1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gender based violence the case of vietnam (vietnamese)

48 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 415,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các lý do đưa ra cho sựgiảm bớt này là: • tiêu chuẩn sống đ∙ được cải thiện dẫn đến sự giảm bớt mức độ căng thẳng về kinh tế trong gia đình • địa vị phụ nữ trong gia đình và trong cộng đ

Trang 1

Bạo lực trên cơ sở giới:

trường hợp việt nam

TS Vũ Mạnh Lợi, Phòng Xã hội học Gia đình, Viện Xã hội học (XHH)

26987

Trang 2

mục lục

Bạo lực trên cơ sở giới: Trường hợp việt nam i

tóm tắt i

Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực i

Nhận thức về sự thay đổi của bạo lực trong gia đình ii

Phản ứng của cá nhân và các thiết chế x∙ hội ii

Các khuyến nghị iii

ĐặT VấN Đề 1

Nhận thức quốc tế về nạn bạo lực trên cơ sở giới 1

Sự thừa nhận về nạn bạo lực trong gia đình ở Việt nam 2

I Về cuộc nghiên cứu 4

1 Mục đích nghiên cứu 4

Phương pháp luận 5

Chọn mẫu nghiên cứu 5

Các phỏng vấn sâu 6

Thảo luận nhóm tập trung 6

Bảng hỏi 7

Phân tích các bài viết trên phương tiện thông tin đại chúng 7

Những hạn chế và tiềm năng sai lệch của kết quả nghiên cứu 8

Tính nhạy cảm của đề tài 8

Sai lệch do chọn mẫu 8

Sai lệch do trả lời theo chuẩn mực 8

Hiểu nhầm các khái niệm 8

Sai lệch của phỏng vấn viên 9

II kết quả 9

1 Định nghĩa bạo lực trong gia đình 9

2 Nhận thức của người được hỏi về mức độ phổ biến, tần số, và độ nghiêm trọng của bạo lực 11

Ngược đ∙i về thân thể và lời nói 12

Ngược đ∙i về tình cảm 13

Các ngược đ∙i liên quan đến tình dục 13

3 Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực 14

Khó khăn kinh tế và bạo lực 14

Học vấn và bạo lực 15

Lạm dụng rượu và bạo lực 16

Cờ bạc và nợ nần 16

Những thành kiến về giới và bạo lực 17

Vấn đề tình dục và bạo lực 19

Cưỡng ép làm tình 20

Các mối quan hệ gia đình mở rộng 20

4 Nhận thức về sự thay đổi của nạn bạo lực trong mười năm qua 21

Cảm nhận cá nhân của người được phỏng vấn 21

Phân tích so sánh báo chí 22

Phân tích báo và tạp chí từ 1983 24

5 Phản ứng của cá nhân và các thể chế 26

Phản ứng của cá nhân phụ nữ 26

Phản ứng của hàng xóm và bạn bè 27

Phản ứng của các thể chế 28

Tổ dân cư 29

Hội phụ nữ và tổ hòa giải 29

Trang 3

Các dịch vụ tư vấn 31

Phản ứng trong hệ thống luật pháp 32

III kết luận và kiến nghị 35

Kiến nghị 1: Một chương trình vận động thuyết phục 36

Kiến nghị 2: Nâng cao nhận thức 36

Kiến nghị 3: Tập huấn 37

Kiến nghị 4: Mở rộng các dịch vụ tư vấn 37

Kiến nghị 5: Nhà tạm lánh 38

Kiến nghị 6: Nghiên cứu 38

Kiến nghị 7: Theo dõi mức độ phổ biến và xu hướng 39

tài liệu tham khảo 40

Các bảng List of Tables iii

Bảng 1: Tần số của ngược đãi theo mức thu nhập tự phân hạng 15

Bảng 2: Người có thu nhập chính và bạo lực trong gia đình 18

Bảng 3 Các bài viết trên báo chí 23

Trang 4

Bạo lực trên cơ sở giới: Trường hợp việt nam

tóm tắt

Định nghĩa và đo lường bạo lực trong gia đình ở Việt nam là công việc khó khăn Những người khác nhauthường bày tỏ những nhận thức khác nhau về điều gì là hành động ngược đ∙i không thể chấp nhận đượctrong gia đình Đối với nhiều người, xung đột thỉnh thoảng mới xảy ra là chuyện bình thường trong cuộcsống gia đình Một bộ phận lớn phụ nữ và nam giới cũng cho rằng việc thỉnh thoảng đánh vợ cũng là chứcnăng bình thường của người chồng trong vai trò người chủ gia đình và người giáo dục vợ con

Bạo lực trong gia đình ở Việt nam diễn ra ở mọi vùng, cả ở đô thị lẫn nông thôn, và trong các gia đìnhthuộc mọi mức thu nhập Tuy nhiên, tỷ lệ bạo lực thay đổi tuỳ thuộc vào biến số này hoặc biến số khác

Lý do sâu xa của sự tồn tại bạo lực trong gia đình là những thái độ đ∙ ăn sâu trong tiềm thức về các vai trò,các trách nhiệm được quy định về mặt văn hóa và x∙ hội và các đặc điểm của nam giới và nữ giới Người tagiả định chung rằng phụ nữ có trách nhiệm duy trì sự thanh bình và sự hài hòa trong gia đình, và trong cácquan hệ gia đình phụ nữ được coi là lệ thuộc vào đàn ông Ngược lại, "sự thiếu tính kiềm chế" được xemnhư một đặc điểm mang tính đàn ông Đàn ông được xem là có đặc trưng nóng tính và họ không thể kiềmchế được đặc trưng này, nhất là khi uống rượu Uống rượu cũng là một đặc trưng được chấp nhận của đàn

ông và được xem như là một phần cần thiết của vai trò nam giới trong việc đại diện cho gia đình về mặt x∙hội Mặc dù sự bình đẳng giới và quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo đảm, những thái

độ dung dưỡng sự bất bình đẳng và bạo lực vẫn tồn tại dai dẳng trong phần lớn các cộng đồng và trong cácthiết chế có nhiệm vụ giám sát việc thi hành và thi hành luật pháp

Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực

Í Việt Nam, dư luận rộng r∙i coi bạo lực ở mức độ nặng là không thể chấp nhận được Tuy nhiên, nghiêncứu này cho thấy rằng khi bạo lực xảy ra, cả phụ nữ và nam giới đều thường coi đó là do lỗi của phụ nữ, vàngười đàn ông có lý khi đánh vợ mình Bạo lực bị coi là bất hợp pháp và không thể chấp nhận được về mặtx∙ hội chỉ trong trường hợp nếu người phụ nữ được xem như "không có lỗi"

Nghiên cứu này chỉ ra rằng hai yếu tố quan trọng nhất góp phần gây ra bạo lực trong gia đình là khó khăn

về kinh tế và lạm dụng rượu Trong nhiều trường hợp hai vấn đề này kết hợp với nhau một cách chặt chẽ.Những yếu tố chủ yếu khác liên quan đến tình dục (ngoại tình, ghen tuông, sự không tương thích về tìnhdục); các thói quen có hại khác như đánh bạc và nghiện hút ma túy; và các bất đồng chính kiến trong việcnuôi dạy con cái và đối xử với bạn bè và họ hàng

Những người được phỏng vấn thuộc tất cả các nhóm kinh tế đều cho rằng rằng bạo lực trong gia đình bịtrầm trọng thêm bởi những khó khăn về kinh tế òkiến này tỏ ra được hỗ trợ bởi số liệu của một khảo sát

định lượng nhỏ được tiến hành trong cuộc nghiên cứu này Số liệu này cho thấy có mối liên quan giữa sựnghèo khổ (đo bằng sự tự phân hạng giàu nghèo của người được hỏi) và bạo lực trong gia đình Cách lýgiải phổ biến nhất đối với điều này là các cặp vợ chồng đang phải lăn lộn kiếm sống là những người bịnhiều ức chế về thần kinh hơn

Ngược lại, nghiên cứu đ∙ phát hiện ra rằng, người chồng và người vợ có học vấn càng cao thì càng có tỷ lệthấp hơn những ngược đ∙i dưới dạng mắng chửi, đánh đập, cấm đoán vợ đi lại hay nhốt, và cưỡng ép vợ làmtình khi vợ không muốn Mối tương quan này được cho là có thể liên quan đến việc những người có họcvấn càng cao thì càng ít bị nghèo khổ hơn Tỷ lệ bạo lực về thân thể ở các hộ gia đình nông thôn cao hơncũng được cho là chủ yếu do nghèo khổ

Thói quen uống rượu của người chồng cũng là đề tài được láy đi láy lại trong các phỏng vấn Một nửa sốphụ nữ phỏng vấn bằng bảng hỏi cho biết chồng họ nghiện rượu, tỷ lệ này cao hơn ở khu vực nông thôn (và

có thể đóng góp vào cái vòng trầm luân luẩn quẩn của vấn đề nghèo khổ) Nam giới thường cho đó là lý do

mà các bà vợ dai dẳng cằn nhằn về họ và nghĩ rằng phụ nữ nên kiên nhẫn hơn khi người chồng uống rượusay Các vấn đề khác có liên quan đến bạo lực trong gia đình là thói quen cờ bạc của đàn ông và tác độngcủa nợ nần đến gia đình Nạn nghiện hút ma túy cũng có liên quan đến bạo lực trong gia đình ở một số gia

