1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Review and analysis of the pollution impacts from vietnamese manufacturing sectors danh gia va phan tich tac dong o nhiem do nganh cong nghiep che bien, che tao o viet nam

136 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nền tảng từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản sang công nghiệp, báo cáo này trình bày đánh giá tổng quan và phân tích về tình trạng ô nhiễm công nghiệp

Trang 1

Đánh giá và phân tích tác động ô nhiễm do ngành

công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam

Khu vực Đông Á & Thái Bình Dương

Ban Phát triển Bền vững

N G Â N H A Ì N G T H Ế G I Ơ Ï I

45075

Trang 2

© 2008 Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế /Ngân hàng Thế giới

1818 H Street, NW

Washington, DC 20433 USA

Tháng 3/2008

Bảo hộ mọi bản quyền

Nghiên cứu này do Ban Phát triển nông thôn, Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường (EASRE) khu vực Đông Á Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới thực hiện Chiến lược Phát triển Xã hội và Môi trường của Ngân hàng Thế giới cho khu vực này là quan điểm nền tảng để xác định các ưu tiên, tăng cường chính sách và khung thể chế về phát triển bền vững và chú trọng tới các thách thức chính về môi trường và phát triển xã hội thông qua các dự án, chương trình, đối thoại chính sách, các dịch vụ hỗ trợ không phải là vốn vay và các mối quan hệ hợp tác khác

Ấn phẩm này có thể khai thác trực tuyến tại: http://www.worldbank.org

Gợi ý về trích dẫn: Giovanna Dore, Phillip Brylski, Jostein Nygard, Trần Thị Thanh Phương 2008 Đánh giá và phân tích tác động ô nhiễm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam; Ban Phát triển nông thôn, Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường (EASRE), Ngân hàng Thế giới, Washington DC

Ảnh bìa lấy từ Thư viện ảnh của Ngân hàng Thế giới, tác giả Trần Thị Hoa, 2002

Bìa sách do Patricia Hord Graphik Design thiết kế

Cuốn sách này là sản phẩm của một nhóm nhân viên Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế/Ngân hàng Thế giới Các phát hiện, diễn giải và kết luận trình bày trong báo cáo này không nhất thiết phản ánh quan điểm của các giám đốc điều hành của Ngân hàng Thế giới hoặc của các chính phủ mà họ đại diện Ngân hàng Thế giới không chịu trách nhiệm về tính chính xác của các dữ liệu được đưa vào báo cáo này Các đường biên giới, màu sắc, sự phân loại và những thông tin khác trình bày trong các bản đồ thuộc báo cáo này không ngụ ý hay thể hiện bất kỳ sự phán quyết nào từ phía Ngân hàng Thế giới về tình trạng pháp lý của các lãnh thổ, hay xác nhận hoặc thể hiện sự thừa nhận về các đường biên giới đó Tư liệu trong ấn phẩm này đã được đăng ký bản quyền Việc sao chép và/hoặc chuyển đổi bất kỳ phần nào hoặc toàn bộ báo cáo này mà không có sự cho phép đều vi phạm pháp luật hiện hành Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế/ Ngân hàng Thế giới khuyến khích phổ biến báo cáo của mình và thông thường cho phép sao chép các phần của báo cáo Nếu cần sao chép hoặc in lại bất kỳ phần nào thuộc báo cáo này xin hãy gửi thư đề nghị với thông tin đã được điền đầy đủ theo yêu cầu tới Trung tâm bản quyền để được cho phép theo địa chỉ sau: 222 Rosewood Drive, Danvers, MA 01923, USA, telephone 978-750-8400, fax 978-750-4470, www.copyright.com Mọi thắc mắc khác về quyền hạn và giấy phép, bao gồm cả các quyền phụ khác, xin gửi tới Văn phòng xuất bản, Ngân hàng Thế giới theo địa chỉ: 1818 H Street NW, Washington, DC 20433, USA, fax 202-522-2422, e-mail pubrights@worldbank.org

Trang 3

LỜI CẢM ƠN v

1.6 Hội nhập quốc tế và phát triển công nghiệp Việt Nam 12

4.1 Chi phí công cho kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm - Đầu tư cơ bản 70

5.1 Ưu tiên thực hiện các biện pháp quản lý ô nhiễm đối với ngành công nghiệp 775.2 Làm rõ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan liên quan nhằm quản lý ô nhiễm hiệu quả hơn 785.3 Tăng cường giám sát và cưỡng chế trong kiểm soát ô nhiễm công nghiệp 795.4 Hợp lý hóa chi tiêu cho hoạt động quản lý và kiểm soát ô nhiễm 80

MỤC LỤC

Trang 5

Báo cáo này được xây dựng bởi một nhóm chuyên gia của Ngân

hàng Thế giới đứng đầu là bà Giovanna Dore (Chuyên gia môi

trường, EASRE) và gồm có ông Philip Brylski (Chuyên gia cao cấp

về môi trường, EASES), ông Jostein Nygard (Chuyên gia cao cấp

về môi trường, EASRE) và bà Trần Thị Thanh Phương (Chuyên gia

cao cấp về môi trường, EASRE) Trung tâm Quốc tế về Quản lý

Môi trường (ICEM) do ông Jeremy Carew-Reid đứng đầu, phối

hợp với các ông, bà: Benoit Laplante, Craig Meisner, Lothar Linde,

Des Cleary, John Patterson, Nguyễn Xuân Nguyên, Vũ Xuân

Nguyệt Hồng và Nguyễn Thị Kim Dung đảm trách công tác thực

địa và việc nghiên cứu vào tháng 9 năm 2005 và tháng 1 năm

2007 có sự hợp tác của Bộ Công nghiệp và Bộ Tài nguyên và Môi

trường Việt Nam

Bà Hoonae Kim (Giám đốc, EASVS), bà Magda Lovei (Giám đốc,

EASOP), ông Rahul Raturi (Giám đốc, EASRE) và bà Susan Shen

(Chuyên gia trưởng về quản lý tài nguyên thiên nhiên, Trưởng ban,

EASRE) chỉ đạo chung

Tổ công tác xin cảm ơn những đóng góp và góp ý của các ông:

Trương Mạnh Tiến (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Đặng Tùng

(Bộ Công nghiệp) thuộc Ban chỉ đạo và của các thành viên thuộc

nhóm tư vấn kỹ thuật Bộ TNMT và Bộ CN đã xem xét và góp ý kiến

trong suốt quá trình xây dựng báo cáo; đặc biệt là các ông/bà sau đây: Lê Minh Đức, Hoàng Dương Tùng, Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Chu Hồi, Vũ Tường Anh, Đinh Hữu Hoàng, Nguyễn Đăng Minh, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Lâm Giang, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Trung Thắng, Đỗ Thanh Bái, Lê Minh Châu, Phùng Chí Sỹ và Lê Huy Bá

Tổ công tác bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các chuyên gia phản biện: Hocine Chalal (Chuyên gia cao cấp về môi trường, MNSSD), Adriana Damianova (Chuyên gia trưởng về môi trường, SASDN), Jane Nishida (Chuyên gia cao cấp về phát triển thể chế, SASDN) và Hans-Roland Lindgren (Giám đốc, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Thuỵ Điển)

Tổ công tác cũng nhận được sự góp ý trong quá trình xây dựng báo cáo này từ những ông/bà sau đây: Kulsum Ahmed (Chuyên gia trưởng về môi trường, ENV), Dan Biller (Chuyên gia trưởng về kinh tế môi trường, SASDN), Douglas J Graham (Chuyên gia cao cấp về môi trường, EASVS), Lasse Melgaard (Trợ lý đặc biệt, EACVF), Bekir Onursal (Chuyên gia cao cấp về môi trường, EASRE), Bill Paterson (Chuyên gia trưởng về cơ sở hạ tầng, EASVS), Poonam Pillai (Chuyên gia môi trường, ENV), Jiang Ru (Cán bộ tác nghiệp, EASOP), Keiko Sato (Điều phối viên chương trình quốc gia, EACVQ) và Vivek Suri (Chuyên gia cao cấp về kinh tế, PRMED)

LỜI CẢM ƠN

Trang 6

BVMT Bảo vệ môi trường

CLBVMTQG Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GTVT Giao thông vận tải

KH&CN Khoa học và công nghệ

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

KTTĐ Kinh tế trọng điểm

KTXH Kinh tế xã hội

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

QLTNN Quản lý tài nguyên nước

TCTK Tổng cục Thống kê

TĐ&ĐGTĐMT Thẩm định và đánh giá tác động môi trường

TNMT Tài nguyên và môi trường

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

1 Tổng quan

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng gấp đôi trong thập niên vừa qua Cũng

trong cùng thời kỳ này, tỷ lệ nghèo giảm một nửa Xuất khẩu tăng

20% mỗi năm và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng 10% mỗi năm

Dự báo, kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng rất nhanh trong tương lai

Trong 10 năm tới đây, GDP ước tính sẽ tăng gấp đôi Sự tăng trưởng

nhanh chóng này cùng với quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá

cũng như đầu tư rất lớn từ khu vực công vào phát triển hạ tầng cơ sở

tạo nên áp lực rất lớn đối với tính bền vững về môi trường và phát

triển của Việt Nam

Do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nền tảng từ nông nghiệp, lâm

nghiệp và thuỷ sản sang công nghiệp, báo cáo này trình bày đánh

giá tổng quan và phân tích về tình trạng ô nhiễm công nghiệp gây

ra bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên kết quả nghiên

cứu và khảo sát thực địa do Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi

trường (ICEM) phối hợp với Bộ Công nghiệp (Bộ CN) và Bộ Tài

nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) thực hiện theo yêu cầu của Ngân

hàng Thế giới từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007

Để mô tả một cách toàn diện các mô hình và hiện trạng phát triển

công nghiệp của Việt Nam, trong nghiên cứu này thực hiện phân

tích theo 5 cấp độ như sau:

(a) Cấp quốc gia - toàn nền kinh tế, ngành công nghiệp, hiện

trạng môi trường

(b) Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - chỉ đánh giá chi

tiết một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quan trọng

xét trên quan điểm phát triển kinh tế và tác nhân gây ô

nhiễm

(c) Ba vùng kinh tế trọng điểm - Phác thảo bức tranh toàn cảnh

về 3 vùng này và ước tính ô nhiễm cũng như đánh giá tác

động môi trường cho từng vùng

(d) Xác định mười tỉnh có tải lượng ô nhiễm cao nhất và phân tích

kỹ lưỡng hơn tới cấp độ xã và nhà máy

(e) Các điểm đặc biệt - một số khu công nghiệp và nhà máy

được lựa chọn và đánh giá nhằm nêu ra những trường hợp

điển hình và phân tích chi tiết hơn

Các kết quả ước tính ô nhiễm được thực hiện bằng cách áp dụng Hệ thống Dự báo Ô nhiễm (IPPS).1 Mô hình này (xem mô tả chi tiết trong Phụ lục A) chuyển đổi các thông tin kinh tế thành bức tranh tổng thể về tình trạng ô nhiễm gây bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ cấp quốc gia đến cấp xã, dựa vào việc sử dụng cơ sở dữ liệu toàn diện về hoạt động công nghiệp của Việt Nam do Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố Đối với một số loại dữ liệu hiện không có sẵn hoặc dữ liệu không đủ tin cậy, mô hình này bổ sung thêm thông tin và dữ liệu mới Mô hình IPPS áp dụng trong nghiên cứu này xem xét 1.500 nhóm sản phẩm, tất cả các loại hình công nghệ đang sử dụng và hàng trăm tác nhân gây ô nhiễm Nghiên cứu này cũng xây dựng các chỉ số ô nhiễm, xếp hạng và dùng các chỉ số này làm công cụ xác định các lĩnh vực ưu tiên Chỉ số ô nhiễm quốc gia là tập hợp các chỉ số riêng biệt về ô nhiễm không khí, đất và nước, và việc xếp hạng các ngành, các vùng địa lý (cụ thể là các tỉnh và xã) trên cơ sở so sánh tải lượng ô nhiễm

Thông tin và dữ liệu bổ sung cho IPPS được lấy từ kết quả của các đợt tổng điều tra công nghiệp hàng năm do Tổng cục Thống kê thực hiện từ năm 2001 Ngoài ra, thông tin kinh tế về ngành công nghiệp còn được thu thập từ 8 nguồn chính khác sau đây: (a) Tổng điều tra công nghiệp của TCTK, (b) Bộ Công nghiệp (Bộ CN), (c) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), (d) Bộ Thuỷ sản (Bộ TS), (e) Bộ Xây dựng (Bộ XD), (f) Bộ Giao thông Vận tải (Bộ GTVT), (g) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) và (h) Các tỉnh, các khu công nghiệp Thông tin về tình hình môi trường ngành công nghiệp chủ yếu do Bộ TNMT và các Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TNMT) cung cấp trong các báo cáo hiện trạng môi trường và từ hệ thống quan trắc môi trường quốc gia Các thông tin khác được khai thác từ các bộ có liên quan đến quản lý công nghiệp Cuối cùng, báo cáo này cũng sử dụng cả những thông tin và dữ liệu của các cơ quan phát triển quốc tế, các cơ quan nghiên cứu trong nước và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước

1 Hệ thống Dự báo Ô nhiễm Công nghiệp (IPPS) là kết quả của nỗ lực nghiên cứu chung giữa Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế của Cục Tổng điều tra Mỹ, Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA) và Ban Nghiên cứu Chính sách của Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 1995 IPPS có khả năng hỗ trợ các cơ quan bảo vệ môi trường, đặc biệt là ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, đáp ứng nhu cầu về dữ liệu phát thải ô nhiễm, nhờ đó có thể xây dựng được hệ thống quản lý chi phí – hiệu quả nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm Trong hoàn cảnh thiếu thông tin chi tiết về phát thải ô nhiễm, IPPS được sử dụng như phương pháp ước lượng sơ bộ cho tới khi có được những thông tin thu thập từ hệ thống quan trắc địa phương và nạp thế vào mô hình để có được hệ thống dữ liệu đặc thù

TÓM TẮT BÁO CÁO

Trang 8

2 Hiện trạng ô nhiễm do công nghiệp và phân tích bảng

xếp hạng chỉ số ô nhiễm

Năm 2006, công nghiệp đóng góp 41,5% GDP.2 Các ngành chế

biến thực phẩm và đồ uống, may mặc, da và giả da, sản xuất các sản

phẩm từ gỗ, sản xuất các sản phẩm kim loại và đồ gia dụng là những

ngành công nghiệp quan trọng về mặt kinh tế, thu hút 65% lao động

công nghiệp và chiếm 57% tổng số cơ sở công nghiệp trong cả

nước Phần lớn các hoạt động công nghiệp tập trung ở 5 tỉnh/thành

phố là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai ở phía

Nam và Hà Nội, Hải Phòng ở phía Bắc Năm tỉnh thành này chiếm

63,1% tổng số lao động và 54,7% tổng số cơ sở sản xuất công

nghiệp Đà Nẵng là khu vực công nghiệp hoá quan trọng nhất ở

miền Trung Việt Nam, song vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Khoảng

80% hoạt động công nghiệp tập trung ở 3 vùng kinh tế trọng điểm

Các khu công nghiệp đóng góp ngày càng nhiều vào tăng trưởng

kinh tế chung Ước tính, sẽ có thêm khoảng 4.000 cơ sở công

nghiệp mới tập trung ở các khu công nghiệp hiện có hoặc các khu

công nghiệp đang được xây dựng Đến 2010, 35% các cơ sở sản

xuất công nghiệp tập trung vào các khu công nghiệp, chủ yếu là ở

miền Nam Các làng nghề sẽ mở rộng nhanh chóng bởi vì đây là cơ

chế công nghiệp hoá nông thôn Phần lớn các làng nghề tập trung

ở miền Bắc

Đáng quan tâm trước tiên là công nghiệp hoá chất do tác động của

nó tới ô nhiễm không khí, đất và nước Các phân ngành trong công

nghiệp hoá chất gồm sản xuất phân bón và thuốc trừ sâu, dược

phẩm và hoá chất công nghiệp Các nhà máy chế biến kim loại (sắt,

thép và kim loại màu) được xem là nguồn góp phần gây ô nhiễm

quan trọng, đứng thứ hai sau ngành hoá chất Các nhà máy này sản

xuất, định hình, xử lý, mạ và gia công cơ khí các loại kim loại Thậm

chí, ngành tái chế kim loại cũng thuộc nhóm 30 ngành có tải lượng

ô nhiễm cao nhất

Nghề thuộc da và sản xuất sản phẩm da, đặc biệt là giầy dép da là nhóm ngành công nghiệp có tải lượng ô nhiễm khá lớn Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác được xếp vào nhóm 30 ngành có tải lượng ô nhiễm cao nhất là giấy và bột giấy, sản phẩm gỗ và đồ nội thất Khi xem xét kỹ lưỡng hơn, có thể thấy có một số ngành công nghiệp chỉ có thứ hạng cao đối với một hoặc hai loại hình ô nhiễm Ví dụ, ngành sản xuất bìa các-tông có tải lượng ô nhiễm nước rất cao nhưng lại ít gây ô nhiễm đất và không khí Tương tự, một số ngành như sản xuất sản phẩm gốm, xi măng, đá vôi và thạch cao, mỡ và dầu động thực vật, xà phòng và bột giặt, thiết bị điện và lọc dầu cũng là những ngành có đặc tính dễ gây ô nhiễm Vì vậy, tất cả các ngành này đòi hỏi phải được các nhà quản lý môi trường

ưu tiên chú ý do kết quả xếp hạng về chỉ số ô nhiễm chung cao Ở Việt Nam, trong ngành chế biến thực phẩm cũng cần phải đặc biệt chú ý tới chế biến thuỷ sản do phân ngành này có quy mô lớn và tải lượng ô nhiễm cao Phân ngành này bao gồm các loại hình sản xuất như cấp đông, giữ lạnh, sấy khô, xông khói, đóng hộp cá, tôm, mực, ngao, sò, rau câu và các hải sản khác Không có phân ngành nào thuộc ngành chế biến thực phẩm có mức độ tác động đến môi trường tương tự như ngành chế biến hải sản

Các chất ô nhiễm không khí và nước thông thường như bụi mịn (PM-10) và chất rắn lơ lửng (TSP) cần phải được kiểm soát chặt chẽ hơn và ngay lập tức Mỗi loại chất ô nhiễm này (PM-10 và TSP) hiện đóng góp khoảng 19% tổng tải lượng ô nhiễm không khí TSS đóng góp 86% tổng lượng chất thải gây ô nhiễm nước Hoá chất độc hại và kim loại cũng cần phải được ưu tiên chú ý cao: (a) ) Hoá chất và kim loại phát thải ra môi trường không khí: Tô-lu-en, a-mô-ni-ắc, clo mê-ty-len, các-bon đi-sun-

phít và benzene; chì, thuỷ ngân, kẽm và cờ-rôm;

(b) Hoá chất và kim loại phát thải ra môi trường nước:

Na-tri hi-đrô-xít, a-mô-ni-ắc, axít clo-hy-đric, axít ric;

ni-tơ-2 Dữ liệu này được lấy từ kết quả Tổng điều tra doanh nghiệp năm 2004 của TCTK thuộc Bộ KH&ĐT Thông tin về doanh nghiệp được thu thập dựa trên hệ thống phân ngành công nghiệp của Việt Nam (VSIC), được xây dựng dựa theo Hệ thống phân ngành công nghiệp quốc tế (Các chi tiết về mục sửa đổi 3.1 được nêu trong trang web của Ban thống kê của Liên Hợp Quốc: http://unstats.un.org/ unsd/cr/registry/regcst.asp?Cl=17) Trong Tổng điều tra doanh nghiệp năm 2004 (được sử dụng chính trong báo cáo), đã ghi nhận hơn 90.000 doanh nghiệp hoạt động trong 14 ngành công nghiệp

Do báo cáo này chỉ quan tâm tới việc ước tính ô nhiễm gây bởi các công nghiệp chế biến, nên chỉ sử dụng các dữ liệu thống kê về ngành công nghiệp chế biến thu được từ cuộc điều tra năm 2004) Có 131 phân ngành cấp 4 theo hệ thống phân ngành VSIC-4 Tổng điều tra doanh nghiệp năm 2004 của TCTK thực hiện với 20.444 cơ sở sản xuất và 2.833.615 lao động thuộc ngành công nghiệp chế biến., tương ứng với gần 23% tổng số doanh nghiệp và 53% lao động trong khu vực doanh nghiệp mà Tổng điều tra năm 2004 của TCTK đã ghi nhận.

Trang 9

(c) Hoá chất và kim loại phát thải ra môi trường đất:

Na-tri hi-đrô-xít, ô-xít nhôm, axít sunphuric, và axít

phốt-pho-ric

Trong số 10 phân ngành chế biến có thải lượng ô nhiễm cao nhất

đối với môi trường không khí, đất và nước, hai phân ngành gây ô

nhiễm nghiêm trọng nhất là sản xuất phân bón và hợp chất nitơ, và

sản xuất giầy dép Ngoài ra, khi sử dụng các biện pháp đo độc tính

tương đối (sử dụng các giá trị LD50 và LC50), các kết quả phân tích

cho thấy những phân ngành sau đây phát thải các chất có độc tính

cao:

(a) Đối với môi trường không khí: Gốm sứ, xi măng, gia công kim

loại, thiết bị điện và “các ngành chế biến khác”;

(b) Đối với môi trường đất: Chế biến thực phẩm, sợi dệt, và sản

xuất phân bón;

(c) Đối với môi trường nước: Các ngành sản xuất phân bón,

thuốc trừ sâu, giấy và bìa, nhựa và da

Ở cấp tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là hai địa phương có

xếp hạng chỉ số ô nhiễm chung cao nhất nước3 Thành phố Hồ Chí

Minh có có giá trị cao nhất ở cả bốn chỉ số Trong số 10 tỉnh xếp

hạng cao nhất, có 4 tỉnh ở miền Bắc, 1 tỉnh ở miền Trung và 5 tỉnh

ở miền Nam Dựa theo danh sách 10 tỉnh ô nhiễm nhất, có thể thấy

rõ 2 vùng ô nhiễm - 1 vùng ở miền Bắc, kéo dài từ tỉnh Phú Thọ,

phía Tây của Hà Nội ra đến Hải Phòng và Quảng Ninh ở ven biển;

và vùng thứ hai ở miền Nam từ các tỉnh Bình Dương và Đồng Nai

kéo dài ra đến biển Dữ liệu cũng cho thấy các tỉnh nằm trong danh

sách 10 tỉnh có xếp hạng chỉ số ô nhiễm cao nhất đều thuộc các

vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam Điều này đặc biệt

rõ ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các tỉnh ô nhiễm nghiêm

trọng nhất đều ở vùng này Ở miền Bắc, các tỉnh Phú Thọ và Thái

Nguyên, xếp thứ 6 và 7 về chỉ số ô nhiễm chung, dù không thuộc

vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nhưng lại có mối liên hệ mật thiết

về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội với vùng này Nếu tính tải

lượng ô nhiễm bình quân đầu người, thì số tỉnh thuộc nhóm có trị

số cao nhất nhiều hơn so với trường hợp so sánh theo chỉ số ô

nhiễm chung Tuy nhiên, bức tranh phân bố các tỉnh có xếp hạng cao nhất cũng tương tự như trường hợp so sánh theo chỉ số ô nhiễm chung

Ở cấp xã phường, phường Cam Giá ở thành phố Thái Nguyên đứng đầu danh sách các xã phường có tải lượng ô nhiễm cao nhất Tại đây có 5 nhà máy hoạt động và phát thải ra gần 100% tổng tải lượng ô nhiễm của toàn phường Có một điều thú vị là không có một phường xã nào ở Hà Nội nằm trong danh sách 30 xã phường

ô nhiễm nhất Để có một cái nhìn rõ hơn về tình trạng ô nhiễm trên cả nước, 10 xã có xếp hạng cao nhất thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Thanh Hóa được lựa chọn để xếp hạng Đây là những tỉnh miền Trung Việt Nam, có thứ bậc xếp hạng thấp so với các tỉnh khác trên cả nước Kết quả là xã Ba Đình của tỉnh Thanh Hóa xếp thứ hai và hai xã của tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trong danh sách 30 xã/phường có tải lượng ô nhiễm cao nhất Có thể lấy phường Đức Giang của Hà Nội như một ví dụ điển hình về việc phải đặt mục tiêu cụ thể rõ ràng cho kế hoạch quản lý ô nhiễm Cụ thể là ở phường này, ngành sản xuất hoá chất cơ bản, mặc dù chỉ có 3 nhà máy với số công nhân chỉ chiếm 6% tổng lao động thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của phường, nhưng lại là ngành phát thải nhiều nhất, chiếm 82% tổng tải lượng ô nhiễm các loại của cả phường (trong đó, chiếm 69% tổng tải lượng ô nhiễm không khí, 93% tổng tải lượng ô nhiễm đất, và 77% tổng tải lượng

ô nhiễm nước) Còn một ngành khác nữa ở phường này cũng là nguồn gây ô nhiễm chính, là ngành sản xuất ván ép và gỗ dán, đóng góp 18% tổng tải lượng ô nhiễm nước

Để minh hoạ cho phần trình bày ở trên, Bảng 1 liệt kê 10 tỉnh, thành phố và phường, xã tương ứng có tải lượng ô nhiễm cao nhất (xếp theo chỉ số ô nhiễm chung và chỉ số ô nhiễm không khí, nước và đất) Các tỉnh xếp theo giá trị chỉ số ô nhiễm chung từ cao đến thấp Đối với vùng KTTĐ miền Trung, chỉ Đà Nẵng có tên trong danh sách 10 tỉnh có xếp hạng cao nhất Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế có chỉ số ô nhiễm chung thấp, xếp tương ứng ở thứ

25 và 27

3 Chỉ số ô nhiễm chung bằng giá trị trung bình của ba chỉ số ô nhiễm không khí, đất và nước Chỉ số ô nhiễm không khí được tính bằng giá trị trung bình của tải lượng phát thải các chất SO2, NO2, VOC, PM10, và TSP ra môi trường không khí Sau đó, mỗi khu vực hoặc ngành được xếp hạng theo trật tự giá trị tổng tải lượng ô nhiễm từ cao xuống thấp Chỉ số ô nhiễm đất được tính bằng giá trị trung bình của tải lượng phát thải “hoá chất” và “kim loại” vào môi trường đất Sau đó cũng xếp hạng từ cao đến thấp theo giá trị trung bình này Chỉ số ô nhiễm nước là giá trị trung bình của tải lượng BOD, TSS,

“hoá chất” và “kim loại” phải thải vào môi trường nước.

Trang 10

Bảng 1 Mười tỉnh có tải lượng ô nhiễm cao nhất và các xã phường ô nhiễm nhất của tỉnh

Các tỉnh, thành phố có

tải lượng ô nhiễm cao

nhất

Vùng kinh tế trọng điểm 10 xã, phường có tải lượng ô nhiễm cao nhất

Tỷ lệ % đóng góp của 10 xã phường vào tổng tải lượng ô nhiễm của tỉnh, thành phố

Bến Thành

 Tân Thuận Đông

 Trường Thọ

Tân Tạo A

 Tân Kiên

 Linh Trung

 Tân Thới Hoà

 Tân Thành

 Đức Giang

 Gia Thuỵ

Phạm Đình Hổ

 Minh Khai

 Văn Điển

 Bách Khoa

 Láng Hạ

 Mỹ Đồng

 Lại Xuân

Máy Chai

 Hoàng Văn Thụ

 Tân Đông Hiệp

An Bình

 Phú Hoà

 Long Bình Tân

 Hoá An

Phước Thái

 Thống Nhất

 Thạnh Phú

 Hố Nai 3

 Bắc Sơn

82

Trang 11

Các tỉnh, thành phố có

tải lượng ô nhiễm cao

nhất

Vùng kinh tế trọng điểm 10 xã, phường có tải lượng ô nhiễm cao nhất

Tỷ lệ % đóng góp của 10 xã phường vào tổng tải lượng ô nhiễm của tỉnh, thành phố

Phan Đình Phùng

 Gia Sàng

 Cam Giá

 Phú Xá

Trung Thành

 Tân Thành

 Tân Long

 Tân Quang

 Cao Ngạn

 Bến Gót

 Thuỵ Vân

Phong Châu

 Thị trấn Hạ Hoà

 Thị trấn Thanh Ba

 Thị trấn Phong Châu

 Thị trấn Lâm Thao

 Phước Ninh

 Thuận Phước

 Thọ Quang

 Bắc Mỹ An

 Thắng Nhất

 Bình Ba

Mỹ Xuân

 Xã 1

 Phước Hưng

 Hoà Bình

 Tân Hải

 Bình Thuỷ

 Thới Hưng

96

Nguồn: Các tác giả

Trang 12

3.Tiến trình hội nhập quốc tế của ngành công nghiệp

Tự do thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu là trọng tâm của quá

trình chuyển đổi nền kinh tế và công nghiệp hoá nhanh ở Việt

Nam Việt Nam hiện đang theo đuổi chính sách ngoại giao đa

phương nhằm hạn chế các rào cản thương mại và tăng vị thế về

kinh tế trên trường quốc tế Cam kết tự do hoá thương mại của

Chính phủ là động lực để ký kết nhiều thoả thuận thương mại

song phương và đa phương Trong Hiệp định Thương mại Tự do

ASEAN (AFTA, 1995), biểu thuế hàng nhập khẩu từ các nước

ASEAN đã giảm xuống dưới 20% và mục tiêu là dưới 5% vào

năm 2006 Trong Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam

- Hoa Kỳ (USBTA, 2001), Việt Nam đã đưa ra những cam kết

quan trọng và lâu dài như giảm thuế và xoá bỏ hạn ngạch nhập

khẩu USBTA đã tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất

khẩu, nhờ vậy mà kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

vào Hoa Kỳ tăng 128%, chiếm 82% tổng kim ngạch xuất khẩu

của cả nước năm 2002 Cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam

cũng có những thay đổi đáng kể trong thời gian này Trong khi tỉ

trọng của xuất khẩu dầu thô giảm từ 1/3 vào đầu những năm 90

xuống còn 1/5 vào năm 2002, thì tỷ trọng của xuất khẩu hàng

công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 6% lên 32% Thị trường

xuất khẩu của Việt Nam cũng được đa dạng hoá Việt Nam ngày

càng ít phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô, Nhật Bản và Xingapo

không còn là những thị trường quan trọng nhất Các nước thuộc

cộng đồng Châu Âu và Hoa Kỳ hiện là thị trường nhập khẩu

chính cho hàng công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam như

dệt may và giầy dép

Dự kiến quá trình phát triển sẽ tiếp diễn khi Việt Nam gia nhập

WTO.4 Nhìn chung, biểu thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp

chế biến, chế tạo của các nước vào Việt Nam sẽ giảm trung bình từ

18% xuống 12,5%, điều đó làm cho việc xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến, chế tạo vào Việt Nam tăng thêm sức cạnh tranh Thêm vào đó, các khoản trợ cấp và ưu đãi về thuế của chính phủ Việt Nam đối với ngành công nghiệp trong nước sẽ bị cấm hoặc bị loại bỏ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO5 Trong khi Việt Nam gặp nhiều thuận lợi hơn khi tiếp cận với thị trường thế giới, thì ngành công nghiệp trong nước cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn, đặc biệt là đối với các loại hàng hóa dưới đây:

n Hoá chất, mỹ phẩm và dược phẩm Việt Nam cam kết

giảm thuế tới mức thuế hài hòa đối với 80% các sản phẩm hoá chất theo Hiệp định về quy chế hài hòa hóa các sản phẩm hóa chất Thuế nhập khẩu hàng mỹ phẩm sẽ giảm từ 44% xuống còn 17,9% khi Hiệp định này được thực hiện đầy đủ và thuế nhập khẩu dược phẩm sẽ giảm xuống 2,5% trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO

n Phụ tùng ô tô, xe máy.Thuế đánh trên phụ tùng ô tô sẽ

giảm từ 19% xuống còn 13% Việt Nam cũng sẽ giảm 56% thuế nhập khẩu cho các loại xe mô tô phân khối lớn và 32% thuế nhập khẩu phụ tùng xe máy khi thực hiện đầy đủ cam kết

n Thiết bị nông nghiệp và xây dựng Việt Nam sẽ giảm

thuế xuống còn 5% hoặc thấp hơn cho gần 90% dòng thuế thuộc mặt hàng này

n Các sản phẩm gỗ Mức thuế trung bình cho các sản phẩm

gỗ là xấp xỉ 4% khi VN chính thức trở thành thành viên WTO

n Hàng dệt may Xoá bỏ hạn ngạch xuất khẩu đối với hàng

dệt may Việt Nam Chính phủ Việt Nam cũng cam kết xoá bỏ khoản trợ cấp 4 tỉ đô la cho ngành này trong vòng 5 năm tới Thuế nhập khẩu của mặt hàng dệt may vào VN cũng sẽ giảm còn 10 - 15% so với mức 40 - 50% như hiện nay

4 Uỷ ban thường trực của WTO thông qua việc Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 Xem chi tiết hơn trong Thoả thuận Việt - Mỹ về WTO ký kết ngày 3/5/2006 (được Văn phòng đại diện thương mại Mỹ, Chánh văn phòng của Tổng thống Mỹ công bố)

5 Ví dụ, Nghị định 164 về Thuế thu nhập doanh nghiệp cho phép các công ty có lượng xuất khẩu chiếm trên 50% tổng giá trị hàng hoá tạo ra sẽ được áp dụng thuế suất 20% trong 10 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu và giảm 50% thuế trong 3 năm tiếp theo Các công ty xuất khẩu 100% sản phẩm sẽ được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, được miễn thuế trong 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 7 năm tiếp theo Chế độ tính thuế đãi ngộ như vậy vi phạm thoả thuận của WTO về Các biện pháp trợ cấp và ưu đãi Bộ Tài Chính Việt Nam thừa nhận rằng, những ưu đãi xuất khẩu này sẽ phải giảm dần khi Việt Nam gia nhập WTO.

Trang 13

n Sắt và phế liệu kim loại Việt nam sẽ giảm thuế xuất khẩu

mặt hàng này xuống còn 51% so với mức hiện nay trong 5

- 7 năm tới

n Các sản phẩm công nghệ thông tin Khi gia nhập WTO,

Việt Nam sẽ tham gia Thoả thuận về Công nghệ Thông tin,

theo đó, thuế đánh trên các sản phẩm công nghệ thông tin

như máy tính, điện thoại di động sẽ bị loại bỏ;

Việc gia nhập WTO cũng sẽ tác động đến hoạt động thương mại

quốc tế của Việt Nam cả về số lượng và cơ cấu Tuy nhiên, dựa vào

những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, các ngành sau đây sẽ có thể

phải điều chỉnh trong thời gian ngắn hạn hoặc trung hạn:

n Các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều lao động như sản xuất

hàng thủ công, dệt may có thể mở rộng hơn (tương tự như ở

kịch bản khi Việt Nam không gia nhập WTO) Tuy nhiên, ưu

điểm cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành này (đặc biệt

là ngành dệt may) sẽ có thể bù đắp lại những tổn thất khi gỡ

bỏ sự bảo hộ hiện tại Những doanh nghiệp hiện đang phụ

thuộc nhiều vào sự ưu đãi của nhà nước cần hợp lý hoá hoạt

động nhằm thu được những lợi ích mà việc gia nhập WTO

mang lại Tuy nhiên, nhiều khả năng sẽ có những doanh

nghiệp không làm được điều này

n Một số ngành sử dụng nhiều đất đai như đồn điền trồng cây

công nghiệp, trồng ngũ cốc và chăn nuôi theo kiểu truyền

thống sẽ có thể bị giảm bớt Điều này sẽ xảy ra khi Việt nam

thực hiện chính sách công nghiệp hoá nông thôn

n Các ngành cần nhiều vốn và ngành dịch vụ như ngân hàng,

chứng khoán, bảo hiểm, môi giới, du lịch, bất động sản và

giáo dục có thể sẽ tăng lên đáng kể

Những thay đổi về nội dung và cách thức công nghiệp hoá chắc

chắn sẽ diễn ra một cách từ từ trong thời gian dài Trong 5 đến 10

năm tới, ở hầu hết các ngành, trừ ngành dệt may, có thể vẫn chưa

xóa bỏ ngay chế độ ưu đãi về thuế nhập và xuất khẩu mà sẽ chỉ giảm

dần Đồng thời, việc tham gia AFTA và ký kết USBTA cũng tạo điều kiện để Việt Nam tiến hành cải cách hệ thống thuế xuất nhập khẩu và hệ thống phi thuế quan của mình Với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ đẩy nhanh tiến trình cải cách này; tuy nhiên không nên đánh giá thấp quy mô và tầm quan trọng của những thách thức ở phía trước, bởi vì có một loạt những trở ngại sẽ có thể tác động tới khả năng đối phó với thách thức của Chính phủ Việt Nam Về tổng thể, khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam còn hạn chế và yếu do năng suất thấp, trình độ công nghệ thấp và lạc hậu, chi phí sản xuất cao6 Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thấp Vì sự hoạt động thiếu hiệu quả này, các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tổng công ty lớn vẫn đang được hưởng các đặc quyền về sử dụng đất, vốn, và nhiều hình thức miễn giảm thuế và trợ cấp khác nhau Quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm và đối tượng thực hiện mởi chỉ dừng ở các doanh nghiệp có số vốn ít Các tổng công ty lớn, đang sở hữu hàng trăm doanh nghiệp vẫn nằm trong tay Nhà nước Mặc dù năng động và có vai trò ngày càng cao trong nền kinh tế, khu vực tư nhân hiện vẫn chỉ đang sở hữu những doanh nghiệp vừa và nhỏ với khả năng tiếp cận hạn chế tới các nguồn vốn để đầu tư đổi mới công nghệ Cuối cùng, cơ cấu cung ứng nguồn lao động ở Việt Nam cũng không phù hợp với một nền công nghiệp tiên tiến, bởi vì phần lớn lực lượng lao động Việt Nam chưa được đào tạo đủ đáp ứng yêu cầu và còn rất thiếu lao động có trình độ tay nghề cao

4 Khung thể chế và pháp lý

Khung thể chế

Tiến trình hình thành và tổ chức bộ máy quản lý môi trường ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ giữa những năm 80 thông qua việc

6 Theo kết quả so sánh và đánh giá các dữ liệu năm 2004 - 2005, chỉ số cạnh tranh về kinh doanh của Việt Nam đứng thứ 79 trên tổng số 103 quốc gia, chỉ số cạnh tranh chung của Việt Nam (GCI) xếp thứ

77 trên tổng số 104 nước Trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức thấp Thậm chí lĩnh vực công nghệ thông tin - là lĩnh vực phát triển nhanh nhất ở Việt Nam cũng chỉ xếp thứ 68 trên 102 quốc gia Chỉ số tham nhũng của Việt Nam xếp thứ 102 trên 144 do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố đã phản ánh sự nghiêm trọng của vấn đề này Về chiến lược và hoạt động kinh doanh, cũng như môi trường kinh doanh chung của quốc gia, Việt Nam cũng xếp hạng sau các nước trong khu vực như Trung Quốc, Philipin, Inđônêxia, Malaixia và Thái Lan; đồng thời cũng kém xa Hàn Quốc và Xingapo.

Trang 14

cải cách thể chế và thực hiện một đề tài khoa học cấp nhà nước trong

5 năm về nghiên cứu môi trường Vào năm 1993-1994, Bộ Khoa

học, Công nghệ và Môi trường và Cục Môi trường được thành lập

Trong thập niên tiếp theo, đã có sự cải tổ đáng kể trong hệ thống

quản lý và các chính sách về bảo vệ môi trường, với việc phát triển

và mở rộng hệ thống quản lý tới từng tỉnh với hệ thống các Sở Khoa

học, Công nghệ và Môi trường Cũng trong thời kỳ này, đã thiết lập

được hệ thống thể chế, chính sách và pháp lý cơ bản phục vụ kiểm

soát ô nhiễm, đánh giá tác động môi trường, quan trắc và báo cáo về

môi trường Tuy nhiên, năng lực cán bộ, ngân sách và cơ cấu quản

lý, đặc biệt là ở các địa phương,chưa theo kịp với sự phát triển nhanh

chóng của các chính sách, luật pháp, những đổi mới và phát triển về

thể chế

Hoạt động kiểm soát ô nhiễm và quản lý nguồn tài nguyên thiên

nhiên luôn có mối quan hệ chặt chẽ Ở Việt Nam, những nhiệm vụ

này được phân công, một mặt, cho các đơn vị phụ trách về quản lý

môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT),

gồm Cục Bảo vệ Môi trường, Vụ Môi trường, Vụ Thẩm định và Đánh

giá Tác động Môi trường, và mặt khác, cho Cục Quản lý Tài nguyên

Nước – cơ quan có chức năng kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Mặc dù vậy, một khi việc xây dựng và thực thi hệ thống thể chế và

pháp lý mạnh và có tính chiến lược về kiểm soát ô nhiễm ở Việt

Nam trưởng thành và phát triển thì phải chuyển trọng tâm hoạt

động từ chỗ kiểm soát từng nguồn gây ô nhiễm riêng lẻ sang kiểm

soát tất cả các dạng ô nhiễm ở từng doanh nghiệp Nhiệm vụ của

các cơ quan chức năng sẽ phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới

Trước mắt, vấn đề cấp thiết nhất là phải tăng cường sự phối hợp và

hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức đang chia sẻ những trách nhiệm

về quản lý môi trường Hệ thống quản lý hiện tại tạo điều kiện thuận

lợi để phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý của trung ương

với các cơ quan được phân cấp thực hiện các trách nhiệm quản lý ở

địa phương Tuy nhiên, còn chưa có những cơ chế khuyến khích

hợp tác liên ngành, ví dụ giữa các cơ quan quản lý môi trường của

Bộ TNMT với các cơ quan đầu mối về quản lý môi trường và công nghiệp của các bộ khác Cần phải sớm có các cơ chế khuyến khích sự phối hợp liên ngành này, trước tiên là đối với việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ TNMT và các đơn vị trực thuộc Bộ.Hội nghị lần thứ 3 khoá VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 6 năm 1997 đã quyết định:

Trên cơ sở sự quản lý thống nhất của các cơ quan trung ương, các chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành và toàn bộ nền kinh tế, cần phân cấp một cách rõ ràng và hợp lý các trách nhiệm và quyền hạn quản lý hành chính để tăng cường quyền tự chủ quản lý của chính quyền địa phương, khai thác tối đa những tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp cho địa phương, Bộ TNMT đã đánh giá và rà soát nội bộ Trong lần rà soát nội bộ vào năm 2005, Bộ nhận thấy rằng đã có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện phân cấp quản lý bảo vệ môi trường cho các địa phương Trong tờ trình số 17/TTr-BTNMT ngày 20/5/2005, Bộ đã trình Chính phủ ”Chương trình phân cấp quản lý nhà nước về môi trường.” Chính phủ cũng cho rằng việc phân cấp quản lý về môi trường do Bộ TNMT đề xuất là phù hợp, có cân nhắc đến tiến trình phân cấp về kế hoạch, chiến lược và việc thực hiện chúng; thẩm định và ĐGTĐMT; quản lý hệ thống quan trắc; báo cáo hiện trạng môi trường; dự báo biến đổi môi trường; cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường và các giấy phép khác; thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết tranh chấp liên quan đến môi trường và xử phạt hành chính các trường hợp vi phạm về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, Bộ TNMT cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao chất lượng quản lý môi trường của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất

Trang 15

Năm 2003 Sở TNMT các tỉnh được thành lập và Sở Khoa học, Công

nghệ và Môi trường cũ được đổi tên thành Sở Khoa học và Công

nghệ.7 Sở TNMT được thành lập trên cơ sở sáp nhập Sở Địa chính

cũ và các đơn vị có chức năng quản lý môi trường, tài nguyên nước

và khoáng sản trực thuộc các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn, Sở Công nghiệp và Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường

cũ Bộ TNMT và Bộ Nội vụ đã ban hành các văn bản dưới luật hướng

dẫn chính quyền địa phương thành lập Sở TNMT của tỉnh, thành

phố

Bộ TNMT và Bộ Nội vụ đã ban hành thông tư liên tịch quy định chức

năng, quyền hạn, nhiệm vụ và tổ chức của các cơ quan chức năng tham

mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý nhà nước về tài

nguyên thiên nhiên và môi trường ở địa phương.8 Theo đó, các Sở

TNMT là cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có trách nhiệm giúp

Uỷ ban nhân dân tỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, tài

nguyên nước, khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, và bản đồ

của tỉnh, và báo cáo cho Chính phủ Về các vấn đề chuyên môn cũng

như kỹ thuật, các Sở phối hợp với Bộ TNMT, nhưng việc quyết định tổ

chức các phòng chức năng của Sở lại thuộc thẩm quyền của Ủy ban

nhân dân tỉnh với sự tham mưu của Bộ TNMT

Các công cụ chính sách, thể chế và pháp lý về bảo vệ môi trường

và quản lý ô nhiễm công nghiệp đã được Bộ Chính trị, Chính phủ

và Bộ TNMT ban hành Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Bộ TNMT9 và một

số Sở TNMT đã thông qua hoặc đang dự thảo các chiến lược và kế

hoạch thực hiện quản lý ô nhiễm môi trường công nghiệp.10 Tuy

nhiên, cần tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi vai trò, nhiệm vụ của các cơ

quan chức năng liên quan đến quản lý ô nhiễm môi trường công

nghiệp Trong thập nhiên vừa qua, đã tiến hành phân cấp quản lý môi trường cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở TNMT và các cơ quan, tổ chức có liên quan một cách nhanh chóng Nhiều đơn vị được phân cấp chức năng và nhiệm vụ mới đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác xây dựng năng lực quản lý ô nhiễm môi trường công nghiệp, mặc dù họ bị quá tải bởi thực tiễn tăng trưởng và mở rộng quy mô công nghiệp quá nhanh ở địa phương

Do đó, tăng cường và củng cố tổ chức Bộ TNMT, các Sở TNMT cũng như vai trò và trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố, quận huyện và phường xã và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này là việc làm rất cần thiết Yêu cầu xây dựng hệ thống kiểm soát

ô nhiễm trên toàn quốc đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Trong thập niên tới, với sự phát triển công nghiệp ở các địa phương, nhất là với sự phát triển khu vực tư nhân, Cục BVMT và Cục QLTNN đứng trước yêu cầu gắt gao về xây dựng năng lực quản lý ô nhiễm môi trường công nghiệp Cục BVMT và Cục QLTNN phải tập trung thực hiện công tác này và cũng cần phối hợp với nhau chặt chẽ hơn Công tác kiểm soát phòng ngừa ô nhiễm đòi hỏi phải đầu tư thêm nhiều nguồn lực và thời gian cùng với sự hỗ trợ và hướng dẫn từ phía Bộ TNMT cho các tổ chức có liên quan khác để họ chủ động và nắm vững trách nhiệm của mình Một việc quan trọng không kém nữa là quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ hiện đang giữ hai loại trách nhiệm có tính song hành ở cấp trung ương và cấp địa phương (vừa là chủ sở hữu và vừa kiểm soát các ngành và các khu công nghiệp).11 Ngoài ra, việc quy định rõ trách nhiệm quản lý và nghiên cứu áp dụng các công cụ chính sách quản lý ô nhiễm công nghiệp cần phải được cả chính phủ trung ương và chính quyền các địa phương chú ý và thực hiện

7 Quyết định số 45/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 2/4/2003.

8 Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2003 và Thông tư số 1694/2003/TTLT-BTNMT-TCCB ngày 18/7/2003

9 Đặc biệt là Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch Kiểm soát ô nhiễm quốc gia đến năm 2010.

10 Các bản Quy hoạch Quản lý Ô nhiễm Môi trường Công nghiệp của Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương, Long An, Bắc Ninh và Hải Dương đã được đệ trình lên Bộ trưởng Bộ TNMT tại cuộc họp cuối cùng của Ban chỉ đạo Dự án môi trường Việt Nam – Canađa vào ngày 4/5/2005.

11 Đặc biệt là các Bộ CN, XD, GTVT, KH&ĐT và các Sở liên quan ở cấp tỉnh/thành phố và quận/huyện.

Trang 16

Khung pháp lý

Để thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

thiên nhiên, Chính phủ đã ban hành các văn bản luật có tầm quan

trọng đối với quản lý ô nhiễm sau đây: Luật Bảo vệ môi trường sửa

đổi, được Quốc hội thông qua vào năm 2005 sau khi đã được thảo

luận, góp ý kiến rộng rãi và sửa đổi nhiều lần Đây là một trong

những công cụ pháp lý chính giúp cải thiện tình trạng môi trường

của ngành công nghiệp Luật BVMT sửa đổi cũng đưa ra những định

hướng trong việc áp dụng các công cụ chính sách về quản lý môi

trường công nghiệp; đồng thời cũng xác lập các tiêu chuẩn môi

trường chính như tiêu chuẩn về phát thải, và quy định rõ yêu cầu đối

với các báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Bằng cách đó, luật

BVMT sửa đổi đã cung cấp một cơ sở toàn diện nhằm cải thiện công

tác quản lý môi trường ở Việt Nam Đây là một bước quan trọng

trong việc tăng cường chất lượng môi trường công nghiệp cấp quốc

gia và địa phương Tuy nhiên do có nhiều điều khoản trong Luật này

rất mới nên cần xây dựng những hướng dẫn thực thi rất cụ thể và

nâng cao nhận thức về luật BVMT sửa đổi để luật được cộng đồng

biết đến và có hiệu lực thi hành cao hơn Các văn bản pháp luật khác

có liên quan là Luật đất đai (2003), Pháp lệnh số 23/2003/L-CTN

ngày 10/12/2003 ban hành Luật đất đai, và Nghị định về thi hành

Luật đất đai; Luật Tài nguyên nước (1998) và Nghị định số 179/1999/

NĐ-CP ngày 30/12/1999 về thi hành luật Tài nguyên nước Ngoài

ra, còn có nhiều văn bản pháp luật khác mới được ban hành gần đây

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, như xử lý các cơ sở gây ô nhiễm

nghiêm trọng, xử phạt các vụ vi phạm hành chính, các loại phí ô

nhiễm, cấp phép sử dụng và phát thải nước thải, và thành lập Quỹ

Bảo vệ Môi trường.12

Cuối cùng Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2001

- 2010 đã khẳng định rằng sự phát triển và tăng trưởng kinh tế

nhanh chóng phải được thực hiện song song “với thực hiện tiến

bộ, bình đẳng xã hội và bảo vệ môi trường”, trong đó đặc biệt chú

trọng đến bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và

phát triển bền vững

5 Chi tiêu cho bảo vệ môi trường Năm 2004, Chính phủ Việt Nam quyết định tăng kinh phí chi tiêu công cho hoạt động bảo vệ môi trường lên mức 1% tổng chi ngân sách Nhà nước (Nghị quyết của Bộ chính trị số 41-NQ/TW) Việc xác định và phân nhóm các khoản mục chi cho bảo vệ môi trường, bao gồm cả các khoản mục chi cho kiểm soát và phòng ngừa ô nhiễm, cũng như dự toán kinh phí cho từng khoản mục vẫn còn là công việc khó khăn Để quản lý ô nhiễm công nghiệp một cách hiệu quả, chính quyền các cấp phải theo dõi và kiểm soát được các luồng đầu tư trong quá khứ, hiện tại và tương lai cho hoạt động này Tuy nhiên, các cơ quan quản lý môi trường ở Việt Nam vẫn gặp một số khó khăn trong việc lập kế hoạch nhu cầu kinh phí hàng nằm cho hoạt động bảo vệ môi trường vì không biết chắc chắn giá trị thực của 1% tổng chi ngân sách hàng năm là bao nhiêu Ban đầu, khi quyết định này mới được ban hành, thậm chí còn chưa biết được liệu 1% tổng chi ngân sách Nhà nước cho bảo vệ môi trường thực sự là tăng lên hay giảm đi so với trước đây mặc dù ý định của Chính phủ là tăng ngân sách cho lĩnh vực này

Chính phủ chịu áp lực ngày càng lớn đối với nhu cầu tăng chi tiêu công cho kiểm soát ô nhiễm và Chính phủ cũng buộc giới kinh doanh phải tăng chi phí cho hoạt động này Chính phủ và công chúng ngày càng nhận thức rõ về những tổn thất lớn về kinh tế do sự gia tăng ô nhiễm cả về lượng và về độ độc hại Trong một báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Trung Quốc, phí tổn kinh tế do ô nhiễm môi trường ở nước này vào khoảng 88 tỷ đô

la trong năm 2003, chiếm 5,4% GDP.13 Trong đó, phí tổn do ô nhiễm không khí chiếm 71% và do ô nhiễm nước chiếm 29% tổng phí tổn Phí tổn này bao gồm (a) những tổn thất về sức khoẻ cộng đồng, nông nghiệp và vật liệu gây ra do ô nhiễm không khí; và (b) những tổn thất về sức khoẻ cộng đồng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thiếu nước gây ra do ô nhiễm nước; (c) những tổn thất về kinh tế gây ra do việc sử dụng đất làm các bãi chôn lấp chất thải rắn Phí tổn này không bao gồm tổn thất do ô nhiễm đất và nước ngầm Trong năm 2004, GDP của Việt Nam đạt 45 tỉ đô la (TCTK, 2006)

12 Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003; Nghị định số 121/2004/NĐ-CP, ngày 12,/5/2004; Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/7/2004; và Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2003

13 Ngân hàng Thế giới (2008), Giá của ô nhiễm ở Trung Quốc – Tổn thất vật chất và kinh tế Bản thảo tháng 3/2008

Trang 17

Do đó, tổn thất về môi trường ở Việt Nam không thể tương đương

như Trung Quốc Tuy nhiên, nếu giả sử tổn thất do ô nhiễm ở Việt

Nam chiếm tỉ lệ so với GDP giống như ở Trung Quốc (tức là 5,4%

GDP) thì tổn thất do ô nhiễm môi trường vào khoảng 2,5 tỉ đô la

Theo thông tin về Các chương trình đầu tư công của Bộ KH&ĐT và

Báo cáo tóm tắt về ODA cho môi trường của UNDP, có 145 dự án liên

quan đến kiểm soát ô nhiễm giai đoạn 1996 - 2005 Chi phí hàng

năm cho hoạt động này tăng đáng kể trong giai đoạn 2000 – 2005,

đạt xấp xỉ 600 triệu đô la vào năm 2005 Tổng kinh phí giai đoạn

1996 - 2000 là gần 1,5 tỉ đô la, và đạt khoảng 2,3 tỉ đô la giai đoạn

2001 - 2005 đã cho thấy mức độ ưu tiên và sự chú ý đối với hoạt

động kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm ngày càng tăng

Năm 2001, theo báo cáo của Cục môi trường, tổng kinh phí dành

cho hoạt động bảo vệ môi trường là 102.970 triệu đồng (tương

đương 6,56 triệu đô la) Gần 90% (91.580 triệu đồng) được phân bổ

về các bộ và các cơ quan ở trung ương Phần còn lại (10%) được

phân bổ về các cơ quan cấp tỉnh và địa phương Năm 2001, Bộ

KHCN&MT có trách nhiệm đánh giá nhu cầu kinh phí của các tổ

chức và phân bổ kinh phí Cần lưu ý là kinh phí dành cho “Chương

trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” năm

2001 là 159.950 triệu đồng (10,2 triệu USD) thuộc dòng ngân sách

riêng, không nằm trong ngân sách dành cho các hoạt động bảo vệ

môi trường

6 Các cơ hội trong tương lai

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế

nhanh nhất trên thế giới - tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai

đoạn 2004 - 2005 đạt 8%/năm - và đang thay đổi nhanh chóng

trên nhiều mặt Các phát hiện và kết quả thu nhận từ việc đánh

giá ô nhiễm gây bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt

Nam cho thấy ô nhiễm công nghiệp chủ yếu tập trung ở những

vùng nhất định và phát sinh từ một số phân ngành nhất định

Nếu tập trung nỗ lực quản lý môi trường vào những vùng và

những phân ngành này chắc chắn sẽ đạt được những lợi ích to

lớn trong việc giảm thiểu ô nhiễm

Hệ thống quản lý nhà nước đang tiếp tục thay đổi thông qua

Chương trình cải cách hành chính công và để đương đầu với

những thách thức mới nảy sinh cả ở trong nước và trên trường

quốc tế Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và tham gia vào các thoả thuận quốc tế đã làm những biến động này gia tăng cả về quy mô cũng như cường độ Mỗi một văn bản pháp luật mới được Quốc hội thông qua đều tạo nên những làn sóng đổi mới mạnh mẽ ở tất cả các cấp chính quyền cũng như các ngành Các cam kết và chính sách chung của Chính phủ được thể hiện trong từng hoạt động tổ chức thể chế để thực thi cụ thể Những đạo luật có tính chất phức tạp như Luật BVMT sửa đổi, Luật đất đai và Luật Quản lý tài nguyên nước đã có tác động sâu xa đến xã hội; nhờ đó, mối quan hệ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng đã được điều chỉnh một cách căn bản Tuy nhiên, như phân tích trong báo cáo này đã nêu rõ, năng lực và đầu tư vào môi trường đang ở mức thấp hơn so với yêu cầu cần thiết để có thể kiểm soát sự thay đổi về môi trường, mặc dù Chính phủ đã nỗ lực đổi mới để đáp ứng với những thay đổi này

Chính phủ có thể áp dụng những rào chắn trong những lĩnh vực sau đây như một biện pháp để giải quyết các thách thức ngày càng lớn do sự gia tăng tải lượng, nồng độ và độ độc hại của tình trạng ô nhiễm do công nghiệp:

(a) Ưu tiên sử dụng các biện pháp can thiệp đối với ngành công nghiệp nhằm quản lý ô nhiễm Cần phải

hợp lý hóa và đẩy mạnh nỗ lực xác định các tác nhân gây ô nhiễm, các doanh nghiệp và địa điểm bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở cấp quốc gia và địa phương để ưu tiên xử lý Những vấn đề liên quan tới các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất và các chất gây ô nhiễm độc hại đã được nêu ra trong Luật BVMT sửa đổi (2005), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010; Nghị quyết số 41/2004 của Bộ Chính trị; và đặc biệt đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất trong Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg Ba đối tượng cần ưu tiên xử lý khác (địa điểm bị ô nhiễm, khu công nghiệp, làng nghề) còn chưa được giải quyết một cách hệ thống trong chính sách và chiến lược hiện hành của Chính phủ về quản lý ô nhiễm công nghiệp Trong điều kiện hạn chế cả về nguồn lực và năng lực, không thể giải quyết cùng một lúc mọi vấn đề ở mọi nơi Đối với các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, Chính phủ đã có khung chính sách và chương trình hành động tốt Các chính sách và chương trình này cần được tiếp tục chi tiết hóa và cải tiến hơn nữa để có thể quản lý hiệu quả hơn loại cơ sở này Cũng cần cải tiến phương thức hỗ trợ và đầu tư tài chính cho hoạt động

Trang 18

kiểm soát ô nhiễm ở các cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng nhất

Nhiều doanh nghiệp không có khả năng tự giải quyết vấn đề

ô nhiễm hoặc đầu tư hệ thống xử lý chất thải Các doanh

nghiệp này thường có khó khăn về kinh tế và không đủ nguồn

lực để đầu tư vào những việc mà họ coi là không mang lại

hiệu quả đối với kiểm soát ô nhiễm

(b) Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan

nhằm quản lý ô nhiễm hiệu quả hơn Chính phủ đang

tích cực đổi mới hệ thống hành chính công theo hướng cởi

mở và minh bạch, có sự tham gia của nhiều bên, bình đẳng,

chất lượng và hiệu quả Đại hội Đảng lần thứ IX (tháng 4,

2001) đã đưa ra các chính sách và biện pháp để cải cách

hành chính.14 Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ thông qua Chương trình tổng thể về cải

cách hành chính công giai đoạn 2001-2010, đã tạo cơ sở

cho việc thực hiện cải cách hành chính Các nhiệm vụ quản

lý ô nhiễm liên quan đến nhiều bộ, ngành, lĩnh vực khác

nhau Không một cơ quan đơn lẻ nào có thể quản lý được tất

cả những quá trình tác động tới chất lượng môi trường Do

vậy, cần phải có một cơ quan đầu mối chỉ đạo các hoạt động

và điều hành theo cách tiếp cận hợp tác liên ngành Ngoài ra,

để đảm bảo đạt được những tiến bộ nhất định trong thời gian

ngắn hoặc trung hạn, Bộ TNTM và các bộ khác cần thúc đẩy

việc thành lập mới và củng cố đơn vị quản lý môi trường

trong ngành mình Chính phủ yêu cầu thiết lập đơn vị quản

lý môi trường trong tất cả các ngành Công tác quản lý ô

nhiễm môi trường sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn

nếu như không có đủ nguồn nhân lực và tài chính cần thiết

Các bộ ngành và các cơ quan quản lý ở cấp tỉnh, thành phố

phải thành lập bộ phận quản lý môi trường và quy định rõ

chức năng, nhiệm vụ cũng như mối quan hệ làm việc giữa bộ

phận này với Bộ và Sở TNTM

(c) Tăng cường giám sát và cưỡng chế trong quản lý ô

nhiễm công nghiệp Mặc dù gần đây đã có những nỗ lực

đáng kể trong việc tăng cường đội ngũ cán bộ, các nguồn

lực và năng lực ở các cơ quan quản lý địa phương nhằm

theo dõi hoạt động và giám sát tình trạng môi trường của các cơ sở công nghiệp, song hệ thống giám sát này vẫn còn yếu kém Mặc dù việc tăng cường năng lực cho các cơ quan có thể khắc phục phần nào tình trạng yếu kém này, song một số vấn đề quan trọng khác cũng cần được giải quyết Cải thiện công tác giám sát phải đi đôi với áp dụng biện pháp cưỡng chế mạnh Hai biện pháp này đều cùng là công cụ chế tài giúp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm Mặc dù tăng mức phạt tiền là hợp lý, song đối với các cơ sở không tuân thủ các quy định về môi trường không nên chỉ giới hạn các hình thức phạt theo các cách thông thường (như phạt hành chính hoặc dân sự) Quan điểm phạt cũng cần được mở rộng, có thể bao gồm cả các hình thức công bố thông tin về những cơ sở không thực hiện bảo vệ môi trường; giảm hoặc hạn chế khả năng tiếp cận với thị trường vốn (trừ trường hợp vay vốn để đầu tư cho kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm); giảm hoặc hạn chế khả năng ký kết các hợp đồng với khu vực dịch vụ công Ngoài ra, việc các chính quyền địa phương phổ biến thông tin về tình hình môi trường của các cơ sở cùng với một cơ chế khen thưởng phù hợp sẽ giúp cải thiện chất lượng môi trường ở cấp địa phương một cách hiệu quả

(d) Hợp lý hóa chi tiêu cho hoạt động quản lý và kiểm soát ô nhiễm Cam kết mới đây về việc dành 1% tổng

chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động bảo vệ môi trường, cùng với việc thông qua Quyết định số 70 đã tạo cơ hội tốt cho việc xây dựng và phát triển hệ thống theo dõi và giám sát tổng thể nhằm khắc phục sự phân bổ ngân sách và quản lý các ngành công nghiệp một cách không hiệu quả Cần thiết lập một hệ thống cho phép thu thập một cách hệ thống và đầy đủ dữ liệu về chi tiêu hàng năm cho hoạt động bảo vệ môi trường, kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm Hệ thống dữ liệu này sẽ tạo cơ sở để xây dựng các báo cáo, giám sát và xác định các ưu tiên

14 Các biện pháp này bao gồm áp dụng các nguyên tắc quản lý liên ngành; uỷ nhiệm và phân cấp; tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước với việc điều hành các hoạt động kinh doanh, sản xuất; tách bạch giữa các cơ quan hành chính công với các tổ chức dịch vụ công; cải tổ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước; thực hiện rất nhiều thủ tục và điều chỉnh về tổ chức và chức năng.

Trang 19

Trong giai đoạn 1990 - 2005, mức tăng trưởng bình quân tổng sản

phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam là 7,5%/năm Ngành công

nghiệp - động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế - đạt tốc độ

tăng trưởng hơn 10%/năm, trong khi đó, ngành nông, lâm và thủy

sản chỉ có tốc độ tăng trưởng trung bình là 4%/năm Việc chuyển

đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng này phù hợp với định hướng của

Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2006 -2010, với mục

tiêu đề ra là tăng trưởng công nghiệp 10%/năm (công nghiệp chế

biến, chế tạo được chú ý đặc biệt, với mục tiêu tăng trưởng bền

vững 15%/năm) và trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm quốc tế về các

chính sách công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Mục đích ban đầu của báo cáo này là phân tích hiện trạng môi

trường Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu với sự tư

vấn của các đối tác Việt Nam, nhóm tác giả đã quyết định giới hạn

nội dung của báo cáo là tập trung phân tích các xu hướng phát triển

công nghiệp, chú trọng đến những thách thức về môi trường đối với

ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và khung thể chế, pháp lý hiện

tại về quản lý môi trường - bao gồm các vấn đề liên quan đến phân

công trách nhiệm và sự phối hợp trong việc xây dựng các chính

sách Những thách thức về môi trường, xuất phát từ việc Việt Nam

gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng là vấn đề được

chú trọng Hi vọng, báo cáo này có thể đóng góp vào nỗ lực phân

tích các vấn đề môi trường chung trên toàn quốc chứ không chỉ

nhằm đáp ứng các mục tiêu của bản thân báo cáo

Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp

Phần ước tính mức độ ô nhiễm được trình bày trong báo cáo này là

kết quả của việc ứng dụng Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp

(IPPS) Mô hình này (được mô tả tại Phụ lục A) được xây dựng năm

1995, là kết quả của nỗ lực hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm

Nghiên cứu kinh tế thuộc Cục tổng điều tra Mỹ, Cục Bảo vệ môi

trường Mỹ và Ban Nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới

với mục đích trợ giúp các cơ quan quản lý môi trường các nước, đặc

biệt là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, đáp ứng nhu cầu

về dữ liệu phát thải ô nhiễm; nhờ đó có thể xây dựng được hệ thống

điều chỉnh chi phí – hiệu quả nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô

nhiễm (Hettige và những người khác 1995)

IPPS kết hợp các số liệu về lượng phát thải ô nhiễm để tính toán các hệ số cường độ ô nhiễm trên một đơn vị hoạt động công nghiệp Ban đầu, các hệ số cường độ ô nhiễm được tính toán dựa trên số liệu sẵn có của Mỹ lấy từ kết quả tổng điều tra công nghiệp chế biến, chế tạo của Mỹ và số liệu của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) Các tính toán cơ bản dựa vào thông tin của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như giá trị sản lượng, giá trị gia tăng, số lao động, sau đó so sánh các giá trị này với số liệu của USEPA về tải lượng ô nhiễm của từng nhà máy Sau đó, tính toán cường độ ô nhiễm bằng cách chia tổng tải lượng ô nhiễm cho các chỉ tiêu sản xuất (như giá trị sản lượng, giá trị gia tăng, số lao động) Ví dụ, hệ số cường độ gây ô nhiễm tính theo số lao động sẽ là số kilogram một chất ô nhiễm trên một lao động, bởi vì hệ số cường độ ô nhiễm tính theo lao động có trị số ổn định hơn nhiều so với hệ số tính theo các yếu tố sản xuất khác Điều này đúng cả ở các nước phát triển và đang phát triển (Dasgupta và những người khác, 2002) USEPA thu thập và lưu trữ thông tin về phát thải các chất gây ô nhiễm và hoá chất có hại cho sức khoẻ con người và môi trường IPPS có các hệ số cường độ ô nhiễm cho các chất sau:

n Các chất gây ô nhiễm không khí Sun-phua-đi-ôxit

(SO2); nitơ-đi-ôxit (NO2); các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC); bụi, bao gồm cả bụi tổng (TSP) và bụi mịn có kích thước dưới 10 micrôn (PM10)

n Các chất gây ô nhiễm nước nhu cầu ôxy sinh học (BOD)

và tổng các chất rắn lơ lửng (TSS)

IPPS còn tính toán hệ số cường độ ô nhiễm cho hơn 240 hoá chất và kim loại được phát thải ra môi trường không khí, nước và đất Danh sách dưới đây là các hoá chất và kim loại có độc tính đối với sức khoẻ con người và có khả năng tích luỹ sinh học:

n Các hoá chất benzen, clo-ê-tan, clo-mê-tan, tô-lu-en, và

zylen;

n Các kim loại ăng-ti-moan, a-sê-níc, a-mi-ăng, be-ri,

cát-mi, cờ-rôm, đồng, xyanua, chì, thuỷ ngân, ni-ken, tali và kẽm

Đối với mỗi chất gây ô nhiễm không khí và nước và 240 hoá chất và kim loại độc hại, IPPS cung cấp hệ số cường độ ô nhiễm theo giá trị giới hạn dưới, giá trị giới hạn trên và giá trị trung bình Do mục đích của báo cáo này, việc ước tính tải lượng ô nhiễm dựa theo giá

GIỚI THIỆU

Trang 20

trị giới hạn dưới của hệ số cường độ ô nhiễm Việc sử dụng giá trị

này giúp tính toán tải lượng ô nhiễm một cách thận trọng hơn Do

đó, các ước tính về tải lượng ô nhiễm được nêu trong báo cáo này

thấp hơn tải lượng ô nhiễm thực tế Tuy nhiên, trong bối cảnh của

báo cáo và nhằm mục đích xác định các đối tượng ưu tiên , vấn đề

quan trọng nhất là xếp hạng một cách tương đối mức độ ô nhiễm

gây bởi một ngành hoặc ở một khu vực nào đó so với các ngành

hoặc khu vực khác

Hệ số độc tính trong phân tích tải lượng ô nhiễm của IPPS được tính

bằng trọng số của một chất độc tương ứng hoặc giá trị ngưỡng giới

hạn theo tiêu chuẩn quốc tế được công nhận tại Hội nghị về Vệ sinh

Công nghiệp ở Mỹ (1999) Hệ số độc tính này được tính dựa trên

những kết quả nghiên cứu dịch tễ học, sức khoẻ nghề nghiệp và các

tiêu chuẩn an toàn đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

(trong đó có Mỹ) Việc tính toán chủ yếu được thực hiện bằng cách

nhân tải lượng ô nhiễm ước tính của một chất với hệ số độc tính của

chất đó để thu được giá trị tải lượng ô nhiễm theo trọng số độc tính

Ví dụ, một chất độc hơn, tải lượng ô nhiễm sẽ có trọng số lớn hơn

so với một chất ít độc hơn Do đó, khi xếp hạng khả năng gây ô

nhiễm, các chất độc hơn sẽ có thứ tự cao hơn do có trọng số độc

tính cao hơn Để tính nguy cơ tương đối về độc tính, các ước tính tải

lượng ô nhiễm cũng được phân loại thành 3 mức theo nguy cơ phơi

nhiễm cấp tính với yếu tố độc hại, sử dụng các giá trị như nồng độ

gây chết người (LC50) và liều gây chết người (LD50) (Horvath và

nnk., 1995; Swanson và nnk., 1995) Các giá trị này được tính dựa

trên kết quả nghiên cứu tác động dịch tễ học trong đánh giá rủi ro

và nguy cơ đối với sức khỏe con người Trong báo cáo này, mỗi hoá

chất trong cơ sở dữ liệu được phân loại theo các mức độ: (1) độc hại

cao, (2) độc hại trung bình, hoặc (3) độc hại thấp dựa trên giá trị của

LC50 và LD50; sau đó được tính gộp cho cấp cơ sở sản xuất và

được tổng hợp ở cấp tỉnh - thành phố, xã - phường và ngành

Thông tin quan trọng cần thiết cho việc tính toán tải lượng ô nhiễm

ở Việt Nam là quy mô của hoạt động sản xuất Nguồn dữ liệu được

sử dụng trong báo cáo này lấy từ kết quả Tổng điều tra doanh nghiệp

năm 2004 của Tổng cục Thống kê (TCTK).15 Thông tin về hiện trạng

môi trường công nghiệp lấy từ các báo cáo hiện trạng môi trường

của Bộ TNMT và các Sở TNMT, ngoài ra còn có các dữ liệu từ mạng

quan trắc quốc gia và từ các bộ có chức năng quản lý công nghiệp Dữ liệu và báo cáo từ các cơ quan phát triển quốc tế, các viện nghiên cứu trong nước và các tổ chức phi chính phủ cũng được sử dụng trong báo cáo này Thông tin về doanh nghiệp được thu thập dựa theo hệ thống phân ngành công nghiệp Việt Nam (VSIC), được xây dựng trên cơ sở hệ thống phân ngành công nghiệp quốc tế (ISIC) (Mục 3.1) Kết quả Tổng điều tra doanh nghiệp năm 2004 cho thấy có hơn 90.000 doanh nghiệp hoạt động trong 14 ngành công nghiệp Do nghiên cứu này chỉ chú ý tới tác động của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nên chỉ giới hạn việc thu thập dữ liệu trong các phân ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Có tất cả 131 phân ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo hệ thống phân loại của VSIC-4 Tổng điều tra năm 2004 cho thấy có tổng cộng 20.444 doanh nghiệp và 2.833.615 lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm gần 23% tổng số doanh nghiệp và 53% tổng số lao động của toàn ngành công nghiệp

Một hạn chế đáng lưu ý trong dữ liệu của TCTK là một số phiếu điều tra chỉ ghi trụ sở chính của các công ty, trong khi các công ty này còn có cả các cơ sở chi nhánh ở những nơi khác Để kiểm chứng tính xác thực của dữ liệu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra thực địa tại hai xã có mức độ ô nhiễm cao nhất ở mỗi tỉnh trong danh sách 10 tỉnh ô nhiễm nhất xét theo chỉ số ô nhiễm chung Sau đó, xác định 2 -3 nhà máy gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất ở các xã này Nhóm điều tra thực địa gọi điện đến các nhà máy này để xác định vị trí cụ thể Nếu không thể liên hệ được với một nhà máy nào đấy, thì nhóm nghiên cứu gọi điện cho Sở TNMT ở tỉnh có nhà máy đó Do các nhà máy này là các cơ sở gây

ô nhiễm nghiêm trọng nên hầu hết các Sở TNMT đều nắm được và biết địa điểm cụ thể Tất nhiên, không phải với mọi trường hợp đều có thể thực hiện theo cách này Trong các cuộc thảo luận bên lề, có một điều nhận thấy là hầu hết các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng đều không nằm ở các xã đã được ghi nhận là địa chỉ trụ sở chính Địa chỉ được cung cấp thường là địa chỉ của trụ sở hành chính, không phải là cơ sở sản xuất

Không thể xác định được mức độ sai số do hạn chế về dữ liệu này gây ra, nhưng sai số sẽ được giảm bớt khi thực hiện các tính toán và

15 Dữ liệu Tổng điều tra doanh nghiệp năm 2004 của Tổng cục Thống kê được thu thấp từ Bộ KH&ĐT, Bộ Nội vụ, Bộ NN&PTNT, Bộ TS, Bộ XD và Bộ GTVT, các tỉnh và các khu công nghiệp.

Trang 21

phân tích tổng hợp ở quy mô rộng hơn Ở cấp tỉnh, vấn đề này không

còn quan trọng do ở hầu hết các trường hợp, thường thì cả trụ sở

hành chính và cơ sở sản xuất đều nằm trong cùng một tỉnh Tuy

nhiên, kết quả phân tích ở quy mô nhỏ hơn cấp xã, kết quả phân tích

tổng hợp sẽ không có độ tin cậy cao Do vậy, để tiếp tục hoàn thiện

các kết quả của báo cáo này cũng như quan trắc hoạt động công

nghiệp trong tương lai, điều tra thực địa có vai trò rất quan trọng

Cũng cần tiếp tục thảo luận với TCTK để cải thiện hơn nữa phạm vi

bao phủ của tổng điều tra và hoàn thiện hơn phương pháp thu thập

dữ liệu, sao cho có thể thống kê đầy đủ và chính xác địa điểm của

các cơ sở vệ tinh trong các bảng số liệu hàng năm Những gợi ý này

và một vài gợi ý khác sẽ được đề cập đầy đủ hơn trong các phần tiếp

theo

Một câu hỏi phổ biến được đưa ra khi áp dụng IPPS ở các nước

đang phát triển như Việt Nam là: Có thực tế không khi sử dụng các

hệ số cường độ ô nhiễm tính toán dựa trên dữ liệu của Mỹ? Câu

trả lời gồm hai điểm Thứ nhất, trong hoàn cảnh thiếu thông tin chi

tiết về phát thải ô nhiễm, IPPS được sử dụng như phương pháp ước

lượng sơ bộ cho tới khi có được những thông tin thu thập từ hệ

thống quan trắc địa phương và nạp thế vào mô hình để có được hệ

thống dữ liệu đặc thù của nước cụ thể Thứ hai, một lý do khác dẫn

đến việc sử dụng IPPS là ở chỗ phải hiểu rằng trình độ công nghệ

trong hệ thống IPPS có thể phản ánh được trình độ công nghệ của

các cơ sở Việt Nam Các hệ số cường độ ô nhiễm lấy từ IPPS được

tính dựa trên dữ liệu phát thải của 20.000 nhà máy ở Mỹ vào năm

1987 Ở Việt Nam, phần lớn các cơ sở công nghiệp hiện đang sử

dụng công nghệ giống với công nghệ mà các nhà máy ở Mỹ áp

dụng cách đây 15 - 20 năm, vào khoảng cuối của thập niên 80 và

đầu thập niên 90 (mặc dù trong một vài ngành như chế biến hải sản,

các công nghệ được đổi mới nhanh chóng) Điều quan trọng nhất là

trong báo cáo dùng giá trị giới hạn dưới của hệ số và như vậy kết

quả tính tải lượng ô nhiễm dựa theo công nghệ sử dụng ở Mỹ sát với

thực tế hơn

Đối với Việt Nam, mặc dù đã có sẵn một số thông tin quan trắc về ô

nhiễm, song thông tin này không được thu thập một cách đầy đủ và

có hệ thống và không bao quát hết các chất gây ô nhiễm hoặc các

ngành như trong IPPS Những kết quả quan trắc này cũng cung cấp

dẫn chứng trả lời cho câu hỏi: Liệu các công nghệ đang được áp

dụng ở Việt Nam có phù hợp với các hệ số của IPPS được tính

toán dựa trên các công nghệ được sử dụng ở Mỹ không? Để

kiểm tra, các hệ số ô nhiễm BOD và TSS được lấy từ CTC Việt Nam và từ dự án môi trường Việt Nam - Canađa Do cơ sở dữ liệu CTC có bao gồm hệ số được tính trên số lượng lao động sản xuất cho 54 phân ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nên trong nghiên cứu này có thể so sánh với các hệ số của IPPS (tính cường độ ô nhiễm theo số lao động) Các hệ số tương quan được tính toán giữa tải lượng ước tính của BOD và TSS khi sử dụng các hệ số của CTC và IPPS Kết quả cho thấy có sự tương thích cao ở cấp tỉnh nhưng lại thấp hơn ở cấp ngành Tuy nhiên, những khác biệt giữa các ước tính ở cấp ngành không đáng kể về mặt thống kê Ngoài ra, sự tương thích thấp hơn ở các ngành là do chỉ có 54 phân ngành được so sánh

Đánh giá và phân tích về hiện trạng ô nhiễm môi trường công nghiệp này được thực hiện dựa trên những nghiên cứu và khảo sát thực tế do Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường thực hiện từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007 theo đặt hàng của Ngân hàng Thế giới Ngoài ra, các đối tác tham gia thực hiện nghiên cứu này gồm Bộ CN và Bộ TNMT và Ngân hàng Thế giới Các cơ quan sau đây: Vụ KH&CN (Bộ CN), Vụ Môi trường (Bộ TNMT) và Chương trình môi trường Việt Nam của Ngân hàng Thế giới là các đầu mối công tác chính và có thành viên tham gia ban chỉ đạo xây dựng báo cáo Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp thuộc Bộ CN và Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động hậu cần và kỹ thuật trong quá trình xây dựng báo cáo

Một nhóm tư vấn kỹ thuật bao gồm đại diện của các cơ quan quản lý môi trường và công nghiệp liên quan đã tham gia đóng góp chính về mặt kỹ thuật cho nghiên cứu này, đồng thời bình luận, góp ý cho báo cáo Nhóm tư vấn này bao gồm các nhà quản lý công nghiệp của Chính phủ (thuộc các Bộ NN&PTNT, CN, XD, GTVT và TS) cùng với Bộ TNMT, nhiều chuyên gia môi trường công nghiệp, các viện nghiên cứu và đại diện của các tỉnh được lựa chọn từ 3 vùng tam giác phát triển Nhóm tư vấn gồm 30 người đã tiến hành 5 cuộc họp vào những giai đoạn quan trọng của dự án để phân tích, xem xét các kết quả và góp ý cho những công việc tiếp theo Một mạng lưới rộng rãi các chuyên gia về công nghiệp và môi trường cũng đã tham gia hội thảo và dưới các hình thức tư vấn khác trong quá trình thu thập dữ liệu thực tế và góp ý cho bản dự thảo báo cáo Một hội thảo tư vấn cuối cùng nhằm trình bày những kết quả chính và phương thức tổ chức thực hiện đã được tổ chức vào ngày 14/6/2007

Trang 22

tại Hà Nội Tại hội thảo này, hai nghiên cứu khác là: “Nghèo đói -

Môi trường” và “Các tác động do ô nhiễm công nghiệp và Phát triển

công nghiệp và quản lý môi trường ở Việt Nam trong tương lai” cũng

đồng thời được thảo luận với các đối tác ở Bộ TNMT, Bộ CN và các

cơ quan quản lý cấp địa phương nhằm hoàn thiện báo cáo

Cấu trúc của báo cáo

Báo cáo này được chia thành 5 phần Phần 1 cung cấp thông tin tổng

quát về thực trạng, phương hướng phát triển và cơ cấu sở hữu ngành

công nghiệp Phần 2 phân tích hiện trạng ô nhiễm và các tác động

gây ra do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Những đặc điểm

chính, điểm mạnh và điểm yếu của khung thể chế và pháp lý hiện

hành được đề cập trong Phần 3 Phần 4 là tổng quan và phân tích

chi phí cho hoạt động bảo vệ môi trường của ngành công nghiệp

Phần 5 xác định các lĩnh vực mà Chính phủ cần nỗ lực tập trung

nhằm giải quyết thách thức ngày càng tăng bởi sự gia tăng về tải

lượng ô nhiễm, nồng độ và độc tính do các cơ sở sản xuất công

nghiệp gây ra

Trang 23

1.1 Tổng quan

Quá trình đổi mới chính sách kinh tế ở Việt Nam bắt đầu từ năm

1986 Kể từ đó, trong suốt 20 năm qua, tăng trưởng nhanh và liên

tục luôn là nét đặc trưng chính của nền kinh tế Việt Nam Trong

thập niên 90, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm là 7,5% và

đạt 8,43% vào năm 2005 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các

ngành kinh tế lại khác nhau Giai đoạn 1991-2000, tốc độ tăng

trưởng của khu vực nông - lâm – thủy sản là 4,2%, khu vực công

nghiệp và xây dựng đạt 11,3% và khu vực dịch vụ đạt 7,2% Giai

đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp

và xây dựng tiếp tục cao hơn khu vực dịch vụ và khu vực nông -

lâm – thủy sản, góp phần đẩy tốc độ tăng trưởng chung của nền

kinh tế lên gần 10% vào năm 2005 (Bảng 1.2)

Từ 1995 đến 2005, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển đổi

quan trọng về cơ cấu, với tỷ trọng của khu vực nông - lâm –

thủy sản giảm từ 27,2% xuống 20,5% và đóng góp của khu

vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 28,8% lên 41% (Bảng

1.2) Gắn liền với việc thay đổi cơ cấu kinh tế này là sự thay

đổi về cơ cấu lao động Trên thực tế, mặc dù lực lượng lao

động hoạt động trong khu vực nông - lâm – thủy sản vẫn chiếm

phần lớn trong tổng số lao động (24,9 triệu so với 43,6 triệu

vào năm 1995) nhưng tỉ lệ này đã giảm từ 71,1% năm 1995

xuống 57% trong năm 2005 Tỉ lệ lao động trong khu vực công

nghiệp và xây dựng tăng từ 11,4% lên gần 18%, và tỉ lệ lao

động trong khu vực thương mại - dịch vụ tăng từ 17,5% lên

25%.16 Mặc dù tất cả các vùng kinh tế đều có xu hướng phát

triển tương đối giống nhau, song chuyển đổi cơ cấu kinh tế

diễn ra mạnh mẽ hơn ở các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông

Nam Bộ (bao gồm thành phố Hồ Chí Minh) và Đồng bằng sông

Cửu Long Hiện tại, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng

góp gần 60% toàn bộ kết quả hoạt động kinh tế của vùng Đông

Nam Bộ

Bảng 1.2 Chuyển đổi về cơ cấu nền kinh tế

Chỉ tiêu (% đóng góp trong nền kinh tế và cơ cấu lao động) 1995 2000 2005

Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu lao động

Nguồn: Kế hoạch Phát triển KT-XH 2006-2010

1.2 Cơ cấu sở hữu và phân bố địa lý Trong giai đoạn 2001 - 2005, có khoảng 3.183 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được sắp xếp lại, trong đó 2.056 doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá, 181 doanh nghiệp phải thanh lý hoặc tuyên bố phá sản.17 Hầu hết các tỉnh, thành phố đã hoàn thành kế hoạch cổ phần hoá, trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhằm đổi mới DNNN, khối Nhà nước vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp gần 40% vào GDP của Việt Nam Quá trình cải cách DNNN vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ diễn ra chưa như mong đợi, đối tượng tham gia chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ (với số vốn dưới 5 tỉ đồng) và chỉ có rất ít doanh nghiệp lớn Đặc biệt, ở một số bộ ngành như Bộ CN, Bộ

16 CIEM (2006), Kinh tế Việt Nam năm 2005.

17 Báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương về “Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (Khoá IX) về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước”

PHẦN 1 NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 24

XD, Bộ NNN&PTNT, là những bộ có nhiều doanh nghiệp nhà nước

trực thuộc các tổng công ty, việc tiến hành cổ phần hóa, đổi mới và

hiện đại hóa các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn Một số

tổng công ty còn đang sở hữu và điều hành nhiều DNNN được xếp

vào danh mục các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng trên cả nước

Cũng trong thời gian này, có khoảng 170.000 doanh nghiệp với quy

mô khác nhau đăng ký hoạt động với tổng số vốn khoảng 305.000

tỉ đồng Chỉ riêng năm 2005, ước tính có 45.000 doanh nghiệp mới

thành lập với tổng số vốn trên 110.000 tỉ đồng Các doanh nghiệp

tư nhân (bao gồm cả khu vực kinh tế cá thể và hộ gia đình) đóng góp

khoảng 40% GDP, tạo ra 49% tổng số việc làm phi nông nghiệp ở

khu vực nông thôn

Năm 2004, ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống có số lượng doanh

nghiệp lớn nhất với 4.480 doanh nghiệp, chiếm 21,9% trong tổng số

20.444 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên cả nước

Ngành công nghiệp có tầm quan trọng thứ hai là sản xuất sản phẩm

kim loại, chiếm 10,4% trong tổng số doanh nghiệp công nghiệp chế

biến, chế tạo Số lượng doanh nghiệp của hai ngành này chiếm hơn

32% tổng số doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên cả nước, song với

quy mô lao động tương đối nhỏ (trung bình chỉ có 51 lao động trong

một doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống và 91 lao động trong một

doanh nghiệp sản xuất sản phẩm kim loại; vì vậy mà số lao động làm

việc trong hai ngành này chỉ chiếm 18,2% toàn bộ lao động của công

nghiệp chế biến, chế tạo Gần 50% tổng số lao động trong toàn ngành

công nghiệp chế biến, chế tạo làm việc trong ba phân ngành sau: sản

xuất trang phục, thuộc da và sản xuất đồ da và sản xuất thực phẩm và

đồ uống” Đặc biệt, ngành thuộc da và sản xuất đồ da mặc dù chỉ có

số doanh nghiệp chiếm 2,5% tổng số doanh nghiệp của ngành công

nghiệp chế biến, chế tạo, nhưng số lao động lại chiếm đến 18,1%

tổng lao động của toàn ngành Các doanh nghiệp thuộc ngành thuộc

da và sản xuất đồ da thường có quy mô lao động lớn hơn so với các

ngành sản xuất khác Hoạt động công nghiệp ở Việt Nam chỉ tập trung

ở một số ít các ngành sản xuất chính.Có sự khác biệt giữa các ngành

sản xuất chính này về hình thức sở hữu Một phần lớn giá trị sản lượng

của các ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng sản phi kim loại và ngành

thực phẩm và đồ uống là do các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà

nước trung ương đóng góp Đặc biệt, đối với ngành thực phẩm và đồ uống, 40,4% giá trị sản lượng của ngành này do các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước địa phương đóng góp Đây cũng là ngành có mức đóng góp cao nhất của doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào tổng giá trị sản lượng của ngành, tương ứng là 29,8% và 18,7% Ngành này đóng góp 25% vào tổng giá trị sản lượng của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2004; điều đó cho thấy vai trò quan trọng của ngành này đối với mỗi thành phần kinh tế

Giá trị sản lượng của các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân trong nước chiếm tương ứng là 37,6% và 37,8% tổng giá trị sản lượng của ngành thực phẩm và đồ uống” Ở các ngành chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy, sản xuất kim loại và sản xuất sản phẩm nội thất các doanh nghiệp tư nhân trong nước có tỷ lệ đóng góp lớn nhất vào tổng giá trị sản lượng 100% giá trị sản lượng của ngành tái chế là do các cơ sở

tư nhân trong nước sản xuất Trái lại, trong các ngành sản xuất sản phẩm may mặc, thuộc da và sản phẩm da, chế tạo máy móc, thiết

bị và phương tiện giao thông vận tải, các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài lại đóng góp tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản lượng Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tăng đáng kể từ 6,3% GDP năm 2001 lên 15% GDP năm 2005 Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Xing-ga-po, Trung Quốc và Hồng Kông là những nhà đầu tư nước ngoài chính (căn cứ theo số lượng dự án), chiếm 70% tổng số dự án FDI ở Việt Nam và 62% tổng vốn đầu tư FDI Hiện nay, 68% số dự án FDI (4.290 trên tổng số 6.341 dự án) thuộc về lĩnh vực công nghiệp và xây dựng Việc tăng đáng kể nguồn vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài là do tác động của quá trình đẩy mạnh mở cửa nền kinh tế Việt Nam Giá trị xuất khẩu hàng năm tăng 16,2% trong giai đoạn 2001 - 2005, với mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm của các ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp (chiếm 40,2%) và của ngành nông - lâm - thủy sản (chiếm 27%) Trong năm 2005, 50% hàng xuất khẩu được xuất sang Mỹ, các nước cộng đồng Châu Âu và Nhật Bản Hộp 1.1 cung cấp thêm thông tin về FDI

Trang 25

Năm 1976, có 1.913 DNNN và công ty cổ phần ở Việt Nam, 66% số cơ sở này (1.279) nằm ở miền Bắc, và chỉ có 33% (634) ở miền Nam Ba mươi năm sau đó, cả nước đã có hơn 90.000 doanh nghiệp với xấp xỉ 45.000 doanh nghiệp ở miền Nam (TCTK, 2004) Việt Nam phân công nghiệp ra thành ba phân ngành cấp 1 chính là: (a) khai thác mỏ, (b) chế biến, và (c) sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước., Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của toàn ngành công nghiệp là 6,07% trong giai đoạn 1986 - 1990, đạt 13,67% trong giai đoạn 1991 - 1995 và 13,57% trong giai đoạn 1996 -

2000 Giá trị sản lượng công nghiệp (tính theo giá cố định năm 1994) tăng 15,7%/năm trong giai đoạn 2000-2005 và đạt 416.863

tỉ đồng vào năm 2005, tăng 17,2% so với năm 2004 Hiện nay, công nghiệp đóng góp hơn 40% GDP và 70% kim ngạch xuất khẩu Công nghiệp chế biến, chế tạo (một trong 3 phân ngành cấp

1 của ngành công nghiệp) có tốc độ tăng trưởng đạt 16,7%/năm trong giai đoạn 2000-2005 Đây là phân ngành quan trọng nhất của ngành công nghiệp, chiếm hơn 83% tổng giá trị sản lượng công nghiệp

Năm 1997, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập 3 vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế một cách đồng đều giữa các vùng địa lý và đồng thời thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của các vùng địa lý khác nhau Vùng KTTĐ phía Bắc, vùng KTTĐ miền Trung, và vùng KTTĐ phía Nam (Hình 1.1) đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế Việt Nam Ban đầu, ba vùng KTTĐ này bao gồm 5 tỉnh - thành phố ở miền Bắc, 4 tỉnh - thành phố ở miền Trung và 4 tỉnh - thành phố ở miền Nam.18 Đến năm 2004, Chính phủ đã tăng tổng số tỉnh trực thuộc 3 vùng KTTĐ từ 13 lên 20 tỉnh – thành phố

20 tỉnh - thành phố trực thuộc ba vùng KTTĐ này (trong tổng số 64 tỉnh - thành phố của cả nước) chỉ chiếm 22,3% tổng diện tích đất tự nhiên nhưng lại chiếm tới 41,6% tổng dân số của cả nước Vùng KTTĐ phía Bắc chỉ chiếm 4,6% tổng diện tích đất nhưng lại chiếm tới 16,3% dân số của cả nước Ba vùng KTTĐ này có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế cả nước Năm 2004, ba vùng này đã đóng

Hộp 1.1 Ngành công nghiệp thu hút 2,1 tỷ đô la đầu

tư trực tiếp từ nước ngoài

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong hai năm 2005 -

2006, Việt Nam đã thu hút 464 dự án công nghiệp với tổng

số vốn FDI là 2,1 tỷ đô la, chiếm 58% tổng vốn đầu tư trực

tiếp từ nước ngoài của cả nước Phần lớn số lượng vốn

được đầu tư vào công nghiệp nặng, gồm194 dự án với 1,4

tỷ đô la, tăng 600 triệu đô la so với năm 2004 Các nhà đầu

tư nước ngoài cũng rót 610 triệu đô la vào 226 dự án công

nghiệp nhẹ, gồm các ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống

và may mặc Đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết,

số vốn đầu tư trung bình cho một dự án FDI tăng từ 2,6

triệu đô la năm 2004 lên 4,5 triệu đô la năm 2005

Các dự án công nghiệp nặng chủ yếu là các dự án

lớn trị giá hàng trăm triệu đô la Trong số đó có dự án

700 triệu đô la về sản xuất thép không rỉ ở tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu; dự án sản xuất xe ô tô ở tỉnh Phú Yên và dự

án nhà máy sản xuất phụ tùng xe ô tô Yamaha ở Khu

công nghiệp Thăng Long (Hà Nội) trị giá 48 triệu đô la

Cũng theo đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 25% số

vốn FDI năm nay tập trung vào các nhà máy nằm trong

các khu công nghiệp và khu chế xuất Đồng thời, việc

tập trung nguồn vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp nặng

giúp thúc đẩy phát triển công nghiệp nói chung và tạo

điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập kinh tế thế

giới Năm 2005 là năm đánh dấu tốc độ tăng trưởng về

giá trị sản xuất của khu vực có vốn FDI - đạt 28,2%, cao

nhất trong 5 năm trở lại đây Tốc độ tăng giá trị sản

lượng công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân trong

nước đạt 24,6% và khu vực kinh tế Nhà nước đạt 8,9%

Nguồn: Các tác giả

18 Cơ sở pháp lý cơ bản để thiết lập ba vùng kinh tế trọng điểm được khẳng định trong Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg (ngày 11/9/1997) đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Quyết định số 1018/1997/QĐ-TTg (ngày 29/9/1997) đối với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; và Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg (ngày 11/9/1997) đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trang 26

góp 63,5% GDP, xấp xỉ 86% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam,

với 80% tổng số lao động công nghiệp và 71,4% tổng số doanh

nghiệp của cả nước tập trung tại đây Trong đó, vùng KTTĐ phía

Nam có vai trò quan trọng hơn cả, đóng góp hơn 40% GDP và 70%

kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm tới 68,4% tổng số lao

động và 58,5% tổng số doanh nghiệp của cả ba vùng KTTĐ

1.3 Các khu công nghiệp

Việc hình thành các khu công nghiệp là một yếu tố quan trọng giúp

quá trình công nghiệp hoá đất nước diễn ra nhanh chóng Các nhà

đầu tư đăng ký hoạt động trong các khu công nghiệp được hưởng

nhiều lợi ích như được miễn thuế, trợ cấp, được tạo điều kiện tốt

về hạ tầng cơ sở như đường xá, cung cấp điện, nước, nhà kho và

các phương tiện khác, trong đó có cả các hệ thống xử lý nước thải

Những ưu đãi về đầu tư cùng với việc thực hiện chính sách “một

cửa” từ ban quản lý khu công nghiệp đã làm cho số vốn đầu tư

trong nước và nước ngoài vào các khu công nghiệp tăng nhanh

Chính quyền ở một số địa phươnng (như Hà Nội, Hải Phòng, thành

phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai) đã hỗ trợ mạnh mẽ

việc phát triển các khu công nghiệp, cạnh tranh với nhau nhằm thu

hút vốn đầu tư và lấp đầy khu công nghiệp nằm dưới quyền quản

lý của mình (xem Hộp 1.2)

Các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam được phân thành hai loại chính: khu công nghiệp và khu chế xuất Đến tháng 5 năm 2005, Việt Nam đã có 71 khu, trong đó có 68 khu công nghiệp và 3 khu chế xuất Các khu công nghiệp tập trung này phân bố trên hơn 30 tỉnh thành trong cả nước với tổng số 3.351 doanh nghiệp, trong đó 50% thuộc sở hữu nước ngoài Có 640.000 lao động làm việc trong các khu công nghiệp Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp chiếm 16% tổng số cơ sở công nghiệp trong cả nước và 22% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp Từ năm 2000 đến 2005, phần đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp đã tăng từ 13,7% lên 26,4%, và mức đóng góp này vẫn đang tiếp tục tăng mạnh

Ngoài ra, hiện có thêm 52 khu công nghiệp đang được xây dựng, trong đó có 15 khu ở bốn tỉnh phía Nam Hầu hết các khu công nghiệp đều phân bố ở các vùng KTTĐ.19 Các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa

- Vũng Tàu, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh hiện có 38 khu công nghiệp, với 2.142 doanh nghiệp đang hoạt động và 432.000 lao động Số doanh nghiệp và lao động đang hoạt động trong các khu công nghiệp này chiếm 27% tổng số doanh nghiệp và 30% lao động công nghiệp của các tỉnh nêu trên Chính nhờ vào các khu công nghiệp mà miền Nam có mức đóng góp đáng kể và ngày càng tăng trong hoạt động công nghiệp của cả nước

19 Tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê không yêu cầu doanh nghiêp cung cấp thông tin về việc doanh nghiệp có đang hoạt động trong các khu công nghiệp hay không Do đó, không có thông tin chính xác trong cơ sở dữ liệu của TCTK về sự phân bố của các cơ sở công nghiệp trong các khu công nghiệp vào năm 2004 Điều này đã hạn chế việc phân tích tiềm năng hoạt động của các khu công nghiệp Thông tin về sự phân bố các cơ sở công nghiệp cần được bổ sung trong các cuộc điều tra trong tương lai.

Trang 27

1.4 Làng nghề

Nhiều sản phẩm công nghiệp được sản xuất từ các làng nghề gồm các sản phẩm thủ công; mỹ thuật; thêu; thực phẩm và đồ uống; lụa; may mặc và thuộc da; vật liệu xây dựng; tái chế giấy, nhựa, thuỷ tinh, kim loại.20 Chính phủ coi việc phát triển các làng nghề là một phần quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, tăng thu nhập hộ gia đình, nâng cao mức sống của các vùng nông thôn - nơi cư trú của khoảng 75% dân số Việt Nam.21Có 1.450 làng nghề trên cả nước, cung cấp hơn 10 triệu việc làm cho 29% lực lượng lao động ở nông thôn Tuy các làng nghề có mặt ở hầu hết các tỉnh, miền Bắc vẫn là nơi tập trung cao nhất với hơn 70% số làng nghề phân bố ở vùng đồng bằng sông Hồng

Một nghiên cứu gần đây (JICA, 2005) xác định được 2.017 làng nghề thủ công đang hoạt động Tuy nhiên, làng nghề trong nghiên cứu này được định nghĩa là làng có ít nhất 20% số hộ gia đình trong làng tham gia làm cùng một nghề thủ công hoặc thu nhập từ nghề thủ công này phải chiếm ít nhất 20% tổng thu nhập của cả làng Các làng nghề theo định nghĩa đó, hiện có 1,4 triệu hộ gia đình với 11 triệu người (Bộ NN & PTNT, 2005).22 Trong nghiên cứu của JICA, 63% số làng nghề phân bố ở miền Bắc Có một tỉ lệ lớn làng nghề sản xuất mây tre đan (35%), thêu và dệt (38%) và các sản phẩm từ gỗ (17%) Ước tính có khoảng 40.500

cơ sở hoạt động trong các làng nghề, khoảng 80% số cơ sở là sản xuất hộ gia đình với quy mô từ 1 đến 3 nhân công Năm

2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề đạt 40.000 tỉ đồng Tổng giá trị xuất khẩu đạt 562 triệu đô la Mặt hàng xuất khẩu chính gồm đồ gốm, các sản phẩm thủ công, mây tre, lụa, đồ thêu và các sản phẩm từ gỗ Thu nhập bình quân đầu người tại các làng nghề tiểu thủ công nghiệp cao gấp 5 lần so với các làng thuần nông

Hộp 1.2 Năm 2005 - Năm kỷ lục đối với các khu công

nghiệp ở Hà Nội

Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội cho

biết năm 2005 là một năm kỷ lục cả về số dự án đầu tư mới

và doanh thu từ xuất khẩu Theo đó, tổng giá trị xuất khẩu

của các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp

đạt 834 triệu đô la năm 2005, tăng 63% so với cùng kỳ năm

ngoái

Hà Nội có 4 khu công nghiệp và khu chế xuất chính là Sài

Đồng B, Thăng Long, Nội Bài và khu công nghiệp Hà Nội

- Đài Loan Thành phố cũng có 8 cụm công nghiệp nhỏ

hơn, trong số đó có các cụm Vĩnh Tuy, Phú Thụy, Từ Liêm

và Đông Anh Theo ông Nguyễn Văn Việt, Phó trưởng ban

thường trực Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất

Hà Nội, năm 2005 các khu công nghiệp đã thu hút 19 dự

án mới (hầu hết đều có quy mô tăng gấp đôi so với các dự

án của năm trước đó) với tổng số vốn đăng ký là 152 triệu

đô la Ông Việt cũng cho biết rằng nhiều doanh nghiệp

hiện đang hoạt động trong khu công nghiệp đã nộp đơn

đến Ban quản lý xin tăng tổng số vốn đầu tư, tổng cộng

lên tới 153 triệu đô la, tăng 25% so với năm trước Doanh

thu của các doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu

công nghiệp và khu chế xuất Hà Nội tăng 48%, đạt 1,2 tỉ

đô la, nộp thuế 25 triệu đô la (theo Vietnam News, ngày

20/1/2006)

Các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, thành

phố Hồ Chí Minh hiện có 38 khu công nghiệp, với 2.142

doanh nghiệp đang hoạt động và 432.000 lao động Số

doanh nghiệp và lao động đang hoạt động trong các khu

công nghiệp này chiếm 27% tổng số doanh nghiệp và

30% lao động công nghiệp của các tỉnh nêu trên Chính

nhờ vào các khu công nghiệp mà miền Nam có mức đóng

góp đáng kể và ngày càng tăng trong hoạt động công

nghiệp của cả nước

Nguồn: Các tác giả

20 Giá trị sản lượng và thu nhập bình quân năm từ các làng nghề phi nông nghiệp chiếm hơn 50% tổng giá trị sản lượng và thu nhập bình quân năm của các làng nghề trên cả nước; doanh thu hàng năm đạt thấp nhất là 300 triệu đồng; số hộ gia đình và người lao động làm việc thường xuyên hoặc tạm thời, trực tiếp hoặc không trực tiếp tại các làng nghề phi nông nghiệp chiếm ít nhất 30% tổng số hộ gia đình và số lao động tại các làng nghề trong cả nước; hoặc ít nhất 300 người tham gia hoạt động tại các làng nghề.

21 Báo cáo của Viện Môi trường Hàn Quốc (2003), Quản lý môi trường vùng tại các làng nghề truyền thống ở Việt Nam.

Trang 28

Việt Nam rất chú trọng phát triển nông thôn và theo hướng phân cấp

mạnh, trong đó phát triển các làng nghề được coi là phương tiện để thực

hiện chính sách công nghiệp hóa nông thôn Quyết định số

132/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ đã khuyến khích các làng nghề đa dạng

hoá sản phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến kết hợp với kỹ năng truyền

thống Nghị quyết số 14/NQ-TW cũng được Quốc hội ban hành nhằm

tạo điều kiện, thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân, đặc biệt là các làng

nghề Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi

và ưu đãi nhằm phát triển sản xuất công nghiệp phục vụ xuất khẩu, chế

biến nông sản và các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp Các chính sách hỗ

trợ đặc biệt bao gồm:

n Chính sách về đất đai Nhìn chung, luật và chính sách về

đất đai tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình

và các cá nhân thuê đất trong một thời gian dài Người sử

dụng đất có 5 quyền cơ bản: định đoạt, sử dụng, chuyển

nhượng, thừa kế, hoặc cho thuê Quyết định số 132/2000/

QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ khẳng định các cơ sở tiểu

thủ công nghiệp ở nông thôn sẽ được ưu đãi thuê đất với giá

thấp nhất;

n Chính sách đầu tư Chính sách đầu tư cho hoạt động kinh

tế của các làng nghề hướng vào việc phát triển cơ sở hạ tầng

hoặc hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp địa phương và phát

triển ngành nghề ở vùng nông thôn thông qua các công cụ

tài chính và tín dụng Nhìn chung, chính sách đầu tư của

Chính phủ cho các làng nghề là nhằm tạo môi trường thuận

lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp ở vùng nông thôn

hoặc nhằm khởi động sự phát triển làng nghề

n Chính sách tín dụng Nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ phát

triển các làng nghề, chính phủ đã ban hành chính sách tín

dụng ưu đãi với nhiều hình thức cho vay ưu đãi khác nhau (ví

dụ, Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ban hành quy chế

thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng

cho doanh nghiệp nhỏ và vừa) Gần 33% số hộ gia đình ở

nông thôn đã có thể tiếp cận với các nguồn tín dụng từ các

tổ chức tài chính;

n Chính sách thuế Với Luật thuế giá trị gia tăng ban hành theo

Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg và các văn bản pháp luật khác, chính sách thuế có những điều khoản hỗ trợ ưu đãi đối với việc phát triển ngành nghề nông thôn và các làng nghề Về

cơ bản, chính sách thuế đã hỗ trợ cho các hoạt động thương mại và phát triển của các làng nghề;

1.5.Mục tiêu tăng trưởng của ngành công nghiệp Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (KHPTKTXH) đã đề ra những mục tiêu và dự kiến phát triển ngành công nghiệp trong giai đoạn

2006 - 2010, định hướng đến năm 2020 Việt Nam dự tính sẽ trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Những nội dung cơ bản của Kế hoạch sẽ được tóm tắt trong phần này Đến năm 2020, đóng góp của công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên 45% GDP so với 42% như hiện nay.23 Để đạt được mục tiêu này, giá trị sản lượng công nghiệp phải tiếp tục tăng 15 - 16%/năm Nếu đạt được mục tiêu này, thu nhập bình quân đầu người sẽ đạt từ 730 đến 800 đô la vào năm 2010 và đạt 1.600 – 1.800 đô la vào năm

2020 Mục tiêu tổng quát giai đoạn 2006-2010 là thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nhằm tăng GDP bình quân đầu người và xoá đói giảm nghèo Các mục tiêu cụ thể của ngành công nghiệp trong KHPTKTXH 2006-2010 gồm:

n Thép Dự báo nhu cầu về thép đến năm 2010 sẽ đạt 12 triệu

tấn, với tỉ lệ tăng bình quân năm từ 7,5 - 8% Để đảm bảo cân đối nhu cầu, sản xuất thép nội địa phải đạt 9 triệu tấn và phôi thép đạt 4 triệu tấn vào năm 2010

n Xi măng Sản xuất xi măng tăng 15%/năm, đạt 50 triệu tấn

vào năm 2010 so với 32 triệu tấn như hiện nay

n Giấy Đầu tư một số dự án sản xuất giấy và bột giấy nhằm

thay thế nhập khẩu bột giấy; sản lượng bìa các tông và bao

bì các loại dự kiến đạt 1,2 triệu tấn vào 2010

n Phân bón và hoá chất Mục tiêu là đảm bảo tự cung cấp

đủ phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp Ước tính, đến năm 2010, sản xuất phân bón trong nước sẽ đáp ứng được 70-75% nhu cầu phân u rê và 100% nhu cầu về phân lân.24

23 Bộ CN, Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 Hà Nội.

24 Để đạt được chỉ tiêu này, mục tiêu của Chính phủ là hoàn thiện và đưa vào vận hành dự án Ninh Bình vào năm 2008 Dự án này sẽ cung cấp 560.000 tấn phân lân chế biến từ bột than Đồng thời, tiến hành xây dựng và hoàn thiện nhà máy sản xuất phân bón Cà Mau và DAP với công suất tương ứng là 800.000 và 330.000 tấn/năm

Trang 29

n Dệt may Mục tiêu là sản xuất 1.100 triệu mét vuông vải

các loại và 1.500 triệu sản phẩm may mặc các loại; kim

ngạch xuất khẩu đạt 10 tỉ đô la vào năm 2010 Để đạt mục

tiêu này cần thay đổi cơ cấu sản xuất, tăng đáng kể giá trị

gia tăng của hàng hoá, tăng tỉ lệ nội địa hoá trong sản xuất

hàng xuất khẩu

n Da giày Mục tiêu là hiện đại hoá sản phẩm da giày, đa dạng

hoá nguồn da các loại, tăng tỉ lệ sử dụng nguyên liệu địa phương

nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu Trong 5

năm tới, cần tập trung đầu tư cải thiện chất lượng và kiểu dáng

sản phẩm thông qua ứng dụng các phần mềm thiết kế và may

mặc, v.v ; đa dạng hoá sản phẩm cũng như thiết kế; đổi mới một

phần hoặc toàn bộ dây chuyền sản xuất

n Nhựa Mục tiêu là đáp ứng nhu cầu trong nước về hàng tiêu

dùng và bao bì nhựa, liên kết giữa ngành công nghiệp hoá

dầu với sản xuất nguyên liệu đầu vào phục vụ cho ngành

công nghiệp chế biến nhựa

n Bia, rượu và nước giải khát Ưu tiên của ngành là nâng cao

công suất sản xuất nước hoa quả và nước khoáng, mở rộng các

nhà máy sản xuất bia hiện có, nâng công suất lên 2,5 tỉ lít vào

năm 2010

n Cơ khí Mục tiêu chung là đạt tốc độ tăng trưởng bình

quân năm 18 - 20% Để đạt được chỉ tiêu này, cần (a) tập

trung sản xuất các sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị

trường, đặc biệt là những sản phẩm phục vụ nông nghiệp,

nông thôn như ô tô loại nhỏ, máy bơm nước, máy kéo, máy

gặt, thiết bị dùng trong chế biến thuỷ sản và nông sản; (b)

sản xuất máy móc dùng trong ngành xây dựng, đóng tàu,

sản xuất ô tô, xe máy; (c) tiến hành nghiên cứu, thiết kế và

sản xuất thiết bị, phụ tùng cho ngành xi măng, giấy, điện,

phân bón, công nghiệp hoá chất, dần thay thế hàng nhập

khẩu; và (d) đáp ứng 35% nhu cầu trong nước về máy móc

hạng nặng

Một số ngành công nghiệp được ưu tiên của Việt nam là những

ngành có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường Hiển nhiên, việc mở

rộng phát triển của những ngành này chắc chắn sẽ làm gia tăng

đáng kể ô nhiễm nếu không chú trọng đến sản xuất sạch hơn cũng

như áp dụng các công nghệ giảm thiểu ô nhiễm

Các vùng KTTĐ

Tập trung mở rộng, phát triển ngành công nghiệp và xây dựng, giảm dần tỷ trọng của các ngành nông - lâm - thủy sản là mục tiêu phát triển của tất cả các vùng trên cả nước Đến 2010, vùng KTTĐ phía Bắc phấn đấu đạt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 11%/năm, và nhờ vậy sẽ đóng góp 20% GDP cả nước (so với 18% như hiện nay) với việc chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng công nghiệp hoá Tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 16%/năm giai đoạn 2006-2010 Đến 2010, công nghiệp chiếm 45% trong cơ cấu nền kinh tế toàn vùng (so với mức 41% của năm 2004), và dịch vụ là 50% (so với mức 45% của năm 2004) Trong công nghiệp, sẽ ưu tiên phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chứa nhiều chất xám (như phần mềm), sản phẩm kỹ thuật điện và điện tử, thiết bị và máy móc, thép và đóng tàu, than, xi măng và vật liệu xây dựng chất lượng cao, chế biến thực phẩm, dệt may và da giày Dự báo, tỷ lệ đô thị hoá của toàn vùng là 53% vào năm 2010 và 65% vào năm 2020 so với 31% như hiện nay

Chỉ tiêu đề ra với vùng KTTĐ miền Trung là tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 18%/năm, nâng GDP bình quân đầu người từ 400 đô la như hiện nay lên 1.337 đô la vào năm 2010 Đến 2010, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong nền kinh tế toàn vùng phấn đấu đạt 41% (tăng đáng kể so với mức 34% của năm 2004); tỷ trọng của dịch vụ là 46% (so với 39% năm 2004); và của nông - lâm - thủy sản là 13% (giảm đáng kể so với mức 27% của năm 2004) Đối với công nghiệp và xây dựng của vùng này, sẽ ưu tiên phát triển các khu kinh tế (như khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế - thương mại Chân Mây và khu kinh tế Nhơn Hội vào 2010); hoàn thiện và khai thác hiệu quả 9 khu công nghiệp trong vùng; xây dựng và phát triển nhà máy lọc dầu cũng như công nghiệp hoá chất và hóa dầu

Đối với vùng KTTĐ phía Nam, để phát triển công nghiệp, chính quyền các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Thuận, Tây Ninh, Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành nghị quyết về tăng cường hợp tác, chuyên môn hoá các khu công nghiệp trên toàn vùng Nghị quyết này khẳng định sẽ tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như

Trang 30

khai thác dầu khí, sản xuất điện, phân bón, công nghệ thông tin, cơ

khí, chế biến nông lâm sản, và thực phẩm Các tỉnh này sẽ tập trung

củng cố phát triển các khu công nghiệp và hạn chế xây dựng những

nhà máy đòi hỏi nhiều lao động trong khu vực đô thị

Để tránh sự phát triển chồng chéo và không cân bằng giữa các tỉnh

trong vùng, mỗi tỉnh sẽ tập trung phát triển những ngành mũi nhọn

của mình Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ưu tiên phát triển ngành gia

công kim loại, chế tạo máy, điện tử, công nghệ thông tin và hoá

chất Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ tập trung khai thác dầu khí và lọc

dầu, sản xuất thép cán, năng lượng và vật liệu xây dựng Tỉnh Đồng

Nai ưu tiên phát triển ngành chế biến nông sản, khai khoáng, dệt, da

giầy và các dịch vụ hỗ trợ công nghiệp Từ nay đến năm 2010, tốc

độ tăng trưởng công nghiệp của vùng KTTĐ phía Nam phấn đấu đạt

17,5%/năm Giá trị sản lượng công nghiệp của các tỉnh thuộc vùng

này thường xuyên chiếm 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của

cả nước Năm 2005, xuất khẩu của vùng chiếm 80% tổng kim ngạch

xuất khẩu của cả nước Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết

định ban hành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng KTTĐ phía

Nam đến 2010 và định hướng đến 2020 Trong kế hoạch này, đến

năm 2010, GDP của vùng phấn đấu tăng ít nhất 2,5 lần so với năm

2000, và đến năm 2020 sẽ tăng 2,3 - 2,5 lần so với năm 2010 Tốc

độ tăng giá trị xuất khẩu dự kiến sẽ cao gấp 2 lần so với tốc độ tăng

trưởng GDP

Các khu công nghiệp

Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp là chính sách quan

trọng trong công cuộc công nghiệp hoá ở Việt Nam25 Bộ Kế hoạch

và Đầu tư đang xây dựng chiến lược phát triển các khu công nghiệp

giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến 2020.26 Theo bản kế hoạch

này, đến năm 2010, các khu công nghiệp trên cả nước sẽ thu hút

thêm 2.450 dự án đầu tư mới, tạo thêm 2,5 triệu việc làm cho người

lao động, tốc độ tăng trưởng đạt hơn 20%/năm Giá trị sản lượng

công nghiệp của các nhà máy trong các khu công nghiệp dự kiến sẽ tăng 17,7%/năm giai đoạn 2006 - 2010, đạt 30 tỉ đô la vào 2010 Phấn đấu đến 2010, các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp sẽ đóng góp 35% vào tổng giá trị sản lượng công nghiệp so với mức 26% như hiện nay, và chiếm 32% tổng giá trị xuất khẩu so với mức hiện tại là 19%

tư sản xuất đồ sứ

1.6 Hội nhập quốc tế và Phát triển ngành công nghiệp Việt Nam

Tự do hoá thương mại và thúc đẩy xuất khẩu là luôn được xem như tâm điểm của suốt tiến trình chuyển dịch nền kinh tế và công nghiệp hoá nhanh của Việt Nam Việt Nam hiện đang theo đuổi chính sách ngoại giao đa phương nhằm dỡ bỏ từng bước các rào cản thương mại và tăng cường định hướng kinh tế ra thị

25 Ở Việt Nam, thuật ngữ cụm công nghiệp được sử dụng để chỉ những khu vực hoặc cụm công nghiệp không chính thức có mật độ tập trung cao Còn thuật ngữ khu công nghiệp được chính quyền và các tổ chức quốc tế sử dụng rộng rãi để nói về những khu vực đặc biệt được thiết lập nhằm phục vụ cho các nhà máy hoạt động trong ngành công nghiệp Các khu công nghiệp này có các ban quản lý và được ngăn bằng tường với khu vực xung quanh.

26 Bộ KH&ĐT (2005), “Định hướng phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến 2020 - Mục tiêu và kế hoạch thực hiện giai đoạn 2006 - 2010”

Trang 31

trường quốc tế Cam kết tự do hoá thương mại của Chính phủ là

động lực mở rộng và ký kết các thoả thuận thương mại song

phương và đa phương Trong Hiệp định Khu vực Thương mại Tự

do ASEAN (AFTA, 1995), biểu thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN

đã giảm xuống dưới 20% và mục tiêu là dưới 5% vào năm 2006

Trong Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ

(USBTA, 2001), Việt Nam đã đưa ra những cam kết quan trọng và

lâu dài như giảm thuế và xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu Những

cam kết đổi mới về thương mại khác của Việt Nam trong USBTA

gồm có tăng tính minh bạch trong luật thương mại, hướng dẫn

các thủ tục giải quyết tranh chấp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và

tạo môi trường đầu tư tốt USBTA cũng tạo ra môi trường thuận

lợi cho hoạt động xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá

của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng 128%, chiếm 82% tổng kim ngạch

xuất khẩu năm 2002 Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu

lớn nhất của Việt Nam (IMF, 2003) Cán cân xuất nhập khẩu của

Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể trong thời gian này

Trong khi tỉ trọng của xuất khẩu dầu thô giảm từ 1/3 vào đầu

những năm 90 xuống còn 1/5 vào năm 2002, thì xuất khẩu các

hàng hoá khác tăng từ 6% lên 32% Thị trường xuất khẩu của

Việt Nam cũng được đa dạng hoá Việt Nam ngày càng ít phụ

thuộc vào xuất khẩu dầu thô, Nhật Bản và Xingapo không còn là

những thị trường quan trọng nhất Các nước thuộc cộng đồng

Châu Âu và Hoa Kỳ hiện là thị trường nhập khẩu chính các cho

hàng công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam như hàng dệt

may và giầy dép

Dự kiến, tăng trưởng kinh tế sẽ diễn ra nhanh chóng hơn khi Việt

Nam gia nhập WTO.27 Nhìn chung, biểu thuế đối với hàng hoá nhập

khẩu vào Việt Nam sẽ giảm trung bình từ 18% xuống 12,5%, điều

đó làm cho việc xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến, chế tạo vào

Việt Nam tăng thêm sức cạnh tranh Thêm vào đó, các khoản trợ

cấp và ưu đãi về thuế của chính phủ Việt Nam đối với công nghiệp

trong nước sẽ bị cấm hoặc bị loại bỏ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.28 Hầu hết các lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ hiện nay sẽ đều phải loại bỏ Trong khi Việt Nam gặp nhiều thuận lợi hơn khi tiếp cận với thị trường thế giới, thì công nghiệp trong nước cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn , đặc biệt là đối với các loại hàng hóa dưới đây:

n Hoá chất, mỹ phẩm và dược phẩm Việt Nam cam kết

giảm thuế tới mức thuế hài hòa đối với 80% các sản phẩm hoá chất theo Hiệp định về quy chế hài hòa hóa các sản phẩm hóa chất Thuế nhập khẩu hàng mỹ phẩm sẽ giảm từ 44% xuống còn 17,9% khi Hiệp định này được thực hiện đầy đủ và thuế nhập khẩu dược phẩm sẽ giảm xuống 2,5% trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO

n Phụ tùng ô tô, xe máy Thuế đánh trên phụ tùng ô tô sẽ

giảm 19% xuống còn 13% Việt Nam sẽ giảm 56% thuế nhập khẩu cho các loại xe mô tô phân khối lớn và 32% thuế nhập khẩu phụ tùng xe máy khi thực hiện đầy đủ cam kết

n Thiết bị nông nghiệp và xây dựng Việt Nam sẽ giảm

thuế xuống còn 5% hoặc thấp hơn cho gần 90% dòng thuế thuộc mặt hàng này

n Các sản phẩm gỗ Mức thuế trung bình cho các sản phẩm

gỗ là xấp xỉ 4% khi VN chính thức trở thành thành viên WTO

n Hàng dệt may Xoá bỏ hạn ngạch xuất khẩu đối với hàng

dệt may Việt Nam Chính phủ Việt Nam cũng cam kết xoá bỏ khoản trợ cấp 4 tỉ đô la cho ngành này trong vòng 5 năm tới Thuế nhập khẩu của mặt hàng dệt may vào Việt Nam cũng sẽ giảm còn 10 - 15% so với mức 40 - 50% như hiện nay

n Sắt và phế liệu kim loại Việt nam sẽ giảm thuế xuất khẩu

mặt hàng này xuống còn 51% so với mức hiện nay trong 5 -

7 năm tới

n Các sản phẩm công nghệ thông tin: Khi gia nhập WTO,

27 Việc kết nạp Việt Nam được Uỷ ban thường trực của WTO thông qua ngày 7 tháng 11 năm 2006 Xem thêm Thoả thuận Việt - Mỹ về WTO ký kết ngày 3/5/2006 (được Văn phòng đại diện thương mại Mỹ, Chánh văn phòng của Tổng thống Mỹ công bố)

28 Ví dụ, Nghị định 164 về Thuế thu nhập doanh nghiệp cho phép các công ty có lượng xuất khẩu chiếm trên 50% tổng giá trị hàng hoá tạo ra sẽ được áp dụng thuế suất 20% trong 10 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu và giảm 50% thuế trong 3 năm tiếp theo Các công ty xuất khẩu 100% sản phẩm sẽ được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, được miễn thuế trong 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 7 năm tiếp theo Chế độ tính thuế ưu đãi như vậy sẽ vi phạm thoả thuận của WTO về Các biện pháp trợ cấp và ưu đãi Bộ Tài Chính Việt Nam thừa nhận rằng, những ưu đãi xuất khẩu này sẽ phải giảm dần khi Việt Nam gia nhập WTO

Trang 32

Việt Nam sẽ tham gia Thoả thuận về Công nghệ Thông tin,

theo đó, thuế đánh trên các sản phẩm công nghệ thông tin

như máy tính, điện thoại di động sẽ bị loại bỏ;

Việc Việt nam gia nhập WTO cũng tác động đến các ngành nông

nghiệp và dịch vụ Mức thuế hiện nay áp dụng cho hàng nông sản

là 27% Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức, thuế đánh

vào hơn ¾ số mặt hàng nông sản của Mỹ xuất khẩu vào Việt Nam

sẽ giảm xuống còn 15% hoặc thấp hơn, khiến cho các mặt hàng

nông sản nhập khẩu vào Việt Nam sẽ có tính cạnh tranh cao hơn

Việc gia nhập WTO cũng sẽ tác động đến hoạt động thương mại

quốc tế của Việt Nam cả về số lượng và cơ cấu khi phải đơn giản

hoá các hình thức kiểm soát nhập khẩu, giảm mức độ bảo hộ

nhập khẩu, giảm hoặc loại bỏ các hình thức ưu đãi cho ngành

công nghiệp, nông nghiệp và trợ cấp xuất khẩu Là thành viên

WTO, Việt Nam sẽ tham gia vào quá trình tái phân bố toàn cầu đối

với các loại hàng hoá đầu vào như đất đai, lao động, vốn và tài

nguyên thiên nhiên Điều này cũng sẽ thúc đẩy quá trình cơ cấu

lại toàn bộ nền kinh tế của Việt Nam trong đó có cơ cấu lại ngành

công nghiệp Cụ thể là, Việt Nam có khả năng tăng đáng kể lượng

hàng hoá xuất khẩu, do đó tạo điều kiện cho các ngành liên quan

đến xuất khẩu mở rộng và phát triển Tuy nhiên, dựa vào những

lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, các ngành sau đây sẽ có thể phải

điều chỉnh trong thời gian ngắn hạn hoặc trung hạn:

n Các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều lao động như sản xuất

hàng thủ công, dệt may có thể mở rộng hơn nữa (tương tự

như ở kịch bản khi Việt Nam không gia nhập WTO) Tuy

nhiên, ưu điểm cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành này

(đặc biệt là ngành dệt may) sẽ có thể bù đắp lại những tổn

thất khi gỡ bỏ sự bảo hộ hiện tại Những doanh nghiệp hiện

đang phụ thuộc nhiều vào sự ưu đãi của nhà nước cần hợp lý

hoá hoạt động nhằm thu được những lợi ích mà việc gia

nhập WTO mang lại Tuy nhiên, nhiều khả năng sẽ có những

doanh nghiệp không làm được điều này

n Một số ngành sử dụng nhiều đất đai như đồn điền trồng cây công nghiệp, trồng ngũ cốc và chăn nuôi theo kiểu truyền thống sẽ có thể bị giảm bớt Điều này sẽ xãy ra khi Việt nam thực hiện chính sách công nghiệp hoá nông thôn

n Các ngành cần nhiều vốn và ngành dịch vụ như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, môi giới, du lịch, bất động sản và giáo dục có thể sẽ tăng lên đáng kể

Những thay đổi về nội dung và cách thức công nghiệp hoá chắc chắn sẽ diễn ra một cách từ từ trong thời gian dài Trong 5 đến 10 năm tới, ở hầu hết các ngành, trừ ngành dệt may, có thể vẫn chưa xóa bỏ ngay chế độ ưu đãi về thuế nhập và xuất khẩu mà sẽ chỉ giảm dần Đồng thời, việc tham gia AFTA và ký kết USBTA cũng tạo điều kiện để Việt Nam tiến hành cải cách hệ thống thuế xuất nhập khẩu và hệ thống phi thuế quan của mình Với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ đẩy nhanh tiến trình cải cách này; tuy nhiên không nên đánh giá thấp quy mô và tầm quan trọng của những thách thức ở phía trước, bởi vì có một loạt những trở ngại sẽ có thể tác động tới khả năng đối phó với thách thức của Chính phủ Việt Nam

Như KHPTKTXH 2006-2010 đã nêu, bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu Về tổng thể, khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam còn hạn chế và yếu do năng suất thấp, trình độ công nghệ thấp và lạc hậu, chi phí sản xuất cao.29Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thấp Vì sự hoạt động thiếu hiệu quả này, các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tổng công ty lớn vẫn đang được hưởng các đặc quyền về sử dụng đất, vốn, và nhiều hình thức miễn giảm thuế và trợ cấp khác nhau Quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm và đối tượng thực hiện mởi chỉ dừng ở các doanh nghiệp có số vốn

ít Các tổng công ty lớn, đang sở hữu hàng trăm doanh nghiệp vẫn nằm trong tay Nhà nước Mặc dù năng động và có vai trò ngày càng cao trong nền kinh tế, khu vực tư nhân hiện vẫn chỉ đang sở hữu

29 Theo kết quả so sánh và đánh giá các dữ liệu năm 2004 - 2005, chỉ số cạnh tranh về kinh doanh của Việt Nam đứng thứ 79 trên tổng số 103 quốc gia, chỉ số cạnh tranh chung của Việt Nam (GCI) xếp thứ 77 trên tổng số 104 nước Trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức thấp Thậm chí lĩnh vực công nghệ thông tin - là lĩnh vực phát triển nhanh nhất ở Việt Nam cũng chỉ xếp thứ 68 trên 102 quốc gia Chỉ số tham nhũng của Việt Nam xếp thứ 102 trên 144 do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố đã phản ánh sự nghiêm trọng của vấn đề này Về chiến lược và hoạt động kinh doanh, cũng như môi trường kinh doanh chung của quốc gia, Việt Nam cũng xếp hạng sau các nước trong khu vực như Trung Quốc, Philipin, Inđônêxia, Malaixia và Thái Lan; đồng thời cũng kém xa Hàn Quốc và Xingapo

Trang 33

những doanh nghiệp vừa và nhỏ với khả năng tiếp cận hạn chế tới

các nguồn vốn để đầu tư đổi mới công nghệ Cuối cùng, cơ cấu

cung ứng nguồn lao động ở Việt Nam cũng không phù hợp với một

nền công nghiệp tiên tiến, bởi vì phần lớn lực lượng lao động Việt

Nam chưa được đào tạo đầy đủ mức yêu cầu và còn rất thiếu lao

động có trình độ tay nghề cao

1.7 Tóm tắt

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng; dân số cũng

như hoạt động kinh tế lại tập trung ở một số ít vùng địa lý Đặc biệt, vùng

KTTĐ phía Nam có tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá rất nhanh Chỉ

riêng vùng này đã đóng góp gần 55% giá trị sản lượng công nghiệp của

Việt Nam Đồng thời, ở Việt Nam đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ

bản về cơ cấu kinh tế, chuyển từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông - lâm

- thủy sản sang dựa vào công nghiệp và dịch vụ Xu hướng này sẽ được

tiếp tục phát huy nhờ quá trình hội nhập kinh tế thế giới Cuối cùng, sự

đóng góp của khu vực tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài cho nền

kinh tế đang tăng nhanh, và đặc biệt đóng góp của vùng KTTĐ phía Nam

cao hơn so với vùng KTTĐ phía Bắc và vùng KTTĐ miền Trung Quá trình

phát triển gần đây phản ánh sự chuyển đổi từng bước và vững chắc vai

trò, trách nhiệm và chức năng của Chính phủ từ chủ sở hữu trở thành

người giữ vai trò thúc đẩy và điều tiết nền kinh tế Nếu sự thay đổi này bền

vững, nó sẽ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động quản lý môi trường

trong ngành công nghiệp

Việt Nam đang theo đuổi chính sách đẩy mạnh công nghiệp hoá,

trong đó cả ở khu vực nông thôn, và coi đó như là phương tiện

nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội Trong khi thực hiện

chính sách này, việc phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo có

tầm quan trọng, nhưng cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm công

nghiệp

Thứ nhất, các ngành thực phẩm và đồ uống, may mặc, thuộc da và đồ da,

gỗ và các sản phẩm từ gỗ, các sản phẩm từ kim loại, đồ nội thất là những

ngành công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chiếm 65% lực lượng

lao động và 57% tổng số doanh nghiệp công nghiệp trong cả nước

Thứ hai, về phân bố địa lý, hầu hết hoạt động công nghiệp tập trung

ở 5 tỉnh, thành phố lớn - Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,

Đồng Nai ở phía Nam; và Hà Nội, Hải Phòng ở phía Bắc Có tới 63% lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 54,7% số doanh nghiệp công nghiệp của cả nước hoạt động tại 5 tỉnh này Đà Nẵng tuy là khu vực công nghiệp hoá quan trọng nhất ở miền Trung, nhưng có quy mô công nghiệp nhỏ hơn nhiều so với 5 tỉnh thành nói trên

Thứ ba, hơn 80% hoạt động công nghiệp tập trung tại 3 vùng kinh tế trọng điểm Hai vùng KTTĐ phía Bắc và phía Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh theo chiều sâu quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá Còn vùng KTTĐ miền Trung đang thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu từ nông - lâm - thủy sản sang công nghiệp, đặc biệt sẽ tập trung phát triển ngành lọc dầu kết hợp với công nghiệp hoá chất và hoá dầu

Thứ tư, mặc dù tỉ lệ lấp đầy diện tích còn ở mức tương đối thấp, các khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu của Việt Nam Theo dự kiến, sẽ có thêm 4.000 doanh nghiệp mới trong các khu công nghiệp hiện có hoặc các khu đang được xây dựng Hi vọng đến năm 2010 sẽ có 35% số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo nằm trong các khu công nghiệp Hầu hết những khu công nghiệp này đều tập trung ở miền Nam Thứ năm, làng nghề thủ công là phương tiện chính nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hoá và nâng cao thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn Thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ, các làng nghề thủ công sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng Hầu hết các làng nghề tập trung ở miền Bắc

Cuối cùng, việc Việt nam gia nhập WTO sẽ thúc đẩy hơn nữa tiến trình công nghiệp hoá, làm cho công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong khi giảm bớt tỷ trọng nông nghiệp Việc loại bỏ dần dần các biện pháp kiểm soát xuất nhập khẩu, giảm thuế, cũng như từ bỏ trợ cấp xuất khẩu sẽ từng bước dẫn tới phân bố lại các nguồn lực (đất đai, lực lượng lao động và vốn) sang các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh ở khu vực và quốc tế Ngoài những

xu hướng này, cũng có thể sẽ có những biến động bất ngờ gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở cấp độ địa phương như việc đóng cửa các cơ sở công nghiệp không có khả năng cạnh tranh hiệu quả

ở khu vực hay toàn cầu

Trang 34

Ngành công nghiệp Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trong

thập kỷ vừa qua và sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh như vậy trong thập

kỷ tới Năm 2005, khu vực công nghiệp tư nhân tăng trưởng 20%,

khu vực nhà nước tăng trưởng 9% Sản lượng sắt, thép, xi măng,

gốm sứ tăng từ 16% đến 32%/năm Việc các cơ sở công nghiệp chỉ

tập trung ở một số ít vùng vừa là cơ hội cũng vừa là yếu tố bất lợi đối

với công tác quản lý môi trường Sự phát triển các khu công nghiệp

và làng nghề đã tạo nên nhiều điểm tập trung sản xuất mới, được

phân cấp quản lý, có quy mô sản xuất nhỏ và mức độ ô nhiễm

cao

Mặc dù các nhà máy mới thành lập đã ứng dụng những công nghệ

tiên tiến, nhưng phần lớn các nhà máy đang hoạt động hiện nay đều

không hoặc rất ít đổi mới công nghệ, việc này cũng sẽ vẫn tiếp tục

diễn ra trong 5 năm tới Chỉ một phần tương đối nhỏ trong 15%

tăng truởng trung bình năm của ngành công nghiệp trong 5 năm tới

là do sản xuất sạch đóng góp, do đó tải lượng ô nhiễm sẽ còn tiếp

tục tăng Thêm vào đó, số lượng và chủng loại các hoá chất độc và

kim loại nặng gây ô nhiễm cũng vẫn sẽ tiếp tục tăng nhanh chóng

khi sản xuất công nghiệp ngày càng đa dạng và tăng về lượng Xu

hướng này đang tạo ra những vấn đề lớn cho công tác quản lý của

ngành công nghiệp và của Chính phủ Phải áp dụng ngay các biện

pháp phòng ngừa, vì chi phí cho quan trắc và xử lý ô nhiễm rất cao

Hiện nay, các biện pháp quản lý đã đạt được những thành công nhất

định ở một số trường hợp nhưng chưa đủ rộng để làm giảm ô

nhiễm công nghiệp trên phạm vi toàn quốc Có lẽ cũng phải mất ít

nhất 5 năm nữa mới tiến tới thời điểm khi mà các biện pháp đổi mới

về công nghệ và quản lý thực sự có hiệu quả trong việc giảm thiểu

ô nhiễm công nghiệp trên bình diện rộng Với cơ chế đầu tư và phân

bố tài nguyên như hiện nay, tình hình ô nhiễm sẽ ngày càng nghiêm

trọng hơn Quan trọng hơn, xét trên góc độ quản lý, trong thập niên

tới chắc sẽ không có sự thay đổi lớn về thứ hạng xếp bậc của các

ngành công nghiệp xét theo mức độ phát thải ô nhiễm

2.1 Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp

Số liệu ước tính về mức độ ô nhiễm được trình bày trong báo cáo

này là kết quả ứng dụng Mô hình dự báo ô nhiễm công nghiệp

(IPPS) Mô hình này (được giới thiệu và nêu chi tiết trong Phụ lục A) tổng hợp dữ liệu về lượng phát thải ô nhiễm để tính toán các tác nhân gây ô nhiễm (hoặc các hệ số ô nhiễm) trên một đơn vị hoạt động công nghiệp

Kết quả tính toán ban đầu cho thấy có thể áp dụng phương pháp này trong tương lai để xây dựng chương trình hành động ưu tiên về xử lý ô nhiễm công nghiệp một cách hệ thống hơn Trong phần này, sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp và xếp hạng để sắp xếp thứ tự

ưu tiên giữa các ngành, từ cấp quốc gia đến cấp địa phương Việc xếp hạng các ngành theo mức độ gây ô nhiễm sẽ được tiến hành bằng cách so sánh mức độ gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất từ cao nhất đến thấp nhất dựa vào chỉ số ô nhiễm chung

Để đánh giá ô nhiễm, có sử dụng phương pháp ‘xếp chồng’ các lớp thông tin, nhờ đó có thể so sánh nồng độ ô nhiễm phân bố theo vùng địa lý với thông tin về dân số, kinh tế và điều kiện tự nhiên của vùng Cách tiếp cận chung dùng trong báo cáo này cho thấy rằng có thể sử dụng số liệu ước tính để phác họa bức tranh tổng thể về các loại hình ô nhiễm, nguồn gây ô nhiễm và phân bố ô nhiễm Đây là một công cụ cần thiết cho các cơ quan quản lý công nghiệp và môi trường nhằm xác định các hoạt động ưu tiên, sử dụng hợp lý nguồn lực có hạn để giải quyết những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất Cuối cùng, xuyên suốt báo cáo này, khi phân tích các kết quả của IPPS, thứ tự sắp xếp biểu thị tải lượng ô nhiễm từ cao đến thấp, chứ không phải ngụ ý sắp xếp thứ tự cơ sở gây ô nhiễm hoặc khu vực bị ô nhiễm từ nghiêm trọng đến ít nghiêm trọng Tải lượng ô nhiễm cho biết một nhà máy hoặc một ngành thải ra hay một khu vực nhận vào một lượng ô nhiễm nhất định do các chất ô nhiễm cụ thể gây ra Tải lượng ô nhiễm ước tính theo IPPS được sử dụng như số liệu ước tính sơ bộ ban đầu về tình trạng ô nhiễm chung bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu tổng thể về công nghiệp đã có sẵn Nhưng càng đi sâu tính toán ô nhiễm cho một số nhà máy hoặc một số khu vực cụ thể thì càng phải chú ý sử dụng số liệu thực địa để kiểm tra lại xem số liệu ước tính về tải lượng ô nhiễm lấy từ mô hình có gần với giá trị thực hay không Trong một vài trường hợp, một nhà máy hoặc một xã phường có thể kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm rất hiệu quả

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM

Trang 35

2.2 Các chỉ số tải lượng ô nhiễm

Việc dùng chỉ số giúp cho người ta dễ dàng sắp xếp thứ tự ưu tiên

Nếu một ngành nào đó gây ô nhiễm môi trường nặng xét theo một

số chất gây ô nhiễm cụ thể, thì đồng thời cũng sẽ phải tập trung nỗ

lực cho chính ngành này để có thể khắc phục ngay những vấn đề ô

nhiễm cụ thể đó Trong báo cáo, đã ước tính chỉ số ô nhiễm riêng

cho từng loại hình môi trường không khí, đất và nước cũng như xác

định chỉ số ô nhiễm chung ở cấp quốc gia cho Việt Nam:

n Chỉ số ô nhiễm không khí được tính bằng giá trị trung bình

đơn giản của các chất gây ô nhiễm sau đây thải vào không

khí: SO2, NO2, chất hữu cơ bay hơi (VOC), PM10, tổng bụi

lơ lửng (TSP), các hoá chất và kim loại; trong đó các chất gây

ô nhiễm đều có trọng số như nhau

n Chỉ số ô nhiễm đất là giá trị tải lượng ô nhiễm trung bình của

hai loại chất gây ô nhiễm được mặc định trong IPPS; đó là

hoá chất độc hại và kim loại độc hại phát thải ra môi trường

đất

n Chỉ số ô nhiễm nước được tính bằng giá trị tải lượng ô nhiễm

trung bình của bốn loại chất gây ô nhiễm mặc định trong

IPPS; đó là hoá chất độc hại, kim loại độc hại phát thải ra

môi trường nước, nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD) và tải lượng

chất rắn lơ lửng (TSS)

n Chỉ số ô nhiễm chung được tính bằng giá trị trung bình

của ba chỉ số trên

Sau khi tính toán các chỉ số ô nhiễm, các kết quả sẽ được sắp xếp

theo thứ tự từ trên xuống dưới, có nghĩa là ngành có tải lượng ô

nhiễm cao nhất sẽ đứng ở vị trí đầu tiên; kết quả tính toán cũng được

chia làm bốn nhóm bằng nhau, tức là mỗi nhóm gồm ¼ số ngành, tính từ trên xuống dưới là nhóm cấp một, cấp hai, cấp ba và cấp bốn Sau khi sắp xếp và phân hạng theo 4 loại chỉ số ô nhiễm không khí, đất, nước và chung, nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích đối với từng loại hình chất gây ô nhiễm cho các ngành nhằm làm cho các chỉ số ô nhiễm tính toán được mang tính thích ứng nhiều hơn đối với việc phân tích thực tiễn Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng trình bày kết quả phân tích về mức độ ô nhiễm bởi các chất độc và nguy hại ở từng ngành

Bảng 2.1 trình bày thứ tự xếp hạng của 30 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tải lượng ô nhiễm cao nhất (có 32 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng số 129 ngành theo phân ngành cấp 4 của Việt Nam, VSIC-4) và trình bày kết quả tính toán chỉ số ô nhiễm chung dựa vào ba chỉ số ô nhiễm không khí, đất và nước Các ngành công nghiệp có tải lượng ô nhiễm cao nhất này cần được

ưu tiên chú ý trong kế hoạch quản lý ô nhiễm cấp quốc gia Các ngành này hiện đóng vai trò then chốt đối với nền kinh tế vì công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 66% tổng số lao động công nghiệp, đóng góp 52% doanh thu và có tổng số 9.413 doanh nghiệp Trong số doanh nghiệp gây ô nhiễm cao nhất có 644 doanh nghiệp nhà nước (chiếm 9%), 1.040 doanh nghiệp có vốn nước ngoài (11%) và 7.209 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 80%) Các cơ sở hoá chất là đối tượng chính gây ô nhiễm không khí, đất và nước Các cơ sở này chủ yếu là sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, dược phẩm, và một số hoá chất công nghiệp khác Đối tượng gây ô nhiễm môi trường công nghiệp tiếp theo là nhóm doanh nghiệp sản xuất kim loại như luyện kim, gia công, mạ kim loại và cơ khí chế tạo máy Thậm chí ngành tái chế kim loại cũng nằm trong danh sách 30 ngành gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất

Trang 36

Bảng 2.1 Xếp hạng của 30 ngành công nghiệp có chỉ số ô nhiễm cao nhất

Sản xuất Phân bón và hợp chất nitơ

Ghi chú: Ô nhiễm cấp thứ nhất được thể hiện bằng màu đỏ, cấp thứ hai là màu cam, cấp thứ ba là màu vàng và cấp thứ tư là màu nâu nhạt.

Nguồn: Các tác giả

Trang 37

Trong ngành chế biến thực phẩm, phân ngành chế biến thủy hải

sản được chú ý đặc biệt ở Việt Nam Sản phẩm của phân ngành

này gồm cá, tôm, mực, sò, các loại tảo và các hải sản khác được

làm mát, đông lạnh, sấy khô, hun khói và đóng hộp Ngoài ra còn

có các sản phẩm khác như dầu cá, nước mắm, gia vị và các món

cá chế biến sẵn Chế biến thủy hải sản hiện là một phân ngành

nổi bật với sản lượng lớn và gây ô nhiễm cao Không một phân

ngành chế biến thực phẩm nào gây ra những tác động xấu đến

môi trường như phân ngành chế biến thủy sản và các sản phẩm từ

thủy sản Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật (xếp thứ 24) và chế

biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt, bao gồm các lò mổ

(xếp thứ 31) cũng là những ngành gây ô nhiễm cao

Ngành thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da, đặc biệt là sản

xuất giầy dép, là nhóm ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi

trường đáng kể Các ngành sản xuất khác trong danh sách 30

ngành gây ô nhiễm cao nhất gồm có sản xuất giấy và bột giấy,

sản xuất các sản phẩm từ gỗ, đồ gỗ nội thất Những ngành chỉ có

một hoặc hai chỉ số ô nhiễm ở mức cao được xếp cuối của danh

sách này Ngành sản xuất bao bì bằng bìa có tải lượng ô nhiễm

nước thải cao nhưng không gây ô nhiễm nhiều đến môi trường

không khí và đất Tương tự, các ngành sản xuất gốm sứ, xi măng,

vôi, thạch cao, dầu mỡ động thực vật, xà phòng và các chất tẩy

rửa, các thiết bị điện và hoá dầu là những ngành gây ra những tác

động ô nhiễm môi trường khác nhau Tuy nhiên, tất cả các ngành

này đều có chỉ số ô nhiễm chung cao và do đó cần có sự chú ý

đặc biệt từ phía các nhà quản lý môi trường

A Chỉ số ô nhiễm không khí

Hầu hết các ngành công nghiệp chính có chỉ số ô nhiễm không khí

và chỉ số ô nhiễm chung tương tự nhau (Hình 2.2 đến 2.5) Có sự

khác biệt đáng kể về chỉ số ô nhiễm không khí của hai nhóm ngành

sản xuất gốm sứ và vật liệu xây dựng theo phân ngành VSIC-4, đó

là ngành “sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét ” có hệ số ô nhiễm không khí xếp thứ hai trong khi đó ngành “sản xuất sản phẩm chịu lửa” xếp thứ 19 Một điểm đáng chú ý khác nữa là các ngành sản xuất gỗ và giấy (các vật liệu gỗ, gỗ ván, rơm, thừng, cưa và xẻ gỗ, đồ gỗ, gỗ dán, ván ép) ngày càng đáng quan tâm do sự gia tăng chỉ số ô nhiễm của các ngành này Mức độ gây ô nhiễm không khí của các ngành này thường có liên quan đến việc sử dụng nhiều sơn và các hoá chất bay hơi Thứ tự xếp hạng gây ô nhiễm công nghiệp của ngành dệt may cũng như các nhóm ngành chế biến thực phẩm đều tăng Trên thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung nhiều ở các làng nghề thủ công là những đối tượng gây ô nhiễm không khí cao (ví dụ, phân ngành “sản xuất các sản phẩm khác” trong hệ thống phân ngành VSIC-4 và các hoạt động sản xuất gốm sứ, đồ thủ công, đồ nội thất và luyện kim).30

B Hệ số ô nhiễm đất

Hai ngành công nghiệp có hệ số ô nhiễm đất cao là ngành kim loại và hoá chất (Bảng 2.2) Trong số 30 ngành thuộc hệ thống phân ngành VSIC-4 gây ô nhiễm nhiều nhất thì ngành kim loại có tới 9 phân ngành, đó là: sản xuất sắt thép; đúc kim loại, rèn, dập, ép, cán kim loại; luyện bột kim loại; mạ kim loại; gia công

cơ khí; và sản xuất cấu kiện kim loại Thậm chí tái chế phế liệu kim loại cũng có tải lượng ô nhiễm đất đáng kể Trong công nghiệp hoá chất, các nhà máy sản xuất phân bón và hợp chất nitơ, thuốc trừ sâu và các hoá chất nông nghiệp khác, thuốc, hoá dược, và dược liệu, và sản xuất các hoá chất cơ bản là những đối tượng gây ô nhiễm môi trường đất Các nhóm ngành gây ô nhiễm đất đáng chú ý khác gồm dệt may và da giày Ví dụ, ngành sản xuất giầy dép có chỉ số ô nhiễm đất xếp thứ hai (và chỉ số ô nhiễm không khí cũng xếp thứ hai) Tương tự như phân ngành sản xuất các sản phẩm từ thủy sản, sản xuất giầy dép gây ô nhiễm cao do ngành này hoạt động trên phạm vi rộng lớn khắp cả nước

30 Các ngành sản xuất khác có mặt trong VSIC-4 gồm sản xuất bàn chải, chổi, bút, các thiết bị in vận hành bằng tay, xe nôi trẻ em, ô, bật lửa và diêm, sản xuất các vật dụng cá nhân: tẩu thuốc, lược, thuốc ép tóc, bình xịt, tấm lót sàn nhà bằng vải sơn, đồ mỹ ký, đồ tạp hoá: nến, hoa và quả giả, đồ hàng mã, v.v và thú nhồi bông.

Trang 38

Bảng 2.2 Xếp hạng của 30 ngành có chỉ số ô nhiễm đất cao nhất

Xếp

Chỉ số ô nhiễm đất

Ghi chú: Ô nhiễm bậc một (bậc cao nhất) được thể hiện bằng màu đỏ, bậc hai là màu cam, bậc ba là màu vàng và bậc bốn được thể hiện bằng màu nâu nhạt.

Nguồn: Các tác giả

Trang 39

C Chỉ số ô nhiễm nước

Ba nhóm ngành công nghiệp gây ô nhiễm nước nghiêm trọng gồm

(a) sản xuất các sản phẩm từ giấy và gỗ, (b) hoá chất và (c) kim loại

Nhóm ngành thứ nhất gồm sản xuất giấy, bìa , gỗ ván ép và gỗ dán,

bột giấy Ngoài các nhóm ngành như ngành sản xuất hoá chất dùng

trong y tế và nông nghiệp, các ngành sản xuất xà phòng, chất tẩy rửa

và chế phẩm vệ sinh cũng là những ngành hóa chất gây ô nhiễm

nước Các ngành gia công và sản xuất sản phẩm sắt thép và kim loại

màu là những ngành có cả ba loại chỉ số ô nhiễm không khí, nước

và đất đều cao, đặc biệt là chỉ số ô nhiễm đất và nước Có khá nhiều

phân ngành thuộc ngành chế biến thực phẩm có mặt trong danh

sách 30 nhóm ngành có chỉ số ô nhiễm nước cao nhất (cụ thể là 48

nhà máy đường, các nhà máy chế biến, bảo quản rau, hoa quả và

“các thực phẩm khác” như cà phê, trà đóng gói, sản xuất nước súp,

gia vị, nước chấm, sản xuất thịt và gia cầm đông lạnh Ngành sản

xuất, chế biến cá còn có các chỉ số ô nhiễm khác ở mức cao

2.3 Tình hình ô nhiễm của các ngành

Đến đây, chúng ta sẽ sử dụng các chỉ số ô nhiễm để xác định các

ngành có tải lượng ô nhiễm cao Hình 2.2, 2.3 và 2.4 liệt kê 10

ngành có chỉ số ô nhiễm không khí, đất và nước cao nhất ở Việt

Nam Các thanh ngang trong đồ thị đồng thời thể hiện tỉ lệ đóng

góp của các chất ô nhiễm có độc tính ở mức thấp, trung bình và cao

vào tổng tải lượng ô nhiễm chung của toàn ngành Tỉ lệ phần trăm

các chất ô nhiễm có độc tính cao trong tổng tải lượng ô nhiễm của

ngành và thứ hạng chỉ số ô nhiễm của ngành tương đối khác nhau

Ngay cả với 10 ngành có tải lượng ô nhiễm không khí cao nhất,

cũng xảy ra tình trạng này Ví dụ, ngành sản xuất vật liệu và sứ chịu

nhiệt xếp thứ 10 trong cả nước về tải lượng ô nhiễm không khí

nhưng 90% các chất ô nhiễm không khí phát thải từ ngành này lại

thuộc danh mục các chất có độc tính cao Ngược lại, chỉ số ô nhiễm

không khí của ngành chăn nuôi gia súc đứng thứ 6 nhưng chỉ dưới

10% các chất phát thải từ ngành này là các chất có độc tính cao

Ngành sản xuất xi măng, gốm sứ, luyện kim và các thiết bị điện là

những ngành phát thải nhiều chất ô nhiễm không khí có độc tính

cao (Hình 2.2) Gần 100% tải lượng ô nhiễm không khí từ ngành

công nghiệp sản xuất vật liệu gốm sứ cũng như ngành “sản xuất

khác” là các chất có độc tính cao

Hình 2.2 10 ngành sản xuất có tải lượng ô nhiễm không khí cao nhất và hàm lượng các chất độc hại phát thải ra (%)

Đối với cả hai ngành này, phần lớn các cơ sở sản xuất đều hoạt động

ở quy mô hộ gia đình và tập trung ở các làng nghề mặc dù các quy định quản lý những cơ sở kiểu này còn rất thiếu So với các ngành khác, sản xuất xi măng là nguồn phát thải các chất gây ô nhiễm không khí có độc tính cao nhiều nhất Do các nhà máy xi măng phân bố rộng khắp trên cả nước, có tốc độ phát triển nhanh chóng và khả năng phát tán các chất ô nhiễm không khí cao nên cần phải tập trung ưu tiên các giải pháp kiểm soát ô nhiễm có tính chủ động hơn cho ngành này.Chế biến thuỷ hải sản, dệt và hoá chất là những ngành công nghiệp phát thải nhiều chất gây ô nhiễm đất có độc tính cao như các loại bùn thải, các chất thải lỏng, kim loại và chất thải rắn (Hình 2.3) Cùng với các ngành gây ô nhiễm nước nhiều nhất là sản xuất giấy và bột giấy, sản xuất các sản phẩm từ gỗ, nhựa, da và đặc biệt là sản xuất giầy dép, ba ngành gây ô nhiễm môi trường đất cao nhất nêu trên cũng đồng thời là những ngành đáng lo ngại do độc tính của nước thải xả

ra từ các cơ sở của ngành (Hình 2.4)

Các ngành sản xuất khác chưa được phân vào đâu Sản xuất giày dép Sản xuất các thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu Sản xuất các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao Sản xuất các sản phầm từ xay xát Sản xuất thức ăn gia súc Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép

và ván mỏng khác Sản xuất sản phẩm khác từ kim loại chưa được phân vào đâu Cưa, xẻ và bào gỗ Sản xuất sản phẩm chịu lửa

Nguồn: Các tác giả

Gây ô nhiễm cao đối với môi trường không khí (LC50 < 0,1mg/l) Gây ô nhiễm trung bình đối với môi trường không khí (0,1 < LC50 < 0,5mg/l)

Gây ô nhiễm thấp đối với môi trường không khí (LC50 > 0,5mg/l)

Trang 40

Hình 2.3 10 ngành có tải lượng ô nhiễm đất cao nhất và hàm

lượng các chất ô nhiễm độc hại

Hình 2.4: 10 ngành có tải lượng ô nhiễm nước cao nhất và hàmm

lượng các chất ô nhiễm độc hại

Ô nhiễm môi trường đất và nước có chứa các chất có độc tính cao đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề môi trường lâu dài ở Việt Nam

do hoạt động sản xuất đã tạo nên nhiều khu vực bị ô nhiễm Tình trạng

ô nhiễm này không phải lúc nào cũng tập trung ở những khu vực nhất định Các chất độc hại có thể bị rửa trôi từ đất đi vào vào các tầng nước ngầm, hệ thống nước mặt và lan sang các vùng đất lân cận, có mặt trong nước mưa hoặc trong bụi Hơi và khí bốc lên từ khu vực bị ô nhiễm có khả năng tăng rủi ro và nguy cơ phơi nhiễm cũng như ô nhiễm về mùi Tình trạng ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do các chất độc hại đặc biệt nguy hiểm đối với con người và các loài động vật thuỷ sinh bởi vì các chất độc hại trong môi trường nước thường có khả năng phân tán rộng, khó phân huỷ trong môi trường và dễ dàng đi vào cơ thể người một cách trực tiếp thông qua nguồn nước hoặc gián tiếp thông qua chuỗi thức ăn

Hình 2.5, 2.6, và 2.7 liệt kê các ngành có hàn lượng các chất ô nhiễm độc hại thải ra cao nhất, không xét đến tải lượng ô nhiễm Hình 2.5 cho thấy các lò sử dụng than đá phát thải các chất độc hại ra môi trường không khí với hàm lượng cao nhất Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại VSIC-4 ngành này xếp thứ 109 về tổng tải lượng ô nhiễm Ngành sản xuất nhạc cụ đứng thứ hai về phát thải chất độc hại cao

do việc sử dụng các hoá chất dễ bay hơi trong công đoạn hoàn thiện sản phẩm Nhưng, ngành này đứng thứ 110 về tổng tải lượng ô nhiễm không khí

Hình 2.5 10 ngành có hàm lượng các chất phát thải độc hại phát thải ra môi trường không khí cao nhất

Chế biến, bảo quản thủy sản và

các sản phẩm từ thủy sản

Sản xuất giày dép

Sản xuất phân bón và

hợp chất ni-tơ

Các ngành sản xuất khác chưa

được phân vào đâu

May trang phục (trừ trang phục

từ da lông thú)

Sản xuất sản phẩm khác bằng

kim loại chưa được phân vào đâu

Sản xuất sản phẩm từ nhựa

Đánh, kéo sợi và dệt sợi

Sản xuất sản phẩm hoá chất khác

chưa được phân vào đâu

Sản xuất thiết bị điện khác

chưa phân vào đâu

Nguồn: Các tác giả

Gây ô nhiễm cao đối với môi trường đất (LD50 < 10mg/kg) Gây ô nhiễm trung bình đối với môi trường đất (10 < LD50 < 50mg/kg)

Gây ô nhiễm thấp đối với môi trường không khí (LD50 > 50mg/kg)

Sản xuất phân bón và

hợp chất ni-tơ

Sản xuất gỗ dán,

gỗ lạng, ván ép

và ván mỏng khác

Sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn,

bao bì từ giấy và bìa

Sản xuất bột giấy, giấy và bìa

Chế biến, bảo quản thủy sản

và các sản phẩm từ thủy sản

Cưa xẻ và bào gỗ

Sản xuất sản phẩm từ nhựa

Sản xuất giày dép

Sản xuất thuốc trừ sâu và

sản phẩm hoá chất khác

dùng trong nông nghiệp

Đánh, kéo sợi và dệt sợi

Nguồn: Các tác giả

Gây ô nhiễm cao đối với môi trường nước (LC50 < 0,1mg/l) Gây ô nhiễm trung bình đối với môi trường nước (0,1 < LC50 < 0,5mg/l)

Gây ô nhiễm thấp đối với môi trường nước (LC50 > 0,5mg/l)

Sản xuất than cốc Sản xuất nhạc cụ Sản xuất các sản phẩm từ bê tông,

xi măng và thạch cao Cắt tạo dáng và hoàn thiện sản phẩm từ đá Sản xuất đồng hồ Sản xuất sản phẩm chịu lửa Sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan Sản xuất thuỷ tinh và sản phẩm

từ thuỷ tinh Sản xuất các cấu kiện kim loại Các ngành sản xuất khác chưa được phân vào đâu

Nguồn: Các tác giả

Gây ô nhiễm cao đối với môi trường không khí (LC50 < 0,1mg/l) Gây ô nhiễm trung bình đối với môi trường không khí (0,1 < LC50 < 0,5mg/l)

Gây ô nhiễm thấp đối với môi trường không khí (LC50 > 0,5mg/l)

Ngày đăng: 29/03/2018, 11:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w