1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Business associations in vietnam status, roles and performance (vietnamese)

88 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 902,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về hoạt động hiện tại của các hiệp hội doanh nghiệp Các hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp thành viên cho rằng các hiệp hội doanhnghiệp đã tương đối thành công trong các

Trang 1

Nguyễn Phương Quỳnh Trang

Chương Trình Phát Triển Dự Án Mê Kông

Jonathan R Stromseth

The Asia Foundation

Với sự tham gia cuœa:

Hoàng Xuân ThanhNguyễn Quỳnh TrangTrần Doãn Kim

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU THÀNH PHÂN KINH TẾ TƯ NHÂN

Trang 4

BIỂU ĐỒ

(phân nhóm theo thời điểm đăng ký)

Hình 4.8 - Doanh nghiệp đánh giá các hoạt động, chức năng

HỘP

Trang 5

DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

Bản báo cáo này đưa ra đánh giá tổng quát về hiện trạng các Hiệp hội Doanh nghiệp ởViệt Nam Báo cáo này được sử dụng làm tài liệu cơ sở cho MPDF và Quỹ Châu Á trongviệc xây dựng kế hoạch và đưa ra dự án nhằm phối hợp hoạt động với các Hiệp hội Doanhnghiệp Bản báo cáo này là một chuyên đề nghiên cứu phối hợp giữa MPDF và Quỹ Châu

Á, và được phát hành rộng rãi

Cuộc nghiên cứu này đã được hoàn thành với sự đóng góp của rất nhiều cá nhân Hai anhPhan Quốc Anh và Tô Hải Anh đã tham ra với nhóm tác giả trong việc khảo sát thực tế.Hơn nữa, anh Phan Quốc Anh phụ trách việc nhập và xử lý dữ liệu cho nghiên cứu, anhTô Hải Anh thực hiện việc dịch bản báo cáo sang tiếng Việt Bản dịch tiếng Việt của báocáo này cũng nhận được sự đóng góp của anh Thái Bảo Anh (tư vấn của Quỹ Châu Á), anhDương Thành Trung và chị Lê Bích Hạnh, làm việc tại MPDF

Bản thảo của báo cáo này (toàn bộ hay một phần) đã được đọc và nhận ý kiến đóng góptừ các ông Mario Fischel và John Mckenzie làm việc tại MPDF; các ông Barnett F Baronvà Franck S Wiebe làm việc tại Quỹ Châu Á; ông Myles McGregor-Lowndes từ TrườngĐại học Queensland; bà Phạm Chi Lan làm việc tại Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam; ông Phạm Nguyên Toàn làm việc tại LEADCO; ông Mark Sidel từ Trường Đạihọc Luật Iowa; luật sư Milton Lawson từ Freshfields; và các nhà tư vấn độc lập Edmund

J Malesky và Stanford Smith Các ý kiến đóng góp của các ông/bà kể trên đã giúp tácgiả rất nhiều trong quá trình sửa đổi bổ sung để hoàn thiện bản báo cáo này

LỜI TỰA

Trang 9

GIỚI THIỆU

Thông qua việc đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động hỗtrợ cụ thể cho hội viên của mình, các hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò chủ chốttrong việc tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh Việt Nam hiệncó khoảng 200 hiệp hội doanh nghiệp, trong đó một số hiệp hội đang ngày càng lớn mạnh.Tuy nhiên các hiệp hội vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện nhiều chức năngmà các hiệp hội doanh nghiệp ở các nước khác thường làm Nhận thức được rằng các hiệphội doanh nghiệp có thể và cần đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trìnhphát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam, Chương Trình Phát triển Dự án MêKông (MPDF) và Quỹ Châu Á (TAF) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra báo cáo này vềvai trò của các hiệp hội doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế tư nhân đang hình thành vàphát triển ở Việt Nam

MỤC TIÊU

Mục đích của nghiên cứu này là xem xét các hiệp hội doanh nghiệp như một nhóm,nghiên cứu tình hình hiện tại của họ và đưa ra những nhận xét khái quát và khuyến nghịcho sự phát triển các hiệp hội doanh nghiệp nói chung

Những mục tiêu chính của báo cáo này là:

1 xác định và đánh giá những đặc điểm chính của các hiệp hội doanh nghiệp ở ViệtNam và những điều kiện hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp;

2 phân tích vai trò và thực trạng hiện nay của các câu lạc bộ và hiệp hội doanh nghiệptrong việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam

Tài liệu này không nhằm đề ra một chương trình phát triển chi tiết cho các hiệp hội doanhnghiệp ở Việt Nam Báo cáo này đưa ra một bức tranh thực trạng với các vấn đề còn tồntại, làm cơ sở ban đầu cho MPDF và Quỹ Châu Á xây dựng các kế hoạch và thiết kế cácdự án hợp tác với các hiệp hội doanh nghiệp

Chức năng của các hiệp hội doanh nghiệp

Hiện nay có khoảng 200 hiệp hội doanh nghiệp hoạt động trên toàn quốc Có thể chia hoạtđộng của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam thành ba nhóm chính: đại diện quyền lợi,dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và các hoạt động khác

Đại diện quyền lợi

Chức năng chính của đa số các hiệp hội doanh nghiệp, nhất là những hiệp hội lớn, là đạidiện và tăng cường quyền lợi cho các hội viên của mình trong các quan hệ cả trong nướcvà quốc tế Chức năng này bao gồm việc duy trì đối thoại với chính phủ về luật và chínhsách chi phối hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, và quan hệ với các cơ quan tổ chứctrong nước và nước ngoài

TÓM TẮT

Trang 10

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh bao gồm tất cả những dịch vụ phi tài chính mà doanh nghiệpcó thể có nhu cầu: đào tạo, tư vấn kỹ thuật, tổ chức hội chợ thương mại, triển lãm, hộithảo, hội nghị chuyên đề, mở rộng giao lưu quan hệ kinh doanh, thu thập và cung cấpthông tin về những vấn đề có tác động đến hội viên

Các hoạt động khác

Hầu hết các hiệp hội, đặc biệt là các tổ chức nhỏ, tham gia các hoạt động đóng góp xã hộivà nhân đạo Một số hiệp hội hàng năm quyên tiền để ủng hộ đồng bào bị bão lụt hay gặpnạn đói, quyên góp cho người tàn tật, các gia đình liệt sĩ và các bà mẹ Việt Nam anh hùng

Đánh giá về hoạt động hiện tại của các hiệp hội doanh nghiệp

Các hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp thành viên cho rằng các hiệp hội doanhnghiệp đã tương đối thành công trong các hoạt động:

Các hiệp hội doanh nghiệp vẫn còn yếu ở các hoạt động:

Về chức năng đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp, chỉ các hiệp hội lớn nhất và nổi tiếngnhất như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Công thương HàNội (HUAIC) và Hiệp hội Công thương Thành phố Hồ Chí Minh là thường xuyên tham giađóng góp ý kiến trong quá trình hoạch định chính sách và pháp luật với Chính phủ Ba tổchức này tham gia đóng góp ý kiến cho các Ban soạn thaœo luật cuœa Chính phủ trong việcsoạn thảo các luật và quy định mới có liên quan đến cộng đồng doanh nghiệp, và trongtrường hợp cuœa VCCI là tự mình tham gia các ban soạn thaœo này Sự tham gia này nhiềukhi có ảnh hưởng tích cực rõ rệt đến những chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân.Về chức năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ, Các hiệp hội thừa nhận rằng hoạt động cung cấpdịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho hội viên còn tương đối yếu Nhìn chung, các dịch vụ hầunhư chỉ dừng lại ở mức phổ biến thông tin bằng bản tin hay báo, tư vấn pháp luật cho từngtrường hợp cụ thể và tổ chức đào tạo Các hiệp hội và thành viên đều mong muốn hiệphội có thể cung cấp các dịch vụ một cách tốt hơn với chất lượng chuyên sâu hơn, đặc biệttrong các lĩnh vực về tư vấn pháp luật, xúc tiến thương mại và hỗ trợ về kỹ thuật

Các khó khăn còn tồn tại của các hiệp hội doanh nghiệp

Nhu cầu và đòi hỏi của các doanh nghiệp rất lớn, và sẽ không thực tế nếu cho rằng mộthiệp hội doanh nghiệp có thể giải quyết và giúp đỡ doanh nghiệp trong mọi vấn đề Cónhững khó khăn của doanh nghiệp mà hầu hết hiệp hội không thể giúp được gì Tuy nhiên,

Trang 11

trong lĩnh vực đại diện quyền lợi và cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, các hiệp hội cómột số cách hỗ trợ hội viên Hiện tại, nhiều hiệp hội không thể thực hiện hiệu quả cáccách đó bởi họ thiếu những nguồn lực cần thiết và chưa được đào tạo để tiến hành nhữnghoạt động này Bên cạnh đó, do chưa có một khung pháp lý thống nhất và thuận lợi xácđịnh rõ quyền và nghĩa vụ của các hiệp hội doanh nghiệp nên các hiệp hội càng khó cóthể vượt lên trên mức độ hoạt động và năng lực hiện tại.

Thiếu các nguồn lực

Các hiệp hội hiện dựa vào bốn nguồn thu nhập: ngân sách nhà nước, phí thu được từ cungcấp dịch vụ, hội phí và các khoản tài trợ (từ hội viên cũng như những tổ chức, cá nhân ngoàihội) Tuy nhiên, những nguồn này không ổn định và không thường xuyên, do vậy các hiệphội không thể xây dựng và phát triển hoạt động của mình dựa trên một ngân quỹ xác định

Thiếu năng lực, thiếu cán bộ chuyên trách

Trình độ chuyên nghiệp của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu Các hiệphội nhỏ và các hiệp hội cấp tỉnh thường không có cán bộ chuyên trách Lãnh đạo của hiệphội thường là các doanh nhân, họ có ít thời gian để gắn bó với công việc của hiệp hội Cáchiệp hội ngành nghề trung ương thường gắn với tổng công ty nhà nước trong ngành, vànhân sự của hiệp hội thường cũng chính là nhân viên của tổng công ty

Nhìn chung, nhân sự các hiệp hội không được trang bị chuyên môn để cung cấp dịch vụhỗ trợ cho các hội viên Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là vấn đề tài chính - khôngcó tiền, hiệp hội không thể thuê những người có năng lực làm cho hiệp hội

Thiếu một khung pháp lý cho việc xây dựng và phát triển hiệp hội

Khung pháp lý hiện hành còn chưa hệ thống hóa và phức tạp, với các thủ tục đăng ký phứctạp (đòi hỏi làm việc với quá nhiều cơ quan và nhiều bước), do đó có thể cản trở việcthành lập các hiệp hội doanh nghiệp có tiềm năng phát triển mạnh và đóng góp vào sựphát triển kinh doanh Hơn nữa, những hiệp hội đã được thành lập không được nhận những

ưu đãi như miễn giảm thuế đối với thu nhập từ các hoạt động chính của hiệp hội và khấutrừ thuế cho hội phí thu được từ các hội viên, những ưu đãi mà nếu có thì có thể nâng caonăng lực tài chính của các hiệp hội và cho phép họ dành nhiều nguồn lực hơn cho các hoạtđộng hỗ trợ hội viên Mặc dù cơ chế pháp luật có các điều khoản tạo điều kiện cho chứcnăng đại diện quyền lợi, nhưng các điều khoản này không được thực hiện nhất quán vàphần lớn chỉ có lợi cho các hiệp hội lớn và có tiếng

Sau đây là những khuyến nghị của tác giả về phát triển và hỗ trợ các hiệp hội doanhnghiệp, dành cho cho ba nhóm có liên quan đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân:1) các hiệp hội doanh nghiệp, 2) chính phủ và 3) các tổ chức và cơ quan tài trợ Nhiềukhuyến nghị trong số này có tương đồng với các khuyến nghị mà chính các hiệp hội doanhnghiệp đưa ra

Trang 12

Các hiệp hội doanh nghiệp có thể làm gì để tăng cường hiệu quả hoạt động?

