1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong bộ luật dân sự năm 2005

80 446 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 686,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng năm, có hàng nghìn vụ tranh chấp về việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân, từ các quan hệ lao động, sản xuất, kinh doanh làm dịch vụ đến các quan hệ giao dịch về chu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ VĨNH LONG

CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÁ NHÂN

TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP

Hà Nội – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới

thầy giáo – PGS TS Phùng Trung Tập, người đã tận tình hướng

dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng quý giá trong những năm học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa pháp luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, tháng 05 năm 2013 Học viên

Lê Vĩnh Long

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN

VÀ CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN 4

1.1 Khái niệm quyền sở hữu của cá nhân 4

1.2 Khái niệm căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Ý nghĩa của căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân 16

Chương 2 CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN 18

2.1 Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp 18

2.2 Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận 20

2.2.1 Hợp đồng mua bán tài sản 22

2.2.2 Hợp đồng trao đổi tài sản 27

2.2.3 Hợp đồng tặng cho tài sản 28

2.2.4 Hợp đồng vay tài sản 31

2.3 Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế 32

2.4 Xác lập quyền sở hữu cá nhân theo thời hiệu 39

2.4.1 Xác lập quyền sở hữu cá nhân đối với động sản, bất động sản do chiếm hữu, được lợi không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai 39

2.4.2 Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên 42

2.4.3 Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc 46

2.4.4 Xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước 49

2.5 Xác lập quyền sở hữu cá nhân theo bản án, quyết định của tòa án, theo quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền 51

2.6 Các trường hợp khác do luật định 52

2.6.1 Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức 52

Trang 4

2.6.2 Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập, trộn lẫn, chế biến 54

Chương 3 MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN VÀ HƯỚNG

HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ XÁC

LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN 60

3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá

nhân 60

3.2 Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về căn cứ xác lập

quyền sở hữu của cá nhân 70

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sở hữu của cá nhân là một hình thức sở hữu quan trọng được quy định trong bộ luật hiện hành Nhà nước ta luôn bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân trong tất cả các mức độ sở hữu cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân Do vậy, việc xác định các căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân là một việc quan trọng trong việc xác định quyền sở hữu của cá nhân Hàng năm, có hàng nghìn vụ tranh chấp về việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân, từ các quan hệ lao động, sản xuất, kinh doanh làm dịch vụ đến các quan hệ giao dịch

về chuyển giao quyền sở hữu tài sản như thông qua hợp đồng, thông qua thừa

kế Khi xã hội càng phát triển giá trị tài sản cũng phát triển theo, tranh chấp về các căn cứ xác lập quyền sở hữu cũng trở nên phức tạp hơn và không phải bao giờ tòa án các cấp cũng xử lý thấu tình đạt lý Do vậy, học viên lựa chọn vấn đề

"Căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005" để

làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học nhằm nghiên cứu sâu một vấn đề phức tạp

cả về mặt lý luận và thực tiễn để qua đó góp phần hoàn thiện chế định về quyền

sở hữu nói chung và căn cứ xác lập quyền sở hữu cá nhân nói riêng

II Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến thời điểm hiện nay ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu

về quyền sở hữu nói chung và căn cứ xác lập quyền sở hữu nói riêng Tuy nhiên, những công trình khoa học này được nghiên cứu dựa trên những quy định trong

Bộ luật dân sự năm 1995 về các căn cứ xác lập quyền sở hữu Những công trình tiêu biểu về vấn đề này phải kể đến như luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh

Hoàng Ngọc Thỉnh về “Quyền sở hữu của công dân và phương thức bảo vệ

quyền sở hữu của công dân” Nội dung công trình nghiên cứu này tập trung

nghiên cứu về khái niệm nội dung quyền sở hữu của công dân và các phương thức bảo vệ quyền sở hữu của công dân như kiện đòi chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu, kiện đòi lại tài sản và kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài

Trang 6

sản Nội dung luận án tiến sỹ này nghiên cứu về một vấn đề lớn, do vậy các căn

cứ xác lập quyền sở hữu của công dân chỉ là một nội dung nhỏ trong luận án, vì vậy các căn cứ này chỉ được nghiên cứu ở mức độ cơ bản như một yếu tố cần

phải có trong công trình này Thêm nữa, nghiên cứu về “Căn cứ xác lập quyền

sở hữu của công dân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995” là khóa luận

tốt nghiệp đại học Luật của Phạm Mai Hương (khóa 16) tập trung nghiên cứu những quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân nhưng ở mức độ

cử nhân

Ngoài các công trình nói trên, có bài viết của PGS,TS Phùng Trung Tập

về: “Sở hữu tư nhân và các hình thức biểu hiện của nó”, đăng trong tạp chí luật

học số chuyên đề năm 1996 Công trình này chủ yếu nghiên cứu về hình thức sở hữu, còn các căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân được viện dẫn như một yếu tố cần phải có để làm cơ sở nghiên cứu vấn đề hình thức sở hữu của công dân

Về căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân không được nghiên cứu hệ thống mà chỉ được nghiên cứu ở từng căn cứ như hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, thừa kế di sản ở trình độ thạc sỹ và cử nhân Luật Một số công trình về căn cứ xác lập phải kể đến như luận văn thạc sỹ luật học của Bùi Kim Hiếu về hợp đồng vay tài sản, luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Văn Hiến về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất Ngoài ra còn có một số khóa luận tốt nghiệp đại học Luật chỉ nghiên cứu một khía cạnh của căn

cứ xác lập quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu

Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu của PGS, TS Phùng Trung Tập về:

“Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng”,

Nxb Chính trị hành chính năm 2011, nhưng chủ yếu phân tích sâu về các hình thức sở hữu được quy định trong BLDS năm 2005 mà không nghiên cứu về căn

cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thị Thanh về

“Căn cứ xác lập quyền sở hữu - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” nghiên cứu

một cách chung nhất về các căn căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung; khóa

Trang 7

luận tốt nghiệp của Lê Đình Quyết về “Thời hiệu xác lập quyền sở hữu những

vấn đề lý luận và thực tiễn” chỉ đề cập đến một căn cứ xác lập quyền sở hữu đó

là xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

Do vậy, học viên lựa chọn đề tài "Các căn cứ xác lập quyền sở hữu của

cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005" để thực hiện luận văn cao học Luật

không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố

III Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích, so sánh để làm nổi bật tính đặc thù và hiện đại của những quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân được quy định trong Bộ luật dân sự

IV Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Qua nghiên cứu đề tài làm nổi bật những điểm phù hợp và chưa phù hợp những quy định của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu để qua đó góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung những quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân trong Bộ luật dân sự năm 2005

V Cơ cấu luận văn

Luận văn được cấu tạo bởi ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về quyền sở hữu và căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân

Chương 2: Những trường hợp xác lập quyền sở hữu của cá nhân

Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân và hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân

Trang 8

Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN VÀ CĂN CỨ

XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN

1.1 Khái niệm quyền sở hữu của cá nhân

Tài sản và quyền sở hữu là một trong những cơ sở vật chất quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo cuộc sống của mỗi cá nhân và của cộng đồng

Sở hữu phát sinh và tồn tại cùng sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ý thức về xã hội, về cộng đồng còn hạn chế nhưng người nguyên thủy đã biết chiếm giữ hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắt được, những công cụ lao động giản đơn để phục vụ cho nhu cầu của mình Tuy nhiên, quyền sở hữu của cá nhân chỉ xuất hiện khi nhà nước và pháp luật ra đời, đó là khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội đã phân chia thành giai cấp Để bảo vệ quyền lợi của mình, đặc biệt là lợi ích sở hữu đối với tư liệu sản xuất, để thiết lập trật tự xã hội, giai cấp thống trị đặt ra pháp luật, tức là thể chế hóa ý chí của mình thành ý chí của Nhà nước trong các văn bản pháp luật Pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị đối với việc chiếm giữ tư liệu sản xuất và các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá trình sản xuất Trong bất kỳ một Nhà nước nào, pháp luật về sở hữu nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung đều được sử dụng là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp cầm quyền Quyền sở hữu của cá nhân phản ánh bản chất của mỗi chế độ xã hội bao gồm cả hai mặt kinh tế và pháp luật Theo học thuyết Mác-Lênin, bản chất của sở hữu không phải là quan hệ của con người đối với vật mà là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tài sản Vậy quyền sở hữu của cá nhân là gì?

