Tình hình nghiên cứu đề tài Lĩnh vực khai thác sử dụng khoảng không vũ trụ vì các mục đích hòa bình nói chung cũng như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động sử
Trang 1ĐỖ QUÍ HOÀNG
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ QUỐC TẾ CỦA QUỐC GIA TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN BAY VŨ TRỤ VÀO MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu hoàn toàn do tôi thực hiện Mọi đoạn trích dẫn cũng như các số liệu được sử dụng trong Luận văn đều được dẫn nguồn, có độ chính xác và cập nhật cao
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Tác giả Luận văn
Đỗ Quí Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình theo học chương trình Thạc sĩ tại trường Đại học Luật Hà Nội cũng như trong quá trình em thực hiện Luận văn
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em hoàn thành Luận văn này
Em xin cảm ơn!
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
* * *
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 7
LỜI MỞ ĐẦU 8
NỘI DUNG LUẬN VĂN Chương 1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình 15
1.1 Khái niệm phương tiện bay vũ trụ và hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình 15
1.1.1 Khái niệm phương tiện bay vũ trụ 1.1.2 Hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình 1.2 Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình 23
1.2.1 Định nghĩa trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình 1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình 1.3 Cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình 32
1.3.1 Cơ sở pháp lý
1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 51.4 Hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình 35
1.4.1 Bồi thường thiệt hại hoặc khôi phục nguyên trạng
1.4.2 Thực hiện các biện pháp ứng phó
1.4.3 Thực hiện các hiện pháp bảo đảm tài chính
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 40
Chương 2 Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình theo quy định của pháp luật quốc tế 41
2.1 Tổng quan pháp luật quốc tế về khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình 41
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về khai thác,
sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình
2.1.2 Một số điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh vấn đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình
2.2 Nội dung trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình theo quy định của một số điều ước quốc tế 47
2.2.1 Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong việc nghiên cứu và
sử dụng khoảng không vũ trụ năm 1967
2.2.2 Công ước về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với những tổn thất gây ra bởi các phương tiện bay vũ trụ năm 1972
2.2.3 Vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế quy định trong một số điều ước quốc tế khác
2.3 Vai trò của các quy định pháp luật quốc tế về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 62
Trang 6Chương 3 Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình 63
3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển các hoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam 63 3.2 Thực trạng pháp luật của Việt Nam về khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này nói riêng 65
3.2.1 Tổng quan tình hình xây dựng khung pháp luật về vũ trụ của Việt Nam và một
3.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này nói riêng
3.3.2 Các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam
về khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này nói riêng
3.3.3 Một số kiến nghị, giải pháp cơ bản đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam về khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục
đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này nói riêng
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG III 83 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Trong những tác phẩm của mình, nhà văn Nguyễn Khải đã từng có lần khẳng
định “ ở đời này không có con đường cùng, mà chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu
là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy ” Câu nói này đã đưa đến một
chân lý cho cuộc sống, nó đề cao sự nỗ lực vươn lên không ngừng của mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Chính sự nỗ lực, chính khát khao vươn cao hơn,
xa hơn đã thôi thúc, làm cháy bùng “ngọn lửa khát vọng” của con người trên con
đường tìm đến những miền đất mới Từ biển sâu xanh thẳm cho đến những đại ngàn bao la, để rồi giờ đây, những khát khao ấy, những nỗ lực không biết mệt mỏi ấy đã giúp con người thoát khỏi sức hút của Trái đất – ngôi nhà thân thuộc bấy lâu nay, để
đi tới khám phá những hành tinh xa xôi, hiệ n thực hóa dần dần khát vọng chinh phục vũ trụ bao la của nhân loại
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đến nửa cuối thế k XX, sự phát triển của ngành khoa học công nghệ vũ trụ
đã đem lại cho nhân loại nhiều thành tựu đáng kể; chúng ta đã được chứng kiến nhiều
sự kiện quốc tế quan trọng trong hoạt động chinh phục vũ trụ Ngày 04 tháng 10 năm
1957, sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới mang tên Sputnik, đã mở đầu cho một loạt những hoạt động “chạy đua” của những quốc gia khác trong lĩnh vực này Tháng 04 năm 1961, con tàu vũ trụ đầu tiên do phi hành gia vũ trũ người Nga Yuri Gagarin điều khiển, đã thực hiện một chuyến du hành vòng quanh Trái đất Tiếp theo đó, đến tháng 07 năm 1969, nhà du hành vũ trụ của Hoa Kỳ Neil Amstrong đã trở thành người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng Những
sự kiện lịch sử này đã mở ra một k nguyên mới cho loài người trong công cuộc chinh phục vũ trụ bao la Kể từ đó cho tới nay, các hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ đã không ngừng được triển khai, đem lại những lợi ích, những ứng dụng vô cùng to lớn cho cuộc sống của loài người
Bên cạnh những lợi ích to lớn không thể phủ nhận, các hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào khai thác khoảng không vũ trụ cũng đưa đến những tác động bất lợi và thách thức đối với con người Những vấn đề nhãn tiền có thể nhận
Trang 10thấy như việc sử dụng vũ trụ vào các mục đích quân sự; sự va chạm giữa các vệ tinh, các phương tiện bay; vấn đề rác thải vũ trụ cũng như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế đặt ra trong những trường hợp này Đây thực sự là những vấn đề nổi cộm, đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế nếu như không muốn những nguy cơ hiện hữu này trở nên nghiêm trọng, đe dọa đến nền hòa bình, ổn định của cuộc sống con người dưới mái nhà chung Trái đất
Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp lý
quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lĩnh vực khai thác sử dụng khoảng không vũ trụ vì các mục đích hòa bình nói chung cũng như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ nói riêng không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước mà còn nhận được sự chú ý của các học giả nước ngoài, đặc biệt
là sau khi Việt Nam tham gia vào một loạt những điều ước quốc tế điều chỉnh hoạt động vũ trụ trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc và đã tiến hành triển khai những “bước đi” đầu tiên trong không gian
Cho đến nay, dưới góc độ lập pháp, đã có khoảng hơn 30 quốc gia trên thế giới có hệ thống văn bản pháp luật về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, trong đó tiêu biểu là: Nga, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Australia, Anh, Ukraina, Nam Phi, Thụy Điển, Argentina Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam đã và đang gia nhập vào hoạt động chung của khu vực và thế giới về vấn đề sử dụng phương tiện bay vào khai thác khoảng không vũ trụ Ngay từ đầu những năm 1970, chúng ta đã bắt đầu ứng dụng công nghệ viễn thám để xử lý các bức ảnh chụp từ vệ tinh; đặc biệt với sự kiện phóng thành công vệ tinh VINASAT-1 vào năm 2008, Việt Nam đã chính thức khẳng định với cộng đồng quốc tế “sự góp mặt” của mình trong không gian vũ trụ, đánh một dấu mốc mới cho hành trình phát triển trong hoạt động vũ trụ của Việt Nam
Dưới góc độ nghiên cứu quốc tế, có thể kể tới một số công trình của những
Trang 11học giả chủ yếu xuất phát từ các nước có ngành công nghệ vũ trụ phát triển như:
- Andrew G.Haley (1963), Space law and Government, Appleton Century
Crofts, New York
- Kopal.V, Vladimir Mandl, Founder of Space Law and G Reintanz, Vladimir
Mandl - Father of Space Law (1968), Collloquium on the Law of Outer Space,
Vol.11, pp 357-362
- Houston Lay (1970), The law relating to activities of Man in space, The
University of Chicago Press, London
- Christol C.Q (1982), The modern International Law of Outer Space, New
York, Pergamon Press
- Mohamed Abdulgader Tumi (1983), Space Law: International Liability for
Damages caused by Space Objects – The 1972 Liability for Damages Convention,
University of Miami
- Detlev Wolter (2005), Common Security in outer space and international
law, Unidir, Geneva
-
Tại Việt Nam, vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong quá trình sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào khai thác khoảng không vũ trụ nói riêng còn khá mới m Đến nay, các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn, tuy nhiên, cần phải