Các hiệp hội cần cố gắng “chuyên nghiệp hóa” các hoạt động và dịch vụ Hầu hết các

hiệp hội đa ngành và đơn ngành lớn đều có các bộ phận chức năng phụ trách việc pháttriển hội viên, đào tạo và cung cấp thông tin Một số hiệp hội còn có các hoạt động tư vấn,xúc tiến thương mại và vận động chính sách Tuy nhiên, nhiều hoạt động hiện được tiếnhành tự phát, không có kế hoạch Ngoài các hoạt động như hiện nay, các hiệp hội doanhnghiệp cần chuyển hướng phát triển những sản phẩm chính của mình trong các lĩnh vựcnày Những sản phẩm này phải đáp ứng chính xác nhu cầu và mong muốn của hội viên,và hội viên sẽ phải trả phí dịch vụ cho những sản phẩm này

Việc thu hội phí, thu phí dịch vụ và gây quỹ phải được các hiệp hội ưu tiên Hiệp hội

doanh nghiệp không thể thực hiện tốt chức năng của mình nếu không có một nguồn kinhphí ổn định, nhưng thực tế hầu hết các hiệp hội ở Việt Nam có mức hội phí và phí dịch vụthấp Thêm vào đó, có một tâm lý chung của lãnh đạo, cán bộ hiệp hội và hội viên chorằng hiệp hội hoạt động chưa đủ hiệu quả để có thể thu hội phí và phí dịch vụ Do vậy,hiện nay các hiệp hội phải dựa vào các nguồn kinh phí khác để tồn tại Điều này về lâudài là không bền vững - các hiệp hội cần có cơ chế tạo và thu hội phí, phí dịch vụ tốt hơn.Các hiệp hội doanh nghiệp nên xây dựng biểu cụ thể về hội phí và phí dịch vụ, đi đôi vớithủ tục yêu cầu thanh toán thường xuyên

Trước mắt, các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam nên tìm sự giúp đỡ từ các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực phát triển khu vực kinh tế tư nhân về cả tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ tài chính Khi các hiệp hội lớn mạnh thêm thì tài trợ giảm Kinh nghiệm

quốc tế về phát triển hiệp hội doanh nghiệp cho thấy rằng trong công tác này nên đặt rakế hoạch thời gian cụ thể ngay từ đầu, giảm dần sự hỗ trợ, để cho hiệp hội tăng sự tự lựctrong một thời gian tương đối ngắn

Chính phủ có thể làm gì để hỗ trợ phát triển các hiệp hội doanh nghiệp?

Quy định hoá và mơœ rộng sự tham gia của hiệp hội doanh nghiệp vào quá trình hoạch định chính sách và luật pháp, thông qua tăng cường thực thi những quy định hiện hành, trong đó yêu cầu các bộ phải lấy ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp trước khi ban hành văn bản pháp luật mới liên quan đến hoạt động kinh doanh Để tạo cơ sở pháp lý cao hơn cho những điều khoản này, nên đưa chúng vào luật chung về hiệp hội doanh nghiệp đang được nghiên cứu Việc tham gia chính thức và rộng rãi này của

các doanh nghiệp sẽ nâng cao chất lượng của các luật và quy định kinh tế bằng cách cungcấp những ý kiến phản hồi cần thiết cho chính phủ trước khi ban hành Trong quá trìnhthực hiện, các doanh nghiệp sẽ bớt bị bất ngờ vì những thay đổi đột ngột ảnh hưởng đếnchi phí sản xuất kinh doanh Việc tham gia cũng giúp cho khâu thực hiện vì nó tăng cườngsự ủng hộ và hiểu biết của công chúng về những luật và quy định mới Cuối cùng, điềunày sẽ giúp cho các nhà kinh doanh và đầu tư có được môi trường pháp lý ổn định và dựbáo được

Cải thiện môi trường pháp lý để cho phép các hiệp hội doanh nghiệp được thành lập, pháttriển và thực hiện những chức năng chính của mình Môi trường pháp lý đối với các hiệphội doanh nghiệp Việt Nam cần phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội

Trang 13

Việt Nam và đáp ứng được những nhu cầu tại đây Tuy nhiên, khi tiến hành xây dựngnhững quy định mới về các hiệp hội doanh nghiệp, sẽ rất có ích nếu chính phủ tham khảonhững chuẩn mực và thông lệ của quốc tế trong lĩnh vực này Nhìn chung, kinh nghiệmcủa các nước khác cho thấy các luật, quy định và hệ thống quản lý đối với các hiệp hộivừa phải hợp lý và tránh sự lạm dụng, vừa đảm bảo không tạo gánh nặng kìm hãm sự rađời của các hiệp hội cũng như cản trở việc thực hiện các hoạt động hợp pháp của họ Vềvấn đề này, các quy định được đề ra cần đảm bảo:

tốn kém Khung pháp lý không nên áp đặt những điều kiện hạn chế (ví dụ như yêucầu tất cả hội viên phải hoạt động cùng ngành hay cùng địa phương) hay những thủtục rườm rà (ví dụ như yêu cầu một số giấy phép và văn bản chấp thuận của nhiều

cơ quan nhà nước) có thể kìm hãm sự ra đời của các hiệp hội

dụ như thu hội phí, cấp giấy chứng nhận và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh)

doanh nghiệp

➤ Những điều khoản tối thiểu cần thiết đối với hoạt động và quản lý của hiệp hộidoanh nghiệp cần được nêu trong điều lệ của hiệp hội Những điều khoản này nênbao hàm một cơ chế chịu trách nhiệm, đảm bảo hiệp hội theo đúng mục tiêu củamình và đáp ứng yêu cầu của hội viên

định liên quan đến môi trường kinh doanh

nhà nước đến mức cao nhất có thể được

trách nhiệm của các hiệp hội và lòng tin của công chúng đối với hiệp hội, côngchúng cần phải được tiếp cận danh mục này, và cần quy định rõ các quy định vềcách tiếp cận

Chính phủ nên xem xét việc tăng cường ủy thác những nhiệm vụ và hoạt động khuyến khích phát triển DNVVN cho các hiệp hội doanh nghiệp Theo Nghị định

90/2001/CP-ND về DNVVN và dự thảo Chiến lược Tổng thể về Xóa đói và Phát triển,chiến lược của chính phủ hiện nay đối với khu vực kinh tế tư nhân và các DNVVN baohàm các việc: tạo điều kiện thành lập các quỹ hỗ trợ đầu tư, các ngân hàng chuyên cungcấp các dịch vụ cho các DNVVN, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho DNVVN, các trườngđào tạo, các trung tâm xúc tiến thương mại, v.v Trong số các việc đó, nhiều việc có thểđược thực hiện một cách hiệu quả bởi những đơn vị tư nhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinhdoanh và các hiệp hội doanh nghiệp

Các hiệp hội doanh nghiệp có một vị thế đặc biệt trong việc cung cấp nhiều loại hình dịchvụ hỗ trợ kinh doanh đa dạng vì các hiệp hội có khách hàng chính là hội viên và các hiệphội hiểu rõ nhu cầu của doanh nghiệp Hơn nữa, khác với các đơn vị tư nhân cung cấp dịchvụ hỗ trợ kinh doanh, các hiệp hội doanh nghiệp tiến hành hoạt động này không nhằmmục đích lợi nhuận - họ chỉ cần thu hồi chi phí hoạt động, nên phí dịch vụ có thể thấp hơnvà phù hợp hơn với hội viên Vì vậy, chính phủ nên xem xét việc chuyển giao một sốnhiệm vụ này cho các hiệp hội doanh nghiệp

Trang 14

Các chương trình xây dựng năng lực cần chú trọng vấn đề năng lực của đội ngũ cán bộ,quản lý và phát triển hiệp hội, việc tạo thu nhập từ thu phí và cung cấp dịch vụ chuyênnghiệp cho hội viên Các tổ chức quốc tế nên tham dự vào hai nhóm: 1) hỗ trợ có chiềusâu những hiệp hội hiện thể hiện ra có tiềm năng lớn và 2) đào tạo tổng hợp cho phần lớncác hiệp hội Do đã có một số các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực này (và sắptới chắc sẽ có nhiều hơn nữa), điều quan trọng là các tổ chức quốc tế cần phải tiến hànhtrao đổi thường xuyên để tìm ra cơ hội phối hợp và tránh chồng chéo trong hoạt động.

Trang 15

A. BỐI CAŒNHVÀ TÍNHCẦN THIẾT CUŒA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong hai năm rưỡi qua đã có một số mốc phát triển quan trọng của khu vực kinh tế tưnhân Việt Nam Tháng 1/2000, Luật Doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực, đơn giản hóa rấtnhiều quy trình đăng ký kinh doanh, khiến cho số các doanh nghiệp tư nhân có đăng kýkinh doanh ở Việt Nam gia tăng đáng kể.1

Tháng 11/2001, Nghị định của Chính phủ số90/2001/NĐ-CP về Trợ giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ được thông qua, đưa

ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp vừa và nhỏ và phác thảo các chính sách hỗ trợcủa chính phủ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tháng 3/2002, Banchấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã triệu tập một phiên họp toàn thể, tậptrung thảo luận về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Nghị quyết Trung ương 5 đãkhẳng định khu vực kinh tế tư nhân là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế quốcgia, khẳng định rằng tất cả các thành phần kinh tế cần phải được đối xử bình đẳng, đồngthời đề ra nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường hoạt động của khu vực kinh tế tưnhân Nghị quyết cũng kêu gọi tăng cường vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp ViệtNam và đặt vấn đề cần sớm ban hành một nghị định về tổ chức và hoạt động của các hiệphội doanh nghiệp.2

ƠŒ nhiều nước các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo điều kiệncho khu vực kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh, thông qua việc đại diện cho quyền lợicủa doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động hỗ trợ cụ thể cho hội viên Việt Nam hiệncó khoảng 200 hiệp hội doanh nghiệp, trong đó một số hiệp hội đang ngày càng lớn mạnh,nhưng hiện nay các hiệp hội còn có những hạn chế trong việc thực hiện nhiều chức năngmà hiệp hội doanh nghiệp ở các nước khác thường làm

Việc các doanh nghiệp thiếu thông tin và thiếu năng lực là những vấn đề mà thường cóthể giải quyết nếu doanh nghiệp có sự hỗ trợ từ bên ngoài Tuy nhiên, ở Việt Nam chưacó nhiều các đơn vị cung cấp chuyên nghiệp các dịch vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp(BDS), nhất là các dịch vụ về marketing, xúc tiến thương mại, về tư vấn kỹ thuật, về đàotạo, về hệ thống thông tin quản lý (MIS), v.v.3

Các cơ quan thuộc nhà nước như các trungtâm xúc tiến thương mại, các trung tâm đào tạo và các viện nghiên cứu chỉ cung cấp dịchvụ hạn chế, thường là sử dụng kinh phí nhà nước cấp hoặc kinh phí tài trợ, và số lượng vàchất lượng dịch vụ thường tuỳ thuộc vào số kinh phí được cấp Các đơn vị tư nhân cungcấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thì tương đối nhỏ và yếu, nhất là ở những khu vực khôngphải là thành phố lớn Ngay cả đối với các dịch vụ mà có lượng cung lớn (ví dụ như hệthống thông tin quản lý), chất lượng dịch vụ vẫn chỉ ở mức căn bản Các hiệp hội doanhnghiệp hiện cung cấp các dịch vụ đơn giản về đào tạo, cung cấp thông tin và giao lưu hợptác/xúc tiến thương mại Tuy nhiên, họ rất có tiềm năng phát triển thành những đơn vịcung cấp chuyên nghiệp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp có chất lượng

1 Vào tháng 1/2000, số các doanh nghiệp tuœ nhân đã đăng ký tăng gấp hai lần – từ dưới 30.000 lên hơn 60.000 doanh nghiệp.

2 Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá 9: “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.” Văn bản nghị quyết này có thể tìm thấy trên trang web http://www.cpv.org.vn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3 Dorothy Riddle và Trần Vũ Hoài, Business Services in Vietnam [Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh ở Việt Nam], Bàn luận về khu vực tư nhân lần thứ 5 (Hà Nội: MPDF, 1998).

