Nhiều đối tượng khuyết tật còn bị bỏ sót, chưa được hưởng sự quan tâm của Nhà nước, một số đối tượng tuy được hưởng sự quan tâm đó nhưng họ luôn tồn tại suy nghĩ đó là sự ban ơn, chiếu c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Trí
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LĐTBXH : Lao động, Thương binh và Xã hội
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
UNDP : Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên
hiệp quốc
WB : Ngân hàng thế giới
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tình hình nghiên cứu 2
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn 3
7 Kết cấu của Luận văn 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 5
1.1 Người khuyết tật và vai trò người khuyết tật đối với xã hội 5
1.1.1 Khái niệm người khuyết tật 5
1.1.2 Đặc điểm người khuyết tật 10
1.1.2.1 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật 11
1.1.2.2 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế- xã hội 13
1.1.3 Vai trò của người khuyết tật đối với xã hội 14
1.1.4 Các quyền cơ bản của người khuyết tật 15
1.2 Pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 17
1.2.1 Khái niệm bảo trợ xã hội 17
1.2.2 Khái niệm pháp luật bảo trợ xã hội cho người khuyết tật 22
1.2.3 Nội dung pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 24
1.2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 24
1.2.3.2 Chủ thể được bảo trợ xã hội và chủ thể thực hiện chế độ bảo trợ xã hội 27
1.2.3.3 Trình tự, thủ tục hưởng bảo trợ xã hội 29
1.2.3.4 Mức hưởng bảo trợ xã hội 29
1.2.3.5 Nguồn tài chính thực hiện bảo trợ xã hội 30
Trang 4VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 32
2.1 Đối tượng được bảo trợ xã hội 32
2.2 Trình tự thủ tục xin hưởng bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
36
2.3 Quyền lợi về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 44
2.4 Tài chính và cơ quan tổ chức thực hiện 55
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 58
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 58
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 59
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 59
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 63
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài
Sự quan tâm của Nhà nước đối với mỗi thành viên trong xã hội không chỉ đơn thuần là trách nhiệm của Nhà nước, mà thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đó đối với công dân của mình Đối với người khuyết tật- những người bị khiếm khuyết bộ phận cơ thể, sự quan tâm, hỗ trợ đó càng có ý nghĩa quan trọng Sự bảo trợ, giúp đỡ của Nhà nước giúp người khuyết tật phần nào ổn định cuộc sống, vượt qua mặc cảm tự ti để vươn lên trong xã hội và tự nhận thức được vai trò của mình trong tiến trình chung của đất nước Trong thời gian qua các chính sách bảo trợ xã hội tuy đã mang lại nhiều hiệu quả trên thực tế, góp phần hỗ trợ phần nào cuộc sống của bản thân người khuyết tật nói riêng và gia đình họ nói chung nhưng một số chính sách chưa thực sự mang lại kết quả như những nhà làm luật mong muốn Nhiều đối tượng khuyết tật còn bị bỏ sót, chưa được hưởng sự quan tâm của Nhà nước, một số đối tượng tuy được hưởng sự quan tâm đó nhưng họ luôn tồn tại suy nghĩ đó là sự ban
ơn, chiếu cố của Nhà nước… Chính những thực trạng đó đã chứng tỏ rằng các quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật còn chưa thực
sự khả thi trên thực tế và việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là nhu cầu cấp thiết
Xuất phát từ vai trò của bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật và thực trạng áp dụng pháp luật bảo trợ xã hội trong thời gian vừa qua còn nhiều
vướng mắc, tác giả lựa chọn đề tài “ Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật- những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sỹ luật học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trên thực tế Trên cơ sở phân tích, đánh giá
Trang 6các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, tác giả chỉ ra những bất cập từ các quy định pháp luật và trong quá trình thực thi pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Từ những bất cập đã được phân tích, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi bài nghiên cứu luật học ở trình độ thạc sỹ, tác giả tập trung phân tích đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây: một số vấn đề lý luận về bảo trợ xã hội và bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật; những quy định pháp luật hiện hành về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật và thực tiễn áp dụng; một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, cụ thể phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử Ngoài ra tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm pháp luật, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật cũng là cơ sở lý luận cho việc phân tích và nghiên cứu đề tài
Để nghiên cứu vấn đề bảo trợ xã hội được nêu tại bài viết này, tác giải
sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp logic, lịch sử…
5 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề về người khuyết tật là vấn đề khá mới mẻ trong giới nghiên cứu, tiếp cận vấn đề với người khuyết tật dưới nhưng ở dưới những phương diện khác nhau, có thể nêu ra 1 số công trình tiêu biểu như sau:
Trang 7Trước năm 2010, Ths Nguyễn Thị Báo đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ
với đề tài: “ Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay” Đề tài đề cập đến sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật
về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam vào thời điểm đó; khẳng định yêu cầu bức thiết của việc ban hành Luật Người khuyết tật Việt Nam Sau đó, năm
2010, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế, Bộ LĐTBXH – Hà Đình Bốn đã biên soạn
“ Đặc san Tuyền truyền pháp luật, chủ đề Người khuyết tật” Đặc san đã phân
tích được nhiều khía cạnh của pháp luật Việt Nam về Người khuyết tật nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng; đồng thời chỉ ra những hạn chế sau hơn mười năm thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 Còn trình độ thạc sỹ có duy nhất công trình Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật của tác giả Hồ Thị Trâm năm 2013 Về công trình luận án tiến sỹ nghiên cứu về pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật thì tại Việt Nam tính đến thời điểm tháng 5/ 2013 chưa có công trình nào Như vậy có thể nói việc nghiên cứu pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật vẫn là
mang tính mới của một công trình khoa học
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Với tính chất là một công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đã đáp ứng được một số tính mới trong nghiên cứu khoa học như sau:
Một là, luận văn là một công trình khoa học trình bày một cách toàn diện và tương đối đầy đủ những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Hai là, luận văn đã đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng quy định pháp luật và áp dụng pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã chỉ ra những điểm bất cập trong bản thân các các quy định hiện hành về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Trang 8Ba là, trên cơ sở những phân tích, đánh giá về quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng tác giả đã đưa ra những đề xuất, biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục đính kèm và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai với ba nội dung chính được kết cấu thành
ba chương như sau:
Chương 1 với tiêu đề “Một số vấn đề về người khuyết tật và pháp luật bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật” sẽ đưa đến những khái niệm cơ bản liên quan
đến người khuyết tật, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật và pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Trong chương này, tác giả đề cập đến vấn đề lý luận trên cơ sở những phân tích, đối chiếu với các khái niệm trong quy định pháp luật về bảo trợ xã hội của một số quốc gia trên thế giới và một
số Công ước quốc tế có điều chỉnh vấn đề này
Chương 2 với tên gọi “Quy định pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật và thực tiễn thực hiện”, tác giả tập trung phân tích các quy định của
pháp luật hiện hành về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Song song với việc phân tích các quy định pháp luật, tác giả cũng chỉ ra những bất cập của các quy định đó (nếu có) và thực tiễn áp dụng các quy định trên thực tế với sự đánh giá trên cơ sở khoa học
Chương 3 với nội dung “Hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật” sẽ tập trung phân tích các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo
trợ xã hội đối với người khuyết tật nhằm có thể nâng cao tính khả thi của các quy định pháp luật
Trang 9CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 Người khuyết tật và vai trò người khuyết tật đối với xã hội
1.1.1 Khái niệm người khuyết tật
Cách nhìn nhận về người khuyết tật có những sự thay đổi nhất định qua từng thời kỳ Nếu như những năm 1950 người khuyết tật được nhìn nhận theo
mô hình “chăm sóc y tế”, theo đó vấn đề người khuyết tật là vấn đề phúc lợi
xã hội và họ là đối tượng cần được hỗ trợ, chăm sóc, được hưởng phúc lợi xã hội chứ không phải là chủ thể có quyền như công dân bình thường thì những năm 1970 cách nhìn nhận người khuyết tật đã có sự thay đổi, theo đó những người khuyết tật là những người có khả năng, có quyền sống và lao động như những người bình thường chứ phải là một đối tượng cần nhận sự “chiếu cố” của xã hội Quá trình chuyển nhận thức về người khuyết tật như vấn đề xã hội sang nhận thức coi vấn đề người khuyết tạt là vấn đề bình thường trong xã hội
và coi trọng khả năng, năng lực của người khuyết tật là kết quả của sự đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau của bản thân người khuyết tật và các hiệp hội của họ xuất phát ở Hoa Kỳ vào những năm 70 của thế kỷ trước Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về người khuyết tật Trên thế giới có hai quan điểm chính về người khuyết tật song song cùng tồn tại đó
là quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội
Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y
tế (y học) cho rằng khuyết tật là hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, mà hầu như không chú ý tới các yếu tố xã hội Dưới góc độ tiếp cận này, thì bản thân người khuyết tật là vấn đề và họ cần được chữa trị để trở thành bình thường Những phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải thiện chức năng được chú trọng Liên quan đến quan điểm này, theo phân
Trang 10loại của Tổ chức y tế thế giới, có ba mức độ suy giảm là : khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật Trong đó, khiếm khuyết chỉ đến sự mất mất hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của
họ
Ngược lại, quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội, những người khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt Chính xã hội không tốt nên người khuyết tật phải đối mặt với một số sự phân biệt đối
xử của cộng đồng xung quanh Quan điểm này khẳng định rằng vấn đề nằm ở
xã hội chứ không phải bản thân người khuyết tật Chính xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải người khuyết tật
Như vậy, hai quan điểm có cách tiếp cận ngược nhau về người khuyết tật Nếu như quan điểm khuyết tật cá nhân cho rằng vấn đề nằm ở bản thân người khuyết tật thì quan điểm khuyết tật xã hội lại cho rằng vấn đề không nằm ở bản thân người khuyết tật mà nằm ở chính xã hội Cá nhân tác giả cho rằng, mỗi quan điểm có cách lập luận của mình tuy nhiên, không có một quan điểm nào là hoàn hảo Quan điểm khuyết tật cá nhân không nhận thấy ảnh hưởng của xã hội đối với tình trạng khiếm khuyết của người khuyết tật nên không chú trọng các biện pháp xã hội như cải tổ chính sách, xóa bỏ các rào cản xã hội Ngược lại, quan điểm khuyết tật xã hội lại cho rằng vấn đề nằm ở
xã hội chứ không phải bản thân người khuyết tật nên tập trung vào các biện pháp cải tổ chính sách xã hội, xóa bỏ các yếu tố rào cản đối với người khuyết tật chứ không nhấn mạnh tới các biện pháp phục hồi chức năng, vật lí trị liệu đối với bản thân người khuyết tật
Trang 11Từ những cách nhìn nhận khác nhau về người khuyết tật cùng với điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử phát triển cũng như kỹ thuật lập pháp từng quốc gia mà các quốc gia khác nhau có định nghĩa khác nhau về người khuyết tật
Theo quan điểm khuyết tật cá nhân, Đạo Luật số 7277 của Philipines năm 1991 với tên gọi là Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức năng, tự phát triển
và tự tin cho người khuyết tật và hòa nhập người khuyết tật vào xã hội và các
mục đích khác định nghĩa “Người khuyết tật- là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động, và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”
Điều 2 Luật của nước Công hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người
khuyết tật năm 1990 ghi nhận: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường
“Người khuyết tật” là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác”
Hay Luật về người khuyết tật của Ấn Độ năm 1995 định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần
Nhưng định nghĩa về người khuyết tật lại được nêu “một người bị bât kì một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền”
Trái với quan điểm y tế về người khuyết tật- tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm thần…, định nghĩa người khuyết tật theo quan điểm xã hội là sự kết hợp giữa sự
Trang 12khiếm khuyết và các yếu tố môi trường và tiếp cận dưới góc độ quyền của người khuyết tật
Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao
động và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”
Điều 1, Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc
năm 2006, quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trọng một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”
Bộ luật xã hội Đức định nghĩa “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người
có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội”
Đạo luật về Người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa “ Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng của cuộc sống”
Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất sớm Tuy vậy thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra đời của Luật người khuyết tật 2010 Trước đây đối tượng bị khiếm khuyết một hay một số bộ phận cơ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh về
người tàn tật 1998 Tại Điều 1 pháp lệnh người tàn tật ghi nhận “Người tàn tật theo quy định của pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu
Trang 13hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” Tại khoản 1 Điều 2,
Luật Người khuyết tật 2010 chính thức sử dụng thuật ngữ người khuyết tật
thay thế người tàn tật trước đây, theo đó người khuyết tật được hiểu là “Người
bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Việc thay đổi tên gọi từ người tàn tật sang người khuyết tật thể hiện sự
thay đổi cách nhìn nhận của xã hội đối với những người không may mắn khi mang trên mình những dạng tật Người khuyết tật chỉ rõ họ là những người tuy có dạng tật khó khăn trong lao động, sinh hoạt nhưng họ vẫn là người có ích, có thể làm việc, giáo dục, đào tạo, vẫn có thể đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước Người khuyết tật thể hiện tính nhân văn, đề cao tinh thần
“tàn những không phế” của những đối tượng này và đồng thời phù hợp với thuật ngữ được sử dụng trên thế giới (disability) Như vậy, theo định nghĩa về người khuyết tật thì đối tượng xác định là người khuyết tật dựa vào việc bộ phận cơ thể bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật (khiếm thính, khiếm thị, tật nguyền…) và gây khó khăn cho việc lao động, học tập, sinh hoạt, bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết
do bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh… Như vậy, tùy thuộc vào việc ủng hộ quan điểm khuyết tật cá nhân hay khuyết tật vận động mà mỗi quốc gia có nhìn nhận không giống nhau về người khuyết tật Tuy vậy, dù có
xu hướng ủng hộ quan điểm nào đi chăng nữa thì khi định nghĩa về người khuyết tật cũng phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi họ tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Họ phải được đảm bảo rằng họ có quyền
và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người Với lập luận đó, tác giả hoàn toàn
Trang 14đồng tình với quan điểm về người khuyết tật được nêu tại Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam của tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”[14, trang 21]
1.1.2 Đặc điểm người khuyết tật
Việc xác định và làm rõ đặc điểm của người khuyết tật không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đúng đối tượng nào là người khuyết tật mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng những quy định pháp luật mang tính khả thi cao về người khuyết tật, điều chỉnh đúng phạm vi đối tượng là người khuyết tật
Người khuyết tật trước hết là những con người, là những thành viên của
xã hội Người khuyết tật cũng có những quyền cơ bản của con người, quyền công dân của nước mà họ mang quốc tịch, mang những nét đặc trưng của nền văn hóa nơi họ sinh ra và lớn lên, có những đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội Vì là thành viên xã hội, là con người nên người khuyết tật phải được đối xử bình đẳng với những người bình thường khác trong xã hội, với đối tượng là người khuyết tật khác Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội phải có những biện pháp để bảo đảm quyền cơ bản của người khuyết tật, đảm bảo sự bình đẳng giữa người khuyết tật với các thành viên khác trong xã hội trong mọi hoạt động của đời sống
Tuy nhiên, người khuyết tật không phải là những người bình thường
mà họ là những kém may mắn khi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận
cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài
trong việc tham gia vào hoạt động xã hội Sự khiếm khuyết một hoặc nhiều
bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng hình thành nên các dạng người khuyết tật và mức độ khuyết tật, còn việc dẫn đến những hạn chế trong khi
Trang 15tham gia vào hoạt động xã hội thể hiện những khó khăn của người khuyết tật dưới góc độ xã hội Từ cơ sở đó, đặc điểm của người khuyết tật được tác giả tìm hiểu dưới hai góc độ đó là dưới góc độ xã hội và dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật
1.1.2.1 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng…” Như vậy, đặc điểm đầu tiên để xác định
người khuyết tật đó là việc bị khiếm khuyết bộ phận cơ thể Có nhiều bộ phận
cơ thể có thể bị khiếm khuyết như tai, mắt, miệng, tay chân…do vậy khiếm khuyết các bộ phận cơ thể khác nhau sẽ tạo nên một loại dạng tật với những đặc điểm đặc thù Nhìn chung có các dạng khuyết tật phổ biến như sau: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi dạng tật có những đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lí, về khả năng qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân và có ảnh hưởng qua lại, tác động đáng kể tới môi trường xung quanh làm xuất hiện những hệ quả pháp lí trong quá trình hòa nhập cộng đồng Đa phần những người khuyết tật đều có bộ não phát triển bình thường Nếu được quan tâm, đào tạo, rèn luyện từ sớm và thường xuyên thì họ vẫn tiếp thu được chương trình học tập, làm việc, tham gia các hoạt động kinh tế-
xã hội, trở thành những người có ích trong xã hội Tuy nhiên, do khiếm khuyết của bộ phận cơ thể nên họ sẽ gặp một/một vài khó khăn khi tham gia các hoạt động cộng đồng
Khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện là khó khăn trong khi di chuyển (nằm, ngồi, cầm, nắm…)
Do đó, người khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động Người khuyết tật vận động cần được hỗ
Trang 16trợ về phương tiên đi lại (xe lăn, gậy chống…) và đặc biệt là không gian thuận tiện để di chuyển
Khuyết tật nghe, nói là người có khó khăn đáng kể về nói, nghe, dẫn đến hạn chế về đọc, viết, từ đó dẫn đến những khó khăn trong sinh hoạt, làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng Để giảm bớt khó khăn cho những đối tượng này cần có sự hỗ trợ của phương tiện trợ giúp (máy trợ thính), ngôn ngữ ký hiệu dùng trong giao tiếp tổng hợp
Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị) là những người có tật về mắt làm cho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng Công cụ hỗ trợ đối với đối tượng này là chiếc gậy trắng, chữ nổi Braille, các dụng cụ hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và dễ nhận biết…
Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường
Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc
Theo Điều 3, Luật người khuyết tật Việt Nam 2010 thì ở nước ta phân loại người khuyết tật theo tiêu chuẩn dạng tật gồm khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác Về cơ bản, tiêu chí phân loại người khuyết tật ở Việt Nam khá tương đồng với tiêu chí của các nước trên thế giới Theo số liệu khảo sát thống kê, cả nước có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật (chiếm khoảng 6,34% dân số), thì có 29,41% khuyết tật vận động, 16,83% thần kinh, 13,84% thị giác, 9,32% thính giác, 7,08% ngôn ngữ, 6,52% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 35,8% do bẩm sinh,
Trang 1732,34% do bệnh tật, 25,56% do hậu quả chiến tranh, 3,49% do tai nạn lao động và 2,81% do các nguyên nhân khác [20]
1.1.2.2 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế- xã hội
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” Nếu đơn thuần chỉ bị khiếm khuyết cơ thể thì
vẫn chưa xác định đó là người khuyết tật, chỉ một khi những khiếm khuyết đó dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội thì mới đủ tiêu chí để xác định đó là người khuyết tật Sự khó khăn trong việc tham gia các hoạt động xã hội chính là đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế- xã hội
Bản thân người khuyết tật với những khiếm khuyết cơ thể họ chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Có thể nói, khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật từ các công việc sinh hoạt hàng ngày như đi lại, giao tiếp đến các công việc sinh hoạt cộng đồng như tham gia học tập, giáo dục, tham gia hoạt động xã hội, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế… Để khắc phục những khó khăn này, đa số và chủ yếu là dựa vào gia đình
họ
Về gia đình người khuyết tật, một thực tế kém may mắn rằng gia đình những người khuyết tật thường là những gia đình có hoàn cảnh: có quá nhiều người sống phụ thuộc, kinh tế khó khăn, nguồn tài chính không ổn định, đa số sống ở nông thôn Chính vì vậy điều kiện sống và sinh hoạt, phúc lợi của các thành viên trong gia đình trong đó có người khuyết tật không được đảm bảo Ngoài ra, người khuyết tật thường khó khăn trong vấn đề xin việc làm, nên gia đình đã khó khăn càng khó khăn thêm
Trang 18Từ phía xã hội, đâu đó vẫn còn tồn tại nhiều định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người khuyết tật Trong cộng đồng nhiều dân cư coi người khuyết tật là “đáng thương”, không có cuộc sống bình thường, là gánh nặng của xã hội Về phương diện pháp luật, nhiều người còn không hề biết quy định của pháp luật về người khuyết tật Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối
xử đối với người khuyết tật trên nhiều lĩnh vực như gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội và nghiêm trọng hơn
sự kỳ thị đôi khi lại xuất phát từ chính bản thân người khuyết tật (người khuyết tật tự cho rằng mình kém cỏi, mặc cảm, khó hòa nhập cộng đồng)
Như vậy có thể nói sự khiếm khuyết bộ phận cơ thể là phần nào nguyên nhân dẫn đến những khó khăn mà người khuyết tật gặp phải trong quá trình tham gia các hoạt động xã hội, hòa nhập cộng đồng
1.1.3 Vai trò của người khuyết tật đối với xã hội
Như đã phân tích ở trên, người khuyết tật là thành viên của xã hội, là bộ phận không thể thiếu của xã hội nên ở một mức đô nào đó họ sẽ có những sự đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của xã hội Do mặc cảm về khiếm khuyết của cơ thể nên họ có tâm lý tự ti, bỏ mặc không hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, nếu họ vượt lên những hoàn cảnh khó khăn đó thì họ có thể sống, hoạt động đóng góp cho xã hội như những người bình thường khác Tấm gương về thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã thôi thúc không chỉ những người khuyết tật mà còn cả những người bình thường vươn lên trong cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội Hình ảnh cậu bé Nobuyuki Tsujii bị mù bẩm sinh nhưng với tài năng của mình, cậu bé đã đưa vinh quang về cho đất nước mọc trời mọc khi liên tiếp giành được các giải thưởng trong các cuộc thi piano quốc tế Nobuyuki Tsuji được báo chí Nhật Bản ví là “hiện thân của phép mầu thượng đế” Những người khuyết tật vẫn tham gia hoạt động kinh tế- xã hội và họ đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của
Trang 19nhân loại điển hình như nhạc sĩ thiên tài như Beethoven bị khiếm thính nhưng vẫn để lại cho đời những tác phẩm âm nhạc tuyệt vời Giáo sư Stephen Hawking bị khuyết tật mắc bệnh thần kinh khiến ông gần như mất hết khả năng cử động Sau đó, ông phẫu thuật cắt khí quản và không thể nói chuyện bình thường Ông phải ngồi xe lăn, chỉ có thể nói được qua một thiết bị tổng hợp tiếng gắn với một máy tính mà ông gõ chữ vào đó Hawing hiện là Giáo
sư Lucasian, chức danh giành cho Giáo sư Toán học trường đại học Cambrigde [19]
1.1.4 Các quyền cơ bản của người khuyết tật
Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 đã ghi nhận các quyền cơ bản của người khuyết tật như quyền được sống, quyền được thừa nhận bình đẳng, quyền tự do và an toàn cá nhân, quyền sống độc lập và hòa nhập cộng đồng, quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm, quyền tự do đi lại, tự do cư trú và tự do quốc tịch, quyền tự do biểu đạt chính kiến và tiếp cận thông tin, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, bị đối xử, áp dụng các hình phạt tàn nhẫn, quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng, quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng đồng, quyền tham gia các hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao, quyền hưởng các dịch vụ y tế, quyền được
hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng, quyền có mức sống thích đáng và bảo trợ xã hội đầy đủ, quyền được tiếp cận giáo dục, quyền có cơ hội công việc và việc làm Do vậy, quyền được hưởng bảo trợ xã hội đầy đủ là một trong những quyền cơ bản của người khuyết tật Trách nhiệm của các quốc gia là thành viên Công ước là phải thể chế hóa, nội luật hóa các quy định của Công ước vào pháp luật quốc gia và thực thi nghiêm chỉnh các quy định đó Việt Nam là thành viên công ước về bảo vệ quyền lợi người khuyết tật do vậy cũng có trách nhiệm nội luật hóa các quy định về bảo vệ người khuyết tật nói
Trang 20chung, bảo trợ xã hội người khuyết tật nói riêng trong các quy định pháp luật hiện hành
Tại điều 4, Luật người khuyết tật 2010 nội luật hóa các quy định của Công ước về quyền của người khuyết tật trong văn bản pháp luật Việt Nam Theo đó, người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền như tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; quyền sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; quyền được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; quyền được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật và các quyền khác theo quy định của pháp luật
Các quyền cơ bản của người khuyết tật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Chẳng hạn quyền được bảo trợ xã hội là sự thể hiện một cách chi tiết quyền được sống, quyền được bình đẳng của người khuyết tật Con người sinh ra chịu tác động của hai yếu tố đó là yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Bị khuyết tật là điều không ai mong muốn, có những người bị khuyết tật từ lúc sinh ra, có người do trong quá trình sống, lao động
bị tai nạn, chiến tranh khiến cơ thể gặp phải những khiếm khuyết không mong muốn Mặc dù bị khuyết tật nhưng các các cơ bản của con người thì không được xâm phạm với lý do đơn giản họ cũng là những con người, cũng là thành viên của xã hội, của cộng đồng
Như vậy có thể thấy quyền được hưởng bảo trợ xã hội đầy đủ của người khuyết tật khởi nguồn từ quyền tự nhất là quyền con người Vì người khuyết tật là những con người nên có quyền được hưởng cuộc sống ấm no, quyền xây dựng cuộc sống của mình trong cộng đồng xã hội Chính trợ giúp của xã hội qua các chế độ bảo trợ, sự hỗ trợ Nhà nước là cầu nối đưa họ hòa
Trang 21nhập với cộng đồng, tránh mặc cảm tự ti Chính sự quan tâm, giúp đỡ của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với người khuyết tật thông qua các chế độ bảo trợ, các nguồn tài trợ có ý nghĩa thiêng liêng đối với đời sống của những người khuyết tật, giúp họ vươn lên hòa nhập cộng đồng, thấy mình phải có trách nhiệm hơn đối với xã hội, với người xung quanh
1.2 Pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1 Khái niệm bảo trợ xã hội
Trong xã hội, không phải ai cũng có cuộc sống đầy đủ, có thể tự mình
lo liệu mọi việc Những người “yếu thế” ví dụ như người khuyết tật, người già
cô đơn hay thậm chí những người bất hạnh không may gặp hoàn cảnh khó khăn… trong một số trường hợp nhất định không thể tự mình lo liệu cho cuộc sống của bản thân Những đối tượng này, cần sự trợ giúp, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, của cộng đồng, của Nhà nước Trong đó sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước được đánh giá là mang tính ổn định và an toàn Chính những biện pháp bảo vệ, giúp đỡ đối tượng yếu thế có sự tham gia của nhà nước chính là nội dung của bảo trợ xã hội
Về khái niệm bảo trợ xã hội thì hiện nay có nhiều quan điểm, nhiều định nghĩa tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận
Tiếp cận từ góc độ kinh tế thì bảo trợ xã hội được hiểu như là biện pháp, công cụ thực hiện mục đích bảo vệ cuộc sống của con người, đặc biệt là những người khó khăn, yếu thế cần giúp đỡ Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra
khái niệm về “bảo trợ xã hội” là “những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh
về thu nhập”… Những biện pháp công cộng theo WB là những khoản trợ cấp
Trang 22và cả cơ hội cho đối tượng vượt qua hoàn cảnh nhằm đạt được ba mục đích phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro của con người Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF) cũng đưa ra khái niệm về bảo trợ xã hội là “sự bảo vệ con người khi không còn khả năng tạo ra thu nhập” Nội dung của bảo trợ xã hội
chỉ là những khoản trợ cấp từ Nhà nước nhằm chi trả cho những đối tượng cần sự giúp đỡ để tồn tại, nòng cốt của bảo trợ xã hội tập trung vào các chế độ bảo hiểm tuổi già, chế độ tiền tuất và các khoản phúc lợi xã hội cho đối tượng khó khăn
Tiếp cận từ góc độ đảm bảo quyền con người gắn với vấn đề đảm bảo
mức sống, theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), bảo trợ xã hội là “sự đảm bảo thực hiện quyền con người được sống trong hòa bình, tự do làm ăn, cư trú, được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc
y tế và bảo vệ thu nhập” Theo đó, nội dung của bảo trợ xã hội rất rộng lớn,
bao trùm lên các lĩnh vực của đời sống con người hướng tới việc đảm bảo quyền con người Ở phạm vi hẹp hơn, ILO tiếp cận khái niệm bảo trợ xã hội như một trong những nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội thông qua những khoản trợ cấp từ tài chính công, ILO đưa ra những đặc trưng cơ bản của bảo trợ xã hội để nhận diện trong tương quan với các nội dung khác trong
hệ thống an sinh xã hội, theo đó:
- Đối tượng của bảo trợ xã hội bao gồm mọi người dân không có sự phân biệt khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh cần có sự giúp đỡ
để tồn tại;
- Nghĩa vụ đóng góp tài chính không đặt ra như một điều kiện cho việc thụ hưởng chế độ Khoản tài chính này được đảm bảo từ nguồn tài chính công
và sự giúp đỡ, đóng góp tự nguyện của cộng đồng;
- Mức trợ cấp được xác định trên cơ sở nhu cầu thực sự thiết yếu của đối tượng hưởng, có tính đến tình trạng kinh tế, thu nhập của họ
Trang 23- Mục đích trợ cấp bảo trợ xã hội nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng
mà không nhằm khôi phục lại mức sống trước khi gặp sự kiện rủi ro, bất hạnh
Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội cũng là nội dung khá mới mẻ, được đề cập nhiều trong mấy năm trở lại đây Khái niệm này được tiếp cận theo cả hai phạm vi rộng và hẹp Ở phạm vi rộng, nội dung của bảo trợ xã hội trùng với khái niệm an sinh xã hội theo quan điểm của ILO Ví dụ, Theo thuật ngữ lao
động- thương binh và xã hội “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế
độ, hoạt động của chính quyền nhà nước các cấp và hoạt động của cộng đồng
xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm mục tiêu giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần đảm bảo
ổn định và công bằng xã hội…” Theo cuốn “Bảo trợ xã hội cho các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam”, các tác giả cho rằng “bảo trợ xã hội là sự hỗ trợ trực tiếp cho các gia đình nghèo và dễ bị tổn thương, bảo hiểm xã hội và các hoạt động khác nhằm giảm tính dễ bị tổn thương gây ra bới những nguy cơ như thất nghiệp, tuổi già, khuyết tật” Trên cơ sở đó, các tác giả xác định nội dung
bảo trợ xã hội với từng nhóm đối tượng khó khăn Theo nghĩa rộng, bảo trợ
xã hội không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tài chính mà còn hướng tới những biện pháp đảm bảo cho đối tượng duy trì và thích nghi với điều kiện sống, tạo cơ hội cho sự vươn lên hòa nhập cộng đồng như sự hỗ trợ về y tế, giáo dục…
Theo nghĩa hẹp là cách hiểu bảo trợ xã hội trong mối liên hệ với hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam Theo đó, bảo trợ xã hội được xác định là một nội dung cấu thành hệ thống an sinh xã hội quốc gia, có nội dung chủ yếu là các khoản trợ cấp từ nguồn tài chính công cho các đối tượng khó khăn, bất hạnh…vì nhiều nguyên nhân khác nhau cần sự giúp đỡ để tồn tại và phát
triển Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam bảo trợ xã hội là “sự giúp đỡ
Trang 24bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ
có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc gia đình, sớm hòa nhập cộng đồng”
Tóm lại, dựa trên quan điểm chung của ILO và riêng ở Việt Nam, có thể hiểu bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng gặp phải rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp
họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Theo khái niệm này đối tượng bảo trợ xã hội chính là những người gặp khó khăn, rủi ro, biến cố, bất hạnh trong cuộc sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau cần có sự giúp đỡ Những đối tượng được kể đến đầu tiên trong hầu hết các quy định pháp luật bảo trợ
xã hội các quốc gia đều là nhóm người khuyết tật, người già cô đơn, trẻ em
mồ côi thiếu người nuôi dưỡng…
Người khuyết tật là một trong những đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội Do vậy, có thể hiểu bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
Bảo trợ xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của người khuyết tật nói riêng và còn có ý nghĩa đối với đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung Không đơn thuần dừng lại ở ý nghĩa về kinh tế như một
sự phân phối lại thu nhập xã hội một cách công bằng mà bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật còn có ý nghĩa về mặt xã hội, chính trị và pháp luật Cụ thể như sau:
Trang 25Dưới góc độ kinh tế, bảo trợ xã hội có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống của bản thân người khuyết tật nói riêng và gia đình của họ thông qua khoản
hỗ trợ, trợ cấp, góp phần đảm bảo cho nhu cầu sinh sống tối thiểu của người khuyết tật Chính sự giúp đỡ, và hỗ trợ này từ phía Nhà nước đã giúp họ duy
trì được mức sống tối thiểu và “trụ được” trong cuộc sống Sâu xa hơn nữa,
những sự giúp đỡ này là nguồn động viên, khích lệ những người khuyết tật có thể vươn lên, kiến tạo và phát huy những khả năng có thể để vươn lên đảm bảo cuộc sống và nâng cao đời sống Cũng từ góc độ kinh tế cho thấy, các khoản trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật còn có ý nghĩa là công
cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên yếu thế, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói Việc cung cấp các khoản trợ giúp xã hội từ nguồn tài chính công đó không vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận và mang ý nghĩa phân phối lại nhu nhập theo hướng công bằng, đảm bảo lợi ích xã hội đối với người khuyết tật nói riêng và toàn bộ dân chúng nói chung
Dưới góc độ chính trị xã hội, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật không chỉ thể hiện thái độ của Nhà nước đối với bộ phận dân chúng mà còn là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro, hạn chế về sức khỏe Được xây dựng trên sự tương trợ, hợp tác của cộng đồng trước những rủi ro, mất mát của mỗi cá nhân do đó mà bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói riêng và bảo trợ xã hội nói chung mang tính nhân văn sâu sắc Theo đó những bất hạnh, rủi ro trong cuộc sống của những người khuyết tật được cả cộng đồng gách vác thông qua nguồn chi trả từ tài chính công, đối tượng không phải đóng góp tài chính đảm bảo cho việc hưởng thụ Chính sự giúp đỡ của cả cộng đồng, phần nào đó sẽ giúp người khuyết tật thấy mình có giá trị, thấy mình cũng là thành viên của xã hội, chứ không phải
bị “bỏ rơi” vì những khiếm khuyết của sức khỏe
Trang 26Ngày nay, một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia đó là những phúc lợi xã hội trong đó có nội dung về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật Sự tồn tại của bộ phận người khuyết tật trong cộng đồng dân chúng và thái độ của nhà nước đối với họ là những khía cạnh thể hiện bản chất của Nhà nước Không chỉ dừng lại ở đó, vượt qua cả những rào cản chính trị, địa lí, bảo trợ xã hội cho người khuyết tật hiện nay thu hút được sự quan tâm của toàn thế giới vì những giá trị nhân bản của con người và đặc biệt có ý nghĩa trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo định hướng phát triển bền vững của quốc gia
Dưới góc độ pháp luật, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là một trong những nội dung của pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như những người bình thường khác
1.2.2 Khái niệm pháp luật bảo trợ xã hội cho người khuyết tật
Pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống Theo đó, pháp luật bảo trợ xã hội cho người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo trợ xã hội cho người khuyết tật Sự ra đời pháp luật bảo trợ xã hội nói chung và bảo trợ xã hội cho người khuyết tật nói riêng mang tính tất yếu bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội Căn cứ vào tính tất yếu phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội, Nhà nước sẽ ban hành các quy phạm pháp luật tương ứng Sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ bảo trợ xã hội nói chung, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói riêng không nằm ngoài nguyên lý chung đó Sự điều chỉnh này được thiết lập trên cơ sở đảm bảo quyền cơ bản của con người Thông qua pháp luật, các chính sách bảo trợ xã hội nói chung, bảo trợ xã hội cho người
Trang 27khuyết tật nói riêng được thể chế hóa thành các quy định pháp lý có tính bắt buộc thực hiện
Với chức năng xã hội của Nhà nước, thì bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước, chứ không đơn thuần là mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố đến những người chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của những người khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tương quan phát triển kinh tế- xã hội chung của cộng đồng
Thứ hai, xuất phát từ tầm quan trọng của bảo trợ xã hội đối với cuộc sống của người khuyết tật Bảo trợ xã hội thông qua và chủ yếu là sự hỗ trợ về tài chính giúp cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình người khuyết tật bớt đi phần nào khó khăn Bên cạnh đó, sự hỗ trợ này thể hiện thái
độ quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người khuyết tật giúp họ không còn cảm thấy tự ti, mặc cảm vì sự khiếm khuyết của mình Nhiều người khuyết tật từ đó sẽ ý thức được vai trò và vị trí của mình trong xã hội,
tự tin vươn lên trong cuộc sống học tập và lao động như những người bình thường, trở thành công dân tốt của xã hội
Thứ ba, do yêu cầu của quá trình hội nhập nên việc ban hành pháp luật
về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là tất yếu Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký cam kết tham gia Công ước về quyền của người khuyết tật Với tư cách là thành viên, Việt Nam phải có trách nhiệm rà soát, nội luật hóa các quy định của Công ước trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam nhằm tạo ra sự thống nhất quy định pháp luật trong nước với Công ước quốc tế
Thứ tư, pháp luật bảo trợ xã hội sẽ góp phần xóa đi tâm lý tự ti, mặc cảm của người khuyết tật, giúp họ vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Đa số những người khuyết tật đều có tâm lý tự ti, mặc cảm, cho rằng
Trang 28mình là người thừa của xã hội Chính sự quan tâm của cộng đồng, của Nhà nước thông qua những quy phạm mang tính bắt buộc của pháp luật giúp cho những người khuyết tật hiểu được vai trò, vị trí của họ trong cộng đồng, trong
xã hội
Chính những phân tích trên có thể thấy được rằng sự ra đời của pháp luật về bảo trợ xã hội nói chung và bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói riêng đó là một tất yếu
1.2.3 Nội dung pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Nội dung pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình bảo trợ
xã hội của chủ thể thực hiện chủ yếu là nhà nước và đối tượng hưởng chủ yếu
là người khuyết tật Nội dung pháp luật về vấn đề này chủ yếu xoay quanh các vấn đề chủ thể hưởng bảo trợ, chủ thể thực hiện; trình tự thủ tục hưởng bảo trợ; mức độ bảo trợ và tài chính thực hiện việc bảo trợ xã hội Trong phạm vi luận văn tác giả triển khai hướng nghiên cứu của mình theo các nội dung pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật đã đề cập ở trên
1.2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Nguyên tắc, theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [15, tr.694], do vậy bất cứ
hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đều phải đòi hỏi người thực hiện phải xác định được những nguyên tắc cơ bản và tuyệt đối tuân thủ
nó Theo lý luận về nhà nước và pháp luật, nguyên tắc của một ngành luật (hoặc một lĩnh vực pháp luật) thường được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý cơ bản chỉ đạo, định hướng cho hoạt động xây dựng và thực hiện các quy định của nó Như vậy, có thể hiểu nguyên tắc của lĩnh vực pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho quá trình xây dựng và thực thi pháp
Trang 29luật Bảo trợ xã hội là chế định pháp luật nằm trong pháp luật về an sinh xã hội, là hoạt động vừa mang tính pháp lý vừa tính thực tiễn cao do vậy cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật như sau:
Một là, nguyên tắc người khuyết tật có quyền được hưởng bảo trợ xã hội không có sự phân biệt theo tiêu chí nào Điều 67 Hiến pháp ghi nhận rõ quyền được hưởng bảo trợ xã hội của những người khuyết tật Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở việc các thành viên xã hội nếu bị khuyết tật đều có quyền hưởng bảo trợ xã hội mà không phân biệt về địa vị, kinh tế, tôn giáo, thành phần xã hội Tuy vậy, cũng không thể hiểu nguyên tắc này là sự cào bằng bình quân chủ nghĩa giữa những người khuyết tật Chính vì vậy mà pháp luật quy định cụ thể về điều kiện hưởng, mức hưởng các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho người khuyết tật đảm bảo công bằng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển Điều này lí giải cho thực tế là mặc dù quyền hưởng bảo trợ xã hội cho người khuyết tật được áp dụng cho tất cả mọi đối tượng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào nhưng để được hưởng các khoản trợ cấp, hỗ trợ của hệ thống bảo trợ xã hội, người khuyết tật còn phải đảm bảo các điều kiện hưởng
cụ thể
Hai là, nguyên tắc mức trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc và mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng Với mục đích không nhằm bù đắp hoặc thay thế thu nhập của đối tượng hay đảm bảo đời sống cho người khuyết tật với những yêu cầu định trước mà chỉ nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho đối tượng thoát khỏi tình trạng cuộc sống thường nhật bị
đe dọa, tạo cơ hội cho họ vươn lên khắc phục rủi ro, hòa nhập cộng đồng do vậy các khoản trợ cấp bảo trợ xã hội cho người khuyết tật không gắn với bất
cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài chính cho việc thụ hưởng Nói cách khác, để
Trang 30được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội, người khuyết tật không phải đóng góp tài chính đồng thời mức thu nhập, mức sống của họ trước khi bị khuyết tật cũng không phải là tiêu chí xác định mức hưởng Không phải trước khi bị khuyết tật đối tượng nào có thu nhập cao, mức sống cao hơn thì hưởng trợ cấp cao hơn và ngược lại Tiêu chí quan trọng để xác định mức hưởng trợ cấp cho người khuyết tật chính là mức độ của rủi ro khuyết tật và hoàn cảnh sống thực
tế của người khuyết tật Chẳng hạn, với những mức độ khuyết tật khác nhau
từ nặng, đặc biệt nặng, khuyết tật trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ khuyết tật mang thai…hay thậm chí có cùng mức độ khuyết tật nhưng hoàn cảnh sống
có sự khác nhau nhất định như có người chăm sóc, kinh tế gia đình khá giả hay không cũng là những căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp, hỗ trợ phù hợp Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa, mục đích của trợ cấp và đảm bảo công bằng cho người thụ hưởng
Ba là, nguyên tắc thực hiện bảo trợ xã hội cân đối giữa nhu cầu thực tế của người khuyết tập và phù hợp với khả năng đáp ứng điều kiện kinh tế xã hội Việc đáp ứng nhu cầu bảo trợ của người khuyết tật phải được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích của bảo trợ và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế xã hội khác Nếu mức trợ cấp quá cao so với khả năng đáp ứng thì thiếu tính khả thi, khó đảm bảo duy trì thực hiện và nếu thực hiện được có thể sẽ tạo tâm lí ỷ lại, trông chờ vào nguồn tài chính trợ giúp làm cản trở ý thức vươn lên, phát huy nội lực và kìm hãm sức phát triển của các cơ chế bảo vệ khác Ngược lại, nếu mức trợ cấp, hỗ trợ cho người khuyết tật quá thấp sẽ không đảm bảo được ý nghĩa và mục đích của bảo trợ
xã hội bởi xét cho cùng đây là lưới đỡ kinh tế cần kề nhất với cuộc sống của người khuyết tật và cũng thể hiện rõ nét nhất thái độ của nhà nước đối với nhóm người “yếu thế” trong xã hội Mặc dù vậy, về cơ bản việc cân đối giữa
Trang 31nhu cầu của người khuyết tật và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế cũng phải hướng tới yêu cầu đảm bảo nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống cho người khuyết tật trước những khó khăn của cuộc sống
Bốn là, nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, phát huy khả năng vươn lên hòa nhập cộng đồng Bên cạnh trách nhiệm chính của mình đối với cuộc sống của những người khuyết tật thông qua các khoản trợ cấp, hỗ trợ từ tài chính công, Nhà nước cũng huy động sự tham gia của cả cộng đồng và bản thân người khuyết tật Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có trách nhiệm với các thành viên khác và với chính bản thân mình trên cơ sở thương yêu, đùm bọc, che chở lẫn nhau Đây trở thành nền tảng của xã hội hóa hoạt động bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc xã hội hóa thực hiện bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được nhìn nhận theo chiều hướng tiến bộ Không phải bảo trợ xã hội cho người khuyết tật chỉ dừng lại ở những khoản trợ cấp
do nhà nước thực hiện mang tính ban phát, bao cấp mà hướng tới việc huy động nguồn lực và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến sự bảo vệ cao nhất cho người khuyết tật Điều này thể hiện rõ trong những quy định mang tính tùy nghi, điều chỉnh hoạt động của các hiệp hội từ thiện, các trung tâm bảo trợ, chăm sóc người khuyết tật… và cả những mô hình chăm sóc thay thế hiện đang thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng
1.2.3.2 Chủ thể được bảo trợ xã hội và chủ thể thực hiện chế độ bảo trợ
Trang 32nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”
Trong chế độ bảo trợ không phải tất cả người khuyết tật đều được hưởng chung một mức trợ cấp mà thường xác định theo thứ tự ưu tiên của mức độ khuyết tật từ nặng đến nhẹ Xuất phát từ sự đa dạng của các loại dạng tật, nguyên nhân của khuyết tật và những hạn chế của nó trong hoạt động của mỗi cá nhân dẫn đến những khó khăn trong việc đề ra các tiêu chí xác định đối tượng hưởng Theo thông lệ chung của quốc tế, tiêu chí độ suy giảm khả năng lao động được cho là tiêu chí quan trọng nhất đề xác định đối tượng hưởng trợ cấp, hỗ trợ Ngoài ra còn có tiêu chí về điều kiện kinh tế, thu nhập
và hoàn cảnh gia đình của đối tượng Việc cụ thể hóa các điều kiện hưởng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm kinh tế của quốc gia nhằm đảm bảo tài chính chi trả
Đối với những người khuyết tật đặc biệt nặng- không tự chăm sóc được bản thân, thì đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội không chỉ bao gồm bản thân người khuyết tật mà còn bao gồm cả những người trực tiếp nuôi dưỡng người khuyết tật (có thể là gia đình, có thể người nhận nuôi người khuyết tật)
và chính bản thân người khuyết tật đó nếu họ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi
Chủ thể thực hiện bảo trợ xã hội gồm nhiều đối tượng: Nhà nước, các
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, pháp luật bảo trợ xã hội cho người khuyết tật ghi nhận trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện việc bảo trợ trước hết của Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước Bên cạnh đó, Nhà nước kêu gọi, khuyến khích việc bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
Trang 331.2.3.3 Trình tự, thủ tục hưởng bảo trợ xã hội
Tùy theo loại bảo trợ xã hội nào được hưởng (trợ cấp hàng tháng, hay nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ) mà có các thủ tục khác nhau Tuy vậy, đều
có điểm chung là để được hưởng bảo trợ xã hội thì đối tượng hưởng phải có
hồ sơ đề nghị hưởng chế độ bảo trợ xã hội chứ Nhà nước không “tự tìm” tới các đối tượng để cho họ hưởng chế độ bảo trợ Điều này ở dưới góc độ nào đó
là hợp lý, tránh tình trạng khai man, khai khống để được hưởng chế độ bảo trợ, tránh lãng phí tài sản của Nhà nước
Để được hưởng bảo trợ xã hội từ Nhà nước, đối tượng phải đảm bảo hồ
sơ thủ tục với các quy định luật định như đơn đề nghị, sơ yếu lý lịch, biên bản họp hội đồng xét duyệt trợ cấp… Cơ quan hành chính Nhà nước cấp cơ sở (ở Việt Nam là Ủy ban nhân dân cấp xã) là cơ quan trực tiếp nhận hồ sơ của những đối tượng này Sau khi xét duyệt, hồ sơ sẽ được chuyển lên cơ quan quản lý cấp trên (Ủy ban nhân dân cấp huyện), Phòng chuyên trách (ở Việt Nam là Phòng lao động thương binh xã hội) có trách nhiệm thẩm định hồ sơ Người ký quyết định cấp giấy bảo trợ xã hội cho một ai đó có đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp xã hội hay không là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Như vậy, phải khẳng định rằng không phải tự nhiên những người khuyết tật đều được hưởng chế độ bảo trợ xã hội Yếu tố khuyết tật chỉ là yếu
tố cần cho việc hưởng chế độ Yếu tố đủ ở đây đó là phải có bộ hồ sơ hợp lệ
và quyết định của cấp có thẩm quyền về việc hưởng chế độ của những người khuyết tật
1.2.3.4 Mức hưởng bảo trợ xã hội
Phụ thuộc vào loại bảo trợ xã hội mà người khuyết tật được hưởng mà
có từng mức hưởng khác nhau
Trang 34Đa số pháp luật về bảo trợ xã hội các nước đều đề cập tới hình thức bảo trợ xã hội là trợ cấp nguồn kinh phí Mức trợ cấp không được quy định chi tiết trong Luật- văn bản pháp luật có hiệu lực cao mà quy định trong các văn bản hướng dẫn của cơ quan chuyên trách Mức trợ cấp được xác định và điều chỉnh trong tương quan mối quan hệ chung với mức trợ cấp của các đối tượng chính sách khác, phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước và điều kiện thực
tế Việc đưa ra con số cụ thể cho mức hưởng bảo trợ xã hội từng thời kỳ phải
tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc “thực hiện bảo trợ xã hội cân đối giữa nhu cầu thực tế của người khuyết tật và phù hợp với khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội” Mức trợ cấp quá cao sẽ gây ra tâm lý ỷ lại, trông chờ, còn
mức quá thấp sẽ không đảm bảo được mục đích của trợ cấp bảo trợ xã hội là
hỗ trợ, giúp đỡ ở mức độ cần thiết nhu cầu thiết yếu của cuộc sống người khuyết tật
Việc quy định mức trợ cấp cho đối tượng cũng không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa mà cần phải tính đến sự công bằng nhất định với nhu cầu trợ giúp thực tế của đối tượng Thông thường pháp luật các quốc gia sẽ quy định một mức trợ cấp thấp nhất (mức chuẩn) tương ứng với một tiêu chí nhất định nào đó (mức độ suy giảm sức khỏe, yếu tố hoàn cảnh gia đình, tuổi tác…), từ
đó làm cơ sở cho những mức trợ cấp cho những đối tượng khác
Ngoài ra, đối với những đối tượng khuyết tật khác nếu đáp ứng các điều kiện có thể được hưởng mức bảo trợ khác bên cạnh mức trợ cấp kinh phí như chi phí sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt hàng ngày; chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế; chi phí thuốc thang…
1.2.3.5 Nguồn tài chính thực hiện bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội cho người khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước nói riêng và của cả cộng đồng dân cư nói chung nên nguồn tài chính để thực hiện bảo trợ xã hội cho những đối tượng này hình thành từ ba nguồn chính là ngân
Trang 35sách Nhà nước, từ các cá nhân, tổ chức đoàn thể, hiệp hội trong nước và các Chính phủ, tổ chức, cá nhân nước ngoài Tuy vậy, trách nhiệm đối với hoạt động này trước hết và trên hết là trách nhiệm của Nhà nước nên nguồn tài chính chủ yếu cho bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là từ Ngân sách nhà nước
Nguồn tài chính thực hiện bảo trợ xã hội cho người khuyết tật không chỉ dừng lại ở mức trợ cấp cho các đối tượng hưởng mà còn bao gồm cả kinh phí đầu tư, xây dựng cơ bản cho các cơ sở bảo trợ xã hội, kinh phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật
Trang 36CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1 Đối tượng được bảo trợ xã hội
Luận văn chỉ phân tích pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nên phạm vi đối tượng được bảo trợ xã hội tác giả chỉ giới hạn là những người khuyết tật và những đối tượng liên quan tới người khuyết tật như nhân thân, gia đình, những người trực tiếp nuôi dưỡng người khuyết tật
Đối tượng người khuyết tật được hưởng bảo trợ xã hội ngày càng được
mở rộng Nếu như trước đây tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP, nghị định 13/2010/NĐ-CP thì những người tàn tật được bảo trợ xã hội theo diện trợ cấp hàng tháng gồm người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần…., sống độc thân không nơi nương tực hoặc gia đình thuộc hộ nghèo tuy thuộc đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội theo diện trợ cấp hàng tháng nhưng không được xác định là người tàn tật Quy định này chưa thực sự hợp lý bởi lẽ những người mắc bệnh tâm thần mãn tính có thể xem là những người khuyết tật về tinh thần, bên cạnh nhóm đối tượng khuyết tật về thể chất Tại Luật người khuyết tật 2010 thì xác định đối tượng được bảo trợ xã hội bao gồm người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng Liên quan tới đối tượng là những người mắc bệnh tâm thần thì Luật người khuyết tật không đề cập đến nhóm đối tượng này một các độc lập trong đối tượng hưởng song, từ góc độ khoa học và thực tiễn cho thấy cần phải xác định nhóm đối tượng này thuộc người khuyết tật thống nhất trong văn bản pháp luật
Điều kiện để người khuyết tật hưởng chế độ bảo trợ cũng thông thoáng hơn qua từng thời kỳ Nếu như tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP, ngoài điều kiện