1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm và giải pháp thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập

50 529 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm và giải pháp thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện nghị quyết đại hội IX của Đảng, trong ba năm đầu của kế hoạch 5 năm 2001-2005, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có bước phát triển mới, toàn diện hơn và vững chắc hơn so với thời kỳ trước đó. Kinh tế đã lắng lại đà tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng cao hơn năm trước. Các hoạt động sản xuất và dịch vụ đều phát triển và tăng trưởng cao, nhất là khu vực ngoài nhà nước do tác động tích cực của luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài và các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước. Nhờ đó thu nhập và đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện theo hướng tăng nhanh và ổn định hơn các thời kỳ trước đó. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện nghị quyết đại hội IX của Đảng, trong ba năm đầu của kế hoạch

5 năm 2001-2005, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có bước phát triển mới,toàn diện hơn và vững chắc hơn so với thời kỳ trước đó Kinh tế đã lắng lại đàtăng trưởng với tốc độ tăng trưởng cao hơn năm trước Các hoạt động sản xuất

và dịch vụ đều phát triển và tăng trưởng cao, nhất là khu vực ngoài nhà nước dotác động tích cực của luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài và các chínhsách kinh tế xã hội của nhà nước Nhờ đó thu nhập và đời sống các tầng lớp dân

cư tiếp tục được cải thiện theo hướng tăng nhanh và ổn định hơn các thời kỳtrước đó

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì thực hiệnphân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế đồng thời phânphối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh

Mỗi người lao động khi làm việc đều mong muốn đạt được năng suất laođộng cao để có được thu nhập cao, đảm bảo nhu cầu cho cuộc sống của bản thân

và gia đình Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập của người lao động đã đượctăng cao, do vậy trong tổng thể nền kinh tế việc phân chia thu nhập là một vấn

đề hết sức quan trọng và cần thiết Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa to lớn Đó là lý do em lựa chọn đề tài này

Với những ý nghĩa đã đề cập ở trên, đòi hỏi mỗi cá nhân là chủ thể kinh tếtrong nền kinh tế phải nhận thức đúng về vấn đề phân phối do đó chúng ta hãy

đi làm sáng tỏ vấn đề phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường

Trang 2

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI

Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu thế nào là phân phối

“Phân phối là phân phối tổng sản phẩm xã hội và phân phối thu nhập quốcdân và nó được thực hiện dưới các hình thái, phân phối hiện vật và phânphối dưới hình thái giá trị”

1 Lý luận của chủ nghĩa Mác- LêNin

Mác LêNin cho rằng phân phối là vấn đề rộng lớn liên quan đến các hoạtđộng kinh tế văn hoá xã hội…của nhà nước và của nhân dân lao động Đối vớiphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, bản chất của phương thức phân phối làbất công và nó dựa trên cơ sở quan hệ bóc lột của giai cấp tư sản với người laođộng, Mác và Anghen đã vạch trần bản chất và phê phán phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa Đồng thời trong quá trình đó, Mac và Anghen đã nêu lên quanđiểm và nguyên tắc cơ bản về phân phối Lý luận phân phối của Mac và Anghen

đã thật sự đặt nền móng và là khởi nguyên cho lý luận phân phối thu nhập trongchủ nghia xã hội Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga, dựa trên cơ

sở kế thừa tư tưởng của Mác và Anghen, Lênin đã làm rõ hơn và cụ thể hoá cácquan điểm và nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa xã hội Theo Lê Nin để xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội hiện thực thì nhiệm vụ có ý nghĩa trọng đạihơn cả xây dựng kinh tế Trong nhiệm vụ đó, nếu nhà nước không tiến hànhkiểm kê, kiểm soát toàn diện đối với sản xuất và phân phối các sản phẩm thìchính quyền của những người lao động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duytrì được và nhất định họ sẽ phải sống trở lại dưới ách thống trị của chủ nghĩa tưbản

Lý luận về phân phối của Mác và Anghen được thể hiện ở các luận điểm

Trang 3

1.1 Phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là mộtvấn đề vô cùng quan trọng để tạo ra động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúcđẩy sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế xã hội nâng cao đời sống củanhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước xã hội công bằng văn minh

Phân phối thu nhập quốc dân như thế nào không chỉ là vấn đề tính toánđơn thuần hay vấn đề thống kê mà chính là biểu hiện mối quan hệ giữa ngườivới người trong lĩnh vực phân phối là biểu hiện của quan hệ sản xuất nhất định.Trong xã hội có giai cấp, vấn đề phân phối quyết định mức sống chênh lệch giữagiai cấp khác nhau Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vấn đề phân phối đóng vai tròquan trọng đối với đời sống nhân dân lao động Phương thức phân phối thu nhậpquốc dân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là do chiếm hữu tư nhân tư bản chủnghĩa về tư liệu sản xuất quyết định, nó nhằm phục vụ sự làm giàu của chủnghĩa tư bản, phương thức phân phối thu nhập quốc dân dưới chế độ xã hội chủnghĩa là do chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất quyếtđịnh, nó nhằm bảo đảm tái sản xuất mở rộng không ngừng với tốc độ cao và trên

cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân laođộng Việc phân phối và sử dụng thu nhập quốc dân trong xã hội chủ nghĩanhằm phục vụ lợi ích cho toàn xã hội cụ thể

Bảo đảm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội chủ nghĩa, bảo đảmcủng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ sản xuất cộngsản chủ nghĩa

- Bảo đảm những tỷ lệ cần thiết của nền kinh tế theo yêu cầu của quy luậtphát triển có kế hoạch cân đối nền kinh tế quốc dân, bảo đảm tái sản xuất mởrộng không ngừng với tốc độ cao

- Tạo khả năng thoả mãn nhu cầu về vật chất và văn hoá thường xuyêntăng lên của toàn xã hội theo yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa

xã hội

- Củng cố độc lập về kinh tế tăng cường khả năng quốc phòng của đấtnước

Trang 4

Nhưng không phải toàn bộ thu nhập quốc dân đều đem chia hết cho cácthành viên trong xã hội mà phải dành một phần thích đáng vào việc mở rộng sảnxuất và phát triển sự nghiệp công ích Việc phân phối thu nhập quốc dân đượctiến hành bằng nhiều lần phân phối, phân phối lần đầu và phân phối lại

Phân phối lần đầu dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là việc phân phối thu nhậpquốc dân thành những hình thức thu nhập của công nhân viên chức công táctrong những lĩnh vực sản xuất và dưới hình thức thu nhập thuần tuý được để lạidưới hình thức lợi nhuận,và một phần nữa là thu nhập thuần tuý được tập trungvào ngân sách nhà nước dưới hình thức thu nhập quốc doanh tiền trích lợinhuận, tiền trích bỏ vào quỹ bảo hiểm…Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhà nước

co tham gia vào quá trình phân phối lần đầu vì nhà nước là người thay mặt chonhân dân làm chủ các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân

Đó là một trong những điều khác nhau giữa nhà nước tư sản với nhà nước

xã hội chủ nghĩa Sau khi phân phối lần đầu được tiến hành trong khu vực sảnxuất,thu nhập quốc dân còn được phân phối lại.Quá trình phân phối lại được tiếnhành bằng ba con đường sau:

- Ngân nà nước hay nói chung là toàn bộ hệ thống tài chính của nhà nướcbao gồm các hoạt động của cơ quan ngân hàng và tài chính

- Là hệ thống giá cả hàng hoá tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng

- Là sự chi tiêu công ích của những người lao động

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, việc phân phối lại thu nhập quốc dânkhông phải là bòn rút thu nhập của người lao động để phục vụ bộ máy quan liêucồng kềnh, hoạt động thương nghiệp đều chạy theo lợi nhuận bằng cách bóc lột.Quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân xã hội chủ nghĩa là quá trình tăngthêm quỹ tiêu dùng của người lao động bằng cách tăng các quỹ tiêu dùng côngcộng, việc tăng quỹ tiêu dùng công cộng này chủ yếu dựa vào thu nhập của nhànước qua phân phối lại lần đầu như lợi nhuận do xí nghiệp nộp cho nhà nước,thu nhập quốc doanh… chứ không phải chủ yếu dựa vào thuế đánh vào thu nhậpcủa người lao động như tư bản chủ nghĩa Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, sự

Trang 5

đóng góp của nhân dân lao động bằng thu nhập lần đầu của mình ngày cànggiảm và chiếm tỷ lệ không đáng kể Trong bước đầu của thời kỳ quá độ, do còn

có nhiều thành phần kinh tế còn nhiều giai cấp nên phân phối lại thu nhập quốcdân còn nhiều hạn chế thu nhập của giai cấp bóc lột để góp phần vào việc xâydựng chủ nghĩa xã hội và tăng mức tiêu dùng của nhân dân Do đó quá trìnhphân phối lại thu nhập quốc dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa là quá trình làmtăng mức thu nhập của người lao động Do đó mới có điều kiện đảm bảo cho đờisống nhân dân, thực hiện các mục tiêu của Đảng và nhà nước đề ra

1.2 Chủ nghĩa Mác-Lê nin khẳng định phân phối lại không phải là một hiện tượng cô lập mà là một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội

Quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm 4 khâu: Sản xuất, phân phối, traođổi và tiêu dùng của cải vật chất, phân phối là một quá mắt xích trung gian trongquá trình tái sản xuất Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất bao giờ cũng giữ vaitrò quyết định Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất quy mô và cơcấu của phân phối Sản xuất đóng vai trò quyết định, còn phân phối trao đổi vàtiêu dùng phụ thuộc vào sản xuất, do sản xuất quyết định nhưng nó lại có tácđộng tích cực trở lại đối với sản xuất

Anghen nói: “Phân phối không chỉ đơn thuần là một kết quả tiêu cực củasản xuất và của trao đổi, đến lượt nó, nó cũng tác động trở lại đối với sản xuất vàtrao đổi”

Quan hệ phân phối có tính chất cụ thể Mỗi phương thức sản xuất có mộtquan hệ phân phối riêng, thích hợp với tính chất của quan hệ sản xuất và trình độphát triển của lực lượng sản xuất.Lich sử xã hội loài người đã trải qua nhiềuphương thức sản xuất khác nhau do đó cũng có nhiều phương thức phân phốikhác nhau Quan hệ phân phối do quan hệ sản xuất trước hết là quan hệ chiếmhữu tư liệu sản xuất quyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nắm được

tư liệu sản xuất thì có quyền chi phối quan hệ phân phối theo quyền lợi của giaicấp công nông

Trang 6

Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau, trao đổi là tiếp tụccủa phân phối trong nền kinh tế thị trường, phân phối được thực hiện dưới hìnhthức giá trị Người nhận được thu nhập tiền tệ đó sẽ làm biến thành thu nhậpthực tế bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trường Với một thu nhậpdanh nghĩa nhất định sẽ chuyển thành khối lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụlớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá cả thị trường Đó chính là phân phối

Phân phối còn có quan hệ mật thiết với tiêu dùng Việc tăng hay giảm sảnphẩm phân phối đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng Ngược lại cơcấu, phương thức, trình độ của người tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc làmkìm hãm sự tăng trưởng của phân phối

Phân phối là một khâu độc lập tương đối trong quá trình tái sản xuất nóluôn có tác động qua lại một cách biện chứng với các khâu khác của quá trình táisản xuất xã hội

1.3 Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất do quan hệ sở hữu về

tư liệu sản xuất quyết định

Các Mác đã nhiều lần nêu rõ quan hệ phân phối cũng bao hàm trong phạm

vi quan hệ sản xuất:… “ Các quan hệ phân phối về thực chất cũng đồng nhất vớicác quan hệ sản xuất ấy, thành thử cả hai đều có chung một tính chất lịch sử nhấtthời ấy” Theo Anghen thì: “ Trên những nét chủ yếu của nó, sự phân phối trongmỗi trường hợp đều là kết quả tất yếu của những quan hệ sản xuất và trao đổitrong một xã hội nhất định

Phân phối được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, phân phối theo nghĩarộng là phân phối tổng sản phẩm xã hội, nó bao gồm phân phối các yếu tố sảnxuất và phân phối tư liệu tiêu dùng Phân phối các yếu tố sản xuất, nó có trướcsản xuất đồng thời phát sinh trong quá trình sản xuất Trước khi sản xuất, cầnphải phân phối các yếu tố sản xuất cho các ngành và các doanh nghiệp khácnhau để sản xuất ra các sản phẩm khác nhau Không có sự phân phối các yếu tốsản xuất quyết định tính chất phân phối tư liệu tiêu dùng Các Mác đã chỉ rõ: “Bất kỳ một phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân

Trang 7

phối chính ngay những điều kiện sản xuất…” Cơ sở của quan hệ phân phối làquan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ trao đổi hoạt động cho nhau Khilực lượng sản xuất biến đổi và do đó quan hệ sản xuất biến đổi thì quan hệ phânphối cũng biến đổi Theo Các mác, mỗi một hình thái phân phối đều biến đổicùng một lúc với phương thức sản xuất nhất định tương ứng với hình thái phânphối ấy và đẻ ra hình thái phân phối ấy Các Mác chỉ rõ: “ Phương thức tham gianhất định vào sản xuất quy định hình thái theo đó người ta tham dự vào phânphối” Phân phối là hình thức thực hiện cả về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu vàquan hệ tổ chức, quản lý sản xuất,