Trang 16

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Việt Nam có các cơ chế để các hiệp hội doanh nghiệp đóng góp ý kiến và đại diện choquyền lợi của doanh nghiệp Việc đại diện quyền lợi thể hiện rõ nhất ở tác động trong quátrình lập pháp Trong thập niên 90, một số hiệp hội doanh nghiệp đã ngày càng có thêm

cơ hội để đưa ra các kiến nghị sửa đổi các dự thảo luật, và gần đây đại diện của họ cũngđã tham gia vào các ban soạn thảo luật Trong một số trường hợp, như Luật Khuyến khíchđầu tư trong nước năm 1994 và mới đây là Luật Doanh nghiệp, ý kiến đóng góp của cáchiệp hội doanh nghiệp đã dẫn đến sửa đổi nhiều ở nhiều dự thảo luật và góp phần địnhhình các luật này.4

Tuy nhiên, những cơ hội đại diện quyền lợi này thường chỉ giới hạn ở những luật quantrọng có ảnh hưởng rộng trên cả nước, mà chưa tiếp cận được với nhiều quy định dưới luật

do các bộ ban hành Hơn nữa, các hiệp hội doanh nghiệp tham gia trong những hoạt độngđóng góp ý kiến này nhìn chung mới chỉ dừng lại ở những hiệp hội lớn hoặc có tiếng –nổi bật là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Công thươngHà Nội, Hiệp hội Công thương TP HCM, Hội đồng các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Namvà các hội doanh nghiệp trẻ của các thành phố lớn Do đó, vẫn có tiềm năng để tăng cườngsự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp thường xuyên và rộng rãi hơn vào công táchoạch định chính sách, luật pháp về khu vực kinh tế tư nhân

Nhận thức rằng các hiệp hội doanh nghiệp có khả năng và cần đóng một vai trò quan trọngtrong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, Chương trình Phát triển Dự ánMê Kông (MPDF) và Quỹ Châu Á (TAF) đã tiến hành nghiên cứu này về vai trò của cáchiệp hội doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế tư nhân đang hình thành và phát triển

Đã có một số nghiên cứu và báo cáo mô tả chi tiết về các hiệp hội doanh nghiệp ở ViệtNam, do đó nghiên cứu này không có ý định lặp lại những gì mà các nghiên cứu đó đãthực hiện.5

Thay vào đó, mục đích của nghiên cứu này là xem xét các hiệp hội doanhnghiệp như một nhóm, nghiên cứu tình hình hiện tại của họ và đưa ra những nhận xét kháiquát và khuyến nghị cho sự phát triển các hiệp hội doanh nghiệp nói chung

Những mục tiêu chính của báo cáo này là:

1 xác định và đánh giá những đặc điểm chính của các hiệp hội doanh nghiệp ở ViệtNam và những điều kiện hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp;

2 phân tích vai trò và thực trạng hiện nay của các câu lạc bộ và hiệp hội doanh nghiệptrong việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam

4 Jonathan R Stromseth, “Business Associations and Policy-making in Vietnam” [Các hiệp hội doanh nghiệp với việc hoạch định chính sách ở Việt Nam], trong cuốn Governance in Vietnam: The Role of Organizations, do David Koh và Russell Hiang-Khng

Heng biên tập (Singapore: Viện nghiên cứu Đông Nam Á, sắp xuất bản)

5 Xem Jonathan R Stromseth, Reform and Response in Vietnam: State-Society Relations and the Changing Political Economy [Cải

cách và phản hồi ở Việt Nam: Những quan hệ nhà nước-xã hội và nền kinh tế chính trị thay đổi], luận văn tiến sĩ, Đại học Columbia, 1998, Chương 3;

Đỗ Anh Tuấn, Business Associations and Promotion of Small and Medium Enterprises in Vietnam [Các hiệp hội doanh nghiệp với

việc khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam], Tài liệu số 7 của SEPT (Đức: Đại học Leipzig, 2001);

Vision and Associates, Vietnam Assessment Report: Role and Performance of Chambers and Business Associations in Vietnam [Báo

cáo đánh giá Việt Nam: Vai trò và hoạt động của các phòng và hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam] (Hà Nội: Chương trình hợp tác ZDH, 2001);

MPDF, “Vietnamese Business Associations” [Các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam] danh mục tổng hợp (Hà Nội: 2001).

Trang 17

Tài liệu này không nhằm đề ra một chương trình phát triển chi tiết cho các hiệp hộidoanh nghiệp ở Việt Nam Nó sẽ vẽ ra một bức tranh thực trạng, làm cơ sở ban đầu choMPDF và Quỹ Châu Á xây dựng các kế hoạch và thiết kế các dự án hợp tác với các hiệphội doanh nghiệp.6

Căn cứ vào trọng tâm hoạt động của MPDF là phát triển khu vực kinh tế tư nhân và trọngtâm hoạt động của Quỹ Châu Á là hỗ trợ môi trường kinh doanh có lợi cho doanh nghiệpnhỏ, nghiên cứu này tập trung vào những hiệp hội hiện đang phục vụ khu vực kinh tế tưnhân hoặc có khả năng làm việc đó (thông qua việc cung cấp dịch vụ hoặc đại diện quyềnlợi cho doanh nghiệp) Do vậy, nhóm nghiên cứu cố gắng tìm hiểu cả những nhóm hoạtđộng còn chưa chính thức (ví dụ như các câu lạc bộ doanh nghiệp), vì các nhóm này thườngnắm vững các vấn đề lợi ích và các mối quan tâm lo ngại của các đơn vị kinh tế tư nhân.7Nghiên cứu ít chú trọng hơn đến những hiệp hội mà đối tượng chủ yếu là doanh nghiệpnhà nước Ngoài ra, nghiên cứu cũng không chú trọng đến các hiệp hội của các cá nhânnhững nhà chuyên môn như những hiệp hội trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuậtViệt Nam (VUSTA) Có một số cuộc phỏng vấn với các hiệp hội thuộc hai nhóm này,nhưng đó chỉ là vì mục đích so sánh, chứ không phải là trọng tâm nghiên cứu

Cuộc nghiên cứu này sử dụng ba phương pháp thu thập thông tin chính là: 1) điểm lại dữliệu thứ cấp, 2) phỏng vấn bán cấu trúc và 3) phiếu câu hỏi điều tra qua thư

1 Điểm lại các nguồn thông tin thứ cấp

Để tổng hợp bối cảnh làm cơ sở cho cuộc nghiên cứu và báo cáo này, nhóm nghiên cứuđã tìm hiểu kỹ lưỡng các nguồn thông tin thứ cấp về các hiệp hội doanh nghiệp ở ViệtNam và môi trường pháp lý của họ Trước hết, nhóm nghiên cứu xem xét số ít các nghiêncứu và các báo cáo đã thực hiện về chủ đề này Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát mộtsố lớn các văn bản pháp luật (bao gồm bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, chỉthị, thông tư, v.v.) về hiệp hội ở Việt Nam nói chung và về hiệp hội doanh nghiệp nóiriêng Nhóm đã tham khảo nhiều nguồn để thu thập những văn bản pháp luật này, trong

đó có Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam, Công báo và mục Pháp luật Việt Nam trên báo

Nhân Dân (bản điện tử) Những tờ báo khác được tham khảo trong quá trình nghiên cứu

là Hà Nội Mới, Diễn Đàn Doanh Nghiệp, Vietnam Economic Times, Vietnam Economic

News và Vietnam Investment Review.

6 Trong ba năm tới, MPDF sẽ thực hiện một mảng hoạt động mới nhằm hỗ trợ phát triển các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam và Căm-pu-chia Báo cáo này đã hỗ trợ trong việc xác định sơ bộ những đối tác trong nước và trong việc lựa chọn những loại hình hoạt động sẽ được tiến hành trong dự án.

7 ƠŒ Indonesia, một hoạt động chính của chương trình hỗ trợ DNVVN của Quỹ châu á là thành lập một mạng lưới diễn đàn khu vực cho các chủ doanh nghiệp (tên gọi Forda), mạng lưới được Quỹ hỗ trợ kỹ thuật từ năm 1997 Ngoài chức năng vận động chính sách, Forda cung cấp cho các chủ doanh nghiệp nhỏ cơ hội để giao lưu với nhau trong cả nước, trao đổi thông tin về công nghệ và cơ hội thị trường Chức năng vận động chính sách của Forda đã thu hút nhiều sự chú ý của bên ngoài, nhưng đối với hội viên thì chính triển vọng lợi ích thương mại trực tiếp đã thu hút sự quan tâm của họ nhiều nhất và khiến họ đóng góp tài chính, góp phần gây dựng sự bền vững lâu dài cho Forda.

Trang 18

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Nghiên cứu tài liệu thứ cấp cũng chú trọng đến các điều lệ và báo cáo của chính các hiệphội doanh nghiệp Đặc biệt hữu ích là những bài phát biểu thẳng thắn, cung cấp nhiềuthông tin giá trị của lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp tại hội nghị toàn quốc vào tháng

8 năm 2000 do VCCI và Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (GCOP) đồng tổ chức, bàn vềvấn đề nâng cao vai trò và hiệu quả của các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam.8

Thôngtin từ các nguồn thứ cấp được sử dụng trong toàn bộ bản báo cáo, nhưng đặc biệt hữu íchtrong việc soạn thảo Phần II của báo cáo về môi trường pháp lý, nguồn gốc và lịch sử pháttriển của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam

2 Khảo sát thực địa

Việc khảo sát thực địa của nghiên cứu này được tiến hành từ ngày 7/9 đến ngày 4/11 năm

2001 tại năm thành phố: Hà Nội và Hải Phòng ở miền Bắc, Đà Nẵng ở miền Trung, TPHCM và Cần Thơ ở miền Nam Năm thành phố này được lựa chọn vì đây là những địabàn nơi khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh nhất ở Việt Nam, là điều kiện thuận lợicho sự phát triển của các hiệp hội doanh nghiệp có tổ chức Nhóm nghiên cứu đã tiến hànhtổng cộng 76 cuộc phỏng vấn và 3 cuộc thảo luận nhóm với các doanh nghiệp Các cuộcphỏng vấn bao gồm:

➤ 35 cuộc phỏng vấn với các hiệp hội doanh nghiệp, bao gồm các hiệp hội trung ương,các chi nhánh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ở tất cảcác thành phố khảo sát, liên minh hợp tác xã ở tất cả các thành phố khảo sát, cáchiệp hội ngành cấp trung ương, các hiệp hội ngành cấp địa phương, các hội doanhnghiệp trẻ ở tất cả các thành phố khảo sát và một số tổ chức của các nhà chuyênmôn là cá nhân

➤ 2 cuộc phỏng vấn với các quan chức nhà nước để tìm hiểu quan điểm của chính phủvề các hiệp hội doanh nghiệp

➤ 32 cuộc phỏng vấn với doanh nghiệp (phỏng vấn từng doanh nghiệp)

➤ 3 cuộc phỏng vấn với các trung tâm dịch vụ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

➤ 5 cuộc phỏng vấn với các tổ chức quốc tế hiện đang hoặc đã từng làm việc với cáchiệp hội doanh nghiệp.9

3 Điều tra bằng phiếu câu hỏi qua thư

Một phiếu câu hỏi điều tra đã được gửi đến 1920 doanh nghiệp thuộc năm thành phố nóitrên Tổng cộng 414 phiếu đã được điền và gửi lại, tỉ lệ trả lời là 21,6%

Việt Nam hiện chưa có một cơ sở dữ liệu tổng hợp về các doanh nghiệp, do đó để có cơ sởchọn mẫu điều tra, nhóm nghiên cứu đã xây dựng cơ sở dữ liệu các doanh nghiệp bằng thôngtin thu thập từ rất nhiều nguồn Tổng cộng, cơ sở dữ liệu này gồm 6377 doanh nghiệp

8 Vào tháng 8, 2000, GCOP đã trơœ thành Bộ Nội vụ Đối với các thông tin liên quan tới cuộc gặp giữa VCCI và GCOP về vai trò cuœa hiệp hội doanh nghiệp xin xem “Nâng cao vai trò và hiệu quaœ hoạt động cuœa các hiệp hội doanh nghiệp” Diễn Đàn Doanh Nghiệp, 9/8/2000, trang 1.

9 Xem hướng dẫn phoœng vấn ơœ Phụ lục 2.

Trang 19

Sau khi xây dựng cơ sở dữ liệu, nhóm nghiên cứu chọn và gửi phiếu điều tra cho ba nhóm:

1 183 doanh nghiệp đã từng trả lời cho một cuộc điều tra trước kia của MPDF;

2 268 doanh nghiệp có tên trong cơ sở dữ liệu doanh nghiệp của MPDF;

3 1500 doanh nghiệp chọn bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên trong từng địa phươngvà từng loại hình hoạt động (sản xuất hay kinh doanh).10

Đối với các doanh nghiệp trong nhóm thứ hai và thứ ba, trước khi gửi phiếu điều tra, nhómnghiên cứu đã gọi điện trực tiếp đến các doanh nghiệp để xác nhận lại địa chỉ doanhnghiệp và đề nghị doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra Các doanh nghiệp không liên lạcđược do không còn hoạt động hoặc địa chỉ và số điện thoại không đúng thì được thay thếbằng doanh nghiệp khác trong cơ sở dữ liệu, và con số cuối cùng là 1951 doanh nghiệp.Khoảng mười ngày sau khi gửi phiếu câu hỏi, nhóm nghiên cứu gọi điện lần thứ hai tớicác doanh nghiệp chưa trả lời để xác nhận các doanh nghiệp đó đã nhận được thư haychưa, một lần nữa đề nghị doanh nghiệp trả lời, và nếu cần thì gửi lại phiếu khảo sát

D MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA

Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở các thành phố nơi hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp được coi là tương đối mạnh hơn so với những địa phương khác trong cả nước Mặc dù đã cố gắng loại các doanh nghiệp nhà

nước ra khỏi mẫu điều tra ban đầu nhưng vẫn còn sót một số, vì vậy trong số 414 doanhnghiệp trả lời phiếu có 16 doanh nghiệp nhà nước.11

398 phiếu trả lời còn lại là từ các công

ty trách nhiệm hữu hạn (72,2% số mẫu), công ty cổ phần (11,4%), doanh nghiệp tư nhân(9,9%), hợp tác xã (1,4%) và loại hình khác (1,2%)

Hà Nội và TP HCM có số phiếu trả lời cao nhất (Hà Nội 30,2%, TP HCM 30%), số cònlại là từ ba thành phố kia Tuy nhiên, tính theo vùng, tỉ lệ trả lời ở các thành phố nhỏ

(Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng) lại cao hơn hai thành phố lớn, mặc dù những thành phốlớn có nhiều hiệp hội hơn

10 Trong các doanh nghiệp sản xuất, có ba loại doanh nghiệp (may mặc/giày dép, nhựa và chế biến thực phẩm) được ưu tiên chọn số mẫu cao hơn các loại doanh nghiệp sản xuất khác, vì một nghiên cứu gần đây ở TP HCM (do một số nhà chuyên môn về phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực hiện) đã cho thấy rằng đây là các ngành có tiềm năng tăng trưởng cao.

11 Các doanh nghiệp nhà nước trong mẫu điều tra hầu như không có tác động gì đến kết quả của cuộc điều tra.

Cầ à n Thơ 9.2% TP Hồà Chi Minh

30%

Hàø Nộ ội 30.2%

Haœi Phòøng 16.2%

Đà Nẵüng 14.3 %

Hình 1.1: Phân bố mẫu điều tra (theo địa bàn)

Trang 20

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

51% các doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra là doanh nghiệp sản xuất, 49% còn lại hoạtđộng kinh doanh/bán lẻ, xây dựng, cung cấp các dịch vụ chuyên môn và dịch vụ giải trí.Khoảng 32% các doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu, trong đó 20% xuất khẩu hoàn toànvà 80% có tiêu thụ một phần hàng hóa trong thị trường nội địa

vốn đăng kýù

vốn hiện thời

Hình 1.4: Tăng trươœng vốn ơœ các doanh nghiệp được điều tra

1 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong mẫu điều tra

Nhìn chung, những doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra đã tăng trưởng kể từ khi đăng kýkinh doanh Biểu đồ dưới đây so sánh vốn của các doanh nghiệp trong mẫu điều tra tạithời điểm đăng ký với thời điểm điều tra Tỉ lệ các doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 1 tỉ đồngđã giảm đáng kể, tỉ lệ các doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỉ đồng hầu như không thayđổi, và tỉ lệ các doanh nghiệp có mức vốn lớn hơn đã gia tăng

Cần Thơ Đà Nẵüng Haœi Phòøng Hà Nộ ội

kinh doanh

34.5%

khác 5.3%

saœn xuất 51%

tổng hợp 34.8%

may mặc giày dép 8.8%

nhựa 3.8%

chế biến thực phẩm 5%

Hình 1.3 - Phân bố mẫu điều tra (theo nghành)

Trang 21

40.8% 40.3% 27.8%

nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư

các quy định, thuœ tục không hợp lý

công nghệ máy móc nhân viên, lao động lành nghề

thông tin đất đai, văn phòng, nhà xươœng

vốn thị trường (đầu ra, tiếp thị, canh tranh)

Hình 1.5 - Khó khăn lớn nhất cuœa doanh nghiệp (trong mẫu điều tra)

So với cộng đồng doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp được điều tra có quymô lớn hơn Hơn 70% các doanh nghiệp trả lời phiếu cho biết có vốn hơn 1 tỉ đồng tại thờiđiểm điều tra, còn theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì vào cuối năm 2000 chưa tới30% các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đăng ký có vốn hơn 1 tỉ đồng.12

Xét tổng doanh số trong năm 2000, khoảng 25% mẫu có doanh số chưa đến 1 tỉ đồng,khoảng 42% có doanh số từ 1 tỉ đến 10 tỉ đồng, và hơn 30% có doanh số hơn 10 tỉ đồng.Hơn 75% doanh nghiệp ước đoán rằng doanh số của họ tăng trong năm 2001 (trong đó25% ước tính tỉ lệ tăng trưởng mạnh đạt trên 30%) Chỉ có 12% cho biết doanh số năm

2001 của họ giảm so với năm 2000

2 Khó khăn của các doanh nghiệp trong mẫu điều tra

Nhằm tìm hiểu những gì các hiệp hội doanh nghiệp có thể làm để hỗ trợ doanh nghiệp,phiếu điều tra hỏi doanh nghiệp về hai trở ngại lớn nhất mà doanh nghiệp đang gặp phải.Hai khó khăn mà các doanh nghiệp đưa ra nhiều nhất là thị trường (tìm kiếm, tiếp cận vàcạnh tranh trên thị trường) và vốn

Kết quả này cũng thống nhất với các nghiên cứu khác và kinh nghiệm của MPDF Tuynhiên, dường như vấn đề tiếp cận nguồn vốn đã trở nên ít khó khăn hơn đối với các doanhnghiệp tư nhân so với năm năm trước đây – kinh nghiệm của MPDF cho thấy các ngânhàng đã sẵn sàng hơn trong việc cho các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng về lợi nhuậnvà tăng trưởng vay vốn.13

Chính các doanh nghiệp cũng nhận định rằng tiếp cận nguồnvốn, cho dù vẫn còn khó khăn, nhưng không nhất thiết là trở ngại lớn hơn so với việc tiếpcận thông tin thị trường và khả năng thâm nhập các thị trường đó

Mặc dù các hiệp hội không thể đóng vai trò trực tiếp giúp các doanh nghiệp tiếp cậnnguồn vốn, họ có thể hỗ trợ các hội viên tìm kiếm thị trường thông qua các hoạt động giaolưu và xúc tiến thương mại, cũng như giúp hội viên nâng cao năng lực marketing thôngqua các chương trình đào tạo Một trọng tâm quan trọng của nghiên cứu này là tìm hiểuvề vai trò mà các hiệp hội doanh nghiệp có thể đảm nhiệm trong việc cung cấp dịch vụhỗ trợ kinh doanh để giúp các doanh nghiệp vượt qua các khó khăn của mình

12 Tổng cục Thống kê Kết quả Điều tra Toàn bộ Doanh Nghiệp 1-4-2001 (Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, 2002), trang 402-403

13 Một trong những hoạt động chính của MPDF ở cấp doanh nghiệp là hỗ trợ các công ty tư nhân tiếp cận vốn.

Trang 23

A CÁC LOẠI"HIỆP HỘI" VIỆTNAM

Để hiểu được vị trí hiện tại của các hiệp hội doanh nghiệp, cần phải đặt chúng trong bốicảnh lớn hơn của các hội, hiệp hội, tổ chức và pháp nhân ở Việt Nam

Mặc dù khung pháp lý phức tạp và rắc rối, cơ chế điều chỉnh đối với các hội, hiệp hội vàtổ chức của Việt Nam được nêu ra toàn diện nhất trong Bộ luật Dân sự Việt Nam Bắt đầucó hiệu lực từ năm 1996, Bộ luật Dân sự xác định năm loại pháp nhân ở Việt Nam: 1) các

cơ quan nhà nước và các đơn vị lực lượng vũ trang; 2) các tổ chức chính trị và tổ chứcchính trị-xã hội; 3) các tổ chức kinh tế; 4) các tổ chức xã hội và tổ chức xã hội-nghềnghiệp; và 5) các quỹ xã hội, quỹ từ thiện.14

Nhìn chung, các hội, hiệp hội thuộc loại hìnhthứ hai và thứ tư, bao gồm các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, và các tổ chức xãhội-nghề nghiệp

Các tổ chức chính trị-xã hội chiếm một vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Thường được biết đến như là các tổ chức quần chúng, các tổ chức này gồm Mặt trận Tổquốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ,Hội Nông dân, và Hội Cựu chiến binh Từ trước tới giờ, các tổ chức này tiến hành côngtác vận động nhân dân nhằm thực hiện các chính sách kinh tế và xã hội của chính phủ.Từ năm 1986 tới nay, một số tổ chức đã trở nên ngày càng chủ động trong việc đại diệncho quyền lợi của hội viên của mình, đặc biệt trong quá trình xây dựng luật pháp, và cũngđang đảm đương trách nhiệm trực tiếp hơn trong việc cung cấp dịch vụ xã hội và thực hiệncác hoạt động phát triển ở nông thôn

Hầu hết các hội, hiệp hội ở Việt Nam thuộc loại pháp nhân thứ tư, tức là các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp Theo chương III (Điều 114) của Bộ luật Dân sự, các

tổ chức xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp là những tổ chức “được cơ quan nhà nướccó thẩm quyền cho phép thành lập, chuẩn y điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tựnguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ nhu cầu chung của hội viên và mụcđích của hội”

Theo một nghĩa rộng thì các tổ chức xã hội là những tổ chức nhận sự tham gia của nhiều

cá nhân khác nhau tập hợp nhau lại để tiến hành hoạt động xã hội, giao lưu hoặc vì nhữngmục đích nhân đạo Thuộc loại này có những tổ chức nhân đạo, tổ chức từ thiện như HộiChữ thập đỏ Việt Nam, Hội Hỗ trợ trẻ em khuyết tật, Hội Người mù và những tổ chứckhác như Hội Khuyến học, v.v

Các tổ chức xã hội-nghề nghiệp thường là các hội có hội viên là các cá nhân cùng hoạt

động trong một nghề nghiệp nhất định, như Hội Nhà văn, Hội Nhà báo, và Hội Nghệ sĩNhiếp ảnh Tương tự như các nhóm này còn có các hội trực thuộc Liên hiệp các hội khoa

SỬ PHÁT TRIỂN

14 Chương III (Điều 94) Bộ luật Dân sự quy định pháp nhân là tổ chức đáp ứng những điều kiện sau: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức

khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Xem Bộ luật Dân

sự (Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới), trang 59.

Trang 24

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

học kỹ thuật Việt Nam, như Hội Tin học, Hội Kinh tế, Hội Luật gia Những hội này có hộiviên là các cá nhân làm khoa học hay làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực của họ.15Nghiên cứu này không tập trung vào các hội xã hội-nghề nghiệp mà hội viên là cá nhân,

mà tập trung vào những hội, hiệp hội mà hội viên chủ yếu là các doanh nghiệp.

Các hiệp hội doanh nghiệp là một loại tổ chức xã hội-nghề nghiệp, nhưng khác những tổchức nói trên ở một điểm quan trọng: các hiệp hội doanh nghiệp có cả hội viên là cá nhân(thường là giám đốc các doanh nghiệp) và hội viên là doanh nghiệp – bao gồm doanhnghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân, công tyliên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, và công ty nước ngoài hoạt động tại ViệtNam Hiệp hội doanh nghiệp còn có thể có hội viên là các đơn vị kinh doanh không đăngký làm doanh nghiệp, như các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, hộ gia đình sản xuất kinh doanh,và một số cá nhân là chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó hoặc đã có đóng góp lớn chohiệp hội (ví dụ, hội viên danh dự, nhà báo, v.v.)

Do vậy, trong bối cảnh và với các thuật ngữ thông dụng ở Việt Nam hiện nay, định nghĩa

chính xác nhất về hiệp hội doanh nghiệp là một loại hình tổ chức xã hội-nghề nghiệp, được

nhà nước cho phép thành lập, có hội viên là các doanh nghiệp, các tổ chức khác và các cá nhân tự nguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ lợi ích của hội viên và đạt mục đích của cả hiệp hội.

B ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP

Cũng như trường hợp các hiệp hội nói chung, luật và các quy định về việc thành lập và hoạtđộng của hiệp hội doanh nghiệp cũng không thống nhất Hiện tại, hiệp hội doanh nghiệpphải dựa vào một loạt những luật, pháp lệnh, chỉ thị, quyết định và thông tư để có thể trởthành pháp nhân, thực hiện các hoạt động thường nhật và đại diện cho quyền lợi của hội viêntrước nhà nước Hiện tại rất nhiều quy định, mà các quy định này thường có tình trạng chồngchéo, mâu thuẫn và có quy định không còn phù hợp Một số trường hợp còn chưa rõ ràng vềviệc quy định mới có thay thế cho quy định cũ hay không, nếu có thì thay thế như thế nào.Gần đây, người ta dự báo rằng khung pháp lý cho các hiệp hội doanh nghiệp sẽ được baohàm trong luật sắp ban hành điều chỉnh tất cả các loại hiệp hội ở Việt Nam – gọi là Luậtvề hội – và sẽ có quy định riêng cho việc thực thi đối với hiệp hội doanh nghiệp Ban Tổchức cán bộ Chính phủ bắt đầu soạn thảo luật này từ cách đây 10 năm, nhưng hiện vẫncòn một số vấn đề quan trọng cần được giải quyết trước khi trình Quốc hội thảo luận vàthông qua Hiện chưa rõ bao giờ việc này sẽ xảy ra, tuy nhiên, do dự thảo luật này khôngcó trong chương trình lập pháp của Quốc hội năm 2002, nên thời điểm ban hành sớm nhấtcũng phải là năm 2003.16

15 Những hiệp hội và tổ chức chính thức được xem xét ở đây, còn có một loạt những nhóm khác đã xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, bao gồm các câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu chính sách, tổ chức công tác xã hội, hội tương trợ và các nhóm khác, thường được gọi là tổ chức phi chính phủ Việt Nam Nếu cần tìm hiểu về những tổ chức này, xem Michael L Gray, “Creating Civil Society? The Emergence of NGOs in Vietnam” [Tạo lập xã hội dân sự? Sự xuất hiện của những tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam], trong

Development and Change, số 4 (10/1999): trang 693-713; và Mark Sidel, “The Emergence of a Voluntary Sector and Philanthropy

in Vietnam” [Sự xuất hiện của những tổ chức tình nguyện và từ thiện ở Việt Nam] trong Emerging Civil Society in the Asia Pacific

Community, do Tadashi Yamamoto biên tập (Singapore: ISEAS, 1995), trang 477-490.

16 Dựa trên những cuộc phỏng vấn và một bài phát biểu của cán bộ Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ tại cuộc họp của Tổ công tác xã hội

dân sự, Liên Hợp Quốc, Hà Nội, 30/8/2001 Ngoài ra, độc giả cũng có thể xem: Trung tâm Quốc tế về Luật Phi Lợi nhuận, Overview

of the Legal Environment of the NPO in Vietnam [Tổng quan về môi trường pháp lý của các tổ chức phi lợi nhuận ở Việt Nam] (1997)

<http:www.icnl.org/library/asiap/reports/vietrpt.html> (15/4/2002)

Trang 25

Do sự chậm trễ này nên lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp đã bắt đầu kiến nghị vớichính phủ về vấn đề xây dựng luật riêng cho các hiệp hội doanh nghiệp Ví dụ, tại mộtcuộc họp cấp trung ương tháng 8 năm 2000 về nâng cao vai trò và hiệu quả của các hiệphội doanh nghiệp do VCCI và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đồng tổ chức, một cán bộcao cấp của VCCI đã kiến nghị rằng chính phủ nên xây dựng và ban hành một luật vềviệc tổ chức và hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam, thay thế những vănbản pháp luật hiện hành đã không còn phù hợp Cán bộ này khuyến nghị rằng nếu điềukiện không cho phép ban hành luật thì chính phủ có thể ban hành một pháp lệnh hay ítnhất là một nghị định.17

Sau đó, vào tháng 11 năm 2001, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị 28/2001/CT-TTg về việctiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Chỉ thị yêu cầu Ban Tổ chức cánbộ Chính phủ phải tiến hành nghiên cứu và trước tháng 3 năm 2002 trình Thủ tướng mộtquy định về việc thành lập và hoạt động của các hiệp hội kinh doanh Một quy định nhưvậy không chỉ cần thiết đối với các hiệp hội để có thể đại diện cho các doanh nghiệp mộtcách hiệu quả mà còn tạo điều kiện cho các hiệp hội có vai trò trong việc điều phối vàthoœa thuận về quy mô sản xuất, định giá, chất lượng sản phẩm, phân chia thị trường, v.v.Ngoài ra, như đã đề cập đến ở phần giới thiệu của báo cáo này, tháng 3 năm 2002, Hộinghị Trung ương Đảng lần thứ 5 đã ra nghị quyết nêu rằng cần sớm ban hành một quyđịnh về việc tổ chức và hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp Đáp ứng lại những chỉthị này, mới đây Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã hoàn thành một dự thảo nghị định, vàđang tiến hành lấy ý kiến và phản ứng của các cơ quan nhà nước và các hiệp hội doanhnghiệp Tóm lại, quá trình soạn thảo đang diễn ra nhanh Nghị định mới sẽ bao gồmnhững điều khoản cập nhật về việc thành lập hiệp hội doanh nghiệp, về các quyền củahội viên, về tổ chức và chức năng, những yêu cầu về báo cáo, quản lý nhà nước đối vớicác hiệp hội và thủ tục giải thể.18

Trong khi chính phủ chưa ban hành nghị định này, các hiệp hội doanh nghiệp sẽ tiếp tụcdựa vào những luật và quy định làm nên khung pháp lý hiện hành Khung pháp lý nàyđiều chỉnh và đã tác động đến hầu hết các hiệp hội nói đến trong báo cáo này, do vậy cầntrình bày rõ ở đây

Mặc dù Sắc lệnh 102-SL 1957 (về quyền thành lập hiệp hội nói chung) được ban hành

cách đây hơn bốn chục năm, nhưng một số hiệp hội doanh nghiệp vẫn tiếp tục dẫn chiếuđến quy định này trong điều lệ và những quyết định của hiệp hội Việc quy định này tiếptục được các hiệp hội doanh nghiệp sử dụng là một điều đáng ngạc nhiên, bởi Điều 10trong quy định nói rõ rằng quy định “không áp dụng đối với những hiệp hội có mục đíchkinh tế.”

17 Bài phát biểu của VCCI tại cuộc họp về “Nâng cao vai trò và hiệu quả của các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam,” tổ chức ngày 7/8/2000 tại Hà Nội.

18 Bản dự thảo thứ ba của Luật Cạnh tranh cũng nhắc đến hiệp hội doanh nghiệp nhiều lần Về chi tiết, xin xem “Sẽ coi hiệp hội

nghề nghiệp là một tổ chức kinh tế,” trong báo Kinh tế và Đầu tư, số ra ngày 1/4/2002

Trang 26

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Những quy định chi tiết hơn được ban hành sau đó khoảng ba mươi năm, vào năm 1989,khi Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ban hành Chỉ thị 01-CT về tổ chức và hoạt động của các

tổ chức đoàn thể, và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư 07-TCCP giải

thích chỉ thị này Mặc dù không đề cập riêng đến hiệp hội doanh nghiệp, nhưng nhữngquy định này đã ảnh hưởng đến cách các cơ quan nhà nước quản lý chặt chẽ đối với cáchiệp hội doanh nghiệp Việt Nam từ cuối thập niên 80.19

Ví dụ, những quy định này nóirằng các hiệp hội thuộc sự quản lý của các cơ quan nhà nước quản lý ngành hoạt động củahiệp hội, và các hiệp hội địa phương chịu sự kiểm tra và giám sát của ủy ban nhân dân.Các quy định cũng yêu cầu các hiệp hội phải trình báo cáo cho chính phủ mỗi năm mộthoặc hai lần, sau mỗi kì đại hội và khi có những thay đổi về tổ chức và nhân sự

Cũng trong năm 1989, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định 38-HĐBT về các liên

minh kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, phân phối và dịch vụ Cho đến cuối thập niên 90,đây vẫn là quy định của Việt Nam phù hợp nhất đối với các hiệp hội doanh nghiệp Theoquyết định này, các liên minh kinh tế là các dạng hoạt động phối hợp do các đơn vị kinhtế tiến hành một cách tự nguyện nhằm bàn bạc và áp dụng các biện pháp nhằm tăng hiệuquả và lợi ích sản xuất, kinh doanh Quyết định nêu ra một số hình thức liên minh kinhtế, như các liên minh xuất nhập khẩu và các hiệp hội sản xuất và tiêu dùng

Quyết định 38-HĐBT còn có một số điều khoản liên quan đến việc quản lý và hoạt động

nội bộ của các tổ chức liên kết kinh tế, ví dụ như việc thành lập ban chấp hành, bầu chủtịch ban chấp hành, và mức lương (nếu có) của chủ tịch và các thành viên ban chấp hành.Tuy nhiên, trong thập niên 90, nhiều điều khoản trong số này đã trở nên không còn phùhợp Ví dụ, Điều 12 của quyết định này nói rằng các liên minh kinh tế không có cơ cấuchuyên trách hỗ trợ chủ tịch ban chấp hành, mà chủ tịch phải “sử dụng bộ máy quản lýcủa doanh nghiệp của mình để điều hành tổ chức liên kết kinh tế.”

Trong khi đó, đã có sự thay đổi về các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thànhlập hiệp hội doanh nghiệp Tháng 3 năm 1999, Thủ tướng ra Quyết định 158/QĐ-TTg quyđịnh rằng Trươœng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ chịu trách nhiệm cho phép thành lập cáchiệp hội doanh nghiệp trung ương và thông qua điều lệ hoạt động của họ Trước thời điểmđó, việc thành lập các hiệp hội trung ương phải được Thủ tướng phê duyệt (trước khi banhành Hiến pháp năm 1992 là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) Để xin Ban Tổ chức cán bộChính phủ cho phép thành lập, các hiệp hội trung ương còn phải thực hiện một số hoạtđộng trù bị, trong đó có việc xin ý kiến của cơ quan nhà nước có liên quan hoặc bộ quảnlý lĩnh vực hoạt động của họ Tóm lại, quy trình thành lập một hiệp hội doanh nghiệp phảiqua nhiều bước và nhiều cơ quan (xem dưới đây)

Các uỷ ban nhân dân tỉnh được trao thẩm quyền cấp phép thành lập cho các hiệp hộidoanh nghiệp địa phương và giám sát, hướng dẫn về hoạt động của các hiệp hội này Điềunày được quy định trong một sắc lệnh ban hành cùng Lệnh số 50-L/CTN tháng 7/1996 về

các quyền, nghĩa vụ cụ thể của ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân các cấp

19 Phỏng vấn Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ, Hà Nội, 11/2001.

Trang 27

Các thủ tục chi tiết để thành lập hiệp hội doanh nghiệp hiện đang được quy định rõ trong một nghị định mới mà Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đang soạn thảo Nói chung, những thủ tục này có lẽ sẽ tương tự như những thủ tục theo quy định của khung pháp lý hiện hành đối với các hiệp hội Việt Nam, với một vài sự thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh Dưới đây là thủ tục hiện hành để thành lập một hiệp hội nói chung do một chuyên viên Việt Nam trong lĩnh vực này đưa ra 20

ƠŒ đây, các thủ tục được trình bày riêng cho các hiệp hội doanh nghiệp.

Thành lập ban trù bị

Ban đầu, đại diện của các doanh nghiệp mong muốn thành lập hiệp hội cần lập ra một ban trù bị Việc lập ban trù bị phải được Ban Tổ chức cán bộ chính phủ cho phép đối với hiệp hội doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi cả nước, hoặc do ủy ban nhân dân tỉnh cho phép đối với hiệp hội doanh nghiệp cấp tỉnh Hồ sơ xin thành lập gồm có:

➤ tên, tôn chỉ, mục đích, và phạm vi hoạt động của hiệp hội,

➤ địa điểm tạm thời của trụ sở,

➤ thời gian dự kiến cho hoạt động trù bị,

➤ dự thảo điều lệ của hội,

➤ danh sách các hội viên sáng lập và lý lịch được cơ quan địa phương tại nơi cư trú xác nhận;

➤ thư đề nghị của cơ quan nhà nước quản lý lĩnh vực hoạt động của hiệp hội (bộ quản lý ngành đối với các hiệp hội hoạt động trong phạm vi cả nước, và các sở quản lý ngành tại địa phương đối với các hiệp hội cấp tỉnh).

Sau khi được cấp có thẩm quyền cho phép, ban trù bị sẽ tiến hành các hoạt động trù bị như vận động hội viên, hoàn chỉnh hồ sơ xin thành lập hiệp hội, lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan và lập danh sách các thành viên ban chấp hành.

Xin thành lập Hiệp hội

Ban trù bị sau đó sẽ trình hồ sơ xin thành lập hiệp hội lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cũng như trên, cơ quan có thẩm quyền cho phép là Ban Tổ chức cán bộ chính phủ đối với các hội doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi cả nước, là ủy ban nhân dân tỉnh đối với hiệp hội doanh nghiệp cấp tỉnh Hồ sơ xin thành lập gồm:

➤ tên, tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động của hiệp hội,

➤ bản giải trình tính cần thiết của việc thành lập hiệp hội,

➤ nơi đặt trụ sở hiệp hội,

➤ nguồn gốc tài sản của hiệp hội,

➤ dự thảo điều lệ của hiệp hội (nội dung phải phù hợp với Điều 99 của Bộ luật Dân sự),

➤ bản báo cáo các hoạt động trù bị,

➤ chương trình hoạt động,

➤ danh sách các thành viên ban trù bị và lý lịch được chính quyền nơi cư trú xác nhận,

➤ ý kiến của cơ quan nhà nước quản lý lĩnh vực mà hiệp hội hoạt động.

20 Đỗ Sơn Hà, “Hướng dẫn nghiệp vụ về quy trình tổ chức, quản lý nhà nước đối với hội quần chúng,” Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (11/2000).

HỘP 1: THÀNH LẬP MỘT HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Trang 28

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Cho phép thành lập và đại hội thành lập

Các quy định hiện hành không đưa ra một thời hạn tối đa cho việc xem xét đơn xin thành lập hiệp hội, và những thủ tục khiếu nại đối với quyết định không cấp phép cũng phức tạp Trước hết, phải gửi đơn khiếu nại đến cơ quan ra quyết định từ chối cấp phép Nếu cơ quan này không thay đổi quyết định thì gửi đơn kiến nghị lên cấp quản lý cao hơn, 21

hoặc đưa ra tòa án hành chính 22

Sau khi được cấp có thẩm quyền cho phép thành lập, ban trù bị tổ chức đại hội thành lập và báo cáo với cơ quan hữu trách về nội dung, chương trình, thời gian và địa điểm của đại hội Đại hội tuyên bố chính thức thành lập hiệp hội, thông qua điều lệ và chương trình hành động, bầu các thành viên ban chấp hành và ra nghị quyết của đại hội.

