1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam

80 541 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 699,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát quá trình phát triển các quy định về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam ..... Việc xây d

Trang 1

ĐẶNG ĐÌNH NGỌC

CH Ế TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CH Ứ C, CÁ NHÂN KINH DOANH

CÓ HÀ NH VI V I PH ẠM PH ÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

M ã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬ T H ỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA H ỌC: TS NGUYỄ N THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Trong suốt hai năm học cao học ở trường Đại học Luật Hà Nội, tôi đã được bổ sung rất nhiều kiến thức chuyên ngành về Luật kinh tế, đặc biệt là kiến thức chuyên ngành về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Những kiến thức này được truyền đạt bởi đội ngũ giáo viên đầy nhiệt huyết và giàu kinh nghiệm Điều này đã giúp tôi tích lũy rất nhiều kiến thức phục vụ

cho quá trình nghiên cứu và công tác Bởi vậy, khi thực hiện luận văn này, tôi

xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong kh oa Sau đại học cũng như các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Luật kinh tế

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị

Vân Anh- Giám đốc Trung tâm Pháp luật Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu

dùng Trường Đại học Luật Hà Nội - cô đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Đồng thời, tôi cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp - những người đã luôn bên cạnh quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2013

Học viên Đặng Đình Ngọc

Trang 3

Chương 1: TỔNG Q UAN PHÁP L UẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜ I TIÊU DÙNG VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨ C, CÁ NHÂN KINH DOA NH CÓ HÀ NH VI VI P H ẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ QU YỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG 7

1.1 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 7

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 7

1.1.2 Đặc trưng và những nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10

1.1.2.1 Đặc trưng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10

1.1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 12

1.2 Hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người ti êu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh 15

1.3 Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18

1.3.1 Khái niệm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18

1.3.2 Đặc điểm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 20

1.3.3 Các loại chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 23

1.3.3.1 Chế tài hành chính 23

1.3.3.2 Chế tài hình sự 24

1.3.3.3 Chế tài dân sự 25

1.3.4 Khái quát quá trình phát triển các quy định về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 27

Trang 4

PHẠM PH ÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜ I TIÊU DÙNG 31

2.1 Nội dung pháp luật về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh 31

2.1.1 Chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 31

2.1.1.1 Các hình thức xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 31

2.1.1.1.1 Các biện pháp xử phạt chính 32

2.1.1.1.2 Các biện pháp xử phạt bổ sung 38

2.1.1.1.3 Các biện pháp khắc phụ c hậu quả 41

2.1.1.2 Thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 42

2.1.1.3 Thủ tục xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 44

2.1.2 Chế tài hình sự đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 46

2.1.3 Chế tài dân sự đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hà nh vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 50

2.2 Đánh giá về thực trạng và tình hình thực thi pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 52

2.2.1 Những mặt tích cực 52

2.2.2 Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó 55

Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆ U Q UẢ CỦA CHẾ T ÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨ C, CÁ NHÂN KINH DOANH CÓ HÀNH VI VI PHẠM PH ÁP LUẬT BẢO VỆ Q UYỀN LỢI NGƯỜ I TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM 61

Trang 5

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 63 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 63 3.2.1.1 Xây dựng hệ thống pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

đồng bộ, thống nhất 63

3.2.1.2 Điều chỉnh mức phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho hợp lý 64 3.2.1.3 Quy định cụ thể một số hình thức xử lý cho phù hợp với thực tiễn 66 3.2.2 Các biện pháp nâng cao hiêu quả thực thi chế tài xử lý đối với tổ chức,

cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 67 3.2.2.1 Tăng cường công tác đào tạo, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 67 3.2.2.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra vi phạm pháp lu ật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 68 3.2.2.3 Khẩn trương củng cố, kiện toàn bộ máy bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng 69

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KH ẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 25 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc Hàng hoá, dịch vụ ngày càng được cung cấp đầy đủ, đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (NTD) Đồng thời, NTD cũng có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của mình Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, NTD cũng gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng của mình Bởi sự đa dạng của chủng loại hàng hoá, dịch vụ đòi hỏi NTD phải

có những kiến thức tiêu dùng nhất định; ngoài ra một số loại hàng hoá, dịch

vụ còn đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu mới có thể t hẩm định về chất lượng của chúng Điều này, không phải mọi NTD đều có thể đáp ứng được Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của NTD, nhiều nhà sản xuất, kinh doanh đã chạy theo lợi nhuận để cung cấp cho NTD những hàng hoá, dịch vụ không đảm bảo chất lượng và gây thiệt hại cho NTD Trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh, NTD luôn ở vị trí yếu thế hơn và dễ bị lạm dụng quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình

Có thể thấy, hiện nay quyền và lợi ích chính đáng của NTD không được quan tâm một cách thỏa đáng, thường bị xâm phạm mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Vấn đề này luôn là nỗi lo lắng của NTD Vì lợi nhuận trước mắt, các doanh nghiệp sẵn sàng buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, thực phẩm không an toàn gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của NTD Trong khi đó, sự quản lý của Nhà nước còn yếu kém nên dẫn đến tình trạng dù áp dụng nhiều biện pháp xử phạt các cá nhân, tổ chức kinh doanh nhưng tình hình hàng giả,

Trang 8

hàng kém chất lượng vẫn lan tràn trên thị trường, số ca ngộ độc thực phẩm không ngừng gia tăng…

Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có các chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD ) của Nhà nước M ột trong các chính sách quan trọng nhất là xây dựng hệ thống pháp luật đủ mạnh để bảo vệ NTD, mà đặc biệt là

hệ thống chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền lợi NTD sẽ có tác dụng to lớn trong việc răn đe, trừng phạt nghiêm khắc những chủ thể có hành

vi vi phạm pháp luật BVQLNTD, cũng như ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật này, qua đó góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính

đáng của NTD

Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: "Chế tài xử lý đối với tổ

chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí đề cập ở các mức độ khác nhau về chế tài

xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D M ột số cơ quan đã tổ chức hội thảo về pháp luật bảo vệ NTD

như: Hội thảo khoa học “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của Bộ Tư pháp (2008); Hội thảo khoa học “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện ” của Khoa

Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (2010)… Bên cạnh đó, còn

phải kể đến một số công trình nghiên cứu của các cá nhân như: bài viết “Bảo

vệ người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự” của Th.s Đinh Thế Hưng đăng

trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp , Văn phòng Quốc hội, Số 10 (tháng 5/2010);

Trang 9

bài viết “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước trên thế giới” của Lê Thị Thanh Bình đăng trên Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính số 192 (1/2012); bài viết “Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử” của Nguyễn Thị

Hà đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao (4/2012); bài

viết “Bàn về một số quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của

TS.Nguyễn Thị Vân Anh đăng trên Tạp chí Luật học (12/2012) ; khóa luận tốt

nghiệp “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2011); khóa luận tốt nghiệp "Chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng " của Đỗ Thanh Thúy (2012); Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” (2007) của Đào Tuyết Vân ; Luận văn thạc sỹ luật học “ Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch điện tử ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc

Quyên (2012)… Tuy nhiên việc ngh iên cứu chuyên sâu về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD vẫn còn tản mạn, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống, toàn diện về vấn đề này Chính vì vậy, trong bối cảnh hành vi vi phạm quyền lợi NTD ngày càng gia tăng thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này một cách hệ thống, toàn diện cả về lý luận và thực tiễn là rất cần thiết

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Quy định pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh

có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD là một vấn đề khá rộng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, Luận văn tập trung nghiên cứu một cách chuyên sâu về thực trạng pháp luật về chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp lu ật BVQLNTD ở Việt Nam hiện nay; tìm ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế, tồn tại và nguyên

Trang 10

nhân các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D Chế tài xử lý đối với các cá nhân, tổ chức khác như cá nhân, tổ chức có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) có hành vi vi vi phạm pháp luật BVQLNTD sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau :

(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;

(ii) Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

(iii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử … được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chế tài xử

lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D;

- Phương pháp so sánh luật học, phương phương pháp điều tra, thống

kê xã hội học, phương pháp trao đổi, tọa đàm với chuyên gia được sử dụn g trong chương 2 khi tìm hiểu thực trạng pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam hiện nay;

- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi

phạm pháp luật BVQLNTD

Trang 11

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

M ục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng

áp dụng pháp luật của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền lợi NTD, qua đó có tác dụng răn đe, trừng phạt nghi êm khắc những tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NTD

Để đạt được những mục đích trên, luận văn đã đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD

- Tìm hiểu về thực trạng và tình hình thực thi pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật

BVQLNT D

- Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD

6 Những kết quả nghiên cứu m ới của luận văn

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả nghiên cứu của các công

trình khoa học đã được công bố, luận văn có một số đóng góp mới sau:

(i) Đánh giá về thực trạng và tình hình thực thi pháp luật về chế tài xử

lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D;

(ii) Đưa ra phương hướng, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D

Trang 12

(iii) Nghiên cứu một cách cơ bản k inh nghiệm xây dựng pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm phá p luật BVQLNTD của một số quốc gia trên thế giới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng và chế tài

xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD

Chương 3: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚ I TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH

CÓ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO V Ệ QUYỀN LỢ I

NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Dưới giác độ kinh tế học, khái niệm NTD đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội NTD là những con người, là tất cả chúng ta [21,tr.14] NTD là một bộ phận bao gồm những người trong xã hội mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của những người kinh doanh dịch vụ, hàng hóa Đó có thể là tổ chức, cũng có thể

là cá nhân, cũng có thể là hộ gia đình mua hàng hóa để sử dụng, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc cũng có thể sử dụng dị ch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh Có thể nói, bất cứ cá nhân, tổ chức nào mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của chính bản thân mình, người khác đều được coi là NTD NTD luôn là một bộ phận chiếm số lượng lớn trong xã hội

Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế giới, ta có thể nhận thấy quan niệm về NTD ở các nước là khác nhau, nhưng

có thể tựu chung lại ở 2 nhóm:

- Cách quy định thứ nhất chỉ quy định cá nhân được coi là NTD Đây là cách quy định của EU, Canada, M alaysia Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế

và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ [23,tr.2]

Trang 14

- Cách quy định thứ hai là quy định rõ cả thể nhân và pháp nhân đều là NTD, đây là cách quy định của Hàn Quốc Quy định này tuy có vẻ hơi rộng

và có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD [23,tr.3]

Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất Bởi lẽ, không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội sẽ bị xâm phạm, điều này sẽ gây thiệt hại chung cho toàn xã hội

Tại Việt Nam, trước năm 1986, khái niệm NTD rất ít được đề cập Khái niệm này đôi khi được truyền thông nhắc tới nhưng chỉ với tư cách là nguồn đánh giá tham khảo cho việc xét duyệt các danh hiệu thi đua sản xuất giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể

Từ sau năm 1986, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh t ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm NTD xuất hiện với đúng nghĩa là thành tố thị trường Từ đây, NTD được hiểu là những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh Tuy nhiên, trước năm 1999, khái niệm NTD vẫn chưa được

cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật

Phải đến ngày 27/4/1999, sau nhiều lần biên soạn, lấy ý kiến, Pháp lệnh BVQLNT D được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/10/1999 Trong văn bản này, khái niệm NTD lần đầu tiên được quy định trong một văn bản pháp luật Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ NTD đã quy định: NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức Như vậy, với quy định này, NTD đã được xác lập địa vi pháp lý trong văn bản pháp luật Điều đó sẽ tạo tiền đề tốt

Trang 15

hơn cho công tác bảo vệ NTD khi xác định rõ đối tượng cần được bảo vệ gồm những ai

Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ -CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã giải thích cụ thể hơn về NTD Theo đó, NTD là người mua sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình , bao gồm những đối tượng sau: người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ

đã mua cho chính bản thân mình; người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng

Sau một thời gian thực hiện, trước tình hình đất nước có nhiều đổi mới, công tác bảo vệ NTD cần phải được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp

lý cao nhất, năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật BVQLNTD Luật BVQLNT D đã nâng tầm các quy định pháp luật về bảo vệ NTD, tạo điều kiện tốt hơn cho việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của NTD Kế thừa những quy định từ Pháp lệnh BVQLNTD 1999, Điều 3 Khoản 1 Luật BVQLNTD

2010 đã định nghĩa về NTD như sau: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sin h hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức

Như vậy, về cơ bản, khái niệm NTD trong Luật BVQLNTD không khác so với quy định tại Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 Nhìn chung, pháp luật Việt Nam đều cho rằng NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ cho các mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức Pháp luật nước ta tuy không quy định rõ NTD là cá nhân hay tổ chức nhưng với quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ -CP, ta có thể hiểu được tổ chức, cá nhân đều được coi là NTD Vi ệc quy định NTD bao gồm cả tổ chức và cá nhân là rất hợp lý Bởi lẽ, trong thực tiễn, không chỉ cá nhân là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền lợi mà rất nhiều tổ chức cũng không

Trang 16

đủ khả năng đối mặt với vi phạm từ nhà sản xuất kinh doanh Đồng thời, các

tổ chức này cũng phải mua các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho các cán bộ, nhân viên của họ và các giá trị giao dịch giữa những đối tượng này với các nhà mua bán hàng hoá, dịch vụ là tương đối lớn

1.1.2 Đặc trưng và những nội dung cơ bản của pháp lu ật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.2.1 Đặc trưng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong thực tế, quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là các quan hệ tư Tuy nhiên, do có đặc điểm về sự khác biệt giữa vị thế của người cung cấp và NTD trong quan hệ này, cụ thể là NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế Một trong những công cụ tốt nhất để BVQLNTD chính là việc xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ NTD

Pháp luật BVQLNTD là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa NTD và các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Lĩnh vực pháp luật này quy định quyền của NTD, trách nhiệm sản phẩm của thương nhân, ngăn chặn các giao dịch không công bằng, bảo vệ thông tin của cá nhân

Pháp luật BVQLNTD có một số nét đặc trưng như:

Thứ nhất, pháp luật BVQLNTD đã áp đặt những điều kiện bắt buộc

thương nhân phải tuân thủ để khắc phục những bất lợi của NTD trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ

Cụ thể, pháp luật bảo vệ NTD tập trung quy định các vấn đề kiểm soát điều kiện giao dịch chung; cấm các điều khoản không công bằng; quy định trình tự thực hiện giao dịch từ xa, giao dịch điện tử Việc can thiệp này làm cho nguyên tắc tự do khế ước chỉ còn ý nghĩa tương đối trong các giao dịch giữa NTD và thương nhân Luật BVQLNTD 2010 đã quy định cụ thể trách

Trang 17

nhiệm của các thương nhân trong việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung, hợp đồng theo mẫu đối với việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Thứ hai, pháp luật BVQLNTD xác định trách nhiệm của thương nhân

một cách nghiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm

Theo đó, những người chịu trách nhiệm đối với khuyết tật của sản phẩm chính là những người gây ra khuyết tật, nhưng cũng có thể không phải

là người gây ra khuyết tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay NTD Việc quy định trách nhiệm đối với sản phẩm khuyết tật là một việc làm rất cần thiết nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi NTD khi mua sản phẩm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh Hầu hết các nước trên thế giới đều

có Luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với Luật bảo vệ NTD Chẳng hạn, ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008 trong khi đó Luật bảo vệ NTD của họ có từ năm 1979 [21,tr.24]

Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định tại Điều

22, 23, 24 Luật BVQLNTD năm 2010 Theo đó, khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm thu hồi hàng hóa đó Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho NTD

Thứ ba, pháp luật BVQLNTD thiết lập những ngoại lệ so với những

nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống Đây là những ngoại lệ về điều kiện, hình thức khởi kiện hoặc giảm nhẹ ng hĩa vụ chứng minh Pháp luật tố tụng

Trang 18

dân sự đã quy định đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh khi khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Khác với nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống, việc quy định những ngoại lệ như khởi kiện tập thể

ở Hoa Kỳ hoặc đảo nghĩa vụ chứng minh ở Đức… sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NTD tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền lợi của mình bị vi phạm

Theo Luật BVQLNTD 2010, NTD cũng được giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ phải chứng minh về việc không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của NTD, hay nói cách khác là cá nhân, tổ chức kinh doanh phải chứng minh là mình không có lỗi

Thứ tư, pháp luật bảo vệ NTD là một lĩnh vực pháp luật liên quan đến

nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Có những quy định BVQLNTD được thể hiện trong Bộ luật dân sự (BLDS) như trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD, biện pháp buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền lợi NTD, có những quy định bảo vệ NTD được thể hiện trong Bộ luật hình sự (BLHS) như các quy định về tội buôn bán hàng giả, tội lừa dối khách hàng… Luật BVQLNTD là luật quan trọng nhất quy định cụ thể về BVQLNTD nhưng không phải là luật duy nhất quy định về vấn đề này mà quy định BVQLNTD còn được thể hiện trong một số luật chuyên ngành như Luật an toàn thực phẩm, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật viễn thông…

1.1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tùy thuộc quan niệm của từng nước, pháp luật BVQLNTD có thể có những nội dung khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung, pháp luật BVQLNTD ở các nước đều có những nội dung sau:

Trang 19

Thứ nhất, quy định quyền và nghĩa vụ của NTD Đây là nội dung quan

trọng nhất của pháp luật BVQLNTD Quy định này có ý nghĩa trong việc giúp NTD nhận thức được rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình, qua đó có thể tự bảo vệ được mình trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh ; đồng thời cũng nâng cao công tác bảo vệ NTD của các nước “Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD” kèm theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số A/RES/39/248 ngày 16/4/1985 đã quy định NTD có các quyền sau: quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn; quyền được lắng nghe ý kiến; quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được đền bù; quyền được giáo dục và quyền được sống trong môi trường trong lành [21,tr.30] Tại Việt Nam, Luật BVQLNTD 2010 cũng đã cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của NTD tại Điều 8 và Điều 9

Thứ hai, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của người cung cấp hàng

hóa, dịch vụ cho NTD cũng là một nội dung đặc thù của pháp luật BVQLNT D Ngoài những nghĩa vụ theo thỏa thuận và được điều chỉnh bởi các ngành luật tư, tổ chức, cá nhân kinh doanh đều có trách nhiệm sản phẩm Đây là một loại trách nhiệm pháp lý đặc biệt khi hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp có những khuyết tật, kể cả trong trường hợp những chủ thể này không có lỗi đối với những khuyết tật đó

Pháp luật cũng quy định thương nhân có nghĩa vụ chứng minh việc mình không có lỗi khi sản phẩm được cung cấp ra có khuyết tật Ở đây, các nhà làm luật đã buộc các thương nhân phải có nghĩa vụ chứng minh như người khởi kiện Các thương nhân phải chứng minh là mình được miễn trách nhiệm sản phẩm Trường hợp không thể c hứng minh mình được miễn, họ phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của nguyên đơn về khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp

Trang 20

Thứ ba, quy định việc kiểm soát các điều khoản giao dịch không công

bằng Về hình thức, giao dịch của cá nhân, tổ chức kinh doanh với NTD được thực hiện theo các quy định của luật dân sự Tuy vậy, tình trạng bất đối xứng thông tin giữa hai bên tham gia giao dịch có thể dẫn đến việc thiết lập những điều khoản giao dịch có lợi cho một bên, thường là các thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Do vậy, pháp luật cần thiết lập các cơ chế kiểm soát

để ngăn ngừa những hậu quả xấu đối với bên yếu thế, thường là NTD Luật BVQLNT D 2010 đã có những quy định cơ bản về nội dung này Điều 16 đã quy định hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung sẽ vô hiệu nếu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dành cho mình những lợi thế bất hợp lý trong quan

hệ với NTD Điều 19 đã có những quy định đầu tiên về thiết lập cơ chế đăng

ký và kiểm soát những hợp đồng theo m ẫu, điều kiện giao dịch chung để bảo đảm chúng không bị lạm dụng

Thứ tư, quy định phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD với

thương nhân Đối tượng của tranh chấp là các quan hệ tư nên các tranh chấp với NTD sẽ được giải quyết theo trình tự luật tư Các tranh chấp này sẽ được giải quyết theo các hình thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án

Tính chất của các tranh chấp giữa NTD với thương nhân thể hiện ở sự mất cân bằng quá lớn về khả năng tiếp cận và khả năng sử dụng chứng cứ NTD thường ít kiến thức về hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng, trong khi các thương nhân thường nắm rất rõ về hàng hóa, dịch vụ bởi họ đã làm ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm ấy Chính vì vậy, pháp luật các quốc gia đều có khuynh hướng giảm bớt nghĩa vụ chứng minh cho NTD, trong một số trường hợp còn có thể đảo nghĩa vụ chứng minh cho các thương nhân Luật BVQLNT D 2010 ở Việt Nam đã quy định NTD ngoài việc được miễn án phí,

kể cả khi thua kiện cũng chỉ phải chứng minh thiệt hại của mình còn vấn đề lỗi được chuyển hoàn toàn cho phía thương nhân

Trang 21

Thứ năm, quy định các hành vi bị cấm và chế tài xử lý đối với hành vi

vi phạm pháp luật bảo vệ NTD

Luật bảo vệ NTD các nước đều hướng tới loại bỏ những hành vi thương mại không lành mạnh ngay cả khi chúng không hướng đến NTD cụ thể nào Theo thông lệ, luật bảo vệ NTD quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại như: quảng cáo gian dối, che giấu khuyết tật sản phẩm, cung cấp hàng hóa có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng, quấy rối, ép buộc NTD

Các chế tài sẽ thường xuyên được áp dụng để xử lý những chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của NTD sẽ phải chịu các chế tài xử lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi vi phạm Việc áp dụng chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm sẽ có tác dụng răn đe, trừng phạt nghiêm khắc những chủ thể này , đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của NTD Bên cạnh đó, việc quy định các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD sẽ có tác dụng thiết lập một trật tự

xã hội tốt hơn trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ

Có thể nói, NTD là những đối tượng yếu thế trong qu an hệ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau Điều này dẫn đến quyền lợi của NTD dễ bị các chủ thể này thực hiện hành vi xâm phạm Những hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD của các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ được trình bày trong mục 1.2

1.2 Hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức,

cá nhân kinh doanh

Trong thực tiễn, hành vi vi phạm quyền lợi NTD phần lớn xảy ra trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD Trong các giao dịch

Trang 22

này, NTD luôn ở vị trí yếu thế hơn so với tổ chức, cá nhân kinh doanh, do sự hạn chế về thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ m à họ đang có nhu cầu tiêu dùng Vì vậy, các thương nhân thường lợi dụng điều này để thực hiện hành vi vi phạm như kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; khuyến mại

có sự gian dối về giải thưởng…Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của NTD

Hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD trước hết được hiểu là một hành

vi vi phạm pháp luật, do đó chủ thể thực hiện hành vi này luôn phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi Chế tài áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD phụ thuộc vào tính chất và mức độ xâm phạm quyền lợi NTD của hành vi đó Hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD của các tổ chức, cá nhân kinh doanh thể hiện ở việc các chủ thể này đã không thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý đối với NTD, không đảm bảo các quyền của NTD quy định tại Điều 8 Luật BVQLNT D

Hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD rất đa dạng, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội ở nhiều mức khác nhau Hành vi xâm phạm quyền lợi NTD

có thể là những vi phạm nhỏ, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội chưa cao, nhưng cũng có thể là những hành vi vi phạm lớn, đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội

Có thể thấy, hành vi vi phạm quyền lợi NTD của các tổ chức, cá nhân kinh doanh là rất đa dạng Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có thể chia hành

vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD thành các loại sau:

Dựa vào hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với các nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện đối với NTD, có thể chia thành:

- Nhóm hành vi vi phạm về cung cấp thông tin cho NTD gồm các hành

vi như: vi phạm về bảo vệ thông tin của NTD; quảng cáo lừa dối NTD…

Trang 23

- Nhóm hành vi vi phạm về hợp đồng giao kết với NTD và điều kiện giao dịch chung gồm các hành vi như: vi phạm về hợp đồng giao kết với NTD; vi phạm về đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung…

- Nhóm hành vi vi phạm đối với một số hợp đồng khác gồm các hành

vi như: vi phạm về hợp đồng giao kết từ xa; vi phạm về hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục; vi phạm về hợp đồng bán hàng tận cửa…

- Nhóm hành vi vi phạm về bảo hành hàng hóa và vi phạm về trách nhiệm của hàng hóa có khuyết tật gồm các hành vi như: vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện; vi phạm về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật

- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về viễn thông bao gồm các hành vi như: vi phạm các quy định về quản lý chất lượng, giá cước và khuyế n mại dịch vụ viễn thông…

- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về giá bao gồm các hành vi như: vi phạm về niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ; tăng giá quá mức…

- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng hàng hóa bao gồm các hành vi như: vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông

Trang 24

trên thị trường; vi phạm quy định kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa của

tổ chức được chỉ định kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa…

- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về đo lường bao gồm các hành vi như: vi phạm quy định về đo lường trong sản xuất phương tiện đo thuộc Danh mục phương tiện đo phải kiểm định, vi phạm quy định về đo lường trong hoạt động thương mại bán lẻ…

Dựa vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh, có thể chia thành:

- Nhóm hành vi phạm tội bao gồm những hành vi vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội Các hành vi phạm tội thường là những tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và được quy định trong BLHS hiện hành Có thể kể ra một số hành vi như: hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…

- Nhóm hành vi vi phạm hành chính Theo Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý

vi phạm hành chính (XLVPHC) thì vi phạm hành chính (VPHC) được hiểu là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật

về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị XPVPHC Hành vi VPHC trong lĩnh vực BVQLNTD rất đa dạng

và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật kh ác nhau

1.3 Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.3.1 Khái niệm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Một trong những những nội dung quan trọng của cơ chế BVQLNTD là xây dựng hệ thống các chế tài áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của NTD Ngoài những quy định về trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức kinh doa nh, pháp luật về bảo vệ NTD có

Trang 25

một hệ thống chế tài xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi NTD nói riêng, thiết lập trật tự xã hội trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nói chung

Theo nghĩa chung nhất, chế tài được hiểu là những biện pháp áp dụng đối với những chủ thể có hành vi không xử sự đúng pháp luật, hiểu rộng hơn

đó là không đúng như quy định của quy phạm pháp luật Việc áp dụng các chế tài sẽ giúp bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và tuân theo một cách nghiêm túc Có nhiều loại chế tài với các mức độ nặng nhẹ khác nhau có thể

áp dụng tuỳ theo tính chất, mức độ của các hành vi xử sự trái pháp luật Đó là, chế tài hình sự, chế tài kỉ luật, chế tài hành chính, chế tài dân sự

Trong lĩnh vực bảo vệ NTD, chế tài sẽ được đặt ra để xử phạt những cá nhân, tổ chức có hành vi xâm hại đến quyền lợi NTD Các chủ thể này sẽ chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra cho NTD Ở đây, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà họ

sẽ phải chịu các biện pháp XPVPHC như: cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC, hoặc chịu các hình phạt tù, phạt tiền Các chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD bên cạnh việc góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng hợp pháp của NTD, còn có vai trò thiết lập trật tự cho các quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, cũng như nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa việc thực hiện hành vi phạm pháp luật BVQLNTD

Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp l uật bảo vệ quyền lợi của NTD được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD [21,tr.142]

Điều 11 Luật BVQLNTD 2010 đã quy định:

- Cá nhân vi phạm pháp luật về BVQLNTD thì tùy theo tính chất, mức

độ vi phạm mà bị XPVPHC hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Trang 26

- Tổ chức vi phạm pháp luật về BVQLNTD thì tùy theo tính chất, mức

độ vi phạm mà bị XPVPHC, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

1.3.2 Đặc điểm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD mang đầy đủ các đặc điểm của chế tài nói chung Đó là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng chế tài là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

xử phạt theo quy định của pháp luật Chủ thể bị áp dụng thường là các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật Các chủ thể này thường phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi như các biện pháp XPVPHC, các hình phạt hoặc bồi thường thiệt hại tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm Các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật nhỏ, chưa đến mức phải truy cứu tr ách nhiệm hình sự thì sẽ phải chịu chế tài hành chính Nếu các chủ thể có hành vi

vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì họ sẽ chịu chế tài hình sự

Bên cạnh đó, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD còn có những đặc điểm riêng, th ể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trong việc vi

phạm pháp luật bảo vệ NTD là các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD Chủ thể phải chịu chế tài là thương nhân và các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh

Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã…; các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Các cá nhân hoạt động thương mại

Trang 27

độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thường là những người

buôn bán hàng rong trên đường phố, vỉa hè, những người bán hàn g tạp hóa…

Điểm a khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC 2012 đã quy định: Người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị XPVPHC về VPHC do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị XPVPHC về mọi VPHC Với quy định này, những cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ bị XPVPHC nếu thực h iện hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D Tuy nhiên, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị XPVPHC nếu thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý Đồng thời, những người

từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ bị XPVPHC nếu thực hiện hành vi VPHC trong lĩnh

vực BVQLNTD dù cố ý hay vô ý

Thứ hai, căn cứ để áp dụng chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh

doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD là việc các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã không thực hiện nghĩa vụ pháp lý đối với NTD, không đảm bảo các quyền lợi NTD được quy định tại Điều 8 Luật BVQLNT D 2010 Ngoài ra, các chủ thể này có thể thực hiện các hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 10 Luật BVQLNTD 2010

Luật BVQLNTD năm 2010 đã có quy định cấm tổ chức cá nhân, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được thực hiện một số hành vi quy định tại Điều 10, đồng thời cũng có những quy định về trách nhiệm của các chủ thể này với NTD trong Chương II, cũng như các tổ chức, cá nhân phải đảm bảo quyền lợi của NTD quy định tại Điều 8 của Luật này Các quy định pháp luật này có tác dụng ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD, cũng như bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của NTD

Thứ ba, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD sẽ

phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Họ có thể phải chịu chế tài hành chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm

Trang 28

Chế tài hành chính sẽ thường được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi xâm phạm tới quyền lợi NTD Chế tài này được

áp dụng đối với những chủ thể có hành vi vi phạm nhỏ, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội còn thấp Các chủ thể này sẽ phải chịu hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề…

Nếu hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân kinh doanh ở mức độ gây nguy hiểm cho xã hội và có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị áp dụng chế tài hình sự Chế tài hình sự được áp dụng thường là những hình phạt nghiêm khắc như phạt tù có thời hạn, tù chung thân… Những hình phạt này

có tác dụng trừng phạt các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD

Chế tài dân sự được áp dụng đối với những chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD thông qua bồi thường một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nhất định cho NTD bị thiệt hại bởi hành vi vi phạm của các chủ thể k inh doanh hàng hóa, dịch vụ Điều này sẽ góp phần khôi phục, bù đắp, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng cho những người bị vi phạm

Thứ tư, thẩm quyền áp dụng chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp

luật bảo vệ NTD rất đa dạng, được thực hiện bởi rất nhiều cơ quan khác nhau

Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng chế tài hình sự đối với những người vi phạm pháp luật Tòa án sẽ có thẩm quyền định ra các hình phạt khác nhau dành cho người phạm tội tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm

Trong khi đó, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp XPVPHC trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD thường đa dạng, phong phú hơn Theo quy định của Nghị định số 19/2012/NĐ -CP ngày 16/3/2012 quy định XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNTD, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, lực lượng quản lý thị trường (QLTT), Cơ quan Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng,

Trang 29

Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, Thanh tra chuyên ngành là những cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính nhằm xử phạt những hành vi

vi phạm pháp luật bảo vệ NTD Như vậy, rất nhiều cơ quan có thể áp dụng chế tài hành chính để xử phạt những chủ thể có hành vi xâm phạm tới quyền lợi NTD

1.3.3 Các loại chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.3.3.1 Chế tài hành chính

Trong thực tiễn, hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD thường là những hành vi vi phạm nhỏ, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Bởi vậy, chế tài hành chính thường được áp dụng với những chủ thể có hành vi xâm phạm đến quyền lợi NTD

Chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật trong việc BVQLNTD là hậu quả pháp lý được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức trong việc xâm phạm quyền lợi của NTD, theo đó cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác [21,tr.146]

Chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD có những đặc điểm sau đây:

- Cơ sở áp dụng chế tài hành chính trong lĩnh vực BVQLNTD là các hành vi VPHC Xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội thì các hành vi VPHC trong việc BVQLNTD không nguy hiểm cho xã hội bằng tội phạm nhưng đây được coi là mầm mống phát sinh tội phạm nếu không được xử lý kịp thời

- Thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính rất đa dạng, thuộc về nhiều chủ thể khác nhau Nếu như việc xét xử hành vi phạm tội trong việc xâm phạm quyền lợi NTD chỉ có thể thực hiện bởi tòa án th ì việc XPVPHC trong lĩnh vực bảo vệ NTD được giao cho nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền

Trang 30

khác nhau thực hiện Thẩm quyền XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNTD không chỉ được quy định trong Nghị định số 19/2012/NĐ-CP mà còn được quy định trong rất nhiều văn bản kh ác về XPVPHC liên quan đến NTD

- Các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD thường phải

chịu các biện pháp XPVPHC Tùy thuộc vào hành vi vi phạm, lĩnh vực vi phạm mà chủ thể vi phạm có thể phải chịu các biện pháp chế tài hành chính ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau Các biện pháp XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNT D rất đa dạng và được chia thành hai nhóm Nhóm biện pháp xử phạt chính bao gồm biện pháp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền Nhóm biện pháp

xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả

- M ục đích của chế tài hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD là răn đe và giáo dục tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm Bên cạnh đó, việc áp dụng các chế tài hành chính còn tác động đến ý thức tuân thủ pháp luật cho cộng đồng trên cơ sở áp dụng h ậu quả pháp lý bất lợi nhất định buộc các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD phải gánh chịu

1.3.3.2 Chế tài hình sự

Hành vi xâm hại quyền lợi của NTD có thể được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau Trong một số trường hợp, khi hành vi xâm ph ạm quyền lợi NTD gây nguy hại cho xã hội, có dấu hiệu tội phạm thì chế tài hình sự sẽ được áp dụng cho những hành vi phạm tội này

Chế tài hình sự được coi là hậu quả pháp lý bất lợi dành cho các cá nhân khi họ có hành vi vi phạm quyền lợi NTD, gây nguy hiểm cho xã hội và

bị coi là tội phạm trong BLHS Do đó các cá nhân sẽ phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật Chế tài hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNT D mang những đặc điểm sau đây:

- Chế tài hình sự được coi là biện pháp cưỡng chế n ghiêm khắc nhất trong tất cả các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật

Trang 31

BVQLNT D Đây được coi là biện pháp xử lý đối với những người đã có hành

vi xâm hại tới quyền lợi của NTD ở mức độ gây nguy hiểm cho xã hội Biện pháp này thường được áp dụng đối với những cá nhân có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; lừa dối khách hàng; quảng cáo gian dối… Người vi phạm

sẽ bị kết án tù, bị tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do, các quyền tài sản Ngoài

ra, chế tài hình sự còn để lại án tích cho người bị kết án trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật

- Chế tài hình sự luôn là hậu quả pháp lý bất lợi dành cho cá nhân thực hiện hành vi phạm tội Đây cũng là một điểm đặc trưng của chế tài hình sự, khác hẳn so với chế tài hành chính và chế tài dân s ự Nếu như chế tài hành chính, chế tài dân sự có thể được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thì chế tài hình sự chỉ được áp dụng đối với cá nhân có hành vi xâm phạm tới quyền lợi NTD Pháp luật nhiều nước quy định chế t ài hình sự có thể áp dụng cho các tổ chức có hành vi phạm tội nhưng pháp luật Việt Nam chưa quy định vấn đề này Điều này gây khó khăn cho việc tòa án xử phạt các tổ chức, pháp nhân có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD ở mức độ gây nguy hiểm cho xã hội

- Chế tài hình sự đối với cá nhân có hành v i xâm phạm quyền lợi NTD được BLHS quy định và do Tòa án áp dụng Đây là chủ thể duy nhất có thẩm quyền áp dụng chế tài hình sự đối với những người có hành vi phạm tội Điều này hoàn toàn khác với chủ thể có thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính Ngoài tòa án, không một cá nhân, tổ chức nào có quyền áp dụng chế tài hình

sự Đồng thời, các biện pháp chế tài hình sự chỉ được quy định trong BLHS

và được áp dụng theo nguyên tắc và trình tự thủ tục nhất định

1.3.3.3 Chế tài dân sự

Trong các biện pháp chế tài được áp dụng đối với chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD, chế tài dân sự được coi là biện pháp chế tài mang tính thiết thực nhất trong việc BVQLNTD bởi hậu quả của biện pháp

Trang 32

này mang lại Nếu như chế tài hành chính và chế tài hình sự đều tác đ ộng vào chủ thể có hành vi vi phạm thì chế tài dân sự có tác động khôi phục, bù đắp, đảm bảo quyền, lợi ích nhất định cho NTD bị xâm phạm

Chế tài dân sự đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD, theo đó các chủ thể này buộc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định và/hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra [21,tr.165]

Chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD là biện pháp chế tài mang tính mềm dẻo và được áp dụng rộng rãi trong đời sống dân

sự hàng ngày Chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD

có những đặc điểm sau đây:

- Chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD luôn mang nội dung kinh tế Hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD luôn liên quan đến tài sản, theo

đó NTD được khôi phục, bù đắp các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần mà mình

bị thiệt hại từ hành vi vi phạm NTD sẽ được bồi thường thiệt hại về vật chất, cũng có thể là tinh thần nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Chế tài dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền lợi NTD có thể do các chủ thể thỏa thuận lựa chọn Nếu như chế tài hành chính, chế tài hình sự

là hậu quả pháp lý được xác định cụ thể, do pháp luật quy định chủ thể phải tuân theo thì chế tài dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền lợi NTD có thể

do các chủ thể thỏa thuận lựa chọn Bởi lẽ, bản chất của quan hệ dân sự là quyền tự thỏa thuận, định đoạt của các chủ thể trong quan hệ mình tham gia nên họ có quyền lựa chọn những biện pháp dân sự mà có lợi cho cả đôi bên

Trang 33

1.3.4 Khái quát quá trình phát triển các quy định về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với cơ chế quản lý bao cấp Trong thời kỳ này , chưa có văn bản nào quy định về BVQLNTD

Việt Nam mới chuyển sang nền kinh tế thị trường trong thời gian chưa dài nên các quy định về BVQLNTD, đặc biệt là các quy định về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD còn tương đối mới Việc xây dựng chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam được chia thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1986 - 1999

Từ năm 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới Kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ này, hàng hóa, dịch vụ phong phú, đa dạng hơn so với thời bao cấp trước đây ; do vậy, NTD có quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình

Do vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số quy định về BVQLNTD cũng như chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Tuy nhiên, các quy định này lại nằm tản mạn, rải rác ở nhiều văn bản như: BLHS 1985, BLDS 1995, Pháp lệnh chất lượng hàng hóa ngày 27/12/1990, Nghị định số

140 – HĐBT ngày 25/4/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Nghị định của Chính phủ số 57/CP ngày 31/5/1997 quy định việc XPVPHC trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa

Nhìn chung, hệ thống văn bản về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD trong thời gian này vẫn còn chung chung, thiếu những

Trang 34

chế tài cụ thể để xử lý những hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Bởi vậy, tình trạng xâm phạm quyền lợi NTD vẫn xảy ra thường xuyên với các hành vi kinh doanh thiếu trung thực, lừa dối NTD và chưa có cơ chế giải quyết thống nhất

- Giai đoạn 1999 - 2010

Sau một quá trình nghiên cứu, cho ý kiến, ngày 27/4/1999, Pháp lệnh BVQLNT D đã chính thức được Ủy ban thường vụ Quốc hội th ông qua và có hiệu lực từ ngày 1/10/1999 Sự ra đời của pháp lệnh là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật về BVQLNTD Bởi lẽ, lần đầu tiên

có một văn bản quy định cụ thể chi tiết quyền và nghĩa vụ của NTD; trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền đối với NTD; chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Chẳng hạn, Điều 26 Pháp lệnh BVQLNT D đã quy định: Người nào sản xuất, kinh doanh hàng cấm, thuốc chữa bệnh giả, thực phẩm giả và các loại hàng giả khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Trong giai đoạn này, rất nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD đã được ban hành Có thể kể đến BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), BLDS 2005, Luật tiêu chuẩn kỹ thuật 2006, Luật chất lượn g sản phẩm, hàng hóa 2007, Luật an toàn thực phẩm 2010, Pháp lệnh XLVPHC

2002 (sửa đổi, bổ sung 2008), Nghị định 126/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 quy định về XPVPHC trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá… Việc ban hành các văn bản về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của NTD và ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến NTD ở nước ta

Trang 35

- Giai đoạn từ 2010 đến nay

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), công tác BVQLNTD bước sang một giai đoạn mới, đòi hỏi có một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định về vấn đề BVQLNT D nói chung cũng như chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD nói riêng Vì vậy, Quốc hội

đã xem xét và thông qua Luật BVQLNTD vào ngày 17/11/2010 Nhìn chung, Luật BVQLNTD đã quy định đầy đủ hơn và bổ sung các quy định quan trọng

so với Pháp lệnh BVQLNTD 1999 như: bảo vệ thông tin của NTD; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra…

Luật BVQLNTD 2010 quy định chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD tại Điều 11 Tuy nhiên, quy định này còn khá chung chung, khi mới chỉ đề cập đến các chế tài dùng

để xử lý hành vi vi phạm mà chưa quy định cụ thể nội dung các chế tài cũng như điều kiện áp dụng, hành vi vi phạm như thế nào sẽ phải chịu loại chế tài nào Do vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2012/NĐ -CP quy định XPV PHC trong lĩnh vực BVQLNTD Nghị định này tập trung vào việc quy định các biện pháp XPVPHC sẽ được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm đến quyền lợi NTD; thẩm quyền áp dụng các biện pháp XPVPHC…

Ngoài ra, trong mấy năm gần đây, Chính phủ cũng ban hành rất nhiều văn bản quy định về việc XPVPHC trong một số lĩnh vực liên quan đến quyền lợi NTD như: Nghị định 91/2012/NĐ-CP ngày 8/11/2012 của Chính phủ quy định XPVPHC về an toàn thực phẩm; Nghị định 84/2011/NĐ-CP ngày 20/09/2011 của Chính phủ quy định về XPVPHC trong lĩnh vực giá; Nghị định 104/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định XPVPHC về kinh doanh xăng dầu; Nghị định 96/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định XPVPHC về khám bệnh, chữa bệnh; Nghị định 93/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định

Trang 36

về XPVPHC về thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế … Các văn bản này đã đưa ra những biện pháp XPVPHC đối với những hành vi vi phạm liên quan đến NTD, qua đó góp phần bảo vệ NTD trước những hành vi xâm hại; ngăn chặn, hạn chế những hành vi trái pháp luật của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Có thể nói, tuy pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD ra đời chưa lâu, nhưng đến nay đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ các biện pháp xử phạt đối với hành vi xâm phạm đến quyền lợi NTD Điều này góp phần bảo vệ NTD một cách tốt hơn, cũng như nâng cao vị thế NTD trong mối quan hệ với tổ

chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CH Ế TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH CÓ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

2.1 Nội dung pháp luật về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh

2.1.1 Chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Chế tài hành chính là chế tài chủ yếu để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Bởi vì, hành vi xâm phạm tới quyền lợi NTD thường là những hành vi vi phạm nhỏ, chưa gây nguy hiểm cho xã hội Các biện pháp XPV PHC trong lĩnh vực BVQLNTD rất đa dạng và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Nội dung của các văn bản này đề cập đến vấn đề XPVPHC trong các lĩnh vực như: chất lượng hàng hóa , sản phẩm; an toàn thực phẩm, giá cả, bảo hiểm y tế; thuốc, trang thiết bị y tế, xăng dầu…

2.1.1.1 Các hình thức xử lý hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD

Điều 4 Nghị định 19/2012/NĐ-CP quy định XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNT D đã quy định cụ thể các biện pháp xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Theo đó, tổ chức, cá nhân VPHC sẽ phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính là: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân VPHC còn có thể

bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC và họ còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Trang 38

2.1.1.1.1 Các biện pháp xử phạt chính

- Phạt cảnh cáo

Phạt cảnh cáo là hình thức xử phạt được áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức có những vi phạm không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ Hành vi vi phạm như thế nào được coi là vi phạm không nghiêm trọng , có tình tiết giảm nhẹ trong lĩnh vực BVQLNTD cần có hướng dẫn cụ thể Việc

áp dụng biện pháp phạt cảnh cáo nhằm nhắc nhở, giáo dục chủ thể vi phạm cần tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

Trong lĩnh vực bảo vệ NTD, biện pháp phạt cảnh cáo thường rất ít được áp dụng, bởi vì biện pháp này là một biện pháp xử phạt nhẹ, chỉ có tính giáo dục, thuyết phục những chủ thể vi phạm chứ chưa có tính răn đe, ngăn ngừa hành vi vi phạm của họ Hơn nữa, biện pháp này thường chỉ áp dụng cho những hành vi vi phạm nhỏ, tính chất, mức độ gây hại của hành v i đó là chưa cao hoặc không nghiêm trọng, chưa gây ảnh hưởng lớn cho NTD và có thể khắc phục được

Biện pháp phạt cảnh cáo được quy định để áp dụng đối với những hành

vi vi phạm sau:

- Hành vi vi phạm của cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh như: không bảo đảm chất lượng, số lượng, công dụng, an toàn thực phẩm của hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp cho NTD theo quy định; cung cấp cho NTD các loại hàng hóa, dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và hàng hóa, dịch vụ khác không được kinh doanh theo quy định của pháp luật… (Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 19/2012/NĐ-CP quy định XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNTD)

- Hành vi vi phạm quy định về giao dị ch với khách hàng và NTD như:

có lời nói, hành động, thái độ xúc phạm khách hàng, NTD khi bán hàng, cung ứng dịch vụ; không đền bù, trả lại tiền hoặc đổi lại hàng hoá, dịch vụ cho

Trang 39

khách hàng, NTD do nhầm lẫn;… (Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP quy định về XPVPHC trong hoạt động thương mại)

- Hành vi vi phạm các quy định về nhãn hàng hóa trong sản xuất, nhập khẩu, buôn bán sản phẩm, hàng hóa như: bán hàng hóa có nhãn rách nát, mờ nhạt không đọc được nội dung trên nhãn hàng hóa, nhãn hàng hóa bị sửa chữa, tẩy xóa, nhãn bị che lấp không đọc được hoặc không đọc được hết nội dung trên nhãn hàng hóa; bán hàng hóa theo quy định phải có nhãn hàng hóa

mà không có nhãn (Khoản 1 Điều 23 Nghị định 54/2009/NĐ -CP quy định về XPV PHC trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường chất lượng sản phẩm, hàng hóa)

- Hành vi vi phạm quy định về kích thước chữ, ngôn ngữ sử dụng, đơn

vị đo lường, quảng cáo trên nhãn hàng hóa như: bán hàng hóa sản xuất trong nước không có nhãn bằng tiếng Việt hoặc nhãn ghi kích thước chữ nước ngoài lớn hơn chữ tiếng Việt; bán hàng hóa trên nhãn có những thông tin bằng hình ảnh, hình vẽ, chữ viết không đúng sự thật (Khoản 1 Điều 24 Nghị định 54/2009/NĐ-CP)

Như vậy, biện pháp phạt cảnh cáo là một biện pháp xử phạt ít được sử dụng để xử phạt hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD Biện pháp này thường được áp dụng cho những chủ thể có hành vi vi phạm nhỏ, mức độ gây nguy hại rất thấp hoặc không nghiêm trọng Kế thừa Pháp lệnh XLVPHC sửa đổi, bổ sung 2008, Luật XLVPHC 2012 cũng quy định biện pháp phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản

- Phạt tiền

Phạt tiền là biện pháp xử phạt chính, thường được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng để xử phạt những chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Biện pháp phạt tiền là một biện pháp khá phổ biến , được sử dụng trong việc XPVPHC nói chung và XPVPHC trong lĩnh vực bảo vệ NTD nói riêng

Trang 40

Phạt tiền có vai trò vô cùng to lớn trong việc xử phạt hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Biện pháp này không chỉ có tác dụng răn đe mà còn có tác dụng đánh vào lợi ích kinh tế của những chủ thể vi phạm, thông qua việc bị mất một khoản lợi ích vật chất nhất định Điều đó có tác dụng trừng phạt những chủ thể có hành vi vi phạm cũng như ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi vi phạm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Biện pháp phạt tiền thông qua việc tước bỏ khoản tiền nhất định thuộc

sở hữu của chủ thể vi phạm sẽ nghiêm khắc hơn so với biện pháp phạt cảnh cáo Bởi lẽ, hành vi vi phạm mà áp dụng biện pháp phạt tiền thường ở mức nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hành v i vi phạm mà có thể áp dụng biện pháp cảnh cáo Vì vậy, biện pháp phạt tiền thường được áp dụng với hầu hết tất cả các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVQLNTD

Điều 4 Nghị định số 19/2012/NĐ-CP quy định XPVPHC trong lĩnh vực BVQLNT D đã quy định mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi VPHC trong lĩnh vực BVQLNTD là 70 triệu đồng M ức phạt tiền thấp nhất là từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng Nghị định 19/2012/NĐ-CP đã chia thành các khung phạt như sau:

M ức phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng được áp dụng cho những cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng

ký kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm như: không cung cấp đúng, đầy đủ thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp cho NTD theo quy định của pháp luật về BVQLNTD, pháp luật về thương mại và pháp luật khác có liên quan; không bảo đảm chất lượng, số lượng, công dụng, an toàn thực phẩm của hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp cho NTD theo quy định …

Mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng được áp dụng cho những hành vi vi phạm như: vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD; vi phạm về hợp đồng

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Bộ Công thương (2009), Báo cáo đánh giá tác động dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
23. Bộ Công thương (2009), Báo cáo tóm tắt nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
24. Bộ Công thương (2009), Báo cáo tổng kết công tác thực thi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thực thi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
25. Chính phủ (2010), Tờ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
26. Cục quản lý cạnh tranh (2011), Báo cáo hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2011
27. Cục quản lý cạnh tranh (2009), So sánh pháp luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới – bài học kinh nghiệm và đề xuất những nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục quản lý cạnh tranh (2009)
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2009
28. Cục quản lý thị trường (2012), Báo cáo hoạt động của Cục quản lý thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động của Cục quản lý thị trường
Tác giả: Cục quản lý thị trường
Năm: 2012
29. Đỗ Thanh Thúy (2012), Chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Trường Đại học Luật Hà Nội.III. W ebsite Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Đỗ Thanh Thúy
Năm: 2012
30. Bảo vệ người tiêu dùng. Luật đã có chỉ chờ thực thi. http://www.baomoi.com/Bao -ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-Luat-da-co-chi-cho-thuc-thi/45/5282044.epi Link
31. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. http://baotintuc.vn/phap -luat/bao-ve- quyen-loi-nguoi-tieu-dung 20130313192405033.htm Link
32. Hà Nội: Phát hiện hai cửa hàng xăng không đảm bảo chất lượng. http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Ha -Noi-Phat-hien-hai-cua-hang-xang-khong-dam-bao-chat-luong/201212/9082.vnplus Link
33. Hàng giả bị xử lý hình sự còn ít. http://www.baomoi.com/Hang -gia-bi- xu-ly-hinh-su-con-it/58/4817406.epi Link
35. Mỗi năm có thêm 7700 bệnh nhân mắc ung thư. http://dantri.com.vn/c20/s20 -113927/moi-nam-co-them-77000-benh-nhan-mac-ung-thu.htm Link
37. Phải có 5000- 7000 thanh tra canh bữa ăn cho nhân dân. http://dantri.com.vn/c20/s20-361100/phai-co-5000-7000-thanh-tra-canh bua-an-cho-dan.htm Link
38. Phát hiện xử lý hàng nghìn vụ hàng giả vi phạm sở hữu trí tuệ. http://www.chg.vn/so -huu-tri-tue/xem/776/phat-hien-xu-li-hang-nghin-vu-hang-gia-vi-pham so-huu-tri-tue Link
39. Quản lý thị trường xử lý trên 70.000 vụ vi phạm. http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Quan -ly-thi-truong-xu-ly-tren-70000-vu-vi-pham/201212/155783.vgp Link
40. Thu giữ hơn 10 tấn mỡ bẩn từ một cơ sở chế biến. http://laodong.com.vn/Xa -hoi/Thu-giu-hon-10-tan-mo-ban-tu-mot-co-so-che-bien/117794.bld Link
17. Chính phủ. Nghị định 96/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về khám bệnh, chữa bệnh Khác
18. Chính phủ. Nghị định 104/2011/NĐ -CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh xăng dầu Khác
19. Chính phủ. Nghị định 19/2012/NĐ -CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVQLNTD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w