khái niệm giáo dục pháp luật thường được hiểu ở hai cấp độ khác nhau:

Theo nghĩa rộng, giáo dục pháp luật là quá trình hình thành ý thức pháp luật

và văn hoá pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan ( chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội, môi trường sống ) là nhân tố ảnh hưởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân

tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo chiều hướng xác định nhằm đạt được mục đích của chủ thể tác động

Theo nghĩa hẹp, giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ

chức, có chủ định của cơ quan, tổ chức và cá nhân( chủ thể giáo dục) tác động lên đối tượng giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật

Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm giáo dục pháp luật về cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, tôi cho rằng, giáo dục pháp luật cần được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm, nghĩa là chỉ bao gồm tác động có tính chất, chủ động, định hướng của nhân tố chủ quan lên đối tượng giáo dục Sở

dĩ như vậy là vì:

Thứ nhất: Sự hình thành và phát triển ý thức con người là sản phẩm của

một quá trình ảnh hưởng, tác động đồng thời của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Các điều kiện khách quan như: chế độ chính trị, kinh tế, văn

Trang 12

hoá, môi trường có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức của con người, đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người Sự thay đổi các điều kiện khách quan

có thể sẽ kéo theo sự thay đổi ý thức con người Tuy nhiên sự tác động của nhân

tố chủ quan có ảnh hưởng rất lớn, nếu đặt trong những hoàn cảnh cụ thể nó có tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển ý thức con người Đó là những hoạt động chủ động, có định hướng, có tổ chức, có mục đích do con người thực hiện Khi con người được cung cấp những tri thức khoa hoc, tri thức

về cuộc sống thì trong họ sẽ dần dần hình thành lòng tin, tình cảm từ đó họ sẽ tự nhận thức đúng đắn và điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp với đòi hỏi của xã hội Vì thế quá trình giáo dục phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, có định hướng, có tổ chức chặt chẽ Mặt khác cần giảm tối thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố khách quan lên đối tượng giáo dục Trong điều kiện hiện nay hoạt động giáo dục pháp luật cần phải có nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp

Thứ hai: giữa giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp với giáo dục nói chung có

mối quan hệ “cái riêng” và “cái chung” Giáo dục pháp luật là “cái riêng” còn giáo dục là “cái chung”, cái phổ biến Từ mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng này chúng ta rút ra được những đặc điểm chung cũng như những đặc điểm riêng của giáo dục pháp luật Là một bộ phận, một loại hình của giáo dục, giáo dục pháp luật sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện của giáo dục nói chung, đồng thời nó còn có tính đặc thù về nội dung, phương pháp, hình thức và phương tiện giáo dục Nó có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với các loại hình giáo dục khác như: giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm giáo dục pháp luật như sau:

giáo dục pháp luật là hoạt động có chủ định, có định hướng, có tổ chức của cơ quan, tổ chức và cá nhân để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, niềm tin pháp luật, thói quen chấp hành và sử dụng pháp luật một cách tự giác, tích cực, chủ động

Trang 13

Vậy là giáo dục pháp luật có ba mục đích :

- Mục đích cung cấp, từng bước làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của công dân ( mục đích nhận thức)

- Mục đích hình thành tình cảm và niềm tin đối với pháp luật ( mục đích cảm xúc)

- Giáo dục pháp luật nhằm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực của công dân ( mục đích hành vi)

Chủ thể giáo dục pháp luật chuyên nghiệp là những người có chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý chủ yếu, trực tiếp và thường xuyên thực hiện các mục đích, nội dung của giáo dục pháp luật Đây là những chủ thể quan trọng

và chủ yếu của giáo dục pháp luật Những chủ thể chuyên nghiệp bao gồm các

tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, các tổ chức chính trị xã hội, hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật các cấp, các tổ chức kinh tế, các

cơ sở đào tạo pháp luật, các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, các cộng tác viên pháp luật…

Chủ thể của giáo dục pháp luật không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ chức mà chức năng, nhiệm vụ chính của họ không phải là giáo dục pháp luật, nhưng khi thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình như hoạt động xét xử của toà án; hoạt động bào chữa, tư vấn của luật sư; hoạt động điều tra, truy tố của cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện công tác giáo dục pháp luật Nếu so sánh với các chủ

Trang 14

thể chuyên nghiệp thì các chủ thể không chuyên nghiệp mặc dù hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật không toàn diện, liên tục, không cao bằng các chủ thể chuyên nghiệp Tuy không có chức năng, nhiệm vụ giáo dục pháp luật, nhưng các chủ thể không chuyên nghiệp cũng đóng một vai trò quan trọng trong công tác giáo dục pháp luật và nó cùng với chủ thể chuyên nghiệp góp phần tích cực tạo nên hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật, đáp ứng được mục đích, yêu cầu và nội dung của công tác giáo dục pháp luật hiện nay của nước ta Các chủ thể không chuyên nghiệp bao gồm: Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các luật sư, luật gia, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, các cán bộ trong các cơ quan tư pháp, cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức nhà nước…

Ngoài ra, công dân cũng được coi là chủ thể của giáo dục pháp luật, vì bằng sự hiểu biết pháp luật, bằng ý thức trách nhiệm công dân của mình và trước hết là bằng sự gương mẫu thực hiện đúng, đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương thì mỗi công dân cũng là tấm gương sáng cho mọi người học tập, noi theo; đồng thời họ vận động người thân, người dân cùng xóm làng chấp hành nghiêm chỉnh

Chủ thể của giáo dục pháp rất đa dạng, phong phú Việc xác định các chủ thể trong giáo dục pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc đề cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia thực hiện nhiệm vụ giáo dục pháp luật

* Đối tượng giáo dục pháp luật:

Bản thân hoạt động giáo dục pháp luật hướng đến nhiều đối tượng khác nhau với những mục đích cụ thể

Đối tượng trong giáo dục pháp luật: là công dân được tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp những tác động của các hoạt động giáo dục pháp luật do các chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt mục đích giáo dục pháp luật đã đặt ra

Đối tượng giáo dục pháp luật rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, dựa vào các yếu tố như điều kiện đời sống vật chất, tinh thần, các yếu tố dân tộc, địa lý, giới tính, lứa tuổi, học vấn, địa vị xã hội của mỗi công dân, dựa vào yêu cầu thực

Trang 15

tế của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và nhất là các chủ trương thực hiện phổ

biến, giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, công chức, trong các

tầng lớp nhân dân lao động… theo tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của

cán bộ và nhân dân; Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyết định số

03/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

từ năm 1998 đến năm 2002; Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ về phê duyệt Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật từ năm 2003 -

2007; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt

Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp

luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 - 2010 thì đối

tượng phổ biến, giáo dục được phân loại như sau:

 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là công chức nhà nước

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Mỗi cán bộ,

viên chức nhà nước phải xác định rõ việc học tập, nghiên cứu để hiểu biết pháp

luật, thi hành nghiêm chỉnh pháp luật là trách nhiệm của mình Cán bộ, viên

chức nhà nước phải là những người gương mẫu trong việc giữ gìn kỷ cương,

phép nước và góp phần thực hiện giáo dục pháp luật trong nhân dân”

Loại đối tượng này có đặc điểm là theo chức năng, nhiệm vụ của mình họ

vẫn là đối tượng cần được phổ biến, giáo dục pháp luật tức là cần được trang bị

những hiểu biết cơ bản về hệ thống pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành

về nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước và các chủ trương, chính sách của

Đảng… Đồng thời họ vừa là chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật trong quan hệ

với nhân dân bằng việc thông qua các công việc hàng ngày theo chức năng,

nhiệm vụ được phân công họ áp dụng các quy phạm pháp luật để giải quyết công

việc cụ thể, giải thích pháp luật cho đồng nghiệp, cho các đối tượng mà họ làm

việc, tiếp xúc, từ đó tác động lên tình cảm, lòng tin và cách ứng xử của đông đảo

quần chúng nhân dân lao động nơi họ sinh sống và làm việc

Trang 16

 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là chủ doanh nghiệp, người quản

lý, cán bộ công đoàn và người lao động

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định địa vị pháp lý bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế không ngừng tăng lên Đất nước ta sau những năm đổi mới đã thu được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại những thành tựu đó khẳng định có sự đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh mang tính chất khốc liệt và quyết liệt đã làm cho nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, dẫn đến bị phá sản do thiếu kiến thức pháp luật, đặc biệt là những luật về kinh tế Vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật cho doanh nhiệp là xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các doanh nghiệp, của các nhà quản lý kinh doanh và của người lao động trong các doanh nghiệp đó Về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chủ các doanh nghiệp, ngoài việc phổ biến các kiến thức pháp luật phổ thông, họ phải được phổ biến pháp luật chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực quản lý, sản xuất kinh doanh nhằm từng bước tạo cho họ thói quen kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, chỉ kinh doanh những điều pháp luật không cấm, tránh cho họ những thiệt hại đáng tiếc xảy ra do không hiểu biết pháp luật Đối với những người lao động trong các doanh nghiệp cần được phổ biến kiến thức về hợp đồng lao động,

kỷ luật lao động, bảo hiểm lao động, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, trách nhiệm vật chất khi vi phạm kỷ luật lao động, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức hoạt động của công đoàn trong doanh nghiệp…

Mặt khác, để khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật trong sản xuất kinh doanh, ngoài việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng trên, đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới việc xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh doanh để pháp luật điều chỉnh đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho các doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh

Trang 17

 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là học sinh, sinh viên

Học sinh, sinh viên là những công dân trẻ, là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng đất nước và là chủ nhân tương lai của đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này Tuy nhiên, qua theo dõi, tìm hiểu và các số liệu thống kê cho thấy, các đối tượng này sự nhận thức và hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế, dẫn đến một bộ phận học sinh, sinh viên mắc vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật Vì vậy, với đối tượng này cần áp dụng bằng nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và một trong những hình thức quan trọng có hiệu quả nhất là giảng dạy pháp luật trong các nhà trường Tuỳ theo từng cấp học, bậc học khác nhau để xác định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho phù hợp

 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là các tầng lớp nhân dân

Đây là đối tượng đông đảo nhất trong xã hội bao gồm phụ nữ, thanh niên, nông dân, cựu chiến binh, đồng bào dân tộc, tôn giáo… Khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này cần chú ý tới các đặc điểm về giới tính, nghề nghiệp, nhu cầu tìm hiểu pháp luật, dân tộc, tôn giáo, địa bàn sinh sống Phải đặc biệt chú ý đến đồng bào dân tộc, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này cần tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền tự do dân chủ của công dân, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử, giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước, quyền lao động, tự do kinh doanh; giáo dục nghĩa vụ phải tuân theo hiến pháp, pháp luật, nghĩa vụ bảo vệ tài sản của nhà nước, của công dân, lợi ích của cộng đồng; nghĩa vụ đóng thuế và các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân… Ngoài ra, tuỳ từng nhóm đối tượng mà lựa chọn nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho phù hợp Ví dụ như Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 - 2010 thì đối tượng giáo dục pháp luật là cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn

Trang 18

1.2 Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật

* Nội dung giáo dục pháp luật: là một thành tố quan trọng của quá trình

giáo dục pháp luật, nhằm truyền tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước về hai hiện tượng Nhà nước và pháp luật Cung cấp một cách thường xuyên, có hệ thống các loại thông tin về pháp luật và thực tiễn thi hành, bảo vệ pháp luật Qua đó bồi dưỡng cho các đối tượng giáo dục pháp luật những nhận thức, tính chất đúng đằn, lòng tin vào pháp luật, rèn luyện khả năng sử dụng những tri thức đó để phân tích, phê phán, lý giải một cách có căn cứ khoa học về những vấn đề thực tiễn, làm cơ sở định hướng và lựa chọn cách xử sự phù hợp trong những hoàn cảnh cụ thể