Lãnh đạo hiệp hội phải hoàn thành tất cả các văn bản của đại hội và báo cáo kết quả cho cơ quan có thẩm quyền Điều lệ của hiệp hội chỉ có hiệu lực khi được cơ quan này thông qua.

Cuối cùng, về mặt đại diện quyền lợi, Thủ tướng đã ban hành hai quy định quan trọng xácđịnh vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc đưa ra những khuyến nghị về mặtchính sách với chính phủ Trước hết là Quyết định 310/TTg ban hành năm 1993 về quan

hệ giữa các cơ quan nhà nước và VCCI Quyết định này kêu gọi VCCI đưa ra những đềxuất về chính sách đối với các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, và yêu cầunhững cơ quan này cung cấp cho VCCI những tài liệu và thông tin cần thiết để hoàn thànhnhiệm vụ này Ngoài ra, quyết định này cũng khẳng định VCCI được mời tham gia vàonhững cuộc họp của chính phủ bàn về những vấn đề có liên quan, và quy định rằng chủtịch VCCI “có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng sáu tháng một lần về tình hình phát triểncủa cộng đồng doanh nghiệp và về hoạt động” của VCCI

Quy định thứ hai là Chỉ thị 16/1998/CT-TTg, ban hành tháng 3/1998, kêu gọi tăng cường

vai trò của VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp khác trong việc xác định các vấn đề vềkinh doanh, thu thập ý kiến của các doanh nhân và chuyển các khuyến nghị đến Thủtướng và các cơ quan chính phủ Chỉ thị cũng yêu cầu các bộ và các cơ quan soạn thảophải lấy ý kiến của VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp khác trong quá trình soạn thảocác văn bản pháp luật có tác động tới cộng đồng doanh nghiệp

Tóm lại, môi trường pháp lý hiện nay chứa đựng cả thách thức và cơ hội đối với các hiệphội doanh nghiệp Về mặt cơ hội, cơ chế pháp lý có những điều khoản rõ ràng, cho phépcác hiệp hội doanh nghiệp thực hiện chức năng đại diện quyền lợi của hội viên trước chínhphủ Mặc dù hiệu lực của những quy định này còn cần được tăng cường và phạm vi ápdụng cần được mở rộng, các quy định này thực sự có cho một số hiệp hội cơ hội tham giavào quá trình lập pháp Còn về mặt thách thức, trong môi trường pháp lý hiện vẫn tồn tạinhững thủ tục rất phiền phức đối với việc thành lập hiệp hội doanh nghiệp Thêm vào đó,việc quản lý các hiệp hội doanh nghiệp thuộc quyền rất nhiều cơ quan nhà nước, bao gồmcác bộ quản lý ngành Vì vậy mà có chỗ cho việc diễn giải khác nhau các quy định pháplý, từ đó có thể dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong áp dụng các luật và quy định

21 Nguyễn Văn Thanh và Đinh Duy Hòa, “Việt Nam,” trong Philanthropy and Law in Asia [Từ thiện và Luật pháp ở châu Á] (San

Francisco: Jossey-Bass Publishers, 1999): trang 355-371.

22 Luật Khiếu nại, tố cáo số 9/1998/QH10, ngày 2/12/1998.

Trang 29

23 Theo Nguyễn Văn Thanh và Đinh Duy Hòa (xem dẫân chiếu số 18), việc khấu trừ thuế này có vẻ như là kết quả của sự hiểu biết không chính thức, chứ không phải là một quy định chính thức Họ chỉ ra rằng các hiệp hội được miễn nộp thuế thu nhập theo lý giải là thuế này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp.

24 Phần A (Điều III, Khoản 11) của Thông tư Bộ Tài chính số 18/2002/TT-BTC (20/2/2002) quy định rằng: “ các chi phí có thể được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế bao gồm các khoản sau: (11) chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, tiếp tân, khánh

tiết, chi phí giao dịch, đối ngoại, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị và các loại chi phí khác [nhấn mạnh của tác giả] phải có

chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính ” Vấn đề là liệu các quan chức thuế địa phương có hiểu “các chi phí khác” là bao gồm hội phí hay không.

25 Việc giải quyết vấn đề này bị phức tạp hóa bởi Quyết định số 1537/TCT/QD/AC do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành ngày 19/11/1999 Phần B (Điều I, Khoản 2) của quyết định này quy định rằng chỉ có các chủ thể có giấy đăng ký kinh doanh mới được cấp hóa đơn trống chính thức do Tổng cục Thuế in Quyết định này rõ ràng loại trừ các hiệp hội doanh nghiệp, vì chỉ có các doanh nghiệp mới có giấy đăng ký kinh doanh.

26 Phỏng vấn Cục Thuế Hà Nội, 5/2002.

Các hiệp hội doanh nghiệp cũng đang gặp bất lợi do những điều còn sót không được quyđịnh về pháp lý Đó là miễn thuế đối với doanh thu từ các “hoạt động chủ đạo” (ví dụ:

thu hội phí, cấp chứng chỉ nghề nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp), và khấu trừ thuế thu nhập đối với những khoản hội phí mà các cá nhân hay doanh nghiệp đóng góp

cho hiệp hội Về vấn đề miễn thuế, luật hiện hành thực ra không đánh thuế các hiệp hội,trừ các khoản thuế đánh trên thu nhập từ hoạt động kinh doanh.23

Tuy nhiên, đại diện củacác hiệp hội doanh nghiệp cho biết một vài “hoạt động chủ đạo” của hiệp hội, như tổ chứctriển lãm thương mại, trên thực tế vẫn bị đánh thuế Việc những hoạt động như vậy có bịđánh thuế hay không dường như được quyết định trong từng trường hợp, có thể dẫn đếnviệc thiếu thống nhất trong các quyết định

Các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cho phép có “các khoản chi phíhợp lý” được trừ để tính thuế, miễn là những chi phí này có hóa đơn đi kèm tuân theo cácquy định của Bộ Tài chính Nhưng các doanh nghiệp hội viên của các hiệp hội doanhnghiệp đang gặp phải hai vấn đề trong việc tận dụng lợi ích của điều khoản này Thứ nhất,trong các quy định về thuế không xác định cụ thể rằng hội phí là khoản được trừ để tínhthuế.24

Thứ hai, các hiệp hội doanh nghiệp không thể cung cấp cho hội viên hóa đơn theomẫu của Bộ Tài chính Hiệp hội chỉ có thể phát hành hóa đơn thông thường có đóng dấucủa hiệp hội, mà những hoá đơn loại này thường không được các cơ quan thuế chấp nhậnđể khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.25

Trong một cuộc phỏng vấn, cán bộ CụcThuế Hà Nội cho biết họ có thể xem xét để cấp cho các hiệp hội doanh nghiệp hóa đơntài chính chuẩn nếu được yêu cầu Tuy nhiên, thủ tục xin cấp phức tạp và một lần nữa đơnxin cấp sẽ phải được xử lý tùy từng trường hợp.26

C CÁC HIỆP HỘI ĐƯỢC THÀNH LẬP THẾ NÀO? LÝ DO THÀNH LẬP LÀ GÌ?

Phần trước đã mô tả sơ lược các kênh pháp lý chính thức mà doanh nhân (và cả cán bộnhà nước) cần phải theo để đạt được cùng một kết quả là được phê duyệt thành lập mộthiệp hội kinh doanh Việt Nam Vậy nhưng các hiệp hội này lại được thành lập dựa trêncác động cơ và nguyên nhân khác nhau Qua phỏng vấn đại diện các hiệp hội kết hợp vớikhảo sát nguồn dữ liệu thứ cấp, nhóm nghiên cứu đã xác định được một số nhân tố quantrọng nhất tác động đến việc thành lập hiệp hội doanh nghiệp, liệt kê sơ bộ dưới đây.Nghiên cứu cho thấy một số hiệp hội ra đời do mong muốn của các doanh nghiệp muốnhợp sức đối mặt với một đối thủ cạnh tranh chung, còn một số khác lại ra đời do các quanchức địa phương muốn tìm cách đẩy mạnh phát triển kinh tế tại địa phương Tất nhiên,không phải hiệp hội nào ra đời cũng theo một trong hai kiểu đó, mà thường là kết quả củanhiều nhân tố Những nhân tố chủ yếu bao gồm:

Trang 30

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

1 Nhà nước lập ra nhằm mục tiêu xúc tiến thương mại và công nghiệp

Phòng Thương mại Việt Nam được thành lập chính thức ngày 29/4/1960 Theo điều lệ củaPhòng Thương mại Việt Nam ra năm 1963, đây là một tổ chức kinh tế tự quản với mụcđích chính là tăng cường quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới.Điều lệ hiện nay của tổ chức được sửa đổi năm 1997 quy định VCCI là “một tổ chức phichính phủ và độc lập” hoạt động dựa trên cơ sở tự chủ về tài chính, nhưng điều lệ nàycũng nêu rõ VCCI tiến hành các hoạt động “dưới sự hỗ trợ và giám sát của Nhà nước ViệtNam,” và phải “thực hiện các hoạt động khác do Nhà nước Việt Nam quy định ”27

Khicần, VCCI có thể tiếp nhận hỗ trợ tài chính của Chính phủ để đầu tư vào cơ sở hạ tầng vàcông nghệ hoặc để mở rộng các dự án liên quan tới thương mại và đầu tư Hiện tại khoảng20% ngân sách của VCCI do chính phủ cấp

2 Tập hợp và thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện cho công tác quản lý nhà nước

Trước năm 1990, ở miền Bắc các doanh nghiệp nhà nước cùng ngành đã tập hợp nhau lạitheo hình thức “liên hiệp xí nghiệp sản xuất,” còn các hợp tác xã thì được tổ chức thànhcác “liên hiệp hợp tác xã” bao gồm các hợp tác xã cả kinh doanh và sản xuất nhỏ Mụcđích chính của các liên minh này là để phân bổ và phân công các nhiệm vụ do nhà nướcgiao, bao gồm phân giao chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất, cấp nguyên vật liệu thô, quy địnhgiá cả, v.v Sau đó, trong quá trình đổi mới, các liên minh này được thay thế bằng các tổngcông ty nhà nước.28

Các hiệp hội ngành nghề đầu tiên ở miền Bắc thành lập vào đầu thập niên 90 đều do mộtliên hiệp xí nghiệp hoặc tổng công ty nhà nước trong ngành giữ vị trí lãnh đạo Dưới sựchỉ đạo của các bộ chủ quản mà tổng công ty nhà nước này trực thuộc, đầu thập niên 90,các hiệp hội tổ chức các công ty trong ngành chủ yếu là để tiến hành hoạt động kinh doanhvới Nga và các nước Đông Âu cũ

Hiệp hội Da giày Việt Nam là một ví dụ của hiệp hội do doanh nghiệp nhà nước lãnh đạođược thành lập từ một liên minh xí nghiệp sản xuất trước đây, còn Hiệp hội Dệt may ViệtNam là ví dụ về hiệp hội do doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo được thành lập từ mộttổng công ty nhà nước

3 Do lịch sử để lại

Khi đất nước chưa thống nhất, trước năm 1975, ở miền Nam đã có các hiệp hội doanhnghiệp Tổng đoàn Công kỹ nghệ là một tổ chức mạnh ở Sài Gòn cũ Năm 1989, được sựcho phép của UŒy ban nhân dân và được Mặt trận Tổ quốc bảo trợ, một nhóm các nhàdoanh nghiệp từng là các công kỹ nghệ gia trước năm 1975 đã thành lập Hiệp hội Côngthương Kỹ nghệ gia TP HCM Hầu hết các nhà doanh nghiệp này đều là hội viên của hiệp

27 Nghị định 39/CP ngày 27/6/1995 của Chính phủ về việc Ban hành điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của các tổng công ty nhà nước Nghị định này thay thế nghị định 27/CP ngày 22/3/1989 của Chính phủ về việc Ban hành điều lệ của các liên minh các doanh nghiệp quốc doanh.

28 “Điều lệ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (đã sửa đổi),” do Quốc hội khóa 3 thông qua và được Thủ tướng phê chuẩn bằng Quyết định số 315/TTg ngày 12/5/1997.

Trang 31

29 Stromseth, Reform and Response in Vietnam [Cải cách và phản ứng ở Việt Nam], trang 116-124.

hội trước đây, và một số đã từng đảm nhiệm vị trí lãnh đạo Năm 1994, sau khi Luật Công

ty có hiệu lực, tổ chức này đổi tên thành Hội Công thương

Hội Công thương là hiệp hội doanh nghiệp cấp địa phương đầu tiên có hội viên thuộcnhiều ngành Sau đó, nó được tổ chức lại và đổi tên thành Hiệp hội Công thương TP HCM,trong đó có các hội ngành nghề Hiện nay, Hiệp hội Công thương TP HCM có mười haihội ngành nghề Ban đầu hội viên doanh nghiệp của hiệp hội chỉ có các doanh nghiệp tưnhân, nhưng gần đây hiệp hội đã mở rộng đối tượng hội viên và có thêm các doanh nghiệpquốc doanh.29

4 Xuất phát từ các quan hệ không chính thức, do nhu cầu mở rộng giao lưu với các doanh nghiệp có cùng hoàn cảnh

Một số hiệp hội ban đầu ra đời dưới hình thức câu lạc bộ không chính thức Ví dụ như Câulạc bộ Doanh nghiệp trẻ Hà Nội do khoảng mười người là các giám đốc công ty tư nhân

“thế hệ đầu” (các công ty thành lập theo Luật Công ty đầu tiên năm 1991-1992) Ban đầu,nhóm gặp gỡ nhau chủ yếu để giao lưu và mở rộng quan hệ Dần dần câu lạc bộ trở thànhdiễn đàn cho các thành viên trao đổi kinh nghiệm và liên kết làm ăn Khi số lượng hoạtđộng tăng lên thì nhu cầu chính thức hóa câu lạc bộ cũng tăng lên Muốn làm vậy cần phảichính thức được sự quản lý của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức đoàn thể, vì vậyCâu lạc bộ Doanh nghiệp trẻ Hà Nội đã được “nâng cấp” lên thành Hội Doanh nghiệpTrẻ trực thuộc Thành Đoàn Hà Nội

Hội đồng các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam do Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Namthành lập năm 1999, là tổ chức cấp trung ương của các hội doanh nghiệp trẻ cấp tỉnh,thành phố Cho đến nay trên cả nước đã có 27 hội doanh nghiệp trẻ cấp tỉnh, thành phố,trong đó rất nhiều hội được thành lập sau khi hội đồng trung ương ra đời

Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội (HASMEA) là một ví dụ khác về hiệp hộibắt nguồn từ một câu lạc bộ không chính thức

5 Tập hợp lực lượng để đối phó với một đối thủ cạnh tranh chung

Theo chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo TP HCM, hội này ra đời nhằm tập hợp các công tyquảng cáo trong nước để cạnh tranh với các công ty quảng cáo nước ngoài hoạt động ởViệt Nam Mặc dù ở TP HCM hiện có tổng cộng 225 công ty quảng cáo, chỉ có 10 công

ty được coi là cung cấp “dịch vụ trọn gói” (tức là có khả năng thực hiện một chiến dịchquảng cáo từ đầu đến cuối), còn các công ty còn lại chỉ một vài loại dịch vụ liên quan đếnquảng cáo như in ấn, thiết kế đồ họa, v.v Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo TP HCM giải thíchthêm rằng ngay cả các công ty “dịch vụ trọn gói” cũng chỉ có năng lực hạn chế và khôngthể cạnh tranh với các công ty quảng cáo nước ngoài vì các công ty này chiếm được hầuhết các hợp đồng với các công ty lớn

Trang 32

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Hiệp hội Quảng cáo TP HCM chính thức thành lập vào tháng 6 năm 2001, thuộc sự quảnlý của Sở Văn hóa thông tin và là thành viên của Hiệp hội Công thương TP HCM, nhưnghọ đã hoạt động dưới hình thức câu lạc bộ từ năm 1998 Tháng 10 năm 2001, Hiệp hộiQuảng cáo Việt Nam đã được Bộ Văn hóa thông tin thành lập, và hiện nay Hiệp hộiQuảng cáo TP HCM là một chi nhánh của hiệp hội trung ương

6 Được thành lập với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ

Năm 1994, Oxfam Quebec, một tổ chức phi chính phủ Canada tại Việt Nam đã triển khaimột dự án nhằm hỗ trợ các nữ doanh nghiệp, với đối tác là Hội Phụ nữ Hà Nội Qua dựán này, Câu lạc bộ doanh nghiệp nữ Hà Nội đã thành lập chính thức vào cuối tháng12/1994 Sau đó, dự án kết hợp với các chi hội phụ nữ địa phương đã lập ra ba câu lạc bộkhác, một ở Quảng Ninh và hai ở Hải Dương

Oxfam Quebec đã tài trợ cho câu lạc bộ thiết bị văn phòng và máy tính, hỗ trợ đào tạo,xây dựng năng lực và xây dựng chiến lược Oxfam cũng cung cấp cố vấn kỹ thuật (là nhânviên của Oxfam) cho câu lạc bộ, làm việc với ban chấp hành và điều hành các hoạt độngthường ngày của câu lạc bộ Mục tiêu cuối cùng của Oxfam là tính bền vững–theo cố vấnkỹ thuật ở Hà Nội, ban đầu toàn bộ các chi phí của câu lạc bộ do Oxfam tài trợ; hiện naychỉ còn tài trợ 50%, và mục tiêu cuối cùng là rút hoàn toàn nguồn hỗ trợ của Oxfam (năm2003) Gần đây, Oxfam đã hỗ trợ các câu lạc bộ chính thức trở thành hiệp hội Hiệp hộiDoanh nghiệp nữ hiện nay là thành viên chính thức của VCCI

7 Phát triển kinh tế địa phương

Tại TP HCM, một số quận, huyện đã bắt đầu khuyến khích thành lập các câu lạc bộ doanhnghiệp địa phương – UŒy ban nhân dân quận, huyện đã khuyến khích một số doanh nghiệplớn trong quận đứng lên thành lập câu lạc bộ Các câu lạc bộ này có lợi thế là vì lợi ích khuvực, do đó được chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lớn trong địa bàn bảo trợ.Câu lạc bộ doanh nghiệp huyện Hóc Môn TP HCM được thành lập tháng 3 năm 2000 dosự khởi xướng của Phòng kinh tế thuộc UŒy ban nhân dân huyện và Liên đoàn lao độnghuyện Chủ tịch câu lạc bộ là chủ một doanh nghiệp tư nhân địa phương, được chínhquyền địa phương lựa chọn và giao trách nhiệm phát triển vận động thành lập và pháttriển câu lạc bộ Hiện câu lạc bộ có trụ sở chính tại văn phòng của Liên đoàn lao động.Tại các quận huyện khác cũng có các câu lạc bộ tương tự, tuy nhiên một số câu lạc bộ vẫnchưa có khả năng tổ chức hội họp và các hoạt động một cách thường xuyên

Trang 33

8 Ra đời từ một hiệp hội lớn hơn để đa dạng hóa hoạt động, thu hút hội viên mới và hội viên loại khác

Một số hiệp hội lớn, bao gồm các văn phòng chi nhánh của VCCI và Hiệp hội Nhựa TPHCM, đã lập ra “Câu lạc bộ Giám đốc“ để đa dạng hóa các hoạt động cho hội viên Tại

đa số hiệp hội, các cuộc họp hay hội nghị đầy đủ thành viên được tổ chức nhiều nhất làmỗi năm một lần, còn câu lạc bộ giám đốc là diễn đàn để các giám đốc gặp gỡ thườngxuyên hơn, dự các buổi nghe nói chuyện do khách mà hiệp hội mời đến trình bày, trao đổi

ý kiến và giao lưu Những người được mời đến nói chuyện có thể là cán bộ thuế địaphương nói về các quy định mới về thuế, hoặc như ở cuộc họp câu lạc bộ giám đốc củaHiệp hội Nhựa TP HCM tháng 9/2001 là đại diện của một công ty máy tính trình bày vềviệc áp dụng công nghệ máy tính trong doanh nghiệp.30

Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ này thường được các hiệp hội lớn áp dụng để tạo ra mộtdiễn đàn nhỏ hơn và không trịnh trọng như các hội nghị có đầy đủ thành viên để phổ biếnthông tin và trao đổi ý kiến Một điều hạn chế là chỉ những nhà doanh nghiệp ở địa bàngần văn phòng hiệp hội mới có thể tham gia Chẳng hạn như ở Cần Thơ, chi nhánh củaVCCI phục vụ 9 tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng chỉ có giám đốc các công ty ởthành phố Cần Thơ mới có điều kiện tham gia câu lạc bộ giám đốc

9 Các doanh nghiệp cùng ngành hợp lại để hỗ trợ nhau và có tiếng nói đại diện

Như đã đề cập ở phần trên, Hiệp hội Công thương TP HCM hiện bao gồm các hội theongành nghề Một số hội ngành nghề đó được thành lập là kết quả của việc tổ chức lại Hiệphội Công thương TP HCM, một số khác lại do các doanh nghiệp chủ đạo trong ngànhthành lập, sau đó tìm sự bảo trợ của một cơ quan hoặc tổ chức (thường là Hiệp hội Côngthương, nhưng cũng có khi là cơ quan, tổ chức khác) Động lực chủ yếu của các hội ngànhnghề này là các nhà doanh nghiệp mong muốn hợp tác với những doanh nghiệp kháctương tự hoặc gần gũi với mình, có thể tư vấn hoặc hỗ trợ, hoặc có thể có triển vọng trởthành đối tác kinh doanh Phần lớn các hội ngành nghề này do các công ty tư nhân sánglập và thành viên ban đầu chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, còn các doanh nghiệpquốc doanh thường gia nhập các hiệp hội gắn với tổng công ty nhà nước Tuy nhiên, gầnđây các doanh nghiệp nhà nước đã bắt đầu gia nhập các hội ngành nghề do các doanhnghiệp tư nhân lãnh đạo

Trong ngành nhựa, một ngành rất mạnh ở TP HCM, có tất cả ba hiệp hội hoạt động độclập với nhau

30 Một số thành viên nhóm nghiên cứu có dự cuộc họp này vào tháng 9/2001

Trang 34

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Năm

lập nhà nước có thể quản lý tiếng nói đại diện của hiệp hội tương đương

Các hội viên sáng lập Các hội viên ban đầu Các hội viên ban đầu hiệp hội là các doanh đều là các doanh nghiệp đều là các doanh nghiệp

các doanh nghiệp quốc doanh để có lợi về vị thế Hiện nay, 15% số hội Hiện nay, 5% số hội viên Hiện nay, 3,2% số hội viên là doanh nghiệp là doanh nghiệp quốc viên là doanh nghiệp nhà nước, 75% là doanh doanh và 95% là doanh quốc doanh và 96,8% nghiệp tư nhân và 10% nghiệp tư nhân là doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nước ngoài

HCM 10% ở miền Bắc, 5% ở miền Trung và 5% ở đồng bằng sông Cửu Long

đóng góp của Tổng công gồm kinh phí thành phố gồm đóng góp ủng hộ

ty nhựa Việt Nam, hội phí, cấp, đóng góp của chủ tịch của hội viên, hội phí tài trợ của các tổ chức hiệp hội, hội phí và phí và phí dịch vụ

bên ngoài và phí dịch vụ dịch vụ

các hội khoa học kỹ thuật hội Công thương TP HCM

HỘP 2: BA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH NHỰA

Trang 35

10 Thành lập theo mô hình từ trung ương xuống địa phương

Trong những năm gần đây, nhiều tỉnh đã có các câu lạc bộ doanh nghiệp ra đời, thành lậptheo chỉ thị của một tổ chức đoàn thể trung ương Các câu lạc bộ ban đầu do doanh nhân

tư nhân sáng lập chủ yếu là ở Hà Nội và TP HCM, nhưng khi tổ chức cấp trung ương đãthành lập thì các tổ chức này thực hiện một chiến lược “từ trên xuống” thành lập các câulạc bộ chi nhánh ở nhiều tỉnh Ví dụ, cả Hội Phụ nữ và Hội Liên hiệp thanh niên đềukhuyến khích việc thành lập các câu lạc bộ doanh nghiệp trực thuộc Hội phụ nữ và HộiLiên hiệp thanh niên địa phương Cho đến nay ở nhiều tỉnh đã có các câu lạc bộ doanhnghiệp nữ và 27 tỉnh đã có hội hoặc câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ Tuy nhiên, các câu lạcbộ ở tỉnh đều hoạt động tương đối yếu hơn các câu lạc bộ ở thành phố, vì động lực thànhlập của họ là một chỉ thị “từ trên xuống,” không nhất thiết xuất phát từ yêu cầu hay mongmuốn ở địa phương Ngoài ra, vì các câu lạc bộ này thường là các câu lạc bộ đầu tiên loạinày xuất hiện ở tỉnh, nên lãnh đạo các câu lạc bộ có rất ít mô hình mẫu để dựa vào đó xâydựng câu lạc bộ của mình Cuối cùng, bởi các doanh nghiệp tư nhân ở các tỉnh thường nhỏhơn và không mạnh bằng doanh nghiệp ở các thành phố lớn nên hoạt động cũng hạn chế