kể tới một số công trình tiêu biểu như:
- Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà
Nội, Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc xây dựng khung pháp luật của Việt Nam
về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, Đề tài Khoa học Cấp Nhà
nước, 2009 – 2011
- PGS, TS Nguyễn Bá Diến (Chủ biên), Xây dựng khung pháp luật Việt Nam
về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình – Những vấn đề lý luận và thực tiễn (sách chuyên khảo), Nxb ĐHQG Hà Nội, 2011
-
Trang 12Nhìn chung, đây là những đề tài, công trình mới chỉ đề cập đến những phương diện chung nhất về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình Hiện nay, chưa thực sự có nhiều công trình nghiên cứu một cách cụ thể về vấn đề này mà đặc biệt là về chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia khi tiến hành các hoạt động sử dụng phương tiện bay vào khai thác, thăm dò, nghiên cứu khoảng không vũ trụ
Trong điều kiện hết sức khó khăn, do tính chất phức tạp, mới m của lĩnh vực nghiên cứu cũng như sự hạn chế của các nguồn tài liệu có sẵn, tác giả đã cố gắng
hoàn thành đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt
động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình” với mong
muốn làm phong phú thêm những đóng góp vào kho tàng tri thức pháp lý về hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ trên thế giới và ở Việt Nam
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận văn sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế mà tiêu biểu là các điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh hoạt động vũ trụ trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc cũng như pháp luật tại Việt Nam về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia khi tiến hành các hoạt động sử dụng phương tiện bay vào thăm dò, khai thác, nghiên cứu khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; dẫn chiếu, tham khảo một số quy định và thực tiễn thi hành pháp luật
vũ trụ đã được thực hiện ở một số quốc gia có ngành công nghệ vũ trụ phát triển như Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Canada,
Về thời gian, luận văn đề cập tổng thể quá trình từ khi xây dựng đến hoàn thiện các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; từ những năm 1957 – giai đoạn loài người bắt đầu có những hoạt động đầu tiên trong không gian, cho đến nay khi mà khoa học công nghệ vũ trụ đã có những thành tựu to lớn Bên cạnh đó, luận văn cũng tập trung đi vào nghiên cứu pháp luật quốc gia tại Việt Nam về hoạt động vũ trụ kể từ khi gia nhập các điều ước quốc tế
về vũ trụ của Liên Hợp Quốc cho đến nay; qua đó, làm rõ những hạn chế, bất cập trong
Trang 13những quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia về lĩnh vực này và đồng thời, thấy được những thiếu sót cần tiếp tục phải hoàn thiện trong thời gian tới
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình là một vấn đề tương đối phức tạp và còn khá mới m không chỉ tại Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới khi mà ngành công nghệ vũ trụ mới phát triển được hơn 50 năm trở lại đây Do đó, trong khả năng nghiên cứu, tác giả không có tham vọng trình bày bao quát toàn bộ vấn đề nghiên cứu và ứng dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình Trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn sẽ góp phần
bổ sung hệ thống cơ sở lý luận về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong quá trình sử dụng các phương tiện bay vào khai thác khoảng không vũ trụ vì các mục đích dân sự, kinh doanh, thương mại phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống cho con người Qua đó, liên hệ thực tiễn tại Việt Nam khi mà nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng khung pháp luật điều chỉnh toàn diện các vấn
đề pháp lý liên quan đến hoạt động vũ trụ nói chung cũng như lĩnh vực sử dụng phương tiện bay vào khai thác tiềm năng không gian nói riêng
4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài này, luận văn tập trung vào các mục tiêu chủ yếu sau đây:
(i) Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm pháp lý quốc tế
của quốc gia trong hoạt động vũ trụ thông qua việc tổng hợp và xây dựng một loạt định nghĩa về khoảng không vũ trụ, phương tiện bay vũ trụ và đặc biệt là định nghĩa trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình; Qua đó, để thấy được đặc điểm cũng như cơ sở và các hình thức thực hiện loại trách nhiệm này
(ii) Tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế về trách nhiệm pháp lý quốc
tế của quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình; phân tích, làm sáng tỏ những nội dung pháp lý cơ bản trong một số
Công ước của Liên Hợp Quốc về vấn đề này như Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt
Trang 14động của quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ năm
1967, Công ước về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với những tổn thất gây ra bởi các phương tiện bay vũ trụ năm 1972, Hiệp định về hoạt động của quốc gia trên Mặt trăng và các hành tinh khác năm 1979 qua đó, để thấy được vai trò quan
trọng của các quy phạm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này
(iii) Liên hệ thực tiễn hệ thống pháp luật của Việt Nam về khai thác, sử dụng
phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nói chung và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này nói riêng Qua đó, chỉ ra những điểm hạn chế trong chính sách pháp luật cũng như đề xuất một số kiến nghị, giải pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, Luận văn đã được nghiên cứu dựa trên cơ
sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như cơ sở lý luận của khoa học luật quốc tế mà đặc biệt là Luật Vũ trụ quốc tế
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như phương pháp so sánh pháp luật,
hệ thống hóa pháp luật; phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; phương pháp khảo sát điều tra, thống kê, dẫn chiếu số liệu, xin ý kiến các chuyên gia cũng được
sử dụng trong luận văn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, bảng viết tắt, lời cam đoan, lời cảm ơn, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm 03 chương:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc
gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình;
- Chương 2 Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai
thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình theo quy định của pháp luật quốc tế;
Trang 15- Chương 3 Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về trách
nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình
Trang 16
-Chương 1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình
1.1 Khái niệm phương tiện bay vũ trụ và hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình
1.1.1 Khái niệm phương tiện bay vũ trụ
Lãnh thổ là một trong những bộ phận cấu thành đặc thù của quốc gia, nó luôn
có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại cũng như phát triển của mỗi quốc gia Theo quy định của luật pháp quốc tế, mỗi quốc gia bên cạnh quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ quốc gia thì còn tồn tại quyền tự do, bình đẳng trong việc sử dụng và khai thác các vùng lãnh thổ có quy chế pháp lý quốc tế, đặc biệt là khoảng không vũ trụ
Ngày 04/10/1957, Liên Xô đã phóng thành công lên quỹ đạo trái đất vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sự kiện này tuy chỉ là hành vi của một quốc gia đơn l nhưng nó
đã được cả thế giới dõi theo và quan trọng hơn, chính sự kiện đó đã tạo ra tiền lệ đầu tiên, mở đầu cho công cuộc khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loài người; đánh dấu bước mở đầu cho k nguyên chinh phục không gian của nhân loại
Kể từ đó đến nay, quá trình nghiên cứu, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ
đã đem lại sự thay đổi thần kỳ mà không ai có thể phủ nhận và những người đầu tiên được thụ hưởng thành quả không ai khác chính là những “cư dân trái đất”
Mặc dù ngành công nghệ vũ trụ đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể tuy nhiên cho đến nay trong khoa học pháp lý quốc tế vẫn tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất xoay quanh cách hiểu một số thuật ngữ, khái niệm, đặc biệt là những thuật ngữ, khái niệm phức tạp, khó xác định cả về khía cạnh kỹ thuật cũng như khía cạnh pháp lý, ví dụ như “khoảng không vũ trụ”, “ranh giới ngoài của khoảng không
vũ trụ”, “bờ vũ trụ”, “hoạt động vũ trụ”, “phương tiện bay vũ trụ” hay “mục đích hòa bình”.v.v
Hiện nay, khái niệm “khoảng không vũ trụ” vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và xây dựng Chúng ta biết rằng, năm 1957 được xem là dấu mốc lịch sử của
Trang 17loài người trong việc chinh phục khoảng không vũ trụ với sự kiện Sputnik của Liên
Xô cũ Ngay sau đó, năm 1959, vấn đề xây dựng khái niệm “khoảng không vũ trụ”
đã được nêu lên và thảo luận tại Ủy ban Adhoc về sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình của Liên Hợp Quốc (tiền thân của COPUOS1) Sau khi COPUOS được thành lập, vấn đề này tiếp tục được đưa ra thảo luận tại hai tiểu ban trực thuộc
đó là Tiểu ban Pháp lý và Tiểu ban Khoa học-Kỹ thuật nhưng vẫn không đạt được một sự nhất trí cơ bản nào
Cho đến nay vẫn chưa có một sự phân định rõ ràng giữa “vùng trời” (airspace
- môi trường hoạt động của các phương tiện bay hàng không) và “khoảng không vũ trụ” (outer space – môi trường hoạt động của các phương tiện bay vũ trụ) Chưa có một điều ước quốc tế cụ thể nào quy định về biên giới ngoài của vùng trời (ranh giới phân định giữa vùng trời và khoảng không vũ trụ) Nhưng bên cạnh đó, có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề về cách hiểu cũng như cách xác định phạm
vi vùng trời Có quan điểm cho rằng ranh giới đó nằm trên khoảng 30 km (≈ 19 dặm) tức là vị trí bay cao nhất của phương tiện bay hoặc khinh khí cầu Quan điểm khác lại cho rằng ranh giới này nằm trên khoảng 160 km (≈ 99 dặm), tức là vị trí bay thấp nhất của một quỹ đạo địa tĩnh Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) đã thiết lập nên một khái niệm “bờ không gian” ở độ cao 100 km (≈ 62 dặm), là ranh giới giữa bầu khí quyển của Trái đất và khoảng không vũ trụ Trong khi đó, quan điểm của Hoa Kỳ lại cho rằng, người bay ở độ cao trên 80 km (≈ 50 dặm) được coi
là một phi hành gia Tuy vậy, khái niệm “bờ không gian” hay quan niệm của Hoa
Kỳ về ranh giới khoảng không vũ trụ đều chỉ là những luận điểm có tính chất tham khảo chứ chưa hề có một quy định pháp lý chính thức nào liên quan đến vấn đề phân định vùng trời với khoảng không vũ trụ Chính vì vậy, vấn đề xác định ranh giới ngoài của vùng trời đã, đang và sẽ trở nên hết sức quan trọng và cần thiết để đưa ra thảo luận giữa các quốc gia nhằm tiến tới ghi nhận trong một văn bản pháp lý quốc
tế chính thức trong thời gian tới đây Thêm vào đó, các chuyên gia trong Tiểu ban
1 Ủy ban thường trực về sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình được thành lập để thay thế Ủy ban Adhoc trước đó
Trang 18Khoa học-Kỹ thuật của COPUOS cũng xác nhận rằng, chưa có đủ cơ sở khoa học kỹ thuật để đưa ra một phạm vi giới hạn chính xác về khoảng không vũ trụ Theo quan điểm cá nhân, người viết cho rằng việc xem xét và nhìn nhận khái niệm “khoảng không vũ trụ” cần đứng dưới nhiều góc độ khác nhau
Cho đến hiện tại, một định nghĩa chung nhất về khoảng không vũ trụ có thể
được chấp nhận đó là khoảng không gian và các thiên thể nằm phía ngoài của bầu
khí quyển Trái đất (môi trường hoạt động của các phương tiện bay hàng không), có quy chế pháp lý đặc trưng là tính chất phổ cập và bình đẳng quốc tế trong quá trình nghiên cứu, khai thác cũng như sử dụng cho các hoạt động của toàn nhân loại
Vấn đề xác định biên giới phía ngoài của khoảng không vũ trụ hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng, trình độ khoa học kỹ thuật của nhân loại Trong khi đó, biên giới phía trong của khoảng không vũ trụ được xem là ranh giới phân cách giữa một bên là vùng trời - khoảng không gian nơi các phương tiện bay hàng không hoạt động với phần còn lại Về vấn đề này, như đã đề cập ở trên, hiện vẫn đang còn rất nhiều tranh cãi
Hoạt động trong khoảng không vũ trụ, bên cạnh con người – chủ thể có vai
trò chủ động, tích cực và sáng tạo thì các phương tiện bay vũ trụ được xem như là
những “công cụ” trực tiếp phục vụ cho công tác nghiên cứu, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ Theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà
Nội, “phương tiện bay vũ trụ” được xác định là các thiết bị, máy móc có mục đích sử
dụng khác nhau và các bộ phận cấu thành nên chúng, do con người chế tạo ra, như các loại vệ tinh nhân tạo của trái đất, tàu vũ trụ (bao gồm tàu vũ trụ tự động hoặc
có người điều khiển) hay có thể bao gồm cả các trạm vũ trụ2 Để phân loại các phương tiện bay vũ trụ, hiện nay tồn tại rất nhiều tiêu chí Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể chia phương tiện bay vũ trụ ra làm hai loại, bao gồm phương tiện bay
vũ trụ sử dụng vào mục đích quân sự (ví dụ như các hệ thống vệ tinh mang đầu đạn hạt nhân, vệ tinh do thám hay các loại vũ khí hủy diệt trong vũ trụ.v.v ) và phương tiện bay vũ trụ sử dụng vào các mục đích dân sự (các vệ tinh nhân tạo như vệ tinh
2 Xem Giáo trình Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 233
Trang 19viễn thám có độ phân giải tối ưu phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu thiên văn, nghiên cứu bầu khí quyển, khi tượng, thời tiết.v.v ) Căn cứ vào độ cao của quỹ đạo hoạt động, phương tiện bay vũ trụ được phân chia thành phương tiện bay có quỹ đạo thấp, phương tiện bay có quỹ đạo trung bình và phương tiện bay có quỹ đạo xa3 Căn
cứ vào lĩnh vực hoạt động có thể phân loại phương tiện bay vũ trụ phục vụ trong nghiên cứu khoa học (nghiên cứu từ trường, vành đai phóng xạ gần Trái đất; nghiên
cứ bức xạ Rơn-ghen và tia tử ngoại của Mặt trời ); phương tiện bay phục vụ công tác thông tin liên lạc; công tác khí tượng; định vị toàn cầu, viễn thám.v.v Hay căn
cứ vào chủ thể điều khiển, có thể chia phương tiện bay vũ trụ ra thành phương tiện bay vũ trụ có người lái và phương tiện bay vũ trụ không người lái
Nhìn chung cộng đồng quốc tế về cơ bản đều có được cách nhìn nhận khá thống nhất về vấn đề này và nó được cụ thể hóa trong Công ước quốc tế đa phương năm 1972 về trách nhiệm pháp lý quốc tế do những thiệt hại gây ra bởi những vật thể vũ trụ trong đó có bao gồm các phương tiện bay vũ trụ; hay trong Công ước quốc tế đa phương năm 1974 về đăng ký vật thể bay vũ trụ cũng có đề cập đến vấn
đề này Trên cơ sở kết hợp quy định của hai công ước trên, người viết cho rằng
phương tiện bay vũ trụ được hiểu là những vật thể cùng với các bộ phận hợp thành của nó, có thể tự duy trì quỹ đạo bay trong không gian, được phóng vào quỹ đạo trái đất hoặc xa hơn trên cơ sở đăng ký các thông tin có liên quan với Liên Hợp Quốc4
Các phương tiện bay vũ trụ rất đa dạng và được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, cả trong quân sự và dân sự hay trong nghiên cứu ứng dụng khoa học Ở đây
chúng ta cần lưu ý đến đặc tính “tự duy trì được quỹ đạo bay” của các phương tiện
bay này Trên thực tế, có rất nhiều vật thể nhân tạo có thể bay nhưng phương tiện bay vũ trụ bắt buộc phải là vật thể có thể tự duy trì được khả năng bay cũng như quỹ
3
Quỹ đạo thấp (Low Earth Orbit) có quỹ đạo bay vào khoảng từ 300 – 1500 km, chu kỳ quay quanh trái đất
từ 90 phút cho đến 2h Quỹ đạo trung bình (Medium Earth Orbit) có quỹ đạo bay vào khoảng 5000 – 15000
km Quỹ đạo xa hay còn gọi là quỹ đạo địa tĩnh (Geostationary Earth Orbit) có độ cao cách Trái đất khoảng
35000 km, chuyển động với vận tốc bằng vận tốc góc của Trái đất nên có thể coi như đứng yên ở một vị trí nhất định
4 Xem Điều 1(c), Điều 2 Công ước Đăng ký năm 1974 và Điều 1 (d) Công ước Trách nhiệm năm 1972
Trang 20đạo bay của mình Ví dụ, một đầu đạn có thể bay khi được bắn ra từ một nòng súng nhưng nó chỉ bay theo quán tính chứ không có khả năng điều tiết và duy trì hoạt động bay của mình, chính vì vậy, nó không được liệt vào các loại phương tiện bay Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến một số vấn đề liên quan đến thủ tục, đó là mỗi phương tiện bay vũ trụ khi được đưa vào khoảng không vũ trụ phải được đăng ký Công ước năm 1974 về đăng ký các phương tiện bay vũ trụ đã đặt ra nghĩa vụ đăng
ký này cho các quốc gia hữu quan và Liên Hợp Quốc Việc đăng ký phương tiện bay
vũ trụ làm phát sinh những hệ quả pháp lý nhất định như phương tiện bay vũ trụ và phi hành đoàn, trong khi đang hoạt động trên vũ trụ phải chịu sự kiểm soát và tuân thủ quyền lực của quốc gia đăng ký phương tiện bay Quốc gia đăng ký phương tiện bay đảm bảo quyền của mình đối với phương tiện bay vũ trụ và phi hành đoàn vũ trụ, bao gồm cả quyền sở hữu đối với phương tiện này
Về cơ bản, Luật Vũ trụ quốc tế điều chỉnh các hoạt động có liên quan tới các phương tiện bay vũ trụ, kể từ thời điểm phóng hoặc lắp đặt chúng trong khoảng không vũ trụ, kể cả trên các hành tinh Trước thời điểm này, mọi hoạt động nghiên cứu, chế tạo và phóng phương tiện bay vũ trụ sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc gia nếu như không có thỏa thuận nào khác Ngoài ra, về vấn đề quy chế pháp lý của phương tiện bay vũ trụ còn được quy định trong các hiệp định thành lập
tổ chức quốc tế tiến hành các hoạt động vũ trụ và các hiệp định về thành lập trạm vũ trụ quốc tế ISS Các quy định này có tính chất bổ trợ quan trọng cho quy chế pháp lý của phương tiện bay vũ trụ bên cạnh các quy định được các quốc gia thống nhất ghi nhận trong các công ước đa phương của Luật Vũ trụ quốc tế
1.1.2 Hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình
Hiện nay, loài người có khả năng tìm kiếm các lời giải đáp cho hầu hết các câu hỏi về vấn đề sự sống tồn tại ngoài Trái đất Các siêu kính thiên văn đã tìm thấy các hành tinh xung quanh các ngôi sao hay việc khảo sát bề mặt bằng các loại robot cũng đã xác định được các tài nguyên tiềm tàng, các nhân tố thiết yếu cho sự sống như dấu vết của nước trên Mặt Trăng, trên Sao Hỏa hay trên các hành tinh của Sao Mộc Những trải nghiệm thực tế này của con người trong vũ trụ đã làm thay đổi cơ
Trang 21bản quan niệm và viễn cảnh của nhân loại về câu chuyện vị trí của loài người trong
vũ trụ Khoảng vài thập k gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ vũ trụ, hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình để phục vụ cho lợi ích của con người đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia và kinh tế toàn cầu
Thực sự, khi mặt đất và biển cả đã trở nên quá đỗi quen thuộc và tài nguyên thiên nhiên dần trở nên cạn kiệt thì việc con người vươn xa hơn trong việc tiến hành các hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ để khai thác khoảng không vũ trụ đã dần trở thành nhu cầu tất yếu mang tầm nhìn chiến lược và đem lại nhiều hứa hẹn về
cả tài nguyên vật chất cũng như phi vật chất cho con người Hoạt động khai thác và
sử dụng các phương tiện bay vũ trụ để thăm dò, nghiên cứu khoảng không vũ trụ hiện đang diễn ra ngày một sôi động và mạnh mẽ, trải rộng trên hầu khắp mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng với sự tham gia của không chỉ các chính phủ, các tổ chức quốc tế mà còn có sự tham gia của cả các pháp nhân
Những lợi ích, những giá trị kèm theo những bí ẩn bên ngoài không gian vũ trụ là điều không thể phủ nhận và vẫn luôn chờ đợi con người khám phá Các hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ để khai thác, thăm dò, nghiên cứu khoảng không vũ trụ đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận là quyền tự do, bình đẳng của mỗi quốc gia mà không hề có bất cứ sự phân biệt đối xử nào Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là quyền này là vô hạn định, là tuyệt đối mà cần phải hiểu, bất cứ quyền tự do nào cũng đều có giới hạn của nó Điều này muốn nói rằng, các hoạt động khai thác và sử dụng các phương tiện bay vũ trụ để thăm dò, nghiên cứu khoảng không vũ trụ luôn luôn phải được tiến hành trên cơ sở vì mục đích hòa bình,
vì an ninh và phát triển sự sống của loài người và đặc biệt là phải tuân thủ các quy tắc của pháp luật vũ trụ quốc tế đã được các chủ thể Luật quốc tế ghi nhận và thực hiện Các mục đích hòa bình ở đây có thể là mục đích dân sự, thương mại hay nghiên cứu khoa học ví dụ như, với công nghệ vũ trụ mới, con người có khả năng thực hiện các hoạt động xây dựng các trạm phát điện vệ tinh bằng năng lượng mặt trời phục vụ các mục đích dân dụng, sinh hoạt của con người; hay xây dựng các
Trang 22phòng thí nghiệm nghiên cứu trong khoảng không vũ trụ, điều này sẽ rất thuận tiện cho việc tiến hành khám phá, khai thác và thăm dò vũ trụ ngay tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển mỗi lần đem các mẫu đất hay các mẫu khoáng vật cần khảo sát
về trái đất; ngoài ra, với các mục đích khác, con người hoàn toàn có thể xây dựng các trạm, xưởng, các cơ sở sản xuất trong vũ trụ, trên các thiên thể để tiến hành các hoạt động thăm dò, nghiên cứu, khai thác bề mặt các hành tinh, đặc biệt là Mặt Trăng và một số hành tinh khác có dấu hiệu của sự sống5
Ngoài các hoạt động nhằm phục vụ mục đích dân dụng, dân sinh cho đời sống con người trên Trái đất, số lượng các vệ tinh nhân tạo trong vũ trụ còn phục vụ rất nhiều mục đích hòa bình khác nhau của con người Trong tương lai, số lượng các
vệ tinh nhân tạo này chắc chắn sẽ không ngừng tăng lên, ứng dụng của chúng cho các mục đích hòa bình sẽ ngày một đa dạng và mở rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống Bên cạnh đó, tham gia các hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ để khai thác, thăm dò và nghiên cứu khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình còn có sự góp mặt của một bộ phận không nhỏ là các thành phần kinh tế tư nhân Ngay từ đầu những năm 2000, đầu tư của các công ty tư nhân vào các chương trình vũ trụ đã lên tới trên 100 t USD và vẫn chưa có xu hướng dừng lại Tính trên quy mô toàn cầu,
có trên 1500 hãng cũng như các công ty có các hoạt động liên quan đến khai thác khoảng không vũ trụ Tổng số các đơn đặt hàng của ngành công nghiệp vũ trụ hàng năm tăng trên 20% Theo nhận định của các nhà chuyên gia cả về khoa học và pháp
lý, thế k XXI sẽ thực sự là “thế k của khoa học vũ trụ”; chính ngành khoa học này
5 Hiện nay, vấn đề khai thác Mặt Trăng được rất nhiều các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế quan tâm Tại Hội nghị lần thứ ba về nghiên cứu và khai thác Mặt Trăng được tổ chức tại Mátxcơva năm 1998, hai nhà
khoa học Mỹ đã trình bày một bản tham luận cực kỳ ấn tượng với tựa đề “Mặt Trăng – Vùng Vịnh trong thế
kỷ 21”, với hàm ý là các mỏ chứa chất Hely-3 trên Mặt Trăng sẽ là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng
cho loài người trên Trái đất giống như dầu mỏ của Vùng Vịnh Pécxích tại Trung Cận Đông hiện nay Hiện tại, chi phí để chuyên chở 1kg trọng lượng trên quãng đường từ Trái đất lên Mặt Trăng và từ Mặt Trăng trở lại Trái đất rơi vào khoảng từ 20 nghìn đến 40 nghìn USD Chi phí cho việc vận chuyển 1 tấn Hely 3 từ Mặt Trăng về Trái đất vào khoảng 100 triệu USD Tuy vậy, chi phí đó chỉ chiếm 1% giá năng lượng mà một tấn Hely-3 có thể tạo ra trên Trái đất Để thực hiện được dự định khai thác này, điều tối cần thiết là cần phát triển nhiều ngành công nghiệp khai thác trên Mặt Trăng Chi phí cho việc đầu tư này theo ước tính của các nhà khoa học sẽ vào khoảng 15 t USD, nhưng sau đó, lợi nhận thu được sẽ là vô cùng lớn
Trang 23với những công nghệ hoàn toàn mới có thể làm thay đổi căn bản quan niệm của con người về cuộc sống trên Trái đất và các hành tinh xung quanh hệ mặt trời6
Ngày nay, những hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ còn hướng tới các mục đích thương mại Ví dụ như dịch vụ viễn thông và dịch vụ thương mại điện tử gắn liền với sử dụng khoảng không vũ trụ Hoạt động viễn thông hiện nay được thực hiện chủ yếu nhờ vào việc ứng dụng các vệ tinh trong không gian Hệ thống những vệ tinh này làm nhiệm vụ trung chuyển sóng điện từ tần số cao, giúp truyền thông tin đi xa và nhanh hơn Trong những năm gần đây, hoạt động viễn thông nhờ vào các ứng dụng công nghệ vũ trụ đang ngày càng trở nên phổ biến
và chiếm ưu thế thay cho các hình thức viễn thông truyền thống ban đầu Có thể kể đến các lĩnh vực trong ngành viễn thông có sự trợ giúp nhiều nhất của hoạt động vệ tinh trong khoảng không vũ trụ như: điện thoại vệ tinh, Internet vệ tinh, truyền hình
số vệ tinh, radio vệ tinh Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không dây, các thiết bị tích hợp đa chức năng có khả năng kết nối Internet đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc tiến hành các giao dịch thương mại điện tử Có thể thấy rằng, các phương thức để thực hiện thương mại điện tử như điện thoại, truyền hình, fax, internet đều phát triển nhờ vào sự trợ giúp của công nghệ vũ trụ Thực sự, việc khai thác khoảng không vũ trụ đã gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của viễn thông và thương mại điện tử
Trong thế giới hiện đại, chúng ta rất dễ dàng nhận thấy sự hiện diện của hệ thống định vị toàn cầu GPS trong mọi mặt của đời sống kinh doanh Kết hợp giữa công nghệ thông tin, hệ thống bản đồ số và thiết vị định vị vệ tinh đã tạo ra một hệ thống dẫn đường lý tưởng Trong lĩnh vực hàng không, 100% các máy bay thương mại đều sử dụng hệ thống dẫn đường tự động nhờ GPS Trong giao thông, hệ thống giám sát dẫn đường và điều khiển giao thông cũng đã khai thác triệt để thế mạnh của GPS Các thương hiệu xe hơi nổi tiếng như Mercedes, BMW, Porsche, Audi, Roll Royce đều tích hợp trong những chiếc xe của mình hệ thống định vị này Như vậy, GPS là một ứng dụng của hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại rất có tiềm năng trong tương lai không xa
6 Detlev Wolter (2005), Common Security in outer space and international law, Unidir, Geneva
Trang 24Du lịch và khám phá vũ trụ luôn là khát vọng cháy bỏng của loài người từ trước đến nay Trước đây, nhiều người cho rằng, ý tưởng này là không tưởng, thậm chí là điên rồ; nhưng vào những năm gần đây, một số hoạt động có liên quan đến dịch vụ du lịch vũ trụ đã được xúc tiến bởi các doanh nghiệp nhạy bén trên thế giới như Galatic Suite, Space Adventures7, Orbital Technologies Sự xuất hiện của nhiều công ty du lịch vũ trụ cùng với các dự án với mức giá dịch vụ khác nhau hứa hẹn sẽ tạo ra sự cạnh tranh không kém phần quyết liệt giống như dịch vụ du lịch trên Trái Đất Các công ty sẽ không chỉ đơn thuần chở khách lên tham quan, khám phá khoảng không vũ trụ mà có thể thực hiện một loạt các dự án khác như xây khách sạn trong vũ trụ, chỗ nghỉ trên không gian, khám phá Mặt Trăng và các thiên thể8
Hiện nay, đây là một lĩnh vực còn khá mới m , rất giàu tiềm năng cũng như đem lại nguồn doanh thu lớn và vấn đề thương mại hóa dịch vụ này chắc chắn sẽ là một trong những mục tiêu quan trọng và thiết thực của các tổ chức kinh tế Ở thời điểm hiện tại, có thể coi du lịch vũ trụ là một trong những dạng thức hiện đại nhất của việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại trong thế k XXI
1.2 Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình
1.2.1 Định nghĩa trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình
Trong hơn nửa thế k qua, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của các ngành khoa học ứng dụng, ngành công nghệ vũ trụ đã có những bước phát triển thần kỳ, đem tới
7 Năm 2001, Công ty du lịch vũ trụ Space Adventures có trụ sở tại Virginia, Mỹ đã đưa du khách đầu tiên, Dennis Tito vào vũ trụ Doanh nhân người Mỹ đã trải qua 900 giờ huấn luyện và được cho là đã chi 21,4 triệu USD cho chuyến bay kéo dài 8 ngày trên quỹ đạo, du lịch tới trạm Vũ trụ quốc tế ISS trước khi trở về Trái Đất Tiếp đó, công ty này cũng chào giá 15 triệu USD cho một cuộc đi bộ ngoài không gian kéo dài 1,5 tiếng, tour du lịch đi vòng quan Mặt Trăng với giá 100 triệu USD Trong khi đó, một số công ty du lịch vũ trụ khác cũng có dự án để cạnh tranh khi muốn đưa một số lượng du khách lên độ cao từ 100 – 160 km với một chuyến bay ngắn với chi phí r hơn khoảng từ 183.000 USD; ở độ cao này, du khách có thể trải nghiệm trạng thái phi trọng lượng trong 6 phút và quan sát Trái đất từ vũ trụ
8 Theo tuyên bố của Công ty Orbital Technologies có trụ sở tại Moskva, Nga, khách sạn vũ trụ của họ mang tên “Trạm vũ trụ thương mại” CSS sẽ cung cấp các dịch vụ khách sạn có một không hai cho du khách ở độ cao hàng trăm cây số so với mặt đất Ngoài ra, trong các tình huống đặc biệt, khách sạn cũng có thể cung cấp nơi ăn chỗ ở cho các phi hành gia thuộc Trạm Vũ trụ quốc tế ISS, cũng như biến thành địa điểm nghiên cứu khoa học vũ trụ cho các doanh nghiệp có nhu cầu
Trang 25nhiều tác động tích cực đến đời sống cho con người Ngày nay, khó có thể hình dung thế giới của chúng ta sẽ ra sao nếu hàng ngàn thiết bị nhân tạo không hoạt động hay đơn thuần chỉ ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ cung cấp các dữ liệu cần thiết để dự báo thiên tai, thời tiết, định vị toàn cầu, hệ thống chỉ dẫn, điều hướng cho tàu biển, máy bay Nói như vậy để ta có thể thấy được ý nghĩa quan trọng của ngành công nghệ vũ trụ, đặc biệt là trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, khi mà quan hệ giữa các quốc gia ngày càng trở nên gắn bó và mật thiết hơn bao giờ hết Bên cạnh việc đem lại nhiều tiện ích cho con người, hoạt động sử dụng các phương tiện bay vũ trụ để khai thác, nghiên cứu khoảng không vũ trụ cũng đang đưa đến cho nhân loại nhiều vấn đề phức tạp và thách thức nghiêm trọng như vấn đề rác thải vũ trụ ngày một gia tăng, vấn đề va chạm hay tai nạn do những vật thể phóng vào vũ trụ gây ra và đặc biệt là những vấn đề liên quan đến trách nhiệm do sử dụng các nguồn năng lượng nguy hiểm cao độ mà tiêu biểu là năng lượng hạt nhân gây ô nhiễm trên
vũ trụ, tác động bất lợi đối với bầu khí quyển trái đất, rồi hàng loạt những nguy cơ khác có thể gây nguy hại mà con người không thể lường trước hết được Những vấn đề này, nếu không được quan tâm và giải quyết một cách thỏa đáng, có thể thách thức tới hòa bình và an ninh quốc tế thậm chí đe dọa tới sự sống còn của chính con người trên địa cầu
Như đã đề cập, hoạt động khai thác và sử dụng các phương tiện bay vũ trụ để tiến hành thăm dò, nghiên cứu khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình là lĩnh vực hoạt động thực sự cần thiết và là một lĩnh vực hoạt động đặc thù với nền tảng công nghệ tối tân hiện đại, nếu như không muốn nói là hiện đại nhất của loài người hiện nay9 Chính vì liên quan đến những công nghệ tiên tiến và đỉnh cao nhất, lại đang trong giai đoạn phát triển ban đầu nên ngay bản thân các hoạt động này luôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro ở mức độ cao Điều này đã được thực tiễn hoạt động vũ trụ nhân loại chứng minh qua nhiều vụ thảm họa, đặc biệt là của hai cường quốc đi đầu
9 NASA ước tính chi phí trung bình mỗi một lần thực hiện nhiệm vụ đưa phi thuyền vào vũ trụ là 450 triệu USD Chuyên trang về vũ trụ Space.com lại đưa ra con số khác là 1,6 tỉ USD Mỗi lần nhiệm vụ bị hoãn sẽ khiến người dân Mỹ mất 1,3 triệu USD mỗi ngày
Trang 26trong lĩnh vực này là Liên Xô (cũ) và Hoa Kỳ Những thiệt hại, những rủi ro có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, trong quá trình phương tiện bay rời khỏi trái đất đi vào vũ trụ, trong thời gian ở ngoài khoảng không vũ trụ và cuối cùng là khoảng khắc tưởng chừng như sắp đặt chân lên trái đất thì rủi ro vẫn có thể xảy ra10
Những hoạt động công nghệ vũ trụ với đặc thù có tính phức tạp cao luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại mặc dù những rủi ro này có thể được giảm đến mức tối thiểu nhưng không thể bị loại bỏ hoàn toàn Những thiệt hại này xảy ra vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do các chủ thể đã thực hiện những hành vi mà Luật quốc tế cấm gây thiệt hại hoặc đôi khi xuất hiện nhiều hoàn cảnh đặc biệt, vượt khỏi phạm vi kiểm soát của con người, gây ra những thiệt hại vật chất cho các chủ thể khác, bất chấp việc các chủ thể đã thực hiện các biện pháp bảo đảm trong quá trình
sử dụng (trường hợp này xuất hiện phổ biến hơn trong đời sống quốc tế) Trong nhiều trường hợp, phạm vi và mức độ của thiệt hại là rất to lớn và vô cùng nghiêm trọng Điều này đã đặt ra nhiệm vụ cho cộng đồng quốc tế trong việc cần thiết phải xây dựng khung pháp lý điều chỉnh, nhằm khắc phục hậu quả mà những thiệt hại này gây ra Đó chính là lý do cho sự ra đời và tồn tại của chế định trách nhiệm pháp
lý quốc tế của quốc gia, đặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong việc khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nhưng gây thiệt hại cho chủ thể khác
Việc đặt ra vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong lĩnh vực này sẽ đặt các chủ thể vào trạng thái luôn cẩn trọng trong mọi giai đoạn, mọi tình huống, từ khi chuẩn bị phóng cho tới khi tiến hành những hoạt động khai thác bởi lẽ rủi ro là điều luôn luôn tiềm ẩn và có thể phát sinh bất cứ lúc nào Ngoài ra, việc đặt
ra trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo tồn, giữ
10 Tàu con thoi Columbia (số hiệu của NASA: OV-102) là tàu đầu tiên trong phi đội tàu con thoi của NASA
có khả năng bay lên vũ trụ Vào ngày 1/2/2003 Sau 16 ngày đi quanh quỹ đạo trái đất, tàu thoi Columbia lên đường trở về nhà và vỡ tan khi trở lại bầu khí quyển trái đất vào ngày 1 tháng 2 năm 2003 Toàn bộ 7 phi hành gia thiệt mạng, những mảnh vỡ của con tàu có tuổi đời lớn nhất của NASA trải khắp Texas Thiệt hại năm 2003 ước tính khoảng 13 tỉ USD, thiệt hại tính ở thời điểm hiện tại là xấp xỉ 16,5 tỉ USD
Trang 27gìn môi trường vũ trụ và bầu khí quyển của trái đất – một vấn đề đang được cộng đồng quốc tế ngày một quan tâm và chú trọng nhằm hướng tới sự phát triển lâu dài, bền vững
Như vậy, để có một cái nhìn đa chiều về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình, ta cần xem xét và nhìn nhận dưới nhiều góc độ
Dưới góc độ là một hiện tượng của đời sống quốc tế, trách nhiệm pháp lý
quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình được hiểu là những hậu quả bất lợi mà quốc gia phải gánh chịu, phát sinh từ hành vi vi phạm Luật Vũ trụ quốc tế hoặc do thực hiện các hành vi mà Luật Vũ trụ quốc tế không cấm nhưng gây thiệt hại cho các chủ thể khác hoặc cho cộng đồng quốc tế khi tiến hành các hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay
vũ trụ vào mục đích hòa bình11
Dưới góc độ là một chế định độc lập của Luật Vũ trụ quốc tế, trách nhiệm
pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm của Luật Vũ trụ quốc tế điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể (mà chủ yếu là các quốc gia) trong trường hợp có hành vi vi phạm Luật Vũ trụ quốc tế hoặc thực hiện những hành
vi mà Luật Vũ trụ quốc tế không cấm, gây thiệt hại cho chủ thể khác trong quá trình tiến hành các hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình
11
Về vấn đề hậu quả bất lợi, hiện nay giới nghiên cứu khoa học Luật Quốc tế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu, hậu quả bất lợi chính là việc phải bồi thường những thiệt hại do hành vi của mình gây ra đối với chủ thể khác, phải gánh chịu hoặc thực hiện những hành vi theo yêu cầu của bên bị hại (ví dụ như yêu cầu xin lỗi công khai, yêu cầu khôi phục nguyên trạng hay yêu cầu thông báo ) hay thậm chí có thể phải gánh chịu sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế.v.v
Trang 28Bên cạnh năm điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất trong lĩnh vực sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình12, Luật Vũ trụ quốc tế quy định về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình còn được thể hiện trong Bộ nguyên tắc pháp lý điều chỉnh một số lĩnh vực hoạt động vũ trụ, các tập quán quốc tế và trong hàng loạt điều ước song phương và khu vực được ký kết giữa các quốc gia với nhau Tuy vậy, vẫn cần khẳng định lại một lần nữa rằng, những điều ước quốc tế đa phương và Bộ nguyên tắc pháp lý về vũ trụ do Liên Hợp Quốc soạn thảo và thông qua là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong việc điều chỉnh lĩnh vực này
Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế
của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình là quan hệ phát sinh giữa một bên là quốc gia có hành vi gây thiệt hại khi tiến hành các hoạt động này với một bên là chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại do những hành vi đó gây ra
Nội dung cơ bản của quan hệ này chính là quyền và nghĩa vụ của các bên Chủ thể bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, khôi phục lại trạng thái ban đầu hoặc đưa ra những đòi hỏi về mặt chính trị Trong khi đó, quốc gia có hành vi gây thiệt hại khi tiến hành các hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay
vũ trụ có nghĩa vụ phải loại bỏ những thiệt hại mà phương tiện bay của mình đã gây
- Công ước năm 1972 về trách nhiệm quốc tế đối với những tổn hại do các vật thể phóng vào vũ trụ gây ra;
- Công ước năm 1974 về đăng ký vật thể phóng vào vũ trụ;
- Hiệp định năm 1979 điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác
Trang 291.2.2 Đặc điểm trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình
Qua việc phân tích và xây dựng định nghĩa về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình, có thể nhận thấy loại hình trách nhiệm pháp lý quốc tế này trong Luật Vũ trụ quốc tế có những nét đặc thù và sự khác biệt nhất định so với trách nhiệm pháp
lý quốc tế của quốc gia trong một số ngành luật khác của hệ thống pháp luật quốc tế
Thứ nhất, về chủ thể, quốc gia là chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc
tế đối với hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong quá trình khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ
Trong quá trình này, ngoài quốc gia, một số chủ thể khác của Luật Quốc tế như các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ cũng tiến hành tham gia vào các hoạt động khai thác và đều có khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, lĩnh vực sử dụng phương tiện bay vào khai thác khoảng không
vũ trụ là một lĩnh vực đặc thù với công nghệ kỹ thuật rất hiện đại cũng như để tiến hành hoạt động này, các chủ thể sẽ phải trải qua các quy trình cấp phép, kiểm tra, giám sát rất gắt gao và chặt chẽ Chính vì lý do đó, có thể khẳng định, quốc gia là chủ thể cơ bản và chủ yếu của trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này Trong một số trường hợp, những hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay được tiến hành bên ngoài khoảng không vũ trụ bởi một tổ chức quốc tế thì cả tổ chức quốc tế
đó và đặc biệt là tất cả các quốc gia thành viên của tổ chức sẽ đều phải có trách nhiệm đối với các hoạt động này trên cơ sở việc tuân thủ các quy định của Luật Vũ trụ quốc tế
Trong những quy định hiện hành của Luật Quốc tế về trách nhiệm pháp lý quốc tế trong các lĩnh vực khác, quốc gia không phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi của pháp nhân không đại diện cho quốc gia hoặc không có sự ủy quyền của nhà nước Tuy nhiên, đối với ngành Luật Vũ trụ quốc tế, quốc gia sẽ là chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các hành vi gây thiệt hại không chỉ của chính cơ quan nhà nước đại diện cho quốc gia mà còn đối với cả các
Trang 30hành vi của các pháp nhân, các thực thể phi nhà nước Trên thực tế, hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay vũ trụ hoàn toàn có thể được tiến hành bởi các pháp nhân, có thể là các pháp nhân đại diện hoặc không đại diện cho quốc gia; nhưng pháp nhân sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế theo Luật Vũ trụ quốc tế, có chăng, pháp nhân sẽ chỉ phải gánh chịu những hậu quả nhất định được quy định trong pháp luật quốc gia Nếu các hoạt động của pháp nhân gây thiệt hại cho chủ thể khác của Luật Quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế sẽ được đặt ra đối với quốc gia đang quản lý hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ của pháp nhân đó Đây được coi là một trong những điểm đặc thù của trách nhiệm pháp
lý quốc tế của quốc gia trong lĩnh vực này
Thứ hai, về nội dung, trong quá trình tiến hành các hoạt động khai thác và sử
dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia được thể hiện chủ yếu thông qua việc bồi thường vật chất những thiệt hại phát sinh trên thực tế Như đã đề cập, trong Luật Vũ trụ quốc tế, quốc gia là chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các hành vi gây thiệt hại không chỉ của chính cơ quan nhà nước đại diện cho quốc gia mà còn đối với cả các hành vi của các thực thể phi nhà nước Đối với những thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra trên bề mặt trái đất hoặc cho các phương tiện bay hàng không đang bay, quốc gia sẽ phải gánh chịu trách nhiệm tuyệt đối trong việc bồi thường thiệt hại Tổng mức bồi thường thiệt hại được xác định phù hợp với Luật Quốc tế và các nguyên tắc công bằng, đảm bảo phục hồi lại nguyên trạng như ban đầu trước khi thiệt hại phát sinh Dưới góc độ của Luật Vũ trụ quốc tế, đặc biệt là chế định trách nhiệm pháp lý quốc
tế của quốc gia trong lĩnh vực này, có thể thấy, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia được phân định thành hai loại, thứ nhất, đó là trách nhiệm chính trị của quốc gia đối với các hành vi vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Luật Vũ trụ quốc tế; và thứ hai, là trách nhiệm vật chất đối với các thiệt hại phát sinh từ hoạt động khai thác,
sử dụng các phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình cho các quốc gia, pháp nhân hay thể nhân khác
Trang 31Về trách nhiệm chính trị, trong thời điểm hiện tại và tương lai, chắc chắn vấn
đề trách nhiệm chính trị của quốc gia trong hoạt động vũ trụ vẫn sẽ tiếp tục có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, sử dụng phương tiện bay vào công tác nghiên cứu, thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ có mối quan hệ mật thiết với hòa bình và an ninh quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Bất kỳ một hành vi nguy hiểm nào (dù là vô ý) được thực hiện trong hoạt động vũ trụ đều có thể gây ra những hậu quả khôn lường cho nền hòa bình và ổn định của cộng đồng quốc tế Đơn cử như việc các quốc gia có tiềm lực vũ trụ tiến hành các vụ thử vũ khí hạt nhân hay thiết lập hệ thống tấn công bằng tên lửa chiến lược từ vũ trụ, hoặc phát đi những chương trình truyền thông có tính chất thù địch nhằm vào các quốc gia khác Các hành vi như vậy, xét từ góc độ khoa học pháp lý quốc tế, đã vi phạm các nguyên tắc, các quy phạm của Luật Vũ trụ quốc tế và làm phát sinh trách nhiệm chính trị của quốc gia Ngoài ra, quốc gia cũng có thể phải gánh chịu thêm các biện pháp chế tài thích hợp khác theo quy định hiện hành của Luật Vũ trụ quốc
tế nhằm đảm bảo họ không có hành vi tái phạm trong tương lai Trong trường hợp này không phát sinh thiệt hại vật chất, vì vậy, không xuất hiện vấn đề truy cứu trách nhiệm vật chất của quốc gia vi phạm
Bên cạnh vấn đề trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm Luật Vũ trụ quốc tế, còn tồn tại vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia đối với hành vi
sử dụng phương tiện bay vũ trụ, được Luật Vũ trụ quốc tế cho phép thực hiện (không cấm) nhưng các hành vi này có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác của Luật Quốc tế Bản chất vấn đề ở đây chính là, những hoạt động này chứa đựng mức
độ rủi ro cao và gây ra những thiệt hại lớn, thông thường là thiệt hại xuyên biên giới Đặc biệt là trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện nay cũng như hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ là lĩnh vực luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn nguy hiểm cao độ (tiêu biểu là vấn đề năng lượng hạt nhân là nguồn năng lượng chủ yếu để sử dụng cho tên lửa đẩy phương tiện bay vũ trụ) Việc triển khai các hoạt động này, do tính chất đặc thù về kỹ thuật và chức năng, đồng thời, trong những trường hợp bất khả kháng, không thể lường trước được và có thể
Trang 32vượt ra ngoài tầm kiểm soát bất chấp những biện pháp bảo đảm đã thực hiện, có thể gây ra những thiệt hại rất nghiêm trọng cho các chủ thể khác của Luật Quốc tế Trong những trường hợp như thế, quốc gia tiến hành các hoạt động này phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh, cho dù hoạt động của họ không phải là hoạt động vi phạm Luật Vũ trụ quốc tế
Thứ ba, về căn cứ xác định, trách nhiệm pháp lý quốc tế sẽ chỉ được đặt ra
khi có thiệt hại trong thực tế xảy ra và chủ yếu hướng tới việc bồi thường cho các chủ thể bị thiệt hại cũng như nhằm khôi phục lại tình hình, khôi phục lại khoảng không gian bị ảnh hưởng do thực hiện các hành vi khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ để nghiên cứu, thăm dò khoảng không vũ trụ Đặc biệt là trong quá trình khai thác và sử dụng các phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình, quốc gia phóng phương tiện bay vũ trụ sẽ phải chịu trách nhiệm mà hoàn toàn không phụ thuộc vào lỗi đối với thiệt hại do hành vi khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ của mình gây ra Ngoài ra, thiệt hại cũng có thể đến từ những sự cố bất khả kháng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các quốc gia Khi đó, quốc gia có phương tiện bay
vũ trụ gây thiệt hại không có lựa chọn nào khác là nỗ lực hạn chế tác hại mà nó gây
ra Mặc dù trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ được xác định là tuyệt đối đối với những thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra, tuy nhiên khi quốc gia phóng phương tiện bay vũ trụ chứng minh được rằng, thiệt hại phát sinh hoàn toàn hoặc từng phần do hành vi vô ý nghiêm trọng, hay bằng hành động hoặc không hành động được thực hiện với ý định gây thiệt hại của quốc gia bị thiệt hại thì trong trường hợp này, quốc gia có phương tiện bay vũ trụ gây thiệt hại sẽ được miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế
Thứ tư, về sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm, đây được công nhận là
cơ sở thực tiễn của trách nhiệm để các bên hữu quan áp dụng các quy phạm pháp lý quốc tế trong các điều ước quốc tế về trách nhiệm phát sinh từ những sự biến này Theo đó, nguyên nhân gây ra sự biến (biến cố) phải là những tình huống khách quan, không thể chế ngự được, các chủ thể trong hoàn cảnh này không biết và không thể lường trước được sự cố phát sinh ; nói tóm lại, đây là những trường hợp bất khả
Trang 33kháng, chúng không có mối liên hệ nào với các phương tiện bay cũng như các hoạt động sử dụng của quốc gia đối với các phương tiện này; chúng xảy ra một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, không thể ngăn ngừa và dự đoán trước được cho dù có sử dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại để phòng ngừa
Ngoài ra, một số trường hợp khác cũng có thể được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm ví dụ như các tình huống phát sinh mà các quốc gia không có khả năng kiểm soát quá trình vận hành của các phương tiện bay vũ trụ mà họ đang
sử dụng do xuất hiện những biến đổi không mong muốn, có tính bất ngờ và trục trặc; kết quả là phát sinh thiệt hại không phụ thuộc vào ý chí của quốc gia hữu quan cho
dù đã nỗ lực hết sức khắc phục khi sự cố xảy ra Tuy nhiên, cần khẳng định thêm rằng, những sự biến đang đề cập chỉ có thể được công nhận là cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia nếu tồn tại các điều ước quốc tế cụ thể quy định trực tiếp và rõ ràng về vấn đề này Nếu như không có những quy định như vậy, vấn
đề trách nhiệm pháp lý của quốc gia sẽ không được đặt ra
1.3 Cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình
1.3.1 Cơ sở pháp lý
Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay vũ trụ chủ yếu hướng tới mục đích bồi thường về mặt vật chất, được đặt ra đối với những thiệt hại gây ra bởi các phương tiện bay vũ trụ Do
đó, cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm pháp lý chính là những quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh trong lĩnh vực này Hay nói một cách khác, đó là các thoả thuận quốc tế về việc xác định trách nhiệm trong từng trường hợp cụ thể
Có thể dẫn ra một số điều ước quốc tế cụ thể quy định về loại trách nhiệm trong lĩnh vực này, tiêu biểu là Công ước năm 1972 về trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra Đây là công ước duy nhất quy định trực tiếp trách nhiệm của quốc gia đối với việc bồi thường thiệt hại gây ra bởi các hoạt động nguy hiểm khi tiến hành khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ vào
Trang 34mục đích hòa bình13 Ngoài Công ước năm 1972 về trách nhiệm, vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong lĩnh vực này còn được đề cập tới trong một số văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác; ví dụ như, Hiệp ước vũ trụ năm 196714
, Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1979,.v.v
Để quy trách nhiệm pháp lý quốc tế, trong từng trường hợp cụ thể, nhất thiết phải xác định được cơ sở pháp lý, tức là phải có các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh trong lĩnh vực khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ Dựa vào quy phạm pháp luật quốc tế hoặc có thể xác định tính trái pháp luật của hành vi do quốc gia thực hiện trong quá trình khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ; hoặc xác định điều kiện, hoàn cảnh phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù hành vi mà quốc gia thực hiện trong nhiều trường hợp Luật quốc tế không cấm Trong trường hợp không có các điều ước quốc tế điều chỉnh, các quốc gia sẽ không
có nghĩa vụ phải bồi thường cho dù có thiệt hại xảy ra
Trên thực tế hoàn toàn có khả năng xảy ra trường hợp có thiệt hại phát sinh
do tiến hành các hoạt động sử dụng phương tiện bay vũ trụ của quốc gia nhưng vấn
đề chịu trách nhiệm đôi khi lại chưa được tính đến trong bất kì một văn bản điều ước quốc tế nào Thêm vào đó, hệ thống các điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không
vũ trụ mới chỉ dừng lại ở con số năm (05) Điều này có nghĩa rằng, chắc chắn sẽ không thể quy định được hết nghĩa vụ chịu trách nhiệm của quốc gia trong một lĩnh vực vốn được coi là mới phát triển và đang phát sinh rất nhiều vấn đề đáng quan ngại trên thực tế Khi đó, cần khẳng định lại rằng, vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc
tế sẽ vẫn không được đặt ra Các bên liên quan sẽ phải tìm đến một cơ chế khác để
13
Điều 2 của Công ước quy định: “Nước phóng phương tiện bay vũ trụ sẽ có trách nhiệm chi trả bồi thường
cho thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ đó gây ra trên bề mặt của trái đất hoặc cho phương tiện bay hàng không trong thời gian bay”
14 Hiệp ước về các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, trong đó có Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967 (sau đây sẽ gọi tắt là Hiệp ước vũ trụ năm 1967)
Trang 35giải quyết (như thương lượng, bàn bạc, trao đổi trực tiếp để khắc phục hậu quả, hạn chế thiệt hại đã xảy ra)
1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của trách nhiệm pháp lý quốc tế trong hoạt động khai thác,
sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình được hiểu là sự xuất hiện
của những sự kiện gây thiệt hại trên thực tế từ các phương tiện bay vũ trụ mà dẫn
đến việc phải áp dụng các quy phạm pháp luật quốc tế đã nêu ở trên Sự kiện này có thể bắt nguồn từ hành vi trái pháp luật của quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ, hoặc cũng có thể bắt nguồn từ sự mất kiểm soát đối với quá trình vận hành các phương tiện bay, đặc biệt là khi chúng đang ở trong môi trường vũ trụ không trọng lực, hoặc cũng có thể xảy ra do những yếu tố bất ngờ mà các chủ thể không thể lường trước được, bất chấp những biện pháp đảm bảo mà họ
đã thực hiện.v.v
Ngoài ra, một trong các yếu tố đặc biệt quan trọng cần phải tính đến khi xác
định loại trách nhiệm này, đó là phải có thiệt hại thực tế xảy ra Nói rằng “đặc biệt
quan trọng” là bởi vì, với đặc thù của loại trách nhiệm này là hướng đến những hoạt
động khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ; cùng với “sự xem nhẹ” yếu tố
“lỗi” thì có thể thấy yếu tố “thiệt hại” trở nên thực sự quan trọng Ở một góc độ nào
đó, điều kiện có thiệt hại thực tế xảy ra sẽ góp phần hạn chế tối đa được những yêu cầu đòi bồi thường không có căn cứ Với vai trò đặc biệt như vậy trong quá trình xác định cơ sở của trách nhiệm pháp lý, “thiệt hại” là thuật ngữ quan trọng và được
đề cập đến trong rất nhiều trong các điều ước quốc tế, ví dụ như, Hiệp ước vũ trụ năm 1967 hay Công ước về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra năm 1972
Trong Công ước về trách nhiệm pháp lý quốc tế năm 1972, khái niệm “thiệt hại” (damage) đã được xác định rõ ngay tại Điều I của Công ước: “Thiệt hại” được hiểu là các trường hợp tử vong, thương tật về thân thể hoặc những thương tích khác
về sức khỏe; hoặc cũng có thể là sự tổn hại, mất mát tài sản của quốc gia, tài sản của
Trang 36các thể nhân, pháp nhân của quốc gia; thiệt hại cũng được xác định mở rộng ra tới
cả những tài sản của các tổ chức quốc tế liên chính phủ15
Điều kiện cần thiết làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong trường hợp có các sự cố do phương tiện bay vũ trụ gây ra, ít nhất phải là những thiệt hại vật chất xảy ra trên thực tế và thuộc một trong các loại hình thiệt hại nêu trên
Cũng giống như việc xác định trách nhiệm pháp lý trong hệ thống pháp luật quốc gia, trách nhiệm pháp lý quốc tế trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình cũng cần dựa trên cơ sở là mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện pháp lý và thiệt hại vật chất phát sinh Mối quan hệ nhân quả ở đây cũng được coi là một trong những yếu tố cần xét tới khi xác định trách nhiệm pháp
lý quốc tế của quốc gia trong lĩnh vực này Về cơ bản, có thể hiểu đó chính là mối quan hệ của sự vận động nội tại giữa sự kiện và thiệt hại thực tế phát sinh mà về nguyên tắc, sự kiện phải xảy ra trước và là nguyên nhân của thiệt hại Chính những
sự kiện phát sinh từ quá trình khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những thiệt hại vật chất cụ thể xảy ra trên thực tế Việc đặt ra căn cứ này góp phần đảm bảo tính quy luật, tính tất yếu, tránh được sự suy diễn chủ quan trong quá trình xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế nói chung cũng như trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác và sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình nói riêng
1.4 Hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vì mục đích hòa bình
Như vậy, sau khi đã xác định được trách nhiệm pháp lý quốc tế của chủ thể thì vấn đề đặt ra ở đây đó chính là việc thực hiện trách nhiệm này sẽ được tiến hành bằng những hình thức nào Liệu rằng, việc thực hiện trách nhiệm pháp lý quốc tế của
15 Nguyên văn “The term "damage" means loss of life, personal injury or other impairment of health; or loss
of or damage to property of States or of persons, natural or juridical, or property of international intergovernmental organizations”
Trang 37quốc gia trong lĩnh vực khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình có điểm gì khác, so với trách nhiệm pháp lý quốc tế trong các lĩnh vực khác?
Chúng ta đều biết rằng, trong những vấn đề liên quan đến phương tiện bay vũ trụ thì trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia được xác định bằng những điều ước quốc tế chuyên biệt Ngoài Công ước năm 1972 về trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phương tiện vũ trụ bay gây ra, vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong lĩnh vực này còn được đề cập tới trong một số văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác như, Hiệp ước vũ trụ năm 1967, Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1979.v.v Theo đó, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia từ hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay
vũ trụ, có thể áp dụng hình thức đền bù bằng tiền hoặc hiện vật và một số hình thức thực hiện trách nhiệm khác như hình thức khôi phục lại nguyên trạng, bồi thường thiệt hại bằng việc chuyển giao cho chủ thể bị hại những đối tượng tương ứng về ý nghĩa và giá trị, thay thế đối tượng bị mất đi.v.v
Về bản chất, loại hình trách nhiệm trong lĩnh vực này được đặt ra chủ yếu với mục đích nhằm bồi thường thiệt hại cho những chủ thể phải gánh chịu những hậu quả do việc khai thác, sử dụng, vận hành các phương tiện bay vũ trụ gây ra Vì thế, trong những hình thức nêu trên, đền bù bằng tiền hoặc hiện vật là cách thức chủ yếu
để thực hiện trách nhiệm Ngoài ra, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà quốc gia có thể thoả thuận áp dụng các hình thức thực hiện trách nhiệm khác
1.4.1 Bồi thường thiệt hại hoặc khôi phục nguyên trạng
Như đã đề cập, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ chủ yếu là loại trách nhiệm vật chất Do vậy, tương ứng với loại trách nhiệm này sẽ là những hình thức thực hiện trách nhiệm đặc thù Khôi phục lại nguyên trạng được xem là hình thức khắc phục hoàn hảo nhất nhưng cũng là hình thức khó thực hiện nhất và không phải là trong trường hợp nào cũng có thể khôi phục lại được nên nó chỉ có thể áp dụng trong một số trường hợp nhất định Chính vì vậy, hình thức đền bù bằng tiền hoặc hiện vật vẫn là hình thức chủ yếu để thực hiện loại trách nhiệm này
Trang 38Khi thực hiện việc bồi thường các thiệt hại do hoạt động khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ, các quốc gia phải đảm bảo rằng, các nạn nhân của thiệt hại phải nhận được sự đền bù một cách đầy đủ và kịp thời Thực sự, đầy đủ và kịp thời đã trở thành các tiêu chí quan trọng của việc bồi thường thiệt hại trong cả hai hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế thì đây cũng là các yếu tố gây ra nhiều tranh cãi nhất cũng như bị vi phạm nhiều nhất trong quá trình các quốc gia tiến hành việc bồi thường Đặc biệt là đối với những thiệt hại trong lĩnh vực khai thác phương tiện bay vũ trụ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường ngoài không gian và thậm chí có thể ảnh hưởng tới cả bầu khí quyển của trái đất hay đôi khi, những mảnh vỡ kim loại từ các phương tiện bay vũ trụ rơi xuống lãnh thổ của các quốc gia, yêu cầu bồi thường kịp thời và đầy đủ còn gặp khá nhiều khó khăn, thậm chí nhiều trường hợp mức bồi thường còn không tương xứng với thiệt hại xảy ra
Cũng tương tự như pháp luật trong nước, việc bồi thường cũng có thể được thể hiện bằng tiền hoặc hiện vật Trên thực tế, vấn đề bồi thường giữa các quốc gia thường được chi trả dưới hình thức là một khoản tiền thanh toán một lần cho quốc gia bị thiệt hại hoặc bồi thường trực tiếp cho những nạn nhân, những người đòi bồi thường riêng l Một ví dụ về việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong trách nhiệm pháp lý khách quan thông qua hình thức bồi thường bằng tiền, đó là: Năm 1977, Liên Xô phóng vệ tinh do thám Cosmos 954 lên quỹ đạo ngoài trái đất để tiến hành theo dõi hoạt động của tàu thuyền, đặc biệt là các tàu của Hải quân Mỹ tại Đại Tây Dương Để duy trì hoạt động cho vệ tinh này, các nhà khoa học của Liên Xô đã lắp cho vệ tinh một lò phản ứng hạt nhân để cung cấp nhiên liệu Lò phản ứng hạt nhân này ước tính có thể cung cấp nhiên liệu cho vệ tinh Cosmos hoạt động trong vòng 73 năm Tuy nhiên, chỉ đến năm 1978, vệ tinh này đã rơi xuống vùng lãnh thổ phía bắc của Canada và vỡ tan Phóng xạ từ lò phản ứng cung cấp nhiên liệu cho vệ tinh Cosmos đã lan trên diện rộng, nhưng chủ yếu tại vùng rừng lạnh giá không có người sinh sống Tuy vậy, Canada vẫn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến phóng xạ theo các quy định trong Công ước năm 1972 về trách nhiệm quốc tế đối
Trang 39với thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra Phía Canada đã lập luận rằng, họ đã phải bỏ ra những chi phí cho việc khắc phục hậu quả và ngăn ngừa những mối nguy hiểm tiềm tàng trong vụ việc này Năm 1981, Liên Xô đã đề xuất mức bồi thường là
3 triệu đô la và Canada cũng đã đồng ý với khoản bồi thường này Qua ví dụ thực tế này, ta có thể thấy được rằng, mức bồi thường cũng như đơn vị tiền tệ dùng để thanh toán hoàn toàn do các bên thỏa thuận trên cơ sở các nguyên tắc và quy phạm của Luật Quốc tế
1.4.2 Thực hiện các biện pháp ứng phó
Ngoài việc thực hiện bồi thường thiệt hại như đã đề cập đến ở trên, các quốc gia sẽ còn phải tiến hành thực hiện các biện pháp ứng phó cụ thể khác đặc biệt là khi nhận được thông tin về phương tiện bay vũ trụ bị rơi trên mặt đất và sự cố này là rất nguy hiểm, quốc gia phóng phương tiện bay vũ trụ có nghĩa vụ không chậm trễ áp dụng các biện pháp ứng phó nhằm ngăn chặn khả năng nguy hiểm có thể gây ra thiệt hại; ngoài ra, phải thông báo ngay cho tất cả các quốc gia bị ảnh hưởng hoặc có thể chịu ảnh hưởng; tiến hành ngay lập tức các biện pháp khẩn cấp, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của thiệt hại; tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tìm kiếm sự hợp tác quốc tế trong việc triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả.v.v Các biện pháp ứng phó này không đơn thuần chỉ bao gồm các công việc mang tính chất “thu dọn” hay “phục hồi” mà nó còn bao hàm nhiều hoạt động mang tính hỗ trợ khác như thu thập đầy đủ các thông tin về sự cố, thống kê những thiệt hại, những tác động cụ thể của nó đối với người, tài sản và môi trường xung quanh; thông qua đó, đánh giá một cách sơ bộ về mức độ cũng như phạm vi thiệt hại xảy ra
Đây cũng có thể được coi như là một trong những điểm đặc thù của chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia mà cụ thể là trong lĩnh vực khai thác, sử dụng các phương tiện bay vũ trụ vào mục đích hòa bình Trong khi, các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật quốc tế, nghĩa vụ này sẽ do quốc gia nơi xảy ra tai nạn đảm nhiệm
Trang 401.4.3 Thực hiện các hiện pháp bảo đảm tài chính
Ngoài bồi thường thiệt hại và triển khai các biện pháp ứng phó, trong một số trường hợp cụ thể, các quốc gia sẽ phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về tài chính Trên thực tế, hai hình thức thực hiện trách nhiệm là bồi thường thiệt hại và thực hiện các biện pháp bảo đảm tài chính thường bị nhầm lẫn với nhau Tuy nhiên, trong những tình huống nhất định, đặc biệt là khi thiệt hại do các phương tiện bay vũ trụ gây ra là quá lớn, các biện pháp bồi thường là chưa đủ thì quốc gia bồi thường cũng phải đảm bảo rằng các nguồn lực tài chính bổ sung luôn sẵn sàng Biện pháp đảm bảo về nguồn lực tài chính bổ sung này thường thể hiện bằng việc thành lập các quỹ hỗ trợ ở cấp quốc gia Về cơ bản, mức bồi thường đầu tiên sẽ là mức bồi thường thiệt hại của chính quốc gia có phương tiện bay gây thiệt hại; tiếp theo đó mới tới mức bồi thường bổ sung thông qua các quỹ bảo đảm tài chính Ngoài ra, có thể có thêm mức bồi thường thứ ba, hình thành dựa trên sự đóng góp chung của tất cả các quốc gia có liên quan Như vậy, có thể thấy rằng, việc thực hiện trách nhiệm pháp
lý quốc tế trong hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện bay vũ trụ không phải chỉ
áp dụng nguyên tắc “gây thiệt hại thì phải bồi thường” Trong nhiều trường hợp, khi
thiệt hại do các phương tiện bay vũ trụ gây ra là quá lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng
thì nguyên tắc “phân chia công bằng” cũng sẽ được tính đến Điều này phần nhiều
cũng xuất phát từ chính đặc trưng của trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này khi mà loại trách nhiệm này hoàn toàn đến từ những hoạt động công nghệ cao với các kỹ thuật vũ trụ tối tân nhất, điều đó luôn luôn tiềm ẩn những sự cố nằm ngoài tầm kiểm soát, nằm ngoài ý muốn của con người Chính vì vậy, trách nhiệm chia s và hỗ trợ giữa các quốc gia với nhau trong việc khắc phục hậu quả là điều vô cùng cần thiết