1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm

81 349 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 665,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu xây dựng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệ m của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm phù hợp với thực tiễn, vừa để bảo đảm nguyê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THANH TUẤN

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM

CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

Chuyên ngành: L UẬT DÂN SỰ

M ã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ HUYỀN

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn là trung thực Các kết luận khoa học trong Luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NH IỆM VỤ, QUYỀN HẠN

VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA TH ẨM PH ÁN TRO NG VIỆ C G IẢ I

Q UYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒ A ÁN CẤP SƠ TH ẨM 6

1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm 6

1.1.1 Nhiệm vụ của Thẩm phán 7

1.1.2 Quyền hạn của Thẩm phán 8

1.1.3 Trách nhiệm của Thẩm phán .10

1.2 Cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải qu yết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm .12

1.2.1 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tổ chức bộ máy Nhà nước và trong hoạt động tố tụng dân sự .12

1.2.2 Cơ sở pháp lý 14

1.2.3 C ơ sở thực tế 16

1.3 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, qu yền hạn và trách nhiệm củ a Thẩm phán với các chủ thể khác trong tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án dân s ự sơ thẩm 17

1.3.1 Mối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán với việc bả o đả m thực hiện quyề n và nghĩa vụ của đương sự .17

1.3.2 Mối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán với việc thực hiện nhiệ m vụ, quyền hạn và trách nhiệ m của Kiể m sát viên .18

1.3.3 Mối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán với việc thực hiện nhiệ m vụ, quyền hạ n và trách nhiệ m của H ội thẩ m nhân dân .19

1.4 Sơ lược hình thành, ph át triển nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải qu yết vụ án dân sự tại T oà án c ấp sơ thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam .20

1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959 20

1.4.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1989 21

1.4.3 Giai đoạn từ 1989 đến 01/01/2005 21

1.4.4 Giai đoạn ngày từ 01/01/2005 đến nay .22

Trang 4

1.5 Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về nhiệm vụ,

quyền hạn và trách nhiệm của Th ẩm ph án khi giải q uyết vụ án d ân sự tại

Tòa án cấp sơ thẩm .23

1.5.1 P háp luật tố tụng dâ n sự nước Liên bang Nga .23

1.5.2 Pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa Pháp .24

1.5.3 Pháp luật tố tụng dân sự Hoa K ỳ .26

1.5.4 Pháp luật tố tụng dân sự Anh 27

CHƯƠNG II: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA THẨM PH ÁN TRO NG VIỆC G IẢI Q UYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒ A ÁN CẤP SƠ TH ẨM TH EO PH ÁP LUẬT VIỆT NAM 29

2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm 29

2.1.1 Tiến hành lập hồ sơ vụ án .29

2.1.2 Tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự .35

2.1.3 Ban hành các quyết định tố tụng .37

2.1.4 Tham gia phiên tòa xét xử các vụ án dân sự .41

2.1.5 Tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự .43

2.2 Trách nhiệm của thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm .44

2.2.1 Trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm .44

2.2.2 Trách nhiệm pháp lý của T hẩm phán .47

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH

NH IỆM CỦA TH ẨM PH ÁN K H I G IẢI Q UYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒ A ÁN CẤP SƠ TH ẨM VÀ M Ộ T SỐ K IẾN NG H Ị 49

3.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán 49 3.1.1 Những kết quả đã đạt được .49

3.1.2 Những tồn tại 52

Trang 5

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiệ n nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của Th ẩm ph án khi giải qu yết vụ án dân sự tại Tòa án c ấp

sơ thẩm .63

3.2.1 Hoàn thiện các quy định liên quan đến xác định vị trí, vai trò của T hẩm phán 63 3.2.2 Hoà n thiệ n quy định về trách nhiệ m của Thẩ m phán khi tiế n hà nh tố tụng 64 3.2.3 Hoàn thiện thủ tục TTDS liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phá n khi giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm .65

3.2.4 Hoà n thiệ n các quy định về cung cấp chứng cứ .66

3.2.5 Quy định Thẩm phá n ủy quyền cho Thư ký lấy lời khai của những người tha m gia tố tụng 67

3.2.6 Hoàn thiện các quy định về sự tham gia giải quyết vụ án dân sự của HTND và Kiểm sát viên .67

3.2.7 Quy định tha m gia bắt buộc của người bảo vệ quyề n và lợi ích hợ p phá p đương sự trong vụ án dân sự .68 3.2.8 Quy định cho Thẩm phán hoặc HĐXX có quyề n về sửa chữa bổ sung bả n án theo hướng mở rộng hơn .69

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nội dung

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong thực hiện ba quyền: Lập pháp – hành pháp – tư pháp Trong hoạt động tư pháp, Tòa án giữ vai trò trung tâ m và là c ơ quan duy nhất có quyề n nhân danh N hà nước tiến hành xét xử các vụ án Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ pháp chế XHCN

Trong những năm gần đây, các tranh chấp dân sự tăng cả về số lượng và sự phức tạp Thống kê hàng năm của ngành Tòa án cho thấy, số lượng các vụ án dân

sự tăng nhanh, không chỉ các vụ án dân sự theo nghĩa hẹp mà còn cả các vụ án kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động Ngoài việc tăng về số lượng thì các

vụ án dân sự phức tạp về nội dung, các tranh chấp dân sự không chỉ đơn thuần trong một lĩnh vực nhất định mà ở trong các lĩnh vực khác nhau , đặc biệt các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, hoạt động kinh doanh đã gây ra không ít khó khăn, vướng mắc cho Tòa án Mặc dù có những khó khăn, nhưng ngành Tòa án đã thụ lý, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp dân sự, đáp ứng được yêu cầu của pháp luật và nguyện vọng của nhân dân

Bên cạnh những thành quả đạt mà ngành Tòa án đã được thì vẫn còn những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, trong đó

có các nguyên nhân từ quy định pháp luật, cơ cấu, tổ chức của Tòa án, quyền hạn và năng lực xét xử của cán bộ Tòa án… dẫn đến hoạt động xét xử của Tòa án chưa thực sự hiệu quả, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích của nhân dân và chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế Đảng cộng sản Việt Nam thấy được sự cần thiết

phải hoàn thiện các cơ quan tư pháp, vì vậy nhiệm vụ “cải cách tổ chức, hoạt động

của các cơ quan tư pháp” đã được thể hiện tại Đại hội VIII, IX của Đảng Cụ thể

hóa nhiệm vụ trên, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ

thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hư ớng đến năm 2020; Nghị quyết số

Trang 8

49-NQ/TW ngà y 02/6/2005 của B ộ C hính trị, Ban C hấp hành Trung ương Đảng

khóa IX về Chiến lược cải c ách tư phá p đế n năm 2020 và Kết luậ n số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa

án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra” [7] Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của cải

cách tư pháp là đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ qu an tư pháp, nhất là tổ chức và hoạt động của TAND

Thực hiện tinh thần của những Nghị quyết nêu trên, nhiều văn bản Luật và dưới Luật đã được ban hành, là hành lang pháp lý quan trọng để TAND thực hiện chức năng xét xử Hoạt động của Tòa án được thông qua chủ yếu là hoạt động xét

xử của Thẩm phán Khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, Thẩm phán tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng, kể cả khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có), trong đó xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có vai trò và ý nghĩa quan trọng Quá trình giải quyết các vụ án dâ n sự sơ thẩm có nhiều tình huống, vướng mắc và bất cập, gây không ít khó khăn cho Thẩm phán khi tiến hành tố tụng Trong khi đó các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán chưa đầy đủ hoặc chưa được Thẩm phán áp dụng đúng Vì vậy, Thẩm phán giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn có những sai sót, vi phạm, quá hạn Khi giải quyết các vụ án dân sự, tính chủ động, sáng tạo của Thẩm phán còn hạn chế; sự phối hợp giữa Thẩm phán với HTND, Thư ký chưa thực sự hiệu quả; cơ chế bảo đảm hoạt động TTDS của Thẩm phán chưa thực sự được quan tâm Những nguyên nhân trên trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án, đến quyền lợi ích của Nhà nước và nhân dân Vì vậy, nghiên cứu xây dựng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệ m của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm phù hợp với thực tiễn, vừa để bảo đảm nguyên tắc pháp chế, vừa để xem xét xây dự ng thủ tục giải quyết vụ án dân sự đơn giản về thủ tục, chính xác về nội dung, gó p phần thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp của Đảng và N hà nước là hết sức cần thiết