Trang 37

A CÁC HIỆP HỘI HIỆN NAY CÓ THỂ ĐƯỢC PHÂN LOẠI THEO NHIỀU CÁCH, SỬ DỤNG NHIỀU TIÊU CHÍ KHÁC NHAU

Cho đến nay, chưa có thống kê chính xác về số các hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc.Năm 1999 Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ước tính là Việt Nam có gần 100 hiệp hội doanhnghiệp.31

Tháng 7 năm 2000, VCCI ước tính là có trên 100 hiệp hội.32

Trong năm 2001, sốhiệp hội doanh nghiệp gia tăng đáng kể do nhiều hiệp hội cấp tỉnh ra đời Dù chưa có consố chính xác nhưng ước tính tổng số hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc hiện khoảng 200.Có nhiều tiêu chí phân loại hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam, do đó có sự chồng chéo khiphân loại hiệp hội Trong bối cảnh hiện nay, những tiêu chí phân loại gồm có:

1 Tổ chức bảo trợ hay cơ quan quản lý

Các hiệp hội doanh nghiệp có các tổ chức bảo trợ hay cơ quan quản lý khác nhau Đó làcác cơ quan có thẩm quyền đề nghị và cho phép thành lập hiệp hội doanh nghiệp, và giámsát hoạt động của hiệp hội khi đã đi vào hoạt động

Chính phủ là tổ chức bảo trợ/cơ quan quản lý một số hiệp hội trung ương như VCCI

và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (LMHTX) Như đã đề cập ở Phần II, cho tớitháng 3 năm 1999, Thủ tướng là người cho phép thành lập các hiệp hội doanh nghiệpcấp trung ương và hướng dẫn các bộ liên quan giám sát hiệp hội Vào tháng 3 năm

1999, Thủ tướng đã trao quyền cho Trươœng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ thực hiệnviệc phê duyệt cho phép thành lập các hiệp hội cấp trung ương

Các bộ và cơ quan ngang bộ quản lý và cố vấn cho một số hiệp hội doanh nghiệp

hoạt động trong chuyên ngành mình quản lý Ví dụ, Bộ Công nghiệp quản lý một loạthiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giầy, Hiệp hội Giấy, Hiệphội Nhựa, Hiệp hội Rượu-bia-nước giải khát, Hiệp hội Thuốc lá, Hiệp hội Doanhnghiệp điện tử, v.v Tất cả các hiệp hội này đều là hiệp hội cấp quốc gia

Các tổ chức chính trị-xã hội quản lý các hiệp hội dành cho đối tượng là hội viên của

mình Một số tổ chức đoàn thể có quản lý các hiệp hội kiểu này, ví dụ như Hội Liênhiệp Thanh niên quản lý các hội doanh nghiệp trẻ, Hội Phụ nữ quản lý các hội và câulạc bộ doanh nghiệp nữ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không trực tiếp quản lý một hiệphội nào nhưng nhiều hiệp hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, trong đó có Liênminh Hợp tác xã, Hiệp hội Công thương Hà Nội và Hội đồng các nhà doanh nghiệptrẻ Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đề cửcác đại biểu ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp Các hiệp hội muốnhội viên của mình có tên trong danh sách được đề cử cần phải trở thành thành viêncủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

III CÁC LOẠI HÌNH, CƠ CẤU, HOẠT ĐỘNG, HỘI VIÊN CỦA HIỆP HỘI

31 Bài phát biểu của VCCI tại hội nghị “Nâng cao vai trò và hiệu quả của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” tổ chức ngày 7/8/2000 tại Hà Nội.

32 Bài phát biểu của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ tại hội nghị “Nâng cao vai trò và hiệu quả của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” tổ chức ngày 7/8/2000 tại Hà Nội

Trang 38

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Các UŒy ban Nhân dân tỉnh, thành phố (và UŒy ban Nhân dân quận huyện) quản lý

các hiệp hội doanh nghiệp trong phạm vi địa phương mình Tại một số tỉnh thành lớn(như TP HCM, Hà Nội, Cần Thơ, Hải Phòng và An Giang), UŒy ban Nhân dân tỉnh,thành phố đã cho phép thành lập các hiệp hội công thương ƠŒ TP HCM là Hiệp hộiCông thương TP HCM (UAIC), đóng vai trò baœo trợ cho 12 hội chuyên ngành (đã đềcập ở phần trước)

Các hiệp hội ngành nghề trung ương trong một số trường hợp là tổ chức quản lý

các hiệp hội ngành nghề địa phương Ví dụ, Hiệp hội Da giầy Hải Phòng là chi hộicủa Hiệp hội Da giầy Việt Nam, Hiệp hội Giấy miền Trung là chi hội của Hiệp hộiGiấy Việt Nam Một số hiệp hội địa phương hợp tác chặt chẽ với hiệp hội trung ươngkhi tiến hành các hoạt động của mình, còn số khác lại hoạt động khá độc lập với hiệphội trung ương, mặc dù về nguyên tắc, họ là hội viên hoặc trực thuộc hiệp hội trungương Ví dụ, Hiệp hội Nhựa TP HCM là hội viên của Hiệp hội Nhựa Việt Nam nhưngtrong thực tế hoạt động độc lập với hiệp hội trung ương, và đôi khi hai hiệp hội nàyđược coi là cạnh tranh với nhau về hội viên và nguồn kinh phí Các quan hệ giữa hiệphội địa phương và trung ương không được nêu trong điều lệ của các hiệp hội mà phụthuộc vào từng hiệp hội và từng trường hợp cụ thể

2 Ngành nghề của hội viên

Hiện tại, ở Việt Nam chỉ có một số ít hiệp hội đa ngành (và các chi nhánh) như VCCI, Liênminh hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội Công thương TP HCM, Hội Doanh nghiệp nữ, HộiDoanh nghiệp trẻ và Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Hà Nội Trong khi đó, loại hiệphội phổ biến nhất là hiệp hội ngành nghề, và cùng với sự phát triển của các ngành, chắcchắn sẽ có thêm hiệp hội ngành nghề mới Một điểm đáng chú ý là trong hầu hết các trườnghợp, ngành nào có tổng công ty nhà nước thì ngành đó có một hiệp hội doanh nghiệp dotổng công ty đó làm nòng cốt Chủ tịch hội đồng quản trị của tổng công ty thường được bầulàm chủ tịch hiệp hội

Một đặc điểm đáng chú ý nữa là ít có hiệp hội doanh nghiệp trong các ngành dịch vụchuyên môn Một nguyên nhân có thể là những cá nhân làm dịch vụ chuyên môn (như luật,

tư vấn, đào tạo, v.v.) thường tham gia các hội thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuậtViệt Nam Tuy nhiên, thực tế này có thể thay đổi và các hiệp hội doanh nghiệp dịch vụchuyên môn như tư vấn hay kế toán có thể sẽ ra đời, như trên thực tế gần đây đã ra đờiHiệp hội Quảng cáo Việt Nam và Hội Sở hữu Công nghiệp Việt Nam

Đặc điểm cuối cùng là có một số hiệp hội đi sâu vào chuyên ngành hẹp như Hiệp hội Míađường Lam Sơn (tỉnh Thanh Hóa) lấy Công ty Mía đường Lam Sơn làm trung tâm, hội viênlà các nông dân trồng mía, các hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp vận tải, các hợptác xã tín dụng, các doanh nghiệp cung ứng máy móc nông nghiệp ở địa phương, v.v Cáchội viên của hiệp hội liên kết với nhau vì mục đích các bên cùng có lợi, để hỗ trợ nhautrong một chu trình sản xuất trên một địa bàn nhất định Vì vậy, mặc dù có tên là hiệp hộinhưng đây gần như là một hợp tác xã

Trang 39

3 Loại hình sở hữu của hội viên

Hiện có hai loại hiệp hội doanh nghiệp mà doanh nghiệp hội viên có cùng một hình thứcsở hữu, đó là Liên minh hợp tác xã có các hội viên đều là hợp tác xã và các hiệp hội doanhnghiệp nước ngoài có các hội viên chính thức là các doanh nghiệp nước ngoài

Còn lại, các hiệp hội doanh nghiệp khác ở Việt Nam tiếp nhận sự tham gia của các doanhnghiệp thuộc nhiều loại hình sở hữu, thường như vậy có nghĩa là tiếp nhận cả doanh nghiệpquốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm hội viên.33

Không có hiệp hội nào màhội viên chỉ là doanh nghiệp nhà nước, và rất ít hiệp hội mà tất cả hội viên đều là doanhnghiệp tư nhân, ngoại trừ một số các câu lạc bộ doanh nghiệp cấp địa phương như Câu lạcbộ Doanh nghiệp nữ ngoài quốc doanh Hà Nội

4 Quy mô doanh nghiệp hội viên

Một số tỉnh thành như Hà Nội và Đà Nẵng có hiệp hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN).34

Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung số DNVVN đông nhất trong cả nước,lại không có tổ chức hiệp hội cho các DNVVN Nguyên nhân có thể là các DNVVN ở TPHCM có những sự lựa chọn khác, như tham gia hội chuyên ngành trong Hiệp hội Côngthương TP HCM hoặc tham gia các câu lạc bộ doanh nghiệp quận huyện

Nhóm nghiên cứu cũng nghe nói về những câu lạc bộ mà thành viên chỉ là các doanhnghiệp lớn Tại Đà Nẵng, có câu lạc bộ “Một triệu đô-la” gồm những doanh nghiệp trênđịa bàn thành phố có kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 1 triệu đô-la Mỹ trở lên Tại HàNội, câu lạc bộ “Mười đại gia” là câu lạc bộ mà thành viên là một số doanh nghiệp tư nhânthành công nhất trong cả nước

5 Đặc điểm của giám đốc doanh nghiệp

Có hai loại hiệp hội tập hợp các doanh nghiệp theo đặc điểm của giám đốc/chủ doanhnghiệp Điều lệ của Hội Doanh nghiệp trẻ quy định tuổi của doanh nhân ở thời điểm gianhập phải dưới 45 Hội Doanh nghiệp Nữ chỉ kết nạp hội viên là nữ

Ở mức độ không chính thức hơn nữa thì có “Câu lạc bộ hai mươi ba mươi” gồm hội viên làcác giám đốc tuổi từ 20 đến 30 Tên của câu lạc bộ cũng có một ý nghĩa khác: các hội viênđặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ trở thành những doanh nhân thành đạt

6 Mức độ chính thức của tổ chức

Bên cạnh các hiệp hội chính thức, các doanh nghiệp và doanh nhân cũng tham gia các câulạc bộ do chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể hoặc các hiệp hội lập ra Các câu lạcbộ thành lập dễ dàng hơn, không có tổ chức chặt chẽ như các hiệp hội chính thức, nên hoạtđộng thường tự phát Có thể kể ra một số câu lạc bộ loại này như Câu lạc bộ Doanh nghiệpcó đầu tư nước ngoài (do Bộ Kế hoạch Đầu tư quản lý), Câu lạc bộ Doanh nghiệp Việt

33 Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài và các hợp tác xã Việt Nam vào các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam là không phổ biến.

34 Trước tháng 11/2001, chính phủ đã định nghĩa tạm thời DNVVN là doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 5 tỉ đồng và có ít hơn 200 lao động Nghị định về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã định nghĩa lại DNVVN là doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 10 tỉ đồng và có

ít hơn 300 lao động.

Trang 40

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN SỐ 13

Nam (thuộc Hội Kinh tế Việt Nam), Câu lạc bộ Giám đốc Trung ương (do Viện Quản lýkinh tế trung ương quản lý), Câu lạc bộ Giám đốc Doanh nghiệp nhựa (thuộc Hiệp hộiNhựa TP HCM) và các câu lạc bộ doanh nghiệp quận huyện ở TP HCM (do UŒy ban Nhândân các quận huyện quản lý)

Nghiên cứu này cũng muốn đề cập cả đến các câu lạc bộ theo định nghĩa mở rộng về “hiệphội doanh nghiệp.” Tuy nhiên, các câu lạc bộ được đề cập ở đây thường có liên hệ hoặctrực thuộc các hiệp hội doanh nghiệp lớn hơn hoặc các cơ quan liên quan đến kinh doanhkinh tế Do vậy, các câu lạc bộ trực thuộc Hội Kinh tế Việt Nam hay Viện Quản lý kinh tếtrung ương sẽ không được bàn đến một cách chi tiết

Các bộ phận chức năng triển khai các dự án cụ thể của hiệp hội Ví dụ, bộ phận đào tạo tổchức các khóa đào tạo, bộ phận thông tin thu thập và gửi cho hội viên các bản tin của hiệphội, bộ phận hội viên chịu trách nhiệm việc tăng số hội viên và đáp ứng các câu hỏi và yêucầu của hội viên

Hình 3.1 - Dạng cơ cấu tổ chức hiệp hội doanh nghiệp thường gặp

BAN THƯỜNG VỤ

CÁC BỘ O PHẬ AN CHỨC NĂNG

Ngày đăng: 29/03/2018, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm