1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp

78 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 715,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Có thể nhận thấy kể từ khi pháp luật về phá sản bắt đầu hình thành ở nước ta, cụ thể là từ khi Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 ra đời cho đến nay, đã có khá n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÁI TRƯỜNG

VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành va sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Viết Tý, Trưởng Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội – người đã cho tôi những lời khuyên hữu ích cùng với sự hướng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành được luận văn thạc sĩ luật học của mình Xin cảm ơn các thầy cô giáo dưới mái trường Đại học Luật Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức pháp luật quý báu giúp tôi có thể hoàn thành chương trình cao học và hỗ trợ cho sự nghiệp của mình sau này

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh ủng hộ và tạo động lực để tôi phấn đấu thật tốt trong quá trình học tập và công tác

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả !

Học viên

Nguyễn Thái Trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Viết Tý

Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Thái Trường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHỦ THỂ CỦA LUẬT PHÁ SẢN

VÀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1.1.4 Tổ quản lý và thanh lý tài sản 10

1.2 Khái quát về vai trò của chủ nợ trong giải quyết yêu cầu phá

1.2.3 Vai trò của chủ nợ trong thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp

theo quy định pháp luật một số nước trên thế giới

19

Chương 2: VAI TRÒ CỤ THỂ CỦA CHỦ NỢ TRONG CÁC GIAI

ĐOẠN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN HÀNH

25

2.1 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở TTPS

đối với doanh nghiệp

25

2.1.1 Vai trò nộp đơn của chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo

đảm một phần

25

2.1.2 Vai trò nộp đơn của chủ nợ là người lao động 27

2.2 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn mở thủ tục giải quyết yêu

cầu phá sản doanh nghiệp

29

Trang 5

2.2.1 Vai trò của chủ nợ trong việc gửi giấy đòi nợ 29 2.2.2 Vai trò tham gia vào Tổ quản lý và thanh lý tài sản 30

2.3 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn tiến hành Hội nghị chủ nợ 32 2.3.1 Vai trò tham gia vào Hội nghị chủ nợ 32 2.3.2 Vai trò của chủ nợ trong việc tổ chức Hội nghị chủ nợ 32

2.4 Vai trò của chủ nợ trong thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

36

2.4.1 Vai trò quyết định của chủ nợ trong việc áp dụng thủ tục phục hồi

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

36

2.4.2 Vai trò của chủ nợ trong quá trình xây dựng, triển khai và đình chỉ

phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

2.5.2 Vai trò của chủ nợ trong việc thanh lý tài sản và thanh toán các

khoản nợ thông qua Tổ quản lý và thanh lý tài sản

47

Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT PHÁ SẢN 2004 VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

51

3.1 Thực tiễn thi hành Luật Phá sản (2004) trong những năm qua 51

3.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của chủ nợ trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

55

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HNCN : Hội nghị chủ nợ GQPS : Giải quyết phá sản LPS : Luật phá sản TTPS : Thủ tục phá sản

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh những “tổn thương” cho nền kinh tế mà các doanh nghiệp bị phá sản gây

ra, phá sản cũng có những ảnh hưởng tích cực không thể phủ nhận, đó là việc cơ cấu lại nền kinh tế một cách có trật tự, đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả ra khỏi thương trường, bảo đảm một môi trường kinh doanh phát triển bền vững Ở Việt Nam, sau gần 30 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), cho đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn đang trên đà phát triển và dần được định hình rõ nét Bằng chứng đó là số lượng các doanh nghiệp gia tăng mạnh

mẽ với đa dạng loại hình kinh doanh, mang lại một bức tranh đầy màu sắc Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài, đối diện với không ít nguy cơ và thách thức to lớn khiến cho hàng loạt doanh nghiệp ở nước ta làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc đứng trước bờ vực phá sản Trong bối cảnh

đó, pháp luật về phá sản ở Việt Nam cần phải bắt kịp với xu thế của thời đại, có sự điều chỉnh phù hợp để đảm bảo việc thực thi trên thực tế một cách có hiệu quả Luật phá sản (LPS) (2004) được đánh giá là một bước tiến bộ lớn trong kỹ thuật lập pháp so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đưa những quy định của pháp luật về phá sản tiến gần với những quy định phá sản của các nước đang phát triển Tuy nhiên, sau gần 10 năm triển khai và thi hành trên thực tế, LPS (2004) bộc lộ rất nhiều hạn chế, gây khó khăn cho các doanh nghiệp và các chủ thể khác khi tham gia vào quá trình giải quyết phá sản (GQPS) Dự thảo sửa đổi LPS mới nhất đã có nhiều quy định khắc phục được các bất cập của LPS (2004), tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi và chưa thể được thông qua tại thời điểm hiện tại, khiến cho việc GQPS các doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại, gây ảnh hưởng không nhỏ cho các chủ thể khi tham gia vào quá trình tố tụng đặc biệt này Giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp là một quá trình tố tụng tư pháp với

sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, trong đó, thể hiện rõ nét vai trò quan trọng

Trang 8

của các chủ nợ Bên cạnh vai trò quyết định của Tòa án, chủ nợ được xem là người góp công sức to lớn trong việc GQPS doanh nghiệp Điều đó dựa trên tinh thần bảo

vệ quyền và lợi ích cho chủ thể bị ảnh hưởng lớn nhất trước nguy cơ một doanh nghiệp bị phá sản, vì một “con nợ chết” sẽ kéo theo hàng loạt chủ nợ có thể đứng trước nguy cơ mất trắng tài sản và lâm vào tình trạng bi đát về tài chính Bởi vậy, LPS (2004) đã có những quy định xuyên suốt đề cao vai trò của các chủ nợ trong quá trình tiến hành thủ tục GQPS doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy việc triển khai vai trò của các chủ nợ theo tinh thần của LPS còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân là do các chủ nợ chưa thấu hiểu hết được vai trò quan trọng của mình trong việc GQPS doanh nghiệp; đồng thời những quy định của LPS (2004) vẫn còn nhiều bất cập, chưa bắt kịp với sự phát triển của xã hội và tư duy lập pháp tiên tiến trên thế giới cũng như thiếu tính khả thi khiến cho các chủ nợ chưa phát huy được vai trò của mình trên thực tế Hơn thế nữa, trong giai đoạn kinh tế suy thoái và đang có dấu hiệu phục hồi như hiện nay, việc các chủ nợ khẳng định được vai trò của mình trong quá trình xử lý phá sản doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả giải quyết thật tốt các vụ phá sản nhằm cơ cấu lại một nền kinh tế có trật tự, thúc đẩy sự phát triển vượt trội ở giai đoạn hậu suy thoái Đây là yêu cầu có tính cấp thiết cả về mặt lý luận pháp lý và thực tiễn thi hành, nó tác động không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội của nước ta, do đó, tác giả đã lựa chọn vấn

đề “Vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp” làm đề

tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nhận thấy kể từ khi pháp luật về phá sản bắt đầu hình thành ở nước ta,

cụ thể là từ khi Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 ra đời cho đến nay, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu và phân tích các quy định trong hệ thống pháp luật phá sản, chỉ ra những bất cập mà LPS hiện hành đang mắc phải, trong đó có cả những quy định về chủ nợ và vai trò của nó Có thể kể đến một số công trình nghiên

cứu như Luận văn Thạc sỹ Luật học “Luật Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của Cộng hòa Pháp – những nét tương đồng và khác biệt” của tác giả An Phương

Huệ - Đại học Luật Hà Nội năm 2004; luận văn tập trung phân tích các quy định của pháp luật Phá sản Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với Luật Phá sản Pháp, từ

Trang 9

đó rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật phá sản ở nước

ta Nhắc đến việc phân tích các quy định của pháp luật về thủ tục phá sản (TTPS), trong đó có đề cập đến vai trò của chủ nợ khi tham gia quá trình GQPS với tư cách

là một chủ thể quan trọng, không thể không kể đến Luận văn thạc sỹ luật học “Thủ tục giải quyết Phá sản theo Luật Phá sản (2004)” của tác giả Đồng Thái Quang – Đại học Luật Hà Nội năm 2005 và “Thủ tục phá sản – Thực trạng và hướng hoàn thiện” của tác giả Đào Thị Hồng Phương – Đại học Luật Hà Nội năm 2009 Bên

cạnh đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu dưới dạng bài viết tạp chí đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến LPS và có nhắc đến các quy định về chủ nợ như

bài viết “Về một số nội dung của Luật Phá sản (2004)” của tác giả Ngô Cường được

đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 16/2007; bài viết

“Những vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Phá sản” của tác giả La Minh

Tường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 15/2012;

hay bài viết “Mạn đàm về một số quy định về Hội nghị chủ nợ trong Luật Phá sản (2004)” của tác giả Nguyễn Thị Tình và Đỗ Phương Thảo được đăng trên Chuyên

đề báo Pháp luật số tháng 6/2013; v.v Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác một cách tổng thể các quy định của LPS để từ đó đánh giá và đưa ra được những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Xét về góc độ nghiên cứu riêng về chủ nợ trong LPS thì có rất ít công trình nghiên cứu tập trung phân tích sâu sắc vấn đề này, có thể kể đến một vài công trình

nghiên cứu hướng đến đối tượng nghiên cứu là chủ nợ như bài viết “Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục Phá sản” của tác giả Trần Văn Tú và

Nguyễn Văn Giang được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 03/2012; hay dừng lại ở cấp độ Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật có khóa

luận “Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục Phá sản” của tác giả

Trịnh Thị Thúy Hằng – Đại học Luật Hà Nội năm 2008

Tuy nhiên, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào mang lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc nhằm làm rõ vai trò của chủ nợ - một chủ thể rất quan trọng tham gia vào quá trình GQPS doanh nghiệp Do đó, với đề tài nghiên cứu của mình, trên cơ sở kế thừa những đánh giá, phân tích của các công trình nghiên cứu trước,

Trang 10

tác giả hy vọng sẽ góp thêm một “đường nét” mới mẻ vào “bức tranh” hoàn thiện LPS nước nhà

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về các loại chủ nợ và vai trò của nó trong suốt quá trình GQPS doanh nghiệp, đồng thời luận văn cũng phân tích những bất cập; hạn chế của pháp luật phá sản gây khó khăn cho các chủ nợ trong việc phát huy vai trò của mình trên thực tế; từ đó đưa ra cái nhìn bao quát và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chủ nợ, góp phần hoàn thiện LPS

Về không gian, luận văn nghiên cứu dựa trên phạm vi các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành và hướng đến đối tượng chính là các chủ nợ của Doanh nghiệp, chủ yếu là các quy định của LPS 2004, ngoài ra, Luận văn còn có sự đối chiếu với các quy định của Luật phá sản Doanh nghiệp 1993; Dự thảo mới nhất sửa đổi LPS

2004 và đôi nét so sánh với pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Chương 1 của luận văn được triển khai thông qua phương pháp phân tích các vấn đề chung về các chủ thể của LPS và vai trò của chủ nợ, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu với pháp luật phá sản một số nước khác Đối với chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những quy định của pháp luật phá sản về vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS doanh nghiệp Từ đó, ở chương 3, bằng phương pháp đối chiếu, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn, phương pháp thống kê – phân tích nhằm làm rõ thực tiễn thi hành LPS, tác giả đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm phát huy vai trò của chủ nợ trong suốt quá trình tiến hành TTPS doanh nghiệp

Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của luận văn thì các phương pháp nghiên cứu trong luận văn vẫn được thực hiện trên nền tảng của

Trang 11

phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Lựa chọn nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm sáng tỏ thực trạng các quy định của LPS về vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của LPS về vai trò của chủ nợ, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế

Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về chủ nợ và vai trò của nó, những yếu

tố tác động đến vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

- Phân tích nội dung cơ bản của pháp luật phá sản về vai trò của chủ nợ trong quá trình tiến hành TTPS doanh nghiệp và thực tiễn thi hành LPS (2004)

- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của LPS về vai trò của chủ nợ, tạo điều kiện để các chủ nợ phát huy được vai trò của mình trên thực tế, từ đó nâng cao hiệu quả GQPS doanh nghiệp

6 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên phân tích, đánh giá một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS doanh nghiệp

Trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ, tác giả sẽ làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về chủ nợ và vai trò của chủ nợ trong quá trình tham gia vào TTPS Trên cơ sở các quy định của LPS hiện hành, tác giả còn đi sâu bình luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về vai trò của chủ nợ trong TTPS, có sự dẫn chiếu tới Luật Phá sản doanh nghiệp cũ và Dự thảo LPS sửa đổi mới nhất Cuối cùng, từ những bất cập, hạn chế của pháp luật và thực tiễn thi hành LPS nói chung, tác giả đưa ra những quan điểm và kiến nghị góp phần hoàn thiện LPS (2004) về vai trò của chủ nợ trong GQPS doanh nghiệp

Trang 12

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, luận văn được bố cục nội dung chính gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về các chủ thể của Luật phá sản và vai trò của chủ nợ

trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp;

Chương 2: Vai trò cụ thể của chủ nợ trong các giai đoạn giải quyết yêu cầu

phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật phá sản hiện hành;

Chương 3: Thực tiễn thi hành Luật Phá sản 2004 và một số kiến nghị góp

phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp

Trang 13

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHỦ THỂ CỦA LUẬT PHÁ SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về các chủ thể của Luật phá sản:

Phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt, trong đó không thể không nhắc đến sự hiện diện của những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng này với những vai trò và địa vị pháp lý riêng biệt Trước hết, có thể hiểu chủ thể tham gia quan hệ giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là tất cả những người có quyền và nghĩa vụ độc lập khi tham gia vào tố tụng phá sản Theo quy định tại LPS (2004), những chủ thể này bao gồm: Chủ nợ; doanh nghiệp mắc nợ; Tòa án; Hội nghị chủ nợ; Tổ quản lý và thanh lý tài sản Mỗi chủ thể đều được LPS xác lập cho một vị trí pháp lý khác nhau nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu là cùng phối hợp chặt chẽ để đạt được kết quả cuối cùng là giải quyết ổn thỏa vụ việc phá sản của doanh nghiệp

1.1.1 Chủ nợ

Mục đích của LPS đó là bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ và chủ nợ thông qua việc giải quyết và tìm ra cách thức thanh toán nợ Trong đó, việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ luôn được chế định phá sản đặt lên hàng đầu, bởi chủ nợ được xác định là người bị ảnh hưởng nhiều nhất từ việc phá sản của doanh nghiệp mắc nợ họ

Theo quy định tại LPS (2004) thì có 3 loại chủ nợ đó là: chủ nợ có bảo đảm, chủ

nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Việc phân chia này dựa trên mối tương quan giữa khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm mà doanh nghiệp đã cầm cố, thế chấp cho chủ nợ Tuy nhiên, không phải cả 3 loại chủ nợ trên đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp, mà chỉ chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm mới có quyền nộp đơn (Điều 13 LPS (2004))

Về nguyên tắc, mọi chủ nợ đều bình đẳng và đều có quyền lợi nhất định trong

vụ việc phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm bị hạn

Trang 14

chế bởi chính sự thỏa thuận về việc xử lý giá trị tài sản được bảo đảm, họ luôn có trong tay tài sản cầm cố, thế chấp không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có bị phá sản hay không; nghĩa là quyền lợi của họ được bảo đảm rất lớn [1, tr.29] Do vậy, pháp luật đã có giới hạn nhất định về quyền của loại chủ nợ này so với các chủ nợ khác

Bên cạnh những loại chủ nợ trên, khi đề cập đến các chủ thể tham gia vào TTPS không thể không kể đến một loại chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt – đó là người lao động Phần lớn pháp luật phá sản các nước đều quy định cho phép người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục GQPS đối với doanh nghiệp nơi họ làm việc Theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam thì sau khi nộp đơn, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động được coi là chủ nợ - loại chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt Sự đặc biệt đó thể hiện ở chỗ: Hàng hóa duy nhất họ đem ra trao đổi là sức lao động và tiền lương – nguồn sống chính của bản thân và gia đình người lao động Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì họ là một trong những đối tượng bị thiệt hại nặng nề nhất; mất việc làm dẫn đến mất thu nhập

và cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều Pháp luật quy định cho người lao động thông qua đại diện để thể hiện tiếng nói của mình trong việc GQPS doanh nghiệp

cũng chính là giúp họ tự bảo vệ chính mình khi lợi ích bị xâm hại

Trang 15

trong suốt quá trình GQPS, tuy rằng đây chính là nguyên nhân, là đối tượng gây nên

vụ việc phá sản với những hậu quả không ai mong muốn; nhưng bảo vệ doanh nghiệp mắc nợ cũng chính là bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và các đối tượng có liên quan; bảo vệ trật tự ổn định nền kinh tế - xã hội của đất nước

Vì vậy, LPS (2004) khi quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp mắc nợ, bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ nợ thì cũng chú trọng đến việc tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục khó khăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động bình thường Điều này có thể thấy thông qua việc pháp luật quy định hàng loạt những quyền cũng như nghĩa vụ cho doanh nghiệp mắc nợ trong quá trình GQPS, ví dụ như: nộp đơn yêu cầu mở TTPS (Điều 15); Trách nhiệm tiến hành kiểm kê tài sản (Điều 50); Tham gia hội nghị chủ

nợ và đề xuất phương án tổ chức lại hoạt động kinh doanh (Điều 64; 65); Xây dựng phương án phục hồi kinh doanh để trình ra Hội nghị chủ nợ xem xét, thông qua (Điều 68); vv vv

1.1.3 Tòa án

Việc GQPS doanh nghiệp không thể thực hiện được nếu không có sự tham gia của Tòa án – một chủ thể giữ vai trò chủ đạo và quyết định trong TTPS doanh nghiệp Về bản chất, Tòa án không phải là người có quyền lợi liên quan về tài sản trong vụ GQPS mà chỉ là người trung gian nhân danh nhà nước đứng ra giúp chủ

nợ, doanh nghiệp mắc nợ, những người có quyền lợi liên quan đạt được những thỏa thuận nhất định trong việc phân chia tài sản của doanh nghiệp hoặc đứng ra tạo cơ hội cho doanh nghiệp tự cứu mình Có nghĩa là Tòa án chỉ giải quyết những vấn đề

mà xét về mặt quyền lực nhà nước thì các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ không thể tự làm được

Thẩm quyền của tòa án trong việc GQPS doanh nghiệp được quy định tại Điều

7 LPS (2004), theo đó thẩm quyền GQPS doanh nghiệp được trao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) Theo quy định của LPS, Tòa án giữ vai trò quyết định trong quá trình tố tụng phá sản: từ việc thông báo cho các đối tượng có quyền nộp đơn về tình trạng thực tế của doanh

Trang 16

nghiệp, thụ lý đơn yêu cầu mở TTPS đến việc xem xét ra các quyết định quan trọng như: quyết định mở TTPS đối với doanh nghiệp, quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản hay quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản

Có thể nhận thấy Tòa án là chủ thể giữ vai trò trung tâm và quyết định nhất trong việc GQPS doanh nghiệp; vai trò này được thể hiện rõ nét trong suốt quá trình tiến hành tố tụng phá sản; phản ánh đúng tính chất nghiêm trọng của vụ việc phá sản doanh nghiệp và chức năng quan trọng của cơ quan tư pháp Việt Nam

1.1.4 Tổ quản lý và thanh lý tài sản

Sự hình thành thiết chế quản lý tài sản phá sản là một yêu cầu khách quan, xuất phát từ bản chất của việc GQPS nhằm ngăn chặn các hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản của con nợ vốn đang lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính và đang đứng trước những khoản nợ không có khả năng thanh toán nhằm trốn tránh trách nhiệm đối với các chủ nợ Ngoài ra, phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể, vì vậy việc phân chia tài sản cho các chủ nợ trên cơ sở số tài sản hiện có của doanh nghiệp một cách công bằng, đúng pháp luật là một yêu cầu cần thiết Vì vậy Tổ quản lý và thanh lý tài sản là một chủ thể rất quan trọng trong tố tụng phá sản

Pháp luật phá sản của Việt nam, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đã xây dựng chủ thể quản lý và thanh lý tài sản là một thiết chế tập thể Luật Phá sản doanh nghiệp (1993) quy định Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản nhằm thực hiện hai chức năng chính là quản lý và thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản LPS (2004) đã rút gọn hai chủ thể trên thành một chủ thể duy nhất với tên gọi là Tổ quản lý, thanh lý tài sản để thực hiện chức năng của mình trong toàn bộ quá trình tố tụng phá sản

Tổ quản lý và thanh lý tài sản có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản lý,

xử lý tài sản của doanh nghiệp Để có thể hoạt động, LPS (2004) tại các Điều 40, 43

và Nghị định 67/2006/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và Tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã quy định Tổ quản lý và thanh lý tài sản có những nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 17

như: Lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp; giám sát, kiểm tra việc

sử dụng tài sản của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở TTPS; đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp; lập danh sách chủ nợ và những người mắc nợ; báo cáo trước Hội nghị chủ nợ về thực trạng của doanh nghiệp; thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp v.v

Như vậy, Tổ quản lý và thanh lý tài sản là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình tố tụng phá sản, đây là một tập thể bao gồm các thành viên đại diện cho nhiều chủ thể khác nhau, có chức năng quản lý và xử tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ nợ, con nợ, người lao động và của xã hội nói chung

1.2 Khái quát về vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm và phân loại chủ nợ

đủ mạnh, có tiềm lực về kinh tế thì sẽ tồn tại và ngược lại Để phát triển kinh doanh

và tăng cường khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải có số vốn lớn để hoạt động; nhu cầu về vốn luôn là “bài toán khó” cần tìm “lời giải’ của hầu hết các doanh nghiệp hiện nay

Cùng với sự phát triển chung của xã hội, pháp luật cũng được bổ sung và hoàn thiện hơn, kịp thời điều chỉnh những quan hệ kinh tế thiết yếu, trong đó có quan hệ

về vay vốn của doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam đã tạo hành lang pháp lý khá thông thoáng cho các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng nhiều con đường

Trang 18

khác nhau: bằng cách đi vay, thế chấp tài sản để vay hay phát hành trái phiếu,… Và cũng như quan hệ cho vay trong dân sự, những người cho doanh nghiệp vay được gọi là chủ nợ của doanh nghiệp

Tuy nhiên, không phải chỉ những đối tượng cho doanh nghiệp vay thì mới là chủ nợ; trong quá trình hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp bên cạnh việc đi vay vốn còn có những nghĩa vụ tài sản đối với tổ chức, cá nhân khác; ví dụ như trong giao dịch hợp đồng kinh tế đối với đối tác, hay quan hệ nộp thuế, tiền bồi thường thiệt hại, tiền phạt vi phạm,… Những nghĩa vụ đó nếu bị tồn đọng mà doanh nghiệp chưa thanh toán thì đều được xem là những khoản nợ và bản thân đối tượng bị doanh nghiệp nợ cũng chính là chủ nợ của doanh nghiệp

LPS chưa có quy định cụ thể về khái niệm chủ nợ mà chỉ tập trung phân loại các chủ nợ của doanh nghiệp, vậy nên từ những phân tích trên, có thể khái quát chủ

nợ của doanh nghiệp chính là những tổ chức, cá nhân có mối quan hệ về tài sản với doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó phải có nghĩa vụ thanh toán; quyền và lợi ích của những đối tượng này gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, chủ nợ còn là những người có vai trò quan trọng trong việc GQPS doanh nghiệp; TTPS khó có thể thực hiện nếu không có sự tham gia của các chủ nợ

1.2.1.2 Phân loại chủ nợ

Một trong những mục tiêu quan trọng mà pháp luật phá sản hướng đến là bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Về nguyên tắc, trong TTPS, các chủ

nợ đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ Tuy nhiên không phải chủ nợ nào cũng có quyền lợi giống nhau Việc phân loại chủ nợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định vai trò cũng như trách nhiệm của từng loại chủ nợ ở mỗi giai đoạn tố tụng phá sản, từ đó góp phần thúc đẩy việc GQPS doanh nghiệp đạt được hiệu quả thiết thực

Để phân loại các chủ nợ, cần dựa vào các tiêu chí nhất định, cụ thể:

* Căn cứ vào tương quan giữa giá trị tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ:

Đây là tiêu chí mà LPS (2004) đã dùng để phân loại chủ nợ, cơ sở phân loại theo tiêu chí này chính là sự xuất hiện của tài sản bảo đảm của doanh nghiệp cho

Trang 19

khoản nợ của mình, theo đó, chủ nợ được phân làm ba loại cơ bản: chủ nợ có bảo

đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm

+ Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của

doanh nghiệp hoặc của người thứ ba

Đây là loại chủ nợ được bảo đảm về quyền lợi nhiều nhất trong ba loại chủ nợ

được LPS (2004) quy định, bởi chủ nợ có bảo đảm luôn được pháp luật bảo vệ

quyền lợi bởi chính giá trị tài sản bảo đảm mà doanh nghiệp đem cầm cố, thế chấp;

và có thể hiểu giá trị tài sản bảo đảm tương đương với giá trị khoản nợ của doanh

nghiệp Ví dụ: Ngân hàng X cho công ty cổ phần Y vay 2 tỷ đồng và nhận tài sản

thế chấp là mảnh đất của công ty được định giá là 2,3 tỷ Như vậy, ở đây Ngân hàng

X chính là chủ nợ có bảo đảm; bởi quyền lợi của Ngân hàng được đảm bảo bằng

chính giá trị mảnh đất tương đương với khoản tiền mà ngân hàng X cho công ty Y

vay

+ Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài

sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản

nợ đó

Đây cũng có thể được xem là chủ nợ có bảo đảm bởi bản thân chủ nợ này cũng

được bảo đảm bằng chính tài sản của doanh nghiệp hoặc bên thứ ba Tuy nhiên,

LPS (2004) đã mang đến cái nhìn cụ thể hóa khi dựa vào sự chênh lệch giữa giá trị

tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ của doanh nghiệp trong việc phân nhỏ loại chủ

nợ này Theo đó, chủ nợ có bảo đảm một phần được đảm bảo về quyền lợi ít hơn so

với chủ nợ có bảo đảm; bởi chính giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn so với giá trị

khoản nợ của doanh nghiệp Nếu xét theo ví dụ trên về Ngân hàng X và công ty cổ

phần Y, nếu mảnh đất mà công ty đem thế chấp được định giá là 1,5 tỷ nhỏ hơn

khoản vay 2 tỷ, thì Ngân hàng X ở đây chính là chủ nợ có bảo đảm một phần

+ Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng

tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba Đây là loại chủ nợ bị ảnh hưởng và thiệt hại nặng nề nhất khi doanh nghiệp

mắc nợ họ phá sản; bởi bản thân họ không được bảo đảm bằng bất kỳ một tài sản

Trang 20

nào của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba Khả năng thu hồi nợ của loại chủ nợ này dường như là khó khăn hơn rất nhiều so với hai loại chủ nợ kia, thậm chí, họ có thể mất trắng số nợ trong trường hợp doanh nghiệp không còn tài sản để thanh toán

* Căn cứ vào chủ thể cho doanh nghiệp vay nợ:

Từ các quy định của LPS (2004) và thực tế GQPS doanh nghiệp cho thấy có thể phân chia các loại chủ nợ dựa vào từng chủ thể như sau:

+ Chủ nợ là Ngân hàng thương mại:

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng – tài chính ngày càng phát triển và phổ biến trong xã hội Việc các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có nhu cầu về vốn, đặc biệt là một khoản vốn lớn thì

“lời giải” hữu hiệu nhất vẫn là tìm đến các Ngân hàng thương mại để vay vốn thông qua hợp đồng tín dụng Thực tế cho thấy tình trạng nợ xấu tồn đọng ở các Ngân hàng thương mại chủ yếu là của doanh nghiệp Có thể lấy dẫn chứng bằng bài viết

“Nợ xấu của Agribank Bắc Kạn chủ yếu là của doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn

Trình được đăng trên Báo Hải quan và Website www.baomoi.com ngày 06/03/2014, theo đó “Ông Nguyễn Đình Đội, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) - Chi nhánh Bắc Kạn cho biết, do tình hình kinh tế khó khăn, cắt giảm đầu tư công, doanh nghiệp không có nguồn thu để trả nợ, nên nợ xấu của ngân hàng chủ yếu rơi vào doanh nghiệp Trong năm 2013, Agribank Bắc Kạn có tổng dư nợ gần 2.000 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn khoảng 1.400 tỷ đồng, còn lại là khối doanh nghiệp Trong tổng số trên 40 tỷ đồng

nợ xấu, thì các doanh nghiệp nợ xấu đến 21 tỷ đồng Xét về tỷ lệ nợ xấu là 50%, nhưng tỷ lệ trên tổng dư nợ thì nợ xấu của các doanh nghiệp là 4%, còn mảng đầu

tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn chỉ là 1,3%” [18] Không những thế, ở các Ngân hàng thương mại khác, việc tồn đọng nợ xấu do các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả trong giai đoạn kinh tế khó khăn và không có khả năng thanh toán hết

nợ diễn ra khá phổ biến hiện nay Điều này cho thấy chủ nợ chủ yếu của doanh nghiệp chính là các ngân hàng thương mại, đây cũng là lí do mà tác giả xin được phép phân loại riêng Ngân hàng là một loại chủ nợ mà không gộp vào nhóm chủ nợ khác

Trang 21

+ Chủ nợ là Nhà nước:

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với chức năng và thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế Có thể thấy một trong những nghĩa vụ quan trọng của doanh nghiệp mà Luật doanh nghiệp 2005 quy định

đó là doanh nghiệp phải kê khai thuế và nộp thuế Đây là nghĩa vụ tài sản bắt buộc của doanh nghiệp đối với Nhà nước khi tham gia vào môi trường kinh doanh Một doanh nghiệp có thể phải nộp rất nhiều loại thuế khác nhau như : thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng cho hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất – nhập khẩu nếu doanh nghiệp có hành vi xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa, Gánh nặng về thuế cùng với việc hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của doanh nghiệp là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ thuế ở các doanh nghiệp là tương đối lớn Không những thế, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp cũng có thể đối mặt với các khoản nợ khác đối với Nhà nước như : nợ tiền điện, tiền nước phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ; nợ tiền phạt vi phạm về bảo vệ môi trường do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ;

Như vậy, có thể thấy Nhà nước là chủ nợ luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu theo cách phân loại chủ nợ của LPS (2004) thì Nhà nước cũng đơn thuần chỉ là một chủ nợ không có bảo đảm ; tuy nhiên, xét về góc độ chủ thể thì Nhà nước lại là một chủ thể đặc biệt và không giống với các loại chủ thể khác trong quan hệ vay – nợ với doanh nghiệp

+ Chủ nợ là người lao động :

Người lao động là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất khi doanh nghiệp mà họ đang làm việc bị phá sản, bởi lẽ khi doanh nghiệp lâm vào phá sản ; những người lao động có thể phải đứng trước nguy cơ thất nghiệp, không có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình mình Có thể thấy quan hệ về tài sản giữa doanh nghiệp – chủ

sử dụng lao động và người lao động thường là quan hệ vể lương, bảo hiểm xã hội cũng như các quyền lợi vật chất khác được quy định trong hợp đồng lao động Những quan hệ này khó được giải quyết trong giai đoạn doanh nghiệp làm ăn yếu kém và bị lâm vào tình trạng phá sản ; khi đó, người lao động là chủ thể bị ảnh

Trang 22

hưởng nặng nề vì doanh nghiệp không thanh toán lương đúng hạn, không thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội Theo tinh thần của LPS (2004) thì người lao động được xem là chủ nợ lương, bảo hiểm xã hội và các khoản nợ khác gắn liền với thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động, đồng thời, người lao động được xem là chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt

+ Chủ nợ là tổ chức, cá nhân khác :

Các tổ chức, cá nhân khác thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp cũng có thể trở thành chủ nợ của doanh nghiệp Mối quan hệ đó có thể là cho doanh nghiệp vay nợ hoặc những khoản nợ phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, giao dịch thương mại với doanh nghiệp (ví dụ như khoản tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp có hành vi vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho tổ chức hoặc cá nhân )

* Căn cứ vào tiến trình giải quyết phá sản doanh nghiệp :

Nếu xét theo tiến trình GQPS doanh nghiệp, cụ thể lấy dấu mốc là thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục GQPS đối với doanh nghiệp thì có thể chia chủ nợ

ra làm 2 loại : chủ nợ cũ và chủ nợ mới :

+ Chủ nợ cũ là những chủ nợ tồn tại trước thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục GQPS đối với doanh nghiệp Đây là những chủ nợ thực hiện việc gửi giấy đòi nợ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở TTPS của Tòa án và Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ lập danh sách chủ nợ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ (Điều 51, Điều 52 LPS) Hay nói cách khác, chủ nợ cũ chính là những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ do Tổ quản lý và thanh lý tài sản lập sau khi có quyết định mở TTPS doanh nghiệp

+ Chủ nợ mới là những chủ nợ phát sinh sau khi Tòa án ra quyết định mở TTPS đối với doanh nghiệp Bởi theo Khoản 1 Điều 30 LPS thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở TTPS vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Như vậy, theo tinh thần của LPS, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sau khi có quyết định mở TTPS của Tòa án vẫn có thể tiếp tục hoạt động và giao kết

Trang 23

hợp đồng, tiến hành các giao dịch liên quan đến việc vay vốn, huy động vốn Hơn nữa, một trong những mục tiêu cơ bản của pháp luật phá sản là giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản bằng cách cho phép doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh nếu doanh nghiệp có khả năng phục hồi; để thực hiện tốt mục tiêu này, LPS đã tạo điều kiện để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được tiếp tục tiến hành các giao dịch kinh doanh với đối tác, với các chủ thể để tăng cường tiềm lực giải thoát khỏi bờ vực phá sản Có nghĩa là, vẫn sẽ có những chủ nợ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể từ sau thời điểm Tòa án ra quyết định mở TTPS, những chủ nợ này có thể được xem là chủ nợ mới của doanh nghiệp Tuy nhiên, LPS (2004) còn thiếu sót khi không đề cập đến loại chủ nợ này cũng như việc đảm bảo các quyền lợi và vai trò của họ trong GQPS doanh nghiệp

Có thể nói, việc phân loại chủ nợ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vai trò và vị trí của các loại chủ nợ trong tiến trình GQPS doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi pháp luật phá sản phải có sự phân loại hợp lý để các chủ nợ có thể phát huy được vai trò của mình, góp phần đảm bảo việc thực thi pháp luật trên thực tế có hiệu quả thiết thực

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định vai trò của chủ nợ trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

Chủ nợ được xem là một trong những chủ thể có vai trò quyết định đối với việc GQPS doanh nghiệp và được pháp luật phá sản bảo đảm về quyền lợi; tuy nhiên, vai trò đó có được phát huy đúng tinh thần của pháp luật trên thực tế hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố; những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp:

Thứ nhất, cơ chế và mục đích của việc GQPS: Đây là yếu tố khá quan trọng

trong việc xác định vai trò của chủ nợ Cũng như pháp luật nhiều nước trên thế giới, LPS Việt Nam thực hiện cơ chế giải quyết quyền lợi tài sản giữa chủ nợ và con nợ; với mục đích căn bản vẫn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và con nợ

- hai chủ thể thiết yếu của một vụ phá sản doanh nghiệp Đặc biệt, chủ nợ là những người có nguy cơ sẽ phải gánh chịu nhiều thiệt hại từ việc phá sản một doanh

Trang 24

nghiệp, vì vậy cùng với cơ chế và mục đích của LPS, vai trò của chủ nợ cũng cần được xác định rõ ràng nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ thể quan trọng này, đồng thời thể hiện đúng mục tiêu và hiện thực hóa cơ chế GQPS

Thứ hai, sự bảo đảm về tài sản cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc

xác định vai trò của chủ nợ trong TTPS Theo quy định của LPS (2004) thì có 3 loại chủ nợ cơ bản: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không

có bảo đảm; sự phân chia này dựa trên mối quan hệ giữa giá trị khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm theo cấp độ giảm dần; giá trị tài sản bảo đảm trong tương quan với giá trị khoản nợ sẽ tỷ lệ nghịch với quyền lợi cũng như vai trò của chủ nợ Chủ nợ nào nắm giữ tài sản bảo đảm có giá trị càng lớn và bảo đảm được quyền lợi về tài sản càng nhiều thì lại có vai trò càng hạn chế trong việc tham gia GQPS doanh nghiệp Điều đó được thể hiện rõ nét qua các giai đoạn của TTPS có sự tham gia của chủ nợ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu mở TTPS đến thời điểm thanh toán, phân chia tài sản của doanh nghiệp Ngay từ giai đoạn đầu tiên, có thể thấy rõ vai trò của mỗi loại chủ nợ là khác nhau tùy thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm đối với khoản nợ mà doanh nghiệp mắc nợ, đó là trong ba loại chủ nợ, chỉ có hai loại chủ

nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS doanh nghiệp là chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm (Điều 13 LPS) Đây là hai chủ nợ có sự bảo đảm

về tài sản thấp hơn với chủ nợ có bảo đảm, do vậy LPS đề cao vai trò của hai loại chủ nợ này nhằm thể hiện sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của họ Bên cạnh đó, giai đoạn phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là giai đoạn thể hiện rõ nét vai trò của HNCN; việc HNCN có được tiến hành hay không và việc nghị quyết của HNCN có được thông qua hay không hoàn toàn phụ thuộc vào loại chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho số nợ không có bảo đảm (Điều 64, Điều 65 LPS); chủ nợ có bảo đảm hầu như không có vai trò gì trong Hội nghị này bởi chính sự bảo đảm khá lớn về quyền lợi so với chủ nợ khác Như vậy, có thể thấy sự bảo đảm về tài sản hay giá trị tài sản bảo đảm có ý nghĩa hết sức quan trọng và là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tư duy lập pháp trong việc xác định vai trò của mỗi loại chủ

nợ

Thứ ba, tình trạng tài sản của doanh nghiệp ở thời điểm mở TTPS cũng là một

yếu tố tác động đến việc xác định vai trò của chủ nợ Bởi lẽ một trong những mục

Trang 25

tiêu của LPS là giải quyết quyền lợi về tài sản cho các chủ nợ thông qua việc phân chia các khoản nợ dựa trên số tài sản còn lại của doanh nghiệp Đối với trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và không còn tài sản hoặc còn rất ít tài sản, không

đủ để thực hiện những nghĩa vụ tối thiểu và cơ bản nhất ( nộp tạm ứng phí phá sản, thanh toán phí phá sản) thì Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố phá sản ( Điều 87 LPS); như vậy không cần đến sự tham gia của chủ nợ thì việc GQPS vẫn phải kết thúc, hay nói cách khác, chủ nợ không thể hiện được vai trò của mình trong việc GQPS và chấp nhận “trắng tay” trong trường hợp đặc biệt này Có thể thấy chỉ khi nào doanh nghiệp còn tài sản thì Tòa án mới áp dụng các thủ tục cơ bản trong quá trình GQPS, khi đó vai trò của các chủ nợ mới được xác định và thể hiện rõ nét Ngoài những yếu tố trên, tư duy lập pháp, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia cũng là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS doanh nghiệp

1.2.3 Vai trò của chủ nợ trong thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp theo quy định pháp luật một số nước trên thế giới:

Phá sản được xem là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường, vì vậy

ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển thì hiện tượng này diễn ra khá phổ biến Các doanh nghiệp khi tham gia vào môi trường kinh doanh đều không tránh khỏi quy luật cạnh tranh và đào thải tự nhiên, đó cũng chính là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững Cũng như LPS Việt Nam, pháp luật về phá sản ở các quốc gia trên thế giới cũng có những quy định khá chặt chẽ với mục đích chung là bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể có liên quan, đặc biệt là chủ nợ của doanh nghiệp Trong đó, việc xác định rõ vai trò của các chủ nợ trong quá trình tham gia vào GQPS doanh nghiệp luôn có ý nghĩa rất lớn Tuy nhiên, do đặc thù của quan điểm chính trị, tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia là không giống nhau dẫn đến tư duy lập pháp trong việc xác định vai trò của chủ nợ trong TTPS cũng có nhiều điểm khác biệt

1.2.3.1 Vai trò của chủ nợ trong pháp luật phá sản của Pháp

Cũng như LPS của Việt Nam hay nhiều quốc gia khác, LPS Pháp cũng quy định về quyền nộp đơn của các chủ nợ trong việc yêu cầu GQPS đối với doanh

Trang 26

nghiệp mắc nợ Tuy nhiên, nếu LPS Việt Nam có sự phân biệt rõ ràng về ba loại chủ nợ: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, chủ nợ không có bảo đảm thì LPS Pháp lại không có sự phân biệt chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Điều đó dẫn đến việc xác định thẩm quyền của chủ nợ trong việc nộp đơn yêu cầu GQPS doanh nghiệp cũng khác nhau, theo LPS Pháp, mọi chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản khi phát hiện tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp Điều đó cho thấy pháp luật phá sản Pháp tạo điều kiện tối đa cho các chủ nợ phát huy được vai trò của mình trong việc nộp đơn yêu cầu GQPS doanh nghiệp mà không có sự phân biệt hay hạn chế giữa các loại chủ nợ Xét về khía cạnh chủ nợ là người lao động, pháp luật phá sản Pháp cũng có những quy định khá đặc trưng khi xác định vai trò của chủ thể này trong việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, đó là: người lao động chỉ có quyền nộp đơn khi đã nhận được bản án của Tòa lao động sơ thẩm chống lại người sử dụng lao động Khi được yêu cầu, Tòa Thương mại có thể ngay lập tức tiến hành mở thủ tục phục hồi hoặc thanh toán Theo quy định này thì người lao động không có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS ngay sau khi doanh nghiệp không trả được lương cho người lao động như quy định của LPS Việt Nam Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là quyền lợi của họ không được bảo đảm như người lao động ở Việt Nam hay một số nước khác, bởi vì, theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp các khoản nợ lương được coi là các khoản nợ có bảo đảm, được bảo đảm bởi Cơ quan bảo hiểm tiền lương cho người lao động và khoản lương này được trả trước khi có đơn yêu cầu mở TTPS Như vậy, quy định của LPS Pháp không thể hiện rõ nét vai trò của chủ nợ là người lao động trong việc nộp đơn yêu cầu GQPS doanh nghiệp, nhưng

về cơ bản, quyền lợi của người lao động ở Pháp luôn được bảo đảm

Đối với vai trò tham gia vào việc quản lý tài sản doanh nghiệp, nếu LPS Việt Nam quy định một trong những thành phần tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản là đại diện chủ nợ; thì ở LPS Pháp, chủ nợ không có vai trò gì trong vấn đề này Theo quy định của LPS Pháp thì chỉ có một nhân viên thực hiện chức năng quản lý tài sản của con nợ bị GQPS, được gọi là Quản trị viên tư pháp Khi quyết định thanh lý, chủ doanh nghiệp mất hết quyền đối với doanh nghiệp, khi đó Tòa án chỉ định một người tiến hành thanh lý Trong trường hợp doanh nghiệp còn khả năng

Trang 27

phục hồi, chủ doanh nghiệp vẫn giữ quyền quản lý doanh nghiệp, tuy nhiên Tòa án

có thể chỉ định một quản trị viên tư pháp thay thế chủ doanh nghiệp để quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nếu xét thấy chủ doanh nghiệp có thể gây hại cho doanh nghiệp khi tiếp tục giữ quyền quản lý Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể chỉ định thêm người quản lý tài sản nhưng hoạt động không mang tính chất tập thể như Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của LPS Việt Nam

Đối với vai trò của chủ nợ trong vấn đề tổ chức lại hoặc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, nếu ở LPS Việt Nam hay LPS Nhật Bản, chủ nợ

có vai trò quan trọng trong việc quyết định cứu doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản, cụ thể là ở Việt Nam, các chủ nợ thông qua HNCN để thực hiện vai trò của mình; thì pháp luật phá sản Pháp lại không quy định thẩm quyền nào cho HNCN, và trên thực tế, HNCN không có vai trò gì trong tố tụng phá sản ở Pháp, thậm chí không tồn tại Các chủ nợ có thể tham gia vào thủ tục GQPS với tư cách người kiểm tra, giám sát hoạt động của người quản lý tài sản và các chủ nợ không có quyền quyết định việc gì LPS Pháp cho phép Toà án quyết định chấp thuận hay từ chối kế hoạch do người được Toà án chỉ định đưa ra mà không cần các chủ nợ lớn phải thông qua Người được Toà án chỉ định có trách nhiệm tư vấn cho các nhà quản lý doanh nghiệp, những người đại diện cho người lao động, các chủ nợ của doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan khác và yêu cầu họ cho biết quan điểm của họ là nên để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại hay là thanh toán nó Nhưng quyết định cuối cùng lại do Toà án quyết định mà không cần sự đồng ý của các chủ nợ Đây được xem là đặc điểm khá đặc trưng của LPS Pháp

Có thể nhận thấy, trong LPS Pháp, chủ nợ không có vai trò quan trọng khi tham gia GQPS doanh nghiệp Hiệu quả của việc GQPS hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò mang tính chất quyết định của các cơ quan tư pháp

1.2.3.2 Vai trò của chủ nợ trong pháp luật phá sản Nhật Bản

Do hoàn cảnh lịch sử nên hệ thống pháp luật phá sản ở Nhật Bản được quy định trong nhiều luật, bộ luật khác nhau và được ban hành tại nhiều thời điểm khác nhau, đó là: Luật Phá sản (năm 1922); Bộ luật thương mại (năm 1938); Luật về thoả

Trang 28

hiệp (năm 1922; năm 2000); Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000); Luật về tổ chức lại công ty (năm 1952)

Để giải quyết tình trạng một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, pháp luật Nhật Bản quy định về thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi, trong đó việc xác định vai trò của chủ nợ cũng được đề cập đến một cách khác biệt giữa các loại thủ tục

Vai trò của chủ nợ trong thủ tục thanh lý tài sản chưa được thể hiện rõ: Theo quy định của pháp luật phá sản Nhật Bản thì khi các bên xác nhận những nguyên nhân gây nên tình trạng phá sản đang tồn tại thì có thể gửi đơn yêu cầu phá sản đối với người mắc nợ Tuy nhiên, ở Nhật Bản chủ yếu là người mắc nợ nộp đơn xin phá sản Chỉ một số ít vụ chủ nợ nộp đơn xin phá sản người mắc nợ, như: Ngân hàng yêu cầu phá sản đối với người mắc nợ để thu hồi nợ Có nghĩa là mặc dù pháp luật phá sản Nhật Bản đã quy định về vai trò của chủ nợ trong việc nộp đơn yêu cầu GQPS doanh nghiệp nhưng thực tế thì các chủ nợ chưa phát huy được vai trò này Vai trò của chủ nợ trong LPS Nhật Bản được thể hiện rõ nét trong thủ tục phục hồi, bao gồm: thủ tục tổ chức lại công ty (tái thiết công ty), thủ tục phục hồi dân sự

và thủ tục sắp xếp lại công ty

Trong thủ tục tổ chức lại công ty, có thể nhận thấy một trong những đặc trưng của thủ tục này liên quan đến vai trò tham gia của chủ nợ là: có thể hạn chế quyền của chủ nợ có bảo đảm (có nghĩa là quyền của chủ nợ đối với tài sản thế chấp của người mắc nợ bị đình chỉ, tạm thời chưa thanh toán, chưa giải quyết quyền lợi cho chủ nợ có bảo đảm, quyền này sẽ được khôi phục khi công ty người mắc nợ bị phá sản) Trong thời hạn một năm kể từ ngày Toà án mở thủ tục tái thiết công ty, phương án tái thiết công ty phải hoàn thành và nếu chưa hoàn thành thì được gia hạn thêm một năm nữa Phương án này do hội nghị chủ nợ có bảo đảm và hội nghị chủ nợ không có bảo đảm thông qua Trên thực tế thì chỉ tiến hành một hội nghị chủ

nợ, nhưng phát hành hai lá phiếu khác nhau cho hai loại chủ nợ Phải có trên 2/3 chủ nợ không có bảo đảm và 3/4 chủ nợ có bảo đảm tán thành thì phương án tái thiết được thông qua Phương án giảm nợ phải có 4/5 chủ nợ có bảo đảm thông qua Cũng tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, thủ tục phục hồi dân sự cũng nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh

Trang 29

nghiệp mắc nợ phục hồi kinh tế sau khi gặp khó khăn về tài chính chứ không phải là thanh toán nó Trong đó, theo quy định của LPS Nhật Bản thì trong vòng ba tháng

kể từ ngày Toà án quyết định mở thủ tục, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp phương án phục hồi, có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần một tháng Nếu đã gia hạn hai lần mà không có phương án phục hồi thì Toà án ra quyết định phá sản Trong vòng năm tháng kể từ ngày Toà án mở thủ tục sẽ triệu tập hội nghị chủ nợ để thông qua phương án phục hồi người mắc nợ Nếu trên 1/2 số chủ nợ (với trên 1/2 tổng số nợ) tán thành phương án phục hồi, thì phương án này được Toà án công nhận và doanh nghiệp mắc nợ sẽ thực hiện phương án phục hồi trong vòng ba năm Như vậy có thể thấy theo tinh thần của LPS Nhật Bản thì chủ nợ có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến việc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Đối với thủ tục sắp xếp lại công ty, xét về bản chất cũng là thủ tục phục hồi lại công ty nhưng được giải quyết ngoài Toà án Vai trò của chủ nợ cũng được thể hiện thông qua thủ tục này bởi theo quy định của pháp luật phá sản Nhật Bản, phương án sắp xếp lại công ty cần phải được HNCN thông qua, doanh nghiệp mắc nợ sẽ gặp từng chủ nợ để thỏa thuận việc sắp xếp lại công ty (hoãn nợ, mức trả nợ, cách thức trả nợ, bỏ bớt lĩnh vực kinh doanh không có lãi…) Trong thủ tục này, pháp luật có quy định cho phép sự can thiệp cần thiết của Toà án đối với những chủ nợ có bảo đảm nếu muốn bán tài sản thế chấp thì Toà án sẽ ra lệnh ngăn chặn Tuy nhiên, sự can thiệp của Toà án là rất hạn chế [12]

Như vậy, có thể thấy cũng như pháp luật Việt Nam, pháp luật phá sản của Nhật Bản đề cao vai trò của chủ nợ thông qua các TTPS cơ bản, điều đó thể hiện tinh thần lập pháp phù hợp với mục đích của pháp luật phá sản nói chung là bảo vệ quyền lợi của chủ nợ

1.2.3.3 Vai trò của chủ nợ trong Luật Phá sản của Trung Quốc

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khái niệm phá sản được hiểu là khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thì bị xem xét khả năng doanh nghiệp bị phá sản Vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS ở Trung Quốc cũng được thể hiện thông qua việc pháp luật cho phép họ có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản và hai thủ tục

Trang 30

GQPS được đưa ra là: thủ tục thanh lý và tổ chức lại (phục hồi), trong đó, các chủ

nợ cũng có những vai trò nhất định, cụ thể:

Đối với thủ tục thanh lý, theo quy định của pháp luật phá sản Trung Quốc thì các chủ nợ sẽ đăng ký đòi nợ theo thủ tục quy định trong vòng 1 tháng hoặc trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về chấp nhận đơn yêu cầu

mở TTPS Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn này thể hiện thông qua ý chí đòi nợ - đây vừa là sự bảo vệ quyền lợi của chính các chủ nợ, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy việc GQPS doanh nghiệp đạt hiệu quả thiết thực

Còn đối với thủ tục phục hồi, pháp luật Trung Quốc quy định thủ tục này cũng

có thể được áp dụng nếu giữa chủ nợ và người mắc nợ đạt được thoả thuận Quá trình này chỉ kéo dài tối đa trong thời hạn 2 năm Trong thời hạn thực hiện kế hoạch

tổ chức lại, nếu tình trạng của doanh nghiệp bị xấu đi, doanh nghiệp không thực hiện đúng kế hoạch tổ chức lại đã được thông qua hoặc doanh nghiệp có những hành vi gian dối thì kế hoạch tổ chức lại sẽ bị đình chỉ và doanh nghiệp sẽ bị tuyên

bố phá sản Như vậy, tuy ở mức độ khác nhau nhưng cũng như LPS Việt Nam và Nhật Bản, LPS Trung Quốc đã có những quy định thể hiện rõ nét vai trò quan trọng của chủ nợ trong vấn đề phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản [12] Nói tóm lại, mặc dù pháp luật phá sản ở các nước khác nhau thì đều có những quy định thể hiện vai trò của chủ nợ không giống nhau, nhưng tựu chung lại đều hướng tới một trong những mục tiêu cơ bản của LPS đó là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ của doanh nghiệp LPS Việt Nam đã có sự tham khảo tinh

tế và kế thừa tư duy pháp lý của pháp luật phá sản nhiều nước trên thế giới trong việc xác định vai trò của chủ nợ khi tham gia GQPS doanh nghiệp, từ đó áp dụng phù hợp với tình hình phát triển nền kinh tế thị trường và quan điểm lập pháp ở Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã làm được thì những quy định về vai trò của chủ nợ trong quá trình GQPS nói riêng và các quy định của LPS (2004) nói chung còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu tính khả thi dẫn đến sự khó khăn khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội Đó là nguyên nhân khiến cho việc sửa đổi LPS hiện nay trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết và cũng là những vấn đề mà luận văn sẽ đề cập đến ở chương tiếp theo

Trang 31

Chương 2

VAI TRÒ CỤ THỂ CỦA CHỦ NỢ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN HÀNH 2.1 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp

2.1.1 Vai trò nộp đơn của chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần

Nộp đơn yêu cầu mở TTPS là thủ tục bắt buộc đầu tiên trong trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, TTPS đối với doanh nghiệp không thể được

mở ra nếu thiếu đi giai đoạn quan trọng này Hay nói cách khác, đơn yêu cầu mở TTPS là căn cứ để Tòa án có ra quyết định mở TTPS đối với doanh nghiệp hay không Vai trò của chủ nợ được thể hiện trong giai đoạn đầu tiên của TTPS thông qua hành vi nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp

Pháp luật phá sản được đặt ra trước hết nhằm bảo vệ quyền về tài sản của các chủ nợ Do vậy, hầu hết luật phá sản các nước đều trao cho chủ nợ quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp, như một cách để cho các chủ nợ có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng chính quyền năng cơ bản này, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các chủ nợ phát huy được vai trò của mình trong tiến trình GQPS doanh nghiệp

Theo quy định tại LPS (2004), chủ nợ được phân thành ba loại: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Về nguyên tắc, các chủ nợ đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong TTPS; tuy nhiên, pháp luật phá sản tạo nên sự bình đẳng bằng việc bảo đảm quyền lợi công bằng cho các loại chủ nợ; và như vậy không phải chủ nợ nào cũng có vai trò giống nhau trong giai đoạn

đầu của TTPS Theo điều 13 LPS (2004) thì “khi nhận thấy doanh nghiệp hợp tác

xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”

Theo đó, pháp luật phá sản chỉ trao quyền nộp đơn này cho chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mà không cho phép chủ nợ có bảo đảm thực

Trang 32

hiện việc nộp đơn Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng quyền đòi nợ của các chủ nợ có bảo đảm luôn được ưu tiên bằng tài sản có bảo đảm của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba; tức là quyền lợi của họ luôn được bảo vệ trong mọi trường hợp Vì vậy, nếu quy định cho các chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là không cần thiết Quyền nộp đơn này chỉ dành cho chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần – đây là hai loại chủ nợ bị xâm phạm về lợi ích nhiều hơn trong tương quan với chủ nợ có bảo đảm, việc cho hai loại chủ nợ này quyền nộp đơn sẽ giúp họ có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp mắc nợ họ lâm vào tình trạng phá sản Hơn nữa, theo quy định tại khoản 3 điều 27 LPS (2004) thì trừ trường hợp được Tòa án cho phép, việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp đối với các chủ nợ có bảo đảm sẽ bị tạm đình chỉ từ ngày tòa thụ lý đơn yêu cầu mở TTPS Với quy định này, dù pháp luật có cho phép thì chắc hẳn cũng không chủ nợ có bảo đảm nào lại thực hiện việc nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp để hạn chế chính lợi ích của bản thân mình

Theo quy định của LPS (2004) thì những chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần khi nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu do pháp luật quy định và theo yêu cầu của Toà

án trong quá trình tiến hành TTPS LPS (2004) đã loại bỏ những quy định về nghĩa

vụ của chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở TTPS phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn tại Điều 7 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và khoản 3 Điều 10 Nghị định 189/CP của Chính Phủ hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp Bởi quy định này là một trở ngại lớn đối với chủ nợ nếu muốn nộp đơn yêu cầu GQPS Muốn chứng minh một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì phải có đầy đủ giấy tờ về tổng số nợ đến hạn của doanh nghiệp, giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, tình hình kinh doanh,… trong khi đó chủ nợ nộp đơn chỉ có thể có giấy tờ liên quan đến các khoản nợ của mình, việc tiếp cận và thu thập được các giấy tờ liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp mắc nợ là hết sức khó khắn Vì vậy, việc LPS (2004) khắc phục được hạn chế đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ nợ phát huy được vai trò của mình trong việc nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp

Trang 33

2.1.2 Vai trò nộp đơn của chủ nợ là người lao động

Trong giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp, không thể không nhắc đến vai trò của một loại chủ nợ khá đặc biệt, chính là người lao động

Về thực chất đối với doanh nghiệp mắc nợ, người lao động có thể được xem là chủ

nợ không có bảo đảm, hàng hóa duy nhất đem ra trao đổi là sức lao động và tiền lương – nguồn sống chính của bản thân và gia đình họ Do đó, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động là một trong những đối tượng bị thiệt hại nhiều nhất, không có lương, nguy cơ thất nghiệp đe dọa [10, tr.9] Chính vì thế,

để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, Điều 14 LPS (2004) đã có quy định về vai trò của người lao động trong việc nộp đơn yêu cầu mở TTPS doanh

nghiệp

Như vậy, theo quy định của LPS (2004), người lao động với tư cách là một loại chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt cũng có vai trò khá quan trọng trong việc phát hiện và nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản So với quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 về việc người lao động chỉ có thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu khi doanh nghiệp không trả được lương trong ba tháng liên tiếp thì quy định của LPS (2004) là một bước tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Tuy nhiên, việc quy định người lao động chỉ được phép nộp đơn thông qua người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn cùng với những tỷ lệ phức tạp tại Điều 14 lại trở thành một “rào cản” rất lớn gây khó khăn cho việc thực thi quyền nộp đơn của người lao động trên thực tế, đổng thời cũng làm hạn chế vai trò của người lao động trong việc tạo nên sự khởi đầu của thủ tục GQPS doanh nghiệp

Xét trên phương diện mỗi cá nhân người lao động thì họ đều là người làm công ăn lương, họ bỏ ra sức lao động và doanh nghiệp phải trả lương cho họ là điều đương nhiên; vậy bản thân mỗi cá nhân đó cũng là một chủ nợ không có bảo đảm đối với khoản nợ lương mà doanh nghiệp đến hạn phải trả mà chưa thanh toán Vì thế họ cần được đối xử bình đẳng như mỗi một chủ nợ không bảo đảm khác, trước tiên là vai trò nộp đơn trong việc yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp nơi họ làm việc Tinh thần này đã được thể hiện trong Dự thảo LPS sửa đổi mới nhất, Dự

Trang 34

thảo đã trao cho người lao động và đại diện tổ chức công đoàn quyền nộp đơn yêu

cầu mở TTPS doanh nghiệp với quy định tại Khoản 2 Điều 5: "Người lao động, đại diện công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác đến hạn khi người lao động, đại diện công đoàn có yêu cầu" Quy định này có ý nghĩa khuyến khích người lao

động nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp cũng như tạo điều kiện cho người lao động phát huy vai trò và bảo vệ được quyền lợi của mình một cách đơn giản mà không cần phải thông qua đại diện với tỷ lệ phức tạp như quy định của LPS hiện hành Đây là điều hợp lý và phù hợp với tinh thần của pháp luật lao động nước ta,

cụ thể tại Điều 96 Bộ Luật Lao động quy định: "Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 1 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương" Hay có thể dẫn chiếu quan điểm của Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu về vấn đề này, đó là : “anh kinh doanh mà nợ lương người lao động đến 10 triệu thì người lao động cũng có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở TTPS doanh nghiệp kinh doanh mà đến lương của người lao động còn phải nợ thì dù là doanh nghiệp to hay nhỏ, quy mô vài chục triệu đồng hay cả trăm ngàn tỷ đồng cũng như nhau” [14] Tuy vậy, xét về tính khả

thi của quy định này thì chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế; rõ ràng người lao động

là người phải chịu nhiều thiệt hại và ảnh hưởng nặng nề nhất nếu doanh nghiệp nơi

họ làm việc bị phá sản và việc nợ lương là điều mà cả bản thân người lao động và doanh nghiệp đều không mong muốn Nhưng ở thời buổi kinh tế suy thoái và có nhiều biến động như hiện nay, việc các doanh nghiệp kinh doanh khó khăn và tình trạng nợ lương người lao động diễn ra khá phổ biến và cũng là một điều khá dễ hiểu Hơn nữa, một mục tiêu quan trọng và mang tính nhân đạo của LPS đó là cứu doanh nghiệp thoát khỏi bờ vực phá sản; liệu Dự thảo quy định như vậy có thể hiện đúng tinh thần và nhiệm vụ của LPS hay không? Liệu người lao động có thể phát huy được vai trò của mình trong việc tham gia giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp trên thực tế hay không? Điều đó cần phải xem xét trên nhiều phương diện để pháp luật sửa đổi vừa hợp lý, vừa có tính khả thi nhưng cũng đảm bảo tính nhân

Trang 35

văn; và tác giả xin phép được đưa ra quan điểm và kiến nghị về vấn đề này ở chương sau của luận văn

2.2 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

Để mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, Tòa án phải xác định doanh nghiệp đó có thực sự lâm vào tình trạng phá sản, tức là đáp ứng đủ hai điều kiện được quy định tại Điều 3 LPS (2004), đó là: mất khả năng thánh toán nợ đến hạn và khi có yêu cầu của chủ nợ Như vậy, chủ nợ cùng hành vi đòi nợ đến hạn của họ có vai trò quan trọng trong việc xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; đồng thời là căn cứ để Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp

Có thể nói việc Tòa án ra quyết định mở TTPS là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình GQPS doanh nghiệp và vai trò của các chủ nợ cũng được phát huy mạnh mẽ kể từ thời điểm này Quyết định mở TTPS đã mở ra một thủ tục tư pháp đặc biệt mà ở đó vai trò của chủ nợ được thể hiện rõ nét, đó là: vai trò trong việc gửi giấy đòi nợ và vai trò tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản

2.2.1 Vai trò của chủ nợ trong việc gửi giấy đòi nợ

Một trong những mục tiêu quan trọng của LPS đó là nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ Để đạt được mục tiêu đó, vai trò của các chủ nợ trong giai đoạn này lại càng được đề cao; bởi chính các chủ nợ sẽ là những người trực tiếp thực hiện hành vi này để phát huy vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi về tài sản của chính mình, đồng thời thúc đẩy quá trình GQPS doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Điều đó thể hiện thông qua hành vi gửi giấy đòi nợ của các chủ nợ sau khi Tòa án ra quyết định mở TTPS doanh nghiệp Quyền và nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ được quy định cụ thể trong Khoản 1 Điều 51 LPS (2004)

Quy định của Điều 51 cho thấy tính chất đặc biệt của việc đòi nợ trong TTPS doanh nghiệp, các chủ nợ không đòi nợ riêng rẽ mà đồng loạt gửi giấy đòi nợ (kể cả những khoản nợ chưa đến hạn) đến Tòa án trong thời hạn luật định Điều đó thể hiện vai trò quan trọng của các chủ nợ trong việc phát huy sức mạnh tập thể góp

Trang 36

phần đẩy nhanh tiến độ GQPS doanh nghiệp, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu của pháp luật phá sản trên thực tế

2.2.2 Vai trò tham gia vào Tổ quản lý và thanh lý tài sản:

Bàn về vai trò của các chủ nợ trong giai đoạn này, không thể không đề cập sự tham gia của chủ nợ vào Tổ quản lý và thanh lý tài sản – một chủ thể quan trọng trong việc GQPS doanh nghiệp và bản thân chủ nợ cũng có vai trò nhất định trong

tổ chức này Theo quy định tại Điều 9 LPS (2004), đồng thời với việc ra quyết định

mở TTPS, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản bao gồm: (i) Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; (ii) một cán bộ của Toà án; (iii) một đại diện chủ nợ; (iv) đại diện hợp pháp của doanh nghiệp bị mở TTPS và trong trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 LPS (2004) và Điều 15 Nghị định

số 67/2006/NĐ-CP thì chủ nợ có quyền cử đại diện tham gia vào Tổ quản lý, thanh

lý tài sản Quy định này khá hợp lý bởi vai trò của tổ chức này gắn liền với khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; việc bảo toàn hay thanh lý khối tài sản này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ Vậy nên, chủ nợ cần được tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản để phát huy vai trò cũng như trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của chính các chủ nợ nói riêng và trong việc GQPS doanh nghiệp nói chung

Có thể nhận thấy, Tổ quản lý và thanh lý tài sản là một tập thể bao gồm các thành viên đại diện cho chủ thể khác nhau, trong đó có đại diện của các chủ nợ, có chức năng quản lý và xử tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ nợ, con nợ, người lao động và của Nhà nước một cách công bằng và đúng luật Tuy nhiên, thực tiễn thi hành LPS những năm qua cho thấy, những quy định về địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản còn nhiều bất cập khiến cho hiệu quả hoạt động trên thực tế chưa tốt, từ đó dẫn đến việc phát huy vai trò của chủ nợ trong tổ chức này cũng bị hạn chế nhất định Bởi vì theo quy định

Trang 37

của pháp luật phá sản nước ta, Tổ quản lý và thanh lý tài sản do Thẩm phán ra quyết định thành lập cùng với quyết định mở TTPS và chịu trách nhiệm truớc Thẩm phán

về hoạt động của mình Điều này thể hiện Tổ quản lý và thanh lý tài sản có mối quan hệ ràng buộc với Toà án, hoạt động của Tổ nhằm thực hiện các quyết định pháp lý của Thẩm phán, mặt khác, trên cơ sở hoạt động của Tổ, Thẩm phán có được những thông tin, cơ sở cần thiết quyết định các vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình tố tụng phá sản Tuy nhiên, các thành viên của Tổ, trong đó có đại diện của chủ nợ không chỉ chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, mà còn chịu sự quản lý của cơ quan nơi công tác Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 67 thì một trong những

thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản là: “Một đại diện của chủ nợ là tổ chức,

cá nhân có số nợ lớn nhất trong số các chủ nợ” Có nghĩa là chủ nợ tham gia vào tổ

chức này có thể là tổ chức hoặc cá nhân; tuy nhiên bản thân tổ chức và cá nhân này cũng có những hoạt động riêng của mình trong xã hội; không thể “toàn tâm toàn ý” tham gia vào việc GQPS doanh nghiệp; họ là chủ nợ lớn nên thiệt hại của họ càng nhiều và họ cũng phải có những hoạt động kinh doanh hay công việc riêng để cứu vãn cuộc sống của mình, đề phòng trường hợp xấu nhất có thể xảy ra là doanh nghiệp không thể thanh toán được nợ cho họ Như vậy, dù là một chủ thể trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp nhưng Tổ quản lý và thanh lý tài sản mang tính chất hỗn hợp với các thành viên kiêm nhiệm Việc quy định địa vị pháp

lý không rõ ràng đối với chủ thể này đã gây ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động của Tổ, ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò cũng như trách nhiệm của các thành viên của Tổ, trong đó có đại diện của chủ nợ Điều 20 Nghị định số 67 quy định phiên họp của Tổ quản lý và thanh lý tài sản chỉ được tiến hành khi có sự tham gia của ít nhất 2/3 tổng số thành viên Đối với thành viên là chủ nợ, trường hợp chủ nợ là tổ chức không cử người tham gia, hoặc khi họp Tổ, người được cử tham gia lại phải thực hiện nhiệm vụ khác của tổ chức; hay chủ nợ là cá nhân vì công việc riêng nên không tham gia được thì ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện họp Tổ; đồng thời ảnh hưởng đến chính vai trò và quyền lợi của các chủ nợ trong việc tham gia quản lý tài sản doanh nghiệp mắc nợ

Trang 38

2.3 Vai trò của chủ nợ trong giai đoạn tiến hành Hội nghị chủ nợ

Hội nghị chủ nợ (HNCN) là cơ quan thể hiện tiếng nói của các chủ nợ trong quá trình GQPS doanh nghiệp HNCN có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp mắc nợ và chủ nợ chính là những người đóng vai trò quan trọng trong cơ quan này

2.3.1 Vai trò tham gia vào Hội nghị chủ nợ

Trong giai đoạn này, vai trò của các chủ nợ thể hiện trước hết ở việc tham gia vào HNCN Điều 62, 63 LPS (2004) đã quy định cụ thể thành phần tham gia HNCN, bao gồm: (i) Các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ; (ii) Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền; (iii) Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; (iv) Người nộp đơn yêu cầu mở TTPS là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh

Như vậy, có thể thấy theo quy định của LPS (2004), thành phần chủ yếu của HNCN là các chủ nợ, điều đó chứng tỏ chủ nợ có vai trò rất lớn trong hoạt động của HNCN Đây là điều hợp lý, bởi nó thể hiện đúng tinh thần của pháp luật phá sản; và hầu hết pháp luật phá sản các quốc gia khác trên thế giới đều trao quyền tham gia HNCN cho các chủ nợ, suy cho cùng mục đích căn bản của LPS cũng chính là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ - chủ thể chịu nhiều thiệt hại nặng

nề từ việc doanh nghiệp phá sản; vì thế nên họ phải được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện tiếng nói của mình So với Tổ quản lý và thanh lý tài sản – một thiết chế tập thể có sự tham gia của chủ nợ thì HNCN chính là nơi để các chủ nợ phát huy rõ nét hơn cả vai trò quan trọng của mình trong quá trình GQPS doanh nghiệp

2.3.2 Vai trò của chủ nợ trong việc tổ chức Hội nghị chủ nợ

LPS (2004) đã cho phép tất cả các chủ nợ có trong danh sách chủ nợ đều có quyền tham gia HNCN, trong đó bao gồm cả ba loại chủ nợ: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Về nguyên tắc, các chủ

nợ đều có quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong quá trình GQPS doanh

Trang 39

nghiệp Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc thù của từng loại chủ nợ mà mỗi loại có những vai trò khác nhau khi tham gia vào HNCN

Đối với thẩm quyền triệu tập HNCN: Theo quy định tại Điều 61 LPS (2004) thì thẩm quyền triệu tập HNCN thuộc về Thẩm phán phụ trách vụ việc phá sản doanh nghiệp HNCN lần thứ nhất sẽ do Thẩm phán triệu tập sau khi lập xong danh sách chủ nợ hoặc sau khi kiểm kê xong tài sản của doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 61) Còn HNCN các lần tiếp theo được thẩm phán triệu tập theo đề nghị của Tổ

quản lý, thanh lý tài sản hoặc “của các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng

số nợ không có bảo đảm” (Khoản 2 Điều 61) Như vậy, theo quy định này, các chủ

nợ có vai trò nhất định trong việc yêu cầu triệu tập HNCN; tuy nhiên, với tinh thần của điều luật thì vai trò này chỉ thuộc về các chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm, bởi chỉ có họ mới có thể đại diện cho những phần nợ không có bảo đảm Còn chủ nợ có bảo đảm theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 LPS (2004) thì luôn được bảo đảm bằng giá trị tài sản cầm cố, thế chấp của doanh nghiệp mắc nợ

và đương nhiên, nếu như theo quy định của LPS thì họ không có các khoản nợ không có bảo đảm, vì vậy họ sẽ không có quyền yêu cầu triệu tập HNCN Quy định như vậy xuất phát từ việc bảo vệ quyền lợi cho những đối tượng bị thiệt hại nhiều nhất từ việc doanh nghiệp phá sản, và nó cũng phù hợp với quy định về quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với doanh nghiệp của chủ nợ; theo đó chỉ có chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm mới có những quyền năng này; như một cách để “bù đắp” cho họ hoặc giúp họ có tiếng nói bảo vệ chính mình trước nguy cơ bị xâm phạm về quyền lợi Chủ nợ có bảo đảm cũng là một loại chủ nợ được LPS ghi nhận, nhưng dường như loại chủ nợ này có vai trò rất mờ nhạt trong suốt quá trình tiến hành HNCN

Sự khác biệt về vai trò của mỗi loại chủ nợ trong HNCN được thể hiện rõ nét hơn cả trong quy định về điều kiện hợp lệ của HNCN, được quy định tại Điều 65 LPS (2004) Theo quy định này, một trong hai điều kiện cần và đủ để xác định tính

hợp lệ của HNCN là phải có “quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia” Nghĩa là điều kiện hợp

lệ của HNCN chỉ căn cứ vào số lượng chủ nợ không có bảo đảm, còn chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần không có vai trò gì trong vấn đề này Có thể

Ngày đăng: 28/03/2018, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w