Do đó, xác định đúng nội dung giáo dục pháp luật sẽ bảo đảm cho hoạt động này diễn ra có chất lượng, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái

độ và hành vi của các đối tượng được giáo dục pháp luật

* Hình thức giáo dục pháp luật:

- Cơ sở để triển khai các hình thức giáo dục pháp luật

Giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp

lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hòi của hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân

Hình thức giáo dục pháp luật là cách thức tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật, cách tiến hành một hoạt động cụ thể để đạt được mục đích hình thành

ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật

Xét theo quan điểm triết học về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, hình thức giáo dục pháp luật giữ vai trò hỗ trợ hoặc tác động trở lại đối với kết quả chung của hoạt động giáo dục pháp luật Nếu nội dung pháp luật phù hợp, thiết thực, dễ hiểu, gần gũi nhưng hình thức tổ chức mờ nhạt, thiếu sáng tạo, xa rời thực tiễn thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục pháp luật

Trang 19

Vì lẽ đó, hoạt động giáo dục pháp luật luôn được xã hội (Nhà nước, tổ chức, công dân) quan tâm ở cả nội dung và hình thức phổ biến, truyền tải pháp luật, thông tin pháp lý để đối tượng được tác động hình thành được thói quen, tình cảm đối với pháp luật và có hành vi xử sự phù hợp, có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật

Ngày 7/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 315/CT về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã xác định: Hình thức tuyên truyền cần phong phú, hấp dẫn, thích hợp với từng loại đối tượng Cần sử dụng rộng rãi báo chí, phát thanh, truyền hình và các hình thức văn hoá, nghệ thuật khác để phổ biến pháp luật Báo chí, đài phát thanh, truyền hình chú ý thường xuyên có mục tuyên truyền giáo dục pháp luật bằng các hình thức nói chuyện, giải đáp pháp luật, biểu dương người tốt, việc tốt, phê phán những hiện tượng vi phạm pháp luật Trong các bài báo như tin tức, mẩu chuyện, bình luận, xã luận… cần có ý thức phân tích khía cạnh pháp lý của vấn

đề, qua đó mà giáo dục ý thức pháp luật cho người đọc Xuất bản sách phổ thông giới thiệu văn bản pháp luật của nhà nước Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu để đưa giáo dục pháp luật vào các trường học Tiếp đó, Chỉ thị số 300/CT ngày 22/10/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật đề ra yêu cầu: Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội”

Trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg đã chỉ rõ “chú trọng hình thức tuyên truyền miệng trong việc phổ biến, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật cần thiết cho từng đối tượng, nhất là cán bộ chính quyền cấp cơ sở, các tầng

Trang 20

lớp nhân dân” và “xác định rõ các biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượng như tuyên truyền miệng, biên soạn tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng…

Ngày 17/1/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm

2003 đến năm 2007 trong đó dành một mục lớn (mục II) quy định các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu Thông tư số 01/2003/TT-BTP ngày 14/3/2003 quy định một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, tủ sách pháp luật, biên soạn tài liệu pháp luật, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giáo dục pháp luật trong nhà trường

Ngày 12/3/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm

2008 đến năm 2012, trong đó đề ra “Đổi mới, nâng cao hiệu quả các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có; triển khai trên diện rộng những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới đang phát huy hiệu quả trên thực tế…” Gần đây nhất, luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6 /2012, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 Đây là văn bản có giá trị đặc biệt, là cơ sở pháp lý để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có điều kiện đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội Đổng thời nhận thức về pháp luật của nhân dân sẽ được nâng cao thêm một bước, qua đó pháp luật thật sự sẽ là người bạn tốt, đáng tin cậy của người dân Việt Nam

* Hình thức giáo dục pháp luật:

Mục đích và nội dung của hoạt động giáo dục pháp luật không thể tự thân

đi vào nhận thức, tình cảm của người được giáo dục pháp luật, mà phải thông qua những kênh truyền tải thông tin, là các dạng hoạt động cụ thể để triển khai,

tổ chức quá trình giáo dục pháp luật, thể hiện nội dung hoạt động giáo dục pháp luật

Trang 21

Các dạng hoạt động cụ thể đó phải phù hợp với khả năng tiếp cận của đối tượng Do đó, hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào việc xác định đúng mục đích, nội dung giáo dục pháp luật mà còn phụ thuộc vào việc xác định đúng hình thức của giáo dục pháp luật

Trong đó, hình thức nói chung là “cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung”,

là “ cách thức tiến hành” một việc, một hoạt động nào đó [ 27.tr.809] Theo cách hiểu này, hình thức giáo dục pháp luật chính là cách thức tổ chức thực hiện mà thông qua đó chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật, cung cấp tri thức pháp lý cho các đối tượng xác định nhằm đạt được mục đích như mong muốn

Trên thực tế công tác giáo dục pháp luật có rất nhiều cách thức để tiến hành, hay nói cách khác đây là hình thức hết sức phong phú, đa dạng

Có thể chia hình thức giáo dục pháp luật làm 2 loại:

Hình thức giáo dục mang tính phổ biến truyền thống : Hình thức này bao

gồm : Phổ biến nói chuyện pháp luật tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, tại các địa bàn dân cư, tổ chức các đội tuyên truyền cổ động, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật…giáo dục pháp luật trong các nhà trường, trong các cơ sở đào tạo chuyên luật hoặc không chuyên luật

Hình thức giáo dục pháp luật đặc thù: đó là việc định hướng mục đích

giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động lập pháp hành pháp và tư pháp Hình thức này chủ yếu do cán bộ công chức nhà nước thực hiện, với vai trò chủ đạo của các luật gia làm việc trong các cơ cấu tổ chức đó

* Phương pháp giáo dục pháp luật:

Phương pháp, theo nghĩa chung nhất, đó là “cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội”, là“ hệ thống các cách sử dụng

để tiến hành một hoạt động nào đó”.[ 27, tr 93] Như vậy, phương pháp giáo dục pháp luật có thể hiểu là tổng thể cách thức, biện pháp mà chủ thể giáo dục

sử dụng để tác động lên đối tượng nhằm cung cấp tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và thói quen, hành vi chấp hành pháp luật Phương pháp giáo dục pháp

Trang 22

luật là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, vì đây là cách thức mà chủ thể giáo dục sử dụng để tác động lên đối tượng giáo dục Nếu cách thức mà chủ thể sử dụng phù hợp với đối tượng thì sẽ đạt được mục đích, nâng cao được

hiệu quả giáo dục và ngược lại

Phương pháp giáo dục pháp luật hiện nay rất đa dạng như phương pháp giáo dục thuyết phục, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương, phương pháp rèn luyện, phương pháp xử lý tình huống, phương pháp thi đua, phương pháp bắt buộc xử phạt Mỗi một phương pháp đều có vị trí, vai trò nhất định, có

ưu có nhược và có mối quan hệ tác động qua lại bổ sung lẫn nhau Chính vì thế, khi sử dụng các phương pháp phải căn cứ vào đối tượng, nội dung chương trình giáo dục pháp luật để lựa chọn sử dụng các phương pháp cho phù hợp; nếu tuyệt đối hoá hoặc hạ thấp một phương pháp nào thì đều sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động giáo dục pháp luật

1.3 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

1.3.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

Khái niệm Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công

vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “ cán bộ”, “ công chức” Tuy nhiên, xác định cụ thể ai với những tiêu chí nào là cán bộ, là công chức thì chỉ đến khi có Luật cán bộ, công chức năm 2008 mới được quy định chính thức Theo khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức qui định thì:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 23

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Xuất phát từ định nghĩa giáo dục pháp luật nói chung mà chúng ta đã đề cập và phân tích ở trên, cùng với tính đặc thù về đối tượng, thì có thể hiểu giáo

dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện là hoạt động có định hướng, có

tổ chức, thông qua các phương pháp đặc thù và bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tới cung cấp, trang bị cho cán bộ, công chức chính quyền cấp huyện những tri thức, hiểu biết về các vấn đề pháp luật nói chung, về các vấn đề pháp luật cụ thể liên quan đến hoạt động công vụ nói riêng, nhằm làm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành

1.3.2 Đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

* Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức là một bộ phận cấu thành giáo dục pháp luật nói chung, nghĩa là nó cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình giáo dục pháp luật, phải đáp ứng các yêu cầu về chủ thể, khách thể, về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của quá trình này Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cũng có những đặc điểm riêng xuất phát từ những nét đặc thù về vị trí công tác, tiêu chuẩn chuyên môn và chức năng của họ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 24

Thứ nhất, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đòi hỏi tính chuyên

ngành, chuyên nghiệp cao cả trên phương diện chủ thể giáo dục pháp luật và nội dung giáo dục pháp luât Cán bộ, công chức là những người đang làm việc

trong các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước nên họ rất cần đến kiến thức pháp luật Bởi vì, trong nhà nước pháp quyền, pháp luật có một vị trí độc tôn, đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, ngay cả Nhà nước - người ban hành pháp luật - cũng phải đặt mình dưới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật Điều

đó có nghĩa, cán bộ, công chức phải gương mẫu, đi đầu trong “sống, làm việc theo pháp luật” Do đó, ngoài kiến thức chuyên môn, họ rất cần được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nhất là kiến thức pháp luật chuyên ngành Nhận định về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, cán bộ đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách đúng, vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”

Để thực hiện tốt nhiệm vụ công vụ được giao, cán bộ, công chức trước hết phải có sự hiểu biết, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật Cán bộ, công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình Cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật Vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải là những kiến thức pháp luật có tính hệ thống và tính chuyên ngành, chuyên nghiệp cao

Từ yêu cầu cao về mặt nội dung tri thức pháp luật trang bị cho cán bộ, công chức, chủ thể giáo dục pháp luật cũng đòi hỏi phải có trình độ cao về pháp luật

và kỹ năng sư phạm tốt Nói cách khác, chủ thể giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải là những nhà giáo dục pháp luật chuyên nghiệp

Trang 25

Thứ hai, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đòi hỏi phải có sự lựa

chọn, phân loại cụ thể, hợp lý về đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật Như

đã phân tích ở trên, nhu cầu giải quyết các công việc chuyên môn đòi hỏi cán bộ, công chức phải có trình độ kiến thức pháp luật chuyên ngành cao Tuy nhiên, theo phân cấp hành chính hiện nay, cán bộ, công chức ở nước ta đang đảm nhiệm công việc tại bốn cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau và thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau Ở mỗi cấp, mỗi lĩnh vực lại có những yêu cầu và văn bản pháp luật điều chỉnh, quy định phạm vi, chức năng, nhiệm vụ riêng

Chính vì vậy, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công

chức ở mỗi cấp, mỗi ngành cũng đa dạng và khác nhau Chẳng hạn, nhu cầu

thông tin, kiến thức pháp luật của cán bộ, công chức cấp xã khác với nhu cầu thông tin, kiến thức pháp luật của cán bộ, công chức cấp huyện và cấp tỉnh; nhu cầu về thông tin pháp luật cho cán bộ, công chức ngành văn hóa - thông tin chắc chắn khác nhiều so với nhu cầu thông tin pháp luật cho cán bộ, công chức ngành

tư pháp hay địa chính

Bên cạnh đó, vấn đề trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của các đối

tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật cũng khác nhau Có những cán bộ, công

chức đã có trình độ cử nhân luật, cử nhân hành chính trước khi trở thành cán bộ, công chức nên nhu cầu thông tin pháp luật của họ khác với nhu cầu của những người chưa được đào tạo chính quy, bài bản hoặc hiện giờ mới đang tham gia các khóa giáo dục, đào tạo pháp luật Tính chất nông - sâu, rộng - hẹp trong truyền đạt nội dung pháp luật cho mỗi nhóm đối tượng cũng khác nhau

Chính vì vậy, việc sàng lọc, lựa chọn, phân loại các đối tượng tiếp nhận

giáo dục pháp luật theo cấp, theo ngành, theo năng lực, trình độ và nhu cầu thông tin của mỗi nhóm đối tượng là vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức

hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nhằm gia tăng hiệu quả của

hoạt động này, thực hiện phương châm “trang bị cái mà đối tượng của giáo dục

pháp luật cần chứ không phải trang bị cái mà nhà giáo dục pháp luật có”

Trang 26

Thứ ba, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đòi hỏi phải sử dụng

phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục pháp luât phù hợp Về nguyên tắc,

chủ thể giáo dục pháp luật phải căn cứ vào mục đích, mục tiêu, nội dung chương trình và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật để lựa chọn và sử dụng phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục pháp luật cho phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện có những nét đặc thù về mục tiêu, nội dung và đối tượng khác với cán bộ, công chức các cấp khác nên chủ thể giáo dục pháp luật cần căn cứ vào đó để chủ động tìm ra các phương pháp và hình thức tổ chức tối ưu nhất

Cán bộ, công chức cấp huyện cũng như đội ngũ cán bộ, công chức nói chung là những người đang làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định nên ít nhiều đã tích lũy được những kinh nghiệm thực tiễn Phương pháp là hình thức chuyển tải nội dung Có lẽ, phương pháp giáo dục phù hợp với cán bộ, công chức không phải là phương pháp độc thoại, lý luận suông, mà phải là những phương pháp sinh động, hấp dẫn gắn liền với thực tiễn công vụ hành chính, như nêu tình huống, chủ đề pháp luật để họ tranh luận, thảo luận, phương pháp tọa đàm, trao đổi thông tin Dù là sử dụng phương pháp nào thì cũng phải lấy đối tượng tiếp nhận giáo dục làm trung tâm

Thứ tư, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải luôn gắn bó mật

thiết với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức Cán bộ, công chức là nhân tố

quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Xét cho cùng, vận hành bộ máy phải là những con người cụ thể Vì vậy, công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải luôn gắn chặt với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức không chỉ là việc giáo dục kiến thức pháp luật đơn thuần mà còn phải kết hợp cả với việc giáo dục phong cách làm việc, đạo đức, lối sống, “không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Hơn nữa, giữa hình thức giáo dục

Trang 27

pháp luật và giáo dục đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau, có những nét tương đồng bên cạnh tính độc lập tương đối của mỗi hình thức giáo dục Mục đích của giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức là thiết lập trật tự pháp luật và trật tự đạo đức, hình thành ở mỗi cán bộ, công chức hành vi hợp pháp và hợp với đạo đức xã hội Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là xã hội mà ở đó từ cán

bộ, công chức cho đến công dân phải có ý thức và có lối sống phù hợp với đạo đức và tuân thủ pháp luật Nguyên tắc chung và mục tiêu của nền pháp luật và đạo đức xã hội là phục vụ con người, vì những giá trị nhân văn của con người Mặt khác, giáo dục đạo đức tạo điều kiện cần thiết để hình thành ở mỗi cán

bộ, công chức tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật Ngược lại, giáo dục pháp luật cũng có vai trò to lớn đối với việc xây dựng ý thức và lối sống đạo đức Giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong thực tiễn hàng ngày những nguyên tắc của đạo đức, củng cố những nghĩa vụ đạo đức, kích thích và làm hình thành những giá trị đạo đức mới Như vậy, giữa giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức có sự thống nhất, hỗ trợ cho nhau nhằm đảm bảo tăng cường sự tác động lên tình cảm con người, hình thành hành vi hợp pháp và hợp đạo đức Giáo dục đạo đức hỗ trợ cho giáo dục pháp luật, hướng tới cái thiện và hạn chế những tiêu cực Chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chỉ có thể từng bước đạt được nếu có sự kết hợp với giáo dục đạo đức

Thứ năm, giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức là giáo dục cho các

chủ thể thực hiện giáo dục pháp luật cho đối tượng khác Trong hoạt động giáo

dục pháp luật, cán bộ, công chức có “vai trò kép” Họ vừa là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật, lại vừa là chủ thể giáo dục pháp luật Trong mối quan hệ với giáo dục pháp luật cho chính đội ngũ cán bộ, công chức thì họ là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật Với vai trò là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật,

họ phải đảm bảo các mục đích, yêu cầu của giáo dục pháp luật Còn với vai trò

là cán bộ, công chức trong mối quan hệ với cán bộ, công chức dưới quyền và với các tầng lớp nhân dân thì cán bộ, công chức trở thành chủ thể giáo dục pháp luật Vì vậy, vai trò của họ có tác động rất lớn đến sự hiểu biết, nhận thức, thái

Trang 28

độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Do đặc điểm này nên trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, ngoài nội dung pháp luật chuyên ngành, còn phải chú ý cung cấp cho họ kiến thức, kỹ năng về phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật, giáo dục cho cán bộ, công chức ý thức về vai trò là “đầy tớ”,

“công bộc” của dân

* Nội dung của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Nội dung của giáo dục là kiến thức pháp luật chung và kiến thức pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước phải là những kiến thức trọng tâm

Cán bộ, công chức là những người trong phạm vi chức năng của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người lãnh đạo, quản lý nhà nước và quản lý xã hội Thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật hay không của cán bộ, công chức là ví dụ sinh động, là tấm gương phản chiếu pháp chế trong tổ chức

và hoạt động của cả hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng Ngoài ra cán bộ, công chức là những người trực tiếp, có tác động rất mạnh đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Với

tư cách này, cán bộ, công chức phải được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong việc áp dụng pháp luật và trước tiên họ phải có ý thức đầy đủ về trách nhiệm chủ thể giáo dục pháp luật của mình trong khi tiến hành các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ cụ thể

Do đó có thể hiểu nội dung của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức là hàm lượng và dung lượng tri thức về pháp luật nói chung, pháp luật hành chính nói riêng; thái độ, tình cảm pháp luật của cán bộ, công chức trong quá trình quản

lý hành chính nhà nước

Bởi vậy, nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức rất đa dạng và rộng lớn Tuy nhiên, căn cứ vào đối tượng cán bộ, công chức mà xây dựng nội dung giáo dục pháp luật phù hợp, có thể phân làm 2 nhóm lớn như sau:

