1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật, theo tiếp cận năng lực

207 145 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ I Về Bảng số liệu: 1 Bảng 3.1: Kết quả khảo sát đánh giá về hoạt động đào tạo 2 Bảng 3.2: Kết quả khảo sát công tác xây dựng kế hoạch đào tạo và công t

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và chưa từng được công bố trên mọi hình thức

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Văn Quang

Trang 2

Trang

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN VIÊN MÚA Ở CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THEO

1.1 Nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo theo tiếp cận

1.2 Nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo diễn viên múa

1.3 Khái quát các kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

DIỄN VIÊN MÚA THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 33 2.1 Một số vấn đề về đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực 33 2.2

Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN

VIÊN MÚAỞ CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ

3.1 Khái quát các trường văn hóa nghệ thuật 67

3.2

3.3

Tổ chức khảo sát thực trạng Thực trạng đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực

69

72 3.4 Thực trạng quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường

văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực 82

Chương 4 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN

VIÊN MÚA Ở CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ

4.1 Yêu cầu quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường Văn

hóa Nghệ thuật theo tiếp cận năng lực 103 4.2 Hệ thống biện pháp quản lý đào tạo diễn viên múa ở các

Trường Văn hóa Nghệ thuật theo tiếp cận năng lực 105

Chương 5 KHẢO NGHIỆM VÀ THỬ NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP 133

5.1 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 133

5.2 Thử nghiệm một số biện pháp 140

5.3 KÕt luận sau khảo nghiệm và thử nghiệm 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

159

168

Trang 3

13 Phó giáo sư, tiến sĩ PGS.TS

Trang 4

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

I Về Bảng số liệu:

1 Bảng 3.1: Kết quả khảo sát đánh giá về hoạt động đào tạo

2 Bảng 3.2: Kết quả khảo sát công tác xây dựng kế hoạch đào

tạo và công tác tuyển sinh đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận

3 Bảng 3.3: Kết quả khảo sát công tác xây dựng và thực hiện

mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo diễn viên múa theo

4 Bảng 3.4: Kết quả khảo sát công tác quản lý hoạt động giảng dạy

của giảng viên, giáo viên và học tập của học sinh, sinh viên 86

5 Bảng 3.5: Kết quả khảo sát việc liên kết đào tạo diễn viên múa

theo tiếp cận năng lực giữa các trường văn hóa nghệ thuật với

6 Bảng 3.6: Kết quả khảo sát công tác đảm bảo cơ sở vật chất,

thiết bị kỹ thuật và kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả đào

tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật 90

7 Bảng 3.7: Kết quả khảo sát về các yếu tố tác động đến quản lý

đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo

8 Bảng 3.8: Hoạt động của người dạy và người học trong đổi

mới phương pháp dạy học múa theo tiếp cận năng lực 96

9 Bảng 4.1 Hoạt động của người dạy và người học trong thực

hiện chỉ đạo đổi mới PPDH múa theo tiếp cận năng lực 120

10 Bảng 5.1: Kết quả khảo sát đánh giá tính cần thiết của các

11 Bảng 5.2: Kết quả khảo sát đánh giá tính khả thi của các biện

12 Bảng 5.3: So sánh tương quan giữa tính cần thiết và tính khả

13 Bảng 5.4: Tổng hợp kết quả học tập của các nhóm ở hai cơ sở

14 Bảng 5.5: Tổng hợp điểm số đánh giá kết quả dạy và học sau

Trang 5

II Về Biểu đồ:

1 Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo sát công tác xây dựng kế hoạch

đào tạo và công tác tuyển sinh đào tạo diễn viên múa theo tiếp

2 Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo sát công tác xây dựng và thực hiện

mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo diễn viên múa theo

3 Biểu đồ 3.3: Kết quả khảo sát công tác quản lý hoạt động giảng

dạy của giảng viên, giáo viên và học tập của học sinh, sinh viên 89

4 Biểu đồ 3.4: Kết quả khảo sát việc liên kết đào tạo diễn viên

múa theo tiếp cận năng lực giữa các trường văn hóa nghệ

5 Biểu đồ 3.5: Kết quả khảo sát công tác đảm bảo cơ sở vật

chất, thiết bị kỹ thuật và kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả

đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật 94

6 Biểu đồ 3.6: Kết quả khảo sát về các yếu tố tác động đến quản

lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật

7 Biểu đồ 5.1: Kết quả khảo sát đánh giá tính cần thiết của các

8 Biểu đồ 5.2: Kết quả khảo sát đánh giá tính khả thi của các

9 Biểu đồ 5.3: So sánh tương quan giữa tính cần thiết và tính

10 Biểu đồ 5.4: Kết quả học tập của hai nhóm TN và ĐC ở cơ sở

14 Biểu đồ 5.8: So sánh kết quả học tập của nhóm TN ở cơ sở 1

15 Biểu đồ 5.9: So sánh kết quả học tập của nhóm TN ở cơ sở 2

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Nghị quyết 29 Trung ương 8 khóa XI ghi rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực” [40, tr.120]; quan điểm chỉ đạo trên của Đảng có giá trị đối với đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, trong đó có đào tạo diễn viên múa Quán triệt chủ trương của Đảng, trong đổi mới đào tạo diễn viên múa, các trường văn hóa nghệ thuật cần hướng đến phát triển năng lực của người học; thể hiện trong toàn bộ quá trình và hoạt động đào tạo, từ công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo đến đánh giá kết quả; đổi mới mục tiêu, chương trình nội dung, phương pháp và đó chính là tiếp cận năng lực trong đào tạo diễn viên múa

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực (đào tạo nghề) theo tiếp cận năng lực đã được các nhà khoa học khái quát về lý luận, xác định rõ yếu tố cơ bản của nó, những năng lực cần đạt và đánh giá mỗi năng lực được xác định cụ thể; tiếp cận năng lực không chỉ đơn thuần một chiều là phát triển năng lực, mà trước hết là dựa vào năng lực người học Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực đặc thù văn hóa nghệ thuật cũng như đào tạo diễn viên múa, không nằm ngoài kết quả nghiên cứu lý luận chung đó; và kết quả nghiên cứu lý luận tiếp cận năng lực trong đào tạo nghề, tạo cơ sở cho nghiên cứu làm rõ lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

Những năm qua, các trường văn hóa nghệ thuật đã tập trung hoàn thiện chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo và các điều kiện đảm bảo đáp ứng yêu cầu đào tạo đặc thù từng ngành; quán triệt chủ trương của Đảng, của

Bộ GD&ĐT và của ngành văn hóa nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại các trường văn hóa nghệ thuật Trong quá trình đổi mới, các trường luôn kế

Trang 7

thừa, phát huy những thành tựu, phát triển nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm thế giới; tổ chức đào tạo bảo đảm tính hệ thống, phù hợp với từng cấp học và từng loại đối tượng học sinh, sinh viên

Tuy nhiên, do nguyên nhân khách quan và chủ quan nên công tác quản

lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa nghệ thuật còn nhiều hạn chế, bất cập: từ công tác tuyển sinh, chương trình, nội dung lạc hậu, phương pháp chưa thực sự đổi mới; chất lượng đào tạo toàn diện về chính trị, tư tưởng, chuyên môn, thể chất chưa bảo đảm; chưa chú trọng đúng mức tính đặc thù, chuyên biệt và yêu cầu đào tạo tài năng; chưa quan tâm thích đáng đến liên kết đào tạo và gửi giảng viên, sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài; đội ngũ giảng viên đầu đàn, có trình độ chuyên môn cao ngày càng thiếu hụt; điều kiện và phương tiện phục vụ dạy và học còn nghèo nàn, lạc hậu…

Khắc phục những hạn chế trong đào tạo và quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật, những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án, bài báo, bài tham luận hội thảo khoa học của ngành và của các trường nghệ thuật…góp phần nâng cao chất lượng đào tạo các ngành nghệ thuật nói chung, diễn viên múa nói riêng Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về quản lý đào tạo nguồn nhân lực ngành múa theo tiếp cận năng lực; từ những

lý do trên tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý đào tạo diễn viên múa

ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực”làm đề tài luận án

tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, với mong muốn góp phần hoàn thiện những kiến giải khoa học, đề xuất hệ thống biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo diễn viên múa cho các đoàn nghệ thuật và xã hội

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất

Trang 8

hệ thống biện pháp quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo diễn viên múa đáp ứng yêu cầu các đoàn nghệ thuật và đổi mới giáo dục hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

Khảo sát, phân tích và đánh giá làm rõ thực trạng quản lý đào tạo diễn

viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực

Làm rõ những yêu cầu và đề xuất biện pháp quản lý đào tạo diễn viên

múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực

Khảo nghiệm và thử nghiệm một số biện pháp để kiểm chứng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn

3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý đào tạo nguồn nhân lực ở các trường văn hóa nghệ thuật

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận,

thực tiễn và đề xuất biện pháp quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường

văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành văn hóa nghệ thuật của đất nước

Về chủ thể quản lý: Ban Giám hiệu, các cơ quan chức năng, các khoa,

bộ môn, giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên chuyên ngành múa ở các

trường văn hóa nghệ thuật

Khách thể điều tra, khảo sát: Cán bộ QLGD, giáo viên, giảng viên, học

sinh, sinh viên chuyên ngành múa ở một số trường văn hóa nghệ thuật khu vực phía Bắc

Trang 9

Về thời gian: Các số liệu được sử dụng nghiên cứu từ 2013 đến 2017;

thời gian áp dụng các biện pháp từ nay đến 2020 và những năm tiếp theo

3.4 Giả thuyết khoa học

Quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo

tiếp cận năng lực phụ thuộc nhiều yếu tố; nếu chủ thể quản lý tập trung phát

triển chương trình đào tạo theo năng lực người học; đổi mới tuyển sinh và liên kết đào tạo; chỉ đạo chuẩn hóa giảng viên và đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực của người học; hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ

thuật dạy học; đổi mới kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng đào tạo thì

hiệu quả quản lý tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo diễn viên múa, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở quán triệt phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục; đồng thời vận dụng các quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, lịch sử-lôgic, tiếp cận chức năng, tiếp cận cung – cầu và tiếp cận thực tiễn trong thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của

đề tài đã xác định; Cụ thể như:

Tiếp cận hệ thống: mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong hệ thống và là

bộ phận của hệ thống lớn hơn, luôn tác động qua lại và chi phổi lẫn nhau tùy thuộc vào mối quan hệ giữa chúng Do đó, sử dụng tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu luận án cần xem xét quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực là một bộ phận của hoạt động đào tạo, nhất là mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý và các biện pháp quản lý trong sự tương tác lẫn nhau

Tiếp cận lịch sử - lôgic: Trong quản lý, các chủ thể phải tự đổi mới cho

phù hợp với thực tiễn và đối tượng cụ thể; đồng thời kế thừa những tri thức, kinh nghiệm giá trị truyền thống tốt đẹp và phát triển những thành tựu đạt được trong quá khứ Để công tác quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn

Trang 10

hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực thực sự có hiệu quả, cần xác định rõ mặt mạnh hiện có để phát huy, mặt yếu để khắc phục Xác định biện pháp quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực theo một trật tự lôgic, có mối liên

hệ chặt chẽ, lôgic giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa lý luận và thực tiễn Hiệu quả quản lý thể hiện sản phẩm đầu ra có chất lượng phù hợp với nhu cầu các đoàn nghệ thuật, xã hội và hội nhập với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

Tiếp cận chức năng: Theo cách này, giáo dục được nhìn như tổng thể

gồm nhiều bộ phận cấu thành, nhưng giữa các bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, với những chức năng được xác định hợp thành nên một chỉnh thể giáo dục Khi các bộ phận làm đúng chức năng của mình sẽ tạo nên sự thống nhất và ổn định; tuy nhiên quản lý theo chức năng cũng dễ dẫn đến xu hướng bảo thủ, không có sự đột biến để tạo bước nhảy vọt phát triển

Tiếp cận cung - cầu: Là hướng tiếp cận cơ bản trong quản lý đào tạo

diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của các đoàn nghệ thuật, từ

đó chuyển đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận nguồn cung sang tiếp cận nguồn cầu, lấy mục tiêu đầu ra làm đích hướng tới để người học sau khi tốt nghiệp nhanh chóng hòa nhập với nghệ sĩ múa của các đoàn nghệ thuật Hướng tiếp cận này là kim chỉ nam để thực hiện điều chỉnh, xem xét các mối quan hệ trong đào tạo và quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

ở các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay

Tiếp cận thực tiễn: Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên tiếp cận

thực tiễn về lý luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu, nhằm tăng độ tin cậy của các nhận định, đánh giá và đề xuất biện pháp có tính khả thi trong luận án

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu liên quan đến

đề tài nghiên cứu đang có trong và ngoài nước

Trang 11

Nghiên cứu các văn bản về quản lý đào tạo nguồn nhân lực ngành diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật; và nghiên cứu hệ thống các sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát, thu thập thông tin về quản

lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật

Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra để khảo sát ý kiến đánh giá của đại diện CBQL ở các trường và các đoàn nghệ thuật, giảng viên và học sinh, sinh viên ở 02 cơ sở đào tạo nghệ thuật múa chuyên nghiệp, đó là Trường Cao đẳng múa Việt Nam và Trường Trung cấp múa thành phố Hồ Chí Minh và một số khoa múa ở các trường văn hóa nghệ thuật, gồm 260 người; trong đó 70 cán bộ quản lý: Trường, cơ quan đào tạo, một số đoàn nghệ thuật;

80 giáo viên, giảng viên, diễn viên múa và 110 học sinh, sinh viên múa nhằm thu thập thông tin thực tiễn về đào tạo và quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa nghệ thuật, làm cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp

Phương pháp tọa đàm, trao đổi: tổ chức tọa đàm, trao đổi ý kiến trực tiếp với đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên các trường và các đoàn nghệ thuật

sử dụng lao động qua đào tạo ở các trường văn hóa nghệ thuật

Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu những điển hình tiêu biểu trong quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật, từ

đó khái quát lý luận, thực tiễn và phổ biến nhân rộng

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục: Thông qua nghiên cứu kết quả quản lý đào tạo diễn viên múa, kết quả dạy học của giáo viên, giảng viên, kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên cùng hồ sơ, văn bản đào tạo chuyên ngành múa để tìm hiểu tính chất, đặc điểm đào tạo diễn viên

múa theo tiếp cận năng lực, từ đó đề xuất biện pháp quản lý phù hợp

Trang 12

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật

Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm: nhằm kiểm chứng tính khả thi

và tính thực tiễn của các biện pháp đề xuất

Nhóm các phương pháp hỗ trợ:

Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: xin ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học giáo dục và các quản lý giáo dục có nhiều kinh nghiệm trong đào tạo, quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực cả về lý luận và thực tiễn, giúp cho việc đề xuất các biện pháp mang tính khoa học hơn

Phương pháp toán học: Tác giả sử dụng toán thống kê để xử lý các số

liệu thu thập được từ điều tra, khảo sát và khảo nghiệm, thử nghiệm khoa học

5 Những đóng góp mới của luận án

Kết quả nghiên cứu đề tài luận án đã khái quát hóa năng lực diễn viên múa, tiếp cận năng lực trong đào tạo diễn viên múa; làm rõ nội dung và yếu tố tác động đến quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực; đồng thời phân tích, đánh giá làm rõ bức tranh thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật Hệ thống biện pháp luận án

đề xuất có tính khả thi, được kiểm chứng nhằm quản lý hiệu quả hoạt động, quá trình đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận

năng lực, góp phần nâng cao chất lượng diễn viên múa ở các đoàn nghệ thuật hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

Luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận quản lý giáo dục trong các trường văn hóa nghệ thuật; đặc biệt là vấn đề quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa nghệ thuật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành văn hóa nghệ thuật của đất nước

Trang 13

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đề tài luận án, là căn cứ khoa học giúp chủ thể quản lý phân tích, đánh giá và tác động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực; nó là tài liệu để sử dụng nghiên cứu, giảng dạy và quản lý đào tạo diễn viên múa, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao của các đoàn nghệ thuật hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Luận án được kết cấu bao gồm: Phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 5 chương với 15 tiết, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN VIÊN MÚA Ở CÁC TRƯỜNG

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

1.1 Nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực

1.1.1 Trên thế giới

Socrate (469 - 399 TCN) nhà triết học Hy Lạp cổ đại, khi bàn đến vấn

đề dạy học, đào tạo, theo ông cái cần thiết nhất trong dạy học là phải phát triển năng lực tự tìm ra chân lý, tự sản sinh ra chân lý cho người học; mỗi người đều có khả năng đạt tới chân lý, người thầy và nhà trường chỉ là “bà đỡ”, giúp học trò tự tìm ra chân lý; từ đó ông đề xuất phương pháp dạy học

“đàm thoại” và nâng lên thành nghệ thuật dạy học độc đáo Đó là phương pháp giúp người học thông qua việc tranh luận các vấn đề dưới sự cố vấn của người thầy để giúp người học tự tìm ra chân lý, tự phát triển năng lực tư duy, khả năng biện luận các vấn đề của bản thân, qua đó giúp họ phát triển năng lực cho chính mình [97] Có thể coi đây là một trong những tư tưởng đầu tiên

đề cập đến vấn đề dạy học, đào tạo theo tiếp cận phát triển năng lực

Đến thời kỳ phục hưng, tư tưởng về giáo dục và quản lý giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh được hình thành có hệ thống; tiêu biểu là Nhà giáo dục J.A.Kô-men-xki (1592 - 1670); với triết lý nổi bật là: “giáo dục phải thích ứng với tự nhiên” Ông đòi hỏi phải tổ chức giáo dục theo những nguyên tắc nhất định, trong đó đề cập nguyên tắc có tính bắt buộc trong giáo dục là phải gắn với đòi hỏi của thực tiễn và lợi ích xã hội: “Dạy điều gì cũng cần cho biết cái lợi ích thực tế của điều ấy”; “Giảng dạy như trồng cây, rễ càng sâu thì cây càng vững; cho nên điều gì học sinh đã học, họ cần nắm vững để áp dụng trong thực tiễn sau này”[97]; tư tưởng đó đặt nền móng cho đào tạo theo hướng phát triển năng lực học sinh

Trang 15

Sau Kômenxki đã xuất hiện những luận điểm giáo dục nổi tiếng về kết hợp giữa giáo dục với thực tiễn và vấn đề định hướng nghề nghiệp trong giáo dục như: Rút-xô (1712 - 1778) chủ trương phát triển giáo dục tự nhiên và giáo dục tự do; ông phản đối lối bắt học thuộc lòng, kỷ luật khắt khe và sự chèn ép

cá tính của người học để cho người học tự phát huy năng lực bản thân Còn Pétxtalôdi (1746 - 1827), coi mục đích của giáo dục là đưa trẻ em đến “cái nhân tính chân chính” và đào tạo họ thành “những con người hoàn hảo” Ông cho rằng: “Mỗi năng lực của con người đều bao gồm sự yêu cầu thoát ly trạng thái chết và cứng nhắc mà biến thành một sức mạnh phát triển”; và “Sự hiểu biết cần gắn liền với khả năng làm được, kiến thức phải đi đôi với sự khéo léo thực tế”[97] Như vậy giáo dục cần hướng tới sự phát triển năng lực cho con người, bởi con người sinh ra đã có mầm mống của năng lực, do đó giáo dục cần phát triển hài hoà năng lực ấy của họ

John Deway (1858 - 1952), với triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm, ông cho rằng: “Dạy học không chỉ là công việc truyền thụ khối kiến thức mà còn là sự phát triển một số kỹ năng cho người học”[97] Như vậy, ông đã đề cao việc tổ chức giáo dục nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo của người học, phát triển năng lực của họ thông qua các hoạt động gắn với đời sống hàng ngày Còn R.Singh đã phát triển quan điểm lấy người học làm trung tâm, đưa ra quan niệm:

“Quá trình nhận biết - học - dạy” Ông viết: “Khi xem ma trận người học ở vị trí trung tâm và sự sáng tạo là mục tiêu, cần nêu bật một số đường hướng và phương pháp nhất định”[97]; như vậy ông đòi hỏi quá trình dạy học, giáo dục phải là quá trình phát triển năng lực cho bản thân người học

Dựa trên chủ nghĩa duy vật và phương pháp luận biện chứng trong nghiên cứu con người và xã hội, Mác và Ăng-ghen đã đề ra nhiệm vụ của giáo dục trong xã hội XHCN là phát triển con người toàn diện Các ông cho rằng: “Giáo dục, theo chỗ chúng ta hiểu, gồm ba bộ phận: 1) trí dục; 2) thể dục tức giáo dục trong các trường thể thao và huấn luyện quân sự; 3) giáo dục

kỹ thuật tức giáo dục bằng cách giới thiệu tất cả nguyên tắc cơ bản về quá

Trang 16

trình sản xuất và hướng dẫn cho trẻ em và thanh niên ứng dụng thói quen dùng tất cả công cụ sản xuất đơn giản”[76] Như vậy theo các ông: nền giáo dục XHCN phải hướng vào phát triển con người toàn diện, nhằm giải phóng toàn bộ năng lực của con người Kế thừa và phát triển quan điểm của Mác, Ăng ghen, Lênin kịch liệt phản đối sự tách rời sách vở và thực tế Người nói:

“Một trong những hại lớn nhất, một trong những nạn xấu xa nhất mà xã hội tư bản

cũ để lại cho ta là sự gián đoạn triệt để giữa quyển sách và thực tiễn Cần phải gắn nhà trường với công cuộc cải tạo xã hội, xây dựng xã hội CSCN tổ chức nền giáo dục XHCN nhằm phát triển toàn bộ năng lực của con người”[70]

Như vậy trong lịch sử giáo dục thế giới, những quan điểm về đào tạo, quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực đã xuất hiện rất sớm, nó không ngừng phát triển mạnh mẽ và toàn diện về mục tiêu, nội dung chương trình, con đường và phương tiện để hỗ trợ phát triển năng lực người học Các quan điểm trên là tiền đề lý luận hết sức quan trọng trong phát triển nền giáo dục mới; và

có ý nghĩa phương pháp luận trong quản lý, tổ chức quá trình đào tạo theo tiếp cận năng lực; đó là cơ sở lý luận quan trọng, cần kế thừa và phát triển trong thực tiễn tổ chức quá trình đào tạo các lĩnh vực nghề nghiệp hiện nay

Những năm gần đây, để nâng cao chất lượng đào tạo, một số các nhà khoa học giáo dục trên thế giới đã có những nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo; trong đó nhiều nhà khoa học đồng thuận là cần quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực Những năm 1990, các tiếp cận về năng lực trong đào tạo nghề đã phát triển mạnh mẽ ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales Sự phát triển mạnh mẽ này là do các học giả xem tiếp cận năng lực là cách thức

có ảnh hưởng nhất để cân bằng giáo dục, đào tạo với đòi hỏi của nơi làm việc;

và là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” trong thế kỷ 21

Khi tổng kết các lý thuyết về các tiếp cận dựa trên năng lực trong giáo dục, đào tạo và phát triển, Paprock (1996) đã chỉ ra các đặc tính cơ bản của tiếp cận này: Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm; Tiếp

Trang 17

cận năng lực thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật; Tiếp cận năng lực là rất linh hoạt và năng động và những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành một cách rõ ràng Những đặc tính cơ bản này dẫn tới những ưu thế của tiếp cận dựa trên năng lực là: Tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học: người học sẽ

bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình; Tiếp cận năng lực chú trọng vào kết quả (outcomes) đầu ra; Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới kết quả đầu ra: theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả…[118]

Do những đặc tính và ưu điểm của tiếp cận năng lực, các mô hình năng lực và những năng lực được xác định đang được sử dụng như là công cụ để phát triển chương trình giáo dục, đào tạo của một số nước trên thế giới Nghiên cứu về phát triển chương trình đào tạo dựa trên mô hình năng lực, Boyatzis et al - Whetten và Cameron (1995) cho rằng: phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, (3) đánh giá chúng một cách khách quan Và để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là những kết quả đầu ra (outputs); từ đó đi đến xác định vai trò của người có trách nhiệm phải tạo ra kết quả đầu ra này

Trong điều kiện của toàn cầu hóa và sự thay đổi nhanh chóng của môi trường và khoa học công nghệ, học tập không ngừng và liên tục phát triển là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tổ chức nào Mô hình năng lực được sử dụng rất phổ biến và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới với hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (National Vocational Qualifications (NVQS) ở Anh và xứ Wales; Khung chất lượng quốc gia của New Zealand (New Zealand's National Qualifications Framework), các tiêu chuẩn năng lực được tán thành, khẳng định bởi Hội

Trang 18

đồng đào tạo quốc gia Australia về đào tạo (National Training Board (NTB),

và Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (the Secretary's Commission on Achieving Necessary Skills (SCANS) và những tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia (the National Skills Standards) ở Mỹ

Trên cơ sở tiêu chuẩn hóa giáo dục, đào tạo, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của người lao động, Bộ Lao động Mỹ đã tài trợ cho Hiệp hội những người làm công tác đào tạo và phát triển Mỹ (American Society for Training and Development - ASTD) thực hiện nghiên cứu về những kỹ năng

mà các tổ chức đòi hỏi (Carnevale, Gainer, and Meltzer, 1990) Đồng thời Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (SCANS, 1991) cũng thực hiện nghiên cứu về vấn đề này Kết quả các nghiên cứu đó đã hình thành

mô hình về những kỹ năng mà các tổ chức mong muốn (Employability skills);

đó là các nhóm kỹ năng cốt lõi có thể sử dụng ở môi trường và điều kiện khác nhau; và những kiến thức, thái độ, kỹ năng “mềm” được đòi hỏi bởi nơi làm việc của thế kỷ 21 Những kỹ năng này cần thiết cho sự thành công nghề nghiệp ở mọi cấp độ làm việc và giáo dục khác nhau Mô hình này thể hiện 16

kỹ năng (Overtoom, 2000) được phân thành 6 nhóm: (1) Nhóm kỹ năng về năng lực cơ bản: đọc, viết, tính toán; (2) Nhóm kỹ năng truyền đạt: nói, nghe; (3) Nhóm kỹ năng về năng lực thích ứng: giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo; (4) Nhóm kỹ năng phát triển: tự trọng, động viên và xác định mục tiêu, hoạch định sự nghiệp; (5) Nhóm kỹ năng về hiệu quả của nhóm: quan hệ qua lại giữa các cá nhân, làm việc đồng đội, đàm phán; (6) Nhóm kỹ năng tác động, ảnh hưởng: hiểu biết văn hóa tổ chức, lãnh đạo tập thể

Trong giáo dục đại học, mục tiêu hướng đến là năng lực nghề nghiệp cho người học; đó là sự hiểu biết rộng về các phẩm chất, đặc điểm, kỹ năng

và kiến thức tạo nên năng lực nghề nghiệp trên bình diện vừa tổng quát vừa chuyên biệt Miller (1990) đề xuất mô hình kim tự tháp thể hiện 4 mức độ khác nhau của mục đích giáo dục theo cách tiếp cận năng lực; mô hình này được sử dụng như một công cụ vừa để phát triển các kỹ thuật, phương pháp

Trang 19

đánh giá, vừa để xác lập các mục tiêu học tập Theo mô hình này, ở mức thấp, người học đạt được các kết quả kiến thức và kỹ năng; ở mức cao hơn, người học thể hiện năng lực và hành động thực tế với năng lực của mình

Kết quả các công trình nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực trên thế giới cho thấy: Trong quản lý đào tạo, mục tiêu hướng đến là năng lực nghề nghiệp cho người học; do đó việc phát triển các chương trình đào tạo dựa vào chuẩn theo tiếp cận năng lực là xu thế tất yếu đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, vận dụng trong thực tiễn đào tạo nghề hiện nay Mặt khác, các kết quả nghiên cứu đã xác định các năng lực cần hình thành, phát triển và chỉ rõ hướng tiếp cận trong xây dựng chương trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu này Các kết quả nghiên cứu chỉ rõ: quản lý đào tạo theo hướng phát triển năng lực của người học, nhất là trong đào tạo nghề

là đòi hỏi cấp thiết của giáo dục hiện đại; nó là tiền đề hết sức quan trọng trong nghiên cứu về tổ chức đào tạo theo hướng phát triển năng lực của người học ở nhà trường hiện nay, nhất là đối với trường đào tạo nghề nói chung, các trường văn hóa nghệ thuật nói riêng

1.1.2 Ở Việt Nam

Dưới thời phong kiến, mặc dù bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo trong giáo dục, song các triều đại phong kiến Việt Nam đã rất coi trọng phát triển giáo dục và đã có nhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ Một trong những tư tưởng giáo dục tiến bộ lúc đó cần kể đến là: Hồ Quý Ly cho rằng: “Cần làm cho người học phải suy nghĩ nhiều hơn, giảm bớt được bệnh học vẹt, sao chép sách vở cổ xưa một cách máy móc, tạo điều kiện cho người học có khả năng sáng tạo và gắn bó hơn với cuộc sống thực tế”; và “Giáo dục phải góp phần đào tạo ra con người ham hành động, sáng tạo, gần gũi với thực tế cuộc sống,

mà muốn thực hiện được điều đó cần phải xem xét thay đổi từ mục tiêu giáo dục đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục, làm sao cho giáo dục luôn bám sát với thực tiễn và phục vụ thực tiễn”

Trang 20

Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871) là người luôn có tâm nguyện chấn hưng nền giáo dục nước nhà; ông chủ trương trước hết phải xác định đúng đắn, rõ ràng mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục Theo ông: “đạo cốt

ở thực hành”, “Học nhiều để biết nhiều, đem cái sở học vận dụng vào hoạt động vì mọi người”, “Học để mà biết, biết để mà làm làm thực tế công việc trong nước hiện nay và để lại việc làm hữu dụng đó cho đời sau” [97] Từ mục đích, phương châm giáo dục đó, ông đề xuất cần thay đổi nội dung dạy

và học, đưa những kiến thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp vào chương trình giáo dục nhằm bồi dưỡng trí lực, óc thực tiễn, tinh thần độc lập sáng tạo và phương pháp thực nghiệm khoa học giúp người học kết hợp học với hành, tiếp thu có chọn lọc cái tinh tuý của học thuật nước ngoài nội dung đó phải bám sát thực tiễn đất nước, góp phần giải quyết những nhiệm vụ của đất nước [97]

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng lãnh đạo xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu giải phóng dân tộc, kháng chiến kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội Cùng với tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ về mọi mặt, nền giáo dục Việt Nam đã chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh, sinh viên những kỹ năng, kỹ xảo, năng lực hoạt động thực tiễn, để họ thích ứng với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn Trong giáo dục - huấn luyện, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề thiết thực lên hàng đầu Người chỉ rõ: “Phải thiết thực, chu đáo trong công việc huấn luyện” [79] Nội dung thiết thực theo Bác đó là: Việc xác định và lựa chọn nội dung huấn luyện phải “nhằm đúng nhu cầu”, ngắn gọn, đầy đủ, sát với thực tế và có giá trị thực tế to lớn, đảm bảo cho người học có thể áp dụng, thực hành và đem lại hiệu quả ngay Bác nói: “Những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiết cho quần chúng Phải hỏi: Người đến chịu huấn luyện rồi,

có áp dụng được ngay không? Nếu không thiết thực như thế, thì huấn luyện

Trang 21

mấy năm cũng vô ích” [79] Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi người học phải biết vận dụng sáng tạo những điều đã học vào thực tế, phải kết hợp giữa lý luận với thực tế, lý thuyết với thực hành: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” [79] Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã thể hiện về xây dựng nền giáo dục cách mạng nhằm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của người học; nó là tiền đề lý luận –thực tiễn hết sức quan trọng cho việc đổi mới quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội hiện nay theo tiếp cận phát triển năng lực

Trong công trình nghiên cứu về: “Năng lực trong giáo dục, đào tạo, và phát triển nguồn nhân lực”(2000), tác giả Nguyễn Hữu Lam đã tổng thuật khá chi tiết về giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực của người học [75], ông đã phân tích, nhược điểm phổ biến của thực tiễn giáo dục, đào tạo,

và phát triển quản lý trên thế giới thời gian qua đó là hệ thống và các chương trình giáo dục và đào tạo quản lý được cung cấp bởi các trường hiện nay quá nặng về phân tích, không định hướng thực tiễn và hành động; Thiếu và yếu trong phát triển kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân; Thiển cận, hạn hẹp, không có tiếp cận toàn diện tổng thể trong những giá trị và tư duy của nó; Không giúp người học làm việc tốt trong các nhóm và đội làm việc Từ đó, ông đòi hỏi giáo dục, đào tạo hiện đại phải tiếp cận theo phát triển dựa trên

mô hình năng lực của người học Nhưng cần chú ý một số vấn đề là: Mô hình năng lực chú trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức – nó chú trọng vào “con người phương tiện” chứ không phải “con người mục đích” Trong một chừng mực nhất định nó dựa trên quan điểm hành vi trong giáo dục Vì thế, những nhược điểm của quan điểm hành vi trong giáo dục cần được quan tâm, chú ý khi áp dụng mô hình năng lực và phải được bổ sung bởi những tiếp cận khác để đạt tới các mục tiêu giáo dục, đào tạo và phát triển cụ thể Mô

Trang 22

hình năng lực được sử dụng như một công cụ tuyển lựa cán bộ, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, và những chỉ dẫn cụ thể cho hoạt động giáo dục đào tạo

và phát triển Vì thế, cần nhận thức nó là công cụ chứ không phải là mục tiêu; việc nhầm lẫn giữa phương tiện và mục tiêu luôn là một hiện tượng thường xảy ra trong cuộc sống và dẫn tới những hậu quả tai hại Điều có tính tiên quyết để việc áp dụng mô hình năng lực có hiệu quả là phải có một danh mục các năng lực được thiết kế một cách cẩn thận, có cơ sở khoa học, và phù hợp với bối cảnh thực tế của đất nước và của các tổ chức Những mô hình tốt ở các nước phát triển cũng đã được nghiên cứu và kiểm định ở các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển, và cho thấy là hầu hết các năng lực là phù hợp Tuy nhiên như đề cập ở phần trên, năng lực là sự kết hợp giữa tiềm năng của cá nhân với đòi hỏi của nhiệm vụ ở khía cạnh văn hóa và những đặc điểm cụ thể của bối cảnh có ảnh hưởng mạnh mẽ tới danh mục, tầm quan trọng, và mức độ của các năng lực cần thiết Vì thế, những nghiên cứu nghiêm túc và cụ thể cần được thực hiện, cập nhật thường xuyên trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa và thay đổi nhanh hiện nay

Về phát triển năng lực của người học, đã có các công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực dạy học khác nhau; cụ thể như: Tác giả Nguyễn Thị Liên đã nghiên cứu, đề xuất những vấn đề như sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, kinh tế tri thức…đó là những vấn đề đòi hỏi giáo dục con người, phát triển con người với các năng lực Năng lực sáng tạo hiện nay đang là vấn đề được chú ý đến như một vấn đề lớn trong giáo dục; và nó trở thành một giá trị cao hơn các thời kỳ trước Trọng dụng con người, tập trung đầu tư vào trí tuệ, vào nguồn nhân lực có chất lượng cao là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết nhằm giới thiệu những mô hình phát triển chương trình đại học theo cách tiếp cận năng lực Mục tiêu này cần được xem là một đường lối chiến lược để làm cho giáo dục đại học Việt Nam gắn đào tạo với nhu cầu

Trang 23

kinh tế xã hội, để triết lý giáo dục truyền thống khoa cử, từ chương bấy lâu nay buộc phải bị loại bỏ Theo tác giả, con đường tất yếu để tạo nên mô hình đào tạo chất lượng tương ứng với chuẩn quốc tế không gì khác hơn là phải triển khai chiến lược đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực, nghĩa là không chỉ chú trọng khối lượng kiến thức mà quan trọng hơn là kỹ năng và thái độ, phẩm chất trong sự tổng hòa của chúng Bàn đến vấn đề này, trong đào tạo nghề, tác giả Cao Văn Sâm đã khẳng định: “Để có thể thực hiện

có hiệu quả triết lý đào tạo theo năng lực thực hiện thì việc trước tiên các chương trình khung đào tạo nghề cần phải được tổ chức xây dựng (đối với chương trình mới) và điều chỉnh (đối với chương trình cũ) theo đúng hướng tiếp cận theo năng lực thực hiện, mà bản chất là dạy nghề gắn kết giữa lý luận

và thực tiễn, giữa học với hành, giữa giáo dục đào tạo gắn liền với sản xuất.”

Nghiên cứu về năng lực, các nhà giáo dục, quản lý giáo dục đều thống nhất cho rằng: năng lực được xem là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức – kỹ năng – thái độ làm nên khả năng thực hiện công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động Năng lực thực hiện nghề nghiệp chuyên môn của một người tốt nghiệp đại học được xem là tổng thể của bốn thành tố: năng lực kĩ thuật; năng lực phương pháp; năng lực xã hội và năng lực cá nhân

Như vậy, kết quả các công trình nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo nhằm phát triển năng lực người học đã xuất hiện rất sớm và không ngừng phát triển trong lịch sử giáo dục Việt Nam Đặc biệt trước yêu cầu của xã hội hiện đại, việc đào tạo theo tiếp cận năng lực đã trở thành xu thế tất yếu, phổ quát đối với các cấp học, bậc học, nhất là trong đào tạo nghề Đào tạo theo tiếp cận năng lực đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó cốt lõi là xây dựng, quản lý chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên và xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo; đây là những căn cứ khoa học cho vận dụng trong quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực nói chung và quản lý đào tạo diễn viên múa nói riêng

Trang 24

1.2 Nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

dù đã hình thành như: tuyển sinh, xây dựng chương trình, nội dung, hình thức

tổ chức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo cho đào tạo…mặc dù còn ở trình độ sơ khai ban đầu, song nó luôn gắn liền với hoạt động quản lý của những người quản lý trường và các cộng sự thuộc quyền Từ cái nôi ban đầu

ấy, Trường trung cấp hàn lâm Múa Lêningrat (thế kỷ 18) đã phát triển hết sức mạnh mẽ trong thế kỷ 19; và nó đã khẳng định tính vững chắc về trình độ chuyên môn và uy tín xã hội của sản phẩm đào tạo Dưới chính quyền Xô Viết, nghệ thuật múa đã đạt được những thành công rực rỡ, trường phái múa

Xô Viết đã được toàn thế giới thừa nhận, sinh viên nghệ thuật khắp nơi trên thế giới (cả Việt Nam) khát khao được đến Liên Xô (nước Nga hiện nay) để học tập nghệ thuật múa điêu luyện đó Trường trung cấp hàn lâm Múa Lêningrat đã đào tạo cho Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới những nhà hoạt động nghệ thuật múa xuất sắc, thành công đó không chỉ nhờ tài năng của những nhà sư phạm tâm huyết, mà còn do trường đã xây dựng và tổ chức đào tạo theo một chương trình, nội dung đào tạo hết sức khoa học, đã chú trọng đễn việc phát triển năng lực nghề nghiệp của đội ngũ diễn viên; như vậy

uy tín về chất lượng đào tạo của trường không thể không là hệ quả của công tác quản lý đào tạo

Năm 1934, tác giả A.I.A Vaganôra xuất bản tác phẩm:“Những nền

tảng cơ bản của múa cổ điển Châu Âu”, nội dung cuốn sách tổng kết toàn bộ

kinh nghiệm giảng dạy về nhiều mặt; đặc biệt Bà đã khái quát hệ thống

Trang 25

phương pháp giảng dạy nghệ thuật múa cổ điển Châu Âu hết sức nghiêm khắc, trên cơ sở khoa học nhưng không hạn chế sự phát triển sáng tạo riêng của sinh viên; do đó nhiều ý kiến đánh giá đây là đỉnh cao trong sự phát triển phương pháp huấn luyện múa cổ điển Châu Âu Từ tác phẩm giáo khoa đầu tiên đó đã thúc đẩy sự ra đời hàng loạt cuốn sách giáo khoa mới như: năm

1938 các tác giả A.Siriaeva và A Laupukhop, A Botracop biên soạn ra đời

cuốn sách: “Những nền tảng cơ bản của múa tính cách”; năm 1941 tác giả N.P Ivanopxki biên soạn ra đời cuốn sách:“Múa thính phòng”; năm 1952 tác giả L.Vamolovich biên soạn ra đời cuốn sách:“Những yếu tố cơ bản của múa

cổ điển Châu Âu và quan hệ của nó trong âm nhạc”[68]; và đến năm 1958

ông biên soạn cuốn sách: Nguyên tắc của những động tác liên tục và Sách giáo khoa giành riêng cho những lớp múa đầu tiên…

Những cuốn sách của các tác giả trên đã bàn đến hệ thống kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên ngành và cơ sở ngành, cùng với hệ thống kỹ năng cơ bản và chuyên biệt cho từng đối tượng người học khác nhau Sự cống hiến đó của các tác giả đã đặt nền móng cho sự phát triển đào tạo ngành diễn viên múa của thế giới, trong đó có Việt Nam ở thế kỷ 20 Đồng thời các kết quả nghiên cứu biên soạn trên cũng đặt nền móng cho các nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động đào tạo ở các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ngành múa nói chung, đào tạo diễn viên múa nói riêng theo hướng phát triển năng lực của người học, nhất là năng lực nghề nghiệp

Trong lịch sử múa Xô Viết không thể không nhắc đến Balê, nó là trung tâm Balê Nga (Liên Xô) trong thế kỷ 20, nó cũng là hiện tượng nghệ thuật múa thế giới, với những phát hiện mới, sáng tạo mới để tạo ra trường phái mới là Balê Nga – Xô Viết của thế kỷ 18-20 Những công trình, cuốn sách tiêu biểu về Balê Nga – Xô Viết trong thời kỳ này phải kể đến tác giả

Pleshcheec viết năm 1896 cuốn “Balê của chúng ta” [85]; tác giả Khudekov viết từ 1913-1918 cuốn “Lịch sử múa” [65] 4 tập; tác giả Svetlov viết năm

1911 cuốn “Balê đương đại” [92]…Tác giả Levinson viết 1914 với các tác

Trang 26

phẩm “Nghệ sĩ Balê” [66], “Balê cổ và mới” [67] viết 1918 là người đầu tiên

tìm ra phương pháp phân tích tác phẩm múa Tác giả Slonimsky năm 1968

viết cuốn “Chào mừng nền nghệ thuật mới” [91] cuốn sách trên đã đề cập đến

tình hình sáng tác và phát triển Balê trong giai đoạn này Đến năm 1975 tác

giả Dobrovolskaia viết cuốn “Múa kịch câm, Balê” [26]; năm 1980 tác giả Karp viết cuốn “Về Balê” [64]; trong các thập kỷ nửa cuối thế kỷ 20 một số

tác phẩm về múa Balê đã mở rộng phạm vi quan tâm nghiên cứu đến múa

nước ngoài như: Ba lê Anh (1959), Sân khấu Ba lê Tây Âu (1979)…Sự ra đời

những tác phẩm nghiên cứu về múa như trên, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật đặc sắc nổi tiếng thế giới này; và cũng từ đó cho thấy đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy hùng hậu của ngành múa đã tạo dựng

cơ sở khoa học cho sự phát triển nghệ thuật múa đến đỉnh cao

Như vậy, sự ra đời của các tác phẩm kể trên đã đánh dấu bước trưởng thành về khái quát lý luận cơ bản của toàn bộ chương trình đào tạo môn múa

cổ điển Châu Âu; đồng thời nó là công cụ (tư liệu quý) để giảng viên và sinh viên chuyên ngành múa tiến hành hoạt động giảng dạy và học tập có kết quả Mặt khác, nội dung các cuốn sách, công trình nghiên cứu về nghệ thuật múa trình bày trên, cả lĩnh vực sáng tác và biểu diễn còn là công cụ phương tiện (tài liệu) để các nhà quản lý kiểm soát hoạt động đào tạo, đánh giá kết quả dạy học của thầy và trò theo hướng tiếp cận năng lực

Trong các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật của Trung quốc, Học viện Múa Bắc Kinh là một trung tâm đào tạo nổi tiếng thế giới, chương trình khung đào tạo ngành diễn viên Múa (bậc đại học) ở Học viện Múa Bắc Kinh đã bàn đến: Những nguyên tắc cơ bản và quy định cụ thể về phương án

(chương trình) đào tạo các chuyên ngành biểu diễn múa Cổ điển Trung Quốc gồm các chuyên ngành như: Biểu diễn múa Ballet; Biên đạo múa; Biểu diễn

múa hiện đại; Vũ đạo học chuyên ngành “Lịch sử múa và lý luận”; Biểu diễn múa tiêu chuẩn Quốc tế (Quốc tế vũ – viết tắt); Biểu diễn kịch âm nhạc; Biên đạo múa truyền hình; Quản lý phong trào văn hóa quần chúng, giao lưu trong

và ngoài nước…Như vậy, chương trình đào tạo ngành nghệ thuật múa ở Học

Trang 27

viện Múa Bắc Kinh vừa toàn diện và phản ánh tính phong phú đa dạng của nghệ thuật múa và đều hướng tới phát triển năng lực nghề nghiệp của từng loại hình diễn viên múa

Kết quả nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo diễn viên múa ở nước ngoài cho thấy, cùng với lịch sử phát triển lĩnh vực đào tạo văn hóa nghệ thuật, cũng xuất hiện công trình nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo diễn viên múa Kết quả nghiên cứu chỉ rõ lĩnh vực đào tạo chuyên ngành múa trên thế giới đã đạt những thành tựu đáng kể, gắn liền với sự phát triển hệ thống đào tạo, quản lý đào tạo nghề nghiệp trong xã hội hiện đại Một số công trình

đã làm rõ nội dung quản lý mục tiêu, chương trình nội dung đào tạo, hình thức, phương pháp đào tạo và các nguồn lực đảm bảo cho hoạt động đào tạo hướng tới phát triển năng lực của người học Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống năng lực diễn viên múa, mối quan hệ của hệ thống năng lực đó chưa được luận bàn kỹ lưỡng, mặc dù nó là căn cứ của quản

lý đào tạo theo tiếp cận năng lực; chương trình đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực chưa được tổ chức xây dựng; nội dung và giải pháp quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực chưa luận bàn một cách toàn diện…Những ưu điểm và hạn chế đó đặt nền móng, điểm tựa cho nghiên cứu, hoàn thiện lý luận quản lý đào tạo diễn viên múa theo theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay

1.2.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về quản lý đào tạo ngành diễn viên múa theo tiếp cận năng lực, là vấn đề chưa được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề nói chung, đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật nói riêng có một số công trình nghiên cứu dưới dạng hội thảo khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ ở các góc độ, phạm vi rộng hẹp khác nhau, điều đó tạo nên điểm tựa cho việc nghiên cứu tham khảo trong nghiên cứu đề tài luận án như:

Các công trình nghiên cứu trong quản lý đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề của đất nước như: tác giả Nguyễn Minh Đường (1996) "Bồi dưỡng

Trang 28

và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" đề tài KX-07-14; tác giả Trần Khánh Đức (2003) "Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực"; Tác giả Trần Hùng Lượng (2005), "Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng"; Phan Chính Thức (2003) “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH”luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội; tác giả Nguyễn Viết Sự (2005), “Giáo dục nghề nghiệp – Những vấn đề và giải pháp” Các công trình trên, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của đào tạo, quản lý đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện hiện nay và khẳng định cần thiết phải quản lý khoa học quá trình đào tạo nguồn nhân lực; đồng thời đề cập đến một số những vấn

đề cơ bản về chức năng quản lý, nội dung, nguyên tắc, phương pháp trong quản lý đào tạo nguồn nhân lực hiện nay Đây là những định hướng quan trọng cho nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo nguồn nhân lực trong các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay và quản lý đào tạo diễn viên múa trong các trường văn hóa nghệ thuật

Những năm gần đây, kết quả nghiên cứu cho thấy một số tác giả đã nghiên cứu và bảo vệ thành công đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý

giáo dục về quản lý đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo nghề trong các lĩnh

vực khác nhau như: Tác giả Nguyễn Văn Hùng (2010), nghiên cứu về: Quản

lý đào tạo của trường cao đẳng nghề theo tiếp cận đảm bảo chất lượng Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), nghiên cứu về: Quản lý hoạt động đào tạo

ở học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả Hồ Cảnh Hạnh (2012), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo giáo viên trung học cơ sở ở các trường cao đẳng sư phạm miền đông Nam Bộ đáp ứng nhu cầu xã hội Tác giả Nguyễn Thứ Mười (2013), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo cán bộ chỉ huy đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh theo hướng đảm bảo chất lượng Tác giả Bùi Ngọc Kính (2015), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo cử nhân bằng kép tại đại học quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) Tác giả Nguyễn Xuân Bình (2015), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo nhân lực điều dưỡng ở các trường Cao đẳng Y tế đáp ứng nhu cầu xã hội” Tác giả

Trang 29

Trần Văn Long (2015), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo của các trường Cao đẳng du lịch đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp khu vực đồng bằng Bắc Bộ Tác giả Đặng Việt Xô (2016), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo ở các trường đại học kỹ thuật - hậu cần công an nhân dân theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể Tác giả Vũ Thị Hoà (2016), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường cao đẳng ở Việt Nam Tác giả Trần Văn Tuấn (2016), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo ở trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương đáp ứng thị trường lao động Tác giả Nguyễn Kim Nhung (2017), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng khu vực phía bắc theo hướng đảm bảo chất lượng Tác giả Nguyễn Xuân Thủy (2017), nghiên cứu về: Quản lý đào tạo theo chuẩn đầu ra ở các trường cao đẳng nghề Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…

Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học trên, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã xây dựng, hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo, quản lý đào tạo theo hướng nghiên cứu, đưa ra các khái niệm, đặc điểm, nội dung quản lý đào tạo và những kinh nghiệm, yếu tố tác động đến quản lý đào tạo Trên cơ sở đó, khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý đào tạo, nhất là thực trạng vấn đề chất lượng đào tạo của các nhà trường, rút ra nguyên nhân hạn chế, tồn tại trong quản lý đào tạo; từ đó đề xuất giải pháp có tính khả thi trong quản lý đào tạo ở nhà trường hiện nay Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học trên về lý luận, thực tiễn và giải pháp, có vai trò định hướng cho việc nghiên cứu, kế thừa, phát triển; và là một trong những căn cứ khoa học giúp cho việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận quản

lý đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật và quản lý đào tạo diễn viên múa trong các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực hiện nay

Một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và quản

lý đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật như; tác giả Trịnh Minh

Ngọc:"Nghệ thuật múa của người Lô Lô ở Hà Giang"[84]; tác giả Nguyễn Quỳnh Lan "Balê ở Việt Nam đào tạo và biểu diễn"[69]; tác giả Đỗ Thị Thu Hằng (2010):"Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học

Trang 30

múa dân gian Việt Nam bậc trung cấp tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam"[51] Năm 1993 Viện Âm nhạc và Múa tổ chức hội thảo về: Những vấn

đề dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa Và năm 2007 Trường Cao Đẳng

Múa Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học về: “Đào tạo diễn viên múa trong

thời kỳ phát triển và hội nhập”[11] đã thu hút được nhiều tác giả tham gia

viết bài báo cáo khoa học và đăng trên kỷ yếu hội thảo như: tác giả Đào Phương Duy:"Yếu tố khoa học của múa cổ điển châu âu trong đào tạo nghệ thuật múa ở Việt Nam"; tác giả Quách Như Quỳnh:"Nhạc và múa trong chương trình dạy múa dân gian Việt Nam ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam"; tác giả Cao Chí Thành:"Tiếp thu tinh hoa một số trường phái múa cổ điển châu âu trong nghệ thuật ballet Việt Nam"; tác giả Cao Thị Hồng Minh :“Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Múa Việt Nam đáp ứng mục tiêu nâng cấp lên Học viện vào năm 2015"

Các công trình trên nhận định: múa trong xã hội hiện nay là một nghề chuyên biệt, có những đặc điểm chuyên biệt, do đó phải tổ chức đào tạo diễn viên múa một cách bài bản, theo đúng góc độ đào tạo nghề nghiệp chuyên biệt Từ đó đã có một số công trình đòi hỏi phải tiếp cận năng lực chuyên môn trong xây dựng chương trình, nội dung và tổ chức chỉ đạo quá trình đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay

Về mặt tổ chức, trong công trình: “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020”, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã làm rõ các vấn đề như: Đặc thù và thực trạng đào tạo văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam; Chương trình, giáo trình và các ngành đào tạo; Đội ngũ giảng viên, giáo viên; Quy mô đào tạo; hợp tác quốc tế về đào tạo và đầu tư cơ sở vật chất của các nhà trường Đồng thời, trong công trình này cũng chỉ rõ mặt tồn tại hạn chế về chất lượng đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật, nguyên nhân của những hạn chế đó; từ đó xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật và tổ chức thực hiện Trong các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện, công trình này cũng đã đề cập đến giải pháp: Đổi mới quản lý

Trang 31

các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật ở tầm vĩ mô của Bộ, mà chưa có giải pháp nào bàn cụ thể đến quản lý đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật Như vậy, trong công trình này vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ở các trường văn hóa nghệ thuật đã phản ánh khá rõ thực trạng vấn đề và nguyên nhân hạn chế tồn tại về chất lượng đào tạo, trong đó có nguyên nhân từ khâu quản lý đào tạo của các nhà trường Và vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của đất nước được quan tâm và

đề cập khá toàn diện, từ đánh giá thực trạng đào tạo văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam; khái quát mạng lưới các cơ sở đào tạo về văn hoá nghệ thuật toàn quốc; trong đó xác định rõ chương trình, giáo trình đào tạo; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; công tác đào tạo sau đại học; hợp tác quốc tế về đào tạo và thực trạng đội ngũ giảng viên, giáo viên văn hóa nghệ thuật ở các nhà trường…từ

đó làm cơ sở để đưa ra quan điểm, mục tiêu, giải pháp và kinh phí thực hiện

Ngoài ra, trong danh mục tài liệu tham khảo còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài, báo cáo khoa học trong hội thảo…các công trình

đó đều liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực các ngành văn hóa nghệ thuật, trong đó có ngành diễn viên múa

Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học trên, với hướng tiếp cận khác nhau đã đề cập đến khó khăn, thuận lợi và sự chuyển biến tích cực trong đào tạo diễn viên múa, điều kiện bảo đảm và đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo như: nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; múa dân gian, múa balê, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học tạo nên những tiền đề lý luận cho nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực

1.3 Khái quát các kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu về đào tạo, quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực; và quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực cho thấy, nhìn chung các công trình đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý đào tạo, làm rõ bản chất, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, phương

Trang 32

pháp quản lý đào tạo Các công trình nghiên cứu chỉ rõ: múa là một nghề chuyên biệt có tính đặc thù cao, đòi hỏi tổ chức đào tạo hết sức công phu, bài bản, nghiêm khắc và bám sát yêu cầu về năng lực của nghề để tổ chức đào tạo một cách khoa học Một số công trình đề cập về sự cần thiết và nội dung quản

lý quá trình đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực như: quản lý nội dung, chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, quản lý

cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, quản lý kết quả đào tạo

Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận hết sức quan trọng trong nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn quản lý đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa, nghệ thuật hiện nay; tuy

nhiên khi nghiên cứu vấn đề này ở nước ta hiện nay còn một số vấn đề đặt ra

cần tiếp tục nghiên cứu như sau:

Một là, các công trình đã đề cập đến tính đặc thù của nghề múa, nhưng

chưa làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tính đặc thù của nghề nghiệp với yêu cầu đặt ra trong đào tạo diễn viên múa từ khâu tuyển sinh, tổ chức đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ giảng viên, người học diễn viên múa hiện nay

Hai là, các công trình mới chỉ đề cập đến yêu cầu cần thiết phải quản lý

đào tạo nói chung, đào tạo diễn viên múa nói riêng theo tiếp cận năng lực, nhưng chưa nghiên cứu sâu và làm rõ một số vấn đề như: hệ thống năng lực của diễn viên múa, mối quan hệ của hệ thống năng lực đó, đây là căn cứ rất quan trọng của quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực; chưa làm rõ phương thức tổ chức xây dựng chương trình đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực Nhất là chưa làm rõ một cách toàn diện nội dung cơ bản của quản lý đào tạo diễn viên múa của các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực và những yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến khâu quản lý…là những vấn đề gì, thực trạng của các vấn đề đó hiện nay

Ba là, chưa có công trình nào đề cập đến giải pháp quản lý đào tạo diễn

viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực Tình hình

đó đặt ra cho luận án phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn

Trang 33

và đề xuất hệ thống giải pháp khoa học, khả thi, đồng bộ cho vấn đề quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành nghệ thuật múa, đáp ứng yêu cầu của các đoàn nghệ thuật và xã hội trong bối cảnh mới

Kết luận chương 1

Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận

án cho thấy, nhìn chung các kết quả nghiên cứu đã làm rõ vai trò, tầm quan trọng của việc quản lý đào tạo theo hướng phát triển năng lực cho người học trong nhà trường, nhất là đào tạo nghề Các công trình nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý đào tạo, làm rõ bản chất, nguyên tắc quản lý đào tạo; và đề cập đến một số mô hình quản lý đào tạo mới Đây là những cơ

sở lý luận chung cho vận dụng trong quản lý đào tạo ở từng trường, từng chuyên ngành và loại hình đào tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy: múa là một nghề chuyên biệt có tính đặc thù cao, đòi hỏi phải được tổ chức đào tạo hết sức công phu, nghiêm khắc và khoa học Mặt khác, một số công trình nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo cho các ngành chuyên biệt của nghệ thuật múa thể hiện khá rõ quan điểm tiếp cận năng lực trong quá trình xây dựng các chương trình đào tạo đó Một số công trình đã đề cập về sự cần thiết phải quản lý tốt quá trình đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay; đồng thời đề cập đến đào tạo diễn viên múa ở các trường văn hóa nghệ thuật theo tiếp cận năng lực như: quản lý nội dung, chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, quản lý kết quả đào tạo Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận hết sức quan trọng trong nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn quản lý đào tạo diễn viên

múa theo tiếp cận năng lực ở các trường văn hóa, nghệ thuật hiện nay

Chương 2

Trang 34

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN VIÊN MÚA THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 2.1 Một số vấn đề về đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

2.1.1 Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật

2.1.1.1 Đào tạo nguồn nhân lực

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người”[106] Hoặc có thể hiểu: Đào tạo là làm cho một người trở thành người

có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho

họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”[35] Ngoài ra còn nhiều tác giả khác bàn đến vấn đề này như: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Phạm Viết Vượng, Bùi Minh Hiền Tiếp cận các tài liệu của các tác giả trên cho thấy sự thống nhất khi quan niệm về đào tạo: Về

cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách; và nó là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành cho người học các tri thức, kỹ năng, thái độ một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Hoặc có thể hiểu, đào tạo là một quá trình dạy và học mang tính chuyên biệt, nhằm trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu nghề nghiệp chuyên môn, chuyên sâu,

để họ có khả năng lao động góp phần vào việc duy trì và phát triển cuộc sống trong cộng đồng xã hội

Trang 35

Bên cạnh đó có quan niệm cho rằng, đào tạo chính là “Quá trình cải biến nhân cách theo mục tiêu đào tạo” [45] Như vậy, đào tạo về cơ bản được xem như quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo mới, tổ chức thực hiện đào tạo trong điều kiện đảm bảo về các nguồn lực Vì là quá trình, nó có: trạng thái ban đầu gọi là đầu vào, sự diễn biến chủ yếu ở đây là hoạt động đào tạo và trạng thái kết thúc gọi là đầu ra Các quan niệm trên về đào tạo có vai trò định hướng cho việc nghiên cứu đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” là: “Nơi có thể cung cấp sức người, hoặc

về mặt sử dụng trong lao động sản xuất”

Như vậy có thể hiểu: đào tạo nguồn nhân lực hay đào tạo nhân lực, bao

gồm các vấn đề cần phải giải quyết như: Đào tạo cái gì (xác định ngành nghề đào tạo, những tri thức, kỹ năng và phẩm chất của nguồn nhân lực); Đào tạo mức độ ra sao (theo trình độ đào tạo: nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học; Đào tạo theo tính chất: đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu hiện tại của thị trường lao động; đáp ứng cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế quốc dân); Đào tạo bao nhiêu (số lượng và cơ cấu vùng miền, ngành sản xuất)

2.1.1.2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật

Trên cơ sở kế thừa các quan niện trên, có thể quan niệm: Đào tạo

nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật: Là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức và kế hoạch chặt chẽ của các cơ sở đào tạo, nhằm phát triển ở người học về tri thức, kỹ năng và thái độ một cách có hệ thống, góp phần hình thành năng lực và phẩm chất nghề nghiệp cho người học, đáp ứng đòi hỏi của các đoàn nghệ thuật và xã hội

Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật chính là đào tạo những con người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, với các chuyên môn nghề nghiệp khác nhau, nó thuộc đào tạo nghề; do vậy cần quán triệt các nguyên tắc theo quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước, đảm bảo đào tạo theo nhu cầu, đào tạo gắn liền với thực tiễn và đào tạo có hiệu quả

Trang 36

Điều đó có nghĩa là: các chương trình, giáo trình, nội dung đào tạo phải phản ánh đường lối quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, phải luôn hoàn thiện và đổi mới theo sự phát triển xã hội và đất nước Mặt khác khi xác định và xây dựng nội dung, chương trình đào tạo phải trên cơ sở nhu cầu thực tiễn của các đoàn nghệ thuật, của xã hội, tránh đào tạo những gì

xã hội và các đoàn nghệ thuật không có nhu cầu Trong đào tạo luôn gắn lý thuyết với thực hành, trang bị cho học sinh, sinh viên những tri thức, kỹ năng cần thiết nhằm phục vụ thiết thực cho nghề nghiệp của họ sau khi ra trường Quán triệt và thực hiện nguyên tắc tính hiệu quả trong tổ chức đào tạo, từ khâu xây dựng kế hoạch, đến công tác tuyển sinh, tổ chức triển khai các hoạt động dạy và học, các điều kiện đảm bảo, kiểm soát và đánh gía quả đào tạo

2.1.1.3 Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật

Đào tạo văn hoá nghệ thuật là ngành đào tạo đặc biệt dựa trên cơ sở năng khiếu; tính đặc thù thể hiện từ công tác tuyển sinh, đến quy trình đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và kiểm tra, giám sát, đánh giá các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo; cụ thể như:

* Một là, công tác tuyển sinh của các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật

có những đặc thù riêng, mỗi kỳ tuyển sinh các nhóm ngành âm nhạc, múa, sân khấu, điện ảnh, xiếc…các trường đều phải tiến hành tuyển theo hai vòng độc lập: thi năng khiếu ở vòng sơ tuyển và thi kiến thức kết hợp với năng khiếu ở vòng chung tuyển Có những thí sinh có năng khiếu rất tốt nhưng trình độ văn hóa phổ thông lại hạn chế và ngược lại; vì vậy mỗi đợt tuyển sinh, hàng trăm thí sinh đăng ký dự thi nhưng chỉ trúng tuyển một số ít, nên quy mô đào tạo văn hóa nghệ thuật rất thấp; và có thể được tuyển từ độ tuổi rất nhỏ và được đào tạo liên tục trong nhiều năm

*Hai là, đào tạo nghệ thuật là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực

hành mang tính truyền nghề, tạo cho các em phát huy khả năng sáng tạo cao Trong nhiều ngành nghệ thuật, việc thực hành được đặt lên vị trí hàng đầu và đòi hỏi số lượng thời gian nhiều hơn so với lĩnh vực đào tạo khác

Trang 37

* Ba là, điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo văn hoá nghệ thuật

là một yêu cầu rất quan trọng, các trang thiết bị: âm thanh, ánh sáng đối với lĩnh vực đào tạo sân khấu, điện ảnh, các phòng tập, phòng hòa nhạc đối với đào tạo âm nhạc, sàn tập đối với đào tạo múa…có tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo của các nhà trường

*Bốn là, vai trò của người thầy đối với đào tạo nghệ thuật là rất quan

trọng, thầy giỏi và có nhiều tác phẩm nghệ thuật xuất sắc sẽ có tác động lớn đối với việc học tập của trò; hơn nữa trong một số lĩnh vực đào tạo như: múa, xiếc, sân khấu, âm nhạc…người thầy sử dụng phương pháp thị phạm truyền nghề là chính Vì vậy, việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giảng viên, giáo viên, tạo điều kiện để họ có tác phẩm tốt và đề ra chính sách,

chế độ đãi ngộ đối với giáo viên, giảng viên nghệ thuật là rất cần thiết

2.l.2 Đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực

2.1.2.1 Quan niệm về năng lực

Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa năng lực là: “phẩm chất sinh lý và

trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[106, tr.816]

Như vậy, năng lực (competency) là tổ hợp các thuộc tính sinh học, tâm

lý và xã hội của cá nhân được hình thành từ tư chất, học tập và rèn luyện, cho phép cá nhân thực hiện thành công một dạng hoạt động nhất định theo yêu cầu hay chuẩn nào đó Năng lực có cấu trúc phức tạp, thành phần của nó

không chỉ gồm kiến thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), mà phải bao gồm cả yếu tố quan trọng nhất là “kinh nghiệm thực tế”trong công việc tương ứng Có nhiều cách phân loại năng lực khác nhau trong đó có các cách phân loại chủ yếu sau:

Năng lực chung (General Competency): Là những năng lực cơ bản,

thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động…

Trang 38

các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, của quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống

Năng lực chuyên biệt (Property Competency): Là những năng lực riêng

được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường lao động đặc thù

Năng lực cũng có thể được phân loại thành các năng lực thành phần như năng lực xã hội, năng lực cá nhân, năng lực về phương pháp và năng lực nghề nghiệp; hoặc trong quá trình lao động nghề nghiệp có thể phân ra các loại năng lực về ý tưởng-thiết kế-thi công-vận hành; giám sát và đánh giá

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Năng lực của người học là tổng

hợp các thuộc tính sinh học, tâm lý và xã hội của cá nhân được hình thành từ

tư chất, học tập và rèn luyện, cho phép người học thực hiện hoạt động học tập đạt hiệu quả cao theo yêu cầu của người dạy và nhà trường

Quan niệm trên chỉ rõ: Năng lực của người học là tổng hợp các thuộc

tính sinh học, tâm lý và xã hội của người học, trước hết biểu hiện ở nhận thức

Người học có năng lực nhận thức sẽ là người có nhận thức nhanh, sáng tạo,

độc lập và linh hoạt trong học tập Thứ hai, người học có tư duy sáng tạo, suy

luận và phán đoán nhanh, chính xác; không thụ động lĩnh hội kiến thức, mà tự

mình tiếp thu, xử lý, vận dụng kiến thức vào thực tế công tác Thứ ba, người

học có thái độ đúng, trách nhiệm cao trong học tập

Năng lực của người học trong hoạt động học tập không phải là sự cộng

lại giản đơn các thuộc tính sinh học, tâm lý và xã hội, mà là tổng hòa các

thuộc tính đó chi phối đến hoạt động học tập của người học

Trong thời đại ngày nay, khi khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ và hội nhập và hợp tác quốc tế đang trở thành xu thế toàn cầu, thì việc đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo là điều kiện tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Giáo dục có sứ mệnh đào tạo nhân lực có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động; đặc biệt cần quan

Trang 39

tâm phát triển năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và

trách nhiệm, năng lực cộng tác và giải quyết các vấn đề cho người học

Trong xã hội, mỗi cá nhân hoạt động ở lĩnh vực nghề nghiệp nào, muốn đáp ứng yêu cầu của người quản lý lãnh đạo đều phải có năng lực nghề nghiệp, nhất là lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, một loại hình lao động đặc thù gắn liền với các tố chất năng khiếu cá nhân, đặc biệt là nghề diễn viên múa

Từ các quan niệm trên, có thể khái quát năng lực của diễn viên múa

như sau: Năng lực của diễn viên múa là tổng hợp các thuộc tính sinh học, tâm

lý và xã hội của cá nhân được hình thành từ tư chất, học tập và rèn luyện, cho phép người diễn viên thực hiện có hiệu quả hoạt động biểu diễn tác phẩm nghệ thuật múa theo yêu cầu của biên đạo múa đoàn nghệ thuật

Như vậy học sinh, sinh viên chuyên ngành múa được đào tạo thành diễn viên múa, là những người có năng khiếu (tư chất) được tuyển chọn chặt chẽ phải nhận thức và ý thức đầy đủ việc học tập, rèn luyện để hình thành, phát triển năng lực vốn có dưới sự chỉ đạo của người huấn luyện múa

2.1.2.2 Tiếp cận năng lực trong đào tạo diễn viên múa

Nghị quyết 29 Trung ương 8 khóa XI ghi rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực” [40, tr.120] Quán triệt quan điểm trên của Đảng, yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo diễn viên múa cần hướng đến hình thành và phát triển năng lực của người học; đó là năng lực biểu diễn các loại hình nghệ thuật múa theo các chuyên ngành để khi ra trường hành nghề có hiệu quả Do đó, định hướng hình thành năng lực cho người học phải được quán triệt trong toàn bộ quá trình đào tạo, từ mục tiêu, chương trình nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo; và đó chính là tiếp cận năng lực trong đào tạo diễn viên múa mà đề tài luận án hướng đến

Trang 40

Quan điểm tiếp cận năng lực trong đào tạo nghề đã được các nhà khoa học khái quát và xác định rõ các yếu tố cơ bản của nó Kết quả nghiên cứu

cho thấy, từ năm 1987 tác giả R.E Norton [117] đã đưa ra các yếu tố cơ bản

trong hệ thống đào tạo theo tiếp cận năng lực như sau: Một là, những năng

lực cần đạt phải được xác định cẩn thận, thẩm tra lại và công bố công khai

trước; Hai là, các tiêu chí sử dụng trong đánh giá kết quả và những điều kiện

mà trong đó kết quả đánh giá phải được tuyên bố một cách rõ ràng và công bố

công khai trước; Ba là, chương trình đào tạo sẽ được cung cấp cho sự phát triển của các cá nhân, và đánh giá mỗi năng lực được xác định cụ thể; Bốn là,

đánh giá năng lực sẽ quan tâm đến kiến thức và thái độ của người tham gia,

nhưng việc thực hiện các năng lực là nguồn bằng chứng chính; Năm là, sự

tiến bộ của những người tham gia qua chương trình đào tạo theo tỷ lệ riêng của họ tùy theo minh chứng đạt được những năng lực cụ thể

Trong đào tạo diễn viên múa theo tiếp cận năng lực cần nghiên cứu, quán triệt và vận dụng quan điểm này từ khâu tuyển sinh đến tổ chức đào tạo

và đánh giá kết quả

Theo tác giả Đặng Thành Hưng [58]: tiếp cận năng lực trong đào tạo là cách tiếp cận đảm bảo cho đào tạo vừa tập trung phát triển năng lực của sinh viên, vừa làm điều đó dựa vào năng lực nền tảng của sinh viên Trong kinh nghiệm của sinh viên luôn có sẵn hoặc tiềm tàng những tiền đề và điều kiện bên trong của năng lực; và đào tạo cần phải dựa vào đó để phát triển người học; do vậy tiếp cận năng lực không chỉ đơn thuần một chiều là phát triển

năng lực, mà trước hết là dựa vào năng lực người học Quan điểm trên rất phù

hợp với tính chất đào tạo nguồn nhân lực đặc thù hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung, đào tạo diễn viên múa nói riêng

Khi nghiên cứu lý thuyết đào tạo theo tiếp cận năng lực, từ năm 1996 tác giả K.E Paprock [118] cho rằng, đào tạo theo tiếp cận năng lực có các

tính chất cơ bản như: Một là, nó dựa trên tư tưởng giáo dục lấy hoạt động của

học sinh làm trung tâm; Hai là, thực hiện nó nhằm đáp ứng đòi hỏi của người

Ngày đăng: 29/03/2018, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w