1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

24 401 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), Việt Nam được xếp là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển thấp kém nhất trên thế giới, đó là một nền kinh tế què quặt, lạc hậu, sản xuất nhỏ, lẻ, và nông nghiệp là chủ yếu. Nhưng ở thời kỳ này, với sự xuất hiện của các nhà tư bản Pháp, các Công ty của Pháp, cùng với sự giao lưu hàng hoá giữa nước Việt Nam thuộc địa với các nước khác thì nền kinh tế Việt Nam cũng đã được coi là một nền kinh tế hàng hoá ở dạng sơ khai. Cách mạng Tháng 8 (8/1945) thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, nhưng không giống các quốc gia khác chúng ta không có điều kiện để khôi phục và xây dựng kinh tế mà gần như ngay lập tức chúng ta lại phải chịu đựng cảnh chiến tranh. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) nền kinh tế của chúng ta không thể phát triển một cách toàn diện, mà đó chỉ là một nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp, lấy sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp là chính với mục đích trước tiên là phục vụ kháng chiến. Hiệp định Giơ nevơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết, nhưng tưởng chúng ta được sống trong hoà bình để phát triển kinh tế, nhưng không chúng ta lại phải trải qua một cuộc chiến tranh dài 20 năm (1955- 1975) đất nước bị chia cắt làm hai miền Bắc, Nam với hai chế độ chính trị, hai mô hình kinh tế khác nhau. Miền Bắc đi lên xã hội chủ nghĩa với mô hình kinh tế quản lý tập trung bao cấp bao cấp giống các nước xã hội chủ nghĩa khác, miền Nam đi theo mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tuy vậy trong điều kiện bị chi phối bởi qui luật của chiến tranh hai mô hình này cũng không mang đầy đủ đặc trưng và ý nghĩa của nó. Ở miền Bắc chúng ta không thể tập trung toàn bộ sức lực cho phát triển kinh tế mà chúng ta phải chi viện lớn về người và của cho miền Nam, hơn nữa miền Bắc cũng phải chịu sự tấn công bằng hải quân và không quân Mỹ, trong điều kiện khó khăn đó quá trình thực hiện mục tiêu kinh tế nhiều khi không được thực hiện đẩy đủ và đúng đắn. Còn ở miền Nam thì đây cũng chưa thực sự là một nền kinh tế thị trường phát triển vì sức sản xuất trong nước còn rất yếu, thực chất miền Nam chỉ là thị trường tiêu thụ hàng hoá của Mỹ và các nước ta bản khác.

Trang 1

VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I- GIỚI THIỆU CHUNG 2

PHẦN II- NỘI DUNG 5

1 Nhà nước và chức năng kinh tế của Nhà nước 5

1.1 Nhà nước 5

1.2 Chức năng của Nhà nước 6

1.3 Những quan điểm và học thuyết bàn về chức năng kinh tế của Nhà nước 6

1.4 Kết luận 10

2 Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 11

2.1 Đặc điểm của nền kinh tế nước ta bước đổi mới 11

2.2 Đặc điểm của nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước 12

2.3 Những đặc trưng của cơ chế kinh tế chúng ta đang hướng tới 13

3 Các mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước 15

3.1 Mục tiêu 15

3.2 Chức năng quản lý vĩ mô 16

4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước 17

PHẦN III- KẾT LUẬN 23

Trang 2

PHẦN I

GIỚI THIỆU

Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), Việt Nam được xếp là một trongnhững quốc gia có nền kinh tế phát triển thấp kém nhất trên thế giới, đó làmột nền kinh tế què quặt, lạc hậu, sản xuất nhỏ, lẻ, và nông nghiệp là chủyếu Nhưng ở thời kỳ này, với sự xuất hiện của các nhà tư bản Pháp, cácCông ty của Pháp, cùng với sự giao lưu hàng hoá giữa nước Việt Namthuộc địa với các nước khác thì nền kinh tế Việt Nam cũng đã được coi làmột nền kinh tế hàng hoá ở dạng sơ khai

Cách mạng Tháng 8 (8/1945) thành công, Nhà nước Việt Nam Dânchủ cộng hoà ra đời, nhưng không giống các quốc gia khác chúng ta không

có điều kiện để khôi phục và xây dựng kinh tế mà gần như ngay lập tứcchúng ta lại phải chịu đựng cảnh chiến tranh Trong suốt thời kỳ khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) nền kinh tế của chúng

ta không thể phát triển một cách toàn diện, mà đó chỉ là một nền kinh tếkhép kín, tự cung, tự cấp, lấy sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp làchính với mục đích trước tiên là phục vụ kháng chiến Hiệp định Giơ nevơ

về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết, nhưng tưởng chúng tađược sống trong hoà bình để phát triển kinh tế, nhưng không chúng ta lạiphải trải qua một cuộc chiến tranh dài 20 năm (1955- 1975) đất nước bịchia cắt làm hai miền Bắc, Nam với hai chế độ chính trị, hai mô hình kinh

tế khác nhau Miền Bắc đi lên xã hội chủ nghĩa với mô hình kinh tế quản lýtập trung bao cấp bao cấp giống các nước xã hội chủ nghĩa khác, miền Nam

đi theo mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Tuy vậy trong điềukiện bị chi phối bởi qui luật của chiến tranh hai mô hình này cũng khôngmang đầy đủ đặc trưng và ý nghĩa của nó Ở miền Bắc chúng ta không thểtập trung toàn bộ sức lực cho phát triển kinh tế mà chúng ta phải chi việnlớn về người và của cho miền Nam, hơn nữa miền Bắc cũng phải chịu sựtấn công bằng hải quân và không quân Mỹ, trong điều kiện khó khăn đóquá trình thực hiện mục tiêu kinh tế nhiều khi không được thực hiện đẩy đủ

Trang 3

và đúng đắn Còn ở miền Nam thì đây cũng chưa thực sự là một nền kinh tếthị trường phát triển vì sức sản xuất trong nước còn rất yếu, thực chất miềnNam chỉ là thị trường tiêu thụ hàng hoá của Mỹ và các nước ta bản khác Sau chiến thắng (1975), nước nhà thống nhất cả nước bắt tay vào xâydựng một nèn kinh tế xã hội chủ nghĩa thống nhất trên cả nước Cũngchính trong thời kỳ này mô hình kinh tế tập trung bao cấp bắt đầu bộc lộkhiếm khuyết của nó không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước xã hộichủ nghĩa khác Tuy rằng mô hình này có thể tập trung được sức người, sứccủa cho mục đích phát triển trong một giai đoạn nhất định nhưng vì nókhông đề cao tới lợi ích cá nhân cho nên sau một thời kỳ dài phát triển điềunày đã làm triệt tiêu động lực của mỗi cá nhân, tính ích kỷ của mỗi cá nhânbắt đầu trổi dậy Hơn nữa, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độnhững qui luật của kinh tế như qui luật cung cầu, qui luật giá trị, qui luậtphân phối bị biến dạng đi, nền kinh tế hàng hoá chỉ tồn tại trên danh nghĩa,lưu thông hàng hoá bị đình trệ Chính vì những lý do này mà sau giai đoạnphát triển rực rỡ (những năm 60 của thế kỷ 20) thì tới những năm cuối củathập kỷ 70 ở những nước xã hội chủ nghĩa đã có những dấu hiệu chững lại

và đồng thời những tư tưởng về cải cách bắt đầu xuất hiện Sự xuất hiệnnhững tư tưởng về cải cách là tất yếu vì trong một nền kinh tế hàng hoáphát triển cao như vậy trên thế giới nếu vẫn giữ nguyên mô hình cũ thì cácnước xã hội chủ nghĩa sẽ bị bỏ xa trên con đường phát triển và quốc gia đitiên phong trong vấn đề cải cách là Trung Quốc Đảng và Nhà nước ta đãsớm nhận biết được xu hướng phát triển này và những tư tưởng về cải cáchkinh tế đã được đề cấp tới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982) vàđược chính thức quyết định đưa vào thực tiễn tại đại hội VI (12/1986),trong các kỳ đại hội VII, VIII tiếp theo vấn đề cải cách tiếp tục được bổsung và hoàn thiện Như vậy việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ môhình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường là một bước điđúng đắn, phản ánh đúng qui luật khách quan và xu thế của thời đại