Để làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề ra những giải pháp để TAND – trong đó c ó Thẩm phán thực hiệ n có hiệ u quả tinh thần cải cách tư phá p

của Đảng và Nhà nước, tác giả lựa chọn nghiên cứu “Nhiệm vụ, quyền hạn và

Trang 9

trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây có nhiều đề tài, bài viết, nghiên cứu, luận văn liên quan đến việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán nói chung và trong TTDS nói riêng Các nghiê n cứu đó nhằm góp phần thực h iệ n yê u cầu cải cách tư pháp, xây dựng ngành Tòa án phát triển, vững mạnh, đội ngũ Thẩm phán c ó đủ nă ng lực và bản lĩnh nghề nghiệp C ó thể chia làm hai nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu bài viết liên quan đến quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung Mặc dù không trực tiếp xác định nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán, tuy nhiên hoạt động giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án được thể hiện qua hoạt động của Thẩm phán là chủ yếu Vì vậy, các bài viết, nghiên cứu đó cũng góp phần quan trọng làm sáng rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm

của Thẩm phán trong hoạt động TTDS, điển hình như: Kỷ yếu toạ đàm (2004), Qui

chế độc lập và cơ chế trách nhiệm của Thẩm phán- Nhà Pháp luật Việt - Pháp, Hà

Nội; Lê Thu Hà (2010), Tổ chức xét xử vụ án dân sự đáp ứng yêu cải cách tư pháp , Nxb chính trị quốc gia, Hà N ội Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), H oàn thiện

pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội …

Nhóm thứ hai: Các đề tài nghiên cứu trực tiếp đế n nhiệm vụ, quyền hạn và

trách nhiệm của Thẩm phán theo thủ tục TTDS như: Đề tài khoa học cấp Bộ “M ột

số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng BLTTDS”, mã số 95 – 98

– 046/ĐT của TANDTC đã có những bài viết “Xác định nhiệm vụ, quyền hạn của

Thẩm phán, vấn đề thực tiễn và yêu cầu trong việc xây dựng qui trình và thủ tục TTDS” của tiến sĩ Đinh N gọc Hiện; Bùi Thị Huyền (2001) “Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong TTD S”, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; Lê Thị Thúy Nga (2012),

“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS”, Khóa luận tốt

nghiệp, Hà Nội

Những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, đồng thời phản ánh được thực trạng đội

Trang 10

ngũ Thẩm phán trong hoạt động TTDS, những khó khăn bất cập khi giải quyết các loại vụ - việc theo quy định của BLTTDS Thông qua đó đưa ra những giải pháp về

lý luận, thực tiễn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước xem xét đưa ra những quy định phù hợp, tạo điều kiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán có đủ năng lực Tuy nhiên, để làm rõ hơn quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS, đặc biệt khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm thì chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể

3 Phạm vi n ghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam qua các thời kì; nghiên cứu pháp luật TTDS của một số quốc gia

về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán

Luận văn nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án dân sự tại T òa á n cấp sơ thẩm theo quy định c ủa pháp luật hiện hành Cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm xác định sau khi thụ lý và được lãnh đạo Tòa án phân công giải quyết vụ án theo quy định Đồng thời xem xét thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của T hẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin và tư tưởng H ồ Chí M inh

Phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu sử dụng các kết quả thống kê để hoàn thành luận văn

5 M ục đích , nhiệm vụ

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện tổng thể quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán Mục đích xây

Trang 11

dựng đội ngũ Thẩm phán có năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp khi giải quyết các loại

vụ án

Từ mục đích đó, nhiệm vụ của Luận văn là: Làm rõ khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán; tìm hiểu, so sánh với nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán một số quốc gia khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, luận văn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm cho Thẩm phá n thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trên thực tế

6 Cơ cấu của luận văn

Chương I: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương III: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm tại T òa án cấp sơ thẩm và một số kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨ M PHÁN TR ONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ Á N

DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤ P SƠ THẨM 1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm

Quan hệ pháp luật dân sự đa dạ ng về nội dung, hình thức và chủ thể tha m gia Khi tha m gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thự c hiện quyề n và nghĩa vụ the o đúng những nội dung đã cam kết và quy định pháp luật Tuy nhiên, khi một trong các bên không tuân thủ các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận đã cam kết, xâm phạm đến lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ Một trong những biện pháp bảo vệ quyền dân sự của chủ thể trong quan hệ dân sự là quyền khởi kiện “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [ 28] K hởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS [45] Thực hiện quyền khởi kiện, chủ thể phải có đơn khởi kiện gửi Tòa án có thẩm quyền Tòa án chỉ giải quyết k hi có đơn của chủ thể

có quyền khởi kiện

Việc xem xét đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau, có thể lãnh đạo Tòa án trực tiếp xem xét đơn khởi kiện, nếu đủ điều kiện thì thụ lý vụ án và giao vụ án cho Thẩm phá n giải quyết Cũng có Tòa án, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện và quyết định

có thụ lý vụ án hay không Tuy nhiên, dù lãnh đạo Tòa án hoặc Thẩm phán quyết định việc thụ lý vụ án thì nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán chỉ phát sinh khi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Theo quy định tại Điều

41 BLTTDS, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán không bao gồm việc xem xét thụ

lý vụ án Vì vậy, trong nội dung luận văn chỉ xem xét nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán tính từ thời điểm được lãnh đạo Tòa án phân công giải quyết

Trang 13

vụ án dân sự sơ thẩm – khi vụ án đã được thụ lý

BLTTDS quy định trình tự giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và thủ tục xét lại các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là trình tự khởi kiện, thụ lý, thu thập tài liệu, chứng cứ và xét xử giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm Trình tự thủ tục đó được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng, quan trọng nhất là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án

1.1.1 K hái niệm nhiệ m vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân

sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền, nhiệm vụ và nghĩa vụ là các khái niệm khác nhau Thẩm quyền là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định ” [50, tr.459] Khái niệm “thẩm quyền” bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền

quyết định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết

công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động) Nghĩa vụ là

việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực hiện hoặc không

được thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật Còn nhiệm vụ là công việc

phải làm, phải gánh vác [55, tr.1251] Theo cách giải nghĩa này thì nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện T uy nhiên, khi nói đến nhiệm vụ người ta thường nói đến công việc phải thực hiệ n của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó N hiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định Cùng một chủ thể, như ng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau

Nhiệm vụ c ủa Thẩm phán xuất phát từ tư cách của Thẩm phá n trong hệ thống bộ máy Nhà nước Thẩm phán là một chức danh tư pháp, được tuyển chọn và

bổ nhiệm theo một quy trình nghiêm ngặt Xuất phát từ tính chất “công việc” của Thẩm phán là nhân danh Nhà nước phán quyết, phân định quyền và nghĩa vụ của

Trang 14

các chủ thể trong vụ án dân sự Vì vậy, quy định nhiệm vụ của T hẩm phán càng cụ thể, đẩy đủ sẽ là điều kiện quan trọng để Thẩm phán có thể giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn Vị trí, vai trò của Thẩ m phán trong việc giải quyết vụ việc dân sự và được quy định tại Điều 41 BLTTDS Nhiệm vụ của T hẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm được xác định căn cứ vào thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm Thẩm phán thực hiện công việc từ khi thụ lý vụ án dân sự cho đến khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm Song trên thực tế, Thẩm phán cấp sơ thẩm thực hiện nhiệm vụ của mình từ khi được phân công giải quyết vụ án cho đến khi ra bản án, quyết định sơ thẩ m và các công việc sau khi ra bản án, quyết định sơ thẩm như sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định, hoàn thiện hồ sơ vụ án

có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Như vậy, nhiệm vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại

Toà án cấp sơ thẩm là công việc Thẩm phán phải thực hiện từ khi được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án dân sự the o thủ tục sơ thẩm cho đến ban hành bản án, quyết định sơ thẩm và các công việc khác có liên quan đến bản án, quyết định sơ thẩm theo quy định của tố tụng dân sự

Nhiệm vụ c ủa Thẩm phán giải quyết vụ á n dân sự tại T òa án cấp sơ thẩ m được thực hiện trên cơ sở sự phân công của lãnh đạo Tòa án Đây là cơ sở để phát sinh nhiệm vụ của Thẩm phán Nhiệm vụ đó chỉ kết thúc khi vụ án được giải quyết xong hoặc Thẩm phán thuộc trường hợp phải từ chối tiế n hành tố tụng hoặc bị thay thế Khi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm phán giải quyết chính xác nội dung vụ án - giải quyết được tranh chấp phát sinh giữa các bên đương sự

1.1.2 K hái niệ m quyền hạn của Thẩm ph án trong việc giải quyết vụ án dân

sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Cũng giống như nhiệm vụ của Thẩm phán, quyền hạn của Thẩm phán cũng xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật Pháp luật trao cho chủ thể có quyền như thế nào trên cơ sở cương vụ, chức vụ mà c hủ thể đó đảm nhiệm Thông

thường, quyền hạn được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép [55,

tr.1384] Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của m ột cơ qua n, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí

Trang 15

công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [50, tr.651]

Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy N hà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩ m quyền của cơ quan, tổ chức Quyền hạ n của người có thẩ m quyền c ủa cơ qua n, tổ c hức là quyề n quyết định giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ của cá nhân người có thẩm quyền của cơ quan tổ chức đó Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định

Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ chặt chẽ Nhiệm vụ của Thẩm phán là việc phải thực hiện các thủ tục tố tụng mà BLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ thì tùy theo tính chất và mức độ việc giải quyết vụ án dân sự sẽ khôn g chính xác và có thể phải thực hiện lại Nhiệm vụ của Thẩm phán được xác định mang tính bắt buộc khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, trong đó Thẩm phán phải thực hiện chính xác

về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án Để Thẩm phán có thể thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử vụ án dân sự sơ thẩm, pháp luật cần trao cho Thẩm phán những quyền hạn đầy đủ Quyền hạn của Thẩm phán là quyền quyết định trong việc thực hiện thủ tục

tố tụng và ra các quyết định tố tụng do pháp luật TTDS quy định Quyền hạn của Thẩm phán mang tính chất chủ động nhằm thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán Khi giải quyết vụ án dân sự, trên cơ sở nhiệm vụ mà pháp luật TTDS quy định, Thẩm phán có quyền hạn lựa chọn cách thức, thời gian, biện pháp và ra các quyết định tố tụng để thực hiện nhiệm vụ nhằm giải quyết vụ án dân sự chính xác

Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với một chủ thể xác định thì quyền hạn và nhiệm vụ là tương đối thống nhất Pháp luật quy định nhiệm vụ của Thẩm phán phải thực hiện những công việc gì, đ ồng nghĩa là pháp luật phải trao cho Thẩm phán những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán nói chung được quy định chủ yếu trong PLTP&HTND như: Xét xử nhữ ng vụ án và giải quyết những công việc khác theo sự

Trang 16

phân công; được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xét xử; không được làm những việc

mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm [36]; không được tiếp đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định… [51] D o đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong TTDS được quy định thống nhất tại Điều 41 BLTTDS, không quy định tách biệt nhiệm vụ và quyền hạn

Quyền hạn của Thẩm phán k hi giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm, khác với quyền hạn của Thẩm phán tại T òa án cấp phúc thẩm hoặc khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm và được pháp luật TTDS quy định căn cứ vào các công việc mà Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện

Như vậy, quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại

Tòa án cấp sơ thẩm là quyền quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng và ra các quyết định tố tụng của Thẩm phán từ khi được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm cho đến ra bản án, quyết định sơ thẩm và các quyền khác c ó liên quan đến bản án, quyết định sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

1.1.3 Kh ái niệm trách nhiệm của Thẩm ph án tron g việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ th ẩm

Theo Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1999, trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình [55, tr.1678] Còn theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2001, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả (trách nhiệm làm cha mẹ, giám đốc xí nghiệp, ý thức trách nhiệm… ) Trách nhiệm thường gắn với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phải chịu hậu quả trong trường hợp thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ , quyền hạn của mình Trách nhiệ m của Thẩm phá n nói chung được quy định tại PL TP&HTND, B ộ luật Hình sự, Bộ luật D ân sự, Luật trách nhiệm bồi thường của N hà nước và nhiều văn bản pháp luật có liên quan BLTTDS không quy định cụ thể trách nhiệm của Thẩm phán, tuy nhiên thông qua tinh thần các điều luật và các quy định về trách nhiệm chung của Thẩm phán trong các văn bản pháp luật có liên quan, có thể khái

Trang 17

quát trách nhiệ m của Thẩm phán khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như

sau: Trác h nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp

sơ thẩm là việc Thẩm phán tuân thủ các quy định của tố tụng dân sự và các quy định pháp luật về nội dung để giải quyết nội dung vụ án dân sự sơ thẩm chính xác

và hậu quả pháp lý mà Thẩm phán phải gánh chịu do không thực hiện đúng nhiệm

Trách nhiệm của Thẩm phán có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quyền hạn Trách nhiệm của Thẩm phán chỉ xác định được khi gắn với nhiệm vụ và quyền hạn nhất định Ngược lại, khi Thẩm phán được pháp luật giao những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ thì cần có một cơ chế xác định việc thực hiện đó đúng, chính xác không Việc quy định và xác định trách nhiệm của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền và những hành vi trái pháp luật, hạn chế sự chủ quan, thiếu thận trọng của Thẩm phán khi tiến hành tố tụng Đặc điểm của vụ án dân sự sơ thẩm là luôn tồn tại mâu thuẫn giữa các bên đương sự nên

để giải quyết yêu cầu, tranh chấp của đương sự, trách nhiệm của Thẩm phán phải áp dụng đúng các quy định để giải quyết các mâu thuẫn đó Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ , quyền hạn của mình

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân

sự tại Toà án cấp sơ thẩm là việc Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng, áp dụng các quy định pháp luật nội dung nhằm giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp s ơ thẩm chính xác, đúng pháp luật Đồng thời xác định hậu quả pháp lý khi Thẩm phán không thực hiện đúng các quy định đó Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi giải quyết

vụ án dân sự sơ thẩm được pháp luật TTDS quy định cụ thể, cho phép Thẩm phán

Trang 18

được thực hiện một cách độc lập những hành vi tố tụng cần thiết nhằm giải quyết vụ

án dân sự Sự độc lập khi tiến hành tố tụng của Thẩm phán được Hiến pháp và pháp luật khẳng định và được thực hiện trên thực tế Sự độc lập càng được khẳng định thì trách nhiệm của Thẩm phán càng được đề cao Để Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cần phải có một hành la ng pháp lý đầy đủ và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước

1.2 Cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải qu yết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm

1.2.1 Vị trí, vai trò của Th ẩm phán Tòa án c ấp sơ thẩm trong tổ chức bộ máy Nhà nước và trong hoạt động tố tụn g dân sự

Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức [32] Trong đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp, chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [50, tr.651] TAND với chức năng xét xử - một hoạt động cơ bản của quyền tư pháp, là cơ quan

có vị trí độc lập và là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước Trong các cơ quan tư pháp, Tòa án là cơ quan xét xử và là cơ quan có vị trí, vai trò quan trọng nhất

Nhiệm vụ của Tòa án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, hôn nhân gia đình, dân sự, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính Trong phạm vi chức năng của mình là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân ; bảo vệ tài sản của N hà nước; của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân [33] Để thực hiện được nhiệm vụ đó, pháp luật xác định và trao cho Thẩ m phán vai trò qua n trọng trong việc xét xử các loại vụ án Khi xét xử các vụ án, bắt buộc phải do Thẩm phán tiến hành và có vị trí, vai trò không thể thay thế Khi xét

Trang 19

xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thẩm phán cùng với HTND nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết, giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và pháp chế XHCN

Khi xét xử các loại việc khác nhau, Thẩm phán tuân thủ các thủ tục tố tụng tương ứng với loại việc đó, phụ thuộc vào phạm vi xét xử và giới hạn xét xử của từng loại quan hệ tố tụng mà pháp luật quy định Trong thủ tục tố tụng hình sự, Thẩm phán tuân thủ các quy định tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó Thẩm phán tiến hành xét xử trên cơ sở hồ sơ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát kết luận và truy tố Thẩm phán không tiến hành điều tra vụ án hình sự Trong thủ tục TTDS, vai trò của Thẩm phán được thể hiện rõ nét hơn, Thẩm phán trực tiếp thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải, chuẩn bị hồ sơ

vụ án và trực tiếp xét xử Chính vì vậy, Thẩm phán tiến hành giải quyết các vụ án dân

sự sơ thẩm đòi hỏi phải có kiến thức, năng lực để xác định và thu thập các tài liệu chứng cứ Xuất phát từ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán được quy định tại Điều 13, Điều 41, Điều 173 BLTTDS thấy được vị trí, vai trò quan trọng của Thẩm phán trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự

Như vậy, trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước thì Thẩm phán là công chức, làm việc trong TAND, trực tiếp tiến hành tố tụng xét xử các loại vụ án Pháp luật quy định “Thẩm phán là người tiến hành tố tụng được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”[51] T ại Điều 39 BLTTDS xác định những người tiến hành TTDS gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, HTND, Thư ký Tòa án, Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên [28] Với tư cách là người được giao thực hiện c hức năng xét

xử của Tòa án, Thẩm phán có vị trí quan trọng và có vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực Nhà nước – quyền tư pháp

Để được bổ nhiệm làm Thẩm phán, cá nhân phải hội tụ các điều kiện theo quy định của pháp luật được quy định cụ thể tại Điều 37 Luật tổ chức TAND và Điều 5 PLTP&HTND Trên cơ sở các điều kiện đó, cá nhân được bổ nhiệm Thẩm phán trong một thời hạn nhất định Thẩm phán được Nhà nước quy định rõ những nhiệm

vụ, quyền hạn nhằm thực hiện xét xử các loại vụ án Đồng thời, Thẩm phán phải chịu

Trang 20

trách nhiệm đối với hành vi của mình trong suốt quá trình tiến hành tố tụng

Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó hai h ệ thống pháp luật là chủ yếu, hệ thống pháp luật án lệ (common law) và hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law) Tương ứng với hai hệ thống pháp luật trên là hai loại hình thủ tục tố tụng, thủ tục tố tụng tranh tụng và thủ tục tố tụng xét hỏi [47, tr.97] Hình thức tố tụng xét hỏi xác định việc chứng minh đúng sai do các

cơ quan Nhà nước thực hiện, đề cao vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán Hình thức tố tụng thứ hai là tố tụng tranh tụng, đề cao vai trò chứng minh của các đương sự, T hẩm phán chỉ căn cứ vào việc cung cấp chứng cứ

do các bên cung cấp để xác định đúng sai Nội dung tranh tụng được thể hiện suốt trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Ngoài ra, một số nước trên thế giới còn áp dụng hình thức tố tụng “pha trộn” – hỗn hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, theo đó, việc chứng minh đúng sai do cả người tiến hành tố tụng và đương sự cùng thực hiện T uy nhiên, dù ở hình thức tố tụng nào thì vai trò quan trọng của Thẩm phán vẫn luôn được đề cao, Thẩm phán tham gia và o các hoạt động

tố tụng mà sản phẩm cuối cùng là bản án, quyết định đúng pháp luật

Như vậy, vai trò của Thẩm phán trong mỗi hình thức tố tụng khác nhau dẫn đến việc quy định khác nhau nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán

Ở Việt Nam, về cơ bản, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở thủ tục xét hỏi nhưng

có kết hợp các yếu tố c ủa thủ tục tố tụng tranh tụng [10] Theo đó các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mìn h là có căn cứ và hợp pháp, bên cạnh đó Tòa án vẫn xác minh, thu thập chứng cứ trong một số trường hợp do pháp luật quy định Do đó, khi xây dự ng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của T hẩm phán cần căn cứ vào vai trò của Thẩm phán đối với hoạt động TTDS

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang coi việc cải cách tư pháp là một nội dung quan trọng, để hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ đã chỉ

rõ, vấn đề cải cách tư pháp, hoàn thiện pháp luật là những vấn đề cấp bách trong

Trang 21

điều kiện kinh tế xã hội có nhiều biến đổi, quá trình hội nhập với khu vực và thế giới đang ngày một sâu rộng Vấn đề cải cách tư pháp đã được cụ thể hóa tại các Nghị quyết của Bộ chính trị, trong đó có Nghị quyết số 08 -NQ/TW ngày 02.01.2002, N ghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị M ột trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 49-NQ/TW là việc xác định vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử Như vậy, một phần quan trọng để cải cách tư pháp là nâng cao hơn nữa chất lượng xét

xử Vì vậy, việc xác định cụ thể, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán là vấn đề quan trọng Thẩm phán là người được Nhà nước giao cho nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể để thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động Thông qua đó cho phép phân biệt cụ thể thẩm quyền của Tòa án và nhiệm vụ của Thẩm phán Đồng thời sẽ là cơ sở tiến tới xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của HTND và các cán bộ khác của Tòa án Điều đó thực sự giải quyết tổng thể những yêu cầu về đổi mới trong tổ chức, hoạt động TTDS của Tòa án; thực hiện những bước đi cơ bản trong cải cách tổ chức, hoạt động TTDS của Tòa án trong giai đoạn hiện nay [10]

Để cụ thể hóa định hướng của Đảng cộng sản Việt Nam, trên cơ sở mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, mọi tổ chức, cá nhân đều phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đặc biệt Thẩm phán - người tiến hành tố tụng “đặc biệt”, nhân danh Nhà nước phán quyết đúng - sai của các quan hệ pháp luật Chính vì vậy, cần cụ thể hóa việc bổ nhiệm, hoạt động của Thẩm phán và hậu quả của việc Thẩm phán thực hiện không đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật là đòi hỏi cần thiết Theo quy định của pháp luật hiện hành nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Những quyền và nghĩa vụ chung được thể hiện tại Luật cán bộ công chức, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của PLTP&HTND Trong lĩnh vực TTDS, ngoài việc tuân thủ các quy định chung, Thẩm phán phải thực hiện những hoạt động tố tụng theo đúng quy định của BLTTDS trong việc lập hồ sơ, xét xử vụ án

Trang 22

Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán sẽ nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong hoạt động TTDS, ngoài ra còn là cơ sở để xác định trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành tố tụng không đúng Quá trình thực hiện tố tụng, nếu người tiến hành tố tụng vi phạm các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Việc thực hiện bồi thường được quy định cụ thể trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Nếu hành vi của Thẩm phán hoặc bất kỳ người tiến hành tố tụng nào khác

có cấu thành tội phạm thì ngoài trách nhiệm về hành chính (công vụ), bồi thường thiệt hại còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự

1.2.3 C ơ sở thực tế

Hiện nay, các quy định liên quan đến hoạt động giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm tương đối đầy đủ, góp phần quan trọng để Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ quyền hạn của mình T uy nhiên, trên thực tế việc giải quyết vụ án và các phán quyết của Thẩm phán nhiều lúc, nhiều nơi chưa thực sự độc lập, ảnh hưởng đ ến chất lượng xét xử, niềm tin của người tham gia tố tụng bị giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến

“vị thế” của Thẩm phán N goài ra, các vấn đề khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng

xét xử của Thẩm phán, đó là trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, sự lạm quyền của Thẩm phán cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng xét xử Hàng năm, ngành Tòa án tiến hành thống kê chất lượng xét xử, còn nhiều vụ án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán nói riêng và của HĐXX nói chung còn nhiều Một số Thẩm phán bị xử lý về hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án Vì vậy, ngoài việc hoàn thiện thủ tục tố tụng để giải quyết các vụ án dân sự, thì cần quy định cụ thể, chặt chẽ hơn việc tuyển chọn, bổ nhiệm, cũng như quy định quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán

Thực tế, phần lớn các Thẩm phán thực hiện việc giải quyết sơ thẩm các vụ án dân sự, so với số ít các Thẩm phán giải quyết phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Khi giải quyết sơ thẩm các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, Thẩm phán là người lập hồ sơ để giải quyết vụ án, vì vậy, Thẩm phán có vai trò quan trọng Tuy nhiên các cơ chế đãi ngộ, bảo vệ Thẩm phán cấp sơ thẩm chưa thực sự bảo đảm Điều đó

là một trong nhữ ng nguyên nhân trong vài năm gần đây, các Thẩm phán chuy ển

Trang 23

công tác, xin miễn nhiệm để làm công việc khác đã diễn ra, ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều Thẩm phán và cán bộ Tòa án khác

Một vấn đề khác mà hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân đang quan tâm đối với ngành Tòa án là vấn đề giải quyết tranh chấp các vụ á n dân sự kéo dài – chủ yếu là các vụ án dân sự sơ thẩm; n hiều vụ án bị sửa, hủy, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân, không bảo đảm quyền lợi ích của đương sự… Như vậy, cần thiết phải có quy định cụ thể hơn nữa đối với Thẩm phán, đặc biệt là Thẩm phán giả i quyết sơ thẩm các vụ án, trong đó có các vụ án dân sự

1.3 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán với các chủ thể kh ác trong tố tụng dân sự khi giải qu yết vụ án d ân sự sơ thẩm

1.3.1 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn v à trách nhiệm của Thẩm phán v ới việc bảo đảm thực hiện quyền và n ghĩa vụ của đư ơng sự

Khi tiến hành giải quyết các vụ án dân sự sơ thẩm, Thẩm phán thực hiện rất nhiều các hành vi tố tụng khác nhau, hành vi tố tụng của Thẩm phán ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự Bản chất của vụ án dân sự là sự mâu thuẫn giữa các bên đương sự, việc Thẩm phán thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng sẽ giúp cho quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS được bảo đảm, các đương sự thông qua Thẩm phán bảo vệ được quyền lợi của mình Hơn nữa, việc thực hiện chính xác nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, chính xác

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi Thẩm phán hoặc HĐXX ban hành quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật, mối liên hệ giữa Thẩm phán và đương sự luôn tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán bảo đảm cho đương sự quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối của mình; Thẩm phán xem xét việc yêu cầu đương sự , cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ hoặc tự mình thu thập các chứng cứ là căn cứ để giải quyết vụ án; thực hiện việc hòa giải để các đương sự thỏa thuận việc giải quyết vụ án; Thẩm phán xem xét yêu cầu khởi kiện và chứng cứ để quyết định việc giải quyết vụ án như đình chỉ, tạm đình chỉ, chuyển vụ án hoặc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử …

Trang 24

Tại phiên tòa sơ thẩm dâ n sự , việc thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, tạo điều kiện cho các bên đương sự có thể trực tiếp trình bày, tranh luận

để bảo vệ quyền lợi của mình, cùng với HTND, Thẩm phán ra bản án, quyết định

Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng, Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng pháp luật thì vụ

án được giải quyết chính xác về nội dung và tố tụng – quyền lợi của đương sự được bảo đảm N gược lại, Thẩm phán thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, dẫn đến vụ án giải quyết không chính xác Thẩm phán vi phạm pháp luật tùy theo mức

độ vi phạm và hậu quả, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về dân sự, hành chính hoặc hình sự

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đòi hỏi các đương sự cũng phải thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để việc giải quyết vụ á n được nhanh chóng và chính xác Đương sự thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm chính là điề u kiện thuận lợi để Thẩ m phán thực hiệ n tốt nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm

1.3.2 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn v à trách nhiệm của Thẩm phán v ới việc thực hiện nhiệ m vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiể m sát viên

So với quy định của BLTTDS năm 2004, LSĐBS một số điều của BLTTDS

mở rộng quy định kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS Căn cứ vào khoản

3 Điều 1 LSĐBS, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giải quyết hầu hết các vụ án dân

sự sơ thẩm, vì thực tế gần như toàn bộ các vụ án, Thẩm phán phải thực hiện việc thu thập chứng cứ theo khoản 18 Điều 1 LSĐBS

BLTTDS quy định những vụ án có sự tham gia của Kiểm sát viên, sau khi Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải gửi quyết định và hồ

sơ vụ án cho VKS cùng cấp, để Kiểm sát viên thực hiện việc nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thu thập chứng cứ và chuẩn bị xét xử của Thẩm phán Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có ý nghĩa quan trọng, nếu thực hiện không chính xác, vi phạm

tố tụng thì sẽ bị Kiểm sát viên xem xét, kiến nghị Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực

Trang 25

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình bằng cách kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTDS của HĐXX, trong đó có Thẩm phán Thông qua việc kiểm sát tuân theo TTDS,

là cơ sở để Kiểm sát viên thực hiện việc kiến nghị, kháng nghị nếu có sai sót, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo vệ pháp chế XHCN

Việc quy định Kiểm sát viên tham gia tố tụng khi giải quyết các loại vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 1 LSĐBS có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, tạ o cho Thẩ m phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyề n hạn phải luôn thận trọng trong việc thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án một cách chính xác, tuân thủ triệt

để các quy định về tố tụng, là điều kiện để giải quyết nhanh chóng các vụ án, bảo đảm quyền và lợi ích của đương sự

1.3.3 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn v à trách nhiệm của Thẩm phán v ới việc thực hiện nhiệ m vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HTND

BLTTDS quy định HTND tham gia vụ án dân sự từ khi có quyết định đưa vụ

án ra xét xử HTND không có quyền thu thập chứng cứ và phụ thuộc hoàn toàn và o việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Thẩm phán Do đó, việc chuẩn bị xét xử của Thẩm phá n có ý nghĩa quan trọng, nếu Thẩ m phán thực hiệ n nhiệm vụ, quyền hạ n của mình một cách chính xác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tạo điều kiện cho HTND có thể xem xét vụ án một cách toàn diện, chính xác Ngược lại, Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HTND khi xét xử và quyết định giải quyết vụ án BLTTDS chưa quy định về việc HTND đề xuất việc thu thập chứng cứ sau khi c ó Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời cũng chưa có quy định về việc HTND từ chối tiến hành tố tụng vì lý do Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không chính xác khi chuẩn bị xét xử Do vậy, pháp luật cần thiết phải phân định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của Thẩm phán và HTND khi tiến hành tố tụng Nếu xác định HTND phải chịu trách nhiệm cùng với Thẩ m phán trong hoạt động tố tụng thì cần phải có những quy định về sự tham gia của HTND trong quá trình chuẩn bị xét xử, thu thập chứng cứ Ngược lại, nếu xác định ý kiến của HTND thực chất là ý kiến xã hội và họ chỉ có quyền đưa ra ý kiến chứ không có quyền đưa ra phán quyết, Thẩm phán phải tự c hịu trách nhiệm cá nhâ n về phá n quyết của mình [4 3]

Trang 26

Ngoài ra, khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, Thẩm phá n còn c ó mối liên hệ với nhữ ng chủ thể tham gia tố tụng khác như: N gười bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người đại diện của đương sự

1.4 Sơ lƣợc hình thành, ph át triển nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm theo tố tụng dân sự Việt Nam

1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959

Quá trình hình thành và phát triển của ngành Tòa án, gắn liền với sự ra đời, phát triển của Nhà nước CHXHCN Việt N am Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán Trong đó, có hai ngạch Thẩm phán: Ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán ở mỗi cấp Tòa án được xác định khác nhau

Tiếp đó, ngày 17/4/1946, Sắc lệnh 51 ấn định thẩm quyền của các Tòa án và

sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án, dưới góc độ tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong lĩnh vực TTDS đã được xác định tương đối cụ thể

Ngày 09/11/1946, Hiến phá p đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ c ộng hòa được ban hành, ngoài việc quy định các cơ quan Nhà nước, Hiến pháp cũng quy định về nhiệm vụ, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp Việc bổ nhiệm Thẩm phán do Chính phủ (Điều 64) Để bảo đảm sự độc lập trong hoạt động tố

tụng, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên này đã quy định “Trong khi xét xử, các viên

Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thi ệp” (Điều

69) [32]

Nhìn chung, tổ chức ngành T òa án trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm

1960 tương đối gọn nhẹ, nhữ ng quy định về thủ tục tố tụng trong giai đoạn này không nhiều nhưng đủ khả năng áp dụng giải quyết các vụ kiện dân sự là nhữ ng đặc điểm cơ bản của Luật TTDS Việt Nam trong thời kỳ mới hình thành [9] Đối với các quy định riêng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán chưa thực sự đầy đủ, mà thường gắn với chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án

Trang 27

1.4.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1989

Hiến phá p 1959, Luật T ổ chức TAND ngà y 14/7/1960 và P háp lệ nh quy định cụ thể về tổ chức TANDTC và tổ chức của các TAND địa phương ngày 23/3/1961 Các văn bản pháp luật này đã xây dựng và hoàn thiện bộ máy ngành Tòa

án từ trung ương xuống địa phương, bao gồ m cả các Tòa án quân sự N hiệm vụ, quyền hạn của Tòa án phải do những cán bộ ( Thẩm phán) được sự tín nhiệm của nhân dân, có đủ năng lực và chịu trách nhiệm trước nhân dân thực hiện Trong giai đoạn này, đã xây dựng được nguyên tắc tố tụng, theo đó nguyên tắc xét xử tập thể

và quyết định theo đa số đã được ghi nhận tại L uật Tổ chức TAND năm 1960 Đ ối với những vụ án nhỏ, đơn giản và không quan trọng do một Thẩm phán giải quyết Việc xét xử không có HTND tham gia được quy định tại Thông tư 03 ngà y 03/3/1966 c ủa TANDTC để giải quyết các vụ thuận tình li hôn Giai đoạn này, việc thực hiện hoạt động của Tòa án, đặc biệt là quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán căn cứ vào các quy định do TAND tối cao ban hành

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩ m phán giai đoạ n này c ó thể khái quát như sa u: Khi tiến hành tố tụng Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện việc điều tra, hòa giải giữa các bên đương sự, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Thẩm phán có nhiệm vụ và quyền hạn độc lập xét xử một số vụ á n giá trị tranh chấp nhỏ, đơn giản; Thẩm phán cùng với HTND giải quyết các vụ án dân sự khác để giải quyết tranh chấp trong nhân dân Nguyên tắc xét xử tập thể tiếp tục được khẳng định quy định tại Hiến pháp năm 1980, tiếp theo là Luật Tổ chức TAND năm 198 1, sửa đổi, bổ sung năm 1988

1.4.3 Giai đoạn từ 1989 đến 01/01/2005

Trên cơ sở kế thừa của các bản hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 1992; Luật tổ chức TAND năm 1992; PLTP&HTND năm 1993 tiếp tục khẳng định TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam

Về thủ tục TTDS, cũng như quy định nhiệm vụ , quyền hạn của Thẩm phán được quy định tại Pháp lệnh TTGQCVADS 1989 Đây là văn bản đầu tiên quy định

cụ thể trình tự thủ tục tố tụng giải quyết về dân sự, cũng như quyền và nghĩa vụ của

Trang 28

các chủ thể tham gia TTDS Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thông qua việc giải quyết các vụ án dân sự

Tuy nhiên, giai đoạ n nà y có sự tha y đổi về phạm vi điều c hỉnh của luật

TTDS Theo đó Pháp lệnh TTGQCVADS quy định việc giải quyết các vụ án dân sự

“thuần túy” và các vụ án về hôn nhân và gia đình Việc giải quyết các vụ án về kinh

tế, lao động và hành chính được thực hiện theo các Pháp lệnh về thủ tục giải quyết Kinh tế, Lao động và Hành chính tương ứng

Ngày 14/5/1993, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành PLTP&HTND, đây

là văn bản pháp luật đầu tiê n quy định nhiệ m vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩ m

phán Tiếp đó, PLTP&HTND năm 2002 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán cụ thể hơn

Giai đoạn này, với nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động TTDS của Tòa án và các quy định c ụ thể về quyề n hạ n, nghĩa vụ, trách nhiệm c ủa Thẩm phá n cho thấy vai trò, vị trí của Thẩm phán trong TTDS được đề cao, tạo điều kiện cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, đồng thời dần hoàn thiện được trình tự thủ tục khi giải quyết vụ án dân sự, đáp ứng yêu cầu của Đảng, N hà nước và nhân dân

Về trách nhiệm của Thẩm phán được quy định cụ thể trong B ộ luật hình sự,

Bộ luật dân sự và các văn bản của Chính phủ về cán bộ công chức

1.4.4 Giai đoạn từ ngày 01/01/2005 đến n ay

BLTTDS ra đời đã thống nhất thủ tục giải quyết các vụ dâ n sự, kinh doanh

và lao động Đồng thời xác định rõ chức năng, thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng, trong đó có Thẩm phán Để cụ thể hóa các quy định của BLTTDS, TAND tối cao ban hành nhiều N ghị quyết hướng dẫn chi tiết về người tiến hành tố tụng, trình tự tiến hành tố tụng liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hà nh, BLTTDS bộc lộ những hạn c hế, bất cậ p; một số quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có nhữ ng quy định chưa phù hợp, chưa đầy đủ, có những cách hiểu khác nhau; chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… [37] N gày 29/3/2011, Quốc hội đã thông qua BLTTDS sửa đổi bổ sung LSĐBS đã quy định cho Thẩ m phán giải

Trang 29

quyết các vụ dân sự sơ thẩm đa dạng hơn, quá trình giải quyết vụ án được chủ động thu thập chứng cứ trong một số trường hợp, Thẩm phán có quyền xem xét quyết định cá biệt của cơ quan tổ chức rõ ràng trái pháp luật…

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự nói riêng và trong TTDS đã được quy định tương đối phù hợp Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa vai trò của Thẩm phán trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi giải quyết vụ án dân

sự, pháp luật cần xác định Thẩm phán là người giữ vai trò chủ yếu và quan trọng không thể thay thế trong việc bảo đảm trình tự và thủ tục TTDS Do đó, các quy định về TTDS nói chung, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán nói riêng cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp, là một đòi hỏi tất yếu

Đối với trách nhiệm của Thẩm phán ngoài các quy định của Bộ luật hình sự,

Bộ luật dân sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật cán bộ công chức cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời là hành lang pháp lý quan trọng để Thẩm phán thực hiện tốt hơn nữa quá trình giải quyết vụ án dân sự

1.5 M ột số quy định của pháp luật tố tụng dân sự n ƣớc ngoài về nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.5.1 Pháp luật tố tụ ng dân sự Liên bang Nga

BLTTDS Liên bang Nga năm 2003 quy định cụ thể trình tự, thủ tục việc giải quyết các vụ án dân sự Về cơ bản, các quy định của BLTTDS Liên bang Nga có nhiều quy định tương tự pháp luật TTDS Việt Nam: Khi có yêu cầu khởi kiện, Thẩm phán có quyền xem xét thụ lý trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn; Thẩm phán

có quyền từ chối thụ lý đơn khởi kiện hoặc trả lại đơn khởi kiện (Điều 133 -135) Nếu xét thấy có đủ điều kiện thụ lý vụ án, thì Thẩm phán ra quyết định về việc chuẩn bị xét xử sau khi thụ lý đơn (Điều 147) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm được quy

định cụ thể tại Điều 150 và có nhiều điểm tương đồng với TTDS Việt Nam

Theo BLTTDS Liên ba ng N ga, trong giai đoạ n chuẩn bị xét xử Thẩm phá n

có thể tiến hành phiên tòa sơ bộ Mục đích phiên tòa xét xử sơ bộ nhằm củng cố về

Trang 30

mặt tố tụng những hành vi mà các bên đã thực hiện trong quá trình chuẩn bị xét xử, xác định những tình tiết có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án, xác định đầy đủ các chứng cứ, xem xét nhữ ng sự kiện để quá thời hạn tố tụng và quá thời hiệu (Điều 152) Nếu vụ án đã được chuẩ n bị xong, Thẩ m phán ra quyết định đưa vụ án ra xét

xử, đồng thời thông báo cho nhữ ng người tham gia tố tụng biết… (Điều 153)

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành thủ tục xét xử: Thẩm phán có thể là chủ tọa phiên tòa nếu giải quyết theo chế độ một Thẩm phán hoặc là thà nh viên H ĐXX nếu việc xét xử thực hiện theo c hế độ xét xử tập thể Tại phiên tòa, Thẩm phán điều khiển phiên tòa, tạo điều kiện để các bên nghiên cứu chứng cứ và những tình tiết của vụ án một cách toàn diện và đầy đủ Khi nghị

án, Thẩm phá n có nghĩa vụ phải nghị án bí mật và không được tiết lộ những nhậ n định diễn ra trong thời gian nghị án và phải ra bản án tại phòng nghị án (Điều 194) Sau khi công bố bản án, Thẩm phán không được quyền thay đổi hoặc hủy bỏ bản

án Tuy nhiên, Thẩm phán có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của những người tha m gia tố tụng, ra bản án bổ sung, nếu người tham gia tố tụng đã xuất trình chứng cứ và đưa ra lời giải thích về một yêu cầu nào đó nhưng chưa được thể hiện trong bản án; Tòa án không nêu ra mức tiền phải trả, chỉ ra tài sản phải được chuyển giao hoặc những hành vi mà bị đơn có nghĩa vụ phải thực hiện; Tòa án chưa giải quyết vấn đề chi phí tố tụng Vấn đề ra bản án bổ sung có thể được đư a ra trước khi bản án có hiệu lực pháp luật (Điều 200 – 201) Ngoài các quy định trên, khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, Thẩm phán có quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Chương XVII); Đình chỉ giải quyết vụ án (Chương XVIII); Đ ơn kiện không được xem xét (Chương XIX); Quyết định của Tòa án (XX)

Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo BLTTDS Liên bang Nga có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam TTDS Liên bang Nga có một số điểm khác là Thẩm phán có quyền buộc bê n cản trở việc chuẩ n bị xét xử thì có thể phả i bồi thường

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩ m phán tổ c hức phiên tòa sơ bộ hoặc thẩ m

quyền sửa chữa, bổ sung bản án rộng hơn TTDS Việt Nam

1.5.2 Pháp luật tố tụ ng dân sự C ộng hòa Pháp

Trang 31

Pháp luật TTDS của Cộng hòa Pháp rất phát triển, BLTTDS Pháp ban hành

từ rất sớm - năm 1806 và sau nhiều lần sửa đổi ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện cho Tòa án khi giải quyết các tranh chấp dân sự Tòa án xét xử các vụ việc dân sự quan trọng bao gồm khoảng 180 tòa đệ nhị cấp (tương tự như các tòa phúc thẩm ), các tòa này bao gồm ba Thẩ m phán chuyê n nghiệ p [21]

Theo quy định của BLTTDS Pháp sau khi thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm , T hẩm phán có thể ra lệnh cho đương sự cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ , trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải các bên đương sự (Điều 21) và ghi nhận sự hòa giải giữa các bên (Điều 129) Thẩm phán có quyền lấy lời khai và đối chất để xác định sự thật (Điều 184 và Điều 215); Phá p luật TTDS Cộng hòa Pháp c ũng quy định nếu Thẩm phán xét thấy mình rơi và một trong những trường hợp phải thay thế hoặc trong thâm tâm nhận thức được mình cần từ chối tiến hành tố tụng sẽ đề nghị Chánh án chỉ đ ịnh một Thẩm phán trong Tòa án thay thế mình tiến hành tố tụng (Đ 339); bị thay thế trong những trường hợp liên quan đến lợi ích cá nhân của Thẩm phán, gia đình, nhân thân hoặc

đã từng xét xử vụ án… (Điều 314) Việc nghị án chỉ do những thành viên của HĐXX tham gia nghị án (Điều 447) Bản án sẽ do một Thẩm phán tham gia xét xử đọc, có thể chỉ tuyên đọc phần quyết định (Điều 452) Nếu Tòa án quên không phán quyết về một vấn đề đã được yêu cầu thì có thể bổ sung bản án mà không ảnh hưởng gì đến nội dung quyết định về các vấn đề khác… Quyết định sửa án được ghi vào bản án chính và các bản án sao của bản án Quyết định sửa bản án được tống đạt và có thể bị kháng cáo, kháng nghị như một bản án (Điều 461) Sau khi tuyên

án, Thẩm phán hoà n thành nhiệm vụ đối với vụ việc mà mình đã xử Tuy nhiên, Thẩm phán có quyền rút lại quyết định của mình trong trường hợp có đơn kháng án của đương sự hoặc người thứ ba, hoặc có đơn xin tái thẩm (Điều 481)

Như vậy, TTDS Pháp quy định Thẩm phán có quyền áp dụng các biện pháp phạt tiền đối với những hành vi, hoạt động cản trở việc giải quyết vụ án dân sự; việc thay đổi Thẩm phán được quy định đơn giản; thành phần HĐXX có thể là một Thẩm phán hoặc ba Thẩm phán; việc sửa chữa bổ sung bản án được quy định theo hướng mở rộng quyền của Thẩm phán Qua việc nghiên cứu TTDS cộng hòa Pháp

Trang 32

là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong việc hoàn thiện TTDS Việt Nam

1.5.3 Pháp luật tố tụ ng dân sự Hoa Kỳ

Quy trình tuyển chọn Thẩm phán bang của H oa Kỳ có thể trên cơ sở tuyển

cử theo đảng phái, tuyể n cử không theo đảng phái, tuyển chọn theo công trạng, bổ nhiệm của thống đốc và bổ nhiệm bởi cơ quan lập pháp bang [3]

TTDS Hoa Kỳ đòi hỏi các đương sự phải tự chứng minh cho yêu cầu hay phản đối của mình – việc chứng minh do các đương sự thực hiện Kết quả một vụ kiện được xác định trên cơ sở chứng cứ và lập luận của các bên Sau khi bị đơn nhận được thông báo chính thức bị kiện do nhận được đơn khởi kiện của nguyê n đơn và kèm theo một trát của T òa án Trát của Tòa thường lệnh cho bị đơn trả lời đơn kiện [15, tr,185-186] Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án (thời hạn này có thể kéo dài đến 30 ngày đối với bị đơn ở trong nước hoặc đến 90 ngày đối với bị đơn ở nước ngoài) [10] Thẩm phán có thể yêu cầu một cuộc họp (hội ý) trước khi xét xử nhằm chuẩn bị cuối cùng cho vụ kiện để đưa ra xét xử, hoặc để khuyến khích các bên tìm cách giải qu yết, hoặc cả hai phương án trên [15, tr.205] M ục tiê u là nhằm làm cho phiê n tòa thực tế diễn ra hiệu quả hơn bằng việc giảm bớt những vấn đề tranh cãi trong phiên tòa hoặc không phải đư a vụ kiện ra xét xử trước tòa [2] Tại đây, Thẩm phán cũng có thể tiến hành hòa giải để đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc [22, tr 22-23]

Phiên tòa dân sự sơ thẩm theo TTDS Hoa Kỳ có thể được giải quyết bằng một Thẩm phán hoặc B ồi thẩm đoàn [2] Trong hầu hết các vụ kiện dân sự, các bên lựa chọn vụ kiện được xét xử trước một Bồi thẩm đoàn (chỉ cần 1 trong hai bên yêu cầu) Nếu hai bên đồng ý, vụ kiện có thể được Thẩm phán đưa ra phán quyết mà không cần m ột Bồi thẩm đoà n [15, tr.207] K hi giải quyết, nếu Bồi thẩm đoà n không thể đưa ra phán quyết thì Thẩm phán sẽ tuyên bố hủy bỏ phiên tòa để thay thế bằng một Bồi thẩm đoàn khác Điều này có nghĩa là sẽ phải tiến hành một phiên xét xử mới [2]

Khi B ồi thẩ m đoàn đưa ra phán quyết, Thẩm phá n xem xét và có thể quyết định rằng phán quyết mà Bồi thẩm đoàn đưa ra là không hợp lý Bên thua kiện cũng

có thể đệ trình về việc mở một phiên tòa mới Thẩm phán sẽ chấp nhận kiến nghị

Trang 33

trên cơ sở Thẩm phán cho rằng các bằng chứng được đưa ra đơn giản, không hỗ trợ cho phán quyết mà Bồi thẩm đoàn đã tuyên bố Hoặc Thẩm phán cũng có thể quyết định mở một phiên tòa mới vì một số lý do như thiệt hại quá mức, thiệt hại hoàn toàn không tương xứng, phát hiện ra bằng chứng mới, sai sót khi đưa ra bằng chứng… [2]

Như vậy, một phiên tòa dân sự sơ thẩm được xét xử b ởi Bồi thẩm đoàn thì Thẩm phán rất quan trọng Thẩm phán kiểm soát Bồi thẩm đoàn theo bốn cách: Thứ nhất, Thẩm phán hạn chế những gì Bồi thẩm đoàn đã nghe trong p hiên xét xử bằng cách áp dụng luật về bằ ng c hứng; thứ hai, Thẩ m phán hạn chế những vấn đề mà B ồi thẩm đoàn có thể xem xét- các “vấn đề luật” thuộc về Thẩm phán quyết định và các

“vấn đề sự việc” thuộc trách nhiệm của Bồi thẩm đoàn; thứ ba, Thẩm phán cho Bồi thẩm đoàn biết quy tắc pháp luật nào được áp dụng – thường phải theo sự chỉ dẫn của Thẩm phán Thư tư, Thẩm phán có thể lấy đi vụ kiện từ Bồi thẩm đoàn trước khi đưa ra phán quyết, hoặc đảo lộn phán quyết của B ồi thẩm đoàn đã đưa ra bằng cách nêu một trong những kiến nghị đối với một bên [15, tr.219]

1.5.4 Pháp luật tố tụ ng dân sự An h

Pháp luật TTDS Anh về cơ bản cũng tương đồng TTDS Hoa K ỳ, tuy nhiên

do hệ thống pháp luật được hình thành khác nhau, vì vậy hệ thống Tòa án Hoa Kỳ

và Anh quy định TTDS giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm có nhiều điểm không giống

nhau

Theo TTDS Anh, thủ tục xét xử tại các T òa án địa phương và các T òa sơ thẩm thường tương đối đơn giản và không quá trang trọng, không có B ồi thẩm đoàn Phán quyết tại các tòa quận và tòa sơ thẩm k hông được coi là án lệ [21, tr.94]

Thẩm phán giải quyết các vụ án dân sự sơ thẩm có nghĩa vụ phải áp dụng án

lệ của Tòa án cấp cao Ngược lại, các bản án do Thẩm phán sơ thẩm không có giá trị bắt buộc đối với các Thẩm phán tại Tòa án cấp cao, cho dù họ lu ôn tôn trọng các phán quyết của nhau Do vậy, không phải tất cả các Tòa án ở Anh đều có chức năng tạo ra Luật Chỉ có các T òa cấp cao mới có chức năng này và chỉ có những tòa này mới công bố các quyết định một cách có hệ thống [ 21, tr.93] Hiện nay, nguyên tắc

án lệ đã dần nhường chỗ cho nguyên tắc kết hợp giữa án lệ và áp dụng lý giải điều

Trang 34

luật của hệ thống luật thành văn [23]

Qua việc nghiên cứu TTDS Hoa Kỳ và Anh, là cơ sở để học hỏi trong việc xác định vị trí, vai trò cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán cấp sơ thẩm trong hoạt động TTDS Đồng thời, là kinh nghiệm để xây dựng và áp dụng án lệ khi giải quyết tranh chấp của ngành Tòa án Việt Nam Tuy nhiên, khi quy định cho phép áp dụng án lệ, các nhà lập pháp phải xác định nhữ ng bản án, quyết định nào được sử dụng là án lệ Nước Anh có hệ thống pháp luật tồn tại lâu đời, nhưng không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án là án lệ Theo TTDS Anh, án lệ của Tòa án cấp cao có giá trị bắt buộc đối với các tòa địa phương và tòa sơ thẩm như ng không

có giá trị bắt buộc đối với các Thẩm phá n tại Tòa án cấp cao Các phán quyết của tòa cấp cao tất nhiên không phải là những án lệ có tính chất bắt buộc đối với các tòa cấp cao hơn [21]

TTDS Hoa Kỳ và nước A nh có nhiều điểm hợp lý, đây là nguồn tài liệu quan trọng để chúng ta nghiên cứu, học tập khi mở rộng tranh tụng trong TTDS Đáng chú ý là các quy định về nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, phiên tòa sơ bộ, quyền hạn Thẩm phán đối với phán quyết của Bồi thẩm đoàn, việc sửa hoặc hủy bản án của Bồi thẩm đoàn… Đồng thời là cơ sở để TTDS nước ta có thể áp dụng án lệ vào việc giải quyết các vụ án dân sự

Trang 35

CHƯƠNG II NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP S Ơ THẨM

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1 Nhiệm vụ, quyền h ạn của Th ẩm phán trong việc giải qu yết vụ án d ân

sự tại T oà án cấp sơ thẩm

Khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, Thẩm phán thực hiện nhiều hoạt động

tố tụng khác nhau, nhằm giải quyết vụ án chính xác, khách quan Theo quy định tại Điều 41 BLTTDS, các quy định từ Điều 160 đến Điều 241 BLTTDS và Nghị quyết

số 02/HĐTPTATC ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán T òa án cấp sơ thẩm có các nhiệ m vụ, quyề n hạ n sau:

2.1.1 Tiến hành lập hồ sơ vụ án

Quá trình lập hồ sơ vụ án của Thẩm phán có vai trò quyết định trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm M ọi hoạt động tố tụng của Thẩm phán đều phải thực hiện theo quy định, nếu vi phạm có thể dẫn đến tất cả hoạt động tố tụng khác trong giai đoạn sơ thẩm không có giá trị (vi phạm nghiêm trọng) Hoạt động lập

hồ sơ vụ án của Thẩm phán được xác định cụ thể thông qua các tài liệu, chứng cứ Mỗi vụ án, Thẩm phán phải thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ khác nhau Pháp luật tố tụng chỉ quy định mang tính chất chung, không quy định bắt buộc mỗi

vụ án phải thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ như thế nào Tuy nhiên, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động lập hồ sơ giải quyết vụ án dân sự tại T òa

án cấp sơ thẩm phải bảo đảm các nội dung theo Điều 173 BLTTDS như sau:

Thứ nhất, thông báo về việc thụ lý vụ án: BLTTDS quy định việc xem xét

đơn khởi kiện do Chánh án hoặc người được Chánh án phân công (có thể là Phó chánh án hoặc Thẩm phán) Sau khi vụ án được thụ lý, trong thời hạn ba ngày làm việc, Chánh án (hoặc Phó chá nh án được ủy nhiệm) sẽ phân công Thẩm phán giải quyết Về việc thông báo thụ lý, Điều 174 quy định về việc thông báo thụ lý do Tòa

án, không quy định rõ có phải do Thẩm phán thực hiện hay không Tuy nhiên, căn

cứ vào nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán tại khoản 1 Điều 41 và khoản 1 Điều

173 BLTTDS có thể xác định Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có

Trang 36

quyền ban hành thông báo thụ lý vụ án Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, VKS cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án T rong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứ ng cứ kèm theo, nếu có (Điều 175) Ngoài việc nộp cho T òa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa

ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập nếu có (Điều 176, 177, 178 BLTTDS) Quy định này bảo đảm cho các bên đương sự có quyền được biết về yêu cầu của nhau, bị đơn và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và nghĩa vụ liên quan được biết các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện xuất trình và đưa ra ý kiến về việc khởi kiện

Như vậy, thông qua hoạt động thụ lý vụ án có thể xác định được người khởi kiện, người bị kiện, quan hệ tranh chấp, những tài liệu của người khởi kiện kèm theo đơn khởi kiện, Tòa án sẽ giải quyết và xác định Thẩm phán nào là người sẽ giải quyết Pháp luật không quy định Chánh án (phó Chánh án) khi phân công vụ án cho Thẩm phá n giải quyết phải ba n hành quyết định, c hính vì vậy thông thường Thẩm phán giải quyết vụ án là người ban hành thông báo thụ lý

Thứ hai, yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án: Ngay từ khi

khởi kiện, người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu chứng

cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và phù hợp pháp luật Cũng như vậy, trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc đó Như vậy, khác với quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây , việc chứng minh và điều tra vụ án thuộc về các cơ quan tố tụng Với quy định mới trong BLTTDS, việc chứng minh do các đương sự thực hiệ n Trong quá trình giải quyết

vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, Thẩm phán có nhiệm vụ giải thích cho đương sự biết, nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Tòa án tiến hành giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục chung Đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh

Trang 37

được hoặc chứng minh không đầy đủ Tuy nhiên, trong trường hợp xét thấy chứng

cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ (khoản 18 Điều 1 LSĐBS)

Thứ ba, thực hiện một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS: Việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ khác phụ

thuộc vào từng vụ án và từng loại vụ án Đồng thời không phải tất cả các biện pháp thu thập chứng cứ đều do Thẩm phán chủ động tiến hành, như việc định giá tài sản , trưng cầu giám định… các biện pháp đó phải được một trong các bên đương sự yêu cầu Như vậy, bên cạnh quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương

sự, Thẩm phán cũng có nhiệm vụ, quyền hạn thu thập chứ ng cứ nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, khách quan

Quy định về nhiệ m vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc thu thập chứng

cứ và xây dựng hồ sơ vụ án theo B LTTDS Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với BLTTDS Liên Bang N ga (Điều 150), ngoài việc quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, như ng trách nhiệm của Thẩm phán vẫn rất nặng nề trong việc thu thập chứng cứ và c hứng minh giải quyết vụ án

Pháp luật TTDS Hoa Kỳ c ó nhiều điể m khác với phá p luật TTDS Việt Nam Pháp luật TTDS Hoa Kỳ quy định các đương sự phải tự tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp Thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yê u cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ Thẩm phán không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ [10]

Như vậy, khác với pháp luật TTDS Hoa Kỳ, pháp luật TTDS Việt Nam xác định việc chứng minh thuộc về đương sự, nhưng việc xem xét và đánh giá chứng cứ

do Thẩm phán tiến hành Hơn nữa, pháp luật không quy định thời điểm đương sự phải cung cấp chứng cứ, vì vậy để việc giải quyế t vụ án được nhanh chóng, chính xác thì Thẩm phán cần thiết “hỗ trợ” đương sự trong việc thu thập và thẩ m định chứng cứ Việc Thẩm phán tiến hành thu thập chứ ng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thực hiện được vì có những tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức lưu giữ, nhưng đương sự rất khó có thể tiếp cận và thu thập được

Trang 38

Theo quy định tại khoản 18 Điều 1 LSĐBS quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu chứ ng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương

sự với người làm chứ ng; trưng cầu giám định; định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự Đa số các trường hợp, Thẩm phán tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ phải có đơn đề nghị của đương sự Tuy nhiên, T hẩm phán được chủ động sử dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ, bao gồm: Lấy lời khai của đương sự khi chưa có bản khai hoặc bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng; lấy lời khai người làm chứng khi thấy cần thiết; thực hiện việc đối chất nếu xét thấy lời khai của các đương sự, người làm chứng có sự mâu thuẫn; tiến hành định giá tài sản nếu xét thấy các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ

Như vậy, so với BLTTDS, LSĐBS đã bổ sung các biện pháp thu thập chứng

cứ là “yêu cầu thẩm định giá tài sản”, “Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa

các đương sự với người làm chứng” và “Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ” Trước đây, BLTTDS có quy định việc “Đối chất” tại Điều 88 nhưng lại không

xác định đó là một biện pháp thu thập chứng cứ tại Điều 85 là không phù hợp với thực tiễn LSĐBS đã sửa đổi quy định trên là phù hợp Ngoài ra, LSĐBS quy định

“yêu cầu thẩm định giá tài sản” là căn cứ để xác định giá trị tài sản tranh chấp, đây

là quy định tạo cho đương sự có quyền tự định đoạt trong việc thỏa thuận lựa chọn

thẩm định giá, để giải quyết vụ án dễ dàng và nhanh chóng Đối với quy định “Ủy

thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ” , BLTTDS có quy định việc “Ủy thác thu thập chứng cứ”, tuy nhiên có những trường hợp Thẩm phán cần ủy thác để xác

minh tài liệu, chứng cứ chưa rõ ràng làm căn cứ giải quyết vụ án Do đó, quy định

bổ sung “xác minh tài liệu, chứng cứ” là phù hợp, tạo điều kiện để Thẩm phán có

thể thực hiện tốt nhiệm vụ lập hồ sơ vụ án

Như vậy, LSĐBS đã quy định và khắc phục một số tồn tại, vướng mắc trong quá trình Thẩm phá n thực hiện việc thu thập chứng cứ Tuy nhiê n, vẫn còn những

Trang 39

quy định chưa phù hợp và cụ thể, ảnh hưởng đến việc chứng minh của đương sự và thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán:

Thứ nhất, về “định giá tài sản và thẩm định giá tài sản” theo quy định tại

điểm d khoản 2 Điều 85 và Điều 92 BLTTDS Tòa án ra quyết định định giá tài sản theo yêu cầu của một bên hoặc các bên đương sự Tuy nhiên, nếu đương sự không yêu cầu định giá tài sản thì Thẩm phán giải quyết như thế nào? Đây là khó khăn thực tế mà các Thẩm phán gặp phải và dẫn đến mỗi Thẩm phán có những cách giải quyết khác nhau, như ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc tiến hành mở phiên tòa và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện

vì thiếu căn cứ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định giá hoặc tự Tòa án ra quyết định định giá tài sản và trả chi phí Vì vậy, BLTTDS cần phải trao cho Thẩm phán có quyề n chủ động ra quyết định định giá tài sản, không cần yê u cầu của đương sự, vì kết quả định giá là chứng cứ quan trọng mà đương sự không thể tự mình cung cấp được Về chi phí định giá có thể giải quyết theo hướng, khi thụ lý vụ

án, yêu cầu người khởi kiện nộp một khoản tiền để tạm ứng chi phí định giá

Một khó khăn nữa trong quá trình định giá tài sản hoặc thẩm định giá là việc đương sự gây khó khăn bằng việc không hợp tác (như không giao tài sản, không mở cửa cho vào định giá nhà, thiết bị,… ) [19] với H ội đồng định giá và cơ quan thẩm định, mà hành vi đó không phải là cản trở mà chỉ là không hợp tác, dẫn đến không thể xác định được giá Theo quy định tại N ghị quyết số 04/2005/NQ -HĐTP ngày 17.9.2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Thông tư số 15/2003/TT -BCA ngày 10.9.2003 của Bộ Công an về hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp, thì hành vi không hợp tác không phải là hành vi cản trở Do vậy, BLTTDS cần quy định cho Thẩm phán có quyền xử phạt và cưỡng chế việc định giá tài sản để việc giải quyết

vụ án được chính xác và nhanh chóng

Thứ hai, về xem xét, thẩm định tại chỗ: Điều 89 BLTTDS chỉ quy định về

cách thức tiến hành xe m xét, thẩm định tại chỗ mà không quy định việc xem xét, thẩm định này phải theo yêu cầu của đương sự hay do Thẩm phán xét thấy cần thiết

Do vậy, nếu căn cứ vào BLTTDS thì Thẩm phán không có quyền chủ động áp dụng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ Mặc dù, tại Điều 5.1 Mục IV Nghị quyết

Trang 40

04/2005/NQ -HĐTP của TANDTC đã hướng dẫn “ khi đương sự có yêu cầu xem xét,

thẩm định tại chỗ và xét thấy có căn cứ, thì Thẩm phán ra quyết định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ” Tuy nhiên, cần xác định mục đích của việc xem xét, thẩm

định tại chỗ là để xác định tài sản tranh chấp, những tài sản có liên quan là cơ sở cho việc định giá tài sản tiếp theo Trong nhiều trường hợp, T hẩm phán không xem xét thẩm định tại chỗ và quyết định định giá tài sản chỉ trên sự liệt kê tài sản của đương sự, khi tiến hành định giá thì phát sinh những tài sản khác có liên quan ( Ví

dụ định giá quyền sử dụng đất, trên đất có cây, có các công trình khác… ) mà trong quyết định định giá tài sản không có H ội đồng định giá không thể định giá tài sản phát sinh được vì tài sản đó chưa có quyết định Việc định giá lại phải làm lại từ đầu, gây tốn kém và kéo dài thời gian tố tụng Vì vậy, việc xem xét thẩm định tại chỗ là bước quan trọng để Thẩm phán cùng đương sự xác định những tài sản tranh chấp, những tài sản nào có liên quan BLTTDS cần xác định cụ thể nhữ ng quyền hạn này thuộc về Thẩm phán, để họ chủ động thực hiện công việc và xác định trách nhiệm của Thẩm phán đối với việc thực hiện các biện pháp này

Việc xem xét thẩm định tại chỗ còn có ý nghĩa là cơ sở để Thẩm phán (HĐXX) quyết định giải quyết vụ án, đặc biệt khi giải quyết tranh chấp nhà đất nếu chỉ nhìn trên sơ đồ, bản vẽ do đương sự cung cấp, không xuố ng xem xét, thẩm định tại chỗ sẽ dẫn đến sai sót khi quyết định Thực tế việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm liên quan đến tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp mốc giới còn có nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến xác định vị trí tranh chấp , xác định phần của mỗi đương sự được hưởng trong quyết định và sơ đồ kèm theo quyết định Ngoài

ra, đối với các vụ án có nhiều nhà, công trình, nhiều bất động sản trên đất, việc xem xét thẩm định tại chỗ do Thẩm phán và đại diện UBND cấp xã (hoặc cơ quan tổ chức nơi có tài sản) thực hiện sẽ không bảo đảm sự chính xác Nếu Thẩm phán căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định đó để quyết định chia từng phần tài sản sẽ không bảo đảm cho việc thi hành án Chính vì vậy, BLTTDS cần quy định việc xem xét thẩm định tại chỗ có thể có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn khác Đồng thời việc xem xét thẩm định “được ghi thành biên bản” là chưa đầy đủ, có những trường hợp phải thẩm định, đo vẽ thực hiện bằng máy đo để có thể đưa ra được kết quả chính xác

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w