Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về hoạt động mua bán doanh nghiệp này chủ yếu xem xét hoạt động mua bán doanh nghiệp trong các yếu tố của tư duy kinh tế, trên phương diện tài chính cù
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ THỊ THANH HUYỀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Em xin đảm bảo đây là công trình khoa học của riêng mình trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu đã có
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, các thầy cô giáo khoa Pháp luật kinh tế và TS Nguyễn Thị Dung đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình để giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để em hoàn thiện hơn công trình của mình
Học viên
Đỗ Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU……… Trang 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
MỘT CHỦ SỞ HỮU………5
1.1 Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp và vai trò của mua bán doanh nghiệp đối với nền kinh tế……… 5
1.1.1 Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thế giới……5
1.1.2 Hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam……… 7
1.1.3 Vai trò của mua bán doanh nghiệp trong nền kinh tế……… 10
1.2 Bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu…… 13
1.2.1 Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu………13
1.2.2 Mối liên hệ giữa mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu với vấn đề chuyển nhượng vốn góp……… 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM………23
2.1 Tổng quan hệ thống văn bản pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……… 23
2.2 Quy định pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……….26
2.2.1 Quy định về tài sản doanh nghiệp một chủ sở hữu và định giá doanh nghiệp một chủ sở hữu……….26
2.2.2 Quy định về các phương thức mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……… 31
Trang 52.3 Thủ tục pháp lý sau khi mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……….51
2.3.1 Đăng ký kinh doanh lại………51 2.3.2 Vấn đề kế thừa nghĩa vụ trong mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu………55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM……….59
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam……….… 59
3.1.1 Xuất phát từ yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế……… …59 3.1.2 Xuất phát từ sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……….60
3.1.3 Xuất phát từ những hạn chế và thiếu sót của pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu hiện nay……….60
3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam……… 61
3.2.1 Đảm bảo tính phù hợp với điều kiện kinh tế và thực trạng hệ thống pháp luật……….….61
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của chủ đầu tư 62
3.2.3 Hoàn thiện pháp luật mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu phải giảm thiểu chi phí giao dịch và khuyến khích hoạt động mua bán doanh nghiệp……… …63
Trang 6nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam 64
3.3.1 Thống nhất quan niệm về mua bán doanh nghiệp……….….64 3.3.2 Bổ sung và hoàn thiện các quy định điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu……… ……65
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay số lượng doanh nghiệp được thành lập đã lên tới hơn 400.000 doanh nghiệp, tuy nhiên trong số đó có tới hơn 90% doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, quy mô sản xuất trung bình, nguồn vốn kinh doanh ít và thường xuyên chịu tác động mạnh mẽ từ các quy luật của nền kinh tế thị trường Nhiều doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản và khánh kiệt về tài sản, chủ doanh nghiệp lúc này cố vớt vát tài sản thông qua thủ tục phá sản hoặc giải thể hoặc thông qua một giải pháp hiệu quả hơn đó là bán doanh nghiệp của mình cho nhà đầu tư khác Xét từ góc độ lợi ích khi các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả có nhu cầu mở rộng nhà xưởng, mở rộng hệ thống khách hàng, cách nhanh chóng và hiệu quả nhất là mua một doanh nghiệp khác để tiếp tục mục tiêu kinh doanh Bên cạnh đó, việc bán doanh nghiệp là cơ hội tăng thu nhập do việc bán được những giá trị tài sản vô hình, thay vì chỉ thanh lý các tài sản hữu hình mà doanh nghiệp có
Trong khi hoạt động mua bán doanh nghiệp tại các nước trên thế giới đã xuất hiện từ lâu và phát triển, hoạt động này ở Việt Nam còn khá mới mẻ Song với những lợi thế mà hoạt động này mang đến, nó đã nhanh chóng chứng tỏ sức thu hút mạnh mẽ đối với các chủ thể Chỉ trong khoảng thời gian mười năm, mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam đã diễn ra hết sức sôi động tạo thành những làn sóng mua bán mạnh mẽ Đối tượng của hoạt động mua bán doanh nghiệp khá đa dạng Đó có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Trong số các loại hình doanh nghiệp mục tiêu kể trên phải kể đến loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu Bởi lẽ loại hình doanh nghiệp này đang ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế Việt Nam, không chỉ về số lượng mà còn về hiệu quả và sức cạnh tranh Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải có ngay những quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan
hệ phát sinh giữa các chủ thể khi mua, bán doanh nghiệp một chủ sở hữu Trong khi đó, Luật doanh nghiệp 2005 là văn bản hiện hành điều chỉnh những quy định về hệ thống doanh nghiệp ở Việt Nam lại chưa có những quy định cụ thể về hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp một chủ sở hữu nói riêng
Trang 8Trong bối cảnh đó, với việc lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật”, tác giả luận văn muốn góp phần xây dựng hệ thống quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu nói riêng và hệ thống pháp luật mua bán doanh nghiệp nói chung ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động mua bán doanh nghiệp đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, điều đó đã tạo ra sức hút lớn cho các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kinh tế pháp lý đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị Đó là: Luận văn Thạc sỹ " Thâu tóm- Hợp nhất doanh nghiệp dưới góc nhìn tài chính" của Thạc sỹ Huỳnh Thị Cẩm Hà; luận văn "Pháp luật về mua bán công ty- Thực trạng và giải pháp" của Thạc sỹ Vũ Phương Đông, bài viết "Một số vấn đề về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp và tình hình Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng và Nguyễn Thị Quỳnh Thư; bài viết "Điều kiện xây dựng, phát triển thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam" của ThS Bùi Thanh Lam đăng trên tạp chí Luật học số 4/2008; bài viết "Hợp đồng mua bán doanh nghiệp" trong cuốn Pháp luật về Hợp đồng trong thương mại và đầu tư, NXB Chính trị Quốc gia do TS Nguyễn Thị Dung (chủ biên); bài nghiên cứu "Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức v.v Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về hoạt động mua bán doanh nghiệp này chủ yếu xem xét hoạt động mua bán doanh nghiệp trong các yếu tố của tư duy kinh tế, trên phương diện tài chính cùng một số nội dung pháp lý liên quan đến mua bán doanh nghiệp nói chung, mà chưa có một đề tài nào thực sự đi sâu vào tìm hiểu nhằm đưa ra những gợi ý mang tính chất pháp lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn
Luận văn được viết trong thời điểm mà những quan niệm, những quy định về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế, tản mạn và chưa có hệ thống Vì vậy mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
Trang 9thực tiễn của pháp luật về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu trong hoạt động kinh tế, từ đó đưa ra những giải pháp về mặt pháp lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế còn rất mới mẻ này
Để thực hiện được mục tiêu đó, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:
- Làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu;
- Phân tích vai trò của hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu đối với quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế;
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sơ hữu nhằm làm rõ cơ sở lý luận về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam;
- Từ những nghiên cứu, phân tích trên, đưa ra giải pháp pháp lý để hoàn thiện chế định về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Một số vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật”, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán các loại hình doanh nghiệp do một chủ thể đầu tư vốn, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Các quy định về mua bán công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên, công ty cổ phần, Hợp tác xã và các hình thức tổ chức kinh tế khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật
Trang 10lịch sử; phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hóa để giải quyết nội dung khoa học của đề tài Đặc biệt, luận văn rất chú trọng phương pháp so sánh luật; kết hợp giữa lý luận với thực tiễn
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU 1.1 Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp và vai trò của mua bán doanh nghiệp đối với nền kinh tế
1.1.1 Lược sử hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động mua bán doanh nghiệp được biết đến rộng rãi trong những năm cuối của thế kỉ thứ XIX, đầu thế kỉ XX dưới cụm từ M&A (Merger and Acquisition) khi
số lượng doanh nghiệp trên thế giới tăng mạnh và hoạt động cạnh tranh diễn ra khốc liệt Rất nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ trong một thời gian, tạo dựng được thương hiệu, xây dựng cơ sở kinh doanh hoàn chỉnh, nhưng không kịp đổi mới hoặc do những thay đổi bất ngờ của tình hình kinh tế dẫn đến tình trạng kiệt quệ về mặt tài chính Đó cũng là lúc nhu cầu về việc mua bán doanh nghiệp, nhu cầu về sáp nhập các doanh nghiệp được hình thành Cho đến nay, nó đã được coi là một ngành độc lập với lịch sử phát triển tương đối lâu dài và đã trải qua
5 giai đoạn phát triển
Giai đoạn 1, từ năm 1897-1904: Đây được coi là giai đoạn khởi đầu của hoạt động
