1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản

97 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích chủ yếu của kế toán quảntrị là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểmsoát quá trình hoạt động trong khi mục đích chủ yếu của kế toán tài

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản (sau đây gọi tắt là Công ty SEATECCO)

với lĩnh vực kinh doanh chính là xây lắp các công trình cơ điện lạnh và kinh doanhvật tư, thiết bị ngành thủy sản và công nghiệp lạnh, tính cạnh tranh giữa các đơn vịxây lắp trong ngành cơ điện lạnh rất lớn Yếu tố quyết định lớn nhất để đơn vị trúngthầu các công trình cơ điện lạnh là giá Do đó, thông tin về chi phí đóng vai trò quantrọng giúp nhà quản trị kiểm soát được chi phí nhằm đưa ra mức giá hợp lý trongcông tác đấu thầu cũng như việc kiểm soát được chi phí sản xuất phát sinh tại Công tySEATECCO

Hiện nay, Kế toán Công ty SEATECCO mới chỉ hướng vào kế toán tài chính

và sản phẩm chính là báo cáo tài chính, chủ yếu phục vụ cho báo cáo thuế Thông tincung cấp cho nhà quản trị chưa đảm bảo tính phù hợp, kịp thời và tính tin cậy do một

số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bộ máy kế toán tại Công ty chỉ có hệ thống kế toán tài chính, chưa

có hệ thống kế toán quản trị

Thứ hai, việc tổ chức phân loại và tập hợp chi phí mới chỉ hướng tới việc tính

giá thành cho từng công trình Chưa thực hiện phân loại chi phí theo chi phí trực tiếp

và chi phí gián tiếp

Thứ ba, chưa thành lập các trung tâm chi phí để phục vụ cho việc phân tích,

kiểm soát chi phí sản xuất

Thứ tư, chưa xây dựng hệ thống định mức chi phí nội bộ riêng cho từng khoản mục chi phí

Trên đây là một số vấn đề cần khắc phục tại đơn vị Sau khi những vấn đềnày được giải quyết thì sẽ giúp cho công tác hạch toán kế toán, phân tích, kiểm soátnhằm cắt giảm chi phí có hiệu quả hơn Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phùhợp, kịp thời và tin cậy

Trang 2

Xuất phát từ lý do trên, tác giả nghiên cứu đề tài “ Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản”

2 Tổng quan

Việc nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nóiriêng đã được rất nhiều tác giả Việt nam nghiên cứu Tác giả Phạm Văn Dược(1997) đã nghiên cứu về “phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kếtoán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam” Trong công trình này, tác giả đã cónhững nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vàothực tiễn trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này cònmang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạtcủa kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh củatừng ngành Có một số tác giả nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị chi phí trongcác ngành nghề cụ thể Tác giả Đào Diệu Hằng (năm 2004) nghiên cứu về” Tổ chức

kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặctrên địa bàn Hà Nội”, tác giả Phạm Thị Thủy (Năm 2006) nghiên cứu về“xây dựng

mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm ViệtNam”, tác giả Phan Văn Phúc (năm 2008) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kếtoán quản trị chi phí tại Công ty vận tải đa phương thức”

Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệthống kế toán quản trị và đề xuất giải pháp ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành

cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Mặc dù vậy, tất cả các công trìnhnghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệthống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xây lắp cơđiện lạnh và đặc biệt là Công ty SEATECCO

Hướng đi mới của đề tài là góp phần chắt lọc và hoàn thiện về hệ thống kếtoán quản trị chi phí tại Công ty SEATECCO Nhằm cung cấp cho nhà quản trị

những nhận thức về kế toán quản trị chi phí và tầm quan trọng của nó Qua đó, có

thể vận dụng cho doanh nghiệp mình nhằm cải tạo lại hệ thống kế toán để mang lạilợi ích kinh tế cao hơn, giảm thiểu hóa chi phí Hiện nay sách giáo khoa, và các đề

Trang 3

tài nghiên cứu đều hướng đến các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, sản xuấtnhững mặt hàng thông dụng mà đặc điểm của những lĩnh vực kinh doanh này khác

so với lĩnh vực xây lắp Do đó đề tài góp phần giúp cho các nhà quản trị doanhnghiệp xây lắp nói chung nhận thức đúng hơn về cách tổ chức kế toán tại đơn vịmình

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong Công tySEATECCO, nhằm tìm ra những mặt còn tồn tại, từ đó mạnh dạn đề xuất các giảipháp cụ thể, khoa học nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng chi phí sản xuất tại Công tySEATECCO từ đó đưa ra nội dung kế toán quản trị chi phí tại Công ty

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, tuy nhiên ngành xây lắp các côngtrình cơ điện lạnh là chủ yếu Do đó, giới hạn của luận văn tập trung nghiên cứu cácvấn đề liên quan đến kế toán quản trị chi phí của công trình xây lắp cơ điện lạnh tạiCông ty SEATCCO

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp: Mục đích để thu thập, phân tích

những thông tin liên quan đến thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công tySEATECCO Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành phỏng vấn kế toán trưởngtại đơn vị; thu thập số liệu từ phòng kế toán, phòng kế hoạch Dựa vào việc thu thập

dữ liệu thứ cấp tác giả có thể rút ra kết luận về thực trạng áp dụng kế toán quản trịchi phí tại Công ty SEATECCO

Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: Các giáo trình, tạp chí kế toán và

các công trình của những tác giả nghiên cứu

Trang 4

6 Những đóng góp của luận văn

7 Kết cấu luận văn

- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp.

- Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty SEATECCO.

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty SEATECCO.

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN

XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí

Xã hội càng phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh càng được mở rộng,càng mang tính chất đa dạng, phức tạp thì nhu cầu thông tin càng trở nên bức thiết

và quan trọng

Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - tài chínhcủa một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tượng bên trong và bênngoài tổ chức, doanh nghiệp lại còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong giaiđoạn hiện nay – giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế, sự cạnh tranh mang tính chấtphức tạp, khốc liệt Có thể nói chính chất lượng và hiệu quả của công tác kế toánảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức đề đạtđược các mục tiêu đã đề ra Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấpcho các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức, có sự khác biệt nên thông tin kếtoán được phân biệt thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị.Mặc dù kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã minhchứng được sự cần thiết và quan trọng của nó đối với công tác quản trị, điều hànhcác tổ chức, doanh nghiệp; đặc biệt là những tổ chức, doanh nghiệp có quy mô lớn,hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành trong phạm vi rộng Hiện nay, kế toán quản trị thật

sự đã trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạtđộng, kiểm soát và ra quyết định

Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy,bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán Trảiqua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán

Trang 6

dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai địnhnghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán [15,tr5].

Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với

chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thểquản lý Định nghĩa này hướng về bản chất của kế toán Quá trình sản xuất ra của cảivật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả, nhất thiết phải cóhoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chứcthực hiện theo những hướng đã định Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vaitrò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý (quá trình sản xuất) và chủ thể quản lý

Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi

chép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức Định nghĩanày hướng về nội dung của kế toán Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thốngcác phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cânđối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, nhất quán và so sánh được nhằmgiúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đốivới tổ chức

Như vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một

bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trìnhđịnh dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh

tế của một tổ chức [17,tr11]

Để cụ thể hoá nội dung và chức năng quản trị chi phí chúng ta sẽ phân tíchđối tượng sử dụng thông tin kế toán

Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội

bộ tổ chức Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông,ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế, … Đối tượng sử dụng thông tin

kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạocác bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưnghai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau Bên ngoài

Trang 7

tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tếcủa tổ chức Các nhà quản lý trong nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theotừng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trongtương lai cho tổ chức

Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong tổchức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toánquản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bênngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho cácchủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức

Kế toán quản trị thường được định nghĩa là quá trình định dạng, đo lường,tích luỹ, phân tích, thiết lập, diễn giải và cung cấp thông tin tài chính và phi tàichính cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, đánh giá, kiểm soát tổ chức vàbảo đảm cho việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của tổ chức Khái niệm này tậptrung vào việc xác định nội dung, mục đích của kế toán quản trị, phân định ranhgiới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Mục đích chủ yếu của kế toán quảntrị là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểmsoát quá trình hoạt động trong khi mục đích chủ yếu của kế toán tài chính là cungcấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các đối tác ký kết các hợpđồng kinh tế đối với tổ chức Với mục đích khác nhau nên nội dung của kế toánquản trị và kế toán tài chính cũng khác nhau Kế toán quản trị cung cấp thông tinhướng về tương lai của tổ chức, trong khi kế toán tài chính cung cấp thông tin vềquá khứ của tổ chức Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin tài chính màcòn cung cấp thông tin phi tài chính về các quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chứccũng như môi trường bên ngoài tổ chức Hơn nữa, kế toán quản trị không phải tuânthủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán ban hành mà được thực hiện một cáchlinh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu quản trị trong nội bộ tổ chức

Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và kế toán quản trị còn có khái niệm kếtoán chi phí Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí đượcđịnh nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một

Trang 8

quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trựctiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”.Theo địnhnghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ bacủa hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính

và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị [12,tr17]

Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tínhtoán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán đểcung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quảkinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán Dưới góc độ kế toánquản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chiphí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phậncủa tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinhdoanh

Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tàichính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị còn có quan điểm đồng nhất kếtoán chi phí với kế toán quản trị Quan điểm này xuất phát từ thực tế khách quan làthông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sựsống còn của tổ chức Các nhà quản trị của tổ chức không phải đơn thuần chỉ cầnquyết định được chi phí giá vốn của hàng bán hoặc dịch vụ cung cấp mà quan trọnghơn, họ cần phải có khả năng kiểm soát chi phí của các hoạt động và các quá trìnhtrong ngắn hạn cũng như dài hạn Theo tác giả, quan điểm đồng nhất kế toán chi phívới kế toán quản trị sẽ dẫn đến sự “thiên vị” khi xây dựng hệ thống kế toán chi phítrong các tổ chức Hệ thống kế toán chi phí theo quan điểm này sẽ quá tập trung vàoviệc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ sao nhãng việc cung cấp thông tintrung thực và khách quan cho việc lập các báo cáo tài chính [15,tr6]

Theo tác giả, quan điểm kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tàichính và vừa có trong hệ thống kế toán quản trị là hoàn toàn hợp lý, trong đó bộphận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chiphí Quan điểm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của kế toán chi phí và sẽ

Trang 9

giúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức,với việc kết hợp hài hoà các mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kếtoán quản trị.

Với các phân tích trên, tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí là một bộphận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổchức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động,nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp

lý Quan điểm này sẽ là cơ sở cho tất cả các phân tích khác được trình bày trong nộidung luận văn

1.1.2 Sơ lược sự ra đời và phát triển kế toán quản trị chi phí ở Việt Nam

Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về kếtoán quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm

1990 Phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn các doanh nghiệpViệt Nam được bàn luận ngày càng nhiều, tuy nhiên thực tế áp dụng kế toán quản trịtại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế

Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tưhướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM Có thể nói, đây

là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện

kế toán quản trị tại Việt Nam

Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính vềhướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đờinhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT

1.1.3 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.1.3.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí

Kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục Đối với nhàquản trị thông tin cần thiết về quá khứ và hiện tại là dự toán cho tương lai Do đó,yêu cầu KTQT là phải xây dựng dự toán, thu nhận và xử lý các thông tin về chi phí,giá thành, thu nhập và kết quả của từng tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng côngviệc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất Tiến

Trang 10

hành phân tích kịp thời các thông tin làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp,quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sửdụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp [14,tr17].

Đối với các nhà quản lý thì những chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi lợinhuận chịu những ảnh hưởng với những chi phí đã chi Vì vậy, vấn đề đặt ra là làmsao kiểm soát được chi phí Nhận diện, phân tích các hoạt động phát sinh chi phí làmấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn đối vớihoạt động của DN KTQT chi phí cung cấp cả những thông tin quá khứ và nhữngthông tin có dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chiphí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho sự lựa chọn và đưa ra các quyết định về giábán sản phẩm, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài

KTQT không nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC mà phải đượcnhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin tronghoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định KTQT chi phí sẽ trả lờichi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay đổi của một số nhân tốnào đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí

và giải pháp đưa ra để điều chỉnh một cách kịp thời Từ đó cho thấy KTQT chi phímang nặng bản chất của KTQT hơn là kế toán chi phí thuần túy và cung cấp cácthông tin về chi phí nhằm thực hiện các chức năng quản trị [14,18]

1.1.3.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất

Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệptrong việc thực hiện các chức năng quản lý Để thực hiện vai trò của mình, kế toán

quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch và xử

lý thông tin thực hiện để từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng

kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Như vậy, kế toán quản trị chi phí đã đóngvai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý cả trước, trong và sauquá trình kinh doanh

Trang 11

Các chức năng của kế toán quản trị được khái quát như sau:

Như phần trên đã trình bày, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệthống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp họthực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản trịdoanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việcthực hiện kế hoạch và ra quyết định Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từkhâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thựchiện kế hoạch theo sơ đồ sau

Error: Reference source not found

Hình 1.1 Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp

Chức năng ra quyết định yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chọn một giải pháp hợp lý nhất trong số các giải pháp đề xuất Với chức năng lập kế hoạch các nhà

quản lý cần xây dựng các mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp và vạch ra các

bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó Với chức năng tổ chức thực hiện các nhà

quản lý cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của doanh nghiệp để

đạt được các kế hoạch đã đề ra Với chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản

lý cần so sánh báo cáo thực hiện với các số liệu kế hoạch để bảo đảm cho các bộphận trong doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu đã định

LẬP KẾ HOẠCH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

RA QUYẾT ĐỊNH

Trang 12

Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh ngiệp, nhà quản trị cần phảiđưa ra được các quyết định đúng đắn và vai trò của kế toán quản trị chi phí chính lànguồn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý trong quá trình ra quyếtđịnh.

Trên cơ cở các chức năng của quản trị doanh nghiệp, kế toán quản trị có cácvai trò sau:

Kế toán quản trị chi phí tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động củadoanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị chi phí cungcấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng kháctheo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về đặcđiểm của sản phẩm, cơ cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồn lực cóhạn cho các hoạt động của doanh nghiệp

Bên cạnh cung cấp thông tin về dự toán chi phí cho việc lập kế hoạch và raquyết định của các nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin

để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánhgiá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nângcao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động Việc cung cấp thông tin về chiphí của các hoạt động một cách chi tiết và thường xuyên sẽ giúp ích cho các nhàquản lý rất nhiều trong kiểm soát và hoàn thiện quá trình sản xuất sản phẩm hoặcthực hiện các dịch vụ vì những thông tin này giúp các nhà quản lý phát hiện cáchoạt động tốn kém quá nhiều chi phí để thiết kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạtđộng tốn kém chi phí đó hoặc có những cải tiến làm cho hoạt động đó có hiệu quảhơn, tốn kém chi phí ít hơn

Ngoài ra, các báo cáo hoạt động định kỳ so sánh kết quả thực tế với mục tiêu

dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được sử dụng đểlàm cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý và do đó cung cấp động lực để cácnhà quản lý cố gắng thực hiện tốt công việc của mình

Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhàquản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo

Trang 13

định kỳ và báo cáo đặc biệt Báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các

bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, như các sản phẩm, dịch vụ, các thị trườngtiêu thụ nhằm bảo đảm doanh nghiệp chỉ tiến hành thực hiện các hoạt động mang lạilợi nhuận Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin để phân bổ cácnguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêuthụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý Các báo cáo đặc biệt giúp cho các nhàquản lý đưa ra các quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm và dịch vụmới, đầu tư các thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán các hợp đồng dài hạn với cácnhà cung cấp và các khách hàng Trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin vềchi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất

là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trênthị trường [14,tr22]

Để thực hiện vai trò cung cấp thông tin của mình, mô hình kế toán quản trịchi phí được tổ chức thành hai nội dung cơ bản: tổ chức bộ máy kế toán quản trị chiphí và tổ chức các khâu công việc kế toán quản trị chi phí Bộ máy kế toán quản trịchi phí cần được tổ chức hợp lý để thực hiện tốt các nội dung kế toán quản trị chiphí như lập dự toán chi phí, tổ chức thu thập thông tin thực hiện, kiểm soát quá trìnhthực hiện dự toán, phân tích thông tin chi phí để ra các quyết định kinh doanh

1.2 VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH

1.2.1 Vai trò của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp cơ điện lạnh

Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,chuyên hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm xây lắp trên thị trường xâydựng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

DNXL là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và có đủ điều kiện để thựchiện những công việc có liên quan đến quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị cho cáccông trình, hạng mục công trình như: đội xây dựng, xí nghiệp xây dựng, công ty lắpmáy,

Trang 14

Tùy theo hình thức sở hữu vốn mà các DNXL có thể tồn tại dưới hình thứcdoanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty TNHH Cácdoanh nghiệp này giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì xây dựng là một nhu cầuthường xuyên và ngày một tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Ngàynay, cùng với sự phát triển của kinh tế thì xây dựng trở thành một ngành sản xuấtvật chất quan trọng phục vụ cho nền kinh tế

Các DNXL giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp Ngân sách Nhà nước,thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, giảm bớt nạn thấtnghiệp

Đối với Việt Nam, với việc hội nhập kinh tế thế giới và phát triển như hiệnnay, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến ngành xây dựng, ngân sách Nhà nước cấp choxây dựng tăng qua các năm bởi vì phát triển xây dựng là tiền đề phát triển cácngành công nghiệp khác

1.2.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp cơ điện lạnh

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp có một số đặc điểmnhư sau:

- Chủ yếu là thực hiện các hợp đồng đã ký với đơn vị chủ đầu tư sau khitrúng thầu hoặc được chỉ định thầu

- Trong ngành xây dựng việc sản xuất ra những sản phẩm nào, tiêu chuẩnchất lượng kỹ thuật ra sao đã được xác định cụ thể, chi tiết trong hồ sơ thiết kế kỹthuật được duyệt DNXL phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kỷ thuật, chấtlượng xây lắp công trình DNXL phải có bộ phận kiểm tra kỹ thuật và chất lượng đểthực hiện công tác quản lý kỹ thuật và chất lượng xây lắp công trình theo thiết kếđược duyệt nhằm bảo đảm thời gian sử dụng rất lâu dài của sản phẩm xây lắp

- Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kỹthuật phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian xây lắp dài có khi 2,3 năm

Trang 15

Trong điều kiện đó không thể chờ cho đến khi xây dựng xong mới tính toán kết quả

và thanh toán mà phải tiến hành hàng tháng, quý, năm

- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn có các điều kiện cần thiếtcho sản xuất như các loại xe máy, thiết bị, nhân công phải di chuyển theo đơn vịthi công

- Trong các doanh nghiệp xây dựng, ngoài bộ phận thi công xây lắp chínhđảm nhận thực hiện các hợp đồng đã ký với bên giao thầu còn có thể có các bộ phậnsản xuất khác như: bộ phận xây lắp phụ, bộ phận sản xuất phụ để phục vụ cho bộphận xây lắp chính và tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ các khoản hao phívật chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo ra các loạisản phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhậnthầu đã ký kết Việc kiểm soát chi phí xây lắp có tác động trực tiếp đến giá thànhsản phẩm xây lắp cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp

1.3 TỔ CHỨC MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH

Tổ chức mô hình kế toán quản trị được khái quát trên hai mô hình như sau:

Thứ nhất, tổ chức kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính:

Theo mô hình này, hệ thống kế toán quản trị được tổ chức kết hợp với hệthông kế toán tài chính, kế toán quản trị và kế toán tài chính được tổ chức thành một

hệ thống nhất trong cùng một bộ máy kế toán Các kế toán viên vừa làm nhiệm vụcủa kế toán tài chính vừa làm nhiệm vụ của kế toán quản trị Kế toán tài chính sửdụng những tài khoản tổng hợp, còn kế toán quản trị sử dụng những tài khoản chitiết kết hợp với các phương pháp thống kê toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin

Bộ phận kế toán chi phí sản xuất có chức năng thu nhận và cung cấp thôngtin vừa tổng hợp vừa chi tiết về chi phí sản xuất theo yêu cầu quản lý

Ưu điểm của mô hình này là kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản

lý cụ thể, thông tin cung cấp có độ chính xác cao hơn nhờ có sự so sánh giữa kế

Trang 16

toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc thu nhận thông tin nhanh, thuận lợi cho việctin học hóa công tác kế toán.

Tuy nhiên mô hình này có nhược điểm là tính chuyên môn hóa chưa cao,không tách biệt rõ ràng kế toán quản trị và kế toán tài chính nên quá trình quản lýnội bộ vẫn còn hạn chế [15,tr36]

Thứ hai, tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính

Theo mô hình này, bộ phận kế toán quản trị chi phí sản xuất có chức năngthu thập, xử lý các thông tin về chi phí sản xuất từ chứng từ ban đầu hay do bộ phận

kế toán tài chính đã phản ánh, lập các dự toán về chi phí sản xuất, các báo cáo quảntrị theo yêu cầu quản lý cụ thể

Ưu điểm của mô hình này, có sự chuyên hóa giữa kế toán tài chính và kêtoán quản trị, phân định rõ ranh giới từng lĩnh vực, giúp cho từng bộ phận có khảnăng nâng cao trình độ chuyên môn

Hạn chế của mô hình này là tính kồng kềnh kém linh hoạt và hiệu quả kinh tếkhông cao, giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết không có sự kết hợp chặt chẽ,việc thu nhận và xử lý thông tin chậm do khâu luân chuyển chứng từ kế toán[15,37]

1.4 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH

1.4.1 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp cơ điện lạnh

1.4.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế

Theo cách phân loại này thì toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệpxây lắp được chia ra thành 7 yếu tố chi phí sau:

- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu

Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệuphụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sửdụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ

- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực

Trang 17

Bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên liệu, động lực mà doanh nghiệp đã sửdụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.

- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp

Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt độngsản xuất trong doanh nghiệp

- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn, BHTN

Bao gồm toàn bộ số trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,bảo hiểm thất nghiệp của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanhnghiêp

- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định

Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuấtcủa doanh nghiệp

- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài

Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua từbên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền bưu phí phục vụ cho hoạt động sản xuấtcủa doanh nghiệp

- Yếu tố chi phí bằng tiền khác

Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu tốchi phí trên

Phân loại theo yếu tố chi phí giúp ta biết được chi phí nào đã dùng vào sảnxuất và tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh giá tình hình thựchiện dự toán chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp tính toán thu nhậpquốc dân

1.4.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động của chi phí

Theo cách phân loại này gồm:

* Chi phí sản xuất

- Chi phí vật liệu trực tiếp:

Trang 18

Chi phí vật liệu trực tiếp là chi phí (đã tính đến hiện trường xây lắp) của cácvật liệu chính, vật kết cấu, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển ( ván khuôn, đàgiáo…), bán thành phẩm để tạo nên sản phẩm xây lắp.

- Chi phí nhân công trực tiếp:

Bao gồm chi phí về tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp xây lắp,không tính vào khoản mục này số tiền công và trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTNcủa công nhân xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên sản xuất chung(phân xưởng, đội sản xuất), nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý

- Chi phí sử dụng máy thi công:

Bao gồm những chi phí liên quan đến việc sử dụng máy thi công để hoànthành sản phẩm xây lắp:

+ Chi phí nhân công: là chi phí liên quan phải trả cho công nhân ( thợ, điềukhiển máy) như: tiền công, tiền lương, các khoản phụ cấp,

+ Chi phí vật liệu: là chi phí về vật liệu dùng để chạy máy, sửa chửa máy thicông như nhiên liệu

+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí dụng cụ, công cụ dùng cho sử dụngmáy thi công;

+ Chi phí khấu hao máy thi công: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao cơ bảncủa máy thi công;

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài

để sử dụng máy thi công như: Chi phí về điện, nước, hơi, khí nén, chi phí sửa chữamáy thi công thuê ngoài…;

+ Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí nêutrên phục vụ cho sử dụng máy thi công

- Chi phí sản xuất chung:

Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các đội ( phânxưởng) sản xuất ngoài ba khoản mục đã nêu trên, bao gồm 5 khoản mục:

+ Chi phí nhân viên quản lý đội xây dựng: gồm chi phí tiền lương, tiền côngtrả cho quản lý đội xây dựng, các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ,

Trang 19

BHTN tính cho các bộ phận: Nhân công trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiểnmáy thi công, nhân viên quản lý đội xây dựng

+ Chi phí vật liệu

+ Chi phí dụng cụ sản xuất

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài

+ Chi phí bằng tiền khác

* Chi phí ngoài sản xuất:

- Chi phí bán hàng: rất ít phát sinh tại đơn vị xây lắp

- Chi phí quản lý:

Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý vàphục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp Cụ thể, chi phíquản lý doanh nghiệp bao gồm:

+ Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí của ngườilao động, quản lý ở các bộ phận phòng ban của doanh nghiệp

+ Chi phí vật liệu, năng lượng, công cụ dụng cụ dùng trong hành chínhquản trị văn phòng

+ Chi phí khấu hao thiết bị, TSCĐ khác dùng trong công việc hành chínhcủa văn phòng

+ Chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụ chung cho toàndoanh nghiệp

+ Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản

+ Các khoản phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợphải thu khó đòi, hao hụt trong khâu dự trữ

Như vậy chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một khoản mục chi phí gồmnhiều thành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp Đây là khoản mục chi phíliên quan khá chặt chẽ đến quy mô, trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp Vì vậy

sự nhận diện và phân cấp quản lý, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp rất khó

Trang 20

khăn, đôi khi dẫn đến mức phân bổ sai lệch cho các sản phẩm, dịch vụ làm đánh giásai lầm thành quả đóng góp, kiềm chế tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.

Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục

vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tínhgiá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện giá thành

1.4.1.3 Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành hai loại:

- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sảnxuất ra một công trình, một hạng mục công trình, căn cứ vào số liệu của chứng từ kếtoán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí

- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất ranhiều công trình, nhiều hạng mục công trình, những chi phí này phải thông qua phân

bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp

Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa trong việc xác định phươngpháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp

1.4.1.4 Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử

- Chi phí khả biến (biến phí): Là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổitheo các mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động xãy ra

- Chi phí bất biến (định phí): Là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sựthay đổi về mức độ hoạt động đạt được

- Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí cấu thành nên nó bao gồm cả chi phíkhả biến và chi phí bất biến

1.4.1.5 Phân loại chi phí sản xuất trong kiểm tra và ra quyết định

- Chi phí kiểm soát được: Là chi phí mà cấp quản lý dự đoán được sự phátsinh và thuộc quyền quyết định của cấp quản lý đó

Trang 21

- Chi phí không kiểm soát được: Là chi phí mà cấp quản lý không dự đoánđược sự phát sinh của nó, đồng thời không thuộc quyền quyết định của cấp quản lýđó.

- Chi phí trực tiếp: Là chi phí cấu thành nên sản phẩm, gắn liền với một sảnphẩm hay dịch vụ nhất định hoàn thành

- Chi phí gián tiếp: Là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, hoặc nhiều dịch

vụ khác nhau không làm tăng giá trị sản phẩm, dịch vụ

- Chi phí lặn: Chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn liền với cácphương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chon

- Chi phí chênh lệch: Khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trongquyết định lựa chọn phương án tối ưu

- Chi phí cơ hội: Là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thựchiện phương án này thay cho phương án khác

1.4.2 Lập dự toán chi phí sản xuất

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả đều phải có một dựtoán cụ thể Dự toán càng chính xác bao nhiêu thì việc tiến hành thực hiện côngviệc hiệu quả bấy nhiêu

Lập dự toán là quá trình tính toán chi tiết nhằm chỉ ra cách huy động, sửdụng vốn và các nguồn lực khác theo từng kỳ và được biểu diễn một cách có hệthống dưới dạng số lượng và giá trị Việc lập dự toán chi phí sản xuất là dự toán vềchi phí cần thiết để hoàn thành khối lượng xây lắp của hạng mục công trình, côngtrình [3,tr41]

Việc lập dự toán sẽ có tác dụng:

- Cung cấp thông tin một cách có hệ thống tất cả dự toán của các công trìnhtrong doanh nghiệp;

- Xác định rõ các mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá sau này;

- Định hướng cho việc dầu tư

Để lập được dự toán chi phí trong xây lắp cho các công trình, hạng mục côngtrình cần dựa vào:

Trang 22

- Bản vẽ thiết kế ( cơ sở, thi công, )

- Định mức xây dựng cơ bản phần xây dựng, lắp đặt khảo sát của Bộ xây dựng

- Đơn giá xây dựng cơ bản của tỉnh, thành phố

- Thông tư hướng dẫn lập dự toán ( TT 05/2007/ TT – BXD)

- Thông tư điều chỉnh dự toán

- Thông tư hướng dẫn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng

- Thông tư về chế độ tiền lương, phụ cấp

- Công bố giá nguyên vật liệu xây dựng của sở xây dựng

Trước khi đi vào lập dự toán, cần xây dựng định mức cho từng khoản mục chiphí

1.4.2.1 Xây dựng định mức:

Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền những hao phí

về lao động sống và lao động vật hóa theo tiêu chuẩn để đảm bảo cho việc sản xuấtkinh doanh một đơn vị sản phẩm dịch vụ ở điều kiện nhất định

Chi phí định mức là chi phí dự tính cho việc sản xuất một sản phẩm hay cungcấp dịch vụ Khi chi phí định mức tính cho toàn bộ số lượng sản phẩm sản xuất haydich vụ cung cấp thì chi phí định mức được gọi là chi phí dự toán

Chi phí định mức được sử dụng như là thước đo trong hệ thống dự toán củadoanh nghiệp Một doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kế toán quản trị sẽ sửdụng chi phía định mức để xác định tổng chi phí dự toán để sản xuất sản phẩm Saukhi quá trình sản xuất được tiến hành, kế toán quản trị sẽ so sánh giữa chi phí thực tế

và dự toán để xác định sự biến động về chi phí Đây chính là cơ sở để kiểm soát chiphí [12,tr103]

Chi phí định mức là phương pháp cần thiết giúp cho quá trình thực hiện kếtoán trách nhiệm, vì chi phí định mức là một trong các thước đo để đánh giá thànhquả của các trung tâm trách nhiệm, nhất là trung tâm chi phí

a Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Vật liệu xây dựng ngoài xi măng, sắt, thép còn có các vật liệu trong môitrường tự nhiên như cát, đá, sỏi, sạn XDCB là một ngành sản xuất không chấp

Trang 23

nhận sản phẩm kém chất lượng Vì vậy các nhà thầu luôn luôn phải có phòng thínghiệm hiện trường để thường xuyên kiểm tra vật liệu tại công trường để tránh trìnhtrạng hỏng phá đi làm lại vì ngoài chi phí phải thi công lại, còn tốn chi phí di dờisản phẩm hỏng ra khỏi công trường nhà thầu sẽ chịu rất nhiều tốn kém.

Định mức về lượng: Là lượng vật liệu cần thiết để thi công 1m 3 bê tông,1m 2 đường giao thông có cho phép những hao hụt bình thường

Định mức về giá nguyên vật liệu: Phản ánh đơn giá bình quân của một đơn

vị nguyên vật liệu, bao gồm:

+ Giá mua vật liệu theo hóa đơn

+ Chi phí thu mua: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho

+ Trừ các khoản giảm giá, chiết khấu

Định mức chi phí NVLTT được xác định theo công thức sau:

b Định mức chi phí nhân công trực tiếp: Cần xác định được lượng thời gian

và giá thời gian.

- Định mức lượng thời gian hao phí: Là lượng thời gian bình quân cần thiết

để hoàn tất công việc đối với công nhân ở mức độ lành nghề trung bình, bao gồm:

+ Thời gian cho nhu cầu sản xuất cơ bản

+ Thời gian cho vận hành máy móc thiết bị

+ Thời gian ngừng nghỉ hợp lý của máy móc thiết bị, người lao động

+ Thời gian sửa chữa sản phẩm

- Định mức đơn giá cho một đơn vị thời gian: Phản ánh chi phí nhân công trảcho một đơn vị thời gian hao phí, gồm:

+ Tiền lương cơ bản cho một đơn vị thời gian ở các bậc thợ khác nhau

+ Các khoản phụ cấp theo lương

+ Các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

Định mức chi phí nhân công trực tiếp được xác định như sau:

Trang 24

Định mức chi

phí NCTT =

Định mức về lượng thời gian hao phí x

Định mức về giá nhân công cho một đơn vị thời gian

c Định mức chi phí sử dụng máy thi công

Định mức về giá chi phí máy theo giờ hay theo khối lượng thực hiện mộtcông việc được xác định căn cứ vào:

- Đơn giá ca máy theo định mức nhà nước

- Khấu hao máy trong kỳ của doanh nghiệp

- Định mức sử dụng nhiên liệu theo thiết kế máy của nhà sản xuất kết hợpvới kiểm tra bấm giờ tiêu hao nhiên liệu thực tế của đơn vị

Về lượng thời gian để thi công một hạng mục công việc được xác định nhưsau:

- Căn cứ vào định mức thi công công việc của nhà nước

- Căn cứ vào điểm dần kỹ thuật lập tiến độ thi công cho từng hạng mục côngviệc trong bảng tiến độ chung của dự án

Định mức chi phí máy thi công =

* Xây dựng định mức chi phí sản xuất tại đơn vị được tóm lược theo sơ đồsau:

Trang 25

Hình 1.2: Xây dựng định mức chi phí tại Công ty xây lắp

1.4.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất

a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: nhằm dự kiến số lượng nguyên vật liệucần cho quá trình sản xuất thi công

+

Lượng nguyên vật liệu tồn cuối kỳ

c Chi phí sử dụng máy thi công: Là dự kiến số ca máy cần thiết cho quátrình thi công từng nội dung công việc, từng hạng mục công trình, công trình

Chi phí sử dụng máy

thi công dự toán

= Khối lượng công việc theo kế hoạch

Định mức về giáĐịnh mức về lượng

Trang 26

d Chi phí sản xuất chung: Nhằm tính toán biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung.

Phương pháp lập:

- Kế hoạch biến phí sản xuất chung

- Kế hoạch định phí sản xuất chung: Là khoản chi phí ít biến động ở các kỳ

Vì vậy kế hoạch định phí sản xuất chung sẽ ước tính bằng cách dựa vào kế hoạch kỳtrước

Chi phí sản xuất

chung dự toán =

Biến phí sản xuất chung dự toán +

Định phí sản xuất chung

dự toán 1.4.3 Phương pháp tập hợp và xác định chi phí sản xuất

- Phương pháp tập hợp chi phí: Doanh nghiệp cần lựa chọn các phương pháptập hợp chi phí phù hợp từng loại chi phí:

1.4.4 Phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh

14.4.1 Phân tích điểm hòa vốn

Điểm hòa vốn là điểm sản lượng tiêu thụ mà tại đó tổng doanh thu bằng tổngchi phí, nghĩa là doanh nghiệp không lỗ, không lãi

Trang 27

Không giống với sản phẩm của một số ngành kinh doanh khác, mỗi sảnphẩm xây lắp đều có giá dự toán riêng, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giátrúng thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khi công bố thầu vì vậy điểm hòavốn của sản phẩm xây lắp chính là tổng chi phí xây lắp bằng với giá trúng thầu củaCông ty.

Trong ngành xây dựng cơ bản, giá thành là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp,

nó phản ánh mọi mặt tổ chức, quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh củađơn vị Không ngừng phấn đấu giảm chi phí hạ giá thành là nhiệm vụ hàng đầu củacác Công ty xây lắp Hạ giá thành là cơ sở để các doanh nghiệp có điều kiện khôngngừng mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư công nghệ mới, cạnh tranh được với cácdoanh nghiệp nước ngoài trong thời kỳ hội nhập

Trên cơ sở biện pháp tổ chức thi công phù hợp nhất với phương án chọn màCông ty quyết định mức hạ giá thành kế hoạch xây lắp Mức hạ giá thành này cũngchính là phần chênh lệch giữa giá thành trúng thầu với giá thành kế hoạch, đây cũngchính là lãi của Công ty, mức hạ giá thành kế hoạch cũng chính là căn cứ để Công

ty kiểm soát các chi phí xây lắp đầu vào trong quá trình thi công Nếu chi phí đầuvào vượt quá giá thành kế hoạch xây lắp nằm trong mức hạ giá thành thì hòa vốn,còn nếu chi phí lớn hơn giá thành kế hoạch và mức hạ giá thành thì Công ty bị lỗ.Điểm hòa vốn của công trình là tại đó giá thành kế hoạch và mức lãi kế hoạch cânbằng với tổng chi phí mà Công ty đã đầu tư cho Công trình

Trang 28

1.4.4.2 Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí

Để cung cấp các thông tin chi tiết về doanh thu và chi phí của các bộ phận

này cho các nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cần lập các báo cáo bộ phận Báo cáo bộ phận là báo cáo kết quả kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí với mức

độ hoạt động của doanh nghiệp được lập chi tiết cho từng bộ phận thuộc phạm vitrách nhiệm có liên quan như trung tâm cung ứng, trung tâm sản xuất, trung tâmtiêu thụ và trung tâm quản lý Đây là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu tài chính chủyếu đạt được ở từng trung tâm trách nhiệm, là báo cáo so sánh các chỉ tiêu thực tếvới dự toán phù hợp với quyền hạn và phạm vi trách nhiệm của các trung tâm tráchnhiệm có liên quan [5,tr95]

1.4.5 Kiểm soát chi phí sản xuất

1.4.5.1 Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắnliền với các nhân tố về giá và lượng có liên quan

- Phân tích biến động giá : là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếpthực tế với giá nguyên vật liệu theo dự toán để xây lắp một khối lương công việcnhất định

-Đơn giá nguyên vật liệu trực tiếp dự toán

x

Lượng nguyên vật liệu trực tiếp thực tế sử dụng

Ảnh hưởng biến động giá có thể âm hay dương Nếu biến động âm chứng tỏgiá thực tế thấp hơn giá dự toán Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vậtliệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng biến động giá dương thể hiện giá vật liệu thực

tế tăng so với dự toán ( trong quá trình xây lắp do thời gian thi công công trình kéodài nên ảnh hưởng giá biến động tăng thường xuyên xãy ra) và sẽ làm tăng tổng chiphí của Công ty Xét về phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động giá

Trang 29

gắn với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật tư hay đơn vị thi công nếu bộ phậnnày tự cung ứng vật liệu.

Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biếnđộng giá của vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu,thuế và các phương pháp tính giá nguyên vật liệu

- Phân tích biến động về lượng: Là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệutrực tiếp thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để xây lắp khốilượng của từng nội dung công việc nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu haovật liệu thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trựctiếp ra sao Biến động về lượng được xác đinh:

-Nguyên vật liệu trực tiếp dự toán sử dụng

1.4.5.2 Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp

Biến động chi phí nhân công trực tiếp gắn liền với nhân tố giá và lượng

- Phân tích ảnh hưởng nhân tố giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao độngtrực tiếp thực tế so với dự toán để xây lắp một khối lượng cho từng nội dung công

Trang 30

việc nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động đểsản xuất xây lắp ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp.

- Phân tích ảnh hưởng nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao độngtrực tiếp thực tế với dự toán để thi công xây lắp khối lượng cho từng nội dung côngviệc nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để sản xuất xây lắpảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp hay gọi là nhân tố năng suất Ảnh hưởngcủa nhân tố lượng thể hiện như sau:

-Thời gian lao động theo dự toán

X

Đơn giá nhân công trực tiếp dự toán

Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể làtrình độ, năng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy móc thiết

bị, chính sách lương của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhautác động đến chi phí sản xuất có thể do chính sách quá trình sản xuất của doanhnghiệp hay vì biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Việc phân tích biến

Trang 31

động chi phí sản xuất theo các khoản mục và theo nhân tố giá, nhân tố lượng giúpngười quản lý phát hiện , xem xét các yếu tố đã gây ra biên động nhằm đưa ra biệnpháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng

có lợi nhất cho doanh nghiệp [12,tr140-141]

1.4.5.3 Kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công

- Phân tích biến động giá: Là chênh lệch giữa đơn giá ca máy thực tế thi côngvới đơn giá ca máy theo dự toán Nếu tính trên một khối lượng công tác thì nó phảnánh giá cả một đơn giá ca máy để hoàn thành một hạng mục công tác xây lắp đãthay đổi như thế nào so với dự toán

-Đơn giá ca máy trực tiếp dự toán

x Số ca máy thực tế

sử dụng

- Phân tích biến động về lượng: Là chênh lệch giữa số ca máy thực tế thicông xây lắp với số ca máy theo dự toán để thi công các hạng mục công trình: nếubiến động về lượng là kết quả âm thể hiện lượng ca máy tiết kiệm so với dự toán,nếu kết quả dương thể hiện số ca máy sử dụng thực tế lớn hơn dự toán Khi tìm hiểunguyên nhân biến động về lượng ca máy thi công cần xem xét khối lượng công việcthi công xây lắp thực tế có phát sinh tăng, giảm so với dự toán

1.4.5.4 Kiểm soát chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung biến động do sự biến động biến phí sản xuất chung

và định phí sản xuất chung

Biến động = Biến động định phí + Biến động biến

Trang 32

chi phí SXC sản xuất chung phí SXC

a Kiểm soát biến phí sản xuất chung

Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng vềphương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng củanhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phínhân công trực tiếp

Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí sản xuất chung thường do sự thayđổi của các mức chi phí được xem là biến phí sản xuất chung Các mức này thay đổithường do nhiều nguyên nhân như: Đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chiphí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổimức lương Nếu biến phí sản xuất chung được xây dựng chung cho nhiều yếu tốchi phí theo mức hoạt động thì ảnh hưởng nhân tố giá được xác định:

Nếu kết quả tính toán là âm có thể dẫn đến một kết luận tốt liên quan đếncông tác quản lý chi phí và giảm giá thành tại doanh nghiệp ngược lại, kết quảdương ảnh hưởng không tốt, do vậy phải kiểm tra cả bộ phận có liên quan như bộphận thu mua, cung ứng, bộ phận quản lý

Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do nhiều nguyên nhân, như tình hínhthay đổi khối lượng xây lắp, điều kiện trang thiết bị không phù hợp

b Kiểm soát định phí sản xuất chung

Định phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất,không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp ,chẳng hạn: tiền lượng bộ phận quản lý đội, phí bảo hiểm, khấu hao tài sản cố định.Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sảnxuất của doanh nghiêp hay do hiệu quả xây lắp của doanh nghiệp

Kiểm soát định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực củatài sản cố định

Biến động định = Định phí sản xuất - Định phí SXC theo dự

Trang 33

phí SXC chung thực tế toán

Khi phân tích định phí sản xuất chung người ta thường xem xét về định phítùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được để xác định, nguyênnhân, trách nhiệm của từng bộ phận [5,tr165], [2,tr142]

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là công cụ khoa học hữu hiệu cung cấp thông tin nhanhchóng cho việc thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp, nhất là trongnền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước KTQT chi phí sản xuất là một

Trang 34

nội dung hết sức quan trọng của KTQT sản xuất thực hiện xử lý và cung cấp thôngtin chi phí sản xuất cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh, bởi hầu hết cácquyết định kinh doanh của doanh nghiệp đều liên quan đến chi phí.

Chương 1 của luận văn, nội dung đi sâu nghiên cứu bản chất, vai trò kế toánquản trị chi phí sản xuất, đặc thù của ngành xây lắp Bên cạnh đó luận văn cũngkhái quát các loại chi phí sản xuất, dự toán chi phí sản xuất trong ngành xây lắp,phân tích và kiểm soát chi phí thông qua các trung tâm chi phí

Đây là những tiền đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng côngtác kế toán quản trị chi phí và đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi phí cũng nhưđịnh hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công

ty SEATECCO

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

TẠI CÔNG TY SEATECCO

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY SEATECCO

2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty SEATECCO

2.1.1.1 Quá trình hình thành Công ty SEATECCO

Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản (tên viết tắt là SEATECCO) được thành lậpnăm 1977 Tiền thân Công ty là công ty Cung ứng và Phát triển Kỹ thuật Thủy sản ĐàNẵng – đây là một doanh nghiệp nhà nước thuộc sở Thủy sản tỉnh Quảng Nam – ĐàNẵng, nay là thành phố Đà Nẵng Tháng 01 năm 2003, công ty thực hiện chuyển đổihình thức sở hữu bằng việc cổ phần hóa theo nghị định 64/2000/NĐ-CP và được đổitên là Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản

Tên đơn vị:Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản (SEATECCO)

Tên giao dịch quốc tế: SEAPRODUCTS TECHNOLOGY CORPORATION

2.1.1.2 Quá trình phát triển Công ty SEATECCO

Từ ngày mới thành lập đến nay, SEATECCO đã có rất nhiều thay đổi cả vềquy mô hoạt động, hình thức sở hữu, cơ cấu bộ máy tổ chức, Hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty không ngừng củng cố và phát triển phù hợp với quy mô vàtốc độ phát triển của nền kinh tế đất nước và sự thay đổi của thị trường Từ một đơn

vị kinh doanh nhỏ được quốc hữu hóa nhà nước chỉ hơn 50 cán bộ nhân viên, cơ sởvật chất nghèo nàn, hoạt động chủ yếu tại thị trường Đà Nẵng với ngành nghề sảnxuất nước đá và sửa chữa tầu thuyền đánh cá đến nay SEATECCO đã phát triển

Trang 36

thành một Công ty có quy mô lớn với hơn 550 cán bộ công nhân viên, trang bị cơ

sở vật chất hiện đại, sản xuất cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ và vươn đến kinhdoanh ở nhiều lĩnh vực tại nhiều khu vực thị trường trong cả nước Đặc biệt đối vớilĩnh vực xây lắp cơ điện lạnh, SEATECCO đã có sự phát triển vượt bậc cả về quy

mô, tốc độ phát triển, thị trường kinh doanh và thực sự khẳng định được vai trò làmột trong những đơn vị hoạt động xây lắp cơ điện lạnh hàng đầu trong cả nước

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Công ty SEATECCO

2.1.2.1 Chức năng của Công ty

- Tư vấn, thiết kế các công trình cơ điện lạnh Đặc biệt đối với các công trìnhnhư: Hệ thống lạnh trung tâm cho nhà máy đông lạnh thuỷ sản, thực phẩm; Hệthống xử lý không khí cho nhà máy sản xuất dược phẩm theo tiêu chuẩn GMP-WHO; Các phòng sạch cho sản xuất hay dịch vụ y tế

- Chế tạo, cung cấp, lắp đặt, sửa chữa và bảo trì các thiết bị điện tử- điện lạnhnhư: hệ thống điều hòa không khí, thông gió; hệ thống điện động lực và điện chiếusáng; máy phát điện; thiết bị trao đổi nhiệt và thiết bị áp lực; thiết bị cấp đông; hệthống lạnh trung tâm NH3, Freon cho các nhà máy đông lạnh chế biến thuỷ sản vàthực phẩm

- Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại máy lạnh và phụ kiện, vật tư của cáchãng nổi tiếng trên thế giới như : Hansen, Mycom, Mitsubishi, Hitachi, Toshiba…

- Sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ khác như :

+ Sang chiết và phân phối ga lạnh NH3 , ga Freon + Cung cấp nước đá, nước ngọt, xăng dầu cho tầu đánh cá

+ Kinh doanh các loại vật tư, phụ tùng cho ngành khai thác, đánh bắt,chế biến và bảo quản thuỷ sản

- Kinh doanh chế biến gỗ

Trang 37

2.1.2.2 Nhiệm vụ của Công ty

SEATECCO là đơn vị sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp, điều lệ tổchức và hoạt động của Công ty do đại hội cổ đông quy định Nhiệm vụ của Công tyđược quy định tại điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty, đó là:

- Sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đăng ký

- Chấp hành các chính sách, chế độ của Nhà nước

- Thực hiện đầy đủ kịp thời nghĩa vụ đối với Nhà nước

- Đảm bảo thu nhập cho người lao động, quyền lợi của Cổ đông

- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty đúng mục đích

- Thực hiện tốt công tác an ninh quốc phòng theo quy định

2.1.2.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức

Trong những năm gần đây, một số lĩnh vực của công ty phát triển khá mạnh,

cụ thể là lĩnh vực xây lắp cơ điện lạnh, việc áp dụng mô hình quản lý cũ không cònphù hợp nữa Tháng 8 năm 2010 công ty đã chuyển đổi sang mô hình Công ty mẹ -Công ty con Trong đó, các Công ty con có quyền tự chủ trong toàn bộ hoạt độngkinh doanh của mình Tất cả các công trình lớn, công ty mẹ đảm nhận việc thi cônghoàn toàn Tuy nhiên có một số hạng mục công trình, công ty mẹ phải thuê công tycon dưới hình thức khoán cho công ty con và kiểm soát công ty con qua dự toán.Công ty mẹ chỉ có quan hệ với công ty con về vốn góp Mối quan hệ về vốn gópđược thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1:TỶ LỆ VỐN GÓP CỦA CÔNG TY MẸ VÀO CÔNG TY CON

7,41,12,12,11,11

Nguồn: Báo cáo tài chính phòng kế toán

Trang 38

Qua bảng trên, phần vốn góp của công ty SEATECCO đầu tư vào các công

ty con chiếm một tỷ trọng rất thấp (7,4%) trong tổng vốn kinh doanh của công ty

Do đó, có thể thấy rằng phần lớn hoạt động sản xuất của công ty SEATECCO làđược thực hiện ngay tại công ty và đề tài tập trung nghiên cứu về kế toán quản trịchi phí tại công ty SEATECCO

Dựa vào quy mô, đặc điểm và tính chất hoạt động của các ngành nghề vàđặc điểm kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty hiện nay đượcxây dựng theo mô hình trực tuyến chức năng Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công

ty có thể được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

Phòng hành chính, tổng hợp

Phòng công trình

Phòng thị trường

Hội đồng

Ban Giám đốc

Phòng kinh doanh

Công ty CP phát triển công nghệ S.E.A.T.C.C.O

Công ty CP DV

thủy sản S.S.T

Công ty CP thương mại dịch

vụ S.E.A.T.C.C.O

Công ty CP S.G.L

Trang 39

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty

a Ban kiểm soát

Ban kiểm soát là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinhdoanh của Công ty và điều hành Công ty Các thành viên ban kiểm soát có nhiệm vụ

và quyền hạn như: Kiểm soát việc thực hiện các nghị quyết của đại hội cổ đông giaocho hội đồng quản trị, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra sổsách kế toán, các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty

b Hội đồng quản trị

Là cơ quan quản trị cao nhất của công ty, có toàn bộ quyền nhân danh Công ty

để quyết định mọi vấn đê liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ nhữngvấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông, Chủ tịch hội đồng quản trị cóquyền bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh như giám đốc, phó giám đốc, kế toántrưởng của Công ty

c Ban Giám đốc

Ban giám đốc Công ty gồm: Tổng giám đốc và 03 phó tổng giám đốc do hộiđồng quản trị Công ty bổ nhiệm Ban giám đốc có nhiệm vụ xây dựng và trình hộiđồng quản trị chuẩn y về kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh hàng năm, các đề

án tổ chức, kinh doanh, tài chính, quản lý của Công ty, các quy chế làm việc vàphân phối cho người lao động trong Công ty Ban giám đốc phải báo cáo hội đồngquản trị tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của Công tytừng năm, từng thời kỳ

d Các phòng ban chức năng

+ Phòng kinh doanh: Gồm một trưởng phòng, một phó phòng, bốn nhân viên

chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Phó giám đốc Có chức năng chỉ đạo mọi hoạt độngmua bán vật tư thiết bị phục vụ cho các công trình cơ điện lạnh và đơn vị phụ thuộc,lập và theo dõi kinh doanh của Công ty

Trang 40

+ Phòng kế toán tài vụ: Nhiệm vụ của phòng là tổ chức quản lý toàn bộ công

tác hạch toán kế toán, thống kê theo pháp lệnh của nhà nước, quản lý việc huy độngvốn, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả Phân tích các hoạt động kinh tế của toànCông ty một cách kịp thời nhằm phát huy được những mặt tích cực và hạn chếnhững mặt tiêu cực còn tồn tại trong Công ty

+ Phòng hành chính tổng hợp: Tham mưu cho giám đốc Công ty cách tổ chức

cán bộ, lao động, tiền lương, công tác thi đua khen thưởng, bồi dưỡng cán bộ, theodõi quản lý, lưu trữ hồ sơ

+ Phòng thị trường: Có nhiệm vụ điều ta nghiên cứu thị trường và khai thác

tối đa mọi thời cơ, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch địnhchương trình sản xuất, kinh doanh, tăng cường thế mạnh Công ty, chiếm ưu thếcạnh tranh trên thị trường

+ Phòng dự toán - Thiết kế: Khảo sát tư vấn Kỹ thuật và lập dự toán thiết kế

công trình cơ điện lạnh, dự toán việc sửa chữa lớn các đơn vị phụ thuộc

+ Phòng công trình: Tổ chức thi công công trình cơ điện lạnh, thực hiện việc

sửa chữa lớn các đơn vị phụ thuộc

+ Các đội xây lắp: Công ty có 03 đội xây lắp để thi công tất cả các công trình.

Không có sự phân chia về công việc cũng như địa bàn thi công

+ Xưởng gia công cơ khí: Công ty có một xưởng gia công chế tạo đặt tại khu

công nghiệp Thọ Quang – Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng Các xưởng có nhiệm vụgia công chế tạo các vật tư, thiết bị trong nước để tổ hợp cùng các thiết bị nhập khẩutạo nên các hệ thống lạnh theo yêu cầu của khách hàng

e Các công ty con và công ty thành viên

- Công ty CP dịch vụ thuỷ sản S.S.T

+ Địa chỉ: Lô D5-D6 KCN dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang, Q Sơn Trà, TP ĐàNẵng

Ngày đăng: 29/03/2018, 01:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w