Chúng ta khẳng định rằng chuyển sang nền kinh tế thị trường có sựquản lý của Nhà nước là một tất yếu, nhưng sự quản lý của Nhà nước đốivới nền kinh tế ở mức độ nào, thông qua những công cụ gì là một vấn đềkhông dễ giải quyết Trong lịch sử nhân loại có những thời kỳ Nhà nước

Trang 4

hầu như không can thiệp vào nền kinh tế - thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự docạnh tranh, hoặc can thiệp rất sâu vào nền kinh tế như trong mô hình kinh

tế tập trung ở các nước xã hội chủ nghĩa hay ở các nước tư bản chủ nghĩasau khủng hoảng 1929 - 1933 theo lý thuyết Keynes nhưng những thànhcông do chúng mang lại chỉ mang tính lịch sử, nó không là một mô hìnhcho sự phát triển bền vững và tới nay các nhà kinh tế thống nhất với nhaurằng cần thiết có sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế trong một cơchế thị trường đầy năng động

Nền kinh tế luôn vận động và phát triển trong mỗi thời kỳ nó lại cómọt só tính chất đặc trưng đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước ở mức độ phùhợp, chính vì vậy khi Việt Nam chúng ta khi chuyển sang nền kinh tế mớithì vai trò của Nhà nước là quan trọng và việc nghiên cứu vấn đề quản lýNhà nước đối với nền kinh tế là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay

Trang 5

xã hội không có sự phân chia đẳng cấp, mọi người đều bình đẳng với nhau

về quuyền và nghĩa vụ thì lúc đó Nhà nước cũng không tồn tại Đến cuốithời kỳ cộng sản nguyên thuỷ khi mà lực lượng sản xuất đã phát triển hơntrong xã hội đã xuất hiện người giàu và người nghèo thì cũng là lúc tiền đềcho sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước cũng bắt đầu nảy sinh Theo quiluật của tự nhiên những người nghèo sự tồn tại họ phải vay mượn, lệ thuộcvào những người giàu do đó người nghèo sẽ bị nghèo hơn, người giàu sẽgiàu hơn, trong xã hội hình thành hai tầng lớp người có đẳng cấp khác hẳnnhau Những người nghèo họ cũng không chịu đứng yên một chỗ, trongcon người họ luôn có tư tưởng phản kháng lại, những người giàu để bảo vệlợi ích của tầng lớp mình họ cần phải có một cái gì đó đủ sức mạnh trấn áplại sự chống đối của tầng lớp đối kháng và cái tất yếu phải được tạo ra đấychính là Nhà nước Nhà nước được định nghĩa là: "Nhà nước là một máycưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp thống trị, được giai cấp thống trịtạo ra để bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình"

Như vậy Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp mànguyên nhân sâu xa đó chính là từ lợi ích kinh tế của mỗi giai cấp trong xãhội Ngay từ khi xuất hiện thì Nhà nước, kinh tế đã gắn bó mật thiết vàtrong quá trình phát triển của Nhà nước sau này hai mặt này không thể táchvới nhau

Trang 6

1.2 Chức năng của Nhà nước.

Từ lý luận về Nhà nước ta đã thấy Nhà nước là công cụ của giai cấpthống trị dùng để điều tiết các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giaicấp mình Khi đề cập tới chức năng của Nhà nước các nhà nghiên cứuthống nhất rằng Nhà nước có hai chức năng chính là chức năng đối nội vàchức năng đối ngoại

- Về chức năng đối nội bao gồm hai bộ phận chính là chức năng kinh

tế và chức năng giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp

sự chống đối của các giai cấp khác và các âm mưu phản động Trong haichức năng này thì chức năng kinh tế được đưa lên hàng đầu vì nó là cái đểcho một Nhà nước có thể tồn tại và phát triển

- Chức năng đối ngoại của Nhà nước cũng bao gồm hai chức năngchính là chức năng bảo vệ tổ quốc và chức năng củng cố mở rộng quan hệhợp tác hữu nghị với các nước khác Trong điều kiện ngay nay chức năngđối ngoại có vị trí đặc biệt quan trọng

1.3 Những quan điểm và học thuyết bàn về chức năng kinh tế (vai trò kinh tế) của Nhà nước.

Ở phần lý luận về Nhà nước chúng ta đã thấy chức năng kinh tế là mộttrong những chức năng quan trọng của Nhà nước Vậy chức năng này đượcquan tâm ở mức độ nào trong lịch sử Sự thực trong thời kỳ chiếm hữu nô

lệ thì những học thuyết bàn về kinh tế và chức năng kinh tế của nó hầu nhưkhông có, nhưng Nhà nước được giai cấp chủ nô sử dụng một cách trựctiếp để can thiệp vào xã hội, phục vụ lợi ích của giai cấp mình Sang thời

kỳ xã hội phong kiến do có sự khác nhau về cách thức tổ chức xã hội vàphân chia ruộng đất mà giữa phương Đông và phương Tây, những quanđiểm về quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế cũng khác nhau Ở phương Tâyvới sự phân chia lãnh thổ quốc gia thành các lãnh địa riêng biệt do các lãnhchúa cai quản với phương thức sản xuất khép kín, tự cung, tự cấp trongtừng lãnh địa đã làm cho vai trò của Nhà nước hoàn toàn bị lu mờ Trái lại

ở phương Đông với quan niệm toàn bộ đất đai thuộc về nhà Vua cho nênmối quan hệ giữa Nhà nước mà người đại diện là Vua với vấn đề kinh tế

Trang 7

trở nên khăng khít hơn Chính vì vậy trong giai đoạn này ở phương Đông

đã có một số quan điểm về vai trò kinh tế của Nhà nước khá độc đáo

Bàn về vấn đề này, ngay từ thời chiến quốc (476-221 TCN) ở TrungQuốc, trong học thuyết "bình dân kinh tế chủ nghĩa" Mạnh Tử cho rằng:chính sách kinh tế của Nhà nước phải hướng đến làm giàu cho dân Dângiàu thì nước mạnh, không có nước nào dân giàu mà nước lại nghèo, ngượclại có thể có nước giàu, của cải chất đầy kho mà dân lại nghèo Về cơ bảntương tưởng kinh tế của Mạnh Tử là: bản chất lợi ích của cá nhân thốngnhất với lợi ích toàn xã hội, mọi người khi làm giàu cho mình thì cũng làmgiàu cho toàn xã hội Từ đó đặt lên vai trò của Nhà nước phải điều hoà, sắpxếp các quan hệ lợi ích sao cho sự xung đột lợi ích cá nhân không làm thủtiêu lợi ích xã hội mà phải thúc đẩy lợi ích xã hội Như vậy ta thấy, từ thờiMạnh Tử Nhà nước đã can thiệp vào nền kinh tế đặc biệt trong lĩnh vựcphân phối sản phẩm mà trước hết là khâu phân phối tư liệu sản xuất

Ở Việt Nam tư tưởng Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế xuất hiện rấtsớm Trên thực tế Nhà nước đã can thiệp vào nền kinh tế và đã thu đượcnhững thành công cũng như không thành công Sự xuất hiện sớm nhất vềcan thiệp Nhà nước vào nền kinh tế bắt đầu từ thời nhà Lý Chế độ phongcấp ruộng đất của nhà Lý cho các quan lại đã dẫn tới sự hình thành các thái

ấp, nhưng chỉ có rất ít ruộng đất biến thành ruộng đất tư mà phần lớn cácruộng đất vẫn là ruộng đất công thuộc quyền sở hữu của nhà Vua, ngườiđược phong đất chỉ có quyền chiếm giữ và sử dụng, việc bóc lột của chủthái ấp vẫn chịu sự không chế cảu Nhà nước Trung ương Bên cạnh Nhànước trung ương đã huy động sức dân tiến hành khai hoang, đắp đê Nhưvậy ngoài đặc điểm chung với các Nhà nước phong kiến phương Tây, Nhànước phong kiến Việt Nam ngay từ đầu đã nhận thức rất rõ về quyền sởhữu và quyền sử dụng ruộng đất nói riêng và của cải nói chung Do đó, mộtmặt Nhà nước trao quyền sử dụng cho quan lại, mặt khác Nhà nước ápdụng các biện pháp để củng cố quyền sở hữu và kiểm soát được hoạt độngcủa quan lại Tuy đã có ý thức kiểm soát hoạt động trong các thái ấp nhưngtrên thực tế Nhà nước trung ương không thể kiểm soát được toàn bộ hoạtđộng của họ

Trang 8

Năm 1397 Hồ Quý Ly ban hành chính sách "hạn điền" và "hạn nô"với nội dung là hạn chế ruộng đất cấp cho quan lại và số nô tì mà các quan

có thể có nhằm tránh lãng phí, tập trung sức mạnh kinh tế cho Nhà nước.Năm 1429, sau khi đánh thắng giặc minh, nhà Lê ban hành chế độquân điền và năm 1477 ban hành chế độ lộc điền Thực chất đây là chínhsách xoá bỏ kinh tế điền trang thái ấp hình thành từ thời nhà Lý Chế độLộc điền là hình thức cấp lương cho quan lại bằng quyền sử dụng một diệntích ruộng đất nào đó tuỳ theo cấp bậc, còn Quân điền là chế độ phân phốiruộng đất cho dân tuỳ theo cấp bậc, còn Quân điền là chế độ phân phốiruộng đất cho dân tuỳ theo thứ bậc trong xã hội

Sự suy tàn của Nhà nước phong kiến ở phương Tây (thế kỷ XV) gắnliền với sự hình thành Nhà nước tư sản, quá trình tích luỹ tư bản được bắtđầu thực hiện - nền kinh tế thị trường cũng bắt đầu được hình thành Trongthời kỳ này để cho nền kinh tế phát triển nhanh giai cấp tư sản cần phải có

sự trợ giúp của "bà đỡ" tức là cần có sự giúp đỡ của Nhà nước Chính vìvậy vai trò quản lý của Nhà nước được xác lập và nâng cao điều này đượcthể hiện trong tư tưởng kinh tế của những người theo trường phái trọngthưonưg Cụ thể Nhà nước dùng chính sách tiền tệ nghiêm ngặt, tìm mọicách để tích luỹ tiền tệ (tiền vàng), không cho tiền tệ chảy ra nước ngoài,

họ cũng có những qui định nghiêm ngặt đối với các thương gia Trongchính sách ngoại thương họ đẩy mạnh xuất khẩu thành phẩm, không xuấtkhẩu sản phẩm dở dang, nguyên liệu thô, trợ giá giúp đỡ cho xuất khẩutrong khi đó lại dùng hàng rào thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu để hạn chếnhập khẩu cũng nhờ những chính sách này của Nhà nước mà trong giaiđoạn tích luỹ nguyên thuỷ Nhà nước tư sản đã tích luỹ được một lượng củacải rất lớn

Xã hội phát triển lên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất vớiquan hệ sản xuất mới thì kiểu mua rẻ, bán đắt, nền kinh tế quá chú trọngvào thương nghiệp không còn phù hợp nữa Một quốc gia muốn phát triểnthì phải tăng cường sức sản xuất trong nước thông qua tăng năng suất laođộng, xã hội lúc này cần một môi trường kinh tế tự do hơn giúp các nhà sảnxuất có thể phát huy hết khả năng của mình Ở thời kỳ đó đã dâng lên một

Trang 9

làn sóng ủng hộ tự do cạnh tranh mà người tiêu biểu nhất là nhà kinh tế học

cổ điển Anh - Adam Smít (1723 - 1790) với học thuyết "bàn tay vô hình"

và nguyên lý"Nhà nước không can thiệp" vào hoạt động của nền kinh tế.Ông rằng việc tổ chức nền kinh tế hàng hoá cần theo nguyên tắc tự do Sựhoạt động của nền kinh tế là do các qui luật khách quan tự phát chi phối, sựvận động trên thị trường là do quan hệ cung - cầu và sự biến đổi tự phát củagiá cả hàng hoá trên thị trường quyết định quan hệ giữa người với người làquan hệ lợi ích kinh tế Con người hoạt động chỉ nhằm lợi nhuận siêungạch Song do "bàn tay vô hình" chi phối buộc người ta phải tuân theo tỷsuất lợi nhuận bình quân Để cho nền kinh tế hoạt động đạt hiệu quả Nhànước không nên can thiệp vào kinh tế thị trường và hoạt động doanhnghiệp Nhà nước chỉ nên can thiệp vào những vấn đề, những mặt mà sứccủa một doanh nghiệp không thể với tới như xây dựng đường xá, bếncảng Sự thực trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, nền kinh tế đãvận hành một cách năng động và đạt hiệu quả cao Nhưng sự phát triển của