đình

Trang 5

Trong khi nhìn chung mọi người cho rằng bạo lực gia đình có giảm bớt ở các khu đô thị, người ta lại tinrằng những xung đột vợ chồng trở nên trầm trọng hơn do việc nhiều ông chồng thường đi uống bia ôm và

đến các nhà hàng xoa bóp (massage) Đàn ông sống ở đô thị cũng có khả năng xem các băng hình đồi trụynhiều hơn Một số người được hỏi đ∙ gắn những điều này với việc người chồng có những đòi hỏi về tìnhdục lớn hơn ở người vợ

Một số phụ nữ cũng nói đến sự ghen tuông của nam giới Những phụ nữ có giao thiệp rộng thường thôngqua công việc nhìn chung ít chịu bạo lực trên cơ sở giới hơn có lẽ vì họ có tính độc lập về kinh tế Tuynhiên có những trường hợp những phụ nữ này bị mắng chửi và/hoặc đánh đập vì sự ghen tuông của ngườichồng

Nạn ngoại tình của đàn ông cũng tỏ ra khá phổ biến Trong một số trường hợp điều này có liên quan đếnviệc đi uống bia ôm như đ∙ nêu trên Ícác trường hợp khác đàn ông có bồ bịch hay vợ bé Những phụ nữ

được hỏi gán điều này cho việc phụ nữ không có khả năng sinh con trai hay do người vợ không thể thỏam∙n người chồng về mặt tình dục được Vì thế phần lớn phụ nữ cho rằng họ không có quyền từ chối khingười chồng đòi hỏi tình dục bởi, và xem đó là quyền của người chồng Việc từ chối đó có thể đẩy ngườichồng đến chỗ đi tìm cách thỏa m∙n nhu cầu tình dục bên ngoài hôn nhân

Những yếu tố khác góp phần gây ra những xung đột vợ chồng và bạo lực trên cơ sở giới bao gồm nhữngmối quan hệ với gia đình mở rộng và các quan hệ với bạn bè và họ hàng nói chung Các ông chồng và các

bà vợ cũng thường bất hòa với nhau về việc nuôi dạy con cái Phụ nữ nói chung được xem là người nuôngchiều con cái và dịu dàng dạy bảo con để dung hòa vai trò nghiêm khắc hơn của người bố

Bình đẳng giới trong hộ gia đình tỏ ra là biến số quan trọng trong bạo lực gia đình Trong các gia đình màcả vợ và chồng cùng có thu nhập và cùng ra các quyết định chi tiêu thì mức độ có bạo lực trong gia đìnhthấp hơn

Nhận thức về sự thay đổi của bạo lực trong gia đình

Trái với giả thuyết ban đầu của chúng tôi, ở cả ba vùng được nghiên cứu đều có kết quả khá bất ngờ là ýkiến chung của những người được hỏi là bạo lực trong gia đình đang giảm bớt Các lý do đưa ra cho sựgiảm bớt này là:

• tiêu chuẩn sống đ∙ được cải thiện dẫn đến sự giảm bớt mức độ căng thẳng về kinh tế trong gia đình

• địa vị phụ nữ trong gia đình và trong cộng đồng rộng lớn hơn tăng lên

• ngày nay người ta tôn trọng pháp luật hơn và có học vấn cao hơn

• phụ nữ ngày nay có nhiều tiếp xúc bên ngoài gia đình hơn

• phụ nữ tỏ ra kiên nhẫn hơn đối với các ông chồng của mình

Ngược lại, một số ít các bài báo và trên các phương tiện thông tin đại chúng về bạo lực trong gia đình chothấy rằng vấn đề này đang bị bỏ qua, và chính vì thế các vụ bạo hành thực tế có thể đang gia tăng Điềunày thường được quy lỗi cho các luồng ảnh hưởng từ bên ngoài và sự gia tăng của các "tệ nạn x∙ hội" nhưvăn hóa phẩm đồi trụy và các ổ m∙i dâm, đặc biệt ở các vùng đô thị Tuy nhiên, kết quả của cuộc nghiêncứu này không đưa ra được xu hướng xác định và cho thấy không có bằng chứng xác thực hỗ trợ cho cả haigiả thuyết về sự gia tăng và sự giảm bớt tỷ lệ bạo lực trong gia đình

Phản ứng của cá nhân và các thiết chế xã hội

Những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực trong gia đình không có nhiều sự lựa chọn Phần lớn phụ nữ phảichịu đựng sự ngược đ∙i này và không muốn nói cho người ngoài biết Trong những trường hợp nghiêmtrọng phụ nữ có thể tìm kiếm sự giúp đỡ của hàng xóm, bạn bè, và họ hàng để ngăn chặn nạn bạo hành.Thêm vào đó, họ hàng, và nhất là cha mẹ đẻ của người vợ, có thể là nơi để người phụ nữ tạm lánh và tìm lờikhuyên

Các tổ chức chính thức như tổ/cụm dân cư, các tổ/ban hòa giải, hội Phụ nữ, và chính quyền địa phương (ểyban nhân dân, công an) chỉ can thiệp những trường hợp nghiêm trọng Theo luật, chính quyền địa phương

Trang 6

là các chuyên gia được đào tạo Vì thế họ thường khuyên phụ nữ chịu đựng hoàn cảnh và đặt sự toàn vẹncủa gia đình và lợi ích của con cái lên trên nhu cầu cá nhân riêng của người phụ nữ Ngoài những tổ chứcnày dường như có ít hoặc không có hành động tập thể nào của phụ nữ đề cập đến bạo lực gia đình trong x∙hội.

Phụ nữ thường chỉ tìm đến luật pháp khi sự ngược đ∙i rất nghiêm trọng và kéo dài Ngay cả trong trườnghợp này phụ nữ cũng tỏ ra rất miễn cưỡng trong việc truy tố chồng mình Hơn nữa, tòa án có thể khônggiải quyết nếu tòa không cho đó là trường hợp nghiêm trọng Tuy nhiên, các cơ cấu cho việc giám sát vàcan thiệp vào các trường hợp có bạo lực trong gia đình trước khi nó được đưa đến các cơ quan pháp luật

được thiết lập khá tốt Một phần của quá trình can thiệp này là việc cung cấp các lời khuyên, nhưng nhữnglời khuyên này thường bị tác động bởi các giá trị truyền thống và kêu gọi phụ nữ sống thụ động và chịu

đựng hoàn cảnh của mình

Các kết quả của cuộc nghiên cứu này gợi ra rằng bạo lực trong gia đình là một quá trình rất phức tạp chịu

ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Tính trầm trọng và tần suất của nạn bạo lực là điều khó đo lường vì bạo lực cónhiều hình thức và với nhiều mức độ trầm trọng Tuy nhiên, cơ sở của mọi yếu tố có thể dẫn đến bạo lựctrong gia đình là các vai trò, các trách nhiệm, các giá trị truyền thống về giới Không làm được việc tháchthức các định kiến về giới đ∙ thâm căn cố đế và còn đang tồn tại là điều cho phép nạn bạo lực trong gia

đình diễn ra và thẩm thấu vào mọi tầng lớp của x∙ hội như một phần "bình thường" và được chấp nhận củacác quan hệ vợ chồng Với những nhận thức đ∙ bắt rễ sâu sắc như vậy, điều không ngạc nhiên là các hành

động mang tính thiết chế và các văn bản chính sách tiếp tục giúp cho việc duy trì tình trạng hiện có.Cảm nhận chung của những người được phỏng vấn là tỷ lệ bạo lực trên cơ sở giới là tương đối thấp trongcác cộng đồng họ đang sống (với các đánh giá về các vụ đánh đập xảy ra trong khoảng từ 5 đến 20 phầntrăm số hộ gia đình) Con số này thấp hơn đáng kể các số liệu thu được trên thế giới và có thể đơn thuầnphản ánh thực tế là một mức độ nhất định của nạn bạo lực trong gia đình được coi là bình thường theo vănhóa Việt nam Tuy nhiên, cũng có thể đúng là bạo lực trong gia đình ở Việt nam đ∙ được hạn chế ở mức tốithiểu nhờ các nhóm cộng đồng có nhiệm vụ duy trì trật tự x∙ hội (tổ dân cư, hội phụ nữ, vân vân)

Các vụ bạo lực chống lại phụ nữ phổ biến hơn trong các x∙ hội nơi mà bạo lực được chấp nhận nhiều hơnnhư cách thức giải quyết các xung đột và ở nơi mà sự chuyên quyền là phổ biến chứ không phải giải pháp

đối với sự bất đồng dựa trên sự thương lượng (Sanchez & Gonzalez 1997:73) Rõ ràng ta có thể lập luậnrằng Việt nam tương đối không phải là một x∙ hội bạo lực và vì thế người ta có thể chờ đợi rằng bạo lựcdựa trên cơ sở giới sẽ thấp một cách tương ứng Quan điểm lý luận này, tuy nhiên, không nên được hiểutheo hướng làm lu mờ thực tế rằng bạo lực trong gia đình là một vấn đề rất thật và phổ biến ở Việt nam

