1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp chủ yếu để xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa

43 956 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Chủ Yếu Để Xây Dựng Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa- Hiện Đại Hóa
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 218 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu con người- theo nghĩa chung nhất là bao gồm toàn bộ nội dung nghiên cứu của các khoa học, là lĩnh vực hàng đầu trong các tìm tòi khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn. Con người là vấn đề trung tâm của mọi Triết học, Triết học nào cũng hướng về con người và quay trở lại con người. Việc giải quyết nội dung xung quanh vấn đề con người là tiêu chí phân biệt tính chất tiến bộ hay không tiến bộ của các hệ thống triết học trong lịch sử. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta chỉ rõ: phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, coi khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, chính là sự quan tâm trước hết đến con người và vì con người. Triết học Mác- Lênin- được hình thành trên cơ sở kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, với tư tưởng khoa học, đúng đắn về con người, đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, sứ mệnh làm nên lịch sử của con người. Trong tư tưởng ấy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử. Và để có được những con người phát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nền khoa học- kỹ thuật hiện đại cùng nền giáo dục đào tạo phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, thứ IX và các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa với tư cách là đường lối phát triển tất yếu, khách quan theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững... Tăng trường kinh tế phải gắn với việc nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ, kết hợp đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhằm hình thành một đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ có tác phong công nghiệp, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, có ý thức phấn đấu vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chỉ với những con người có phẩm chất như vậy mới trở thành nguồn lực đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa,

Trang 1

MỤC LỤC

1 Mở đầu: 3

1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 3

1.2 Mục đích của đề tài: 4

2 Nội dung: 4

Chương 1: Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Quan niệm về con người: 4

2.1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 4

2.1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác 5

2.1.1.3 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về bản chất con người 7

2.1.2 Vai trò của con người trong đời sống xã hội, đặc biệt trong sản xuất xã hội 9

Chương 2: Vấn đề xây dựng con người để đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam 11

2.2.1 Thực chất quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam: 11

2.2.2 Mục tiêu cơ bản của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: 13

2.2.3 Tại sao cần phải xây dựng con người việt nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa? 14

2.2.4 Những yêu cầu đối với con người Việt Nam để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa 16

2.2.5 Thực trạng xây dựng con người Việt Nam từ khi đổi mới đến nay 17

2.2.6 Một số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng con người Việt Nam theo yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa 21

Trang 2

Chương 3: Các giải pháp chủ yếu để xây dựng con người Việt

Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa 24

2.3.1 Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục- đào tạo 24

2.3.2 Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ: 29

2.3.3 Xây dựng con người Việt Nam kết hợp với quá trình đổi mới kinh tế- xã hội 31

2.3.4 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong quá trình xây dựng con người 35

3 Kết luận 38

Chú thích 40

Danh mục tài liệu tham khảo 41

Trang 3

1 MỞ ĐẦU:

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu con người- theo nghĩa chung nhất là bao gồm toàn bộnội dung nghiên cứu của các khoa học, là lĩnh vực hàng đầu trong cáctìm tòi khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn

Con người là vấn đề trung tâm của mọi Triết học, Triết học nàocũng hướng về con người và quay trở lại con người Việc giải quyết nộidung xung quanh vấn đề con người là tiêu chí phân biệt tính chất tiến

bộ hay không tiến bộ của các hệ thống triết học trong lịch sử

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta chỉ rõ: pháttriển kinh tế, cải thiện cuộc sống, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, coi khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu, chính là sự quan tâm trước hết đến con người và vìcon người

Triết học Mác- Lênin- được hình thành trên cơ sở kế thừa những tưtưởng tiến bộ của nhân loại, với tư tưởng khoa học, đúng đắn về conngười, đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, sứ mệnh làm nên lịch sửcủa con người Trong tư tưởng ấy, con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực phát triển của lịch sử Và để có được những con người pháttriển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nềnkhoa học- kỹ thuật hiện đại cùng nền giáo dục đào tạo phát triển

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, thứ IX và các Hội nghịBan chấp hành Trung ương, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Côngnghiệp hóa gắn với hiện đại hóa với tư cách là đường lối phát triển tấtyếu, khách quan theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải lấy việc pháthuy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững Tăng trường kinh tế phải gắn với việc nângcao chất lượng cuộc sống, phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dântrí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ, kết hợp đàotạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp với bồi dưỡng phẩm chất đạo đứcnhằm hình thành một đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 4

có tác phong công nghiệp, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, có ýthức phấn đấu vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.Chỉ với những con người có phẩm chất như vậy mới trở thành nguồnlực đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa,

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu đề tài thứ nhất là dể giúp ta hiểu rõ được bản chất conngười qua cách nhìn nhận của các hệ tư tưởng triết học khác nhau, nhậnthức được vai trò của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiệnđại hóa Thứ đến là giúp ta nắm được thực trạng vấn đề con ngườitrong thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam cùng vớinhững bất cập này sinh; qua thực trạng đó, đề ra những biện pháp khắcphục, đề ra kế hoạch, phương huớng đào tạo con người phục vụ choquá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở nước ta

2 NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI:

2.1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồigiáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm,thần bí hoặc nhị nguyên luận Trong triết học phật giáo, con người là

sự kết hợp giữa danh và sắc( vật chất và tinh thần) Đời sống con ngườitrên trần thế chỉ là ảo giác hư vô Vì vậy cuộc đời con người khi cònsống chỉ là sống gửi, là tạm bợ Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tớicõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bấtdiệt

Trong Triết học phương Đông, do ảnh hưởng bởi thế giới quan duytâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lãogiáo, quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phongphú Khổng Tử cho bản chất con người do "thiên mệnh" chi phối, quyết

Trang 5

định, đức "nhân" chính là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt làngười quân tử Mạnh Tử quy tính thiện của con người vào năng lựcbẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bịnhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp Vì vậy, phải thông qua tu dưỡng, rènluyện để giữ được đạo đức của mình Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tửcho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con ngườihướng tới các giá trị đạo đức tốt đẹp.

Triết học Tuân Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác,nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mớitốt được

Đổng Trọng Thư- người kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duytâm cực đoan quan niệm trời và con người có thể thông hiểu lẫn nhau

Lão Tử- người mở đầu cho trường phái Đạo gia, cho rằng con ngườisinh ra từ "Đạo" Do vậy, con người cần phải sống "vô vi", theo lẽ tựnhiên, thuần phác, không hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tựnhiên Quan niệm này biều hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triếthọc Đạo gia

Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu

tố duy tâm có pha trộn tính chất duy vật chất phác, ngây thơ trong mốiquan hệ với tự nhiên và xã hội

2.1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác

Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khácnhau về con người:

Các trường phái triết học phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo, nhậnthức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí TrongKitô giáo, con người là kẻ có thể xác, thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồnthì tồn tại vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao trong con người Vì vậyphải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiên đườngvĩnh cửu

Trang 6

Trong triết học Hy Lạp cổ, con người được xem là điểm khởi đầucủa tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gươngphản chiếu lẫn nhau Con người là một tiểu vũ trụ bao la.

Theo Arixtốt, con người chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năngkhiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thangbậc cao nhất của vũ trụ

Triết học Hy Lạp đã có sự phân biệt con người với tự nhiên nhưngchỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người

Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng

đế sáng tạo ra, mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của conngười đều do Thượng đế xếp đặt

Triết học thời kỳ phục hưng- cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ,

lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó làmột trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọigông cùm chật hẹp mà theo chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặtcho con người Tuy nhiên vẫn chưa trường phái nào nhận thức đượcđầy đủ về bản chất con người cả về mặt sinh học và mặt xã hội Conngười mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội

Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng nhưCantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynhhướng của chủ nghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duytâm khách quan, thông qua sự vận động của "ý niêm tuyệt đối", đã chorằng con người là hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" Hêghen cũng làngừoi trình bày một cách có hệ thống về các quy luật tư duy của conngười, làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạtđộng của con người Hêghen là người khẳng định vai trò chủ thể củacon người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển củalịch sử

Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạnchế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người mộtcách đích thực Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, siêu vậtchất, phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồngthời khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên

Trang 7

Con người và tự nhiên là thống nhất không thể tách rời Phoiơbắc đềcao vai trò trí tuệ của con người với tính cách là các cá thể người Đó

là những con người cá biệt, phong phú, đa dạng, không ai giống ai.Quan niệm này đều dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên,cảm tính nhằm giải phóng cá nhân con người Tuy nhiên, Phoiơbắckhông thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách conngười khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể

Các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù là đứngtrên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hay duy vật siêuhình, đều không phản ánh đúng bản chất con người Nhìn chung, cácquan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đốihóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên-sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người

2.1.1.3 Quan niệm của Triết học Mác- Lênin về bản chất con người

Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã

hội

Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết

học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữayếu tố sinh học và yếu tố xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩmcủa thế giới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang cả bảntính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiệnđầu tiên quy định sự tồn tại của con người Con người là một bộ phậncủa tự nhiên

Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sảnphẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Cácgiai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, pháttriển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người.Như vậy, con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trongnhững cá nhân con người sống là tổ chức cơ thể của con người và mốiquan hệ của nó đối với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm

Trang 8

sinh học, quá trình tâm lý- sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhaunói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bảnchất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với vớithế giới loài vật là mặt xã hội Với phương pháp biện chứng duy vật,triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể,trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề laođộng sản xuất ra của cải vật chất Thông qua sản xuất vật chất conngười đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ thế giới tự nhiên Tính xã hộicủa con người biểu hiện trong hoạt động lao động sản xuất vật chất;hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hộicủa con người Thông qua hoạt động sản xuất, con người sản xuất racủa cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành

và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập mối quan hệ xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luậtkhác nhau, nhưng thống nhất với nhau: Hệ thống các quy luật tự nhiên,

hệ thống các quy luật tâm lý, hệ thống các quy luật xã hội Ba hệ thốngquy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trongđời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội

Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên

luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc:"Bản chất con người không

phải cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thựccủa nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"

Trang 9

Luận đề trên khẳng định rằng không có con người trừu tượng, thoát

ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụthể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Trongđiều kiện lịch sử cụ đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con ngườitạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thểlực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mói quan hệ xã hội đó conngười mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử:

Không có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thỉ không tồn tạicon người, Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóalâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là con ngườiluôn luôn là chủ thể của lịch sử- xã hội

Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vậnđộng phát triển của lịch sử xã hội

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng đồng thời tạo ralịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời cũng làchủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người

Mặc dù là "tổng hòa các mối quan hệ xã hội", con người có vai tròtích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thôngqua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Cóthể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tươngứng với sự vận động và biến đổi của bản chất con người

Vì vậy để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cầnphải làm cho hoàn cảnh mang tính người nhiều hơn, Hoàn cảnh đóchính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con ngườitheo khuynh huớng phát triển nhằm đặt tới các giá trị có tính mục đích,

tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục

2.1.2 VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, ĐẶC BIỆT TRONG SẢN XUẤT XÃ HỘI

Trang 10

Hơn một trăm năm trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sửcủa xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế

xã hội, Các Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của conngười làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội Các Mác cho rằng,

xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sựphát triển của lực lượng sản xuất bao gồm con người và những công cụlao động do con người tạo ra Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự

nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếmlĩnh và sử dụng ngày càng nhiều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sởvật chất cho hoạt đoọng sống của chính con người Chúng ta biết rằngsản xuất là quá trình hoạt động thực tiễn cơ bản của con người nhằmthoả mãn những nhu cầu của mình Sản xuất quyết định nhu cầu nhưngkhông có nhu cầu thì cũng không có sản xuất Nhu cầu của con ngườităng lên không ngừng, do đó mà con người luôn luôn phát triển sảnxuất vì muốn nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất,giảm nhẹ lao động Vì vậy có thể nói, trong quá trình hoạt động, trướchết và quan trọng hơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ óc và bàntay con người không ngừng hoàn thiện Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ

sở, là nguồn vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp,tinh vi, đa dạng, phong phú của con người, đưa đến sự thay đổi liên tục

cơ sở vật chất và kỹ thuật của xã hội Sự phát triển hoàn thiện khôngngừng của trí tuệ con người đã được thể hiện bằng việc truyền đạt, tàngtrữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệkhác và được ghi nhận nhân cách cụ thể, trước hết ở sự biến đổi củacông cụ sản xuất Hay nói cách khác, sức mạnh trí tuệ con người khôngngừng được vật thể hoá trong công cụ sản xuất, trong lực lượng sảnxuất nói chung Tính vô tận của trí tuệ con người được biểu hiện ở sựbiến đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công

cụ sản xuất trong quá trình phát triển của xã hội Những cuộc cáchmạng lực lượng sản xuất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loàingười là những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn củacông cụ sản xuất: từ lửa đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơkhí máy móc và công nghệ trí tuệ ngày nay Tất cả những điều đóchứng tỏ rằng con người với bàn tay và khối óc của mình là nhân tốthúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất

Nhưng bên cạnh vai trò con người là chủ thể của hoạt động sảnxuất, là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượngsảnxuất của xã hội, con người còn là chủ thể hoạt động của quá trình lịch

Trang 11

sử Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch

sử của chính mình, sáng tạo ra lịch sử của xã hội loài người Kết quả là

xã hội loài người đã bước từ thời đại văn minh này sang thời đại vănminh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự nhiên

Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóacủa sản xuất ngày càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằnglực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc

đó mang lại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới Các Mác đãkhẳng định: sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội trước hết có ýnghĩa là "sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như làmột mục đích tự thân"(1) Bởi vậy theo Các Mác, ý nghĩa lịch sử, mụcđích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con người toàn diện,nâng cao năng lực và phẩm giá của con người, giải phóng con người,loại trừ ra khỏi cuộc sống con người mọi sự tha hoá để con người sốngvới cuộc sống đích thực của mình

Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ cócon người-yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hộimới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành cônghay thất bại Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự pháttriển, sự đổi mới này Hay nói cách khác, công cuộc đổi mới đất nước

mà cụ thể là công nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộcvào con người và vì con người

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI ĐỂ ĐÁP ỨNG

CHO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

2.2.1 THỰC CHẤT QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay,công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là giai đoạn phát triển tấtyếu mà mỗi quốc gia sớm muộn đều phải trải qua, là hiện tượng có tính

Trang 12

quy luật phổ biến trong tiến trình vận động và phát triển của đất nước,nhất là đối với những quốc gia đang phát triển muốn vươn lên thànhnước có trình độ phát triển cao Vấn đề đặt ra đối với các nước này làthưc hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa như thế nào để có hiệu quảnhất, với thời gian ngắn nhất và rút ngắn được khoảng cách so với cácnước phát triển.

Ở nước ta, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành

từ những năm 60 của thế kỷ 20 theo đường lối mà Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III của Đảng đã đề ra Tại đại hội đại biểu toàn quốc lầnthức III, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: công nghiệp hóa, hiệnđại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Đến nay, nhiệm vụ đó vẫn được coi là nhiệm vụ trungtâm khi chúng ta đã bước sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa

Trong bối cảnh lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, công nghiệp

hóa, hiện đại hóa về thực chất, là:"Quá trình chuyển đổi căn bản toàn

diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại , dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao (2) "

Quan điểm này, về cơ bản, đã phản ánh được phạm vi rộng lớn của

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chỉ ra được cái cốt lõi của sựnghiệp cách mạng này ở nước ta là cải biến lao động thủ công, lạc hậuthành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, nhằm đạt tới năngsuất lao động xã hội cao, gắn được công nghiệp hóa với hiện đại hóa,xác định được vai trò của công nghiệp hóa và khoa học- công nghệtrong giai đoạn hiện nay

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là những hình thức đặc biệt của quátrình phát triển kinh tế- xã hội

"Hiện đại hóa" với đúng nghĩa của nó là làm cho một cái gì đó mangtính chất của thời đại ngày nay Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân làlàm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế- kỹthuật được hiện đại hóa Ngoài ra, hiện đại hóa còn bao hàm cả phương

Trang 13

diện kinh tế- xã hội Như vậy hiện đại hóa là một khái niệm có nộidung rộng lớn, là quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành một xãhội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở nềnkinh tế phát triển với nhịp độ tăng tổng sản phẩm chung tính theo đầungười mà còn ở đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội Nótạo ra những điều kiện hiện thực để đưa xã hội lên trình độ hiện đại vàgóp phần thực hiện những giá trị phát triển cao của nhân loại vào cuộcsống.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang đưa tới sựthay đổi triệt để về chất chất trong kỹ thuật và công nghệ sản xuất Bởivậy, quá trình công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm khác với quátrình công nghiệp hóa của các nước đi trước Một điều rõ ràng là chúng

ta không thể thực hiện xong xuôi quá trình công nghiệp hóa với nộidung căn bản là cơ khí hóa các ngành sản xuất của nền kinh tế quốcdân rồi mới tiến hành hiện đại hóa Hơn nữa, khi thực hiện cơ khí hóacũng không thể sử dụng máy móc lạc hậu được sản xuất trước đây, màphải sử dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến hiện nay Với ýnghĩa đó, công nghiệp hóa trong điều kiện hiện nay đã bao hàm nhữngnội dung của hiện đại hóa, công nghiệp hóa phải đi liền với hiện đạihóa

Công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa sẽ mở ra con đường tắt,rút ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển so với các nướctiên tiến Đó chính là đặc điểm mới của công nghiệp hóa

Đảng ta xác định nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa có

cả "thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau Chúng taphải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc tạo

ra thế và lực mới, đồng thời luôn luôn tỉnh táo kiên quyết đẩy lùi vàkhắc phục các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảmphát triển đúng hướng(3)"

Cùng việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa

xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa phải nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,đưa nước ta thành nước công nghiệp, tăng trưởng kinh tế đi liền vớităng trưởng văn hóa, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhândân

Trang 14

Đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên cơ sở "kiênđịnh mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội", vì mục tiêu "dângiàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

2.2.2 MỤC TIÊU CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM:

Có thể khái quát mục tiêu cơ bản của quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hóa ở nước ta như sau:

Thứ nhất, phấn đấu trong vòng 15-20 năm tới, xây dựng nước ta

thành một nước công nghiệp, kinh tế mạnh, tăng trưởng nhanh và bềnvững, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, sao cho nó có thểchiếm 90%GDP- một cơ cấu kinh tế mà các nước phát triển đã đạtđược

Thứ hai, xây dựng con người Việt Nam hiện đại, mà trước hết là đội

ngũ những con người lao động có kỹ thuật, kỷ luật, có kỹ năng laođộng thuần thục, trong đó, cần phải nhanh chóng tạo ra một lực lượngtrí thức đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đủsức giải quyết những vấn đề đặt ra về sự phát triển xã hội, thực hiệnthành công sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khôngngừng nâng cao năng suất lao động , tăng hàm lượng chất xám trongmột đơn vị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế thông quaquan hệ đối ngoại và xuất khẩu

Thứ ba, trên cơ sở xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phấn đấu xây

dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho mỗi công dân,mỗi tập thể đều được bình đẳng góp tài năng vào việc phát triển đấtnước và hưởng thụ những giá trị tương xứng với công sức của họ

Thứ tư, trên cơ sở phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao

lĩnh vực dịch vụ, chúng ta cần nỗ lực xây dựng một xã hội hiện đại,năng động, có khả năng "tự đề kháng, tự điều tiết và tự phát triển", "tựthích nghi" để rồi vượt qua thử thách, nhanh chóng hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực, từng bước phát triển kinh tế tri thức, đủ sức cạnhtranh, xây dựng một xã hội hiện đại với một nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, một nền văn minh cao thể hiện trên tất cả các lĩnhvực, nâng cao dân trí, trình độ khoa học- công nghệ cho tất cả mọi tầng

Trang 15

lớp nhân dân, làm cho họ có lối sống, mức sống và khả năng hoạt độngvăn hóa và văn minh của thời đại Chúng ta không thể xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội trên một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và cũng

sẽ không thể có được một xã hội tốt đẹp, nếu nhân dân ta chưa có đượccuộc sống ấm no, hạnh phúc, trình độ văn hóa cao, tay nghề vững; nếutrình độ dân trí chưa cao

2.2.3 TẠI SAO CẦN PHẢI XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA?

Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, lịch sử nhân loại, xét đếncùng, là lịch sử giải quyết vấn đề con người, từng bước thoát khỏi thầnquyền và bạo quyền để đi đến mục tiêu cuối cùng là phát triển toàndiện cá nhân trong một xã hội văn minh Không một dân tộc nào tồn tại

và phát triển lại không chú ý tới vấn đề con người, có điều khác nhau ởmục đích và phương pháp giải quyết mà thôi Ngày nay, ở nước ta,cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước và bước vào giai đoạnđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc xây dựng con người ViệtNam hiện đại là đòi hỏi cấp bách, có thể khẳng định điều đó là do:

Thứ nhất, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam, như Đảng ta đã chỉ rõ, là tạo ra một xã hội mà trong

đó, con người được giải phóng, nhân dân lao động làm chủ đất nước, cónền kinh tế phát triển cao và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc; mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, công bằng xã hội vàdân chủ được đảm bảo

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm mục đích phát triển kinh

tế-xã hội và lấy đó làm môi trường để phát triển toàn diện con người Pháttriển con người là đặc trưng bản chất của công nghiệp hóa, hiện đạihóa xã hội chủ nghĩa; là mục tiêu, động lực cơ bản của quá trình đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ hai, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của quá trình

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Con người không thể chọn cho mình một xã hội để sinh ra, song xãhội phải đào luyện những con người phù hợp với yêu cầu tồn tại và

Trang 16

phát triển của nó Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng hoàncảnh đó là do chính con người tái tạo ra Sự phù hợp giữa con người vàhoàn cảnh chỉ được hiểu thông qua hoạt động thực tiễn.

Ngày nay trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu

tố hàng đầu , yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuấtcủa xã hội, mà hơn nữa, nó đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quátrình lịch sử của mình Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa cá nhân vừa là sản phẩm, vừa là kẻ sáng tạo nội dung cácquan hệ xã hội, vừa bị quy định, vừa "tự do"; và theo một ý nghĩa nhấtđịnh nào đó, vừa là điểm kết thúc vừa là điểm xuất phát

Thứ ba, phát huy nguồn lực con người là vấn đề chiến lược trong

quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chúng ta chỉ có một lối ra duy nhất trong thời đại cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại, là phát huy nguồn lực con người Sự đi lêncủa chúng ta phải dựa vào thế mạnh duy nhất của mình, đó là con ngườiViệt Nam, trí tuệ Việt Nam, tiềm năng chất xám Việt Nam Nghị quyếtHội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định:Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triểnmạnh giáo dục- đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bảncủa sự phát triển nhanh và bền vững

2.2.4 NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐỂ ĐÁP ỨNG

SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA

Trong "Đường cách mệnh", chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành bài mở

đầu cho vấn đề đào tạo những "hạt giống" đầu tiên cho cách mạng.Người cho rằng, muốn làm cách mạng, trước hết cần phải có những conngười có đầy đủ phẩm chất cách mạng Và, chính Người là một mẫumực tuyệt vời về một con người chân chính Đã có rất nhiều cán bộ củaĐảng, những chiến sĩ cộng sản trung kiên đã nêu những tấm gươngsáng ngời, những hình ảnh tiêu biểu cho con người Việt Nam mới.Song chỉ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, xây dựng chủnghĩa xã hội thì mới có điều kiện xây dựng con người mới trong đôngđảo quần chúng Ngày nay, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, hướng vào mục đích "dân giàu, nước mạnh, xã

Trang 17

hội công bằng, dân chủ, văn minh" theo định hướng xã hội chủ nghĩa,con người Việt Nam- mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế- xãhội cũng phải có những đặc trưng mới, theo yêu cầu mới để có thể gópphần tốt nhất vào sự nghiệp xây dựng đất nước, phát huy nhiều nhấtnhững tiềm năng của bản thân Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựngcon người Việt Nam hiện đại như thế nào để không rơi vào ảo tưởng,

để tiến hành và đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa

sự nghiệp đó đến thành công?

Đảng ta đã định hướng phát triển con người Việt Nam trong giaiđoạn cách mạng mới là xây dựng con người Việt Nam với những đứctính sau:

- "Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏinghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấutranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có

ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sángtạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn,trình độ thẩm mĩ và thể lực(4)"

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là nhằm xâydựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ và văn minh Chính vì vậy, con người Việt Namcần phải có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức, tư cách tốt; có ýthức tổ chức kỷ luật cao; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vàdám chịu trách nhiệm Định hướng đó không chỉ nhằm xây dựng mộtnền tảng tinh thần vững chắc cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội

Trang 18

chủ nghĩa, mà còn nhằm tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ, bền vững chocông cuộc xây dựng đất nước.

2.2.5 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Trong suốt quá trình phát triển cách mạng nước ta, Đảng ta và chủtịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những quan điểm của trỉết họcMác- Lênin về con người vào việc xây dựng con người Việt Nam mớiphù hợp với điều kiện nước ta Những định hướng phẩm chất của conngười Việt Nam được đề cập trong các văn kiện của Đảng ta trong việcđẩy mạnh công tác giáo dục Trên thực tế Đảng ta đã thường xuyên đổimới công tác giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách các thế

hệ con người Việt Nam phục vụ công cuộc kháng chiến và xây dựngđất nước

Ngay từ những ngày đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội trên đất nước ta, Đảng ta đã khẳng định "con người là vốn quý

nhất", chăm lo cho hạnh phúc của tất cả mọi người là sự nghiệp lớn lao

của Đảng Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, khi thông quađường lối chính sách đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Đại

hội VI(1986), Đảng ta đã khẳng định vai trò quan trọng của " nhân tố

con người" trong toàn bộ sự phát triển kinh tế- xã hội Đại hội

VII(1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược

ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000.Tại đại hội này,

Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh

tế-xã hội, xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa tế-xã hội.Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư( khóa VII) đãnâng tầm nhận thức của Đảng ta lên cao hơn về vai trò của con người

Sự phát triển con người được xem như là nhân tố quyết định mọi sựphát triển- phát triển xã hội, phát triển, phát triển kinh tế, phát triểnvăn hóa Trong các quan điểm về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, Đảng ta đã đúc kết và khẳng định "lấy việc phát huy nguồn lực

con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững".Khẳng

định này, một lần nữa, đã được Đảng ta nhấn mạnh tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX

Trang 19

"Đổi mới" là một quá trình cải biến cách mạng Đặc điểm cơ bảncủa quá trình này là chủ thể của nó phải thay đổi chính bản thân mình,xóa bỏ những lực cản trong xã hội và trong mỗi con người Thực tiễnchứng minh, không phải bộ máy, cũng không phải khâu nào khác trong

hệ thống chính trị với tầm quan trọng của nó, mà chính là con ngườivới phẩm chất và năng lực nhất định quyết định sức mạnh của đổi mới

Chặng đường đổi mới vừa là một giai đoạn có ý nghĩa hết sức quantrọng trong sự phát triển đất nước Đảng ta khẳng định:"Đến nay, thế

và lực của đất nước ta đã có sự biến đổi rõ rệt về chất Nước ta đã ra

khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15

năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo ra tiền đề cầnthiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước"

Về một số thành tựu cơ bản: nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ

tăng GDP hàng năm trong thời kỳ 1991-1995 là 8,2% Lạm phát bị đẩylùi từ 77,4%(1986) xuống còn 12,7%(1995) Sự chuyển đổi từ cơ chế

kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã giảiphóng sức sản xuất Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và tiếp cận vớicông nghệ sản xuất tiên tiến của nhiểu nước trên thế giới Đại bộ phậnnhân dân có đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, trình độ dântrí và mức hưởng thụ văn hóa khá hơn trước Ở đây, người lao động đãđược giải phóng từng bước khỏi sự ràng buộc của cơ chế cũ, phát huyđược quyền làm chủ và tính năng động, sáng tạo trong các hoạt độngkinh tế, văn hóa, xã hội Việc thực hiện chế độ dân chủ trong Đảng vàtrong xã hội được đẩy mạnh đã phát huy được trí tuệ tập thể, phát huysức mạnh đoàn kết, sức mạnh tổng hợp của nhân dân Chính sách xãhội ngày càng được hoàn thiện và hướng vào con người, tạo ra nhữngđộng lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, phát triển đất nước

Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ ngày càng đượckhẳng định Những thành tựu trên cho thấy công cuộc đổi mới toàndiện đất nước, trong đó đổi mới tư duy là khâu đột phá, đổi mới kinh tế

là trọng tâm, đổi mới chính trị từng bước, đã tạo nên bước nhảy vọtlớn Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xét về lĩnh vực phát huy nguồn lựccon người, công cuộc đổi mới đã đạt những thành tựu đáng kể và vô

Trang 20

cùng quan trọng Khảo sát tình hình phát triển con người Việt Namtrong những năm đổi mới vừa qua cho thấy:

Về thể lực và sức khỏe, khi nền kinh tế- xã hội có bước phát triển

thì tình trạng sức khỏe của con người ngày càng được cải thiện Theođánh giá của tổ chức Y tế thế giới, tuy Việt Nam có thu nhập bình quântheo đầu người vào nhóm thấp nhất thế giới, nhưng về mặt sức khỏe đạtloại trung bình(73/150 nước) Chúng ta đều hiểu rằng sự phát triển vềmặt thể lực, sức khỏe là cơ sở để phát triển toàn diện toàn diện conngười, sự lành mạnh về thể xác và tâm hồn là điều kiện quan trọng cho

sự phát triển hài hòa các phẩm chất, năng lực của con người

Về sự phát triển trí tuệ của con người Việt Nam:

Sự phát triển này được biểu hiện qua nhiều chỉ số như: trình độ học

vấn, kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn, kỹ năngnghề nghiệp Hiện nay, cả nước có gần 20 triệu học sinh các cấp Hiệntại ta đã có 35 sinh viên trên 10.000 dân Cả nước có số lượng 8.000tiến sĩ và hàng vạn thạc sĩ Biểu hiện đáng mừng là chúng ta liên tiếpgiành được nhiều giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế vềtoán, lý, hóa, tin học, sinh vật

Mặt khác, trình độ chuyên môn không ngừng được nâng cao, kỹnăng nghề nghiệp ngày càng tinh thông Con người Việt Nam đã từngbước làm chủ được những dây chuyền công nghệ, giải pháp kỹ thuậtđòi hỏi tay nghề cao

Tuy nhiên, sự phát triển về mặt trí tuệ của con người Việt Nam hiệnnay cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: trí lực con người đã

có bước phát triển, song không đều và chất lượng chưa cao, mức chênhlệch về trình độ học vấn giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn, cán

bộ khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn, số người thật sự có năng lực

về trí tuệ, đủ sức đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn

Đến nay, cả nước chưa phổ cập xong trình độ tiểu học Độ vênhgiữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội-nhân văn khá lớn trong mỗicon người, nhất là tầng lớp trẻ do sớm học lệch, học tủ, học để đi thi;

do nội dung, phương thức đào tạo chưa phù hợp, thiếu đồng bộ Điều

Trang 21

đó đã hạn chế sự phát triển về năng lực trí tuệ con người Việt Nam,nhất là thanh niên.

Nhìn chung, sau những năm đổi mới, sự đầu tư của Nhà nước vàogiáo dục- đào tạo, vào chính sách xã hội ngày càng nhiều Sự cạnhtranh về việc làm trong nền kinh tế thị trường ngày càng căng thẳng, xãhội ngày càng đánh giá cao giá trị của lao động trí tuệ cũng như sựvươn lên của cá nhân để chiếm lĩnh tri thức tiên tiến Tất cả những điều

đó là những yếu tố tạo nên trí lực của con người Việt Nam, làm cho trílực ấy được phát triển ở mức độ nhất định Đó là con người năng động,nhạy bén, nắm bắt những cái mới, có nhiều cách làm sáng tạo để giảiquyết các vấn đề đặt ra; dám nghĩ , dám làm, dám chịu trách nhiệm,ngày càng trưởng thành trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, công nghệ,văn hóa, xã hội

Về tư tưởng, đạo đức cách mạng

Lý tưởng và đạo đức cách mạng là vấn đề vô cùng quan trọng,không thể thiếu trong nhân cách của con người Việt Nam hiệnnay.Thành tựu lớn lao trong sự nghiệp giáo dục- đào tạo, xây dựng conngười Việt Nam là chúng ta đã từng bước tạo lập, xây dựng những conngười có lý tưởng cách mạng, đạo đức trong sáng, từng bước đáp ứngyêu cầu của nhiệm vụ cách mạng

Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế- xã hội đã tác độngmạnh mẽ đến nhận thức và hành động của con người Việt Nam, ảnhhưởng đến lý tưởng và hành vi đạo đức của họ Các kết quả điều tra,nghiên cứu xã hội những năm qua cho thấy, cùng với quá trình đổi mới,

mở cửa, hội nhập, giao lưu với con người, thang giá trị của con ngườiViệt Nam cũng bị biến đổi, khúc xạ theo cả hai hướng tích cực và tiêucực Bên cạnh mặt tích cực trong việc định hướng vào các giá trị chungcủa nhân loại( hòa bình, tự do, sức khỏe, việc làm, công lý, học vấn, anninh, niềm tin, nghề nghiệp ), các giá trị của truyền thống dântộc( lòng yêu nước, nhân ái, tính tập thể, cộng đồng, tình nghĩa, hiếuhọc, càn cù, sáng tạo ) đã xuất hiện xu hướng xem nặng vật chất, xemnhẹ giá trị tinh thần; xem nặng giá trị hiện đại, ngoại lai, xem nhẹ giátrị truyền thống, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; coi trọng vai trò của

kỹ thuật, xem nhẹ vai trò của con người; đặt lên quá cao lợi ích cá nhân

mà xem nhẹ lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng

Ngày đăng: 01/08/2013, 13:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Triết học Mác- Lênin - NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác- Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
2. Tổng cục thống kê- Niên giám thống kê 1995 - NXB Thống kê, Hà Nội-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1995
Nhà XB: NXB Thống kê
3. Vũ Thiện Vương- Triết học Mác- Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại hóa - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác- Lênin về con người và việc xâydựng con người Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Vũ Thiện Vương- Con người- chủ thể sáng tạo lịch sử- , Tạp chí Triết học, số 3(115), 6/2000, tr 29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người- chủ thể sáng tạo lịch sử-
5. Trần Hữu Tiến- Vấn đề con người, cá nhân, xã hội trong học thuyết của Mác,Tạp chí cộng sản 1/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người, cá nhân, xã hội trong học thuyếtcủa Mác
6. Võ Đại Lược- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam đầu năm 2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w