1.4 Sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội của Các Mác

Trong xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất làm chủ quá trình sản xuất và phân phối Toàn bộ sản phẩm thuộc về xã hộinên nó được phân phối vì lợi ích của toàn xã hội, nhằm thoả mãn ngày càng caohơn nhu cầu vật chất và văn hoá của nhân dân Tuy nhiên toàn bộ sản phẩm xãhội không phải phân phối hết cho tiêu dùng cá nhâ Mác đã vạch ra sơ đồ phânphối toàn bộ sản phẩm xã hội như sau

Trước hết dành cho các khoản

- Phần thay thế những tuw liệu sản xuất đã hao phí trong quá trình sảnxuất

- Phần tích luỹ để tái sản xuất mở rộng

- Phần dự trữ để đề phòng bất trắc có biến cố bất ngờ: chiến tranh, thiên tai…

Những khoản trên là nhu cầu tất yếu về kinh tế để đảm bảo không ngừngtái sản xuất mở rộng xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mộtnhà nước độc lập tự chủ Phần còn lại dành cho tiêu dùng nhưng trước khi phânphối cho cá nhân phải khấu trử

- Phần để chi phí về quản lý hành chính và quốc phòng

- Phần để mở rộng các sự nghiệp phúc lợi công cộng như trường học, cơ

Trang 8

sở y tế, văn hoa, thể dục thể thao.(Xã hội càng phát triển thì các khoản nàycàng tăng)

- Phần để nuôi dưỡng những người không có khả năng lao động

Sau đó số sản phẩm còn lại được đem phân phối trực tiếp cho tiêu dùng cánhân và người lao động Mục đích của quỹ tiêu dùng nhằm năng cao đời sốngcủa xã hội và tái sản xuất sức lao động Quỹ tích luỹ là phân phối giá trị trongthu nhập quốc dân xã hội chủ nghĩa dùng để mở rộng và cải tiến sản xuất, xâydựng các quỹ dự trữ và xây dựng các công trình văn hoá xã hội không có quỹtích luỹ thì sản xuất không mở rộng được do đó xã hội không phát triển được.Quỹ tích luỹ gồm một bộ phận lớn dùng để mở rộng sản xuất, một bộ phận nữadùng làm quỹ bảo hiểm xã hội hoặc quỹ dự trữ đề phòng sản xuất bị gián đoạn

do thiên tai bất ngờ hoặc do các nguyên nhân khác

Mục đích của quỹ tích luỹ là tăng thêm vốn cố định sản xuất, vốn lưuđộng sản xuất, vốn luân chuyển, vốn dự trữ và các vốn không sản xuất như bệnhviện, trường học…

Vốn tích luỹ của xã hội bao gồm vốn tích luỹ nằm trong ngân sách nhànước trong quỹ hợp tác xã và cả trong mỗi hộ nông dân( phần thu nhập để mởrộng sản xuất và thu nhập nhà ở)

Sơ đồ phân phối nêu trên của Các Mác là sơ đồ phân phối ở tầm vĩ mô,vạch rõ khái quát việc phân phối tổng sản phẩm xã hội Nó vừa đảm bảo tái sảnxuất mở rộng, vừa đảm bảo nhu cầu chung của xã hội và của cá nhân cũng như

sự tiến bộ xã hội

1.5 Lý luận phân phối theo lao động của Các Mác

Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ

sở sở hữu công cộng về tuw liệu sản xuất hoặc hợp tác xã cổ phần mà phần gópvốn của các thành viên bằng nhau Khi nghieen cứu nguyên tắc của chủ nghĩaMac đã chỉ ra rằng, giá trị mới sáng tạo ra được phân chia cho các giai cấp dựavào sự đóng góp của các yếu tố sản xuất: Một bộ phận được phân phối chongười sở hữu sức lao động theo giá trị sở hữu sức lao động, một bộ phận khác

Trang 9

được phân phối cho người sở hữu tuw liệu sản xuất Giá trị mới được phân thànhtiền công, lợi nhuận, lợi tức và địa tô Tiền công là thu nhập của người lao động

và là hình thức thực hiện của quyến sở hữu lao động, lợi nhuận là thu nhập củanhà tư bản và là hình thức thực hiện của quyền chiếm hữu ruộng đất

Về tiền công, các Mác đã phát hiện ra nguyên tắc có tính phổ biến trongchủ nghĩa tư bản là tiền công ở mức tối thiểu Tiền công là một quan hệ kinh tếdiễn ra tại khu vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghieep Theo Cac Mac:

“Chi phí sản xuất của lao động đơn giản quy lại thành chi phí sinh hoạt củangười công nhân và chi phí để tiếp tục duy tri giống nòi của anh ta giá cả nhữngchi phí sinh hoạt và chi phí để tiếp tục giống nòi đó là tiền công Tiền công đượcquy định như vậy gọi là tiền công tối thiểu”

Các mac và Anghen đã sáng tạo và phát triển những maam mống tư tưởng

về phân phối theo lao động của chủ nghĩa xã hội không tưởng và sáng tạo ra lýluận phân phối theo lao động của chủ nghĩa xã hội khoa học: Cac Mac khẳngđịnh phương thức phân phối mới: Lấy lao động làm thước đo để phân phối Cacmác đã chỉ rõ trong thể liên hieep của những người lao động tự do, “Phần tư liệusinh hoạt chia cho mỗi người sản xuất sẽ do thời gian lao động của người đóquyết định Trong điều kiện ấy, thời gian lao động sẽ đóng một vai trò hai mặt.Việc phân phối thời gian lao động theo một kế hoạch xã hội sẽ quy định một tỷ

lệ đúng đắn giữa chức năng lao động khác nhau và các yêu cầu khác nhau Mặtkhác thời gian lao động đồng thời cũng dùng để đo phần tham gia cá nhân ngườisản xuất vào lao động chung do đó cả cái phần tham dự của anh ta vào bộ phận

có thể sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong toàn bộ sản phẩm.”

Lý luận phân phối theo lao động của Cac Mác gồm hai bộ phận: điều kiệntiền đề để phân phối theo lao động, nguyên tắc và phương thức phân phối theolao động Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt có quan hệhết sức chặt chẽ với nhau: Một là phân phối theo lao động là nguyên tắc phânphối trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa Hai là phân phối theolao động được thực hiện trong điều kiện kinh tế dựa trên chế độ sở hữu

Trang 10

Dựa trên những điều kiện tiền đề đó Các Mác đã vạch ra những nguyêntắc và phương thức phân phối theo lao động Theo Các Mác, chủ thể phân phối

là những người lao động, đối tượng bị phân phối là tư liệu tiêu dùng, tức là tổngsản phẩm xã hội sau khi đã trừ đi sáu khoản phải khấu trừ, căn cứ để phân phối

là thời gian lao động, phương thức thực hiện phân phối theo lao động là phiếulao động “Cùng một lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội dưới mộthình thức này thì anh ta nhận trở lại của xã hội dưới một hình thức khác” Nhưvậy thời gian lao động là thước đo khach quan của phân phối, thực hiện trao đổingang nhau, sự khác biệt về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại “Quyền của người sản xuất là tỷ lệ với lao động mà người đó đã cung cấp” chỉđến giai đoạn cộng sản chủ nghĩa mới có thể thực hiện “ làm theo năng lựchưởng theo nhu cầu”

1.6 Giá trị lý luận phân phối theo lao động của các Mác

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấpcủa chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa xã hội cũng chưa thể thực hiện phânphối theo nhu cầu và cũng không thể phân phối bình quân mà chỉ có thể phânphối lao động Lý luận phân phối theo lao động càng có giá trị rất quan trọng

Các Mác coi trình độ phát triền của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu là

do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, là nhân tố quyết địnhquan hệ phân phối Theo Các Mác,chủ nghĩa xã hội là nấc thang cao hơn chủnghĩa tư bản có lực lượng sản xuất phát triển, chế độ công hữu được thiết lập thì

sự phân phối tư liệu sản xuất phát triển, chế độ công hữu được thiết lập thì sựphân phối tư liệu tiêu dùng cho cá nhân tất yếu phải được phân phối theo laođộng

Dưới chế độ công hữu, mọi người đều có quyền bình đẳng đối với tư liệusản xuất Quyền bình đẳng đó chỉ có thể chuyển hoá thành quyền lợi lao độngbình đẳng , lao động trở thành phương tiện mưu sinh, trở thành tiền đề quantrọng để thu được lợi ích kinh tế Như vậy, Các Mác đã xác lập cơ sở của mối

Trang 11

liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, lao động trở thành điều kiện tất yếu đểnhận được thu nhập

Lý luận phân phối theo lao động của C Mác thừa nhận tồn tại sự khác biệt

về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân Nhưng sự khác biệt này chính là

sự công bằng trong phân phối mà không phải là chủ nghĩa bình quân C.Mac đãxác định nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa xã hội , đó là phân phối theo laođộng Nhưng phương thức phân phối đó được thiết kế trên cơ sở giả định kinh tếhàng hoá đã tiêu vong Do đó, kinh tế sản phẩm là điều kiện kinh tế , xã hội đểthực hiện phân phối theo lao động Nhà nước trực tiếp tổ chức sản xuất và phânphối sản phẩm, vì thế việc áp dụng vào thực tiễn cần phải giải quyết một số vấn

đề cụ thể

Nguyên tắc phân phối theo lao động còn được Lê Nin phát triển trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga Lê Nin đã nêu một cách rõ ràng kháiniệm phân phối theo lao động: Một là người nào không làm thì không có ăn, hai

là số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số lượng sản phẩm ngang nhau Do

đó Lê Nin đã đề ra phải thực hiện chế độ lao động nghĩa vụ, thông qua đó mớithực hiện được phân phối theo lao động, vì thế “ai không làm thì không đượcăn”, đó là điều lệnh thực tiễn của chủ nghĩa xã hội phải tổ chức một cách thực tếnhư thế đó Để phân phối được hợp lý, cần phải tính toán và đôn đáo một cáchchính xác, tỉ mỉ nhất, có tinh thần trách nhiệm nhất trong phạm vi toàn dân, tức

là thực hiện chế độ giám sát và đôn đốc của công nhân đối với sản xuất và phânphối sản phẩm

Như vậy, Lê Nin chỉ ra rằng trong chủ nghĩa xã hội việc phân phối sảnphẩm tiêu dùng của người lao động không thể được thực hiện theo chế độ phânphối binh quân.Tiền lương và tiền thưởng phải liên hệ mật thiết với nhau, đồngthời được quyết định ở mức hoàn thành kế hoạch sản xuất Ông phê bình nghiêmkhắc việc biến thưởng hiện vật thành lối bình quân phụ thuộc vào lương và đềxuất quỹ thường cần được tiến hành phân phối hợp lý, nên dùng để thưởng chonhững người làm kinh tế có biểu hiện tinh thần dũng cảm, chăm chỉ có trách

Trang 12

nhiệm, tài giỏi và hết lòng trung thành Như vậy Lê Nin đã gắn trực tiếp laođộng với thành quả lao động và năng suất lao động.

Tuy vậy theo Cac Mac phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là sựbình đẳng trong khuôn khổ “ Pháp quyền tư sản”, tức là sự bình đẳng trong xãhội sản xuất hàng hoá, theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá Sự bìnhđẳng ở đây được hiểu theo nghĩa quyền của người sản xuất là tỷ lệ với lao động

mà người ấy đã cung cấp, sự bình đẳng ấy còn thiếu sót là “ Với một công việcngang nhau và do đó với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xãhội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàuhơn người kia

2 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chủ Tịch là vị lãnh tụ của toàn thể dân tộc Việt Nam, cả cuộc đờingười cống hiến cho cách mạng chỉ với mục đích duy nhất là nước ta được độclập, mọi người đều hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc Sau khi giải phóng MiềnBắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội , Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phânphối thu nhập Chủ tich Hồ Chí Minh ý thức rằng đảm bảo cho nhân dân đủ no

là nhiệm vụ quan trọng nhất Nó bắt nguồn từ đòi hỏi bức thiết của người dân do

đó Người nhắc nhở phải đẩy mạnh sản xuất Người nói: “ Đời sống ví như chiếcthuyền, sản xuất ví như nước Mực nước lên cao thì con thuyền càng nổi lêncao.” Cho nên “ Các cấp bộ Đảng cần phải thấy hết khả năng của địa phương,nhận rõ trách nhiệm đối với đời sống nhân dân…, để cố gắng hơn nữa trong pháttriển kinh tế …”, phát triển sản xuất là điều kiện để nâng cao đời sống nhân dânphải ra sức sản xuất và thực hành tiết kiệm nhưng phải phân phối cho công bằnghợp lý Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “ Sản xuất được nhiều, đồng thời phảiphân phối cho công bằng Muốn phân phối cho công bằng cán bộ phải chí công

vô tư, thậm chí có khi cán bộ vì lợi ích chung mà phải chịu thiệt thòi một phầnnào Chớ nên coi cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác” Tư tưởngphân phối phải công bằng được chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm và luôn nhắcnhở cán bộ đảng viên, những người có chức có quyền phải chăm lo thực hiện,

Trang 13

phải ra sức phải ra sức phát triển thực hiện tiết kiệm lại phải phân phối cho côngbằng hợp lý, từng bước cải thiện ăn, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của củanhân dân Đặc biệt chú ý các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các

cụ già yếu, gia đình thương binh liệt sỹ, có công với cách mạng Tư tưởng phânphối công bằng hợp lý của chủ tich Hồ Chí Minh được gắn liền với yêu cầu phảilàm tốt chính sách bảo đảm xã hội Hồ Chí Minh nhắc nhở “ Quần chúng rấtthông cảm với hoàn cảnh thiếu hàng, quần chúng chỉ phàn nàn việc phân phốikhông công bằng, vẫn còn một số cán bộ lạm dụng chức quyền, quan liêu, xa rờiquần chúng…” Người đề nghị phải làm tốt công tác lưu thông phân phối: “ Khi

có vật tư, hàng hoá thiếu, mà phân phối không đúng, thì gây ra căng thăngkhông cần thiết Trong công tác lưu thông phân phối có hai điều quan trọng luônluôn nhớ:

Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng

Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên”

Người đề nghị phải “ Làm đúng nguyên tắc phân phối theo lao động”Người còn nêu rõ “ Phân phối phải theo mức lao động Lao động nhiều đượcphân phối nhiều, lao động ít được phân phối ít Không nên có tình trạng ngườigiỏi, người kém, việc dễ, việc khó cũng công bằng như nhau Đó là chủ nghĩabình quân, phải tránh chủ nghĩa bình quân”

Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những quan điểm, tư tưởng cơ bảnvềphân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Những quanđiểm và tư tưởng mang đậm tính nhân văn và tư tưởng của người

3 Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập

Đảng ta luôn nhận thức rằng phân phối thu nhập là một nội dung quan trọng trong chính sách kinh tế – xã hội của đất nước, liên quan trực tiếpđến cuộc sống của hàng chục triệu người, đến động lực phát triển kinh tế , đến

ổn định chính trị xã hội và nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước Đảng ta xácđịnh phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị truờng định hướng xã hội chủnghĩa phải trên cơ sở sự đóng góp thực tế của mỗi người về lao động, tài năng,

Trang 14

vốn sản xuất… vào quá trình sản xuất kinh doanh Để thực hiện phân phối côngbằng cần phải:

- Có sự bình đẳng giữa người góp vốn và người góp sức lao động trongphân chia kết quả sản xuất

- Sự binh đẳng giữa người góp vốn được phân phối kết quả sản xuất theonguyên tắc ai góp nhiều được phân chia nhiều, ai góp ít được phân chia ít

- Sự bình đẳng giữa những người lao động được phân phối kết quả sảnxuất theo nguyên tắc ai làm nhiều, làm tốt được hưởng nhiều, ai làm ít, ai làmhỏng phải chịu phạt, mọi người có sức lao động

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đãkhẳng định : “ việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏisửa đổi một cách căn bản chế độ tiền lương theo hướng đảm bảo yêu cầu tái sảnxuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân …, áp dụng các hình thức trảlương gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

Phải thực hiện phân phối một cách công bằng “ ở cả khâu phân phốihợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiệncho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” trongquá trình phân phối kết quả sản xuất phải : “thực hiện nhiều hình thức phânphối lấy phân phối theo kết quả lảo động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồngthời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuấtkinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điềutiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của người lao động” đây là quan điểm mới về phânphối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta bắt nguồn

từ mục tối cao của Đảng là dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

4 Nguyên tắc phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

4.1 Sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng của phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 15

Đại hội VIII của Đảng đã đề ra những quan điểm chỉ đạo việc hoạch định

hệ thống chính sách xã hội

- Tăng trưởng kinh tế phải liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trongtừng bước và trong suốt quá trình phát triển công bằng xã hội phải thể hiện cả ởkhâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả lao động

- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động vàhiệu quả kinh tế là chủ yếu đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp cácnguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúclợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của người laođộng

Khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo.Thu hẹp dần về trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, tầnglớp dân cư, đại hội IX nhấn mạnh: “ Thực hiện các chính sách xã hội hướng vàophát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạođộng lực mạnh mẽ, phát triển sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, thực hiệncông bằng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp”

Hiệu quả là sự vận hành kinh tế nhằm bằng mọi khả năng thoả mãn mọinhu cầu của mọi người trong điều kiện bị ràng buộc về tài nguyên và kỹthuật.Công bằng về cơ bản là một khái niệm thuộc về lĩnh vực hình thái ý thức,

nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như chính trị, đạo đức, tâm lý Do đó phảiphân phối hợp lý giữa hiệu quả và công bằng phân phối Không phải phân phốithu nhập không công bằng là điều kiện của sự tăng trưởng kinh tế mà trái lại sựphân phối thu nhập công bằng trên thực tế chính là điều kiện để tăng trưởng kinh

tế Bởi vì, thu nhập thấp và mức sống thấp của phần lớn người dân sẽ làm chotình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ và giáo dục kém, do đó sẽ làm giảm năng suấtlao động của họ, vì thế dẫn đến kinh tế phát triển chậm Sự phân phối thu nhậpcông bằng có tác dụng như một hình thức kích thích vật chất và tâm lý đối vớiquần chúng tham gia vào phát triển kinh tế Đồng thời tăng thu nhập cho ngườinghèo cũng sẽ tăng nhu cầu đối với các nhu yếu phẩm, sự tăng lên của nhu cầu

Trang 16

sẽ kích thích sản xuất, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh Vì thế,phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩakhông thể theo quan điểm “ được cái này thì mất cái kia” tức là muốn tăngtrưởng kinh tế cao thì phải hy sinh công bằng, mà phải đảm bảo sự thống nhấtgiữa công bằng và hiệu quả

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sự thống nhấtgiữa hiệu quả công bằng là yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa Mục tiêu chung của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân nhưngđiều đó lại tuỳ thuộc vào sự tăng trưởng của của cải xã hội Trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả là biện pháp quantrọng để tăng của cải, nếu không chú ý tới hiệu quả, tách rời mục tiêu phát triển

và tăng thêm của cải thì xã hội sẽ đình trệ, đất nước sẽ lạc hậu Do đó tìm cáchnâng cao hiệu quả tăng thêm của cải là yêu cầu khách quan của nền kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa Nhưng mục đích nâng cao hiệu quả, tăng thêm của cảikhông phải là để thoả mãn nhu cầu và sự hưởng lạc của một số ít người mà là đểthoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của toàn thể nhân dân Vì thế đồng thờivới việc nhấn mạnh mục tiêu hiệu quả cần phải thực hiện phân phối thu nhậpcông bằng Như vậy sự vận động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa đòi hỏi phải thống nhất giữa hiệu quả và công bằng không nên thiên lệch

về phía nào Tuy nhiên sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa tất yếu sẽ hình thành khoảng cách thu nhập, nhưng khoảng cáchthu nhập cần được giữ ở mức vừa phải hợp lý Chỉ có như vậy mới kích thíchviệc nâng cao hiệu quả kinh tế , thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nếu khoảng cáchthu nhập quá nhỏ hoặc quá lớn sẽ dẫn đến mở rộng mâu thuẫn giữa công bằng

và hiệu quả, làm giảm sút hiệu quả kinh tế , không có lợi cho sự tiến bộ và pháttriển của lực lượng sản xuất xã hội Do vậy phân phối thu nhập phải đảm bảo sựthống nhất giữa hiệu quả và công bằng

Trang 17

4.2 Những nguyên tắc phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nền kinh tế nước ta không còn là nền kinh tế tự cung tự cấp mà là nềnkinh tế thị trường.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đưa ra quanđiểm: “ Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả laođộng và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đónggóp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông quaphúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý bảo hộ quyền lợi của ngườilao động”

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiềuthành phần Trong nền kinh tế nước ta tồn tại ba hình thức sở hữu là sở hữu tậpthể và sở hữu tư nhân( gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tưnhân) Từ ba hình thức hình thức sở hữu cơ bản đó và hình thành nhiều thànhphần kinh tế Các thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài , trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh

tế thị trường có nhiều quy luật: Cung cầu, giá tri, cạnh tranh … như vậy mộtcách khách quan kinh tế thị trường vừa tạo điều kiện để xoá đói giảm nghèovừa không ngừng tạo ra sự giàu nghèo mới trong xã hội Chúng ta không hyvọng chỉ lợi dụng mặt tăng trưởng và hiệu quả của cơ chế thị trường mà loại bỏmặt phân phối không công bằng của nó Bởi vì bản thân sự không công bằngchính là cơ chế kích thích sáng tạo qua tác động lợi ích cá nhân của cơ chế thịtrường gây ra Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ phân phối,

vì vậy tương ứng mỗi thành phần kinh tế , mỗi hình thức sở hữu có nguyên tắcphân phối thu nhập phù hợp

4.1.Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

Phân phối theo là đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế thị trường định hướngXHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu về tư liệusản xuất Nếu xoá bỏ phân phối theo lao động, thì chế độ công hữu về tư liệu sản

Trang 18

xuất sẽ không được thực hiện về mặt kinh tế, quyền bình đẳng của người laođộng trở nên ít tác dụng, tính định hướng XHCN khó được thực hiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu lên nguyên tắc: " Thực hiện phânphối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phốitheo mức đóng góp vốn vào các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh vàthông qua phúc lợi xã hội chứ không phải trong mọi xã hội, điều này được Máctrình bày trong " Phê phán cương lĩnh GoTa", ông vạch rõ rằng trong xã hội xãhội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ đi các khoản cần thiết, để duy trì sản xuất, táisản xuất cũng như để duy trì cuộc sống cộng đồng, toàn bộ sản phẩm xã hội cònlại sẽ được phân phối theo nguyên tắc Mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lạimột số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta

đã cung cấp cho xã hội, sau khi đã trừ đi số lao động của anh ta cho các quỹ xãhội Mác coi đây là nguyên tắc phân phối cơ bản trong chủ nghĩa xã hội vì nó làthành quả của lao động, tác động trực tiếp vào tính tích cực của lao động xã hội

Đó còn là nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng cho những người sản xuấtngang nhau, tham gia vào quỹ tiêu dùng xã hội khi làm công việc ngang nhau.Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là sự vận dụng nguyên tắcphân phối theo lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN

Nó được thực hiện trong các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tưliệu sản xuất Kết quả lao động cụ thể của mỗi người, của một doanh nghiệptrong các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chỉ cóthể được thừa nhận, bán được sản phẩm hàng hoá Hiệu quả kinh tế được thểhiện ở kết quả lao động của cá nhân và tập thể trong doanh nghiệp Yêu cầu củaphân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế trong những điều kiện laođộng như nhau, những lao động mang lại kết quả như nhau thì được trả côngbằng nhau, những lao động mang lại kết quả khác nhau thì được trả công khácnhau

Quá trình phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được thựchiện thông qua hai khâu phân phối với các chủ thể tham gia là nhà nước, doanh

Trang 19

nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp Khâu thứ nhất tổng thu nhập củadoanh nghiệp trước hết được phân chia giữa nhà nước và doanh nghiệp.Khâuthứ hai phân phối thu nhập trong nội bộ doanh nghiệp với tư cách là chủ thể tiếnhành và dựa trên cơ sở kết quả lao động của mỗi người Hai khâu phân phối trênkhông thể tách rời nhau, sự kết hợp chúng tạo thành cơ chế phân phối thu nhậpcủa doanh nghiệp Phân phối thu nhập qua hai khâu vừa bảo đảm quyền của chủ

sở hữu vốn tài sản tại doanh nghiệp, thực hiện chức năng quản lý của nhà nước,vừa đảm bảo quyền tự chủ của doanh nghiệp trong phân phối thu nhập Bêncạnh đó, phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế còn thực hiện dướihình thức tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội

Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao độngsau khi đã hoàn thành các công việc theo chức năng, nhiệm vụ được thoả thuậntrong hợp đồng lao động Lương tối thiểu là một hình thức phân phối căn cứ vàomức sống tối thiểu và tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của một nước trongtừng thời kỳ và mỗi vùng trong một nước Việc quy định tiền lương tối thiểubằng văn bản có tính chất pháp lý tạo ra lưới an toàn cho người lao động thunhập thực tế của người lao động trong các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữutuỳ thuộc vào kết quả lao động trong các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữutuỳ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả của doanh nghiệp

Phụ cấp lương là chế độ được hình thành bởi sự thoả thuận giữa người laođộng và người sử dụng lao động Các loại phụ cấp đó gồm phụ cấp khu vực, phụcấp thu hút lao động, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm giờ Ngoài ra còn

áp dụng một số chính sách phụ cấp lương cho các ngành nghề ưu tiên phát triểnnhư giáo dục, đào tạo, y tế

Tiền thưởng là khoản các doanh nghiệp lấy từ lợi nhuận để phân phốinhằm khuyến khích, động viên người lao động hoặc tập thể làm việc tốt, cóthành tích đặc biệt

Phúc lợi xã hội cũng là một hình thức làm tăng thêm thu nhập cho ngườilao động do kết quả lao động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Phân

Trang 20

phối thông qua phúc lợi tập thể được thông qua xây dựng nhà ở, công trình phục

vụ công nhân về vui chơi, giải trí …

4.2 Phân phối theo mức đóng góp vốn và tài sản.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân phối theomức đóng góp vốn và tài sản là một đòi hỏi tất yểu và cũng là một nguyên tắcphân phối cơ bản Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tồn tại nhiều hìnhthức sở hữu, do đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể dần dần trở thành nềntảng của nền kinh tế quốc dân Tương ứng với cơ cấu sở hữu như vậy đòi hỏiphải thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối thep kết quả lao động

và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu Phân phối theo mức đóng góp vốn và tài sản làmột tất yếu và có ý nghĩa thực tế, do đó cần xem nó cũng là một nguyên tắcphân phối cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

4.3 Phân phối thông qua phúc lợi xã hội.

Trong xã hội ngoài những người có sức lao động và vốn góp vào quá trìnhsản xuất, nhờ đó nhận được thu nhập dưới hình thức tiền lương hay tiền công lợitức, còn có những người không có khả năng lao động hoặc hết khả năng laođộng mà xã hội vẫn phải đảm bảo đời sống cho họ Nền kinh tế nước ta pháttriển theo định hướng XHCN, nên phân phối thông qua phúc lợi xã hội có ýnghĩa quan trọng Nó góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm sự chênh lệch

về thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người có thu nhậpthấp, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện

Trang 21

II THỰC TRẠNG PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG THỜI GIAN QUA Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng các chính sách phân phối thu nhập

1.1 Chính sách tiền lương

Chính sách tiền lương là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sáchkinh tế xã hội liên quan trực tiếp đến lợi ích, phân phối thu nhập của hàng triệungười lao động, ảnh hưởng tới sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội của đấtnước

Đối với doanh nghiệp nhà nước, nhà nước với tư cách là chủ thể sở hữu,nhà nước quyết định chính sách phân phối thông qua việc ban hành hêj thốnglương bao gồm lương tối thiểu, hệ thống thang lương, bảng lương Tiền lương

và thu nhập của người lao động từng bước gắn với năng suất lao động, hiệu quảsản xuất kinh doanh mối quan hệ giữa tiền lương, tiền thưởng và lợi nhuận đượcgiải quyết hợp lý hơn

Tuy nhiên mối quan hệ giữa tiền lương và các điều kiện thực hiện cònchứa đựng những yếu tố chưa phù hợp với cơ chế thị trường nên thực hiện tácdụng rất hạn chế, hệ thống thang bảng lương do nhà nước ban hành phức tạp, íttác dụng Nhà nước thống nhất quản lý chi phí tiền lương ở đầu vào còn chưachặt chẽ Nhà nước quy định mức lương tối thiểu và không có ý khống chế mứclương tối đa nhưng khống chế tốc độ tăng tiền lương phải thấp hơn năng suất laođộng Những cải cách này tuy đã giảm được sự can thiệp của nhà nước nhưngviệc khống chế quỹ lương, thưởng, phúc lợi đã hạn chế tính tích cực sáng tạocủa người lao động, không khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các ngành.Các chế độ phụ cấp ban hành để cuốn hút được người lao động làm việc ởnhững nơi khó khăn, bù đắp được hao phí lao động chưa tính được trong tiềnlương Các chế độ phụ cấp lương hiện hành vừa trùng lặp về ý nghĩa khuyếnkhích vừa không quy định rõ cách tính, vừa tạo ra mâu thuẫn trong quan hệ cânđối tiền lương giữa các ngành nghề, chưa đủ mức để khuyến khích những ngườiđến công tác ở những nơi khó khăn, vùng xa, miền núi hẻo lánh

Trang 22

Trước tình hình biến động của giá làm cho tiền lương thực tế, đời sốngcủa dân cư nói chung ngày càng sa sút, đã gây ra sự phản ứng của các đối tượngtrong xã hội, trong các đơn vị sản xuất kinh doanh có thể phân ra ba loại xínghiệp

Loại xí nghiệp làm ăn thực sự có lãi, có điều kiện phát triển chưa nhiều.Loại này lương và thu nhập thực sự gắn với kết quả sản xuất kinh doanh, khi thunhập của họ quá cao không bị điều tiết

Loại xí nghiệp ở trạng thái bấp bênh, nay lãi mai lỗ, sản xuất không ổnđịnh Loại này thường tìm mọi cách để tăng thu nhập, thậm chí xí nghiệp đang

lỗ mà thu nhập người lao động vẫn cao, nguồn thu nhập này được tạo ra mộtcách không chính đáng

Loại xí nghiệp làm ăn thua lỗ liên tục thiếu việc làm có nguy cơ giải thểthu nhập của người lao động thực chất là ăn dần vào vốn cho đến khi toàn bộ tàisản bị khánh kiệt nhưng không chịu phá sản như các xí nghiệp tư nhân

Toàn bộ những thực tế này đã tạo ra sự chênh lệch về tài năng của ngườilao động tạo ra, mà phần lớn không phải do sự chênh lệch về tài năng của ngườilao động tạo ra Nhà nước còn thực hiện sự phân phối gián tiếp qua ngân sáchcho công nhân viên chức Ví dụ, vấn đề phân phối nhà ở tuy đã có quyết định150CP nhưng khi thực hiện lại rất tuỳ tiện, chế độ trang cấp đồ dùng gia đình,chế độ chi cho phương tiện đi lại thì tuỳ từng gia đình, từng đơn vị cũng thựchiện khác nhau không thống nhất

Tuy vậy việc giải quyết tiền lương ở nước ta trong thời gian qua chưa phùhợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang hoạt động trong một thịtrường thống nhất Tiền lương đó chưa thực sự là thước đo giá trị, sức lao động,chưa đảm bảo tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không ngừng chưatrở thành nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động làm công ăn lương Nhànước và công đoàn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu củangười lao động, tiền lương chưa thực sự trở thành đòn bẩy kích thích người laođộng làm việc thực hiện chế độ tiền lương Song chính sách tiền lương không

Trang 23

đảm bảo đời sống của người lao động làm công ăn lương, của người nghỉ hưu,tiền lương được tiền tệ hoá ở mức thấp, do đó vừa không được hạch toán đủ vàogiá thành vừa che dấu sự phân phối không công bằng Cơ chế quản lý tiền lươngcòn nhiều sơ hở Khó khăn lớn nhất hiện nay là nhà nước chưa có cơ chế và giảipháp để giám sát thu nhập thực của người lao động đặc biệt là đối với lao độngquản lý doanh nghiệp để có biện pháp xử lý phù hợp, việc quản lý tiền lươngvẫn còn mang nặng tính hành chính, tập trung quan liêu bao cấp, chính sách tiềnlương là một mặt quan trọng về sở hữu nhưng phân phối chưa được minh bạch.

Do đó phải thực hiện cải cách tiền lương, thực hiện công bằng hơn tạo động lựctăng năng suất lao động, hiệu quả công tác, tăng trưởng kinh tế, thay đổi phươngthức quản lý về lao động tiền lương

1.2 Chính sách xoá đói giảm nghèo.

Bản chất của vấn đề nghèo đói là do quy luật phát triển kinh tế xã hộikhông đồng đều dẫn đến phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo Nghèo đóiđanglà một trong những vấn đề bức xúc của Việt nam hiện nay và đựơc nhànước ta đặc biệt quan tâm, nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách để giảm hộđói nghèo, đảm bảo cho những hộ đói nghèo được hưởng phúc lợi xã hội, y tếgiáo dục … điều này đã được đảng ta xác định :" Tăng thu nhập cải thiện mộtbước đời sống vật chất văn hóa của nông dân, giảm mức tăng dân số, khắc phụcnạn suy dinh dưỡng, tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xoá đói giảm nghèo, nhất làcác vùng cao vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây làcăn cứ cách mạng…" Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương thực hiện xóađói giảm nghèo với một loạt chính sách và các giải pháp được đồng bộ triển khaithực hiện Nghị quyết đại hội VIII đã khẳng định xoá đói giảm nghèo là mộttrong 11 chương trình kinh tế xã hội giai đoạn 1996-2000 Chính phủ chỉ đạo Bộlao động thương binh xã hội xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia xóa đóigiảm nghèo và chỉ đạo các bộ ngành các cấp uỷ Đảng chính quyền, các tổ chứchuy động nguồn lực thực hiện chính sách và mục tiêu giảm nghèo Quyết định13/1998/QĐ-TTG về việc thành lập ban chỉ đạo chương trình phát triển kinh tế

Trang 24

xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Chuyển nội dung

từ hoạt động phong trào sang nội dung phát triển kinh tế, những mục tiêu về xóađói giảm nghèo đã chính thức được chính phủ cân đối nguồn lực từ ngân sách.Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản chính sách hỗ trợ trực tiếp xóa đói giảmnghèo đã từng bước xây dựng và tổ chức chỉ đạo có hiệu quả ở hầu hết các địaphương Hệ thống chính sách một mặt tạo dựng giá đỡ cho người nghèo, mặtkhác cũng chính là công cụ nhằm thực hiện mục tiêu của đảng và nhà nước.Nhiều hệ thống chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, tín dụng, đầu tư cho cơ sở hạtầng, nước sạch đã thực hiện tốt ở nhiều địa phương Hệ thống chính sách xóađói giảm nghèo gồm:

- Chính sách đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn và sắp xếp lại dân cư

- Chính sách hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề

- Chính sách hỗ trợ tín dụng với người nghèo

- Chính sách hỗ trợ vể giáo dục

- Chính sách hỗ trợ vể y tế

- Chính sách hỗ trợ người nghèo cách làm ăn và khuyến nông - lâm - ngư

- Chính sách hỗ trợ nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác hỗ trợxoá đói giảm nghèo và cán bộ ở các xã nghèo

- Chính sách định canh, định cưm, di dân vùng kinh tế mới

- Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn

- Chính sách hỗ trợ tăng cường cán bộ xã nghèo

Tuy nhiên nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp, ngânsách nhà nước còn hạn chế chưa đảm bảo đầu tư cho xã nghèo, người nghèochưa đầu tư đúng mức cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc miền núi,vùng căn cứ kháng chiến cũ Mặc dù Đảng có nhiều chính sách triển khai nhưngkhi thực hiện còn nhiều khó khăn cán bộ chưa có kinh nghiệm và chưa tạo lậpđược nhiều mô hình, một số mô hình đã có thì việc tổng kết nhân rộng còn hạnchế Môi trường bền vững cho xoá đói giảm nghèo như: đất đai, thuế xuất nhập

Trang 25

khẩu, bảo hộ tiêu thụ nông sản phẩm… Trình độ nhận biết về xóa đói giảmnghèo còn nhiều hạn chế nhất là đối với cán bộ cấp cơ sở.

1.3 các chính sách xã hội:

trong công cuộc đổi mới, đời sống của nhân dân được nâng cao, nhà nướccàng ngày càng đảm bảo cho nhân dân được hưởng sự chăm sóc từ quỹ phúc lợicủa xã hội Nhà nước đã điểu chỉnh , bổ sung , sửa đổi liên tục theo quan điểmhuy động mọi lực lượng trong xã hội bao gồm nhà nước , cộng đồng , gia đìnhcùng tham gia thực hiện chính sách xã hội

a Lĩnh vực giáo dục:

Chính sách giáo dục có vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển nguồnnhân lực, nâng cao dân trí phục vụ quá trình phát triển đất nước Vấn đề giáodục đựơc coi là vấn đề quốc sách nên nhà nước ta rất coi trọng và có nhiều chínhsách để phát triển giáo dục Trong nền kinh tế thị trường , lĩnh vực Việt Nam có

sự thay đổi rõ rệt:

Sự nghiệp giáo dục được cơ cấu lại, đa dạng hoá các loại hình trường học

Hệ thống giáo dục và đào tạo , tạo điều kiện mở rộng cho người họclựa chọn

Đa dạng hoá các hình thức cung cấp các dịch vụ giáo dục bao gồm dịch vụcủa nhà nước và tư nhân

Thực hiện xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện cho người dân , nhất là ngườinghèo được tiếp cận với dịch vụ giáo dục, khuyến khích phát triển các trườngngoài công lập từ mầm non đến đại học, làm giảm sức ép cho giáo dục công lập

Bên cạnh giáo dục tiểu học, nhà nước còn thực hiện một số chính sách đốívới con em người nghèo như miễn giảm học phí, thành lập quỹ học bổng chohọc sinh nghèo vay

Tuy nhiên lĩnh vực giáo dục vẫn còn nihều bất cập, tình trạng thiếu giáoviên , cơ sở vật chất học tập, số lượng học sinh phải học ca ba vẫn còn tươngđối phổ biến Thực hiện triển khai chính sách giáo dục còn nhiều thiếu, yếu vàkhông đồng bộ ở bậc đaị học tỷ lệ giảng viên trình độ còn thấp Nhiều học sinhtrong độ tuổi vẫn chưa được đến trường , đặc biệt là đối tượng yếu thế trong xã

Ngày đăng: 01/08/2013, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w