mua bán doanh nghiệp trên thế giới, do quá trình bùng nổ nhanh chóng của nền kinh tế, hệ thống giao thông được nâng lên một tầng cao mới, hệ thống văn bản pháp luật về doanh nghiệp được quy định đầy đủ Thế giới đã ghi nhận làn sóng sáp nhập đầu tiên diễn ra tại Mỹ dưới hình thức liên kết theo chiều ngang với tên gọi “The Great Merger Movement” Trong thời gian này các hoạt động mua bán diễn ra chủ yếu giữa các công ty phát triển công nghiệp nặng với số lượng các vụ mua bán còn rất hạn chế khoảng 3.000 vụ Tuy nhiên, đợt sóng này chấm dứt nhanh chóng do khủng hoảng kinh tế những năm 1903 và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1904
Giai đoạn 2, từ năm 1916-1929: Giai đoạn này được khởi đầu từ sự bùng nổ của kinh
tế thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhu cầu về các mặt hàng nhu yếu phẩm tăng mạnh kết hợp với sự phát triển về khoa học công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, đồng thời là sự tăng năng suất lao động cải tiến chất lượng hàng hóa Các vụ mua bán điển hình diễn ra trong các lĩnh vực luyện kim, hóa
Trang 12dầu, thuốc, và phương tiện vận chuyển với số lượng khoảng 5.000 vụ, với sự tham gia của một số ngân hàng đầu tư trong những thương vụ này Giai đoạn này chấm dứt sau đại khủng hoảng kinh tế khởi nguồn từ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán ngày 29-10-1929
Giai đoạn 3, những năm 60 của thế kỉ XX: Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, kinh tế thế
giới lại trải qua một thời kì phát triển mạnh Thị trường chứng khoán trở lại cùng với đó là sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự lớn mạnh không ngừng của các tập đoàn tài chính tạo đà cho các cuộc mua bán doanh nghiệp diễn ra sôi nổi Trong khoảng thời gian này có trên 7.000 vụ mua bán được diễn ra với tổng giá trị ước tính đạt 400 tỷ USD, mà đa số trong đó là quá trình mua bán của các tập đoàn lớn trong các lĩnh vực sản xuất máy móc tự động hóa, nguyên liệu
và hệ thống xe lửa
Giai đoạn 4, những năm 80 của thế kỉ XX: Thế giới bắt đầu xuất hiện những nền kinh
tế mới bên cạnh Mỹ và các nước Châu Âu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v tạo ra
sự cạnh tranh mạnh mẽ trên toàn cầu, rất nhiều đổi mới được diễn ra trong các lĩnh vực về tài chính, ngân hàng kèm theo đó là sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới tạo cơ sở cho nhiều hoạt động mua bán doanh nghiệp được diễn ra Tuy nhiên các yếu tố bổ trợ trong giai đoạn này chưa đủ mạnh để đẩy hoạt động mua bán doanh nghiệp thực sự phát triển Do
đó, số lượng các giao dịch chỉ đạt ở mức khoảng 15.000 vụ với giá trị tương ứng đạt 2.000 tỷ USD chưa thực sự tương xứng với tình hình của nền kinh tế khi đó
Giai đoạn 5, từ năm 1992 đến nay: Thời điểm này, thế giới đã bước vào sự ổn định về
mặt chính trị và đây cũng là giai đoạn đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ có tính toàn cầu hóa Nhiều nền kinh tế mới nổi đã vươn lên và chiếm lĩnh thị trường, cạnh tranh sòng phẳng với các nền kinh tế cũ, đặc biệt là Trung Quốc và Nhật Bản Kinh tế toàn cầu bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng, mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt, tiến bộ không ngừng về khoa học kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực làm cho thị trường toàn cầu trở nên nóng bỏng Chính vì vậy, từ năm 1995 trở đi, không năm nào số lượng các vụ giao dịch mua bán doanh nghiệp xuống dưới con số 15.000 vụ, năm 2000 là 35.000 vụ với tổng giá trị lên tới 3.500 tỷ USD [47] Những năm gần đây, hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra sôi nổi, đa dạng
về cách thức cũng như giá trị Đặc biệt hoạt động này gần như trở thành một cơn sốt trong giai đoạn 2006- 2007 do giá chứng khoán tăng trong bối cảnh giao dịch chứng khoán diễn ra sôi
Trang 13động ở khắp các châu lục Năm 2006 tổng giá trị các vụ mua bán doanh nghiệp trên toàn cầu xấp xỉ 3.500 tỷ USD trên tổng số 40.000 vụ; năm 2007 là 4.169 tỷ USD với 43.817 vụ giao dịch [47]
Tuy nhiên, bước sang năm 2008 xuất hiện cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt nguồn từ Mỹ sau đó lan rộng sang Châu Âu, Châu Á và giờ đây ảnh hưởng của nó đã bao trùm toàn thế giới Đây là thời điểm kinh tế khó khăn nhưng cũng chính là thời điểm mà các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới vượt qua những rào cản để tiến hành các thương vụ mua bán doanh nghiệp nhằm tái cơ cấu lại cấu trúc của doanh nghiệp
1.1.2 Hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Trong khi hoạt động mua bán doanh nghiệp tại các nước trên thế giới đã xuất hiện từ lâu và phát triển, hoạt động này ở Việt Nam còn khá mới mẻ Tuy mới ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành, song với những lợi thế mà hoạt động này mang đến, nó đang nhận được
sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, bất chấp những khó khăn về tài chính do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra
Theo báo cáo thường niên năm 2009 về hoạt động mua bán công ty tại Việt Nam của công ty kiểm toán Pricewaterhouse Coopers, hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam tiếp tục được duy trì và tăng về số lượng cũng nhưng đa dạng về cách thức thực hiện Mặc dù mới xuất hiện từ năm 2000, nhưng với sức cuốn hút mạnh mẽ số lượng các giao dịch mua bán, sáp nhập tăng dần theo từng năm Tính đến năm 2003 cả nước có 41 thương vụ với giá trị
118 triệu USD [45], riêng năm 2005 có 18 vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với tổng giá trị đạt 61 triệu USD; năm 2006, số lượng tăng lên 32 vụ với tổng giá trị là 245 triệu USD [42]; đến năm 2008 con số là 146 vụ tương ứng với 1.009 triệu USD Trong số đó có những thương
vụ nổi bật như: Savico mua lại khách sạn Furama 16 triệu USD tháng 11 năm 2005 [46]; Kinh
Đô mua thương hiệu kem Wall và đang tiến hành mua hãng nước giải khát Tribeco; Holcim mua lại Cotec Cement với giá 50 triệu USD tháng 8 năm 2008; Quantas mua lại 18% sau đó
là 31% và hiện nay là 49% cổ phần của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific; VRI mua lại Tiberon với giá 230 triệu USD [34] Trong 4 năm vừa qua, giá trị giao dịch mua bán và sáp nhập tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh Năm 2009 ghi nhận 295 vụ với tổng giá trị 1,14 tỷ USD, năm 2010 có 245 vụ với tổng giá trị 1,75 tỷ USD và năm 2011 ghi nhận có 266 vụ với
Trang 14tổng giá trị giao dịch đạt kỷ lục là 6,25 tỷ USD Có thể kể đến một số thương vụ mua bán giữa các doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu như: vụ sáp nhập Công ty Thông tin viễn thông Điện Lực (EVN Telecom) vào Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel) từ ngày 1/1/2012 [55]; Công
ty CP Mirae (KMR) phát hành 14 triệu cổ phiếu để thực hiện mua lại toàn bộ vốn của Công ty
CP Mirae Fiber (KMF) thông qua hình thức hoán đổi cổ phiếu [60] Mới đây nhất là cuộc hợp nhất đầu tiên giữa ba ngân hàng tại Việt Nam là ngân hàng TMCP Sài Gòn- SCB, ngân hàng TMCP Đệ Nhất- FCB và ngân hàng TMCP Tín Nghĩa- VTN, diễn ra trong khoảng thời gian cuối năm 2011- đầu năm 2012 báo hiệu cho nhiều vụ hợp nhất, sáp nhập tương tự
Hoạt động mua bán doanh nghiệp được tiến hành trên nhiều lĩnh vực trong đó tập trung vào: lĩnh vực ngân hàng; lĩnh vực chứng khoán; lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, buôn bán lẻ; lĩnh vực dược phẩm; lĩnh vực kiểm toán; lĩnh vực công nghệ thông tin
- Lĩnh vực ngân hàng: Hoạt động mua lại doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính ở Việt
Nam được thực hiện từ những năm cuối của thế kỉ trước, trong giai đoạn Việt Nam chuẩn bị những bước đà để hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế thế giới
Trước năm 2006, nhiều Ngân hàng Thương mại cổ phần nông thôn bị tiến hành mua lại để thành lập các Ngân hàng Thương mại cổ phần có quy mô vốn và địa bàn hoạt động rộng hơn trong quá trình tiến hành triển khai dự án “Chấn chỉnh và sắp xếp các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” do Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt (Quyết định số 212/1999/QĐ-TTg ngày 29/10/1999) Các Ngân hàng như: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á, Ngân hàng Thương mại cổ phần Thương Tín đã trải qua nhiều thương vụ mua lại để đạt được quy mô như hiện nay
Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, kinh tế Việt Nam bị tác động bởi làn sóng đầu tư của các tập đoàn tài chính, các ngân hàng quốc tế vào Việt Nam thông qua hoạt động mua bán doanh nghiệp Hiện nay số lượng Ngân hàng ở Việt Nam là tương đối nhiều (36 Ngân hàng thương mại cổ phần và 6 Ngân hàng liên doanh) so với quy mô dân số (khoảng 85 triệu người) và GDP là 90 tỷ USD (năm 2008) Trong khi đó Hàn Quốc với GDP gấp khoảng 10 lần Việt Nam (857 tỷ USD, năm 2008) chỉ có 20 Ngân hàng, Singapore chỉ có 4 Ngân hàng nội địa, Thái Lan có 10 Ngân hàng nội địa [34] Trong báo cáo thường niên của PwC về hoạt động M&A trong ngành dịch vụ tài chính tại Châu Á năm 2011, thị trường Việt Nam được
Trang 15đánh giá rất lạc quan về triển vọng phát triển lĩnh vực này bởi hiện nay quy mô vốn của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn quá nhỏ nên áp lực tăng vốn sẽ khiến các ngân hàng khó khăn hơn rất nhiều Do đó, hiện tượng mua bán và sáp nhập có thể sẽ tăng lên và số lượng ngân hàng dự định sẽ giảm 30%-40% trong một vài năm tới đây
- Lĩnh vực phân phối bán lẻ: Việt Nam thực sự là một nơi đầu tư lý tưởng của các
công ty tiến hành kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ với thị trường hơn 85 triệu dân Theo cam kết hội nhập WTO, từ ngày 01/01/2009 Việt Nam đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài trên thị trường bán lẻ, mở ra điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành kinh doanh tại Việt Nam Và rõ ràng con đường nhanh chóng nhất để các nhà đầu tư thâm nhập vào thị trường Việt Nam là thông qua mua bán doanh nghiệp Lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ là lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhất để đón nhận nguồn vốn đầu tư [34]
- Lĩnh vực chứng khoán: Cùng với sự phát triển nóng của thị trường chứng khoán Việt
Nam trong những năm vừa qua, số lượng các công ty chứng khoán được thành lập với tốc độ nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư tham gia vào một loại thị trường còn mới mẻ này Tính đến thời điểm tháng 2/2012, cả nước có khoảng 100 công ty chứng khoán đang hoạt động trong đó số công ty có vốn điều lệ dưới 300 tỷ chiếm gần 80% Điều này tạo
ra rủi ro rất lớn cho các nhà đầu tư nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) đã đề xuất việc giảm 3/4 số lượng công ty chứng khoán vì hiện nay có quá nhiều công ty chứng khoán tồn tại nhưng chất lượng kém, nhân lực phân tán… Trong tương lai trung hạn, sẽ diễn ra quá trình mua lại hoặc thôn tính các công ty chứng khoán không có tiềm lực tài chính Và số lượng các công ty chứng khoán sẽ giảm 50%-60% sau quá trình mua bán và thôn tính công ty [34]
- Lĩnh vực dược phẩm và kiểm toán: Đặc điểm chung của hai lĩnh vực này ở Việt Nam
đó là có sự tham gia đông đảo của các công ty, trong đó số lượng các doanh nghiệp một chủ
sở hữu (doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) chiếm tương đối nhiều Tuy nhiên, hầu hết các công ty đó đều không đáp ứng được nhu cầu về vốn và quy mô sản xuất theo tiêu chuẩn mà thế giới và Việt Nam ban hành Xu hướng của hai lĩnh vực này trong những năm tới đây sẽ xảy ra nhiều vụ mua bán doanh nghiệp để tiến hành đầu tư vào một thị
Trang 16trường mới (đối với lĩnh vực dược phẩm) hoặc để thay đổi quy mô và chất lượng dịch vụ (đối với kiểm toán), quá trình diễn ra hoạt động mua bán doanh nghiệp hứa hẹn sẽ có sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư nước ngoài [34]
Qua việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động mua bán doanh nghiệp tại một số lĩnh vực ngành nghề quan trọng, có thể thấy hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn đang ở thời kì đầu của quá trình hình thành, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, do đó các giao dịch có giá trị lớn diễn ra với số lượng ít và chủ yếu do các thương nhân, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện, chủ yếu là các giao dịch có giá trị thấp Hơn nữa, hoạt động này nói chung vẫn còn ở mức độ đơn giản chỉ đơn thuần là việc mua lại tài sản của doanh nghiệp, hình thức mua lại chủ
yếu là thân thiện (friendly) mà chưa có nhiều hình thức để các chủ thể kinh doanh lựa chọn
1.1.3 Vai trò của mua bán doanh nghiệp trong nền kinh tế
Mua bán doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến nhiều yếu tố cấu thành của nền kinh tế, từ quy mô đến năng lực cạnh tranh, khả năng tiến hành sản xuất và kinh doanh Mua bán doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích đối với các nhà đầu tư cũng như đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước
* Đối với bên bán: Việc tiến hành bán doanh nghiệp sẽ đem lại cho bên bán một
khoản lợi nhuận nhất định, đó là những chi phí mà bên bán đã bỏ ra khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh như xây dựng nhà xưởng, xây dựng hệ thống khách hàng, gây dựng thương hiệu và uy tín trên thị trường Trong quá trình hoạt động kinh doanh, trước sức ép của thị trường, những doanh nghiệp nhỏ khó có thể cạnh tranh nếu cứ hoạt động độc lập và rủi ro là điều khó tránh khỏi Khi các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn
về tài chính họ thường thực hiện các thủ tục vay vốn để tái đầu tư nhằm đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng đó, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng đạt được thành công, đa số chủ doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp bằng hình thức giải thể hoặc phá sản Tuy nhiên, nếu so sánh với hai biện pháp này thì mua bán doanh nghiệp vẫn là giải pháp tối ưu, đem lại lợi ích kinh tế cao nhất cho chủ doanh nghiệp Bởi lẽ, với biện pháp giải thể doanh nghiệp thì việc thu hồi vốn đầu tư chỉ được thực hiện từ việc thanh lý các tài sản hữu hình nên lãng phí rất nhiều giá trị tiềm năng, hay với thủ tục phá sản thì chủ doanh nghiệp có thể gặp phải những hạn chế khi muốn kinh
Trang 17doanh trở lại Vì vậy, việc bán doanh nghiệp là một lựa chọn giúp bên bán quay trở lại với hoạt động kinh doanh theo một cách thức và phương thức mới mà họ thấy hợp lý
Tuy nhiên, việc bán một doanh nghiệp không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của việc làm ăn thua lỗ mà nó có thể thể hiện tầm nhìn chiến lược của chủ doanh nghiệp Khi thấy chu kì kinh doanh của lĩnh vực kinh doanh đã kết thúc, doanh nghiệp đã phát triển đến đỉnh mà bản thân bên bán không đủ năng lực về nguồn vốn để mở rộng kinh doanh hoặc muốn cắt giảm chi phí thông qua việc tối ưu hóa các nguồn lực thì bán doanh nghiệp
sẽ là phương thức tốt nhất để bên bán rút chân ra khỏi thị trường, lĩnh vực mà mình đang đầu tư Lúc này, bán doanh nghiệp sẽ thu lại cho họ một khoản lợi nhuận lớn để tiến hành tái đầu tư tại một lĩnh vực khác có nhiều cơ hội hơn
* Đối với bên mua: Trong quá trình kinh doanh, việc các nhà đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, hệ thống khách hàng, thương hiệu, mở rộng thị trường không phải là câu chuyện
có thể làm trong thời gian ngắn Chỉ thông qua một hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bên mua sẽ tiết kiệm được thời gian để mở rộng sản xuất kinh doanh, tận dụng hết những giá trị thương mại mà bên bán chưa thể tận dụng Việc tiến hành mua doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho bên mua mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh mà không phải bỏ nhiều chi phí Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho bên mua dễ dàng ra nhập thị trường với chi phí rẻ,
họ có thể tiến hành kinh doanh ngay sau khi tiến hành hợp đồng mua mà không cần phải thực hiện quá trình chuẩn bị như các nhà đầu tư tiến hành bài bản từ đầu
Hoạt động mua bán doanh nghiệp còn tạo cơ sở cho bên mua mở rộng thị trường về mặt địa lý thông qua việc mua chính những doanh nghiệp đang tiến hành sản xuất kinh doanh trên thị trường đó Trong đó bên mua có thể liên kết các lợi thế của doanh nghiệp mình với lợi thế của doanh nghiệp được mua lại để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Ví dụ như một doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong việc bán hàng mua lại một doanh nghiệp chuyên môn hóa về marketing sẽ thực hiện được mục tiêu bán hàng của doanh nghiệp một cách tốt nhất Đối với các công ty lớn, việc mua lại doanh nghiệp còn mang ý nghĩa tập trung kinh tế, là hình thức “thôn tính” đối thủ cạnh tranh (Hostile Takeover) để từ đó bành trướng thế lực, thống trị các phân khúc hàng hóa sản phẩm, tạo ra sự độc quyền và thu lợi nhuận cao từ sự độc quyền đó Trên thế giới có rất nhiều nhà đầu tư liên tục tiến hành việc
Trang 18mua lại các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sắp phá sản nhưng có tiềm năng trong tương lai trung hạn để tái đầu tư xây dựng và đã thành công như Warren Buffet, Wilbur Ross Việc mua bán doanh nghiệp đã thực sự trở thành một nghề đối với nhiều nhà đầu tư trên thế giới
* Đối với Nhà nước: Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay,
mua lại doanh nghiệp là một trong những hoạt động phổ biến, là công cụ để nhà nước quản lý và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc kinh tế Việt Nam trong nhiều năm liền có sự tăng trưởng nóng về kinh tế, kết hợp với sự ra đời và ngày càng hoàn thiện của hệ thống pháp luật doanh nghiệp đã làm cho số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam tăng nhanh Với con số khoảng hơn 400.000 hiện nay và đến hết năm 2012 là hơn 500.000 doanh nghiệp [56], cơ quan quản lý hoạt động của các công ty ở Việt Nam chủ yếu áp dụng chế độ “hậu kiểm”, phân cấp quản lý về từng tỉnh và không có khả năng quản lý tập trung Điều này dẫn đến các hiện tượng như trùng tên doanh nghiệp giữa các tỉnh, nhiều doanh nghiệp thành lập nhưng không tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng
ký v.v Các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ không đủ khả năng chống chọi hoặc chống chọi yếu ớt với quy luật cạnh tranh khốc liệt đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đã gặp thua lỗ trong kinh doanh, không tìm được đối tác, khoa học công nghệ lỗi thời và lạc hậu trở thành gánh nặng lớn cho Nhà nước về tài chính cũng như quản lý v.v Mua bán doanh nghiệp là một phương thức để những doanh nghiệp gặp thua lỗ trong kinh doanh, những doanh nghiệp có tiềm năng trong tương lai, tập hợp lại để trở thành những doanh nghiệp có quy
mô lớn hơn với đầy đủ khả năng về tài chính, khoa học kỹ thuật và trụ vững trước những thách thức mà quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh đặt ra Những doanh nghiệp này sẽ giữ vai trò đầu tàu, vai trò tiên phong trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam; tạo điều kiện cho Việt Nam tái cơ cấu lại nền kinh tế phát triển quá nhanh và thiếu quy hoạch trước đây Như vậy, với mua bán doanh nghiệp, Nhà nước có thể điều chỉnh giảm số lượng các doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả và phát triển những doanh nghiệp có khả năng kinh doanh tốt, từ đó tạo ra khả năng thúc đẩy phát triển nền kinh tế mạnh mẽ hơn
Trang 191.2 Bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
1.2.1 Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
* Quan niệm về mua bán doanh nghiệp
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “mua bán” thường được sử dụng với thuật ngữ
“hàng hóa” trong thương mại, hoặc “tài sản” trong dân sự Thuật ngữ “mua bán doanh nghiệp” nói chung vẫn còn rất mới mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam bởi đối tượng của
hoạt động mua bán doanh nghiệp là “doanh nghiệp” - “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [6] Theo từ điển bách khoa Việt Nam
“Mua bán là hành vi trao đổi giữa người mua hàng nhận được quyền sở hữu hàng hóa từ người bán bằng cách trả một số tiền theo sự thỏa thuận về giá cả của hai bên” [61] Như
vậy, xét về mặt lý luận, mua bán doanh nghiệp sẽ được hiểu là phương thức chuyển quyền
sở hữu doanh nghiệp từ người bán sang người mua trên cơ sở trao đổi ngang giá với mục đích tiếp tục hoạt động kinh doanh bằng doanh nghiệp đã được chuyển giao Bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp là việc chuyển đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua việc bên bán trả cho bên mua một số tiền nhất định tương đương với phần giá trị doanh nghiệp là đối tượng của giao dịch
Trên thế giới, pháp luật các nước sử dụng nhiều thuật ngữ liên quan đến hoạt động mua bán doanh nghiệp như M&A (Mergers and Acquisitions), Takeovers, Buyout, v.v diễn
tả quá trình tiến hành nhiều thủ tục để dẫn tới kết quả cuối cùng là sự thay đổi cấu trúc vốn, cấu trúc quản lý của các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch
Mergers and Acquisitions là thuật ngữ được ghép từ “Mergers” có nghĩa là sáp nhập
và “ Acquisitions” là mua lại
- Mergers - Sáp nhập : là sự kết hợp của hai hay nhiều doanh nghiệp với nhau, cùng
nhau thỏa thuận về tài sản, phân chia thị trường, thương hiệu và thành lập một doanh nghiệp duy nhất với quy mô lớn hơn Kết quả của việc sáp nhập này là một doanh nghiệp còn tồn tại (được giữ nguyên tên gọi, cơ cấu vốn và cấu trúc doanh nghiệp), các doanh nghiệp còn lại chấm dứt sự tồn tại của mình Hoặc tất cả các doanh nghiệp sẽ sự chấm dứt hoạt động và một doanh nghiệp mới ra đời với tên gọi mới, cơ cấu vốn mới và cấu trúc doanh nghiệp theo
Trang 20sự lựa chọn của các chủ thể tham gia thỏa thuận (còn gọi là Mergers-Consolidation) Sáp nhập được chia thành nhiều loại:
+ Sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal Mergers) là cuộc sáp nhập giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau hoặc những doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan hoặc hoạt động cùng nhau trên những khâu trong quá trình sản xuất Việc sáp nhập này sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư mở rộng thị trường, tăng cơ hội kinh doanh, loại trừ đối thủ cạnh tranh, tăng giá trị thương hiệu Ví dụ như GM motors của Mỹ sáp nhập vơi Deawoo của Hàn Quốc trở thành GM Deawoo [51]
+ Sáp nhập theo chiều dọc (Vertical Mergers) là cuộc sáp nhập giữa các doanh nghiệp hoạt động trong các khâu khác nhau của cùng một lĩnh vực, trên cùng một chuỗi giá trị để mở rộng hình thức và khả năng kinh doanh của nhà đầu tư Ví dụ như một doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc sáp nhập với một doanh nghiệp có chuỗi cửa hàng bán quần
áo [51]
+ Sáp nhập kết hợp (Conglomerate Mergers) là cuộc sáp nhập giữa các doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực hoàn toàn khác nhau Hoạt động này giúp cho các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh thông qua việc đa dạng hóa hình thức và sản phẩm kinh doanh, mở rộng hoạt động kinh doanh về mặt địa lý [51]
- Acquisitions - Mua lại: là hoạt động của một doanh nghiệp khi muốn nắm giữ hoặc
tìm cách kiểm soát hoạt động của một doanh nghiệp khác thông qua việc thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ cổ phần hay tài sản của doanh nghiệp mục tiêu đủ để khống chế toàn bộ các quyết định của doanh nghiệp Sau khi giao dịch kết thúc, doanh nghiệp bị mua lại có thể sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình theo quyết định của doanh nghiệp mua lại, hoặc tiếp tục hoạt động trong mô hình công ty mẹ- con Căn cứ vào tính chất của các thương vụ mua lại, có thể chia hoạt động mua lại thành nhiều loại:
+ Mua lại “thôn tính”- Hostile Takeovers: là hình thức doanh nghiệp mua tiến hành nhiều biện pháp để thực hiện việc mua lại khi công ty bị mua từ chối đề nghị mua của công
ty mua lại theo hình thức mua lại “thân thiện” Các biện pháp đó có thể là chào mua với giá trị cao hơn giá trị trên thị trường rất nhiều; lôi kéo các cổ đông không hài lòng với cách thức
Trang 21tổ chức quản lý hiện hành của công ty; thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, mua lại tài sản của công ty v.v…[52]
+ Mua lại “thân thiện”- Friendly Hostile : là hình thức doanh nghiệp mua đưa ra một
đề nghị mua lại doanh nghiệp bị mua, chủ sở hữu doanh nghiệp bị mua sau khi nhận đề nghị tiến hành họp và đưa ra quyết định bán doanh nghiệp Hợp đồng được kí kết và hai bên nhanh chóng thanh lý hợp đồng và tiến hành các thủ tục tiếp theo [52]
+ Mua lại "ngược" - Reverse Takeover : là hình thức một công ty tư nhân mua lại toàn bộ một công ty đại chúng, hình thức này mang lại cho công ty tư nhân cơ hội trở thành công ty đại chúng mà có thể bỏ qua nhiều giai đoạn phức tạp (thẩm định, IPO, v.v ) [53]
Như vậy, khi một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu thì thương vụ đó gọi là mua bán Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã tiếp quản bên bán và cổ phiếu của bên mua (nếu là công ty
cổ phần) Từ đó có thể thấy hoạt động mua lại doanh nghiệp trên thế giới được quy định bao gồm: việc mua toàn bộ doanh nghiệp hoặc mua cổ phần để nắm quyền chi phối đối với doanh nghiệp, hay tranh thủ sự ủng hộ của các cổ đông để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về mua bán doanh nghiệp chưa có sự thống nhất
mà tùy vào từng trường hợp cụ thể các giao dịch mua bán doanh nghiệp có thể liên quan và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp, cạnh tranh, đầu tư hoặc dân sự v.v…Tuy nhiên, những quy định này vẫn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật và chưa thực sự đề cập cụ thể đến nội dung của hoạt động mua bán doanh nghiệp
- Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp
mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Khoản 3, Điều 17) Theo đó, mua
bán doanh nghiệp được hiểu là việc mua tài sản của doanh nghiệp và việc mua lại mang đến cho bên mua quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua Do mục tiêu của hoạt động mua bán doanh nghiệp là mục tiêu kiểm soát hoạt động doanh nghiệp, việc mua bán không chỉ diễn ra đơn thuần với việc mua bán tài sản thông thường mà phải thỏa thuận mua bán các yếu tố liên quan đến thương hiệu, tên thương mại,
Trang 22lợi thế kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, hệ thống nhân sự, hệ thống khách hàng v.v [24, tr 279,280]
Theo quan điểm của Luật Cạnh tranh, “mua lại doanh nghiệp” gắn liền với hoạt động mua tài sản của doanh nghiệp nhằm nắm quyền kiểm soát chi phối doanh nghiệp đó Nhưng trên thực tế, việc mua cổ phần, vốn góp đến một mức nhất định cũng tạo điều kiện cho người mua kiểm soát và chi phối hoạt động của doanh nghiệp Việc mua cổ phần, vốn góp này hoàn toàn khác với việc mua tài sản của doanh nghiệp theo Luật Cạnh tranh Trong hoạt động mua tài sản của doanh nghiệp, bên bán là doanh nghiệp, còn chủ thể tham gia ký kết hợp đồng mua bán cổ phần, vốn góp là người sở hữu phần vốn góp, cổ đông Bên mua sẽ trở thành thành viên doanh nghiệp và tham gia hoạt động quản lý doanh nghiệp Nhưng nhiều trường hợp việc mua bán cổ phần, vốn góp có thể chỉ là một hành vi đầu tư thông thường của bên mua bởi không phải lúc nào họ cũng nhằm mục đích tham gia vào hoạt động quản trị doanh nghiệp, hay nhằm kiểm soát chi phối hoạt động doanh nghiệp Đây cũng chính là điểm vướng mắc trong hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp
Tóm lại, qua nghiên cứu quan niệm về mua bán doanh nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam, có thể hiểu mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng mua bán doanh nghiệp hoặc thông qua việc chuyển nhượng cổ phần, vốn góp của các thành viên trong doanh nghiệp với mục đích để bên mua nắm quyền kiểm soát giá trị doanh nghiệp
* Quan niệm về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
Hiện nay, các doanh nghiệp một chủ sở hữu ở nước ta tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Việc mua bán các doanh nghiệp này sẽ đơn giản hơn các loại hình doanh nghiệp khác bởi yếu tố chỉ có một chủ sở hữu
- Theo Nghị định số 109/2008/NĐ-CP về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước: “Bán toàn bộ hoặc bộ phận doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là việc chuyển sở
hữu có thu tiền toàn bộ doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác” (khoản 1, điều 3) Định nghĩa này cho phép chúng ta xác định
một số đặc điểm của bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước:
Trang 23+ Thứ nhất, bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là việc chuyển giao quyền sở
hữu toàn bộ hoặc bộ phận doanh nghiệp từ sở hữu Nhà nước cho chủ sở hữu khác Chủ thể
có quyền quyết định việc bán doanh nghiệp ở đây chỉ duy nhất là Nhà nước
+ Thứ hai, đối tượng của bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là bộ phận hoặc
toàn bộ doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả tài sản vô hình và tài sản hữu hình Việc bán doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là bán tài sản của doanh nghiệp mà còn bán lợi thế kinh doanh Nói cách khác, doanh nghiệp chính là “hàng hoá, tài sản” nên quan hệ mua bán doanh nghiệp cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung trong các quan hệ mua bán tài sản do Bộ luật dân sự điều chỉnh
+ Thứ ba, giá trị trao đổi phải được tính bằng tiền trong quan hệ mua bán doanh
nghiệp này Đây là quan hệ trao đổi ngang giá, hình thức trao đổi là nhận thanh toán Tức
là, người bán doanh nghiệp sẽ được thanh toán bằng tiền phần doanh nghiệp đã chuyển giao quyền sở hữu
+ Thứ tư, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sau khi được bán có thể tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu mới bằng việc đăng kí kinh doanh lại đối với doanh nghiệp được bán
Như vậy, quy định về việc bán doanh nghiệp tại Nghị định 109/2008/NĐ-CP sẽ chỉ được áp dụng để thực hiện bán các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Chủ sở hữu doanh nghiệp ở đây là Nhà nước- một chủ thể đặc biệt Do đó, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, Nghị định này cũng là văn bản đầy đủ nhất điều chỉnh hoạt động mua bán một trong số các doanh nghiệp một chủ sở hữu Những quy định này không thể áp dụng để bán các loại hình doanh nghiệp còn lại như doanh nghiệp tư nhân hay công
ty TNHH một thành viên
- Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định về việc bán doanh nghiệp tư nhân:“Chủ
doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác” (khoản 1,
điều 146); sau khi tiến hành xong hoạt động mua bán “Người mua doanh nghiệp phải
đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật này” (khoản 4, điều 146)
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Theo quy định trên,
Trang 24chủ doanh nghiệp tư nhân là người duy nhất có quyền quyết định bán doanh nghiệp của mình cho người khác Việc bán doanh nghiệp tư nhân được hiểu là việc chuyển giao quyền
sở hữu doanh nghiệp tư nhân cho người khác, bao gồm các tài sản và các giá trị tài sản khác của doanh nghiệp (không giới hạn ở giá trị hữu hình) Vậy bán doanh nghiệp tư nhân và bán tài sản doanh nghiệp tư nhân có phải là hai hình thức mang bản chất giống nhau?
Thực chất của việc mua bán tài sản doanh nghiệp là sự chuyển nhượng một phần hay toàn bộ tài sản, quyền tài sản của doanh nghiệp cho tổ chức, cá nhân khác thông qua
sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân đó Hai hoạt động mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp tuy về mặt hình thức có những điểm tương đồng nhưng đó là hai vấn đề có bản chất khác nhau Cụ thể như sau :
+ Về đối tượng: Việc mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp đều
là hai hoạt động thương mại có liên quan đến tài sản doanh nghiệp - đều là hoạt động chuyển quyền sở hữu có thu tiền, tuy nhiên đối tượng của hoạt động mua bán tài sản doanh nghiệp chỉ đơn thuần là tài sản của doanh nghiệp còn đối tượng của mua bán doanh nghiệp lại là “doanh nghiệp” Những thỏa thuận trong mua bán doanh nghiệp không chỉ là thỏa thuận về tài sản hữu hình của doanh nghiệp mà còn cả những thỏa thuận về các giá trị tiềm năng của doanh nghiệp như tên thương mại, thương hiệu, hệ thống khách hàng, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các bên thứ ba, hệ thống quản lý cũng như đội ngũ nhân công v.v…
Sau khi mua lại doanh nghiệp, bên mua sẽ tiếp tục khai thác các giá trị thương mại của doanh nghiệp mục tiêu Vì vậy, đối tượng của hoạt động mua bán doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là những tài sản, đó còn là một thực thể pháp lý đang tồn tại, đang tiến hành sản xuất kinh doanh Đặc điểm này tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp
+ Vấn đề kiểm soát, chi phối toàn bộ ngành nghề của doanh nghiệp: Hoạt động mua bán tài sản doanh nghiệp và mua bán doanh nghiệp đều có chung một dấu hiệu đó là hành vi mua bán toàn bộ tài sản doanh nghiệp Tuy nhiên, hai hoạt động này khác nhau ở chỗ là việc mua bán đó có cho phép người mua kiểm soát, chi phối bộ phận hoặc toàn bộ
Trang 25ngành nghề của doanh nghiệp hay không, nếu có đó là hoạt động mua bán doanh nghiệp còn nếu không nó chỉ là một quan hệ mua bán tài sản doanh nghiệp
+ Vấn đề chủ sở hữu doanh nghiệp: Hoạt động mua bán tài sản doanh nghiệp sẽ không làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp còn hoạt động mua bán doanh nghiệp lại làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp Bởi vậy về mặt thủ tục, khi tiến hành mua bán tài sản doanh nghiệp, các bên không phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh, nhưng khi tiến hành mua bán doanh nghiệp thì phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh
Rõ ràng, hai hoạt động này có hành vi bên ngoài rất giống nhau, nhưng mục đích, nội dung, hậu quả pháp lý và thủ tục tiến hành thì rất khác nhau Chính vì vậy, không thể cho rằng việc mua bán doanh nghiệp tư nhân thực chất chỉ là mua bán tài sản doanh nghiệp mà cần phải căn cứ vào thỏa thuận của các bên để xác định Nếu như trong hợp đồng mua bán thỏa thuận rõ ràng về việc bên mua sẽ sở hữu doanh nghiệp và tiếp tục được
sử dụng các tài sản của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp mới hoàn toàn có thể đăng ký lại với tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, thương hiệu v.v như vốn có của doanh nghiệp đó trước khi nó được thay đổi chủ sở hữu Thậm chí nếu người mua và người bán thỏa thuận được với nhau thì người mua có thể trở thành người gánh chịu toàn bộ các khoản nợ của doanh nghiệp trước khi bán, thì thực chất nó vẫn là chính nó, vẫn tiếp tục được vận hành chỉ là dưới chủ sở hữu mới mà thôi, như thế bản thân hoạt động này đã mang đầy đủ các
đặc điểm của hoạt động mua bán doanh nghiệp
Ngoài các quy định về mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, mua bán doanh nghiệp tư nhân, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ quy định về mua bán, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần chứ không có quy định về mua bán các loại hình doanh nghiệp còn lại, trong đó có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty TNHH một thành viên
là loại hình doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Cũng giống như các hình thức doanh nghiệp một chủ khác, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên
có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của công ty Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc mua bán loại hình công ty này mà chỉ có quy định về vấn đề chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho người khác
Đối với loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu như công ty TNHH hai thành viên hay công ty cổ phần pháp luật có quy định về vấn đề chuyển nhượng cổ phần, vốn
Trang 26góp Đặc trưng của các doanh nghiệp này là có sự hùn vốn của nhiều thành viên nên việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên đạt một tỷ lệ nhất định cũng hình thành một giao dịch mua bán doanh nghiệp Luật doanh nghiệp 2005 quy định: các cổ đông trong công ty cổ phần có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (Điều 77), hoặc các thành viên của công ty TNHH hai thành viên có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác (Điều 44) Như đã phân tích ở trên, quá trình mua bán này sẽ được hoàn thành khi bên mua tiến hành mua được lượng vốn góp đủ để chi phối hoạt động của doanh nghiệp Trong trường hợp này, việc mua cổ phần, vốn góp cũng được xem là một trong những phương thức mua bán doanh nghiệp Đương nhiên khi đó việc mua bán sẽ chỉ được thực hiện thông qua các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, vốn góp của các bên chứ không có sự xuất hiện của một hợp đồng mua bán doanh nghiệp Rõ ràng, phương thức này không thể áp dụng để bán các doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH một thành viên, bởi đây là loại hình doanh nghiệp chỉ có một chủ
sở hữu đầu tư vốn, không có sự góp vốn của nhiều chủ thể nên việc bán một phần hay toàn
bộ doanh nghiệp là do một chủ sở hữu toàn quyền quyết định và được thực hiện thông qua hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu quan niệm về mua bán doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp tư nhân và mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chúng ta có thể đưa
ra một cách hiểu thống nhất về mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu như sau: Mua bán
doanh nghiệp một chủ sở hữu là giao dịch, theo đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ chuyển quyền kiểm soát, chi phối một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp của mình cho bên mua thông qua hợp đồng mua bán doanh nghiệp Bên mua có trách nhiệm nhận các quyền này, đồng thời các bên được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ khác theo thoả thuận
1.2.2 Mối liên hệ giữa mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu với vấn đề chuyển nhượng vốn góp
Phần vốn góp được hiểu là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu công ty có trong vốn điều lệ Phần vốn góp thể hiện quyền chủ sở hữu công ty của người nắm giữ tương ứng với tỷ
lệ vốn mà mình đang nắm giữ trên tổng số vốn điều lệ Do đó, việc chuyển nhượng phần vốn góp không chỉ là sự chuyển nhượng về tài sản mà còn là sự chuyển nhượng
Trang 27về quyền chủ sở hữu đối với công ty Đặc điểm này tạo nên mối quan hệ giữa mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu và việc chuyển nhượng phần vốn góp
Trên thực tế, hoạt động mua bán công ty TNHH một thành viên không chỉ là việc mua bán tài sản công ty mà còn là việc tiến hành quá trình mua bán quyền chủ sở hữu công ty thông qua việc nhận chuyển nhượng vốn điều lệ, hoạt động mua bán công
ty được coi như hoàn thành khi bên mua nắm được đủ số vốn điều lệ để chi phối hoạt động của công ty mục tiêu Như vậy, chuyển nhượng vốn điều lệ cũng là một cách thức
để tiến hành hoạt động mua bán công ty TNHH một thành viên
Theo quy định tại LDN 2005: “Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc các nhân khác” (khoản 1, Điều 66) Từ quy định trên có thể thấy việc mua bán công ty thông qua hoạt động chuyển nhượng vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên đơn giản hơn rất nhiều so với việc chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên Bởi yếu tố một chủ sở hữu nên việc quyết định vấn đề chuyển nhượng vốn điều lệ của công
ty TNHH một thành viên không phải tuân theo những quy định chặt chẽ như với công
ty TNHH hai thành viên Chủ sở hữu có quyền tự định đoạt về tỷ lệ vốn điều lệ chuyển nhượng và đối tượng nhận chuyển nhượng Tuy nhiên, nếu công ty nằm trong “tầm ngắm” của các đối thủ cạnh tranh cũng sẽ dễ dàng bị “thôn tính” bởi lúc đó sẽ không
có giải pháp nào ngoài việc chủ sở hữu phải chấp nhận chuyển nhượng
Việc chuyển nhượng vốn góp đối với các doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu được pháp luật hiện hành quy định đầy đủ hơn Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty có hạn chế Khi một thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho một người khác thì phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại trước, theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện, sau đó nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết thì mới được bán cho người không phải là thành viên công ty [4, điều 44] Từ quy định này có thể thấy việc mua bán doanh nghiệp thông qua hoạt động chuyển nhượng vốn của công ty TNHH hai thành viên là không đơn giản, vì các thành viên công ty luôn nắm quyền mua lại phần vốn góp của
Trang 28các thành viên muốn bán, và khi thấy nguy cơ công ty bị “thôn tính” họ hoàn toàn có giải pháp để cứu công ty khỏi nguy cơ đó bằng việc cùng nhau bỏ tiền mua hết phần vốn góp mà thành viên muốn bán Như vậy, nếu muốn thực hiện việc mua bán công ty bằng việc mua lại phần vốn góp, nhà đầu tư buộc phải trả giá cao vượt khỏi khả năng thanh toán của các thành viên hiện hữu của công ty
Đối với công ty cổ phần, pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể khi muốn tiến hành mua lại công ty thông qua việc nắm giữ cổ phần chi phối bằng
việc quy định: cổ đông công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ một số
trường hợp nhất định [4, Điều 77] Trong quá trình tiến hành mua cổ phần, công ty có thể nắm bắt được tiến trình hoạt động mua của bên mua, và khi bên mua đã nắm giữ một tỉ lệ cổ phần đủ để tham gia vào hoạt động quản trị nội bộ công ty rồi sau đó gần đạt tới con số tỉ lệ đủ để chi phối hoạt động của công ty, các cổ đông còn lại công ty có thể tiến hành họp để thỏa thuận về việc không bán thêm cổ phần cho nhà đầu tư này Thỏa thuận này hiện nay chưa được LDN quy định vì vậy các cổ đông hiện hữu của công ty hoàn toàn có thể hạn chế sự “thôn tính” của một chủ thể khác
Như vậy, chuyển nhượng vốn điều lệ trong công ty TNHH một thành viên là một phương thức để tiến hành hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu, quá trình mua bán doanh nghiệp này sẽ kết thúc khi bên mua nắm giữ được vốn điều lệ của công ty mục tiêu để từ đó biến công ty mục tiêu thành công ty con hay tiến hành hợp nhất, sáp nhập như đã phân tích tại phần trên Đối với hình thức này, Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về giới hạn, cách thức tiến hành của quá trình mua, thủ tục thông báo, công bố thông tin, v.v Vì vậy có thể gây ảnh hưởng đến bên bán, bên mua
và các đối tượng khác có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động của công ty (chủ
nợ, người lao động, v.v )
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ
HỮU Ở VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trong quá trình suy thoái, nhiều doanh nghiệp trong nước đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ Điều đó tạo sức ép lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu không trụ vững sẽ phải thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc chấp nhận bán doanh nghiệp Đây là thời điểm góp phần hình thành nên những tổ chức mới, những tập đoàn phù hợp và hoạt động có hiệu quả trong tình hình mới, từ đó gia tăng các động lực tích cực cho phát triển kinh tế, góp phần cải thiện cơ cấu và độ mở, sự gắn kết và khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của mỗi doanh nghiệp nói riêng, của nền kinh tế nói chung Hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển và dự báo trong những năm tới, nó sẽ phổ biến hơn đối với loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu, trở thành một hình thức đầu tư được ưa chuộng Tuy nhiên, hiện nay khung pháp lý của pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu nói riêng còn rất đơn giản và nằm “rải rác” tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật chứng khoán, Luật cạnh tranh Việc mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu được thực hiện theo các quy định về mua bán doanh nghiệp nói chung
* Bộ Luật Dân sự: Bộ luật dân sự không quy định về việc mua bán pháp nhân mà chỉ
quy định các hành vi mang tính chất hệ quả của hành vi mua bán pháp nhân đó là quy định về hợp nhất pháp nhân (điều 94) và sáp nhập pháp nhân (điều 95)
Tại Việt Nam nếu muốn hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp, trước hết phải xác định doanh nghiệp là một loại hàng hóa, một loại tài sản trên thị trường Trên thế giới, pháp luật Pháp coi doanh nghiệp là một loại động sản (điều 529, Bộ luật Dân sự Pháp sửa đổi
bổ sung năm 2005), pháp luật Nga coi công ty là một loại bất động sản (điều 132, Bộ luật dân
sự Nga được sửa đổi bổ sung năm 2001) Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản
là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (điều 163) Tài sản được chia làm 2 loại bất động sản và động sản trong đó: (i) Bất động sản là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất
Trang 30đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác theo quy định của pháp luật; (ii) Động sản là tài sản không phải là bất động sản Ở đây, pháp luật dân sự Việt Nam không quy định doanh nghiệp thuộc vào loại tài sản là bất động sản hay động sản và chưa nhìn nhận doanh nghiệp dưới dạng thức một loại tài sản Tuy nhiên, nếu phân tích kĩ có thể thấy doanh nghiệp chứa đựng những nội dung mang tính chất tài sản: dây chuyền sản xuất công nghệ, máy móc trang thiết bị đó là động sản; nhà xưởng, đất đai là bất động sản; quyền quản trị doanh nghiệp là một hình thức của quyền tài sản, từ góc độ này có thể thấy doanh nghiệp là đối tượng của hợp đồng mua bán, có thể cho thuê, cầm cố hay thế chấp
* Luật Doanh nghiệp: Luật Doanh nghiệp 2005, văn bản có hiệu lực hiện nay quy định
các vấn đề pháp lý về doanh nghiệp tại Việt Nam đã có quy định về “bán doanh nghiệp tư nhân” (điều 145) với hình thức đơn giản như việc bán tài sản thông thường của chủ doanh nghiệp tư nhân và các quy định về hợp nhất doanh nghiệp (điều 152), sáp nhập doanh nghiệp (điều 153) như những hình thức tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định tạo cơ sở cho hoạt động mua bán công ty TNHH một
thành viên như quy định về “quyền rút vốn của chủ sở hữu bằng cách chuyển nhượng một
phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác; trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho người khác thì công ty phải đăng kí chuyển sang loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên” [4, Điều 66]
* Luật Đầu tư: Luật Đầu tư 2005 đã có quy định tạo cơ sở cho hoạt động mua bán
doanh nghiệp một chủ sở hữu, đó là quy định việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp là một hình thức đầu tư trực tiếp (khoản 6, điều 21) Luật đầu tư cho phép nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, chi nhánh theo những điều kiện được quy định tại các văn bản pháp luật khác [6, điều 25] Tuy nhiên, Luật đầu tư không quy định cách thức tiến hành cụ thể của hoạt động mua bán doanh nghiệp mà để một văn bản khác quy định cụ thể, dự án đầu tư mua bán doanh nghiệp sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư hay thẩm tra đầu tư như các
dự án thông thường khác
Như vậy có thể thấy Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư đã có những quy định trực tiếp điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu ở Việt Nam
Trang 31* Luật Cạnh tranh: Pháp luật Cạnh tranh của Việt Nam đã coi hoạt động mua bán
doanh nghiệp một chủ sở hữu là một hình thức của tập trung kinh tế khi liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế “Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật” [8, Điều 16]
Tuy nhiên, không phải hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu nào cũng được coi là tập trung kinh tế Pháp luật cạnh tranh đưa ra một số trường hợp mua bán doanh nghiệp không phải là một hình thức tập trung kinh tế đó là những trường hợp mà hoạt động mua bán doanh nghiệp không dẫn đến quá trình hợp nhất tiến hành kinh doanh (Điều 35- Nghị định số 116/2005/NĐ-CP)
Luật cạnh tranh đã có những quy định rõ ràng về việc tiến hành mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu tại Việt Nam tuy nhiên do nhìn nhận hoạt động này dưới khía cạnh kiểm soát tập trung kinh tế nên chưa bộc lộ cụ thể những đặc điểm pháp lý của hoạt động này Việc kiểm soát của Cục quản lý cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi xuất hiện những giao dịch rơi vào ngưỡng cạnh tranh phải khai báo hoặc bị cấm
* Nghị định 109/2008/NĐ-CP hướng dẫn về giao bán khoán doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước : Có thể nói, đây là văn bản pháp luật có nội dung cụ thể nhất và đầy đủ nhất quy định về bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước- một trong số những doanh nghiệp một chủ sở hữu Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đều thuộc đối tượng được bán mà chỉ có những doanh nghiệp đạt điều kiện nhất định mới được bán theo quy định của Nghị định này
Các quy định liên quan đến hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu còn được xuất hiện tại một số văn bản khác như Luật tổ chức tín dụng 1997, Nghị định 139/2007/NĐ-
CP hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp 2005
Từ các phân tích trên có thể thấy, hiện nay pháp luật Việt Nam đã có những quy định về hoạt động mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu, tuy nhiên các quy định này cần được quy định cụ thể, tập trung và thống nhất để tạo ra khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động này Trong khi đó, với quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ, quá trình hội nhập sâu rộng vào đời
Trang 32sống thương mại quốc tế, mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu sẽ sớm trở thành một kênh đầu tư có quy mô lớn, một hình thức đầu tư trực tiếp được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP MỘT CHỦ SỞ HỮU
2.2.1 Quy định pháp luật về tài sản và định giá doanh nghiệp một chủ sở hữu
Xác định giá trị doanh nghiệp là yếu tố quyết định trong hoạt động mua bán doanh nghiệp bởi nó mang ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư Đối với người mua, định giá chính xác doanh nghiệp mục tiêu sẽ giúp họ tránh tình trạng đặt giá mua quá cao so với năng lực thực tế của đối tác Bên cạnh đó, họ có thể nắm bắt chi tiết về tình hình hiện tại của doanh nghiệp, nắm được cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp mục tiêu cũng như các rủi
ro tài chính tiềm ẩn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng Đối với doanh nghiệp bán, thì việc định giá doanh nghiệp chính xác sẽ giúp họ tránh được tình trạng bị thâu tóm bởi đối tác do chấp nhận giá bán thấp hơn giá trị thực tế của doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp (hay xác định giá trị doanh nghiệp) là việc ước tính giá trị hiện hữu và tiềm năng của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định bằng cách sử dụng các phương pháp định giá thích hợp Tuy nhiên, muốn định giá doanh nghiệp một cách chính xác thì trước tiên các bên phải xác định được giá trị tài sản của doanh nghiệp Vậy tài sản của một doanh nghiệp một chủ sở hữu trong giao dịch mua bán doanh nghiệp bao gồm những gì ?
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì tài sản được chia thành hai loại là động sản
và bất động sản, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản [1, điều 163] Theo quy định của LDN, tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty (Khoản 4, điều 4) Tài sản của doanh nghiệp một chủ sở hữu được hình thành từ nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu, sau đó là quá trình tích tụ tài sản từ hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quá trình đó các loại tài sản mới được hình thành và tạo ra một khối tài sản chung của cả doanh nghiệp bao gồm:
(i) Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu;
Trang 33(ii) Tài sản là tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, hệ thống khách hàng và các giá trị lợi thế khác;
(iii) Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịch trong quá trình sản xuất kinh doanh;
(iv) Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp; (v) Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai
Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản doanh nghiệp và tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp Khi mới thành lập, vốn của doanh nghiệp tư nhân sẽ do chủ doanh nghiệp tư nhân tự đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, còn trong quá trình hoạt động thì chủ sở hữu có quyền tăng, giảm vốn điều lệ và phải được ghi chép đầy
đủ vào sổ kế toán Nếu trong trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn ban đầu thì chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh [4, Điều 142] Như vậy, đối với doanh nghiệp tư nhân thì ranh giới giữa tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp là rất khó xác định Do đó, pháp luật đã quy định về việc chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình Tuy nhiên, trong giao dịch mua bán doanh nghiệp tư nhân không thể căn cứ vào chế độ trách nhiệm tài sản mà xác định rằng tài sản đem bán của doanh nghiệp là toàn bộ những tài sản của chủ doanh nghiệp đang sở hữu Ngoài vốn đầu tư mà chủ doanh nghiệp đã đăng ký, việc xác định tài sản của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận cụ thể của bên mua và bên bán
Tóm lại, tài sản của doanh nghiệp một chủ sở hữu có thể là tài sản vô hình, tài sản hữu hình và tài sản hình thành trong tương lai, vì vậy quá trình tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp một chủ sở hữu là một quá trình không đơn giản
Trong thương vụ mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu, cả hai bên đều có cách đánh giá khác nhau về giá trị doanh nghiệp bị mua: bên bán thường có khuynh hướng định giá công
ty của mình ở mức cao nhất có thể, trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấp nhất trong khả năng có thể Mỗi một doanh nghiệp là một chủ thể riêng biệt, có một đặc điểm và cấu trúc
Trang 34khác nhau vì vậy định giá doanh nghiệp được coi là một việc khó khăn với nhiều phương pháp định giá và mỗi phương pháp cho một đáp số khác nhau, con số cao nhất có thể cách xa con số thấp nhất đến vài lần Hơn nữa tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi khu vực, cũng như tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ của đội ngũ chuyên viên định giá mà người ta có thể chọn và sử dụng các phương pháp định giá khác nhau sao cho phù hợp với từng loại doanh nghiệp, đồng thời có thể đưa ra một mức giá công bằng mà cả hai bên đều chấp nhận được Việc thẩm định giá doanh nghiệp thường được tiến hành bởi doanh nghiệp thẩm định giá, được quy định cụ thể tại Nghị định 101/2005/NĐ-CP
về thẩm định giá Về phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa đặt ra phương pháp riêng nào mà dựa trên các phương pháp quốc tế Trên thực tế, đối với việc định giá các doanh nghiệp một chủ sở hữu người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
* Định giá doanh nghiệp theo phương thức dòng tiền chiết khấu
Phương thức chiết khấu dòng tiền (Discounted cash flows) là phương thức xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời trong tương lai, tức là hiện tại hoá các dòng thu nhập (dòng tiền) chiết khấu các dòng tiền đó theo một mức lãi suất chiết khấu phù hợp có tính đến rủi ro của doanh nghiệp Theo đó, đối với phương pháp này thì hai yếu tố quan trọng nhất
và không thể thiếu được là dòng tiền thu nhập hàng năm và lãi suất chiết khấu dòng tiền đó Đây
là phương pháp đặc biệt hiệu quả để định giá các doanh nghiệp trưởng thành hơn với những dòng tiền mặt ổn định Nó chính là phương thức được sử dụng phổ biến nhất khi các chủ thể có nhu cầu xác định giá trị doanh nghiệp [58]
Đây là phương pháp khá phức tạp, đòi hỏi khả năng phân tích, dự đoán chuẩn xác tình hình hoạt động kinh doanh trong tương lai, xác định tỷ lệ chiết khấu của doanh nghiệp Để xác định giá trị doanh nghiệp theo phương thức đồng tiền chiết khấu phải căn cứ vào các yếu tố: Báo cáo tài chính trong 5 năm liền kề, trước thời điểm xác định giá trị công ty; Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 đến 5 năm tiếp theo; Lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất, trước thời điểm tổ chức định giá cho doanh nghiệp và
hệ số chiết khấu của dòng tiền định giá doanh nghiệp
Trang 35Việc định giá sẽ trở nên chính xác hơn nếu phương thức dòng tiền chiết khấu được áp dụng cho các doanh nghiệp có những con số tài chính ổn định và đạt được trạng thái lợi nhuận vững vàng Sự chắc chắn của các con số tài chính sẽ đảm bảo cho những dự đoán về hoạt động kinh doanh và mức lợi nhuận trong tương lai là có căn cứ Do đó, khó áp dụng phương pháp này đối với những doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính vì dòng tiền phải được dự báo cho đến khi đạt được dòng tiền dương bởi việc chiết khấu về hiện tại một dòng tiền âm sẽ cho ra kết quả giá trị của doanh nghiệp là âm Tuy nhiên, phương pháp này cũng đặt ra những rủi ro nhất định cho các chủ thể tham gia đó là sự phụ thuộc vào khả năng chuyên môn của người định giá Tầm bao quát, am tường và khả năng dự báo kinh tế của các chuyên gia định giá sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quá trình định giá [16] Đối với các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp công nghệ, hoặc các tổ chức kinh doanh tài chính thì việc định giá doanh nghiệp thường áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu
* Định giá doanh nghiệp theo phương thức tài sản thực tế
Phương thức tài sản thực tế được hiểu đơn giản là việc xác định giá trị của doanh nghiệp thông qua việc xác định giá trị của từng loại tài sản Theo đó, giá trị của doanh nghiệp được xác định là giá trị thực tế của những tài sản mà doanh nghiệp quản lý và khả năng mang lại thu nhập
từ các tài sản đó trong tương lai
Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo tài sản chủ yếu được áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô về tài sản hợp lý, chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mà tài sản như : như máy móc, nhà xưởng, phương tiện vận tải, trang thiết bị … đóng vài trò quan trọng đối với sự phát triển nói chung của doanh nghiệp Theo phương pháp này, tài sản định giá của doanh nghiệp bao gồm:
(i) Tài sản cố định hữu hình : nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị…
(ii) Tài sản cố định vô hình bao gồm : Giá trị lợi thế của doanh nghiệp (vị trí địa lý thuận
lợi trong trong sản xuất kinh doanh, uy tín, mẫu mã, thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm); Các tiềm năng, nguồn lực của doanh nghiệp… Ngoài ra có thể kể đến các bí quyết kinh doanh độc
Trang 36đáo riêng có ở doanh nghiệp; các giá trị lợi thế khác (đặc quyền kinh doanh, khai thác mà nhà nước cho phép)
Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Nghị định 109/2008/NĐ-CP đã đưa ra nguyên tắc đó là tài sản của doanh nghiệp khi bán được tính bằng giá trị Giá trị của doanh nghiệp thực hiện bán được tính theo giá trị thực tế trên thị trường Tài sản của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: tài sản vô hình và tài sản hữu hình Khi bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là bán toàn bộ tài sản đó và người mua đều có thể sử dụng cho mục đích kinh doanh của mình Chính vì vậy tất cả tài sản của doanh nghiệp phải được tính bằng giá trị để đảm bảo bên bán được hưởng đúng bằng phần mà mình bán tương ứng Hiện nay giá cả thị trường luôn có những biến động lớn và để đảm bảo lợi ích của các bên trong hợp đồng thì đòi hỏi các tài sản của doanh nghiệp phải được tính theo giá thị trường tại thời điểm bán Nguyên tắc trên đảm bảo tính khách quan trong quan hệ mua bán doanh nghiệp- với một bên chủ thể là Nhà nước Định giá bằng phương pháp tài sản thường mất nhiều thời gian và tốn kém về chi phí, vì
để xác định đúng giá trị tài sản của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau Việc thiếu thông tin cũng đang là trở ngại để xác định giá trị còn lại, giá trị thị trường của tài sản hữu hình Việc xác định tỷ lệ hao mòn của tài sản hữu hình là vấn đề khá phức tạp vì Việt Nam thiếu thông tin, thiếu thiết bị và trình độ khoa học kỹ thuật để xác định tỷ lệ hao mòn chính xác nhất Việc định giá phụ thuộc vào yếu tố người định giá phải có kiến thức chuyên môn về nguyên lý sử dụng và giá trị của tài sản để xác định giá trị tài sản còn sử dụng được trong tương lai
* Định giá doanh nghiệp thông qua phương thức so sánh các chỉ tiêu tài chính cơ bản với các doanh nghiệp tương tự
Đây là phương thức được áp dụng cho những doanh nghiệp có quy mô nhỏ (vốn chỉ khoảng trên dưới 10 tỷ đồng), hoặc những doanh nghiệp hoạt động thiếu minh bạch và rất ít xuất hiện giao dịch, báo cáo tài chính không thường xuyên Phương pháp này sử dụng cách thức so sánh những biến số tài chính của doanh nghiệp mục tiêu với các doanh nghiệp khác thực hiện giao dịch công khai có các chỉ số rõ ràng Quá trình định giá theo phương pháp này thường chia ra các bước cụ thể là: lập danh sách những doanh nghiệp có thể tiến hành so sánh, sau khi có trong tay danh sách các công ty để tiến hành so sánh, chủ thể đầu tư sẽ lựa chọn hệ
Trang 37số tài chính được sử dụng để so sánh và cuối cùng đưa ra kết quả về giá trị của doanh nghiệp sau khi tiến hành so sánh
Hiện nay, phương pháp này ngày càng được sử dụng phổ biến trong hoạt động mua bán doanh nghiệp (không còn dành riêng cho đối tượng doanh nghiệp có quy mô nhỏ) do sự phát triển của khoa học công nghệ với nguồn thông tin tài chính dồi dào được cung cấp từ Internet, yêu cầu minh bạch về tài chính ngày càng cao điều đó tạo cơ sở cho các chủ thể tiếp cận nguồn thông tin chính xác để thực hiện việc so sánh
Trong quá trình định giá doanh nghiệp, bên mua và bên bán còn có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp tỷ lệ giá trên lợi nhuận, phương pháp vốn hóa lợi nhuận, phương pháp giá trị thanh lý tài sản… Trong một số trường hợp, việc định giá doanh nghiệp chỉ mang tính chất tham khảo để các bên đi đến thỏa thuận tiếp theo Bên mua có thể sẵn sàng mua đắt, bên bán có thể sẵn sàng bán rẻ nếu đó là cơ sở để giao dịch diễn ra nhanh chóng và đạt được mục đích của mình
2.2.2 Quy định về các phương thức mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu
Phương thức mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu được hiểu là cách thức để các bên thực hiện quá trình mua bán doanh nghiệp thông qua những trình tự thủ tục do pháp luật quy định Việc quyết định áp dụng phương thức mua bán nào cũng góp phần không nhỏ trong thành công của một thương vụ mua bán doanh nghiệp Như chúng ta đã biết, đặc trưng cơ bản của loại hình doanh nghiệp một chủ đó là chủ sở hữu có toàn quyền quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp, do đó nếu so với các loại hình công ty nhiều thành viên thì việc áp dụng các phương thức mua bán doanh nghiệp của doanh nghiệp một chủ sở hữu có phần đơn giản hơn Trên thực tế có nhiều phương thức được áp dụng khi thực hiện mua bán các doanh nghiệp, tuy nhiên đối với doanh nghiệp một chủ sở hữu các nhà đầu tư thường áp dụng các phương thức sau :
2.2.2.1 Phương thức mua bán trực tiếp
Đây là phương thức mà trong đó bên bán và bên mua doanh nghiệp thực hiện hình thức đàm phán, ký kết hợp đồng trực tiếp Dựa trên yếu tố phần giá trị tài sản của doanh nghiệp được mua lại, phương thức mua bán trực tiếp được chia thành hai loại: mua bán toàn bộ doanh nghiệp và mua bán một phần doanh nghiệp
Trang 38* Mua bán toàn bộ doanh nghiệp
Mua bán toàn bộ doanh nghiệp là việc bên bán chuyển nhượng có thu tiền toàn bộ doanh nghiệp cho bên mua hay bên mua tiến hành mua lại toàn bộ doanh nghiệp của bên bán Việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp thông qua phương thức mua bán này thường được tiến hành đối với những doanh nghiệp có số lượng thành viên ít, có tài sản ở quy mô nhỏ và trung bình, đặc biệt là với các doanh nghiệp một chủ sở hữu Điều đó xuất phát từ hai lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc mua bán trực tiếp được tiến hành thông qua một quá trình đàm phán,
ký kết hợp đồng vì vậy phải có sự đồng ý của bên bán, bên mua mới có thể tiến hành thực hiện giao dịch Rõ ràng, đối với các loại hình công ty nhiều thành viên thì không nên áp dụng phương thức này bởi bên bán sẽ phải tiến hành thủ tục họp HĐTV hoặc Đại hội đồng
cổ đông, và khi số lượng thành viên tham gia góp vốn quá lớn thì việc thông qua quyết định sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều Hình thức mua bán này rất thích hợp áp dụng trong trường hợp bán các loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu hoặc các mô hình công ty có ít
sự tham gia của các thành viên như công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên hoặc công ty cổ phần nhưng số cổ đông hạn chế
Thứ hai, Để mua lại toàn bộ doanh nghiệp, vấn đề tài chính là áp lực không nhỏ đối
với bên mua Sự chuyển giao toàn bộ doanh nghiệp thông qua thỏa thuận chuyển nhượng đồng thời đặt ra nghĩa vụ thanh toán nhanh chóng và toàn bộ giá trị hợp đồng Bản thân doanh nghiệp là một thực thể có giá trị rất lớn vì vậy, một nhà đầu tư thường khó có thể đủ nhu cầu tài chính để thực hiện giao dịch Thông thường, doanh nghiệp bán trong trường hợp này là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ phù hợp với khả năng tài chính của bên mua
Việc tiến hành mua bán doanh nghiệp một chủ sở hữu có thể thực hiện thông qua một số cách thức sau:
- Chào mua công khai: Bên mua sau khi tính toán xác định giá trị công khai đưa ra
một mức giá cao hơn hẳn mức giá thị trường (hoặc mức giá đã được định giá) để tiến hành mua lại Giá chào mua phải đủ sức hấp dẫn đối với bên bán đến mức chủ sở hữu doanh
Trang 39nghiệp bán quyết định việc từ bỏ quyền sở hữu doanh nghiệp để nhận lại số tiền lớn hơn rất nhiều số tiền mình đã tiến hành đầu tư
Hình thức chào mua công khai này thường mang tính chất thôn tính đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp bị mua thường là doanh nghiệp yếu hơn hoặc nhu cầu tái đầu tư vốn quá lớn như công ty TNHH một thành viên hoặc Doanh nghiệp tư nhân Bên mua trong trường hợp này thường huy động nguồn vốn dưới dạng: vốn vay tín dụng tín chấp bằng giá trị tài sản của doanh nghiệp bị mua lại, vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu của doanh nghiệp tiến hành mua lại; sử dụng thặng dư vốn
- Chào bán công khai: Đây là trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp không còn
muốn tiếp tục tiến hành kinh doanh nhưng không muốn thực hiện thủ tục giải thể vì muốn thu về một khoản lợi nhuận, khoản vốn lớn hơn để tái đầu tư Để thực hiện chào bán, bên bán phải tiến hành các thủ tục như việc ra quyết định bán doanh nghiệp Giá chào bán trong trường hợp này có thể bằng hoặc thấp hơn giá trị tài sản định giá của doanh nghiệp Sau khi ra nghị quyết bán doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, hoặc người được
cử thực hiện giao dịch sẽ thông báo thông tin lên các phương tiện đại chúng Tại Việt Nam hiện nay, đã xuất hiện một số công ty chuyên thực hiện các giao dịch này: Sàn mua bán doanh nghiệp và kết nối đầu tư quốc tế ICE; EIC Investment; Sàn chuyển nhượng dự án tại địa chỉ http://www.sanduan.com; v.v Nếu có nhà đầu tư đồng ý thực hiện giao dịch hai bên sẽ tiến hành găp gỡ, đàm phán và thương thảo hợp đồng
Chào mua công khai và chào bán công khai là giai đoạn đầu tiên của một thương
vụ mua bán doanh nghiệp Sau khi bên mua và bên bán đã gặp được nhau ở nhu cầu chuyển nhượng doanh nghiệp và giá thành, hai bên sẽ tiếp tục tiến hành các thủ tục tiếp theo đó là ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp Hợp đồng này sẽ là căn cứ pháp lý để thực hiện các thủ tục tiếp theo như thanh toán, chuyển giao quyền sở hữu và thủ tục đăng
ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân, việc mua bán doanh nghiệp được thực hiện qua phương thức mua bán trực tiếp toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp tư nhân Đối với việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp tư nhân thì tùy từng trường hợp bên mua là cá nhân hay tổ chức mà các bên có thể thỏa thuận áp dụng một trong hai phương thức sau:
Trang 40Phương thức thứ nhất, mua toàn bộ doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản, sau khi hoàn tất thủ tục mua lại, chủ doanh nghiệp mới sẽ có nghĩa vụ chịu trách nhiệm với các khoản nợ của doanh nghiệp Với phương thức mua toàn bộ doanh nghiệp, nếu bên mua là cá nhân thì chủ sở hữu mới của doanh nghiệp tiếp tục gánh chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ và nghĩa vụ của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu bên mua là tổ chức thì chủ sở hữu mới không thể chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của doanh nghiệp tư nhân Do đó, phương thức này thường được áp dụng khi bên mua là
cá nhân, còn trong trường hợp bên mua là tổ chức thì cần phải có sự thỏa thuận rõ ràng về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp về vấn đề chuyển giao nghĩa vụ để đảm bảo lợi ích của các chủ nợ
Phương thức thứ hai, mua tài sản doanh nghiệp mà không chịu các khoản nợ và nghĩa vụ, sau khi thực hiện xong quá trình mua bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân cũ sẽ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp với tư cách cá nhân Phương thức này sẽ tạo tính an toàn cho các chủ nợ của doanh nghiệp bởi sau khi doanh nghiệp được bán đi, các khoản nợ vẫn được chủ doanh nghiệp cũ bảo đảm bằng việc chịu trách nhiệm vô hạn
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tự mình tìm kiếm đối tác có nhu cầu mua lại doanh nghiệp hoặc có thể thông qua các công ty môi giới để tìm kiếm đối tác mua lại doanh nghiệp, sau đó nếu muốn sử dụng các dịch vụ khác như tư vấn luật, thẩm định, phiên dịch, đại diện thì có thể chọn giải pháp phù hợp
Hoạt động mua bán toàn bộ doanh nghiệp một chủ sở hữu là một hoạt động mang tính chất thôn tính, thông thường ban quản trị và điều hành của doanh nghiệp bị mua lại sẽ
bị thay thế, ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp vẫn còn tồn tại Để chống lại sự thôn tính mang lại bất lợi cho mình, ban quản trị có thể áp dụng nhiều phương thức để cứu vãn như vay vốn ngân hàng, bảo lãnh tài chính mạnh hơn để đối phó với giá chào mua quá cao điều này sẽ gây áp lực rất lớn cho doanh nghiệp mục tiêu về tài chính, dù thương vụ kết thúc với kết quả thành công hay thất bại với bên mua thì doanh nghiệp mục tiêu sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề dẫn đến giá trị của doanh nghiệp bị giảm sút Tranh chấp sẽ xảy ra giữa doanh nghiệp mục tiêu và doanh nghiệp mua lại Để tránh những tranh chấp và giải