tự do cạnh tranh đã dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền làm giảmhiệu quả phát triển và một vấn đề mà các nhà kinh tế học cổ điển khôngnghĩ tới đó là khủng hoảng kinh tế Liên tiếp trong các năm cuối thế kỷXIX và đầu thế kỷ XX khủng hoảng kinh tế liên tiếp xảy ra theo chu kỳ vàcác chu kỳ ngày càng rút ngắn mà đỉnh cao là cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới 1929 - 1933 Thuyết "bàn tay vô hình" không còn đủ sức đảm bảo chonền kinh tế phát triển ổn định và cân bằng nữa, thực tiễn đòi hỏi phải cómọt lý thuyết kinh tế mới phù hợp hơn Và vào thời điểm này, J.M Keynes(1884 - 1946) đã đưa ra lý thuyết Nhà nước điều biết nền kinh tế thị trườngvới một thuyết có tên gọi "bàn tay hữu hình" Theo lý thuyết Keynes Nhànước can thiệp vào nền kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô Ở tầm vĩ mô Nhànước sử dụng các công cụ như lãi suất, chính sách tín dụng điều tiết lưuthông tiền tệ, lạm pháp, thuế, bảo hiểm , trợ cấp đầu tư phát triển ở tẩm vĩ

mô, Nhà nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàdịch vụ công cộng J.M Keynes và những người ủng hộ lý thuyết của ôngtin tưởng rằng sự can thiệp như vậy của Nhà nước vào nền kinh tế sẽ khắcphục được tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự ổn định cho pháttriển kinh tế xã hội

Trang 10

Nhưng thực tế những chấn động trong kinh tế xã hội vẫn diễn ra, thấtnghiệp, lạm pháp, khủng hoảng không được cải thiện Điều này đã làm tăngthêm làn sóng phản đốn Keynes và xuất hiện tư tưởng phải phối hợp "bàntay vô hình" với "bàn tay hữu hình"để điều chỉnh nền kinh tế Đó cũng làquan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại P.Samuelson cho rằng "để pháttriển kinh tế chúng ta phải sử dụng cả "bàn tay vô hình" và "bàn tay hữuhình" Nếu chúng ta chỉ sử dụng một "bàn tay vôn hình" hoặc "bàn tay hữuhình" thì chẳng khác nào người ta vổ tay chỉ bằng một bàn tay Theo quanđiểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì Nhà nước không phải là cái gì đóđứng ngoài nền kinh tế mà nó cũng là một trong những chủ thể của nềnkinh tế, điều này được thể hiện trong sơ đồ sau:

Ở đây Chính phủ tham gia vào hoạt động của nền kinh tế cả với tưcách là người điều tiết cùng với các qui luật kinh tế khách quan bằng cách

đề ra hành lang pháp lý cho các chủ thể khác của nền kinh tế hoạt động,các chính sách về lao động việc làm, lãi suất tín dụng, quản lý ngoại hối

và với tư cách là chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động kinh tế bằng cách tiêuthụ sản phẩm của các công ty, thu thuế, đầu tư phát triển các lĩnh vực cầnthiết trong nền kinh tế Như vậy các nhà kinh tế học hiện đại thừa nhậnrằng: các nền kinh tế hiện đại muốn phát triển được phải dựa vào cả cơ chếthị trường cũng như sự quản lý của Nhà nước

1.4 Kết luận.

Thị trường h ngànghoá v dàng ịch vụ

Chính phủ

Thị trường cácyếu tố sản xuất

đình

Trang 11

Từ khi Nhà nước xuất hiện thì vấn đề Nhà nước và kinh tế là hai mặtkhông thể tách rời nhau Nhà nước tồn tại trên nền tảng lợi ích kinh tế vàngược lại Nhà nước tác động lại nền kinh tế thông qua các chính sách, biệnpháp, công cụ khác nhau nhằm duy trì một nền kinh tế vững mạnh để thôngqua đó duy trì sự tồn tại của chính cái Nhà nước đang tồn tại trên cơ sở nềnkinh tế ấy Trong suốt lịch sử phát triển của Nhà nước tuy rằng mức độ canthiệp của Nhà nước có mức độ khác nhau nhưng một điều tất yếu là Nhànước phải can thiệp vào nền kinh tế Cũng chính vì vậy một trong nhữngchức năng quan trọng của Nhà nước là chức năng kinh tế, nếu làm tốt chứcnăng này thì những chức năng còn lại mới có cơ sở để hoàn thành được.

2 Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2.1 Đặc điểm của nền kinh tế nước ta trước đổi mới.

Nước nhà hoàn toàn độc lập (1975), nhân dân ta bắt tay vào xây dựngnhiệm vụ chiến lược thứ hai mà ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam đượcthành lập chúng ta đã đề ra là xây dựng nước ta trở thành một nước xã hội

bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đây là điều mà đã đượcnhững nhà kinh điển chủ nghĩa Mác dự đoán và nâng nó thành lý luận,muốn làm được điều này chúng ta phải xây dựng được một nền kinh tế quá

độ với nhiệm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội Ởthời kỳ này ta áp dụng một cách triệt để mô hình kinh tế của các nước xãhội chủ nghĩa - mô hình tập trung, bao cấp Ta có thể khái quát đặc điểmcủa nền kinh tế nước ta thời kỳ đó là: Một nền kinh tế kế hoạch hoá cao độ,Nhà nước can thiệp rất sâu vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, của quá trìnhsản xuất từ khâu sản xuất tới khâu phân phối sản phẩm thông qua các kếhoạch giap nộp, cấp phát cụ thể tới từng đơn vị kinh tế Chính điều này đãlàm cho quá trình sản xuất không hiệu quả, nền kinh tế thụ động, kinh tếhàng hoá chỉ tồn tại trên danh nghĩa, những qui luật kinh tế bị làm cho méo

mó Trong lĩnh vực nông nghiệp nếu như trong thời kỳ chiến tranh với việcvào hợp tác xã chúng ta đã tập trung được rất lớn sức người, sức của vàosản xuất làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển lên, chi việc rất lớn chomiền Nam góp phần vào chiến thắng của dân tộ thì đến thời kỳ này vẫn với

Trang 12

chế độ công điểm cũ khi mà tính ích kỷ của mỗi cá nhân sau một thời bịlãng quên nay lại trổi dậy đã dẫn tới tình trạng "cha chung không ai khóc"làm cho sản xuất nông nghiệp không phát triển được Còn trong lĩnh vựccông nghiệp - lĩnh vực mà sản phẩm của nó gắn chặt với thị trường thìtrong thời kỳ này cũng không phát triển như mong đợi.

Nói chung, nền kinh tế của chúng ta phát triển khkông đáp ứng đượcđòi hỏi của thực tiễn

Ở thời kỳ này, cũng đã có những tư tưởng về đổi mới nhưng mới chỉdừng lại ở từng ngành, địa phương riêng lẻ chứ chưa mang tính đồng bộ.Đây chính là những tiền đề cần thiết cho sự đổi mới

2.2 Đặc điểm của nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Đại hội VI của Đảng là một bước ngoặt quan trọng trong quá trìnhphát triển của nước ta, đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong việc thayđổi mô hình phát triển kinh tế, chúng ta chủ trương chuyển từ mô hình kinh

tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước với một nền kinh tế có những đặc điểmsau:

Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tếkém phát triển, mang năng tính tự túc tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá vậnđộng theo cơ chế thị trường

Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần đó

là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định các thành phần kinh tế đang tồntại khách quan tương ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,trong giai đoạn này nền kinh tế bao gồm 5 thành phần, quốc doanh, tập thể,

cá thể, tư nhân tư bản chủ nghĩa và tư bản Nhà nước Nền kinh tế nhiềutthành phần trong cơ chế thị trường ở nước ta sẽ là nguồn lực tổng hợp đểđưa nền kinh tế nước ta vượt ra khỏi tình trạng thấp kém đưa nền kinh tếhàng hoá phát triển

Ngày đăng: 01/08/2013, 13:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình". Nếu chúng ta chỉ sử dụng một "bàn tay vôn hình" hoặc "bàn tay hữu hình" thì chẳng khác nào người ta vổ tay  chỉ bằng một bàn tay - VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ  THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
h ình". Nếu chúng ta chỉ sử dụng một "bàn tay vôn hình" hoặc "bàn tay hữu hình" thì chẳng khác nào người ta vổ tay chỉ bằng một bàn tay (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w