Thực tế, ở Việt Nam những năm gần đây những giao dịch liên quan đến tài sản trí tuệ trong đó có hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu đều là góp vốn bằng quyền sở hữu công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ THỊ DOÁNH
GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một yếu tố không thể thiếu đó là vốn Trước đây, tài sản được đem góp vốn chủ yếu và được quan tâm là tiền, vàng, quyền sử dụng đất, nhà xưởng, máy móc…Ngày nay, trong nền kinh tế hiện đại, nền kinh tế tri thức thì hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm
và dịch vụ ngày càng lớn, trở thành một yếu tố quyết định tính cạnh tranh Tài sản trí tuệ không chỉ là nhân tố quyết định sự gia tăng giá trị của sản phẩm, dịch vụ mà còn chiếm tỷ trọng cao trong kết cấu giá trị của doanh nghiệp Với vai trò quan trọng trong sự phát triển doanh nghiệp nên tài sản trí tuệ ngày càng trở thành một loại tài sản góp vốn được chú trọng Góp vốn bằng tài sản trí tuệ trở nên phổ biến Nhu cầu góp vốn và nhận góp vốn bằng tài sản trí tuệ trở thành tất yếu
Thực tế, ở Việt Nam những năm gần đây những giao dịch liên quan đến tài sản trí tuệ trong đó có hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ (chủ yếu đều là góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp) đã được thực hiện bởi nhiều doanh nghiệp như VINASHIN, VINACONEX,…Tuy nhiên pháp luật của nước ta về vấn đề này còn nhiều khoảng trống khiến cho hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng diễn ra một cách tự phát và mang tính chất thăm dò Các quy định của pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phần lớn chỉ nhấn mạnh đến tính dân sự, hành chính mà chưa đề cập nhiều đến những khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Chính sự thiếu vắng những quy định của pháp luật làm cho việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng gặp nhiều lung túng không chỉ
Trang 5với các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn mà còn gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc
về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp cả về phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp là một việc làm cấp thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Góp
vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ở Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến Đặc biệt vài năm gần đây, các phương tiên thông tin truyền thông liên tiếp đưa tin về việc một số tập đoàn góp vốn vào rất nhiều các doanh nghiệp khác bằng quyền sử dụng nhãn hiệu Vì thế, cũng có khá nhiều các nghiên cứu có liên quan đến pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Có thể kể đến Nguyễn Thanh Tâm (2005), “Quyền sở hữu công nghiệp dưới
góc độ thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Hà Phương (2009), “Pháp luật về
hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng nhãn hiệu hàng hóa – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội; Phạm Đức Quảng (2011), “Áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội; Hoàng Lan Phương (2011), “Pháp luật Việt nam
về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Đoàn Thu Hồng (2012), “Góp vốn thành
Trang 6lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ
Luật Học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ Thị Thanh Thủy (2012),
“Góp vốn kinh doanh bằng tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam”, Luận
văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Hồng
Vân, “Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu”, Tạp chí hoạt động
khoa học số tháng 7/2010…
Tuy vậy, các nghiên cứu nêu trên mặc dù có đề cập đến vấn đề góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp nhưng chỉ xem xét trong phạm vi của một đối tượng quyền sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu hoặc đặt trong một phạm vi rộng là một dạng của thương mại hóa Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về góp vốn vào doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu công nghiệp Vì thế, đề tài "Góp vốn vào doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam" lần đầu tiên được nghiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ một cách
chuyên sâu, toàn diện, và đảm bảo tính logic, hệ thống, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp; chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp Qua đó đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động này, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các bên chủ thể tham gia vào giao dịch góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp cũng như tạo
Trang 7cơ sở cho chủ thể quản lý nhà nước trong công tác quản lý, điều hành
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp Cụ thể là làm rõ khái niệm về góp vốn vào vào doanh nghiệp, các loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, khái niệm và đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, làm rõ tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp;
- Phân tích, bình luận và chỉ ra những điểm không hợp lý trong các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp;
- Trình bày và luận giải về thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam Đồng thời, trên cơ sở những phân tích
về những bất cập trong quy định của pháp luật, luận giải những khó khăn của thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp mà chủ yếu tập trung vào quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009)
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được
tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan
Trang 8điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh …
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp - một vấn đề mới, đã và đang gặp nhiều vướng mắc từ thực tiễn Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:
Thứ nhất, lần đầu tiên vấn đề góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở
hữu công nghiệp được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về vấn đề lý luận cũng như thực tiễn
Thứ hai, quá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những tồn tại trong
công tác xây dựng và thi hành pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến hoạt động đăng ký kinh doanh Ngoài ra, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật về việc góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng
Trang 96 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu và Kết luận, luận văn có kết cấu ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp và góp vốn
vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về góp vốn vào doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu công nghiệp
Chương 3: Thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu
công nghiệp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái quát về hành vi góp vốn vào doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm góp vốn vào doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp có hai tính chất: về mặt kinh tế, vốn là phương tiện kinh doanh; về mặt pháp lý, vốn là số tiền đảm bảo cho việc công ty trả
nợ, nói cách khác vốn là phương tiện để trả nợ [14, tr.123, 130] Trên cơ sở các tính chất của vốn, hành vi góp vốn cũng được xem xét ở hai khía cạnh:
Xét ở khía cạnh kinh tế, góp vốn là hành vi tạo lập tài sản cho doanh nghiệp, đảm bảo nguồn chi trả cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhất là trong giai đoạn doanh nghiệp mới thành lập
Xét ở khía cạnh pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của mình sang cho doanh nghiệp, hình thành nguồn vốn
được quan tâm để đảm bảo lợi ích cho chủ nợ Khi đó, người góp vốn không còn quyền sở hữu hay quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn, nhưng đổi lại người góp vốn xác lập quyền sở hữu đối với tài sản mới là phần vốn góp trong doanh nghiệp và trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu của doanh nghiệp nhận góp vốn Vốn góp trở thành cơ sở để xác định địa vị pháp lý cũng như quyền và nghĩa
vụ của người góp vốn đối với doanh nghiệp
Theo Từ điển Luật học thì góp vốn là "việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới
Trang 11các hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp" [12] Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp
năm 2005 giải thích "góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ
sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty" Tuy ngôn từ cụ thể có khác
nhau nhưng về bản chất, cả hai khái niệm dù mang tính học thuật hay mang tính chính thống đều có chung một cách nhìn nhận, quan niệm về thuật ngữ
pháp lý "góp vốn" Theo cả hai khái niệm nêu trên, góp vốn là hoạt động có
chủ ý của cá nhân hoặc tổ chức chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của mình sang cho công ty nhằm tạo lập ra vốn điều lệ của công ty
đó Bằng hành vi góp vốn, bên góp vốn sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc đồng
chủ sở hữu của công ty nhận góp vốn Như vậy, hành vi "góp vốn" được định nghĩa trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 chính là hành vi "góp vốn vào
doanh nghiệp" không bao hàm các hoạt động góp vốn dưới hình thức hợp tác
kinh doanh không hình thành pháp nhân mới
Tuy nhiên, người viết đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Dung trong bài viết "Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách
thành viên công ti theo Luật Doanh nghiệp năm 2005" đăng trên Tạp chí Luật
học số 9/2010 khi cho rằng hành vi góp vốn được định nghĩa trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 có nội hàm hẹp Việc góp vốn vào doanh nghiệp ngoài cách thức trực tiếp chuyển tài sản vào doanh nghiệp còn có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác khi xảy ra sự kiện pháp lý khác làm hình thành tư cách chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung doanh nghiệp của tổ chức, cá nhân như sự kiện nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế phần vốn góp của thành viên doanh nghiệp
Căn cứ vào định nghĩa góp vốn trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì quan niệm góp vốn chỉ đặt ra đối với các loại hình công ty (bao gồm công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) không bao gồm loại
Trang 12hình doanh nghiệp tư nhân Nói cách khác, khái niệm “góp vốn” trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 là khái niệm về hành vi “góp vốn vào công ty” Lý
do để cắt nghĩa cho điều này là vì loại hình doanh nghiệp tư nhân không có tư
nhận vốn góp Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết thì việc chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhân và việc tăng vốn đầu tư trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân chính là hành
vi thể hiện bản chất của hoạt động góp vốn Rõ ràng cũng có việc đưa tài sản
của doanh nghiệp tư nhân (chỉ khác ở chỗ tài sản đưa vào doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu) và qua đó chủ tài sản trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tiếp tục đưa tài sản vào doanh nghiệp thể hiện ở việc tăng vốn đầu tư Với phân tích trên thì doanh nghiệp tư nhân cũng chính là chủ thể nhận góp vốn từ bên góp vốn là chủ doanh nghiệp tư nhân đó
Trên cơ sở những phân tích nêu trên có thể hiểu: góp vốn vào doanh
nghiệp là việc đưa tài sản vào doanh nghiệp hoặc bằng cách thức khác để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh nghiệp
1.1.2 Hình thức vốn góp vào doanh nghiệp
Pháp luật ở mỗi quốc gia có những quy định riêng về hình thức vốn góp vào doanh nghiệp
Đoạn 1 Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Công ty do hai hay
nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng góp,
2
Doanh nghiệp tư nhân không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân và tài sản của doanh nghiệp tư nhân nên không đáp ứng điều kiện để được công nhận là pháp nhân quy định tại Điều 84
Bộ luật dân sự năm 2005
3 Vốn điều lệ của doanh nghiệp tư nhân được hiểu chính là tổng số vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân
mà chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ phải đăng ký khi thành lập doanh nghiệp
Trang 13sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi” Tiếp đó, Đoạn 1 Điều 1843-3 lại ghi nhận: “Mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm đối với công ty về những cam kết đóng góp bằng hiện vật, bằng tiền hoặc công sức lao động” Như vậy, pháp luật Pháp ghi
nhận hình thức vốn góp vào doanh nghiệp có thể là tài sản (tiền, hiện vật) hoặc công sức lao động
Điều 2186 Bộ luật Dân sự Québec (Canada) quy định: “Một hợp đồng
hợp danh là một hợp đồng mà các bên, trên tinh thần hợp tác, thoả thuận tiến hành một hoạt động, bao gồm việc khai thác một doanh nghiệp, góp vốn vào
đó bằng sự kết hợp tài sản, tri thức hoặc hoạt động và chia nhau bất kỳ khoản lãi về tiền bạc nào là kết quả từ đó” [19] Theo đó, pháp luật Québec
(Canada) ghi nhận hình thức vốn góp vào doanh nghiệp bao gồm tài sản, tri thức hoặc hoạt động
Trên cơ sở định nghĩa hành vi góp vốn là “việc đưa tài sản vào công
ty”, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức vốn góp vào
doanh nghiệp là tài sản Bằng phương pháp liệt kê, khoản 4 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp năm 2005 đưa ra các loại tài sản có thể góp vốn là tiền Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty Các tài sản khác ở
đây được hiểu là vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 Như vậy, về nguyên tắc, mọi loại tài sản đều có thể sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp Tuy nhiên do nhu cầu sử dụng vốn đối với mỗi loại tài sản ở từng doanh nghiệp khác nhau là khác nhau nên việc doanh nghiệp nhận loại tài sản nào làm tài sản góp vốn phụ thuộc vào quyết định của công ty và được ghi trong Điều lệ của công ty Quy định
về các loại tài sản góp vốn ở khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 14nảy sinh một số vấn đề cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 dẫn
đến những cách hiểu khác nhau [17]:
Cách hiểu thứ nhất, mọi loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty đều phải được Điều lệ Công ty quy định rõ, kể cả các loại tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật Với cách hiểu này thì quy định của pháp luật có vẻ cứng nhắc và thiếu tính thực tế khi đòi hỏi những loại tài sản góp vốn phổ biến như tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng cũng chỉ có thể làm tài sản góp vốn khi được Điều lệ quy định
Cách hiểu thứ hai, những loại tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật đương nhiên được sử dụng làm tài sản góp vốn theo quy định của pháp luật Những loại tài sản khác chưa được liệt kê chỉ được chấp nhận là tài sản góp vốn khi Điều lệ công ty có ghi nhận Cách hiểu này cũng không được thỏa đáng bởi lẽ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật là những loại tài sản có những nét đặc thù riêng
Vì thế nếu coi chúng là loại tài sản góp vốn đương nhiên, sẽ không đảm bảo được quyền tự quyết của doanh nghiệp trong nhu cầu về sử dụng vốn
Do đó, pháp luật nên quy định những loại tài sản đương nhiên có thể trở thành tài sản góp vốn như tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng Những tài sản khác chỉ có thể dùng làm tài sản góp vốn khi Điều lệ công ty quy định
Thứ hai, rà soát quy định của pháp luật chúng ta thấy sự thiếu nhất
quán trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật
Doanh nghiệp 2005 sử dụng thuật ngữ “góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng
Trang 15đất”, trong khi Luật Đất đai năm 2003 lại sử dụng thuật ngữ “góp vốn bằng
quyền sử dụng đất” Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi nhận “giá trị quyền sở
hữu trí tuệ” là tài sản góp vốn thì Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi là Nghị định số 102/2010/NĐ-CP)
lại ghi nhận việc góp vốn bằng “quyền sở hữu trí tuệ” Vậy vấn đề đặt ra là
“giá trị quyền sử dụng đất”, “giá trị quyền sở hữu trí tuệ” hay “quyền sử
dụng đất”, “quyền sở hữu trí tuệ” là tài sản góp vốn? Theo quan điểm của
chúng tôi, việc sử dụng thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất” và “giá trị
quyền sở hữu trí tuệ” là loại tài sản góp vốn là không thống nhất với quan
niệm về tài sản quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Tài sản theo Điều
163 Bộ luật Dân sự năm 2005 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
quyền sở hữu trí tuệ mới được coi là tài sản Mặt khác, khoản 24 Điều 4 Luật
Đất đai năm 2003 cũng đã đưa ra khái niệm “giá trị quyền sử dụng đất là giá
trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong
thời hạn sử dụng đất xác định” Theo đó, giá trị quyền sử dụng đất và tương
tự là giá trị quyền sở hữu trí tuệ không phải tài sản theo cách phân loại tài sản
của pháp luật dân sự
1.2 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
a Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Sở hữu công nghiệp là một loại hình của sở hữu trí tuệ, liên quan đến
những thành quả sáng tạo trí tuệ của con người; đối tượng của loại sở hữu này
4
Điều 181 Bộ luật dân sự 2005
Trang 16là các tài sản phi vật chất, có giá trị kinh tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó bao gồm cả hoạt động công nghiệp và thủ công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu theo nhiều nghĩa:
Tiếp cận dưới góc độ là một quan hệ pháp luật, quyền sở hữu công
nghiệp hội tụ đầy đủ các yếu tố như chủ thể, khách thể, nội dung Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được hình thành trên cơ sở sự tác động của các quy phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Như vậy, chủ thể của quyền
sở hữu công nghiệp là tất cả các tổ chức, cá nhân như tác giả, chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc các tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ
Tiếp cận dưới góc độ là chế định pháp luật, quyền sở hữu công nghiệp
là pháp luật về sở hữu công nghiệp, nói khác đi đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và
áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp
Tiếp cận dưới góc độ là quyền chủ thể, quyền sở hữu công nghiệp là
những quyền, nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức là chủ thể của quyền
sở hữu công nghiệp Theo hướng tiếp cận này, khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí
tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) định nghĩa: “Quyền sở hữu công nghiệp
là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí
Trang 17mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” Trong đó, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được
xác định là một nội dung của quyền sở hữu công nghiệp, không phải là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
b Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
(i) Xét trong mối tương quan với quyền sở hữu tài sản hữu hình, quyền
sở hữu công nghiệp (rộng hơn là quyền sở hữu trí tuệ) với tính chất là quyền
sở hữu đối với tài sản vô hình (tài sản trí tuệ) có những nét đặc trưng riêng sau đây:
Về căn cứ phát sinh, xác lập và chấm dứt quyền: Do tính chất vô hình của tài sản trí tuệ nên quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ
sở thực tế sử dụng, khai thác đối tượng sở hữu công nghiệp Tương ứng với
đó, quyền sở hữu công nghiệp chấm dứt phụ thuộc vào hiệu lực của văn bằng bảo hộ hoặc thực tế không còn khai thác, sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp Quyền sở hữu tài sản hữu hình được xác lập và chấm dứt thường gắn liền với sự tồn tại của tài sản Theo đó, quyền sở hữu tài sản hữu hình xác lập trên cơ sở sự chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản và chấm dứt khi mà sự chiếm hữu không còn đạt được do tài sản bị tiêu hủy hoặc bị trưng mua, trưng dụng…
Về nội dung quyền: Quyền sở hữu tài sản hữu hình được xem xét ở ba quyền năng cấu thành là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhưng do tính chất vô hình của đối tượng quyền sở hữu công nghiệp mà trong nội dung quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật không đề cập tới quyền chiếm hữu
Do một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí) là thành quả lao động sáng tạo của con người nên
Trang 18trong nội dung bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp pháp luật ghi nhận sự bảo
hộ quyền nhân thân của các tác giả Trong khi đó, quyền sở hữu tài sản hữu hình không đặt ra nội dung về quyền nhân thân
Trong quá trình thực hiện quyền năng sử dụng, giá trị của tài sản trí tuệ gia tăng trong khi giá trị của tài sản hữu hình bị giảm sút Bởi lẽ tài sản hữu hình với tính chất hiện hữu vật chất trong quá trình sử dụng bị hao mòn vật lý
do điều kiện thời tiết, khí hậu…; hơn nữa với thời gian sử dụng lâu dài cũng dẫn đến những hao mòn vô hình do sự lạc hậu về kỹ thuật…Ngược lại, tài sản trí tuệ mà đặc biệt là các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp với tính chất vô hình nên không có sự hao mòn vật lý Hao mòn vô hình cũng có thể xảy ra đối với một số đối tượng sở hữu công nghiệp trong nhóm có tính sáng tạo khoa học kỹ thuật như sáng chế Còn hầu hết các đối tượng sở hữu công nghiệp nếu được áp dụng trong sản xuất kinh doanh (tức là thực hiện quyền năng sử dụng) sẽ nâng cao giá trị, nhất là với các đối tượng có tính thương mại như tên thương mại, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh…
Tính chất bảo hộ quyền: Trong khi quyền sở hữu tài sản hữu hình là quyền tuyệt đối không bị giới hạn về không gian và thời gian thì quyền sở hữu công nghiệp có tính chất lãnh thổ, quyền này được bảo hộ trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Phần lớn các quyền sở hữu công nghiệp chỉ phát sinh khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ
và văn bằng này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia đã cấp văn bằng
đó Đối với các đối tượng này, để đạt được sự bảo hộ tại nước ngoài, chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp phải nộp đơn đăng ký bảo hộ tại nước ngoài và chỉ được bảo hộ khi văn bằng được cấp Còn đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp mà quyền sở hữu công nghiệp đối với chúng phát sinh một cách tự động thì chúng cũng chỉ được bảo hộ khi đáp ứng yêu cầu cụ thể của pháp luật quốc gia nơi các đối tượng này muốn đạt được sự bảo hộ
Trang 19Về thời hạn bảo hộ: quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo hộ Các đối tượng được bảo hộ theo thời hạn là các đối tượng xác định được tác giả sáng tạo ra đối tượng đó, những đối tượng không xác định được tác giả sáng tạo được bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn với những điều kiện nhất định Có thể chia thời hạn bảo hộ thành các loại sau:
Thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn Loại thời hạn này được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm; với giải pháp hữu ích là 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; với thiết kế bố trí là 10 năm kể từ nộp đơn hợp lệ hoặc ngày người có quyền đăng ký khai thác, cho phép người khác khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới hoặc 15 năm tính từ ngày tạo ra thiết kế bố trí
Thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia hạn Loại thời hạn này được áp dụng đối với nhãn hiệu là 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ,
có thể gia hạn liên tiếp nhiều lẫn mỗi lần 10 năm; với kiểu dáng công nghiệp
là 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần
5 năm
Đối với các đối tượng nêu trên, việc bảo hộ trong thời hạn xác định chỉ
có hiệu lực khi chủ sở hữu văn bằng bảo hộ nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng
Thời hạn bảo hộ không xác định Loại thời hạn này áp dụng đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh cho đến khi nào còn đáp ứng được điều kiện bảo hộ
Hệ quả của việc bảo hộ: Việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản hữu hình của một người ít khi tạo nên tình trạng độc quyền ảnh hưởng đến phương pháp sản xuất kinh doanh của người khác Nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp lại có khả năng lớn dẫn đến tình trạng độc quyền
Trang 20(ii) Xét trong mối quan hệ với quyền tác giả (một bộ phận khác của
quyền sở hữu trí tuệ), quyền sở hữu công nghiệp có những điểm khác biệt sau:
Về đối tượng bảo hộ: đối tượng bảo hộ của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Trong khi đó, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện của sự sáng tạo, không cần phải được đánh giá
và công nhận, do đó không cần phải có văn bằng bảo hộ Còn quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín thương mại; một số đối tượng phải được đánh giá và công nhận do đó chúng phải được cấp văn bằng bảo hộ
Về điều kiện bảo hộ: Các tác phẩm văn học nghệ thuật được bảo hộ khi mang tính nguyên gốc và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Trong khi đó, về nguyên tắc, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo
hộ khi có tính mới, tính sáng tạo, tính khác biệt, tính ứng dụng Tuy nhiên, những điều kiện bảo hộ này khác nhau đối với từng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Về thủ tục bảo hộ: đối với hầu hết các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, việc bảo hộ chỉ đặt ra khi chủ thể quyền đã thực hiện thủ tục bảo hộ đối tượng quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong khi đó, yêu cầu này không mang tính bắt buộc đối với các đối tượng quyền tác giả
1.2.2 Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng
Trang 21chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
a Sáng chế
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng điều kiện về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Trong trường hợp sáng chế không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng điều kiện về tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp thì được bảo
hộ dưới hình thức Bằng độc quyền giải pháp hữu ích
Các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế theo Điều
59 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học; Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh, chương trình máy tính; Cách thức thể hiện thông tin; Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ; Giống thực vật, giống động vật; Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh; Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
b Kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này
Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp
Các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công
Trang 22nghiệp theo Điều 64 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có; Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp; Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm
c Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử
Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện về tính nguyên gốc
và tính mới thương mại
Những đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa thiết kế bố trí quy định tại Điều 69 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn; Thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn
Trang 23bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ
và không dễ dàng tiếp cận được
Đối tượng không đươc bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh quy định tại Điều 85 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Bí mật về nhân thân;
Bí mật về quản lý nhà nước; Bí mật về quốc phòng, an ninh; Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh
7 Màu tím được đăg ký là nhãn hiệu màu cho kẹo socola – Nhãn hiệu số 000031336 của Cộng đồng châu Au [11, tr.405]
Trang 24tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép; Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài; Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận; Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ
Ngoài khái niệm về nhãn hiệu nói chung còn có các khái niệm về các loại nhãn hiệu đặc thù: Nhãn hiệu tập thể; Nhãn hiệu liên kết; Nhãn hiệu chứng nhận; Nhãn hiệu nổi tiếng
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó Ví dụ: Bánh kẹo Hữu Nghị…
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép
tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cac nhân
đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Ví dụ: hàng Việt Nam chất lượng cao…
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng
Trang 25hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau Ví dụ: máy giặt LG, tủ lạnh LG, ti vi LG…
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Ví dụ: Coca-Cola…
Thực tế cho thấy khái niệm nhãn hiệu thường hay được sử dụng thay thế bởi khải niệm thương hiệu, thậm chí trong Công văn hướng dẫn của Tổng cục thuế cũng sử dụng thuật ngữ góp vốn bằng thương hiệu Thực chất đó là những khái niệm không tương đồng và về mặt pháp lý không thể sử dụng thay thế Thương hiệu không phải là một khái niệm pháp lý mà là một khái niệm thương mại Thương hiệu bao gồm nhiều yếu tố tạo nên hình ảnh doanh nghiệp và các sản phẩm của nó Nhãn hiệu chỉ là một trong những hình thức thể hiện ra bên ngoài của thương hiệu cùng với các yếu tố khác như kiểu dáng công nghiệp, truyền thông quảng cáo hay marketing Bên trong của thương hiệu còn có yếu tố khác như đặc tính của doanh nghiệp, chiến lược phát triển sản phẩm [13, tr.94]
e Tên thương mại
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa tên thương mại quy định tại Điều 77 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh
g Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
Trang 26Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Đối tượng không được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý quy định tại Điều 80 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa ở Việt Nam; Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước
đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng; Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm; Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
1.2.3 Phân loại đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Có nhiều cách để phân loại các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau
Dựa vào đặc tính có thể chia các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp thành 2 nhóm là nhóm đối tượng có tính sáng tạo (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh) và nhóm các đối tượng có tính phân biệt (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý)
Dựa vào trình tự thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp có thể chia thành 2 nhóm: nhóm đối tượng xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu ngoại trừ nhãn hiệu nổi tiếng) và nhóm đối tượng xác lập quyền dựa trên cơ sở thực tế khai thác, sử dụng (nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại và bí mật kinh doanh)
Trang 27Dựa vào đặc điểm xác định hoặc không xác định tác giả có thể chia thành 2 nhóm là nhóm đối tượng xác định tác giả (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí) và nhóm đối tượng không xác định tác giả (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh)
1.2.4 Tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp thể hiện những thuộc tính thương mại ở những điểm sau đây [16, tr.275-290]:
Thứ nhất, các đối tượng sở hữu công nghiệp là một trong những yếu tố
cấu thành hàng hoá, dịch vụ Mỗi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dù ít hay nhiều đều chứa đựng trong đó yếu tố trí tuệ Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức thì hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong kết cấu giá trị của hàng hóa, dịch vụ
Thứ hai, các đối tượng sở hữu công nghiệp được ứng dụng trong hoạt
động kinh tế, thương mại
Một trong những tiêu chí quan trọng để phân chia kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ thành hai lĩnh vực là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là dựa vào tính hữu ích và khả năng ứng dụng của chúng trong các hoạt động kinh tế, thương mại Các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu được sử dụng để áp dụng vào quá trình sản xuất để tạo ra những sản phẩm có chất lượng và công dụng cao hơn, áp dụng vào quá trình kinh doanh để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh nhằm nân cao khả năng cạnh tranh Vì thế hầu hết cá đối tượng sở hữu công nghiệp đều phải đáp ứng yêu cầu về khả năng áp dụng trong công nghiệp hoặc thương mại mới được bảo hộ
Thứ ba, các đối tượng sở hữu công nghiệp là một yếu tố thể hiện lợi thế
cạnh tranh trong thương mại
Trang 28Những cái tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm chính là các đối tượng sở hữu công nghiệp Các đối tượng sở hữu công nghiệp là công cụ cho phép chủ sở hữu đầu tư nỗ lực để tạo nên và duy trì một lợi thế cạnh tranh, mà một phần dựa trên khả năng sử dụng, cũng như khả năng ngăn cản người khác
sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm chủ yếu ở tài nguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ, mà nghiêng về tiềm lực tri thức và công nghệ, được chứa đựng chủ yếu trong các đối tượng sở hữu công nghiệp
Thứ tư, các đối tượng sở hữu công nghiệp là loại tài sản có giá trị kinh
tế to lớn, là "hàng hoá đặc biệt"
Trên thực tế, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triền, giá trị của một ngành kinh doanh ngày càng ít nằm trong các tài sản vật chất hay tài chính thể hiện trên bản quyết toán, mà nằm trong tài sản vô hình, như: quyền
sở hữu trí tuệ, giấy phép đại lý, chương trình nghiên cứu… Trong danh sách
100 thương hiệu mạnh nhất thế giới năm 2002 do Tuần báo Buiness Week (Hoa Kỳ) công bố, nhãn hiệu Coca - Cola được định giá tới 69,6 tỷ USD, Microsoft 64 tỷ USD, IBM 51,1 tỷ USD, GE 41,3 tỷ USD, Intel 30,8 tỷ USD, Nokia 29,9 tỷ USD Còn đối với một số sản phẩm có tên tuổi của Việt Nam, như nhãn hiệu kem đánh răng P/S được chuyển nhượng với giá 7,5 triệu USD (có tài liệu công bố là 8,5 triệu USD), kem đánh răng Dạ Lan 2,5 triệu USD
Với giá trị kinh tế to lớn, các đối tượng sở hữu công nghiệp được sử dụng làm vốn góp trong công ty, làm tài sản thế chấp vay vốn, có thể cho thuê, chuyển nhượng quyền sở hữu, hoặc dùng để định giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán,…
Các đối tượng sở hữu công nghiệp trở thành "hàng hoá" thông qua các hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, theo đó chủ sở hữu có khả
Trang 29năng thu lợi bằng cách cho phép người khác khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ
Thứ năm, quyền sở hữu công nghiệp có thể bị lạm dụng để cản trở
thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế
Quyền sở hữu công nghiệp là độc quyền của chủ sở hữu, do đó đây là một ngoại lệ của nguyên tắc tự do kinh doanh Nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc tự do cạnh tranh và tự do hoá thương mại
Trên thực tế, các chủ thể quyền và các quốc gia có nhiều cách lạm dụng việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp để cản trở thương mại Một trong số
đó là vấn đề quyền chống nhập khẩu đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ, hay còn gọi là quyền chống nhập khẩu song song
Theo pháp luật của nhiều nước, chủ thể quyền có quyền ngăn cản người thứ ba nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ, bất kể hàng nhập khẩu đến từ nguồn nào, hoặc bất kể hàng nhập khẩu có phải do chủ sở hữu đưa ra thị trường hay không Nghĩa là, pháp luật của nước này quy định cấm nhập khẩu song song,
để bảo vệ thế độc quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, theo quan điểm của một số nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển, thì đây là sự lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp để cản trở thương mại
Bên cạnh việc sử dụng quyền chống nhập khẩu song song, các nước còn có nhiều cách khác để lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp Một số quốc gia có nền kinh tế phát triển đã đẩy mạnh việc đăng ký bảo hộ sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá ở trong nước cũng như ở nước ngoài chỉ nhằm mục đích
"phòng ngừa" Việc làm đó có thể dẫn đến hậu quả làm hạn chế khả năng sáng tạo của các đối thủ cạnh tranh, do đó vi phạm nguyên tắc tự do cạnh tranh
Như vậy, trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá kinh tế, các rào cản về thuế quan sẽ giảm bớt, nhưng thay vào đó sẽ là các rào cản phi thuế quan ngày càng tinh vi, trong đó có rào cản về quyền sở hữu trí tuệ
Trang 301.3 Khái quát về góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp
1.3.1 Khái niệm, đặc diểm của hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là một loại tài sản vô hình, đó chính là quyền tài sản Với đặc trưng của quyền tài sản là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, do đó, quyền sở hữu công nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp
Góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp có thể được định nghĩa là hoạt động chuyển giao quyền tài sản thuộc quyền sở hữu công nghiệp sang cho doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của doanh nghiệp
Trong khái niệm về góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp không đưa ra vấn đề góp vốn bằng cách thức khác như nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế phần góp vốn là quyền sở hữu công nghiệp Bởi lẽ, theo quan điểm của tác giả luận văn, tài sản góp vốn trong trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế phần vốn góp là quyền sở hữu công nghiệp không phải là quyền sở hữu công nghiệp mà là phần vốn góp tương ứng với giá trị của quyền sở hữu công nghiệp Khi quyền sở hữu công nghiệp được đem góp vốn vào doanh nghiệp thì nó thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhận góp vốn Tổ chức, cá nhân góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đó trở thành thành viên doanh nghiệp và trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp tương ứng với giá trị quyền sở hữu công nghiệp đã đem góp vốn Việc những tổ chức, cá nhân này chuyển nhượng, tặng cho hay để thừa
kế phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác thì việc nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, thừa kế đó không được coi là cách thức góp vốn bằng quyền
sở hữu công nghiệp
Trang 31Đặc điểm của hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp:
Một là, chủ thể góp vốn vào doanh nghiệp Góp vốn bằng các tài sản
hữu hình thì chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu tài sản hữu hình đó Góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp thì chủ thể góp vốn không chỉ có chủ sở hữu đối tượng quyền mà còn có thể là các chủ thể có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp như chủ thể có quyền sử dụng trước một số đối tượng quyền
sở hữu công nghiệp hoặc chủ thể nhận chuyền quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Hai là, trình tự thủ tục góp vốn Đối với việc góp vốn bằng tài sản hữu
hình thì bên góp vốn tiến hành các thủ tục chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp nhận góp vốn bằng cách trực tiếp giao tài sản, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký (nếu tài sản hữu hình thuộc loại pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu) Việc góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp ngoài việc tuân thủ trình tự thủ tục vè góp vốn còn phải đáp ứng quy định về thủ tục chuyền giao quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Ba là, thời hạn góp vốn Thời hạn góp vốn vào doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu công nghiệp đối với một số đối tượng bị giới hạn bời hiệu lực của văn bằng bảo hộ Theo đó, quyền sở hữu công nghiệp chỉ được góp vốn khi đối tượng quyền còn trong thời hạn bảo hộ
Bốn là, góp vốn bằng tài sản hữu hình thì chủ sở hữu phải chuyển giao
toàn bộ quyền đối với tài sản hữu hình đó Trong khi đó, góp vốn bằng quyền
sở hữu công nghiệp chỉ thực hiện góp vốn bằng quyền tài sản, quyền nhân thân vẫn thuộc về tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp đó
Năm là, về định giá tài sản góp vốn Việc định giá đối với tài sản vô
hình là quyền sở hữu công nghiệp khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với
Trang 32định giá giá trị tài sản hữu hình Giá trị của quyền sở hữu công nghiệp phục thuộc vào nhiều yếu tố và qua quá trình sử dụng thì giá trị của nó lại càng tăng Vì thế việc định giá tài sản là quyền sở hữu công nghiệp tại thời điểm góp vốn cần có những tính toán cho sự gia tăng giá trị trong quá trình sử dụng sau này
1.3.2 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật, bao gồm pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp nói chung; pháp luật về sở hữu trí tuệ điều chỉnh hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (mà bản chất của góp vốn chính là chuyển giao quyền); pháp luật về kế toán điều chỉnh việc định giá, hạch toán kế toán quyền sở hữu công nghiệp khi góp vốn; pháp luật dân sự …
Hệ thống các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp có thể kể tới các văn bản chính sau:
Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005; Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định; Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13 tháng 3 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ về Thẩm định giá; Chuẩn mực kế toán số 04 ban hành và công bố theo Quyết định số
Trang 33149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Do tính chất đặc thù của quyền sở hữu công nghiệp nên việc góp vốn vào doanh nghiệp bằng loại tài sản này cũng có những nét đặc trưng riêng so với việc góp vốn bằng các loại tài sản thông thường khác Chính vì tài sản góp vốn là quyền sở hữu công nghiệp và với bản chất của hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp là hoạt động chuyển giao quyền sở hữu tài sản nên hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp và pháp luật về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Trang 34CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GÓP VỐN
VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
2.1 Chủ thể góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp
Để tham gia góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp thì tổ chức, cá nhân phải đáp ứng hai điều kiện:
Một là, chủ thể không thuộc diện các đối tượng bị cấm góp vốn vào
doanh nghiệp quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm
2005 Theo đó, những đối tượng sau đây không được phép góp vốn thành lập
và quản lý doanh nghiệp:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho
cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Luật cán bộ công chức năm 2008 dẫn chiếu tới điểm b khoản 1 Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cấm cán bộ, công chức, viên chức có
hành vi “thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
Trang 35- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn
sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản Theo khoản 2 Điều 94 Luật Phá sản năm 2004, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản
lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Tuy nhiên, hạn chế trên không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng
Trong quá trình doanh nghiệp đã đi vào hoạt động thì những tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền góp vốn vào doanh nghiệp:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt nam không được sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Điều 20 Luật cán bộ, công chức năm
2008 dẫn chiếu tới khoản 2 Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng năm
2005 Theo đó, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