Quyền sở hữu của cá nhân được hiểu theo hai giác độ

Trang 9

Thứ nhất: Hiểu theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu của cá nhân là

tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về trình tự chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và phương thức bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân về mặt dân sự

Trước đây, khi chưa có Bộ luật dân sự, quyền sở hữu của cá nhân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như Luật đất đai, Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, pháp lệnh hợp đồng dân sự Quyền sở hữu của cá nhân được coi như một nguyên tắc hiến định Việc điều chỉnh các quan hệ

sở hữu luôn là một nội dung không thể thiếu được đối với Hiến pháp của nhà nước ta

Từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa, sở hữu cá nhân đã được thừa nhận và bảo vệ Điều 12 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Ngày 19/12/1979, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 197 cho công bố và thi hành trên quy mô rộng Luật cải cách ruộng đất Theo đó người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất, có quyền bán, cầm cố ruộng đất được chia Ruộng đất thuộc sở hữu của cá nhân Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành một số sắc lệnh bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân như Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong Dân luật; Sắc lệnh 85/SL ngày 20/2/1952 ban hành thể lệ trước bạ về mua bán, cho và đổi chác nhà cửa, ruộng đất Theo quy định của pháp luật thời kỳ này, chủ sở hữu chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân

Đến năm 1959, cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thế mới Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng miền Nam còn bị đế quốc và phong kiến thống trị, nhà nước tạm thời còn bị chia làm hai miền Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta đã sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, và bản Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1959 ra đời Quan điểm của Nhà nước ta trong thời kỳ này về chế độ tư hữu được thể hiện một cách khá rõ trong Hiến pháp Nhà nước bảo hộ quyền quyền sở hữu về

Trang 10

ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân (Điều 14); tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ (Điều 15); quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc (Điều 16) Bên cạnh việc bảo hộ đó, Hiến pháp năm 1959 cũng nghiêm cấm việc “lợi dụng tài sản tư hữu để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nước” (Điều 17) Đồng thời, Hiến pháp khẳng định sự cần thiết phải cải tạo các thành phần kinh tế từng bước chuyển chúng thành thành phần kinh tế của nhà nước hoặc tập thể

Từ các quy định mang tính nguyên tắc trong Hiến pháp, trong hệ thống pháp luật của nước ta đã có xuất hiện một số chế định, một số quy phạm pháp luật về quyền sở hữu của cá nhân mặc dù chưa phải là hoàn chỉnh và đầy đủ Các văn bản pháp luật có liên quan đến sở hữu cá nhân đáng chú ý trong giai đoạn này là Thông tư số 48-TTg ngày 3/6/1963 về sở hữu đối với trâu bò; Thông

tư số 228-TTg ngày 22/8/1975 về tiền gửi của chủ hợp doanh ở Ngân hàng nhà nước; Quyết định số 55-CP ngày 23/2/1980 về sở hữu ô tô con của tư nhân; Quyết định số 38-CP ngày 9/2/1979 về quản lý vàng bạc, đá quý Những văn bản này về cơ bản được ban hành phù hợp với quan điểm chính thống về sở hữu tư nhân trong giai đoạn này Khách thể của các quan hệ sở hữu cá nhân là những tài sản đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt hàng ngày của công dân như nhà cửa, cây cối, tiền và ngoại tệ có nguồn gốc hợp pháp Phần lớn các văn bản này đều có quy định ràng buộc chủ sở hữu không được sử dụng tài sản này để kinh doanh và buôn bán trái phép, làm những việc có ảnh hưởng đến an ninh, trật

tự xã hội

Hiến pháp năm 1980, Bản Hiến pháp của nước Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, chế độ sở hữu tư nhân trở nên mờ nhạt Nhà nước chủ trương sẽ thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Nhà nước chỉ bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà

ở, tư liệu sinh hoạt còn quyền sở hữu tư liệu sản xuất chỉ được bảo hộ trong một

Trang 11

số trường hợp lao động riêng lẻ và không được khuyến khích Đồng thời nhà nước kiên quyết xóa bỏ những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hóa không bồi thường

Khác với Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, theo Hiến pháp năm 1980, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Lý giải cho sự khác biệt đó là xuất phát từ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng

và nhà nước ta: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu

Tại thời kỳ này tồn tại hai khái niệm đó là khái niệm sở hữu của công dân và sở hữu tư nhân Quan điểm của Đảng ta cho rằng để có chủ nghĩa xã hội chỉ cần xây dựng một chế độ sở hữu mà trong đó chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể xác lập một cách tuyệt đối đối với tư liệu sản xuất còn sở hữu tư nhân từng bước bị xóa bỏ Sở hữu công dân chỉ hạn chế trong phạm vi sở hữu

về tư liệu tiêu dùng, thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và những tư liệu sản xuất nhỏ phục vụ kinh tế gia đình Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tư liệu sản xuất Đây chính là sở hữu của nông dân cá thể, thợ thủ công và những người lao động riêng lẻ Nó được coi là “mầm mống của chế độ người bóc lột người”, Nhà nước khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ các thành phần kinh tế như nông dân cá thể, thợ thủ công tiến lên con đường làm ăn tập thể

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi Hiến pháp năm 1980, Nhà nước ta vẫn duy trì quan điểm, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài mà không trao cho họ quyền sở hữu Tuy nhiên, Nhà nước cho phép các hộ nông dân được chuyển quyền sử dụng đất khi chuyển sang làm nghề khác hoặc vì một lý do chính đáng Quyền sử dụng đất đã được coi là một quyền tài sản và có thể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự

Hiến pháp 1992 khẳng định Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước với đa hình thức sở hữu bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Ngoài

Trang 12

việc tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của sở hữu toàn dân, Nhà nước ta khuyến khích, tạo điều kiện phát triển và bảo vệ mọi hình thức sở hữu hợp pháp khác đặc biệt là sở hữu của cá nhân Nhà nước tạo điều kiện để sở hữu tư nhân phát huy sức mạnh, giải phóng mọi tiềm năng để sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình

Nó có ý nghĩa to lớn trong việc khuyến khích cá nhân khai thác tài sản để hưởng lợi, xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, góp phần vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Nhà nước tạo điều kiện để mọi người có thể làm chủ sở hữu thực sự đối với tài sản của mình Tài sản hợp pháp của cá nhân không bị quốc hữu hóa

Khác với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đã mở rộng quyền

sở hữu của cá nhân bao gồm: tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vốn và các tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Điều 58 Hiến

pháp 1992 khẳng định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của

cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”

Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992, ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua Bộ luật dân sự Bộ luật dân sự năm 1995 đánh dấu một bước tiến quan trọng của pháp luật Việt Nam trong quá trình thực hiện chính sách đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam Bộ luật dân sự năm 1995

đã cụ thể hóa nguyên tắc về sở hữu và một lần nữa khẳng định quyền sở hữu của

cá nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ Sau mười năm thi hành Bộ luật dân

sự năm 1995 đã bộc lộ một số hạn chế nhất định và trước đòi hỏi của tình hình chính trị, kinh tế của đất nước Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội khóa

XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thay thế cho Bộ luật dân

sự năm 1995 Một lần nữa quyền sở hữu của cá nhân lại được pháp luật ghi nhận

và bảo vệ Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Trang 13

1 Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ

2 Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền

sở hữu đối với tài sản của mình

Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật

3 Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh

và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật

Cùng với sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, khách thể quyền sở hữu của công dân cũng được mở rộng cả về số lượng

và chủng loại Bộ luật dân sự năm 2005 khẳng định: “Thu nhập hợp pháp, của

cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị” (Điều 212 Bộ luật dân sự)

Hiện nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, dự thảo Hiến pháp sửa đổi đang được đưa ra lấy ý kiến toàn dân, theo đó quyền sở hữu của cá

nhân cũng có những thay đổi đáng kể Thuật ngữ “công dân” được thay bằng thuật ngữ “mọi người” Điều 33 dự thảo Hiến pháp sửa đổi quy định “Mọi người

có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,

tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh

tế khác” “Mọi người” là bao gồm công dân và những người khác nữa Theo quy

định của dự thảo Hiến pháp sửa đổi quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ

Như vậy, theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu của cá nhân là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về chiếm hữu, sử dụng,

Trang 14

định đoạt tài sản và phương thức bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân Trong Hiến pháp quyền sở hữu của cá nhân là sự ghi nhận và phản ánh bản chất kinh tế - xã hội và chính trị của xã hội Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử nhất định Chế định quyền sở hữu của cá nhân trong Bộ luật dân sự là một phương thức thể hiện, cụ thể hóa chế độ sở hữu của cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp

Thứ hai, hiểu theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu của cá nhân được hiểu

là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định Đó là quyền dân sự cụ thể của cá nhân, với tư cách là chủ sở sở hữu thì cá nhân có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản cùng quyền khởi kiện để bảo vệ quyền sở hữu Khi quyền sở hữu của mình bị xâm phạm, cá nhân với tư cách là chủ sở hữu tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn, yêu cầu khởi kiện và được bồi thường thiệt hại

Ở nước ta đã có thời kỳ xóa bỏ sở hữu tư nhân, nhà nước chỉ chú trọng phát triển hai thành phần kinh tế đó là thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu của nhân dân lao động Chúng ta đã mắc phải sai lầm, vi phạm quy luật khách quan Nhà nước muốn xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa trong một thời gian ngắn, nhanh chóng thực hiện quốc doanh hóa, tập thể hóa trong khi đó trình độ của lực lượng sản xuất về cơ bản vẫn ở tình trạng thủ công Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ V đã thừa nhận sự non nớt, yếu kém đó Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam ghi nhận sự đổi mới tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn của Đảng ta Theo các Nghị quyết Trung ương Đảng thứ VI đến nay Đảng và nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, trong đó:

Kinh tế cá thể và tiểu chủ ở nông thôn và thành thị được nhà nước tạo điều kiện để phát triển

Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà phát

Trang 15

luật không cấm; khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần cho người lao động

Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước ngày càng phát triển đa dạng1

Nhà nước khuyến khích cá nhân được sản xuất, kinh doanh, được đầu tư vốn và tài sản của mình trong đó có tư liệu sản xuất vào các thành phần kinh tế khác và không bị hạn chế về vốn và quy mô sản xuất kinh doanh Hiến pháp năm

1992 quy định: Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy

mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển Nhà nước khuyến khích các cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của cá nhân nước ngoài Nhà nước tạo điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước Tài sản hợp pháp của cá nhân không

bị quốc hữu hóa

Bộ luật dân sự đã cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu của

cá nhân đã được thể chế hóa trong Hiến pháp 1992 Điều 15 Bộ luật dân sự quy định cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng Cá nhân có quyền lao động Mọi người đều có quyền làm việc, tự lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 49 Bộ luật dân sự) Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh

1

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 16

doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 50 Bộ luật dân sự)

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Điều 164 Bộ luật dân sự quy

định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định

đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”

Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 Bộ luật

dân sự) Đó là việc chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình

để nắm giữ, quản lý tài sản Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế gián đoạn về thời gian

Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ

tài sản (Điều 192 Bộ luật dân sự) Đây là một quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế Chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản tùy theo ý chí của mình miễn là không gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Quyền định đoạt là quyền năng của chủ sở hữu trong việc quyết định số

phận của tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thông qua các hành vi như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định Quyền định đoạt là quyền

có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc quyết định số phận của tài sản Thông qua quyền định đoạt tài sản có thể làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu này và phát sinh quyền sở hữu của chủ sở hữu khác đối với tài sản

Chỉ có chủ sở hữu thực sự mới có đủ ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt Chỉ khi là chủ hữu mới có quyền thực hiện ba quyền năng này một cách độc lập, không phục thuộc vào ý chí của bất kỳ người nào khác

Mặt khác, trong giao lưu dân sự, các bên được quyền tự do cam kết, thỏa thuận, các bên hoàn toàn tự nguyện không bên nào được áp đặt, cấm đoán,

Trang 17

cưỡng ép, đe dọa ngăn cản bên nào Pháp luật tôn trọng và bảo vệ tất cả các quyền dân sự của cá nhân trong đó có quyền sở hữu Khi quyền sở hữu bị xâm phạm cá nhân có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình và được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hành vi xâm phạm quyền sở hữu gây thiệt hại

Tóm lại, quyền sở hữu của cá nhân là một chế định pháp luật, vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Quyền sở hữu mang tính chủ quan bởi

vì đó là sự ghi nhận của Nhà nước nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền sở hữu được quy định trước hết phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của đất nước Nhà nước quy định quyền sở hữu, tức là thể chế hóa những quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những sản phẩm do con người tạo ra

Như vậy, quyền sở hữu của cá nhân là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản trong những điều kiện nhất định Quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo hộ

1.2 Khái niệm căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân

1.2.1 Khái niệm

Quyền sở hữu của cá nhân như đã nói ở trên là phạm trù pháp lý, do đó, quyền sở hữu phát sinh phải dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định Không phải mọi sự kiện xảy ra trong thực tế đều làm phát sinh quyền sở hữu mà chỉ những sự kiện pháp lý do pháp luật quy định mới được coi là căn cứ phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản Những sự kiện pháp lý này là cơ sở để xác lập quyền sở hữu của một cá nhân đối với tài sản của mình Pháp luật chỉ công nhận

và bảo vệ các quyền của chủ sở hữu nếu quyền đó được xác lập trên những căn

cứ do pháp luật quy định Tất cả những tài sản của cá nhân có mà không dựa trên những căn cứ hợp pháp do pháp luật quy định thì không thuộc quyền sở hữu của

cá nhân đó Những căn cứ đó là những khả năng xảy ra trong thực tế cuộc sống

mà Bộ luật dân sự ghi nhận và nâng lên thành qui định chung, dựa vào đó chủ sở

Trang 18

hữu có được tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Ví dụ: A nhặt được một đồ vật ai đó đánh rơi trên đường, A không thể nói A có quyền sở hữu đối với đồ vật

đó nếu không dựa trên những căn cứ pháp lý cụ thể làm phát sinh quyền sở hữu

do pháp luật quy định

Quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của mỗi cá nhân, pháp luật luôn bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của mỗi cá nhân Quyền sở hữu theo Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2005 bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Những người khác có nghĩa vụ tôn trọng không một ai có quyền hạn chế, xâm phạm, cản trở hoặc can thiệp vào việc thực hiện các quyền năng đó Khi quyền sở hữu của cá nhân bị xâm hại, pháp luật sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu Tuy nhiên, để đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh đòi hỏi pháp luật phải có các quy định rõ ràng, đúng đắn và phải có căn cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân đó chính là những căn cứ xác lập quyền sở hữu Căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân chính là cơ sở pháp

lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu

Quyền sở hữu phản ánh bản chất của từng chế độ xã hội, nó gắn với điều kiện kinh tế, xã hội của từng quốc gia nên pháp luật của mỗi chế độ xã hội, mỗi quốc gia lại có các căn cứ xác lập quyền sở hữu riêng Việc pháp luật quy định mỗi chủ thể được sở hữu những loại tài sản nào, quyền năng cụ thể của chủ sở hữu đối với tài sản của mình đến đâu đều phải phụ thuộc vào bản chất của chế độ

xã hội cũng như điều kiện lịch sử của xã hội đó

Mặt khác, căn cứ xác lập quyền sở hữu còn phụ thuộc vào đặc điểm, công dụng của tài sản là đối tượng của quyền sở hữu Mỗi loại tài sản đều có nguồn gốc, đặc điểm riêng, có công dụng và tính chất khác nhau do vậy khi quy định căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản phải xem xét đến nguồn gốc của tài sản, tài sản đó thuộc về ai, ai là chủ sở hữu và mục đích sở hữu, khai thác tài sản của chủ sở hữu đó như thế nào

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân gồm căn cứ nguyên sinh và căn cứ phái sinh

Trang 19

Căn cứ nguyên sinh (hay còn gọi là căn cứ đầu tiên) là những căn cứ xác lập quyền sở hữu lần đầu tiên đối với vật hoặc quyền sở hữu mới phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu trước đó

Hiểu theo khái niệm này thì căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong Bộ luật dân sự được coi là căn cứ nguyên sinh khi nó xác lập nên quyền sở hữu của một cá nhân đối với tài sản mà tài sản đó chưa từng thuộc về sở hữu của

ai Đó là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức

Ngoài ra cũng có thể coi một căn cứ xác lập quyền sở hữu là nguyên sinh khi nó là xuất hiện một quyền sở hữu mới và việc tạo nên quyền sở hữu mới này hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu trước đó.Ví dụ như phát sinh quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị người khác đánh rơi, bỏ quên, xác lập quyền sở hữu do không tìm thấy chủ gia súc, gia cầm, do bản bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Căn cứ phái sinh (còn gọi là căn cứ kế tục): Căn cứ phái sinh là những căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu mới đối với vật dựa trên sự chuyển giao ý chí của chủ sở hữu trước đó Thực chất căn cứ phái sinh là việc một cá nhân thiết lập quyền sở hữu mới đối với tài sản mà trước đây đã thuộc quyền sở hữu của một hay nhiều người khác Việc xác lập quyền sở hữu mới có thể được thực hiện thông qua sự thỏa thuận ý chí giữa các chủ sở hữu Ví dụ: xác lập quyền sở hữu thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay, xác lập quyền sở hữu

Trang 20

Vậy căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân là những sự kiện pháp lý

do Bộ luật dân sự quy định thông qua đó làm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân đối với một tài sản nhất định

1.2.2 Ý nghĩa của căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân

Căn cứ xác lập quyền sở hữu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền sở hữu của một chủ thể sở hữu đối với một tài sản nhất định do vậy, nó có ý nghĩa

vô cùng quan trọng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn

Thứ nhất: Đối với chủ sở hữu, căn cứ xác lập quyền sở hữu là cơ sở

pháp lý để một chủ thể khẳng định được quyền sở hữu của mình đối với một tài sản nhất định Dựa vào đó một chủ thể có thể biết trong trường hợp nào họ trở thành chủ sở hữu, tự bản thân họ cũng xác định được loại tài sản nào họ được quyền sở hữu và qua đó họ tự bảo vệ được quyền sở hữu hợp pháp của mình

Thứ hai: Đối với cơ quan áp dụng pháp luật, căn cứ xác lập quyền sở

hữu là cơ sở pháp lý cần thiết để tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự Trên thực tế, các tranh chấp về quyền sở hữu rất đa dạng và phức tạp, nếu không có các căn cứ xác lập quyền sở hữu rất khó đưa ra được phán quyết một cách đúng đắn và công minh vì khi có tranh chấp các đương sự bao giờ cũng đưa ra các lý lẽ thuyết phục để bảo vệ quyền lợi của mình

Thứ ba: Đối với trật tự xã hội, việc quy định một cách đầy đủ, rõ ràng

các căn cứ xác lập quyền sở hữu tạo ra một mặt bằng pháp lý cho mọi chủ thể thực hiện quyền sở hữu của mình, ở đây không có ngoại lệ cũng như ưu tiên cho bất kỳ chủ sở hữu nào Nó tạo tâm lý yên tâm, tin tưởng vào chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước của các chủ sở hữu khi tham gia vào quan hệ sở hữu Quyền sở hữu được xác lập từ những căn cứ do pháp luật quy định sẽ được coi là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ Khi ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật thì việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu góp phần giảm bớt các tranh chấp không đáng có về quyền sở hữu trong đời sống xã hội

Trang 21

Thứ tư: Đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, căn cứ xác lập

quyền sở hữu là cơ sở pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự, khuyến khích người dân tham gia vào quan hệ dân sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 22

Chương 2 CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA CÁ NHÂN

2.1 Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Lao động là hoạt động tạo ra sản

phẩm vật chất hay tinh thần” 2 Phần lớn của cải của cá nhân có được đều thông

qua hoạt động lao động, sản xuất Xác lập quyền sở hữu của cá nhân thông qua hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh có thể được coi là căn cứ phổ biến

nhất

Điều 233 Bộ luật dân sự quy định: "Người lao động, người tiến hành

hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có tài sản đó”

Theo quy định của luật, chủ thể được xác lập quyền sở hữu là người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp Người lao động

ở đây có thể là người lao động phổ thông hay lao động trí óc, họ có thể là công nhân, thợ thủ công, giáo viên hay bác sỹ tất cả những ai tham gia vào hoạt động lao động trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra của cải vật chất đều có quyền xác lập quyền sở hữu đối với của cải vật chất đó Người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh phải là hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp mới có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do mình tạo ra

Đối tượng để xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong căn cứ này là tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng

2

Nguyễn Như Ý (1998), Từ điển tiếng việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Trang 23

Thời điểm xác lập quyền sở hữu của cá nhân theo căn cứ này phụ thuộc vào đặc điểm pháp lý của từng loại tài sản Thời điểm xác lập quyền sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định từ khi nào cá nhân trở thành sở hữu chủ của của tài sản, thời điểm nào họ có đủ quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Từ đó có các phương thức bảo vệ quyền sở hữu của mình

Đối với những tài sản là tư liệu tiêu dùng, những tài sản có được do quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày như khoản tiền lương, thưởng của người lao động làm công ăn lương, hay là sản phẩm nông nghiệp như lúa, ngô, khoai sắn có được do lao động sản xuất của người nông dân, khoản tiền lãi từ tiền gửi tiết kiệm thì thời điểm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân là kể từ thời điểm họ có được những tài sản đó

Đối với những tài sản có được do hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh nhưng phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm xác lập quyền sở hữu của

cá nhân là thời điểm đăng ký quyền sở hữu đó Ví dụ như: “Quyền sở hữu công

nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện việc đăng ký các đối tượng đó theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ” (Điều

752 Bộ luật dân sự)

“Quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản là quyền tác giả phát sinh kể

từ khi tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định” (Điều 739 Bộ luật dân sự) Trong trường hợp tác phẩm được sáng tạo

không phải trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng giao việc thì quyền tài sản thuộc về tác giả bao gồm: quyền sao chép tác phẩm; quyền cho phép tạo tác phẩm phái sinh; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng và quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính Trong trường hợp tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng giao việc thì quyền tài sản thuộc về cơ quan,

tổ chức giao nhiệm vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Trong trường

Trang 24

hợp này làm phát sinh quyền sở hữu của tác giả đối với khoản tiền là thù lao, nhuận bút do chủ sở hữu quyền tài sản chi trả Thời điểm phát sinh quyền sở hữu đối với khoản tiền này có thể trước hoặc sau khi phát sinh quyền tác giả, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên

Trong một số trường hợp thời điểm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân đối với khoản tiền có được do hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh, làm dịch

vụ là thời điểm cá nhân thực hiện xong công việc của mình Ví dụ trong trường hợp thực hiện hợp đồng gia công, bên đặt gia công phải trả đủ tiền công vào thời điểm nhận sản phẩm, nếu không có thỏa thuận khác (Điều 557 Bộ luật dân sự) Hay trong trường hợp hứa thưởng, thi có giải Cá nhân sẽ được sở hữu một khoản tiền thưởng nếu họ hoàn thành một công việc được hứa thưởng hoặc đoạt giải trong một cuộc thi có giải Thời điểm phát sinh quyền sở hữu là tại thời điểm tiền thưởng được trao cho cá nhân đó

Mỗi cá nhân dù gián tiếp hay trực tiếp đều phải tham gia vào quá trình

lao động, sản xuất Điều 55 Hiến pháp 1992 quy định: “Lao động là quyền và

nghĩa vụ của công dân” Đây chính là căn cứ đầu tiên hay là căn cứ nguyên sinh

làm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân, là động lực thúc đẩy mọi cá nhân tham gia vào hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân mình và cho xã hội Nó chính là tiền đề thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia phát triển, dân có giàu thì nước mới mạnh

2.2 Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận

Một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu rất phổ biến trong xã hội

là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản là hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản

Điều 234 Bộ luật dân sự quy định:

“Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận

Trang 25

Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay có quyền sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định khác”

Tự do cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc của pháp luật

dân sự Việt Nam Điều 4 Bộ luật dân sự quy định: “Quyền tự do cam kết, thỏa

thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”

Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua

đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là tất yếu đối với mọi đời sống xã hội3 Quan hệ trao đổi vật chất đó chỉ được hình thành khi các bên tự nguyện thỏa thuận, thống nhất ý chí với nhau Đây chính là tiền đề đầu tiên để hình

thành nên hợp đồng dân sự Theo điều 388 Bộ luật dân sự: “Hợp đồng dân sự là

sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự” Theo Từ điển tiếng Việt thì thoả thuận là sự nhất trí, đồng ý với nhau

sau khi bàn bạc Đối tượng của việc xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận là tài sản thông qua các hợp đồng Khi tài sản được chuyển giao thông qua các hợp đồng dân sự thì nó làm chấm dứt quyền sở hữu đối tài sản của người này và làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của người kia Theo quy định của pháp luật hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi

cụ thể Tuy nhiên, giao kết hợp đồng phải tuân theo nguyên tắc “tự do giao kết

hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” (Điều 389 Bộ luật

Trang 26

Đối tượng, chủ thể, thời điểm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân trong trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận có sự khác nhau phụ thuộc vào từng loại hợp đồng

2.2.1 Hợp đồng mua bán tài sản

“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên

bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” (Điều 428 Bộ luật dân sự)

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận của các bên Chủ thể của hợp đồng mua bán là bên bán và bên mua Bên bán là người có tài sản đem bán Bên bán là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được ủy quyền bán hoặc là người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật Bên mua là bên có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán đúng như giá cả đã thỏa thuận đồng thời có nghĩa vụ nhận tài sản do bên bán chuyển giao.Thông qua hợp đồng mua bán làm chấm dứt quyền sở hữu của người bán đối với vật đem bán và làm phát sinh quyền sở hữu của người mua đối với vật đó

Đối tượng để xác lập quyền sở hữu thông qua hợp đồng mua bán tài sản

là tài sản được phép giao dịch Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ, nếu là vật hình thành trong tương lai thì người bán phải

có căn cứ chứng minh là vật đó đang được hình thành Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu bên bán

Thời điểm xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong hợp đồng mua bán có

ý nghĩa trong việc xác định thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản mua bán Về nguyên tắc, thời điểm xác lập quyền sở hữu của người mua đối với tài sản mua bán là thời điểm tài sản được chuyển giao nếu pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở hữu Ví dụ: A mua của B một chiếc xe đạp, A trở thành sở hữu chủ của chiếc xe đạp đó ngày sau khi A trả tiền cho B và B chuyển giao chiếc xe đạp đó cho A

Trang 27

Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó

Trong trường hợp mua bán quyền tài sản (quyền đòi nợ, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp) thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu đối với quyền về tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định

Theo quy định tại Điều 688, Điều 692 Bộ luật dân sự; Điều 46 Luật Đất đai việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

Theo các quy định của Luật nhà ở đối với hợp đồng về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân, thì quyền sở hữu nhà ở được xác lập cho bên mua kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng

Theo quy định trên, nhận thấy trường hợp mua bán quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất, và mua bán nhà ở trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất thì quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, trong trường hợp đất và nhà là một khối tài sản thống nhất nhưng theo quy định của pháp luật thời điểm chuyển quyền giữa đất và nhà trên đất theo quy lại khác nhau Quy định như vậy là không thống nhất trong hệ thống pháp luật, gây khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Do sự phong phú, đa dạng của các giao dịch dân sự, hợp đồng mua bán tài sản bao gồm nhiều hình thức mua bán khác nhau Do vậy, thời điểm xác lập quyền sở hữu của cá nhân thông qua các hợp đồng mua bán sẽ khác nhau

Đối với hình thức mua bán có chuộc lại

Trang 28

Thời điểm phát sinh quyền sở hữu của cá nhân cũng tương tự hình thức mua bán thông thường Tuy nhiên, các quy định tại Điều 462 Bộ luật dân sự về chuộc lại tài sản đã bán có nhiều bất cập liên quan đến kỹ thuật lập pháp Theo quy định bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán Bên bán có quyền chuộc lại tài sản bất cứ lúc nào trong thời hạn thỏa thuận, với điều kiện phải báo trước cho bên mua trong một khoảng thời gian hợp lý Thời hạn các bên thỏa thuận không được vượt quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản Trong thời hạn chuộc lại tài sản, bên mua không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố và phải chịu rủi ro đối với tài sản Ví dụ A bán cho B một ngôi nhà với điều kiện chuộc lại trong thời hạn năm năm Theo quy định, trong vòng năm năm đó B không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố Giả sử, vì lý do nào đó B không sử dụng đến ngôi nhà,

vì không được bán, cho thuê, hay tặng cho, vô hình chung trong vòng năm năm đó ngôi nhà bị bỏ hoang, có thể gây thiệt hại kinh tế cho B Trong khi đó,

A có quyền chuộc lại ngôi nhà bất cứ lúc nào trong thời gian thỏa thuận

Như vậy, đúng như nhận xét của TS Ngô Huy Cương trong bài viết

“Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2005”: Về mặt triết học pháp quyền, nhà làm luật đã đi chệch khỏi quan điểm đối xử công bằng với các chủ thể của quyền lợi tư và đã thủ tiêu quyền được định đoạt tài sản một cách không thích hợp, cụ thể là hạn chế quyền định đoạt tài sản của người mua với điều kiện cho chuộc lại Về chính sách, nhà làm luật đã nghiêng hẳn về việc bảo vệ quyền được chuộc lại của người bán, trong khi đó quan hệ mua bán với điều kiện chuộc lại thông thường người mua bị thiệt thòi hơn vì quyền sở hữu của người mua có thể bị tiêu hủy bất cứ lúc nào với sự lựa chọn của người bán.Về hiệu quả xã hội, các quy định như vậy rất khó đi vào đời sống và cản trở cho các giao lưu dân sự, mặc dù các

Trang 29

giao lưu này gắn với đời sống xã hội Việt Nam từ trước tới nay và là một sinh hoạt xã hội lành mạnh4

Đối với hình thức mua sau khi dùng thử

Là hình thức mà bên bán và bên mua thỏa thuận với nhau về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn nhất định Trong thời hạn dùng thử chưa làm phát sinh quyền sở hữu của bên mua Tuy nhiên, bên mua

được xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi do việc dùng thử mang lại “Trong

thời hạn dùng thử, bên bán không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên mua chưa trả lời” (Điều 460 Bộ luật dân sự)

Như vậy, pháp luật đã hạn chế quyền định đoạt tài sản của bên bán Quyền sở hữu tài sản chỉ phát sinh khi bên mua trả lời mua hoặc hết thời hạn dùng thử

mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua và trả đủ tiền cho bên bán

Mua bán trả chậm trả dần

Là hình thức mua bán tài sản trong đó các bên thỏa thuận với nhau về việc bên mua trả chậm, trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua Tại thời điểm tài sản được chuyển giao cho bên mua chưa làm phát sinh quyền sở hữu của bên mua Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu Mặc dù tài sản đã được chuyển giao song bên mua chỉ có quyền sử dụng vật mua, chưa

có quyền định đoạt Bên mua chỉ trở thành chủ sở hữu của tài sản sau khi trả hết tiền cho bên bán trong thời hạn đã thỏa thuận nếu tài sản mua trả chậm, trả dần không phải đăng ký quyền sở hữu Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, bên mua sẽ trở thành sở hữu chủ đối với tài sản sau khi đã trả hết tiền và tiến hành các thủ tục đăng ký Ví dụ: theo quy định tài Điều 95 Luật nhà ở, việc mua bán nhà ở trả chậm hoặc trả dần do các bên thoả thuận và được ghi trong hợp đồng mua bán nhà ở Sau khi bên mua nhà ở đã trả đủ tiền cho bên

4 TS Ngô Huy Cương (2009), “Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp đồng của Bộ Luật dân sự

2005”, Nghiên cứu lập pháp, (16).

Trang 30

bán nhà ở và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

Mua bán thông qua bán đấu giá

Bản chất của bán đấu giá tài sản là quan hệ dân sự về mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá nhằm bán được tài sản với giá cao nhất Tài sản trong đấu giá rất đa dạng Căn cứ vào trình tự, thủ tục quy định cho việc bán đấu giá tài sản thì các loại tài sản bán đấu giá có thể được chia ra hai loại tài sản: tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức được bán theo hình thức tự nguyện và tài sản tư pháp được bán theo hình thức bắt buộc

Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức là những tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật, ví dụ như hàng hóa, một số loại đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, phương tiện giải trí, bất động sản, đồ dùng gia đình, hàng tiêu dùng, đồ văn phòng, máy tính, v.v

Tài sản tư pháp bao gồm tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án; tài sản là tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch có bảo đảm; hàng hoá lưu giữ do người vận chuyển đường biển, đường hàng không; đường

bộ lưu giữ tại cảng, kho; tài sản nhà nước phải bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước

Việc mua bán tài sản thông qua hình thức bán đấu giá tài sản phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Người trả giá cao nhất trong phiên bán đấu giá tài sản là người mua được tài sản Tuy nhiên, đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản, cá nhân phải tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản bán đấu giá Thời hạn cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản đã bán đấu giá là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ

Hợp đồng mua bán hàng hóa là phương tiện pháp lý tạo điều kiện cho

cá nhân trao đổi hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất,

Trang 31

kinh doanh Đồng thời nó cũng là một hành vi pháp lý nhằm xác lập quyền sở hữu của công dân đối với tài sản theo sự thỏa thuận ý chí của các bên Xác lập quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán là hình thức chủ yếu nhất trong số các hình thức xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận Trong nền kinh tế nhiều thành phần quan hệ mua bán đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân

2.2.2 Hợp đồng trao đổi tài sản

“Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các

bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của nhau” (khoản 1,

Điều 463 Bộ luật dân sự)

Xét về bản chất của hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng mua bán tài sản, là hợp đồng song vụ và có đền bù nhưng việc thanh toán hợp đồng không

phải bằng tiền mà bằng hiện vật “Mỗi bên đều được coi là bên bán đối với tài

sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về” (khoản 4 Điều

463 Bộ luật dân sự) Thông qua hợp đồng trao đổi tài sản nó làm chấm dứt quyền

sở hữu đối với tài sản của bên này đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản đó của phía bên kia

Đối tượng của hợp đồng trao đổi tài sản là tài sản thuộc quyền sở hữu

của mỗi bên, nó có thể là động sản hoặc bất động sản “Trong trường hợp một

bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại” (khoản 3 Điều 463 Bộ luật dân sự)

Tương tự như hợp đồng mua bán tài sản, quyền sở hữu của mỗi bên được xác lập đối với tài sản của phía bên kia kể từ thời điểm các bên tiếp nhận tài sản của nhau Nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu của các bên phát sinh đối với tài sản của mỗi bên

kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

“Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định” (Điều 463 Bộ luật dân sự)

Trang 32

Đây là điều kiện phát sinh hiệu lực của hợp đồng Như vậy, nếu hợp đồng trao đổi tài sản không tuân thủ quy định đó, hợp đồng sẽ bị vô hiệu và sẽ không làm phát sinh quyền sở hữu của các bên

2.2.3 Hợp đồng tặng cho tài sản

“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên

tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho

mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” (Điều 465 Bộ

luật dân sự)

Khác với hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng tặng, cho tài sản là hợp đồng không có đền bù Bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó mà không phải trả cho bên tặng cho bất kỳ lợi ích nào

Thông qua hợp đồng tặng cho làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của bên tặng cho đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản đó của bên được tặng cho Tuy nhiên, hợp đồng tặng cho tài sản là một hợp đồng có những đặc điểm riêng biệt khác với các hợp đồng thông dụng khác Quyền sở hữu của các bên trong hợp đồng tặng cho chỉ chấm dứt hay phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng tặng cho phát sinh hiệu lực Theo quy định của pháp luật thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho phụ vào tài sản được tặng cho là động sản hay là bất

động sản “Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận

tài sản; đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký” (Điều 466 Bộ luật dân sự);

“Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất

động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể

từ thời điểm chuyển giao tài sản” (khoản 2 Điều 467 Bộ luật dân sự)

Khi được tặng cho tài sản, cá nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật để xác lập quyền sở hữu của mình đối với tài sản được tặng cho đó Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều lúc do thiếu hiểu biết về pháp luật, người dân vẫn chưa

Trang 33

ý thức được việc phải đăng ký chuyển quyền sở hữu đối với tài sản được tặng cho do đó dẫn đến những tranh chấp, khiếu kiện Như ví dụ sau:

Hủy hợp đồng tặng cho tài sản Nguyên đơn là bà Viết Thị Chắt, sinh năm 1926, trú tại đội 7A, thôn Đông Phú, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh

Hà Tây và bị đơn là anh Ngô Văn Mịch, sinh năm 1958, trú tại đội 7A, thôn Đồng Phú, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây và anh Ngô Văn Tuân, sinh năm 1982, trú tại Khu tập thể 212, học viện Kỹ thuật quân sự, Xuân Đỉnh,

Từ Liêm, Hà Nội

Nội dung vụ án: Ông Nguyễn Văn Hãn và bà Viết Thị Chắt sinh được sáu người con là: Anh Mịch, anh Hưng, anh Hải, chị Chút, chị Huấn và chị Thanh và một người con nuôi là anh Hội Khi ông Hãn, bà Chắt còn sống có một khối tài sản là thửa đất ở có diện tích khoảng hơn 01 sào tại: Đội 7A, thôn Đông Phú, xã Dương Liễu chia cho là 297m2 đất cấy và 144m2 đất màu

Ngày 27/6/1995, ông Hãn và bà Chắt họp gia đình và chia đất cho 03 người con trai và 01 người con gái là chị Chút, còn chị Thanh, chị Huấn và anh Hội là không được chia đất Đất nông nghiệp cũng được chia cho mọi người theo tiêu chuẩn của họ Tháng 10/1995 ông Hãn chết không để lại di chúc Diện tích 116,4m2 đất ở do bà Viết Thị Chắt đứng tên trong sổ địa chính

Ngày 10/04/2002, bà Chắt lập giấy giao quyền thừa kế diện tích đất ở 116,4m2 cho cháu nội là anh Ngô Danh Tuân (anh Tuân là con trai anh Ngô Văn Mịch) với nội dung anh Tuân được quyền sử dụng vĩnh viễn nhưng phải có trách nhiệm chăm sóc bà nội khi còn sống, có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và chăm lo cho chị Chút (là bác ruột) Giấy có xác nhận của chính quyền nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định

Ngày 28/02/2006, do mâu thuẫn với vợ chồng anh Mịch, bà Chắt đã có đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã và các cơ quan có thẩm quyền hủy hợp đồng tặng cho tài sản đối với anh Tuân Anh Tuân không đồng ý trả 116,4m2 đất cho

bà chắt vì bà đã cho

Trang 34

Tại bản án số 14/2007/DSST ngày 13/9/2007, tòa án nhân dân huyện Hoài Đức đã ra quyết định chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho tài sản

Buộc anh Ngô Văn Mịch và anh Ngô Văn Tuân phải trả cho bà Chắt 116,4m2 đất tại thửa đất số 234 tờ bản đồ số 5 đo năm 2000 tại thôn Đồng Phú,

xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây

Ngày 25/09/2007, anh Ngô Văn Mịch và anh Ngô Văn Tuân có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, anh Tuân cho rằng 116,4m2 thuộc quyền sở hữu của anh vì bà Chắt đã đồng ý viết giấy cho năm 2002

Ngày 11/01/2008, Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây đã ra quyết định vẫn giữ nguyên như quyết định tại bản án sơ thẩm Với lý do, đây là đất ở tuy có nguồn gốc của vợ chồng bà Chắt nhưng sau khi ông Hãn chết, bà Chắt là người quản lý, kê khai đứng tên trong sổ địa chính diện tích đất đó từ năm 2000 không có tranh chấp Vì vậy, bà Chắt là chủ sử dụng đất đó Tuy ngày 10/04/2002 bà Chắt đã lập giấy “giao quyền thừa kế quyền sử dụng tài sản” nhưng thực chất là giao quyền sử dụng đất này cho anh Tuân với điều kiện anh Tuân phải chăm sóc bà Chắt Giấy này đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận; nhưng các bên chưa làm thủ tục sang tên và đăng ký quyền sử dụng đất mà bà Chắt vẫn là người đứng tên quyền sử dụng đất đó Anh Tuân thực tế không sử dụng đất của bà Chắt mà giao lại cho bố là anh Mịch sử dụng Đây là hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực Nay bà Chắt yêu cầu hủy hợp đồng đó và được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở

Theo quy định tại khoản 2 Điều 467 Bộ luật dân sự, hướng giải quyết của tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây là hoàn toàn hợp lý Đối với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản, quyền sở hữu của cá nhân chỉ phát sinh khi người được tặng cho nhận tài sản và đăng ký quyền sở hữu Trường hợp ví dụ kể trên anh Tuân tuy được bà Chắt viết giấy tặng cho tài sản là diện tích đất ở, nhưng anh Tuân chưa tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất, mảnh đất đó vẫn đứng tên bà Chắt,

có nghĩa hợp đồng tặng cho tài sản chưa phát sinh hiệu lực Quyền sở hữu đối

Trang 35

với tài sản của anh Tuân trong trường hợp này chưa được xác lập Bà Chắt có quyền yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho tài sản kể trên

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên tặng cho Tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản Trong trường hợp bên tặng cho cố ý tặng tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì chủ sở hữu tài sản có quyền lấy lại tài sản và bên tặng cho phải thanh toán cho bên được tặng cho chi phí để làm tăng giá trị tài sản

Cùng với hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân theo thỏa thuận mặc dù không phổ biến Thông qua hợp đồng tặng cho tài sản quyền sở hữu của cá nhân được tặng cho tài sản được xác lập đối với tài sản đó và như vậy, khối tài sản của

cá nhân đó được tăng thêm

2.2.4 Hợp đồng vay tài sản

“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho

vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 471 Bộ luật dân sự)

Đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc là vật cùng loại Trong hợp đồng vay tài sản quyền sở hữu tài sản được chuyển từ bên cho vay sang bên vay Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó Kể từ thời điểm đó quyền sở hữu được xác lập đối với bên vay và bên vay có toàn quyền định đoạt đối với tài sản vay

“Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật cùng loại thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Trong trường hợp bên vay không thể trả vật cùng loại thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả

nợ, nếu được bên cho vay đồng ý” (Điều 474 Bộ luật dân sự)

Trang 36

Hợp đồng vay tài sản là quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Nó có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắt, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh5

Trên cơ sở những quy định cụ thể về từng loại hợp đồng nêu trên, quyền

sở hữu của cá nhân sẽ được xác lập theo sự thỏa thuận ý chí đối với tài sản trong từng loại hợp đồng đó Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận là căn cứ phái sinh

vì nó xác lập quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản trên cơ sở quyền sở hữu của một cá nhân khác Bởi vậy, việc xác lập quyền sở hữu của cá nhân trong căn

cứ này đòi hỏi phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của cả hai bên Nếu không các hợp đồng dân sự kể trên sẽ bị vô hiệu, quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản sẽ không được xác lập Đây cũng là một căn cứ chủ yếu trong số các căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân được quy định trong Bộ luật dân sự

2.3 Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế

Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người Điều 58 Hiến pháp 1992 quy

định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công

dân” Cá nhân trước khi chết có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền

sở hữu của mình cho người khác, đồng thời có quyền hưởng di sản của người khác Điều đó có nghĩa thông qua việc để lại di sản thừa kế đã làm phát sinh quyền sở hữu của người thừa kế Pháp luật đã ghi nhận thừa kế là một trong

những căn cứ xác lập quyền sở hữu Điều 245 Bộ luật dân sự quy định: “Người

thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế”

Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế tài sản có nghĩa là một cá nhân khi được người khác để lại di sản thừa kế sẽ được pháp luật công nhận là chủ sở

5

Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội

Trang 37

hữu đối với tài sản đó Cá nhân này sẽ có đầy đủ ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản được thừa kế

Chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản của cá nhân trong căn cứ này là “cá

nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” (Điều

635 Bộ luật dân sự) Pháp luật không quy định độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế Dù họ có hay không có năng lực hành vi dân sự họ đều được nhận di sản thừa kế Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản thừa kế

Người thừa kế có thể là người thừa kế theo di chúc, người thừa kế theo pháp luật, người thừa kế thế vị, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của

di chúc còn phụ thuộc vào tính hợp pháp của di chúc Một di chúc được coi là hợp pháp là một di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: Chủ thể lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối; đe dọa hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật; đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật Như vậy, quyền sở hữu của cá nhân đối với di sản thừa kế chỉ được xác lập nếu di chúc đó hợp pháp, ngược lại nếu di chúc đó không hợp pháp sẽ không làm phát sinh quyền sở hữu của người thừa kế Việc xác lập quyền sở hữu theo di chúc chỉ diễn ra đối với những người

Trang 38

thừa kế được chỉ định trong di chúc Căn cứ vào nội dung di chúc, mỗi người thừa kế sẽ xác lập quyền sở hữu của mình đối với phần tài sản được chia

Người thừa kế theo pháp luật là những người thuộc diện thừa kế được xác định từ một trong các quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng đối với những người để lại di sản Khác với thừa kế theo di chúc việc xác lập quyền sở hữu của cá nhân đối với di sản thừa kế là do pháp luật quy định

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp: Không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản

Thừa kế thế vị: Được hiểu là việc cháu hoặc chắt thế chân người cha hoặc người mẹ hoặc ông nội hoặc bà nội, ngoại đã chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ để hưởng di sản của người là ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại chết sau hoặc chết cùng vào một thời điểm với cha hoặc mẹ hoặc ông bà nội, ngoại của cháu Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật, không phát sinh từ căn cứ di chúc Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự thì con riêng của vợ hoặc chồng với cha kế, mẹ kế nếu

có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế theo pháp luật của nhau và các con của họ còn được thừa kế thế vị theo Điều 677

Bộ luật dân sự6

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó Trừ trường hợp họ từ chối

6

TS Phùng Trung Tập (2010), Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội

Trang 39

nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự

Những người theo quy định tại Điều 643 bao gồm:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

(Khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự) Như vậy, khi vi phạm một trong các quy định trên cá nhân sẽ mất quyền hưởng di sản thừa kế hay nói cách khác là quyền sở hữu của họ đối với di sản thừa kế sẽ không được xác lập

Mặt khác, pháp luật quy định người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nếu không vì mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình Trong trường hợp này, quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản là di sản thừa kế cũng sẽ không được xác lập

Đối tượng xác lập quyền sở hữu của cá nhân theo căn cứ này là di sản

thừa kế Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự: “Di sản thừa kế bao gồm tài

sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” Vậy trước hết, di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu của

người để lại di sản khi còn sống, đó là toàn bộ tài sản theo quy định tại Điều 163

Bộ luật dân sự, trong đó có cả quyền sử dụng đất đai Nó bao gồm tài sản riêng

Trang 40

của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác không bị hạn chế về phạm vi giá trị

Theo quy định của pháp luật, tài sản của công dân trong giai đoạn hiện nay bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác mà công dân sở hữu với tư cách cá thể, tiểu chủ hay tư bản tư nhân Những loại tài sản này mà một khi người còn sống có quyền sở hữu và khi người đó chết thì những tài sản này

là di sản thừa kế, được đem chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại lớn hơn hoặc ngang bằng với giá trị di sản người này để lại thì khi đó sẽ không còn di sản để chia thừa kế7

Ngoài ra, cá nhân còn có quyền xác lập quyền sở hữu đối với khoản bồi thường thiệt hại về tính mạng do người thân chết Đây là khoản bồi thường tổn thất tinh thần khi bố, mẹ, người thân bị chết do bị xâm phạm về tính mạng

Thời điểm phát sinh quyền sở hữu tài sản của cá nhân được tính từ thời điểm mở thừa kế Pháp luật quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có

tài sản chết “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền,

nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” (Điều 636 Bộ luật dân sự)

Để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân pháp luật quy định thời

hiệu khởi kiện về thừa kế Theo Điều 645 Bộ luật dân sự: “Thời hiệu khởi kiện

để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác

bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”

Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế theo

di chúc hoặc theo pháp luật có quyền kiện đến tòa án để yêu cầu chia di sản, khẳng định quyền thừa kế của mình, phủ định quyền thừa kế của người khác Quyền khởi kiện là quyền dân sự của cá nhân do pháp luật quy định trong thời hiệu nhất định Những người thừa kế có quyền tự định đoạt quyền khởi kiện hay không khởi kiện trong thời hạn này, nếu thời hạn này chấm dứt, những người

7

TS, Phùng Trung Tập (2010) , Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. TS. Ngô Huy Cương (2009), “Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự 2005”, Nghiên cứu lập pháp, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Ngô Huy Cương (2009), “Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự 2005"”, Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: TS. Ngô Huy Cương
Năm: 2009
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Hà Thị Mai Hiên (1996), Quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam, luận án PTS khoa học Luật học, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Mai Hiên
Năm: 1996
13. TS. Bùi Đăng Hiếu (2003), “Quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu”, Tạp chí luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Bùi Đăng Hiếu (2003), “Quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu”
Tác giả: TS. Bùi Đăng Hiếu
Năm: 2003
14. Phạm Văn Hiểu (2007), “Những bất cập về thời hiệu khởi kiện quyền thừa kế trong pháp luật hiện hành”, Tạp chí luật học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập về thời hiệu khởi kiện quyền thừa kế trong pháp luật hiện hành”, "Tạp chí luật học
Tác giả: Phạm Văn Hiểu
Năm: 2007
15. Phạm Thị Thu Hương (1996), Căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân trong Bộ luật dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ xác lập quyền sở hữu của công dân trong Bộ luật dân sự
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Năm: 1996
18. Tưởng Duy Lượng (2007), “Bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005”, Tạp chí Tòa án nhân dân (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2007
23. TS.Lê Đình Nghị (2009), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: TS.Lê Đình Nghị
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
24. Lê Đình Quyết (2011), Thời hiệu xác lập quyền sở hữu những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hiệu xác lập quyền sở hữu những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Đình Quyết
Năm: 2011
25. PGS,TS Phùng Trung Tập (1996), “Sở hữu tư nhân và các hình thức biểu hiện của nó”, Tạp chí luật học, (số chuyên đề năm 1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu tư nhân và các hình thức biểu hiện của nó”, "Tạp chí luật học
Tác giả: PGS,TS Phùng Trung Tập
Năm: 1996
26. TS. Phùng Trung Tập (2010), Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam
Tác giả: TS. Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
27. TS. Phùng Trung Tập (2011), Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Tác giả: TS. Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
28. Lê Thị Thanh (2012), Căn cứ xác lập quyền sở hữu- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ xác lập quyền sở hữu- một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Thị Thanh
Năm: 2012
37. Website: http://www.phapluattp.vn 38. Website: http://luatminhkhue.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w