đang tác động đến phụ nữ trong mọi nhóm x∙ hội và khu vực địa lý

Các khuyến nghị

Báo cáo này khuyến nghị rằng:

1 bạo lực trên cơ sở giới cần được các nhà làm chính sách ưu tiên chú ý và được coi như một vấn đề x∙hội quan trọng Điều này sẽ đòi hỏi những thay đổi căn bản trong cách mà người ta nhìn nhận các vaitrò giới và sự bình đẳng giới Cần có một chương trình vận động thuyết phục có hiệu quả nhằm nângcao nhận thức của các nhà làm chính sách ở mọi cấp, nhằm tạo ra một môi trường có tính thiết chếthuận lợi cho việc đấu tranh với nạn bạo lực trong gia đình

2 nên có một chương trình được thiết kế cẩn thận nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về bạo lực trêncơ sở giới thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Các chiến dịch nâng cao nhận thức cũng cóthể được thực hiện thông qua các hoạt động dựa trên cộng đồng như các buổi gặp gỡ, các buổi thảoluận với các nhóm đối tượng và việc phân phát các tài liệu truyền thông như sách nhỏ hay tờ rơi Cácthông điệp nên được xây dựng có phân hóa đối tượng theo giới Trong chiến dịch nâng cao nhận thứcnày, các đề tài về bạo lực trong gia đình nên được lồng ghép với các khái niệm rộng hơn về sự bình

đẳng giới và nên được lồng ghép vào chương trình nâng cao nhận thức nhân dân về các vấn đề luậtpháp đang được triển khai

3 một chương trình tập huấn cần được xây dựng nhằm nâng cao năng lực của Hội Phụ nữ và các nhómhòa giải nhằm nâng cao tính nhạy cảm về giới của họ, hiểu biết về luật pháp và về các kỹ năng tư vấn.Cũng có khuyến nghị rằng các hội thảo tập huấn chuyên biệt nên được khởi xướng tổ chức ở cấp

Trang 7

quận/huyện nhằm giúp các quan chức ngành tòa án và kiểm sát tránh những thiên lệch về giới trongviệc lý giải pháp luật và trong việc giải quyết các trường hợp bạo lực trên cơ sở giới Chương trình tậphuấn có thể được tổ chức trước hết để tập huấn cho một nhóm nhỏ các chuyên gia cấp quốc gia, nhữngngười mà sau đó sẽ giúp tập huấn cho các nhà hoạt động thực tế ở cấp thấp hơn.

4 những trung tâm tư vấn hiện có nên được đầu tư nguồn lực tốt hơn và các dịch vụ tư vấn nên được mởrộng ra các vùng khác Những trung tâm hiện có có thể cần một chương trình tiếp thị tích cực nhằmlàm cho các dịch vụ của họ được nhiều người biết đến Quá trình mở rộng các dịch vụ tư vấn ra các

địa phương khác có thể mất một thời gian, và các chương trình tập huấn chuyên biệt nhằm đào tạo cácchuyên gia tư vấn có thể cần được tổ chức trước khi các trung tâm tư vấn mới có thể được thiết lập ởcác thành phố và các vùng nông thôn khác

5 việc thiết lập các nhà tạm lánh cho phụ nữ là những người đang tìm sự trợ giúp tạm thời cần được xemxét và nghiên cứu Có thể bắt đầu bằng những dự án thí điểm nhỏ ở một số ít nơi trong nước Kinhnghiệm về các nhà tạm lánh ở các nước khác cũng cần được tham khảo

6 cần tiến hành nghiên cứu tiếp nhằm soi sáng thêm nhiều khía cạnh quan trọng của bạo lực trên cơ sởgiới ở Việt nam Chẳng hạn, đánh giá về sự phổ biến, tần số, và sự thay đổi của các loại bạo lực khácnhau trong nghiên cứu này chỉ là đánh giá bước đầu và dựa trên nhận thức của người được hỏi Nghiêncứu định tính này chỉ gợi ra các cách giải thích có tính giả thuyết đòi hỏi có thêm những đo lường và sựkiểm chứng chặt chẽ và cẩn thận hơn Íđây có khuyến nghị rằng cần tổ chức một nghiên cứu chọnmẫu đại diện quốc gia về bạo lực trên cơ sở giới nhằm tìm hiểu các hình thức bạo lực, sự phổ biến vàtần số của nó, các yếu tố quyết định, các nguyên nhân và hậu quả Nghiên cứu này có thể tạo nên mộtcơ sở mà từ đó đo lường các biến đổi cả về diện bao trùm lẫn về cường độ của bạo lực và về các thái độx∙ hội đối với nạn bạo lực Một nghiên cứu riêng biệt về các thực tế pháp lý và thực tiễn của các tổchức x∙ hội tham gia vào việc giải quyết các vụ bạo lực cũng sẽ rất có giá trị

7 các hệ thống thống kê, phân tích và báo cáo về các vụ bạo lực của các thể chế cơ bản như tòa án, công

an, và các ủy ban nhân dân cần được xem xét lại và nâng cấp Chúng tôi cũng khuyến nghị rằng mộtlực lượng đặc nhiệm cần được thành lập trong ểy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm theo dõithường xuyên mức độ và xu hướng của nạn bạo lực trên cơ sở giới ở Việt nam

Trang 8

ĐặT VấN Đề

Nhận thức quốc tế về nạn bạo lực trên cơ sở giới

Trong nhận thức quốc tế trong thập niên vừa qua nạn bạo lực trên cơ sở giới rõ ràng được đặt trong lĩnh vựcquyền con người của phụ nữ Trước năm 1993 phần lớn các chính phủ coi bạo lực chống lại phụ nữ chủyếu là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations 1996) Tuy nhiên, thông qua nhiều diễn đàn quốc

tế khác nhau, bạo lực trong gia đình ngày càng được nhìn nhận như "một trở ngại đối với sự bình đẳng, và

là sự vi phạm không thể chấp nhận được đối với nhân phẩm con người" Nghiên cứu quốc tế đ∙ cho thấyrằng bạo lực trong gia đình là một hiện tượng có tính chất toàn thế giới đang tác động đến khoảng 20 đến50% toàn bộ số phụ nữ trên thế giới “Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây

ra bạo lực gần như luôn luôn là đàn ông, thường là người chồng/bạn đời, hoặc chồng cũ/bạn đời cũ, haynhững người đàn ông quen biết của phụ nữ" (WHO 1998:5)

Phụ nữ thuộc mọi nhóm tộc người, mọi dân tộc và tầng lớp đều có tiềm năng là nạn nhân của bạo lực Bạolực không giới hạn ở một tầng lớp kinh tế-x∙ hội đặc biệt nào mà có liên quan chặt chẽ tới sự kiểm soát đờisống tình dục của phụ nữ và các quy định về văn hóa của vị trí phụ nữ trong nền văn hóa ấy Vì vậy phụ nữtrên toàn thế giới là đối tượng của một hợp đồng không thành văn mà theo đó các x∙ hội của họ bảo đảm sự

an sinh về kinh tế và x∙ hội với điều kiện họ không vi phạm những khuôn khổ được thiết lập về mặt x∙ hội.Chương trình hành động của hội nghị về phụ nữ ở Bắc Kinh cho rằng "bạo lực chống lại phụ nữ là biểu hiệncủa các quan hệ quyền lực không bình đẳng về mặt lịch sử giữa nam giới và nữ giới, điều đ∙ dẫn đến sựthống trị và phân biệt đối xử của nam giới đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến bộ về mọi mặt của phụ nữ"(United Nations 1995:75) Đương nhiên không có phụ nữ nào được loại trừ khỏi sự đe dọa bạo lực dựa trêncơ sở giới Bằng chính việc là nữ giới, phụ nữ có nguy cơ bị bạo lực "Bạo lực trên cơ sở giới không phải làbạo lực xảy ra theo cách ngẫu nhiên mà trong đó nạn nhân tình cờ là phụ nữ và các cô gái; đúng hơn 'yếu tố

có nguy cơ' là việc họ là phụ nữ" (Bunch, Carillo và Shaw 1998, trích từ UNIFEM 1998)

Các hành động hoặc sự đe dọa bạo lực chống lại phụ nữ đ∙ gây ra nỗi hoảng sợ và trạng thái bất an trongcuộc sống của phụ nữ và cản trở sự phát triển của họ và việc đạt được sự bình đẳng Nỗi lo sợ bạo lực là trởngại thường xuyên đối với tính cơ động của phụ nữ và hạn chế khả năng tiếp cận các nguồn lực và các hoạt

động cơ bản của họ Cái giá đắt về kinh tế, x∙ hội, và sức khỏe đối với cá nhân và x∙ hội cũng có liên quan

Trang 9

đến nạn bạo lực chống lại phụ nữ (United Nations 1995:74) Ínhững nơi mà bạo lực đang tiếp diễn, ngườiphụ nữ sống trong sự lo sợ thường xuyên về hành động bạo lực tiếp theo và sẽ cố gắng thích ứng cuộc sốngcủa mình với điều kiện này nhằm giảm thiểu nạn bạo lực Như vậy, thay vì là một chuỗi những vụ bạo lựcriêng lẻ, nạn bạo lực trong gia đình thường là điều kiện lâu dài và kinh niên có tác động lũy tiến thực sự đếnphúc lợi cuộc sống chung của phụ nữ Nếu bạo lực do một người có quan hệ gần gũi với phụ nữ gây nên,

nó càng đặt ra những trở ngại đáng kể cho việc tìm kiếm sự giúp đỡ (Njovana 1996:46) Những nghiên cứutrên thế giới kể cả Việt nam, ếc, và Zimbabwe –gợi ra rằng các nạn nhân có thể không tìm kiếm sự giúp

đỡ trong 10 năm hoặc hơn sau khi nạn bạo lực bắt đầu (Njovana 1996; Lê Thị Phương Mai 1999; và Dang1999)

Trong khi các quan hệ bất bình đẳng về giới là gốc rễ của nạn bạo lực, một số yếu tố nhất định có thể làmtrầm trọng thêm nguy cơ và thực tế của nạn bạo lực Các yếu tố kinh tế, x∙ hội, và văn hóa có thể củng cố

và kết hợp với tệ nạn này Trong nghiên cứu về sự giao lưu giữa giới, tầng lớp x∙ hội, và dân tộc khi xemxét nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới, Saffioti đ∙ kết luận rằng nếu đàn ông không thống trị về phương diệntầng lớp x∙ hội, họ có thể dùng quyền lực về giới để bù lại Saffioti nhìn nhận nạn bạo lực trên cơ sở giớikhông chỉ như sự khẳng định quyền lực của nam giới mà còn như một phản ứng đối với sự bất lực của namgiới (Saffioti 1997:75-76) Có liên quan đến vấn đề tầng lớp x∙ hội là vấn đề nghèo khổ Sự nghèo khổkhông phải là nguyên nhân trực tiếp của nạn bạo lực và nó không thể được chữa trị chỉ thuần túy bằng cácgiải pháp kinh tế, mà đúng hơn là nạn bạo lực thường trở nên trầm trọng hơn bởi sự nghèo khổ (UNIFEM1998) Ngoài tác động của sự nghèo khổ đến các hộ gia đình, sự nghèo khổ ngăn cản mạnh mẽ khả năngrời bỏ một hộ gia đình bạo lực của phụ nữ (Clarke 1997:60) Dĩ nhiên, những phụ nữ giàu có và thuộc tầnglớp trung lưu cũng không tránh được bạo lực trong gia đình, nhiều người trong số họ có thể âm thầm chịu

đựng vì sợ thành kiến x∙ hội

Sự thừa nhận về nạn bạo lực trong gia đình ở Việt nam

ÍViệt nam, bạo lực trong gia đình vẫn chưa được các nhà làm chính sách thừa nhận như một trở ngại quantrọng đối với sự tiến bộ của phụ nữ mặc dù Việt nam đ∙ ký Công ước CEDAW và chương trình hành động

Trang 10

vấn đề này ở Việt nam Một số ít nghiên cứu đ∙ tiến hành về bạo lực có liên quan đến giới thường chỉ tậptrung nhiều hơn vào các vụ bạo lực có tính công cộng như buôn bán phụ nữ và nạn m∙i dâm ỏ trẻ em.Những lạm dụng tình dục trẻ em cũng chỉ được tìm hiểu ở mức độ hạn chế.

Năm 1997 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam tiến hành một nghiên cứu về bạo lực trong gia đình Đó là mộtnghiên cứu nhỏ mà trong đó các nhà nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp lấy từ báo chí và các cơ quan khácnhau tại ba tỉnh (Hà nội, Hà Tây, và Thái Bình) làm cơ sở cho phân tích của họ Kết quả quan trọng nhấtcủa nghiên cứu này là bạo lực trong gia đình tỏ ra khá phổ biến Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu này đ∙ khôngcung cấp được một bức tranh thực sự toàn diện về nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới

Gần đây nhất, Hội đồng Dân số đ∙ chuẩn bị một báo cáo dựa trên các thông tin định tính về "Bạo lực vàhậu quả đối với sức khỏe sinh sản: hiện trạng của Việt nam" trong đó bao gồm các chi tiết về các trườnghợp bạo lực trong gia đình chủ yếu lấy từ các phỏng vấn phụ nữ là những người đến Trung tâm tư vấn vàthông qua đường điện thoại nóng của nó ở thành phố Hồ Chí Minh Bài viết này thảo luận về hệ tư tưởngtruyền thống nền tảng và hệ tư tưởng Nho giáo đ∙ thúc đẩy sự bất bình đẳng giới Thảo luận tiếp về cáchình thức khác nhau của nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới, kể cả bạo lực trong gia đình, tác giả thấy rằng

"bạo lực đối với phụ nữ có thể xảy ra trong nhiều gia đình và ở mọi tầng lớp x∙ hội khác nhau" (Lê ThịPhương Mai 1998:37) Tác giả đưa ra một số lý do có thể dẫn tới bạo lực là lạm dụng rượu và ma túy, cờbạc, bệnh tâm thần, sự căng thẳng thần kinh và/hoặc những bực tức và sở thích có con trai Trong các thảoluận nhóm nhỏ nam giới và nữ giới, vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân cũng được nêu lên Điềunày được xem là vấn đề mà phụ nữ phải chịu đựng trong khi nam giới không coi đó là vấn đề nghiêm trọng

Lê Thị Quý, trong bài viết của mình về bạo lực trong gia đình ở Việt nam, đ∙ xác định bốn nguyên nhâncủa nạn bạo lực trong gia đình là các vấn đề kinh tế; học vấn thấp và "tàn dư của chế độ phong kiến" màtheo đó người ta trọng nam khinh nữ; các thói quen văn hóa và x∙ hội như uống rượu, cờ bạc, ngoại tình vàghen tuông; và bệnh thần kinh của người dùng bạo lực Những lĩnh vực khác dẫn đến tranh c∙i giữa vợ vàchồng bao gồm việc không có con trai và tính phức tạp trong quan hệ giữa cha mẹ và con dâu hay con rểcủa họ (Lê Thị Quý 269)

Trang 11

I Về cuộc nghiên cứu

Báo cáo này dựa trên nghiên cứu thực địa định tính và định lượng được tiến hành ở Việt nam vào tháng Tư

và tháng Năm năm 1999 Báo cáo này cũng bao gồm điểm mục các bài viết trên các phương tiện thông tin

đại chúng Cho đến nay, khối lượng nghiên cứu và số liệu thứ cấp về bạo lực trên cơ sở giới ở Việt nam cònrất hạn chế Báo cáo này nhằm mục đích tạo ra một cơ hội cho việc thảo luận sâu hơn vấn đề tế nhị này ởViệt nam

1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào (a) thái độ của cộng đồng và các thể chế xung quanh vấn đề bạo lực dựa trêncơ sở giới; và (b) các phản ứng của cá nhân, cộng đồng, luật pháp và các thể chế đối với nạn bạo lực tronggia đình Nghiên cứu này được thiết kế nhằm:

• Xem xét sự thiếu nhất quán giữa luật pháp hiện hành và việc nó được lý giải và được thực hiện như thếnào ở cấp quận/huyện và cấp phường/x∙;

• Mô tả thái độ của cộng đồng và các thể chế đối với nội dung của khái niệm bạo lực trong gia đình và

điều gì đ∙ gây ra nạn bạo lực này, các thái độ đó khác nhau như thế nào giữa phụ nữ và nam giới, giữacác nhóm tuổi khác nhau, giữa đô thị và nông thôn và giữa ba miền địa lý;

• Mô tả nhận thức về sự thay đổi ở cấp độ quận/huyện và x∙/phường liên quan đến mức độ nghiêmtrọng và tần số của nạn bạo lực trong khoảng 10 năm qua và những lý do của sự thay đổi đó đượcngười ta nhận thức;

• Phân tích phản ứng của các thể chế như công an, tòa án, các tổ chức x∙ hội và chính quyền địa phương

đối với các vụ bạo lực (các vụ bạo lực đ∙ thu hút sự chú ý của các nhà chức trách như thế nào, các thủtục và hệ thống báo cáo hiện có nhằm đáp lại các vụ bạo lực, và liệu có quyết định gì được đưa ranhằm đem những vụ này ra truy tố hay không);

• Phân tích các bài viết trên phương tiện thông tin đại chúng về bạo lực trên cơ sở giới tại thời điểm 1989

và 1999 nhằm xem xét và so sánh số lượng và kiểu loại của các vụ bạo lực được đề cập tới; các phương

Trang 12

• Nghiên cứu xem phụ nữ, hoặc với tư cách cá nhân hoặc theo cách tập thể, đang cố gắng (hay có thể)giải quyết nạn bạo lực trên cơ sở giới như thế nào;

• Xác định những lĩnh vực khả dĩ cho nghiên cứu tiếp theo (đặc biệt là nghiên cứu sâu hơn về định lượnghay theo cách lịch đại) và các phản ứng về chính sách, chương trình, và các dự án khả dĩ có được đốivới chính phủ, các tổ chức quần chúng, và các nhà tài trợ (kể cả các tổ chức phi chính phủ) nhằm giảiquyết nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới

Việc nghiên cứu mọi khía cạnh của nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới vượt ra ngoài khuôn khổ của nghiên cứunày Vì thế, nghiên cứu đặt trọng tâm vào nạn bạo lực trong gia đình chống lại phụ nữ do chồng hay thànhviên khác trong gia đình tiến hành Nghiên cứu này không đề cập đến nạn lạm dụng trẻ em trong gia đình;nạn bạo lực có tính công cộng như buôn bán phụ nữ, hiếp dâm "công cộng" hay nạn m∙i dâm; và nạn bạolực do Nhà nước duy trì Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu vẫn để mắt đến những vấn đề này và các vấn đềkhác nếu chúng nảy sinh trong các phỏng vấn

Phương pháp luận

Một khía cạnh quan trọng của nghiên cứu này là nó nhằm soi sáng thêm những bằng chứng có tính chấtgiai thoại về nạn bạo lực trong gia đình nhằm vào phụ nữ trong gia đình ở Việt nam Vì thời gian có hạn vàvì tính chất nhạy cảm của vấn đề được bàn, nghiên cứu này chủ yếu mang bản chất định tính dựa trên cácthông tin thu được từ các phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, nghiên cứu trường hợp và điểm mục vàphân tích các bài viết trên phương tiện thông tin đại chúng ở Việt nam Tuy nhiên những thông tin thu

được từ các phương pháp này được bổ xung bằng 601 bảng hỏi định lượng, tạo cơ hội cho việc so sánh sốliệu từ các nguồn khác nhau

Chọn mẫu nghiên cứu

Việt nam một nước dài và hẹp về mặt địa lý được chia ra làm ba vùng địa lý khác nhau cho mục đích củacuộc nghiên cứu này, mỗi vùng có các đặc trưng về kinh tế và x∙ hội khác nhau Các cuộc điều tra riêngbiệt được tiến hành tại mỗi một trong ba vùng này là miền Trung (tỉnh Thừa Thiên Huế), miền Bắc (Hànội), và miền Nam (thành phố Hồ Chí Minh) Một quận ở đô thị và một huyện ở nông thôn tại mỗi vùng đ∙

được chọn làm điểm nghiên cứu Tại sáu quận/huyện này, một x∙/phường trong mỗi quận/huyện được lựachọn Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại các cộng đồng người Kinh (là nhóm dân tộc đa số ở Việt nam)

Trang 13

Các phỏng vấn sâu

Tại cấp quận/huyện các phỏng vấn sâu được tiến hành với những người có thể phải giải quyết các trườnghợp bạo lực trên cơ sở giới trong công việc của mình Những người này bao gồm đại diện của các ểy bannhân dân, công an, các quan chức tòa án, cán bộ hội Phụ nữ và các quan chức điều tra tội phạm

Những phỏng vấn tương tự được tiến hành với các cán bộ cấp x∙/phường, bao gồm công an, Hội phụ nữ, vàcác cán bộ của các tổ chức quần chúng khác, cán bộ tư pháp, và đại diện của Uỷ ban nhân dân Điều đượcgiả định là các quan chức cấp quận/huyện có lẽ chỉ gặp phải những trường hợp xâm phạm cơ thể nghiêmtrọng hơn của bạo lực dựa trên cơ sở giới trong khi các cán bộ cấp x∙/phường sẽ biết nhiều hơn đến cáctrường hợp chung của bạo lực tại x∙/phường Tại cấp x∙/phường các phỏng vấn sâu được tổ chức đối vớicông an, cán bộ phụ nữ và các tổ chức quần chúng khác, cán bộ tư pháp, và đại diện củaểy ban nhân dân

Lúc đầu, nghiên cứu dự định tổ chức phỏng vấn sâu 2 phụ nữ đ∙ ly hôn tại mỗi một trong sáu x∙/phường

được chọn Tổng số 7 phỏng vấn như vậy đ∙ được thực hiện

Thảo luận nhóm tập trung

Ngoài những phỏng vấn sâu nói trên, nhóm nghiên cứu lập kế hoạch tổ chức 24 thảo luận nhóm tập trungtại cấp x∙/phường Trong mỗi nhóm những người tham gia được lựa chọn trên cơ sở tình trạng hôn nhân,tuổi và giới Theo mục đích của cuộc nghiên cứu, chỉ có phụ nữ và nam giới đ∙ lập gia đình được chọn chocác thảo luận nhóm tập trung Tại mỗi x∙/phường dự định tiến hành 4 thảo luận nhóm tập trung:

ắ nhóm nam giới dưới 30 tuổi

ắ nhóm nam giới trên 30 tuổi

ắ nhóm phụ nữ dưới 30 tuổi

ắ nhóm phụ nữ trên 30 tuổi

Tuy nhiên, như sẽ trình bày dưới đây, chỉ có 21 thảo luận nhóm tập trung trong số 24 nhóm dự kiến đ∙

được thực hiện

Trang 14

số liệu định tính Do điều kiện thời gian hạn chế cho cuộc nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đ∙ quyết định chỉphỏng vấn phụ nữ có chồng vì các nhà nghiên cứu cho rằng ý kiến của phụ nữ sẽ có nhiều thông tin quýbáu hơn ý kiến của nam giới.

Phân tích các bài viết trên phương tiện thông tin đại chúng

Hoạt động khác của cuộc nghiên cứu là tại mỗi vùng nhóm nghiên cứu sẽ phân tích thông tin trên một số tờbáo chủ yếu và tuần báo "Phụ nữ" ấn hành trong một tháng tháng 4 năm 1999 Nhóm nghiên cứu cũng dự

định xem xét cũng những ấn phẩm đó vào cùng tháng đó 10 năm về trước là tháng 4 năm 1990 Tiếc thay

điều này không thực hiện được trong mọi trường hợp vì thiếu các lưu trữ đầy đủ Trong trường hợp nhưvậy, nhóm nghiên cứu chọn một tháng có đủ các số báo gần với tháng dự định nhất của 10 năm về trước

Tổng cộng, có 55 phỏng vấn sâu cán bộ của các cơ quan chủ yếu, 21 thảo luận nhóm tập trung tại cấpquận/huyện và cấp x∙, và 7 phỏng vấn sâu với các phụ nữ ly hôn Hai nhóm nam dưới 30 tuổi (một ở đô thị

và một ở nông thôn) ở Hà nội, và một nhóm phụ nữ dưới 30 tuổi ở một phường ở thành phố Huế đ∙ không

được thực hiện Lý do chủ yếu là do tuổi kết hôn cao đối với nam giới ở Hà nội, và do việc nhiều thanhniên đi tìm việc làm tạm thời ở nơi khác làm cho việc tìm kiếm một nhóm nam đ∙ có vợ dưới 30 tuổi rấtkhó khăn Tại phường ở Huế có ít phụ nữ dưới 30 tuổi tham gia vào hội Phụ nữ và do đó cán bộ hội Phụ nữgiúp cho nhóm nghiên cứu không thể mời đủ số phụ nữ có chồng trẻ để tham gia thảo luận nhóm tập trung

Trang 15

Những hạn chế và tiềm năng sai lệch của kết quả nghiên cứu

Tính nhạy cảm của đề tài

Với tính nhạy cảm sẵn có của vấn đề bạo lực trên cơ sở giới ở Việt nam, sự sai lệch nhất định có thể xảy rakhi người được phỏng vấn có thể ngại ngùng hoặc miễn cưỡng thảo luận về kinh nghiệm của riêng mình vềvấn đề bạo lực với nhà nghiên cứu bên ngoài Một số bước cần thiết nhằm giảm thiểu tiềm năng sai lệch đ∙

được thực hiện Trong các phỏng vấn sâu với các cán bộ và các thảo luận nhóm, vấn đề được nêu lên đểthảo luận dưới dạng "người thứ ba" và không hỏi về kinh nghiệm của bản thân người đó về bạo lực Nếungười đó tự cung cấp những thông tin như vậy nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận Các chi tiết về cá nhân có

được hỏi trong 601 bảng hỏi Tuy nhiên, người được hỏi được thông tin đầy đủ về mục đích nghiên cứu, vềtính khuyết danh của cuộc nghiên cứu, và về bản chất tự nguyện tham gia của họ (người được hỏi có thểkhông trả lời bất cứ câu hỏi nào hay từ chối không tham gia vào cuộc nghiên cứu nếu họ muốn)

Sai lệch do chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên là một quá trình rất phức tạp và mất nhiều thời gian ở Việt nam vì nó liên quan đếnnhiều thủ tục hành chính Trong nghiên cứu này những trợ lý cho cuộc nghiên cứu được tuyển chọn tronghội Phụ nữ và Đoàn thanh niên là những người giúp cho việc xác định người được hỏi cho các phỏng vấnsâu và thảo luận nhóm tập trung Bản chất của cuộc nghiên cứu và mối quan hệ mà những người này cótrong cộng đồng có thể có ảnh hưởng tới quá trình chọn mẫu