Thứ nhất, đối với cán bộ, công chức nói chung, nội dung pháp luật bao

gồm:

Trang 29

- Những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước, thực thi pháp luật, cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

- Các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân do Hiến pháp và một số đạo luật quy định;

- Các thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các nghĩa vụ của công dân;

- Hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực tiễn;

- Một số pháp luật thực định liên quan đến hoạt động của cán bộ, công chức như: các bộ luật, các đạo luật quan trọng, có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân Sự, Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật hôn nhân và gia đình

Thứ hai, đối với cán bộ, công chức chuyên ngành pháp luật, nội dung

giáo dục pháp luật bao gồm:

- Những quan điểm, những học thuyết về nhà nước và pháp luật trong lịch

sử và hiện tại;

- Hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế;

- Cung cấp, giải thích các quy phạm pháp luật cụ thể, về những hậu quả pháp lý do việc chấp hành hay vi phạm các quy phạm pháp luật đó, hướng dẫn hành vi xử sự cụ thể;

- Cập nhật những thông tin pháp luật;

- Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật

* Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Thông thường, hình thức nói chung là “ cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung”, hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức thực chất là những hoạt động mà thông qua đó thực hiện việc giáo dục pháp luật của chủ thể Với

cách hiểu như vậy thì hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính

Trang 30

là những hoạt động khác nhau được lặp đi lặp lại nhiều lần mà thông qua đó chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật cho đối tượng là cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức hành chính nói riêng Thông qua các hình thức giáo dục nhất định, chủ thể cung cấp tri thức

pháp luật cho đối tượng và những tri thức ấy đã được đúc kết qua phản hồi của đối tượng bởi đã được cọ xát từ thực tế đưa pháp luật vào đời sống xã hội; tìm ra cái đúng để phát huy và bảo vệ, đồng thời nhìn nhận được những điều chưa hợp

lý để điều chỉnh, đó là cơ sở giúp cho ý thức pháp luật của cán bộ, công chức được nâng cao, suy cho cùng đó cũng là mục tiêu của giáo dục pháp luật cho cán

bộ, công chức mà chủ thể tiến hành muốn đạt được

Trong thực tiễn giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức có rất nhiều hình thức, nói cách khác các hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức rất

đa dạng và phong phú Ở đây, dựa vào hoạt động của chủ thể ta thấy có những hình thức cơ bản như chủ thể tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng qua các khóa ngắn hạn, dài hạn, chính quy, tại chức, đào tạo bồi dưỡng ngoại khóa, đào tạo bồi dưỡng từ xa Đây là những hình thức được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi hiện nay Cùng với những hình thức đã nêu trên, chủ thể giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức còn sử dụng các hình thức như tổ chức những cuộc hội thảo về pháp luật, tổ chức câu lạc bộ tìm hiểu pháp luật, thành lập tủ sách tìm hiểu về pháp luật để cung cấp thông tin và tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, nhịp cầu của phản biện xã hội về pháp luật đến với cán bộ, công chức nhờ đó thúc đẩy cán bộ, công chức học tập, rèn luyện, cọ xát thực tế để rút ra những điều bổ ích cho ý thức pháp luật của họ

Ngoài ra, còn có hình thức giáo dục mang tính gián tiếp Hình thức giáo dục pháp luật gián tiếp được tiến hành bởi các chủ thể, trong đó có cá nhân, cơ quan nhà nước khi được thực hiện chức năng của mình, tiến hành giáo dục cụ thể như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao họ cũng tiến hành phổ biến, giải thích, giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức Như vậy, một hình thức giáo dục pháp luật cho cán

Trang 31

bộ, công chức truyền thống vẫn là ở các cơ sở đào tạo nơi đó có các nhà chuyên môn có trình độ cao về pháp luật, hình thức được tiến hành ở đây là các thầy, cô giáo; đó là các chủ thể có kinh nghiệm chuyên môn, có tri thức pháp luật cao và thông hiểu sâu sắc về pháp lý, pháp luật thực định ở trình độ lý luận lại có trình

độ sư phạm với sự thuyết giảng đầy sức truyền cảm và giàu kinh nghiệm tiến hành giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Cùng với các cơ sở đào tạo mang tính chất chuyên nghiệp các chủ thể của giao dục còn sử dụng các hình thức ở ngoài phạm vi các cơ sở đào tạo Chẳng hạn như chủ thể thông qua phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, internet để tiến hành giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức với năng lực dồi dào và cường độ truyền tải nhanh nhạy với công suất mạnh mẽ

Chủ thể còn sử dụng một số hình thức khác như biên soạn các chuyên đề về giáo dục pháp luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, sinh hoạt câu lạc bộ, quản lý và sử dụng tủ sách pháp luật, tư vấn pháp lý, hoạt động văn học nghệ thuật, văn hóa truyền thống Mỗi hình thức trên cho ta cách tiếp cận về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức với cách tiếp cận khác nhau song điểm hội tụ là chủ thể của giáo dục mong đạt được là: nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức Sử dụng nhiều hình thức nói trên một cách linh hoạt, năng động, sáng tạo, phù hợp với đối tượng làm cho đối tượng dễ tiếp thu, dễ hiểu và nhớ lâu, vận dụng vào thực tế có hiệu quả và đó là điều mà cả chủ thể và đối tượng đều có nguyện vọng vươn tới để đạt được mục tiêu của giáo dục đề ra

* Phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Về phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức Khi người ta sử dụng thuật ngữ “phương pháp” có nghĩa là cách thức tiến hành đã được chọn lọc

sử dụng một cách khoa học và có hiệu quả cao cho công việc, thì đó là phương pháp Phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cũng nằm trong một phạm trù mang tính khoa học cao như vậy Đó cũng là cách thức mà chủ thể

Trang 32

giáo dục sử dụng để tiến hành giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nhằm mang lại chất lượng giáo dục và hiệu quả cao cần đạt được

Trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, chủ thể tiến hành giáo dục pháp luật đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, tuy nhiên phương pháp sư phạm được coi là phương pháp quan trọng trong công tác giáo dục pháp luật Phương pháp này áp dụng đối với cán bộ, công chức điều quan trọng là bảo đảm “ cung – cầu” “ Cung” của đội ngũ cán bộ, công chức là biểu hiện khả năng đáp ứng của sự nghiệp, mục tiêu, chính sách, hệ thống tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong từng thời kỳ nhất định “ Cầu” của đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm về số lượng, chất lượng ( kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đạo đức, phẩm chất )

Ngoài phương pháp sư phạm, chủ thể giáo dục pháp luật cần sử dụng nhiều phương pháp khác như: phương pháp tư duy logic, tâm lý, thực hành, giải quyết tình huống Một nguyên tắc chung nhất khi sử dụng các phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đó là phải gắn lý luận với thực tiễn, gắn thuyết trình với tình huống thực tiễn để nhằm nâng cao được năng lực thực hành áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức

Bởi vậy, cùng với nội dung giáo dục, hình thức giáo dục, phương pháp giáo dục mang tính khoa học giúp cho chủ thể tiến hành giáo dục cho đối tượng đạt hiệu quả cao, tạo sự thuận lợi, dễ dàng, thoải mái trong tiếp thu những tri thức pháp luật làm cho đối tượng thấy không bị gò ép, không khô cứng Chính điều này sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục pháp luật cho đối tượng giáo dục Thông qua những hình thức, phương pháp thích hợp sẽ gieo vào đối tượng giáo dục tri thức, tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật

1.4 Sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

Cán bộ, công chức nhà nước là những chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước, đại diện quyền lực nhà nước khi thực hiện công vụ: mọi hoạt động công vụ của cán bộ, công chức đều trực tiếp, gián tiếp gắn với

Trang 33

việc thực hiện pháp luật của nhà nước pháp quyền, mọi quyết định họ đưa ra đều phải phù hợp với pháp luật Cán bộ, công chức là những người xây dựng tham gia lập pháp, lập quy, quyết định chính sách pháp luật và pháp luật, quyết định quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật; là những người trực tiếp tổ chức đưa pháp luật vào đời sống xã hội và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của công chức và nhân dân

Chính vì lẽ đó mà giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng và được coi là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” Để mọi người dân và đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức có ý thức pháp luật, biết sống và làm việc theo pháp luật thì vấn đề giáo dục pháp luật phải được đặt ra một cách nghiêm túc và phải được giải quyết đúng đắn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn

* Vai trò của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức:

Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một trong những việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức góp phần làm hình thành ở họ ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật, phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, hoạt động này

là yêu cầu khách quan và là đòi hỏi cấp bách

Từ vị trí đặc biệt của cán bộ, công chức trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có thể thấy, bản thân họ có vai trò đặc biệt trong giáo dục pháp luật, vì

họ vừa là đối tượng tiếp nhận, đồng thời cũng là chủ thể của giáo dục pháp luật

Với tư cách là đối tượng của giáo dục pháp luật, quá trình giáo dục pháp

luật có tác dụng cung cấp cho cán bộ, công chức những thông tin, kiến thức, hiểu biết về pháp luật nói chung, pháp luật liên quan đến công vụ của họ nói

Trang 34

riêng, làm hình thành và củng cố ý thức pháp luật nghề nghiệp của đội ngũ cán

bộ này, góp phần rèn luyện các kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ cho họ; từ

đó, giúp họ hoàn thành tốt các nhiệm vụ chuyên môn trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Với tư cách là chủ thể của giáo dục pháp luật, hoạt động giáo dục pháp

luật lại đòi hỏi ở cán bộ, công chức không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng,

có kiến thức, hiểu biết sâu sắc về các lĩnh vực pháp luật, mà còn phải có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm giỏi, có kinh nghiệm cao trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật Vì thế, trong quá trình giáo dục pháp luật cần phải chú trọng việc giáo dục, bồi dưỡng tri thức lý luận về pháp luật cho cán bộ, công chức

Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các bộ luật, đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Mọi hoạt động của công dân, tổ chức đều phải tuân theo các quy định của pháp luật Cán bộ, công chức là các “tế bào” cấu thành nên bộ máy nhà nước Các cơ quan nhà nước không thể hình thành, tồn tại và hoạt động nếu thiếu đội ngũ cán bộ, công chức Về mặt lý thuyết, mỗi cán bộ, công chức đồng thời cũng

là một công dân, cũng phải tuân thủ theo pháp luật Tuy nhiên, cán bộ, công chức còn là những người trực tiếp thực thi pháp luật, là người đại diện cho cơ quan công quyền trước nhân dân Mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có được thực hiện một cách hiệu quả hay không là do đội ngũ cán bộ, công chức quyết định Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải nắm vững không chỉ kiến thức pháp luật chung, mà còn phải nắm vững kiến thức pháp luật liên quan đến chuyên môn của họ để trước hết là chấp hành pháp luật; sau đó, có thể vận dụng pháp luật vào thực tế trong quá trình tiếp xúc, làm việc với nhân dân

Thực tế cho thấy, việc coi nhẹ công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ý thức pháp luật của đội ngũ này chưa cao Cụ thể, một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu

về năng lực chuyên môn, một bộ phận không nhỏ bị thoái hóa, biến chất dưới

Trang 35

tác động của cơ chế kinh tế thị trường Dân chủ ở nhiều lúc, nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm Quan liêu, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyết công việc cho dân và doanh nghiệp

Mặt khác, hoạt động chuyên môn của cán bộ, công chức cũng chính là cơ

sở để nhân dân đánh giá về hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước Nhà nước pháp quyền có những yêu cầu riêng như pháp luật vì con người, phân công quyền lực, chủ quyền nhân dân, chính quyền chịu sự ràng buộc bởi pháp luật, tư pháp độc lập Nhưng, suy cho cùng, những yêu cầu đó chỉ hướng về một mục

tiêu là chống lại sự lạm quyền của Nhà nước, sự vi phạm của Nhà nước đối với

những nguyên tắc pháp lý của việc hành xử quyền lực để bảo vệ những quyền và

tự do của con người

Nhà nước pháp quyền là Nhà nước bị hạn chế quyền lực bằng pháp luật Trong khi kêu gọi mọi công dân phải tuân thủ pháp luật thì bản thân các cán bộ, công chức phải là đội ngũ đi đầu, phải triệt để tuân thủ pháp luật Đó cũng là đảm bảo nguyên tắc quan trọng trong nhà nước pháp quyền: mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Cán bộ, công chức là “công bộc”, là “đầy tớ” của nhân dân, hàng ngày trực tiếp hoặc gián tiếp giải quyết các công việc thuộc bộ máy nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân Giải quyết những công việc đó đòi hỏi phải đảm bảo tính trung thực trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý Tuy nhiên, tỷ

lệ cán bộ chưa đạt chuẩn còn cao; nhiều cán bộ, công chức cơ sở chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống; tỉnh, thành nào cũng còn một số cán bộ có trình độ văn hóa tiểu học và chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ Năm 2010, trong trả lời phỏng vấn của báo giới, Bộ Nội vụ đưa ra nhận định về đội ngũ cán

bộ, công chức: “theo đánh giá chung, đội ngũ này còn không ít hạn chế so với đòi hỏi của thời kỳ mới Chỉ khoảng 30% trong số họ đáp ứng được yêu cầu, khoảng 40% “tàm tạm”, và khoảng 30% còn lại là chưa đáp ứng được yêu cầu”

Trang 36

Về thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết công việc của cán bộ, công chức còn tồn tại một số bất cập Ở một số địa phương, vẫn còn tình trạng cán bộ giải quyết công việc hàng ngày mà không quan tâm cập nhật chính sách, văn bản pháp luật mới Có thể lấy một ví dụ là Quyết định 80/TTg năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho nông dân đã ban hành được 3 tháng, nhưng khi phỏng vấn một số cán bộ lãnh đạo một xã ở tỉnh Hà Tây (cũ) thì một số người còn nói là chưa hề được nghe thấy quyết định này, còn theo một số lãnh đạo huyện Hoài Đức thì ở một số xã nhiều khi văn bản pháp luật về nhưng lại bị thất lạc ngay trong chính Ủy ban nhân dân xã Từ

đó cho thấy, đội ngũ cán bộ cơ sở, cấp huyện còn một số bất cập trong ý thức cập nhật thông tin pháp luật để nâng cao trình độ kiến thức pháp lý

Nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay, tệ nạn tham nhũng đang tràn lan ở mọi cấp chính quyền, và nhất là ở cấp thấp, như là một loại thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh Ở cấp dưới, các chuyên gia từ các cán bộ, công chức thường mong dựng lên hoặc duy trì những thủ tục quan liêu, rườm rà để có cơ hội hạch sách, vòi vĩnh doanh nghiệp Còn tham nhũng ở cấp cao thì thường không lộ liễu, nhưng nó bóp méo quy trình hoạch định chính sách và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với công quyền Những kẻ tham nhũng đó thường coi các cơ quan nhà nước như là một thứ công cụ để tạo ra nguồn thu nhanh chóng

Như vậy, việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trình

độ hiểu biết pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TẾ TẠI HUYỆN PHÚC THỌ HIỆN NAY

2.1 Khái quát về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện

2.1.1 Thực trạng về công tác giáo dục pháp luật nói chung và trên địa bàn huyện Phúc Thọ nói riêng

Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo đảm pháp chế có ý nghĩa vô cùng quan trọng Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, thực chất là xây dựng và đổi mới từng bước, nhằm hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, dân chủ thực sự bao giò cũng gắn với pháp luật, nhà nước quản lý bằng pháp luật, đặt mình dưới pháp luật – nhà nước pháp quyền Đảng và nhà nước ta đang phấn đấu xây dựng một Nhà nước – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Để xây dựng được một nhà nước như trên, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tuyên truyền phổ biến pháp luật; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Hoạt động phổ biến pháp luật trong nhà nước pháp quyền có vai trò quan trọng và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong giáo dục công dân

Xuất phát từ yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, từ nhận thức

về vai trò của hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội, từ đầu những năm 1980, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề phổ biến pháp luật Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ

V, Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị 315/CT – HĐBT ngày 07/12/1982, với nội dung xác định rõ: Các cấp ủy Đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể phải thường xuyên phổ biến, giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc phổ biến pháp luật vào các trường học, cấp học,

Trang 38

xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật Đến đầu những năm

1990, hoạt động phổ biến pháp luật đã trở thành bức thiết trong đời sống xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII ( 1991) đã chỉ rõ : “ xây dựng, ban hành và

tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, thường xuyên phổ biến pháp luật, xây dựng ý thức

sống và làm việc theo pháp luật” Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng

lần thứ VII, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ) ban hành Chi thị

số 247/CT-HĐBT ngày 25/7/1992 “ về việc tiếp tục nâng cao chất lượng công tác phổ biến pháp luật và một số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật” Có thể nói, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, hoạt động phổ biến pháp luật được Đảng, Nhà nước chú trọng và đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể Từ đó đến nay, nhiều văn bản quan trọng trong công tác phổ biến pháp luật đã được ban hành; đặc biệt là Quyết định 03/1998/QĐ-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ “ về việc ban hành kế hoạch triển khai công tác phổ biến phổ biến pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến phổ biến pháp luật” và Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng chính phủ “ về việc tăng cường công tác phổ biến phổ biến pháp luật trong giai đoạn hiện nay”

Thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư; năm

2003 Chính phủ đã đề ra chương trình Phổ biến giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 ( ban hành kèm theo quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ) Ngày 12/3/2008 Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 – 2012

Gần đây nhất, luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6 /2012, và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 Đây là văn bản có giá trị đặc biệt, là cơ sở pháp lý để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có điều kiện đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội Đổng thời nhận thức về pháp luật của

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w