Sai lệch do trả lời theo chuẩn mực

Nhận thức của người được phỏng vấn về mục đích của cuộc phỏng vấn và mong muống cung cấp các thôngtin mà họ nghĩ là câu trả lời "đúng" có thể có ảnh hưởng đến các câu trả lời của họ

Hiểu nhầm các khái niệm

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu nhóm nghiên cứu thấy rõ ràng có vấn đề trong cách hiểu của người

được phỏng vấn về khái niệm bạo lực trong gia đình Điều trở nên rõ ràng là một mức độ nhất định của bạolực trong gia đình được coi là chuẩn mực x∙ hội Điều này có thể dẫn đến việc báo thiếu các vụ bạo lựctrong các phỏng vấn

Trang 16

Sai lệch của phỏng vấn viên

Với thời gian hạn chế của cuộc nghiên cứu, không thể tập huấn phỏng vấn viên kỹ đến một mức thích hợp

được Mặc dù phỏng vấn viên được lựa chọn nói chung là những người có kinh nghiệm nghiên cứu, một sốsai lệch có thể nảy sinh Trước hết, vì vấn đề bạo lực trong gia đình không được hiểu một cách rộng r∙i nêncác phỏng vấn viên được lựa chọn có thể không đánh giá hết được mục đích của cuộc nghiên cứu và nhậnthức cũng như những thiên lệch của riêng họ có thể tác động đến kết quả Đối với những thảo luận nhómtập trung và phỏng vấn sâu một khó khăn gặp phải là phỏng vấn viên chưa quen thuộc nhiều với các kỹthuật định tính và không gợi mở hoặc hỏi thêm khi cần thiết

Các kết quả trình bày dưới đây chủ yếu dựa vào các phỏng vấn định tính Các số liệu định lượng được tríchdẫn ở một số chỗ nhằm bổ xung cho các số liệu định tính

1 Định nghĩa bạo lực trong gia đình

Nghiên cứu này chọn định nghĩa về bạo lực trong gia đình một định nghĩa được chấp nhận rộng r∙i trên thếgiới nêu trong Tuyên ngôn về loại trừ nạn bạo lực chống lại phụ nữ do Đại hội đồng Liên hợp quốc thôngqua năm 1993 Theo tài liệu này, bạo lực chống lại phụ nữ được định nghĩa là "bất kỳ một hành động bạolực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn thất về thân thể, về tình dục haytâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bứchay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư"(United Nations 1995: 73; UNIFEM 1998)

Điều 2 của Tuyên ngôn này xác định ba lĩnh vực mà trong đó bạo lực về thân thể, về tình dục và về tâm lýthường xảy ra là 1) gia đình, 2) cộng đồng nói chung, và 3) bạo lực được nhà nước duy trì hay bỏ qua(United Nations 1996)

Trang 17

Trong nghiên cứu này trọng tâm là ở lĩnh vực đầu tiên của bạo lực, cụ thể là bạo lực xảy ra trong gia đình,

đặc biệt bạo lực do người chồng gây ra cho vợ mình Bạo lực trong gia đình bao gồm đánh vợ; lạm dụngtình dục của trẻ em nam và nữ; bạo lực liên quan đến của hồi môn; hiếp dâm trong hôn nhân; việc cắt bỏ

âm vật của phụ nữ; mắng chửi; lạm dụng về kinh tế; sự tước đoạt các nguồn tài chính, x∙ hội, và tình cảm;nạn giết trẻ em gái và nạo thai có chọn lọc theo giơi

Nghiên cứu này không thấy có bằng chứng nào về bạo lực liên quan đến của hồi môn, việc cắt bỏ âm vậtcủa phụ nữ, nạn giết trẻ em gái và nạo thai có chọn lọc theo giới Khái niệm hiếp dâm trong hôn nhân tỏ rakhông tồn tại ở Việt nam mặc dù người được hỏi có cho biết những trường hợp cưỡng ép làm tình Cưỡng

ép làm tình xảy ra khi người chồng khăng khăng đòi người vợ làm tình với mình trong khi người vợ đ∙ nói

rõ rằng chị ta không muốn Phân tích chi tiết hơn về việc cưỡng ép làm tình sẽ được trình bày trong phầnsau

Với định nghĩa rộng được chấp nhận trên thế giới này trong tâm trí, nhóm nghiên cứu thăm dò cởi mở điều

mà người Việt nam coi là bạo lực chống lại phụ nữ Điều trở nên rõ ràng trong các phỏng vấn thử lúc đầu

và sau đó được khẳng định lại bởi các phỏng vấn khác là người được hỏi hiểu bạo lực trong khung cảnh gia

đình có khác Trong các x∙/phường được nghiên cứu, chỉ có những lạm dụng có hệ thống và nghiêm trọngchống lại phụ nữ làm tổn hại đáng kể đến quan hệ vợ chồng mới được người được hỏi coi là bạo lực Chuẩnmực là các thành viên trong gia đình phải yêu thương và quan tâm đến nhau và giữ gìn sự thanh bình và hàihòa trong gia đình Tuy nhiên, xung đột xảy ra và đôi khi bạo lực xuất hiện trong nhiều gia đình Thực tế

là nếu bạo lực không xảy ra thường xuyên người phụ nữ thường tha thứ cho người chồng Trong trườnghợp đó, mối quan hệ vợ chồng không được xem là bạo lực Trong nhiều trường hợp người được hỏi coi bạolực trong gia đình như một quá trình đang tiếp diễn hơn là một sự kiện đơn lẻ

Như vậy, có vẻ như có ba khía cạnh của phản ứng của người chồng trong các xung đột gia đình quyết địnhviệc cộng đồng có xem các hành động của anh ta là bạo lực hay không Những khía cạnh này là (1) tần sốcủa hành vi đó, (2) mức độ tổn thương về thân thể và tinh thần của người phụ nữ, và (3) ai là người đượcxem là có lỗi trong việc gây ra xung đột Nếu một người đàn ông đối xử tệ với vợ mình một cách có hệ

Trang 18

lực Những hành động có tính thảng hoặc, kể cả tát tai, nếu không được xem là nghiêm trọng, được coinhư những hành động không mong muốn nhưng không nhất thiết là bạo lực Những hành động có tínhthảng hoặc mà gây ra những tổn thương nghiêm trọng về sức khỏe hay tâm lý được coi là bạo lực Ví dụhành vi tình dục ngoài hôn nhân hay đánh vợ nặng được coi là bạo lực thậm chí chúng chỉ xảy ra một lần.Nếu người vợ được coi là có lỗi trong việc gây ra rắc rối thì hành động bạo lực của người chồng, mặc dùkhông phải là điều mong muốn về mặt x∙ hội, được coi là "có thể hiểu được" và "có thể biện minh được".

Người ta nghĩ rằng điều này [xung đột gia đình] là không tránh khỏi trong đời sống gia đình, như

ông cha ta trước đây thường nói rằng đến bát đĩa trong trạn còn có lúc bị xô đi đẩy lại huống hồ quan hệ vợ chồng Họ nghĩ rằng điều đó là bình thường Chỉ khi nào người vợ bị đánh thành thương tích hay khi chị ta bị đánh thường xuyên thì người ta mới nhờ đến chính quyền địa phương Nếu họ chỉ chửi mắng nhau thì họ không cần sự giúp đỡ.

Hội trưởng hội Phụ nữ

Nhiều khi chúng tôi [phụ nữ] có lỗi Do đó các ông chồng đánh chúng tôi Điều này không sao vì chúng tôi có lỗi.

Phụ nữ có chồng, 26 tuổi

Như vậy, thay vì đưa ra một định nghĩa chuẩn về bạo lực dựa trên cơ sở giới, nghiên cứu này cố gắng đolường cách hiểu chung của cộng đồng về bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình chấp nhận được và khôngchấp nhận được Nghiên cứu này tìm cách phân loại bạo lực theo mức độ nghiêm trọng và theo bản chấtcủa hành vi bạo lực, cụ thể là bạo lực bằng lời nói, bạo lực về thân thể hay bạo lực về tình cảm Bạo lựcbằng lời nói bao gồm việc người chồng chửi rủa hay dùng ngôn ngữ thô bạo và xỉ nhục Bạo lực về tìnhcảm bao gồm việc cấm đoán các hoạt động của vợ (nhốt tại nhà, không cho vợ làm điều gì đó ), phớt lờ vợ(không nói chuyện với vợ), và ngoại tình Trong khi đó, bạo lực về thân thể bao gồm đánh và tát vợ, đánhgây thương tích, cưỡng ép làm tình, và giết vợ

Trong khi nhìn nhận rằng nam giới cũng đôi khi là nạn nhân của các bạo lực trong hôn nhân (bằng lời nói,bằng tình cảm, và bằng thân thể), trọng tâm của các kết quả trình bày ở đây là về bạo lực trên cơ sở giớichống lại phụ nữ vì luận đề chính là phụ nữ có nguy cơ cao hơn nam giới bởi chính tính chất giới của họ

trọng của bạo lực

Trang 19

Những thí dụ về các trường hợp bạo lực về thân thể nghiêm trọng được đề cập đến nhiều hơn trong cácphỏng vấn với các cán bộ cấp quận/huyện và cấp x∙/phường hơn là với các thành viên nói chung của cộng

đồng Những vụ này bao gồm đánh vợ gây thương tích hay mất trật tự x∙ hội tại nơi ở, cấm đoán hay nhốt

vợ, ngoại tình và bạo lực về thân thể dẫn đến ly hôn Bạo lực bên ngoài gia đình như hiếp dâm hay giếtngười cũng được đề cập đến trong một số ít phỏng vấn với các cán bộ tòa án

Điều lý thú là các thành viên của thảo luận nhóm được đại diện của cộng đồng lựa chọn ngẫu nhiên (mặc

dù có thể có sai lệch nào đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ), và trong mỗi nhóm nam và nữ không đượchỏi về kinh nghiệm cá nhân của họ mà chỉ được hỏi về nhận thức chung Tuy nhiên thực tế cho thấy trongphần lớn các nhóm hoặc là có các phụ nữ là nạn nhân của bạo lực bằng lời nói và/hoặc về thân thể hoặc là

có nam giới là người dùng bạo lực chống lại vợ mình

Trong gia đình tôi, khi chồng tôi bực tức anh ấy đánh tôi, nhưng anh ấy không hề sỉ nhục tôi Chẳng hạn có lần anh ấy bảo tôi làm một điều gì đó nhưng tôi quên Tôi c∙i lại nên anh ấy đánh tôi Tôi phải chấp nhận vì tôi yếu hơn chồng tôi Nếu tôi khỏe hơn, tôi sẽ đánh lại.

Phụ nữ trong thảo luận nhóm ở Huế

Trong gia đìnnh tôi, nếu vợ tôi đối xử tệ với bạn bè tôi đến chơi, tôi có thể mắng cô ấy sau đó Nếu cô ấy không nghe thì khó tránh được việc cho cô ấy mấy cái tát vì giận dữ Đó là điều bình thường Đó là cuộc sống gia đình chúng tôi.

Nam công nhân trong thảo luận nhóm ở Hà nội

Ngược đ∙i về thân thể và lời nói

Người được hỏi cho biết rằng hiếm khi sự ngược đ∙i về thân thể và lời nói nghiêm trọng tới mức thu hút sựchú ý của hàng xóm Một số người được hỏi trong các thảo luận nhóm cố gắng đánh giá tần số của cáchình thức bạo lực trong gia đình khác nhau trong cộng đồng của họ Trong khi không có sự nhất trí rõràng, phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh cho rằng ngược đ∙i về lời nói xảy ra trong khoảng 20% gia đình vàbạo lực về thân thể xảy ra trong khoảng dưới 10% gia đình Một nhóm nam giới ở Huế đánh giá rằng 50%các ông chồng trong khu ở của họ có hành động ngược đ∙i về lời nói đối với vợ Một nhóm nam giới ởnông thôn ở Hà nội đánh giá rằng khoảng 10% gia đình trong x∙ có hành động bạo lực chống lại người vợdưới dạng này hay khác, và đánh vợ chỉ là một phần nhỏ trong số đó Một nhóm phụ nữ ở nông thôn ở Hànội đưa ra đánh giá dưới 5% phụ nữ trong x∙ phải chịu nạn bạo lực nghiêm trọng Lưu ý là những đánh giá

Trang 20

chính xác của những đánh giá này có thể còn phải bàn, chúng cũng đưa ra được điểm xuất phát cho việcnghiên cứu chiều sâu của nạn bạo lực trong gia đình xảy ra trong cộng đồng đó.

Ngược đ∙i về tình cảm

Người được hỏi thường đề cập đến cách tiếp cận "chiến tranh lạnh" được cả phụ nữ và nam giới sử dụng để

đối phó với xung đột Cách tiếp cận này bao gồm việc phớt lờ nhau và không nói chuyện với nhau trongmột thời gian Tuy nhiên, điều này nói chung không được nhìn nhận như một dạng của bạo lực hay ngược

đ∙i Kết quả của phỏng vấn đại trà cho thấy 75% người chồng phớt lờ vợ mình một lúc nào đó Việc xác

định sách lược "chiến tranh lạnh" từ sự ngược đ∙i và tước đoạt về tình cảm một cách có hệ thống hơn là

điều khó đánh giá Tuy nhiên có bằng chứng cho thấy rằng sự tước đoạt về tình cảm có xảy ra, nhất làtrong các trường hợp người chồng có nhân tình hay đang tìm cách li dị vợ

Các ngược đ∙i liên quan đến tình dục

Các ngược đ∙i liên quan đến tình dục trong gia đình thường có hình thức ngược đ∙i về tình cảm (phớt lờ vợmột cách có hệ thống, người chồng có nhân tình) hay ngược đ∙i về thân thể (cưỡng ép làm tình) Trong nềnvăn hóa Việt nam, cũng như trong nhiều nền văn hóa khác, người ta coi việc làm tình với vợ mình là quyềncủa người chồng Trong một thảo luận nhóm tập trung của phụ nữ ở một x∙ nông thôn, khi được hỏi "cácchị nghĩ thế nào nếu người chồng khăng khăng đòi làm tình và trên thực tế đ∙ thực hiện điều đó trong khingười vợ đ∙ nói rõ cho chồng rằng chị không muốn Liệu điều đó có phải là ngược đ∙i không? Liệu điều

đó có phải là bất hợp pháp không?" các câu trả lời là:

Tôi vừa mới lấy chồng, tôi không biết Nhưng tôi nghĩ rằng nếu tôi không muốn và chồng tôi cứ nhất định cưỡng bức tôi làm tình thì đó là một dạng cưỡng ép tình dục và có thể coi là sự ngược

đ∙i và là hành động bất hợp pháp.

Phụ nữ 34 tuổi, nội trợ ở đô thị

Một khi họ đ∙ là vợ chồng thì không thể gọi là bất hợp pháp được Đó là quyền của người chồng

và quyền đó không thể được coi là bất hợp pháp được vì người chồng và người vợ có quyền đó Theo ý tôi, đó cũng không phải là ngược đ∙i Tôi không nghĩ rằng việc phê phán anh ta là điều tốt Là phụ nữ chúng ta nên cư xử sao cho người chồng quan tâm đến chúng ta để giảm bớt cảm giác khó chịu Nhiều bạn tôi nói với tôi "ôi dào, nằm xuống và kệ cho nó muốn làm gì thì làm" Người khác thì từ chối người chồng để điều khiển anh ta, muốn anh ta xin xỏ nhiều lần và hứa làm những việc khác cho mình trước khi cho anh ta làm tình Ngược đ∙i chỉ xảy ra khi anh ta chửi tục

và đánh vợ để cưỡng bức vợ làm tình Còn thì chẳn phải là ngược đ∙i.

Phụ nữ nông dân 41 tuổi

Tôi nghĩ rằng đó không phải là bất hợp pháp Người chồng và người vợ nên nói chuyện với nhau.

Trang 21

Phụ nữ nông dân 30 tuổi

Theo truyền thống, tình dục không phải là đề tài thảo luận công cộng Điều này làm cho việc đánh giá độphổ biến và tần số của cưỡng ép tình dục rất khó khăn Phần lớn các trường hợp cưỡng ép tình dục đượcthông báo có liên quan đến ly hôn hay các xung đột đòi hỏi sự can thiệp của các tổ chức ở địa phương.Trong nhiều cuộc phỏng vấn các cán bộ luật pháp có bằng chứng về cưỡng ép tình dục trong nhiều trườnghợp ly hôn, nhưng không thể đo lường được mức độ của nó Những trục trặc về tình dục có thể là mộtnguyên nhân quan trọng của lý do thường được nêu lên nhất trong các trường hợp ly hôn là "không phù hợp

về tính tình giữa vợ và chồng"

Các nghiên cứu quốc tế đi đến kết luận rằng gốc rễ của nạn bạo lực dựa trên cơ sở giới là sự bất bình đẳngtrong các quan hệ giới, tuy nhiên, có một số yếu tố đóng góp vào tính chất nghiêm trọng và tần số xảy racủa bạo lực dựa trên cơ sở giới Trong nghiên cứu này hai yếu tố quan trọng nhất nổi lên là khó khăn kinh

tế và sự lạm dụng rượu Trong nhiều trường hợp hai yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau Những yếu tốchủ yếu khác liên quan đến vấn đề tình dục (ngoại tình, ghen tuông, và sự không hợp nhau về tình dục), sựbất đồng ý kiến về nuôi dạy con cái, các truyền thống gia trưởng, và cách đối xử với bạn bè và họ hàng.Bạo lực trong gia đình có thể xảy ra ở các cặp vợ chồng thuộc mọi nhóm x∙ hội, nhưng có ấn tượng rấtmạnh trong các cộng đồng được nghiên cứu là hình thức và tần số xảy ra bạo lực trong gia đình có chiềucạnh giai tầng x∙ hội

Khó khăn kinh tế và bạo lực

Có nhận thức chung trong các phỏng vấn ở mọi cấp là bạo lực trong gia đình do những khó khăn kinh tếgây ra òkiến này tỏ ra phù hợp với các số liệu định lượng cho thấy rằng có mối tương quan giữa sự nghèokhổ (đo bằng sự tự phân loại của người được hỏi về của cải của họ so với các gia đình khác trong cộng

đồng) và nạn bạo lực trong gia đình Những gia đình "khá giả" thường ít có những ngược đ∙i bằng lời nóihay ngược đ∙i về thân thể, mặc dù những gia đình này tỏ ra có tỷ lệ cưỡng ép làm tình cao hơn (Bảng 1).Cách giải thích chung nhất cho hiện tượng này là những cặp vợ chồng phải bươn chải vất vả để kiếm sống

Trang 22

[Xung đột gia đình] thường xảy ra trong các gia đình nghèo đang phải đương đầu với tình cảnh không có cửa trước cửa sau Nói cách khác, khi đầu óc rối bời thì chẳng tìm ra lối thoát Khi đó

dễ xảy ra xung đột gia đình nếu anh hay vợ anh nói một câu gì đó xúc phạm hay làm điều gì đó thiếu suy nghĩ.

Nam, thành viên tổ hòa giải

Bảng 1: Tần số của ngược đãi theo mức thu nhập tự phân hạng

vợ chồng có địa vị cao và có học vấn cao thường giải quyết xung đột bằng đối thoại Điều này tương phảnvới các gia đình mà trong đó người chồng có học vấn thấp hơn và hay sử dụng vũ lực để giải quyết các vấn

đề

Đối với trí thức họ có thể để bụng hàng tuần lễ nếu họ giận vì người chồng dùng lời lẽ thô bạo.

Đối với họ, việc dùng lời lẽ thô bạo đ∙ là sự xỉ nhục Đối với người lao động bình thường, họ có học vấn thấp và họ nghĩ rằng đó là điều bình thường.

Nam công nhân ở một phường đô thị

Tuy nhiên, bạo lực về thân thể cũng xảy ra trong những cặp vợ chồng có học vấn cao

Con rể tôi tát cho vợ nó vài cái trước mặt mọi người trong gia đình tôi Điều này rất thường xảy

ra mặc dù đó là gia đình bác sỹ Con rể tôi là bác sỹ, bố nó là y sỹ, và họ nghĩ rằng tát vợ vài cái

là bình thường!

Một phụ nữ trong thảo luận nhóm ở một phường đô thị

Nhận thức này, tuy nhiên, tỏ ra dựa trên thực tế là những người có học vấn thấp cũng thường là nhữngngười phải đương đầu hàng ngày với tình trạng nghèo khổ Các số liệu định lượng cho thấy rằng không có

Trang 23

mối quan hệ tuyến tính nào giữa trình độ học vấn của người chồng và nạn đánh vợ Khi xem xét trong cùngmột mức thu nhập thì trình độ học vấn không tỏ ra là một yếu tố quan trọng Các số liệu cho thấy rằng mứchọc vấn của người chồng càng cao thì khả năng có ngược đ∙i bằng lời nói cũng càng cao, nhưng khả năng

có cưỡng ép tình dục lại càng thấp

Lạm dụng rượu và bạo lực

Thói quen nghiện rượu của người chồng là đề tài lặp đi lặp lại nhiều lần trong các phỏng vấn và thường

được gắn với nạn bạo lực và nghèo khổ Đàn ông có thể uống rượu nếu họ nghèo khổ để quên đi nhữngkhó khăn của mình, và ngược lại, một người chồng phung phí nguồn thu nhập ít ỏi của gia đình vào rượu cóthể làm căng thẳng thêm cuộc sống vợ chồng

Trong khu ở của tôi có một cặp vợ chồng, ông C và bà L Họ bán phở ngoài phố Ông C là một người đàn ông hiền lành khi nào ông ta không uống rượu say Nhưng mỗi khi ông ấy uống rượu say ông ấy thường mắng chửi vợ và đánh bà ấy Họ vừa có đánh nhau trong hai ngày qua và không bán phở như mọi khi.

Một phụ nữ trong thảo luận nhóm ở một phường ở Hà nội

Khoảng một nửa số phụ nữ được phỏng vấn bằng bảng hỏi đại trà cho biết chồng họ có thói quen uốngrượu Vấn đề này rõ ràng cao hơn ở các vùng nông thôn (53.7%) so với các vùng đô thị (45.2%) và, khôngnghi ngờ gì nữa, có đóng góp cho cái vòng luẩn quẩn của vấn đề nghèo khổ đ∙ nêu trên Số phụ nữ cho biếtrằng chồng họ có thói quen uống rượu là cao nhất ở miền Nam ở thành phố Hồ Chí Minh (53.6%), và thấpnhất ở miền Trung ở Thừa Thiên-Huế (44.9%) Uống rượu được nam giới xem như một bộ phận bìnhthường trong các trách nhiệm x∙ hội của mình, nhưng cả nam giới lẫn phụ nữ đều chống lại nạn rượu chè

bê tha quá đáng và triền miên và thấy được mối liên hệ giữa say rượu và các ngược đ∙i bằng lời nói vàngược đ∙i về thân thể

Tôi rất bực mình vì chồng tôi uống rượu Bao nhiêu việc đổ lên đầu tôi, rồi học hành của con cái, nhưng ông ấy chỉ chú ý đến uống rượu Ông ấy thường rủ bạn bè đến nhà tôi uống rượu và làm bừa b∙i nhà cửa Bất đồng giữa vợ và chồng và xung đột gia đình thường xảy ra từ đó.

Nữ nông dân 39 tuổi, TP Hồ Chí Minh

Cờ bạc và nợ nần

Những thói quen có thể dẫn đến nợ nần, và như vậy làm tăng thêm sự bất an về kinh tế trong hộ gia đình,

Trang 24

thường rơi vào vòng nợ nần nhiều hơn thông qua chơi họ Theo một chánh án ở quận 9 ở thành phố Hồ ChíMinh, nợ nần vì cờ bạc và chơi họ là một trong những lý do chính của xung đột gia đình.

Trong nhiều trường hợp, những đặc trưng cá nhân nêu trên kết hợp với những thất bại về kinh tế hay x∙ hội

cụ thể khác Chẳng hạn, thất bại trong công việc có thể dễ dàng biến thành sự giận dữ ở nhà

Cuộc sống gia đình rất phức tạp Không chỉ có tình dục hay rượu chè làm đảo lộn cuộc sống của một cặp vợ chồng Tôi biết một cặp vợ chồng, người chồng và người vợ sống với nhau rất hợp Người chồng không nghiện rượu, nhưng anh ta có rất nhiều khó khăn ở chỗ làm Anh ta đ∙ thay

đổi việc nhiều lần và lần nào cũng thất vọng về công việc của mình Người vợ không cố gắng hiểu tình cảnh của anh ta Cô ta trách anh ta vì những yếu điểm của anh ấy Từ đó họ hục hặc với nhau.

Một phụ nữ trong thảo luận nhóm ở một phường ở Hà nội

Những thành kiến về giới và bạo lực

Như trên ta thấy các đặc trưng cá nhân thường được nêu ra như những yếu tố quan trọng dẫn đến hành vibạo lực Những đặc điểm cá nhân này đến lượt mình lại liên quan đến những thành kiến và các vai trò vềgiới Chẳng hạn trong văn hóa Việt nam đàn ông thường uống rượu trong các cuộc hội họp, được coi làngười kiếm tiền chính và là chủ hộ, và người ta tin rằng đàn ông nóng tính hơn phụ nữ Mặt khác người tachờ đợi ở phụ nữ là người duy trì sự hài hòa trong gia đình Khi những thành kiến này bị thách thức có thểxảy ra ngược đ∙i Điều này đ∙ thể hiện ở trên thông qua mối liên quan giữa bạo lực và nạn rượu chè, cờbạc, nợ nần, và các vấn đề liên quan đến công việc

Hơn nữa, một chủ để lặp đi lặp lại nổi lên trong các thảo luận với nam giới là trong nhiều trường hợp phụnữ được xem là người chịu trách nhiệm về nạn bạo lực òkiến này đặc biệt mạnh trong thảo luận nhómnam giới trẻ ở Huế òkiến chung của họ là bạo lực trong gia đình không phải là điều phổ biến Tuy nhiên,nhiều trong số các lý do họ đưa ra để giải thích nạn bạo lực trong gia đình rõ ràng nhằm đổ lỗi cho nhữnghành động không thích hợp của phụ nữ Những hành động này bao gồm việc phụ nữ cằn nhằn hay nói dai

đối với chồng mình hoặc không thực hiện tốt các nghĩa vụ làm vợ làm mẹ

Không ai muốn đánh vợ mình Lòng kiên nhẫn của nam giới có hạn, và ít phụ nữ hiểu điều này Thậm chí nếu người chồng làm điều gì sai và anh ta biết rằng thế là sai và nếu người vợ cứ dai dẳng trách móc anh ta, chẳng hạn nói đi nói lại 15 lần, chắc chắn cô ta sẽ bị đánh Thỉnh thoảng tôi cũng đ∙ đánh vợ tôi vì thế.

Nam trong thảo luận nhóm ở một phường ở Hà nội

Ngày đăng: 29/03/2018, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm