1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan nhà nước tại việt nam

82 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 668,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án 56 Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA HỆ TH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN HOÀNG MỸ LINH

THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN CHÍ HIẾU

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC THI

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

5

1.1 Nhận thức chung về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

1.1.1 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 5

1.1.1.3 Một số nội dung cấu thành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

1.2 Khái quát về hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người

1.2.1 Khái niệm hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

Trang 3

1.2.3.2 Vai trò và chức năng của hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi

1.2.3.3 Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi

1.3 Kinh nghiệm thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của

CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

34

2.1 Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của

2.1.1 Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

34

2.1.2 Thực trạng về hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 43

Trang 4

2.2.1 Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án 56

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỰC

THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA

HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

63

3.1 Sự cần thiết nâng cao hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi

3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều thì người tiêu dùng (NTD) ngày càng quan tâm hơn tới chất lượng sản phẩm, mẫu mã và các giá trị sử dụng Tuy nhiên, không phải tất cả NTD đều thỏa mãn với sản phẩm mà mình

đã bỏ tiền ra mua, thậm chí trong nhiều trường hợp, họ còn bị tổn thất về sức khỏe, tinh thần và vật chất do sản phẩm đó mang lại Các vụ việc xâm phạm quyền lợi NTD trong những năm trở lại đây ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ vi phạm với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bên cạnh những lợi ích là NTD Việt Nam được tiếp cận và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ chất lượng đến từ các nước khác nhau với công nghệ sản xuất hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, vẫn còn tồn tại hiện tượng nhiều thương nhân nước ngoài, đặc biệt là ở các nước phát triển coi Việt Nam là một “bãi rác thải” để tiêu thụ những hàng hóa lỗi, hết hạn sử dụng, lắp đạt những dây chuyền sản xuất lạc hậu Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, vấn đề tiêu dùng là một yếu tố quan trọng để điều tiết thị trường; do vậy, NTD chính là nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến những quyết sách về kinh tế và cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quyết sách kinh tế đó Vì những lý do trên, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD nhất thiết phải nhận được sự quan tâm không chỉ của Đảng, Nhà nước mà còn của toàn xã hội Nó là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời cũng là một trong những hoạt động để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Để đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của NTD, một trong số những công cụ chủ yếu và hữu hiệu là pháp luật Cho đến nay, pháp luật về bảo

vệ quyền lợi NTD đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của các quốc gia và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ Lẽ hiển nhiên, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD không tự thân đi vào cuộc sống NTD chỉ thực sự được bảo vệ khi có một hệ thống quy định của pháp luật đầy đủ,

Trang 6

chặt chẽ và một cơ chế vận hành, thực thi hiệu quả Việc thực thi pháp luật bảo

vệ quyền lợi NTD nhất thiết phải được tiến hành thông qua một hệ thống các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp hỗ trở giải quyết các yêu cầu bảo vệ quyền lợi của NTD, thông qua đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được tôn trọng và đảm bảo thực hiện Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, hệ thống các cơ quan, tổ chức đó chủ yếu gồm: các cơ quan Nhà nước

về bảo vệ quyền lợi NTD (bao gồm các cơ quan quản lý Nhà nước và Tòa án),

hệ thống các cơ quan tài phán ngoài Tòa án về bảo vệ quyền lợi NTD (bao gồm: các tổ chức hòa giải, trọng tài) và hệ thống các tổ chức xã hội bảo vệ NTD Trong đó, hệ thống các cơ quan Nhà nước được coi là cơ quan nòng cốt trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

Để góp phần đánh giá đúng thực trạng năng lực hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước, tôi đã chọn đề tài

“Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp cao học Luật, chuyên

ngành Luật Kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD là một trong những nội dung quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia Trên thế giới, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD ra đời từ khá sớm nên đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây, vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD đã bắt đầu được quan tâm nên đã có một số công trình khoa học,

đề tài các cấp, bài viết tạp chí có nội dung liên quan đến vấn đề này Tuy vậy, tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dưới khía cạnh thực thi pháp luật của hệ thống các cơ quan nhà nước thì đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu

tiên ở trình độ luân văn thạc sĩ luật học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Luận văn đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt

Trang 7

Nam, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan này

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

Thứ nhất, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật

bảo vệ quyền lợi NTD, hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói chung và hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các

cơ quan nhà nước nói riêng Đồng thời, luận văn cũng có đưa ra kinh nghiệm của một số nước về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tại các cơ quan nhà nước ở những quốc gia này làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam tham khảo và xây dựng theo

Thứ hai, trên cơ sở những vấn đề lý luận chung, luận văn tập trung đánh

giá, nhận xét về thực trạng hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam, nêu rõ những thành tựu và đặc biệt là những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống những cơ quan này

Thứ ba, luận văn còn nghiên cứu sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả

thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật

bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu về hệ thống các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam và thực trạng thực thi pháp luật bảo

vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước này, từ đó đưa ra những

đề xuất nhằm hoàn thiện, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam

Luận văn chủ yếu nghiên cứu tình hình thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam nhưng cũng có tìm

Trang 8

hiểu thêm về hệ thống các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD ở một số nước như: Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Cộng hòa Pháp

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị trường… Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu cụ thể, luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, thống kê, số liệu hóa và đặc biệt

là phương pháp so sánh luật học kết hợp với vận dụng lý luận để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:

Chương I Những vấn đề lý luận chung về thực thi pháp luật bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

Chương II Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

Chương III Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp

luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

Trang 9

NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC THI

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 1.1 Nhận thức chung về thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.1 Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.1.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, “người tiêu dùng là người mua,

Từ định nghĩa này có thể thấy, quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được hình thành và thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, NTD mua và/hoặc sử dụng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh (bán lại) Đây là một quan hệ dân sự được điều chỉnh chung bởi Bộ luật Dân sự (BLDS) Tuy nhiên, do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng mà NTD khó có thể có cơ hội được bình đẳng vì họ buộc phải tham gia vào mối quan hệ với tư cách là “bên yếu thế” Tính yếu thế ở đây thể hiện ở những khía cạnh như: trong việc tiếp cận thông tin, xử lý, hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ; trong việc đàm phán, xác lập hợp đồng, giao dịch với thương nhân; về khả năng chi phối giá cả, các điều kiện kinh doanh, giao dịch trên thị trường và

về khả năng chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm Vì những lẽ trên, pháp luật cần phải xác định NTD là những đối tượng đặc thù, họ cần được trao những quyền năng pháp lý, công cụ bảo vệ đặc biệt của pháp luật

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia trên thế giới Bảo vệ NTD thực chất cũng là bảo vệ sản xuất, bảo đảm cho sản xuất phát triển vừa hiệu quả, vừa đúng hướng

1

Xem khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 10

Xét từ góc độ xã hội – nhân văn, rõ ràng con người được coi là trung tâm của xã hội, là đối tượng hướng tới, là điều kiện cần và đủ cho sự tổn tại và phát triển của Nhà nước, xã hội và pháp luật Có thể thấy, ở một góc độ nhất định, NTD chính là tất cả mọi người trong xã hội Cuộc sống của người dân chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi được Nhà nước và xã hội bảo vệ Bảo vệ quyền lợi NTD là quá trình mà các Nhà nước sử dụng các biện pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của NTD cũng như ngăn chặn, xử lý các hành vi gian lận, vi phạm quyền lợi NTD của thương nhân để thu lợi bất chính Nói cách khác, bảo vệ quyền lợi NTD chính là làm cho các quyền của NTD được thực hiện trên thực tế Hiện nay, các Nhà nước trên thế giới sử dụng rất đa dạng các công cụ (về kinh tế, văn hóa, xã hội) để thực hiện bảo vệ quyền lợi NTD nhưng trong số những công cụ

đó, pháp luật là công cụ hữu hiệu hơn cả vì nó chính là phương thức để hiện thực hóa các công cụ bảo vệ quyền lợi NTD khác trong điều kiện Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân

Ở nghĩa khái quát, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi hợp pháp của NTD khi mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ Theo quan niệm này, pháp luật bảo vệ quyền

lợi NTD gồm các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực pháp luật khác nhau, miễn sao có chung mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Nó có đối tượng điều chỉnh rất rộng lớn, bao trùm hầu hết các quan hệ xã hội, giao thoa đối tượng điều chỉnh với hầu hết các lĩnh vực pháp luật từ luật công đến luật tư Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tự hồ như một thứ bổ sung về khả năng tự do và bình đẳng của NTD trong quan hệ với thương nhân, đồng thời nó mang tính chất can thiệp vào quyền tự do của các thương nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, trong các lĩnh vực khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất lượng sản phẩm và rộng ra là cả pháp luật dân sự, hình sự, ở một chừng mực nào đó, đều có mục đích bảo vệ NTD Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này bảo vệ NTD theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thông qua những quy định hạn chế

Trang 11

hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD (với tư cách là một chế định pháp luật độc lập) lại có mục đích xuất phát từ NTD Theo đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD sẽ tạo lập cho NTD những khả năng và cơ hội thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh quan hệ pháp luật mua bán (theo luật dân sự)

mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được Nó xuất hiện như một công cụ “can thiệp” từ bên ngoài để “uốn nắn” quan hệ tiêu dùng, một quan hệ vốn mang tính dân sự, đang bị méo mó do đặc tính vốn có của nó là bất cân xứng về thông tin, khả năng lựa chọn, tự do ý chí… của NTD Từ cách hiểu như vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD sẽ có vị trí độc lập tương đối với pháp luật hợp đồng theo luật dân sự

1.1.1.2 Vai trò và chức năng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, việc gia tăng các ứng dục khoa học, công nghệ trong việc sản xuất sản phẩm khiến cho việc thẩm định chất lượng của sản phẩm trở nên rất tốn kém và đòi hỏi có chuyên môn cao Do vậy, quan

hệ giữa nhà sản xuất, phân phối với NTD không còn ở vị thế bình đẳng như trong nền sản xuất giản đơn trước đây NTD luôn có vị trí yếu thế trong nền kinh tế hiện đại Trong bối cảnh ấy, nếu NTD không có các công cụ hỗ trợ thì việc họ bị các nhà sản xuất, phân phối lạm dụng là hoàn toàn có khả năng xảy

ra Nếu chỉ trông chờ vào khả năng tự bảo vệ của mình, NTD cũng sẽ khó có thể phòng ngừa và khắc phục được những rủi ro trong quá trình tham gia giao dịch với nhà sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ cũng như trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó Đó là lý do vì sao, sự hiện diện của Nhà nước và sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật là vô cùng cần thiết Cụ thể, vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thể hiện ở ba khía cạnh sau:

Thứ nhất, vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đối với chính bản

thân NTD Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hướng tới mục đích trước hết là bảo

vệ NTD chống lại các hành vi xâm hại đến lợi ích của họ Pháp luật công nhận những quyền cơ bản của NTD và biến nó thành công cụ để đảm bảo thực thi những quyền lợi đó Đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền lợi NTD, chống lại sự bất bình đẳng trong quan hệ với nhà sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ

Trang 12

Thứ hai, vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đối với các tổ chức,

cá nhân sản xuất, kinh doanh Bên cạnh mục đích là bảo vệ “bên yếu thế”, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD còn có vai trò đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Khi mà trên thị trường ngày càng xảy ra nhiều trường hợp các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vì chạy theo lợi nhuận mà xem thường,

bỏ qua những quyền lợi của NTD Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD phải can thiệp, giúp các nhà sản xuất, kinh doanh nhận ra được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi NTD, không lợi dụng sự bất bình đẳng về vị thế của mình với NTD để có hành vi lạm dụng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các thương nhân, đảm bảo sự vận hành lành mạnh của thị trường hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời tái thiết niềm tin của NTD vào thị trường

Thứ ba, vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đối với sự phát triển

kinh tế - xã hội của các quốc gia Thông qua việc bảo đảm quyền lợi cho NTD, pháp luật cũng giúp bảo đảm được sự công bằng và văn minh trong xã hội Chính sách tiêu dùng hiệu quả cũng chính là nhân tố quan trọng giúp thị trường hoạt động hiệu quả Bảo vệ quyền lợi NTD không những chỉ là bảo vệ lợi ích của số đông những NTD mà còn giúp cho xã hội ngày một công bằng hơn, văn minh hơn, đẩy lùi những tệ nạn xã hội làm cho nền kinh tế phát triển, mang lại cuộc sống ấm no cho người dân

Để có thể phát huy được những vai trò quan trọng nói trên, pháp luật bảo

vệ quyền lợi NTD khi được các Nhà nước xây dựng và hoàn thiện, cần phải đảm bảo những chức năng cơ bản như sau:

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần ghi nhận hệ thống các

quyền của NTD Đó là tám quyền được đề cập đến trong bản hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng năm 1985 Những quyền này được coi

là hệ thống quyền năng xương sống của NTD cần được bảo vệ trong một nền kinh tế thị trường hiện đại và cần được ghi nhận đầy đủ trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở mỗi quốc gia

Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần quy định cơ chế đảm bảo

các quyền năng trên của NTD được tôn trọng trên thực tế Bên cạnh đó, pháp

Trang 13

luật cũng cần quy định trình tự, thủ tục thực hiện các quyền năng của NTD; cách ứng xử của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc giải quyết các yêu cầu của NTD; cách ứng xử của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp phát hiện ra các vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD; trình tự, thủ tục khởi kiện, bảo vệ quyền lợi NTD; các biện pháp chế tài áp dụng cho các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ NTD

Thứ ba, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần quy định các giải pháp

pháp lý cụ thể giúp NTD phòng ngừa và khắc phục các vấn đề thường gặp phải trong quá trình tham gia các giao dịch trên thị trường và trong quá trình sử dụng, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Với sự hiện diện của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD và sự tôn trọng từ phía cộng đồng doanh nghiệp, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cần góp phần bảo đảm luồng thông tin từ nhà sản xuất, kinh doanh đến NTD liên quan đến sản phẩm là nguồn thông tin trung thực, làm căn

cứ cho các quyết định của NTD, buộc nhà sản xuất, kinh doanh phải cẩn trọng hơn trong quá trình sản xuất, kinh doanh Điều này sẽ mang lại lợi ích chính đáng cho không chỉ NTD mà còn là lợi ích cho xã hội, cho sự phát triển của nền kinh tế

1.1.1.3 Một số nội dung cấu thành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia khác nhau trên thế giới

là khác nhau Tuy nhiên, hầu hết pháp luật của các quốc gia đều quy định một

số nội dung cơ bản sau đây:

- Quyền, nghĩa vụ của NTD, trách nhiệm của các bên có liên quan

Các quyền hầu hết được các quốc gia phân tích, đưa vào luật bảo vệ

NTD của họ gồm: quyền được an toàn, quyền được chọn lựa, quyền được thông tin, quyền được giao kết hợp đồng công bằng, quyền được giáo dục tiêu dùng, quyền được khiếu nại và bồi thường thiệt hại và quyền được đại diện Bên cạnh

đó, nghĩa vụ của NTD cũng được nhiều quốc gia quy định, bao gồm một số nghĩa vụ như: nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa, dịch vụ trước khi tiến hành giao dịch… Đồng thời, pháp luật của các quốc gia đều có những quy định cụ thể về trách nhiệm củacác bên có liên quan

- Các hình thức trách nhiệm do vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 14

Hầu hết pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia trên thế giới đều quy định có ba biện pháp chế tài cơ bản, thường được sử dụng để điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đó là: Chế tài dân sự, chế tài hành chính, chế tài hình sự

- Quy định về các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

Theo quy định pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới, hệ thống các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thường được chia làm hai

bộ phận chính, như sau:

Thứ nhất là nhóm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bao gồm các cơ

quan quản lý chuyên trách về bảo vệ quyền lợi NTD, các bộ phận bảo vệ NTD trong các cơ quan điều tiết ngành, hệ thống Tòa án

Thứ hai là nhóm các tổ chức xã hội phi Chính phủ bao gồm các Hội/

Hiệp hội bảo vệ NTD tại trung ương và các địa phương

Mỗi nhóm cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD kể trên đều được pháp luật các nước quy định tương đối đầy đủ, chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Trong phạm vi của luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu nhóm thứ nhất – hệ thống các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

1.2 Khái quát về hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại Việt Nam

1.2.1 Khái niệm hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng, thực thi pháp luật là giai đoạn thứ hai sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu Bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống Vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành nhiều luật mà thực hiện chúng nghiêm minh trong thực tế Vì vậy, bên cạnh việc ngày càng hoàn thiện

Trang 15

hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, vấn đề thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay cũng cần được rất cần quan tâm

Để có thể hiểu một cách khái quát về thế nào là thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, trước hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm thực thi pháp luật nói chung Hiện nay, khoa học pháp lý chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về thực thi pháp luật Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật có thể được hiểu theo hai nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng, thực thi pháp luật được hiểu tương đương như hoạt

động thực hiện pháp luật Theo kiến thức lý luận chung về pháp luật thì thực hiện pháp luật là hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống2 Như vậy, theo cách hiểu này, hoạt động thực thi pháp luật là hoạt động của tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội Trong đó, đối với nhà nước, thực thi pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội; còn đối với các tổ chức phi nhà nước và các cá nhân, thực thi pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ

Theo nghĩa hẹp, thực thi pháp luật được hiểu như hoạt động áp dụng

pháp luật, một trong những hình thức thực hiện pháp luật, theo đó, nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Như vậy, với cách hiểu này, thực thi pháp luật là hoạt động luôn có sự can thiệp của cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, một số tổ chức xã hội cũng có thể được thực hiện hoạt động này3

Trang 16

Hiện nay, các cơ quan nhà nước, nhà nghiên cứu, học giả… đa số hiểu khái niệm thực thi pháp luật theo nghĩa rộng Hoạt động thực thi pháp luật là hoạt động được thực hiện bởi các toàn thể các tổ chức, cá nhân trong xã hội

Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đó là hoạt động thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nhằm để hiện thực hóa các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, làm cho chúng đi vào cuộc sống

1.2.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Để có thể tiến hành được hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, cần phải có những yếu tố cấu thành sau:

Thứ nhất, hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có thể

thực hiện được trên cơ sở một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD

Các quy phạm pháp luật này bao gồm các quy định về quyền của NTD, tương ứng với đó là trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh và của nhà nước; các quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức, cơ quan tham gia vào hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; các quy định về trình tự, thủ tục thực thi các quyền của NTD; các quy định về các biện pháp chế tài đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD…

Thứ hai, một trong những yếu tố không thể thiếu của hoạt động thực thi

pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đó là các thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

Theo quan niệm của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được hiểu là hệ thống các cơ quan, tổ chức có chức năng cơ bản trong việc hiện thực hóa các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong đời sống hàng ngày Nếu không có những thiết chế này thì pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD không thể thực thi được trong thực tế

Thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD bao gồm 3 nhóm cơ quan, tổ chức chính sau:

Trang 17

- Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi NTD

Trong số đó phải kể đến các cơ quan quan trọng như: Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương); Cục Quản lý thị trường (Bộ Công thương) cùng các

Sở Công thương các tỉnh, thành phố; các Chi cục Quản lý thị trường; Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm và Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cùng các Sở Y tế các tỉnh, thành phố; Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng (Bộ Khoa học

và Công nghệ) Ngoài ra, các cơ quan thanh tra chuyên ngành thương mại, y tế các cấp cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD

- Tòa án nhân dân các cấp

- Hội bảo vệ NTD

Thứ ba, hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có thể

tiến hành được khi có yếu tố nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật vận hành hiệu quả Các điều kiện đảm bảo này bao gồm điều kiện về nguồn lực, nguồn tài chính và các điều kiện về kỹ năng, nhận thức của không chỉ các cơ quan, tổ chức hữu quan mà còn của chính NTD và các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong xã hội

1.2.3 Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.2.3.1 Khái niệm hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trên cơ sở thực tiễn pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NTD trên thế giới, có thể hiểu, hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là các cơ quan Nhà nước có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp

hỗ trợ giải quyết các yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD, thông qua đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được tôn trọng và bảo đảm thực hiện

Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được cấu thành bởi hai nhóm cơ quan chính là các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và hệ thống các cơ quan tư pháp

Xuất phát từ bản chất của quan hệ giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) là quan hệ tư, do đó, nó sẽ

Trang 18

được điều chỉnh chủ yếu bởi hệ thống pháp luật tư Tuy nhiên, quá trình hàng hóa, dịch vụ từ nơi sản xuất đến với NTD là một quá trình phức tạp, ngay cả khi NTD đã sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các hành vi của các thương nhân vẫn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật công, mục tiêu của sự can thiệp này là từ phía Nhà nước là để đảm bảo trật tự công

Qua nghiên cứu mô hình của các nước trên thế giới, có thể phân loại các

cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD thành 2 nhóm sau:

Thứ nhất là hệ thống các cơ quan hình chóp Đây là mô hình được các

quốc gia và vùng lãnh thổ như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan, Úc, Đài Loan… áp dụng Theo mô hình này, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD được tổ chức thành hệ thống với một cơ quan dạng Ủy ban hoặc Hội đồng trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội

Thứ hai là hệ thống các cơ quan hạt nhân Đây là mô hình được các quốc

gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Canada, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore…

áp dụng Theo mô hình này, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD là hệ thống các cơ quan trực thuộc Bộ Tại các nước này, thông thường các cơ quan bảo vệ NTD được thành lập dưới dạng Cục hoặc Vụ thuộc các Bộ

có chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, thương mại và công nghiệp

Bên cạnh đó, đối với hệ thống Tòa án, nhiều quốc gia đã xây dựng một

hệ thống Tòa án chuyên biệt về bảo vệ NTD để giải quyết các tranh chấp như ở

Ấn Độ, Singapore, Malaysia… Còn ở những nước không xây dựng Tòa án riêng biệt chuyên bảo vệ quyền lợi NTD thì hệ thống Tòa án các cấp sẽ có thẩm quyền xét xử các vụ việc vi phạm quyền lợi NTD như ở Pháp, Hoa Kỳ…

1.2.3.2 Vai trò và chức năng của hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tham gia vào hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, hệ thống các cơ quan Nhà nước có những vai trò và chức năng được pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể đối với từng nhóm cơ quan, như sau:

Thứ nhất, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD có

trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hệ thống các tiêu chuẩn phục vụ công tác bảo vệ quyền lợi NTD Trong đó, các cơ quan hành pháp (đặc

Trang 19

biệt là các Bộ, ban, ngành trực thuộc Chính phủ) thực hiện việc áp dụng pháp luật bảo vệ NTD, thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của thị trường, cung cấp các thông tin và dịch vụ hỗ trợ NTD

Tuy nhiên, như phần 1.2.3.1 đã nêu, cách phân loại hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia khác nhau là khác nhau Do đó, vai trò và chức năng của các nhóm cơ quan quản lý Nhà nước cũng có sự khác biệt, cụ thể:

Đối với nhóm cơ quan quản lý Nhà nước được thiết kế theo mô hình hệ thống cơ quan hình chóp, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD là các Ủy ban hoặc Hội đồng có vị trí cao trong tổ chức bộ máy Nhà nước Các cơ quan này có vị trí tương đối độc lập và có thẩm quyền yêu cầu các cơ quan chuyên ngành khác thuộc Chính phủ phối hợp và giải quyết thỏa đáng các khiếu nại của NTD chứ chúng thường không trực tiếp giải quyết các khiếu nại của NTD

Đối với nhóm cơ quan quản lý Nhà nước được thiết kế theo mô hình hệ thống cơ quan hạt nhân, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD

là các cơ quan trực thuộc Bộ Các cơ quan này có chức năng điều tra, xử lý các hành vi vi phạm quyền lợi NTD Tuy nhiên, các cơ quan này không có thẩm quyền giám sát cũng như áp đặt nhiệm vụ cho các cơ quan khác trong hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD như nhóm cơ quan hình chóp nói trên

Thứ hai, hệ thống Tòa án, cơ quan độc lập với Chính phủ, có trách nhiệm

xét xử, giải quyết các vụ tranh chấp, kiện tụng liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD (bao gồm cả vụ kiện dân sự và các vụ án hình sự), cụ thể:

Đối với các vụ kiện dân sự do NTD khởi kiện nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Tòa án sẽ đóng vai trò là trung gian giải quyết Trong thực tiễn xét xử án dân sự, Tòa án thường ra các phán quyết như: Tuyên vô hiệu đối với hợp đồng hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng của NTD khi quan

hệ giữa nhà sản xuất, kinh doanh và NTD không có sự cân xứng về lợi ích, có dấu hiệu bóc lột hoặc lạm dụng với NTD; Tuyên vô hiệu đối với một số điều khoản trong hợp đồng khi các điều khoản này là không công bằng; Tuyên vô

Trang 20

hiệu đối với các hợp đồng do có dấu hiệu lừa dối khiến cho sự tự nguyện của NTD là không thực chất…

Đối với các vụ án hình sự, theo yêu cầu của các cơ quan công tố hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác, Tòa án sẽ xem xét việc áp dụng các biện pháp chế tài hình sự đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ khi có hành vi vi phạm như có hành vi thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản lượng đối với một mặt hàng nào đó, cấu kết, lũng đoạn đấu thầu…

Ngoài ra, Tòa án còn có chức năng kiểm tra hình hợp hiến, hợp pháp của các quyết định do các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ban hành cũng như của các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD

1.2.3.3 Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hiện hành, hệ thống các

cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam bao gồm hai nhóm cơ quan, đó là:

- Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD;

- Tòa án

a Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Các cơ quan quản lý Nhà nước được coi là chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong

hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam gồm:

 Chính phủ

Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta, có vai trò thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh

Trang 21

thần của nhân dân4 Như vậy, có thể thấy, bảo vệ NTD là một phần trong chức năng quản lý của Nhà nước ta và là một trong những trọng tâm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ Khoản 1 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 có

quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

Trong hoạt động thực thi pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng, Chính phủ là cơ quan giữ vai trò chỉ đạo, xây dựng chính sách, pháp luật, điều phối hoạt động, kiểm tra giám sát việc thi hành pháp luật;

tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra nhà nước; tổ chức và chỉ đạo giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc trách nhiệm của Chính phủ5

Đồng thời, trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, Chính phủ còn tiến hành sự phân công, phân cấp quản lý, quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về bảo vệ quyền lợi NTD Các cơ quan được phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD này phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ

 Bộ Công thương

Theo sự phân cấp dọc, ở trung ương, Bộ Công thương được xác định là

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam Vai trò bảo

vệ quyền lợi NTD của Bộ Công thương được thể hiện ở hai khía cạnh, cụ thể:

Thứ nhất, trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD một cách gián tiếp, Bộ

Công thương là cơ quan thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD trong các lĩnh vực thương mại và công nghiệp Ngoài chức năng về quản

lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, Bộ Công thương còn được giao nhiệm

vụ là cơ quan quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực khác có liên quan trực tiếp đến quyền lợi NTD, đặc biệt là: điện lực, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, thương mại và thị trường trong nước, thương mại biên giới, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, quản lý cạnh tranh…

Trang 22

Thứ hai, trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD một cách trực tiếp, Bộ

Công thương được quy định thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại Điều 48 Luật bảo

vệ quyền lợi NTD năm 2010

Bên cạnh đó, trong cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương được quy định tại Điều 3 Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương, có hai cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đó là Cục Quản lý Cạnh tranh và Cục Quản lý Thị trường, trong

đó Cục Quản lý Cạnh tranh là cơ quan chuyên trách được giao nhiệm vụ giúp

Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD và Cục Quản lý Thị trường là cơ quan giúp việc Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thương mại theo quy định của pháp luật

 Bộ Khoa học và Công nghệ

Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được thực thi một cách nghiệm túc, có hiệu quả

Giúp việc, tham mưu cho Bộ Khoa học và Công nghệ trong công tác bảo

vệ quyền lợi NTD còn có Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng Cơ quan này trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có chức năng giúp Bộ trưởng

Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo quy định pháp luật Ở các địa phương, chức năng quản lý nhà nước

về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa được giao cho các Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng Các Chi cục này chịu sự chỉ đạo

và quản lý mọi mặt của Sở Khoa học và Công nghệ, đồng thời chịu sự chỉ đạo

và hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng

 Bộ Y tế

Trang 23

Trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

ở Việt Nam, Bộ Y tế là cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế Vai trò của Bộ Y tế được thể hiện là:

Thứ nhất, Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản

lý chuyên ngành hàng hóa, dịch vụ y tế Các hàng hóa, dịch vụ y tế là đối tượng quản lý nhà nước của Bộ Y tế rất đa dạng, phong phú Đặc biệt, những hàng hóa, dịch vụ này còn có liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của NTD

Do vậy, yêu cầu bảo đảm về an toàn sức khỏe của NTD đối với các hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế là yêu cầu quan trọng hàng đầu

Thứ hai, Bộ Y tế là cơ quan đầu mối tổ chức thực thi pháp luật bảo vệ

quyền lợi NTD trong lĩnh vực y tế Bộ có trách nhiệm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các Luật, Pháp lệnh, Nghị định liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD thuộc trách nhiệm quản lý của mình Để đảm bảo sức khỏe, tính mạng của NTD, Bộ chủ trì ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu bắt buộc áp dụng về bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh đối với các hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi quản lý

Để thực hiện những vai trò kể trên, Bộ Y tế đã thành lập nhiều đơn vị quan trọng trong cơ cấu tổ chức của mình như Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục Quản lý Dược, Vụ pháp chế, Thanh tra Bộ Y tế… Trong các đơn vị này, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm là đơn vị đầu mối đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong quản lý nhà nước có liên quan tới hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD

 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và một số cơ quan khác thuộc Chính phủ

Bên cạnh các Bộ vừa kể trên, hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD nói chung

và thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng còn là trách nhiệm của tất

cả các Bộ ở trung ương Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp bảo vệ quyền lợi NTD thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định Ngoài ra, trách nhiệm, công việc của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có

Trang 24

liên quan chặt chẽ đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD được quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 55/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD, như sau:

- Bộ Xây dựng thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra trong tất cả các khâu từ quy hoạch, thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình xây dựng dân

dụng;

- Bộ Giao thông vận tải thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng các phương tiện giao thông vận tải đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường hàng không, ga đường sắt, sân bay, bến cảng và các trang thiết bị sử dụng cùng với phương tiện vận tải nhằm đảm bản an toàn cho NTD trong các dịch vụ về vận chuyển hoặc khi NTD mua để sử dụng các phương tiện, thiết bị

này;

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các Bộ chuyên ngành thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra các hoạt động tuyên truyền, thông tin, quảng cáo về hàng hoá, văn hóa phẩm và

dịch vụ trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây, giống con, các sản phẩm sinh học phục vụ trồng trọt và chăn nuôi, thức ăn gia súc; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng các chủng loại động, thực vật thủy sản, thức ăn cho thủy sản, hải

sản, thuốc bảo vệ và thuốc thú y thủy sản, ngư lưới, dịch vụ đánh cá;

- Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng, giá cả các dịch vụ bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet, truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; hoạt động báo chí, xuất bản

theo quy định của pháp luật;

- Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, xây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy về vấn đề bảo vệ NTD; nghiên cứu, trình Chính phủ phương án đưa vấn đề

bảo vệ NTD vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân;

- Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng một số dự án luật có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD theo phân công của Chính phủ; thẩm định các dự án Luật, pháp

Trang 25

lệnh mà Chính phủ được phân công xây dựng, trình; theo dõi thi hành pháp luật

bảo vệ quyền lợi NTD;

- Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên cập nhật, đăng tải các thông tin liên quan đến bảo vệ NTD; dành thời lượng phát

sóng thích hợp để tuyên truyền các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD

 Ủy ban nhân dân các cấp

Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp đóng vai trò quản lý cấp địa phương trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam Hoạt động của các UBND có một vị trí then chốt trong hiệu quả chung về công tác bảo vệ quyền lợi NTD trên cả nước Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 có quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND các cấp Trong

đó, UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương UBND cấp huyện quyết định đơn vị giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD trên địa bàn huyện mình6 UBND cấp xã còn được giao các trách nhiệm cụ thể trong việc bảo vệ NTD khi tham gia các giao dịch với các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh7

Ngoài các quy định chung kể trên, Luật bảo vệ quyền lợi NTD còn có một số quy định về thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trong những trường hợp cụ thể Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 22 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm

2010, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD cấp tỉnh là cơ quan tiếp nhận báo cáo kết quả thu hồi hàng hóa có khuyết tật của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 25 Luật này quy định cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD cấp huyện sẽ là cơ quan tiếp nhận

và giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD hoặc của tổ chức xã hội trong trường hợp NTD, tổ chức xã hội phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ

Trang 26

quyền lợi NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của NTD, lợi ích công cộng

Giúp việc, tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong hoạt động quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương còn có một

số cơ quan chuyên môn Những cơ quan này thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và theo quy định của pháp luật8

b Tòa án

Bên cạnh các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD như

đã trình bày ở trên, Tòa án cũng có vai trò rất đặc biệt tham gia vào quá trình thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án khi tham gia vào giải quyết tranh chấp nói chung được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, cụ thể là: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Riêng đối với những tranh chấp có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án còn được quy định

cụ thể trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD

Theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, khi xử lý các hành vi xâm phạm lợi ích của NTD, Tòa án phải nhân danh Nhà nước để xử lý; phải tuân theo những trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ Những chế tài được áp dụng cho các đối tượng xâm phạm lợi ích của NTD trong nhiều trường hợp là rất nghiêm khắc, có tính răn đe, giáo dục mạnh mẽ; quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành cao và bảo vệ được triệt để quyền lợi của NTD Trong những trường hợp cần thiết và theo yêu cầu của người khởi kiện trước khi thụ lý, trong

8

Quy định tại Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 27

quá trình tố tụng, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo

vệ ngay các lợi ích của các đương sự

Các chế tài mà Tòa án được quyền áp dụng khi giải quyết các tranh chấp

về bảo vệ quyền lợi NTD là chế tài dân sự (đặc biệt là trong các vụ kiện đòi bồi thường theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và chế tài hình sự Việc áp dụng chế tài dân sự trong các vụ việc dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục mà

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Việc áp dụng chế tài hình sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục về tố tụng hình sự Đồng thời, Tòa Hành chính cũng có vai trò nhất định trong việc bảo vệ quyền lợi NTD thông qua việc xem xét các hành

vi hành chính, quyết định hành chính của người có thẩm quyền xử lý các hành

vi xâm phạm quyền lợi NTD bị khởi kiện tại Tòa Hành chính

Ở Việt Nam ta không có Tòa án chuyên trách về bảo vệ NTD Các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi NTD được xếp vào loại vụ kiện dân sự và có thể được giải quyết theo pháp luật hợp đồng hoặc pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định

Theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hiện hành, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc nếu có đơn khởi kiện của NTD hoặc của tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD nếu được NTD ủy quyền bằng văn bản hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng Trình tự, thủ tục khởi kiện bảo vệ quyền lợi NTD được áp dụng theo trình tự, thủ tục chung mà Bộ luật tố tụng dân sự năm

2004 đã quy định Đặc biệt, trong trường hợp vụ án dân sự đơn giản, chứng cứ

rõ ràng và có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 thì Tòa án được quyền áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết

vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD Việc thực hiện một trình tự, thủ tục rút gọn, đơn giản so với quy trình, thủ tục khởi kiện tại Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự truyền thống sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nhiều cho NTD, vốn là những người ngại kiện tụng do những thủ tục Tòa án phức tạp Đồng thời, quy định này cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc bảo vệ quyền lợi NTD của các cơ quan quản lý Nhà nước

Trang 28

Ngoài ra, Tòa án còn có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi NTD yêu cầu, trong đó có biện pháp có thể buộc bên bị kiện thu hồi sản phẩm nếu việc tiếp tục cho lưu thông hàng hóa đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là các loại thiệt hại không thể khắc phục được9

1.3 Kinh nghiệm thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan Nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Ấn Độ

Ấn Độ, một quốc gia có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tương đương, gần gũi với Việt nam, có Luật bảo vệ NTD được thông qua vào năm 1986 Mặc

dù là một quốc gia đang phát triển nhưng Ấn Độ được đánh giá là một quốc gia

có hệ thống các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD phát triển khá mạnh với cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD hoạt động tương đối hiệu quả Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của Ấn Độ gồm ba bộ phận chính, đó là:

(1) Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD (Cơ quan hành chỉnh);

(2) Hệ thống các cơ quan giải quyết tranh chấp tiêu dùng (Cơ quan tư pháp và bán tư pháp);

(3) Các bộ phận giải quyết khiếu nại của NTD trong các cơ quan điều tiết ngành

 Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD (Cơ quan hành chính)

Trong hệ thống cơ quan hành chính về bảo vệ quyền lợi NTD ở Ấn Độ,

có một cơ quan cấp Bộ chuyên trách về các vấn đề liên quan đến NTD, đó là Bộ các vấn đề về NTD, Phân phối thực phẩm và Hàng hóa công cộng, trong đó, Vụ các vấn đề về NTD là cơ quan quản lý Nhà nước toàn quyền về bảo vệ NTD (Department of Consumer Affairs – gọi tắt là DCA)10 DCA chịu trách nhiệm hoạch định các chính sách bảo vệ NTD, giám sát giá cả, đảm bảo cung ứng

Trang 29

những hàn hóa thiết yếu, đồng thời, thúc đẩy phong trào NTD và kiểm soát các

cơ quan thực thi như Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ

Bắt đầu từ năm 2002 cho đến nay, DCA trung ương thành lập một bộ phận gọi là Bộ phận giải quyết khiếu nại của NTD, để giải quyết khiếu nại của NTD liên quan tới những vấn đề như: Việc mua bán các hàng hóa, dịch vụ có khiếm khuyết hay việc đặt giá cao hơn quy định một các bất hợp lý; Các khiếu nại nói chung, bao gồm cả các khiếu nại nhận được từ Ban thư ký nội các hay Văn phòng thủ tướng Chính phủ liên quan đến các vấn đề về NTD; Trả lời các khiếu nại của NTD được đăng tải trên các báo chí đến khả năng có thể Các khiếu nại này có thể liên quan đến nhiều vấn đề, ví dụ như việcc cung cấp các loại tủ lạnh, ti vi có khiếm khuyết, việc nhà thầu xây dựng sử dụng vật liệu tồi trong xây dựng chung cư, việc các ngân hàng/ công ty quản lý quỹ không hoàn lại tiền gửi có kỳ hạn vào ngày đáo hạn, hay việc các nhà cung cấp dịch vụ có hành vi thương mại không lành mạnh… Bộ phận này không có quyền thi hành

án trong giải quyết tranh chấp, nên trong nhiều trường hợp, khi khả năng không cho phép, họ sẽ chuyển khiếu nại của NTD tới các cơ quan điều tiết ngành có chức năng hoặc các cơ quan thuộc hệ thống giải quyết tranh chấp tiêu dùng

Bên cạnh đó, DCA trung ương cũng triển khai một đường dây tư vấn quốc gia theo số điện thoại miễn phí 1800-11-4000, do Trường Đại học New Delhi vận hành, nhằm giúp tư vấn cho NTD về cách giải quyết các khiếu nại của họ Đường dây này hoạt động từ 9h30 tới 17h30 trong tất cả các ngày làm việc (từ thứ hai đến thứ bảy) Đường dây này được quảng cáo rộng rãi để giúp NTD nhận thức rõ về sự tồn tại của nó và có thể dễ dàng sử dụng

 Hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp tiêu dùng

Luật BVNTD năm 1986 của Ấn Độ thành lập nên các cơ quan giải quyết tranh chấp khiếu nại NTD ở cấp quận, cấp bang và cấp quốc gia Chúng tồn tại song song nhưng tách biệt khỏi hệ thống tòa án đã có từ trước đó Cơ cấu tổ chức của những cơ quan này, được biết đến như là Hội đồng cấp quận, Hội đồng cấp bang và Hội đồng quốc gia, những quy định về thủ tục vận hành tổ chức và những giải pháp đưa ra, bảo đảm những cơ quan này luôn hoạt động một cách có hiệu quả

Trang 30

Hội đồng quận có thể thụ lý đơn khiếu nại với những trường hợp mà giá trị của hàng hóa, dịch vụ và tiền đòi bồi thường không vượt quá 500.000 rupee Hội đồng bang có thể thụ lý những đơn khiếu nại mà giá trị của chúng vượt quá 500.000 rupee nhưng lại ít hơn 2.000.000 rupee Tiền bồi thường vượt quá 2.000.000 rupee phải được chuyển lên Hội đồng quốc gia xem xét Hội đồng bang cũng có vai trò như là cơ quan giám sát và có thẩm quyền để xem xét lại

hồ sơ và thông qua những quyết định thích hợp đối với những tranh chấp chưa được xử lý trước đó hoặc đã được phân xử bởi Hội đồng quận Hội đồng bang cũng có vai trò như là cơ quan kháng án chống lại những quyết định được đưa

ra tại Hội đồng quận nhưng những kháng án này phải được đưa ra trong một thời hạn là 30 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành bởi Hội đồng quận Hội đồng quốc gia cũng tương tự có vai trò như là cơ quan kháng án chống lại những quyết định do Hội đồng bang đưa ra

Đặc thù quan trọng nhất của cơ cấu giải quyết tranh chấp khiếu nại tiêu dùng theo quy định của Luật bảo vệ NTD Ấn Độ năm 1986 là tính tự do, linh hoạt về vấn đề tư cách khởi kiện NTD bị thiệt hại có thể tự mình khởi kiện hoặc có thể tìm kiếm sự trợ giúp của bất kỳ hiệp hội bảo vệ NTD được thừa nhận nào Những quy định này cũng cho phép những vụ kiện tụng tập thể và có tính đại diện, cũng như cho phép những vụ án do Chính quyền bang và Chính quyền Nhà nước khởi tố

Luật này không quy định cụ thể cách thức mà đơn khiếu nại được nộp lên cơ quan giải quyết tranh chấp khiếu nại NTD và trong thực tế, bất kỳ cách thức khiếu nại nào (kể cả là một bức thư hoặc thậm chí khiếu nại bằng lời nói) cũng được Hội đồng quận xem xét giải quyết Các bên không phải chịu bất cứ một khoản án phí nào, trừ một khoản lệ phí nộp đơn khiếu kiện nhỏ và khoản này cũng có thể được miễn cho NTD nghèo khổ theo luật định Các bên có toàn quyền tự do tìm kiếm và sử dụng đại diện về mặt pháp lý cho mình

Hội đồng quận sau khi chuyển đơn khiếu nại đến bên bị khiếu nại, chỉ dẫn cho các bên phải trình bày tóm tắt vụ việc trong thời hạn 30 ngày Nếu đơn khiếu nại bị từ chối hoặc bị bác hoặc không có sự phải hồi nào từ các bên khác, phiên tòa sẽ được mở để giải quyết khiếu nại Tòa án quận được quyền yêu cầu

Trang 31

một phòng thí nghiệm được phê chuẩn tiến hành những kiểm tra cần thiết đối với hàng hóa bị khiếu nại và chi phí do người khiếu nại trả Sao đó, các bên đều

có cơ hội trình bày ý kiến của mình trước tòa Mọi thủ tục tố tụng tại Hội đồng quận được coi là tố tụng pháp lý thực sự

Hội đồng quận có thẩm quyền tương tụ như thẩm quyền được giao cho một tòa dân sự thông thường và những quyền này bao gồm cả quyền triệu tập

và cưỡng chế sự có mặt của người tham dự, thẩm vấn bất kỳ người bị kiện hay nhân chứng nào, phát hiện và đưa ra chứng cứ, thu thập lời khai… Hội đồng bang và Hội đồng quốc gia cũng thực thi thẩm quyền tương tự như trên trong việc xem xét những khiếu nại thuộc thẩm quyền xét xử của mình

 Các cơ quan điều tiết ngành

Các cơ quan điều tiết ngành Ấn Độ như Cơ quan điều tiết ngành Viễn thông Ấn Độ (Telecom Regulatory Authority of India – TRAI), Cơ quan Điều tiết ngành Điện lực Trung ương (Central Electricity Regulatory Commission – CERC) và 18 Cơ quan Điều tiết ngành Điện lực bang (State Electricity Regulatory Commission – SERCs)… đều có bộ phận giải quyết khiếu nại NTD Giữa cơ quan quản lý Nhà nước chuyên trách về các vấn đề NTD (DCA) và các

cơ quan giải quyết tranh chấp với các cơ quan điều tiết ngành của Ấn Độ cũng thường xuyên có các hoạt động tham vấn, tư vấn và góp ý

Bên cạnh đó, một cơ quan điều tiết khác là Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ11, nằm dưới sự kiểm soát của DCA, có vai trò thiết lập nên những tiêu chuẩn của

Ấn Độ cho tất cả các ngành như: ngành thực phẩm và nông nghiệp, thuốc, dệt may, nguồn nước, phương tiện giao thông vận tải… và chứng nhận về hàng hóa Bất kỳ cá nhân nào cũng có thể gửi đơn khiếu nại liên quan đến hàng hóa được chứng nhận bởi Cục này, trực tiếp qua trang web của tổ chức

Nhìn chung, xét về mặt tổ chức, các cơ quan hành chính, bộ máy giải quyết tranh chấp và các cơ quan điều tiết ngành của Ấn Độ đều có mức độ độc lập nhất định với nhau, với các chức năng chuyên biệt và nguồn ngân sách hoạt động riêng biệt Tuy nhiên, điều này không hề hạn chế việc các cơ quan, tổ

11

http://bis.org.in

Trang 32

chức này tham vấn ý kiến lẫn nhau hay đưa ra các khuyến nghị bổ sung trong các lĩnh vực có liên quan Hệ thống tuy có vẻ cồng kềnh những lại thích hợp với tình hình Ấn Độ, một quốc gia có diện tích lớn, đông dân, phần lớn có thu nhập

và trình độ giáo dục thấp, nơi các quan hệ mua bán, trao đổi trên thị trường tiêu dùng trực tiếp đa phần còn không chính thức Số lượng các khiếu nại do vậy là rất lớn đòi hỏi một số lượng lớn các cơ quan giải quyết, giúp đỡ

1.3.2 Nhật Bản

Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Nhật Bản nhìn chung được tổ chức khá chặt chẽ và có tính thống nhất Hệ thống này được kết cấu theo mô hình “hạt nhân” Theo đó, ba cơ quan chính có nhiệm

vụ bảo vệ quyền lợi NTD ở Nhật Bản là Ủy ban người tiêu dùng Nhật Bản, Cục bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản và Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản

 Ủy ban người tiêu dùng Nhật Bản

Đây là cơ quan thuộc Văn phòng Nội các Nhật Bản cùng với Ủy ban thương mại công bằng hay Ủy ban quốc gia về an toàn của công chúng Ủy ban người tiêu dùng Nhật Bản được thành lập ngày 01/09/2009 Đây là một cơ quan độc lập, có chức năng giám sát toàn thể cơ chế quản lý, bảo vệ quyền lợi NTD với các cơ quan hữu quan, trong đó bao gồm cả Cục bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản Các thành viên của Ủy ban được thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và làm việc bán chuyên nghiệp Ủy ban họp công khai 02 lần/ tháng và không hạn chế đối tượng tham dự Bên cạnh các cuộc họp chính thức, Ủy ban này có thể tổ chức họp nội bộ trung bình 02-06 lần/ tháng hoặc trong trường hợp cần thiết Nhiệm vụ chính của Ủy ban người tiêu dùng Nhật Bản gồm: (1) Xây dựng chính sách và phối hợp với các Bộ, Cục có liên quan tới NTD đề ra các chính sách liên quan đến NTD; (2) Đưa ra các kiến nghị điều tra về tính an toàn của các sản phẩm, dịch vụ hoặc các khuyến cáo, hướng dẫn liên quan đến bảo vệ NTD cho Cục bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản hoặc các cơ quan hữu quan

 Cục bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản

Cơ quan này được thành lập cùng với Ủy ban người tiêu dùng Nhật Bản Đây là cơ quan thực thi cấp Trung ương trong lĩnh vực bảo vệ NTD của Nhật

Trang 33

Bản Cục bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản trực tiếp thực thi các văn bản pháp luật quan trong liên quan đến bảo vệ NTD Để đảm bảo việc thực thi đúng các quy định pháp luật về bảo vệ NTD, Cục tiến hành kiểm tra các sản phẩm và dịch vụ xem có đáp ứng tốt nhất quyền lợi NTD hay không và đưa ra các hướng dẫn hay các quy định cho doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật

Bên cạnh công tác thực thi Luật và giám sát chung các hoạt động về bảo

vệ quyền lợi NTD, Cục cũng có trách nhiệm thực hiện các hoạt động tuyên truyền, giáo dục NTD, đưa ra các thông báo thu hồi sửa chữa sản phẩm, cảnh báo, khuyến cáo tới NTD

 Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản

Trung tâm này còn được gọi là Trung tâm sinh hoạt quốc dân, là một cơ quan hành chính độc lập đóng vai trò chính trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD của Nhật Bản Cơ quan này là cơ quan tư vấn cấp trung ương, có chức năng điều phối và hỗ trợ cho các Trung tâm sinh hoạt tiêu dùng địa phương trên toàn quốc cũng như phối hợp hoạt động cùng các cơ quan chuyên trách khác về bảo vệ NTD Trung tâm này không phân cấp thành các chi nhánh địa phương

mà chỉ có hai văn phòng đại diện ở Tokyo và Sagamihara, trung tâm có khoảng

200 nhân viên và được tổ chức hoạt động bằng ngân sách Nhà nước

Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản là đơn vị kết nối doanh nghiệp với NTD thông qua việc truyền đạt những mong muốn của NTD về hàng hóa, dịch vụ tới các doanh nghiệp, đề nghị doanh nghiệp có những giải pháp hoàn thiện, thay đổi sản phẩm nhằm mục đích bảo vệ NTD Với nghiệp vụ đặc trưng là tư vấn trung gian và trung gian hòa giải, Trung tâm này có thể hỗ trợ cho các Trung tâm sinh hoạt tiêu dùng tại địa phương và đưa ra các khuyến nghị cho các cơ quan quản lý khác về chính sách liên quan đến bảo vệ NTD Những nhiệm vụ cơ bản của Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng Nhật Bản bao gồm sáu nhóm nghiệp vụ: Tư vấn; Thu thập phân tích và cung cấp các thông tin

tư vấn về bảo vệ NTD; Kiểm tra sản phẩm; Giáo dục cộng đồng (hay NTD); Đào tạo; Giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án (Alternative Dispute Resolution – ADR)

Trang 34

Tóm lại, có thể nhận thấy rằng, mô hình các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD ở Nhật Bản là một mô hình khá thành công, là bài học kinh nghiệm cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu và học tập

1.3.3 Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, có rất nhiều luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD Các

cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Hòa Kỳ có trách nhiệm thực thi những luật này, bao gồm:

 Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng Hoa Kỳ (Consumer Product Safety Commission – gọi tắt là CPSC)

Đây là một cơ quan liên bang độc lập được thành lập theo Luật An toàn sản phẩm Tiêu dùng (CPSA) Bằng luật này, Quốc hội giao trách nhiệm cho CPSC “bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng” Không phải tất cả các sản phẩm tiêu dùng đều thuộc thẩm quyền của CPSC, song cơ quan này phải chịu trách nhiệm quản lý hơn 15 nghìn loại sản phẩm Danh mục các sản phẩm này có thể được tìm thấy trên trang web của CPSC tại địa chỉ: www.cpsc.gov Trang web này cũng đưa ra những hướng dẫn đầy đủ về các yêu cầu của các đạo luật liên quan và cách thử nghiệm sản phẩm để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn quy định CPSC thực hiện trách nhiệm trên bằng cách12:

- Xây dựng các tiêu chuẩn tự nguyện cho các ngành công nghiệp;

- Ban hành và thực thi các tiêu chuẩn bắt buộc;

- Thông báo cho các cơ sở sản xuất biết và hướng dẫn họ thực hiện các yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm thông qua các hình thức như hội thảo hoặc gửi thông báo;

- Cấm các sản phẩm tiêu dùng nếu các sản phẩm đó không có các tiêu chuẩn có tính khả thi để bảo vệ thích đáng công chúng;

- Kiểm tra và đưa ra lệnh thu hồi sản phẩm có khuyết tật hoặc yêu cầu những sản phẩm đó được sửa chữa;

- Tiến hành nghiên cứu về các sản phẩm có thể gây nguy hại;

12

CPSC Overview, truy cập tại địa chỉ http://www.cpsc.gov/about/about.html ngày 19/03/2014

Trang 35

- Cung cấp thông tin và hướng dẫn NTD thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chính quyền bang và địa phương, các tổ chức tư nhân và bằng cách trả lời các câu hỏi của NTD

 Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (Food and Drug Administration – gọi tắt là FDA)

Cơ quan này có nhiệm vụ bảo đảm thực phẩm an toàn và không có độc

tố, mỹ phẩm không gây hại, thuốc men, các thiết bị y tế và các sản phẩm tiêu dùng có phát phóng xạ (như lò vi sóng) an toàn và hiệu quả Cơ quan này cũng kiểm tra thức ăn cho các vật nuôi trong gia đình, tại các nông trường và quy định các loại dược phẩm dùng cho các súc vật này FDA thực thi Đạo luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm (Food, Drug and Cosmetic Act – FDCA) và một vài đạo luật khác về y tế cộng đồng13

 Cơ quan bảo vệ môi trường (Enviromental Protection Agency – gọi tắt là EPA)

Nhiệm vụ của cơ quan này là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ môi trường thiên nhiên, bao gồm môi trường đất, nước và không khí14 Một số sản phẩm nhập khẩu cũng nằm dưới sự kiểm soát của EPA Bên cạnh đó, cơ quan này có nhiệm vụ giám sát thực thi Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Pesticide Control Act)15

 Ủy ban thương mại liên bang (Federal Trade Commission – gọi tắt là FTC)

FTC giám sát thi hành nhiều luật bảo vệ NTD và luật chống độc quyền liên bang Vai trò của FTC trong việc chống độc quyền là điều tra các chứng cớ

về sự độc quyền trên thị trường, trong đó có việc định giá mang tính cưỡng ép Các luật chống độc quyền về cơ bản là để nhằm kiểm soát việc thủ tiêu cạnh

Trang 36

tranh, trong đó có thỏa thuận hạn chế mua bán FTC tìm cách đảm bảo thị trường trong nước vận hành một cách hiệu quả và có tính cạnh tranh, không bị những hạn chế không chính đáng Ngoài ra, FTC còn thúc đẩy sự vận hành trôi chảy của thị trường bằng cách loại bỏ những hành vi không công bằng hay có tính chất lừa đảo Nói tóm lại, các nỗ lực của FTC trong vấn đề chống độc quyền là để ngăn ngừa các hành động đe dọa đến cơ hội được lựa chọn sản phẩm của NTD16

Mặt khác, FTC còn có trách nhiệm giám sát thi hành nhiều luật về dãn nhãn để bảo vệ NTD, trong đó có các văn bản Luật như: Luật về dán nhãn các sản phẩm len (Wool Products Labelling Act), Luật về dãn nhãn các sản phẩm từ

da lông thú (Fur Products Labelling Act) và Luật phân biệt các sản phẩm sợi dệt (Textile Fiber Products Indentification Act) Nhìn chung, những luật này quy định những nguyên tắc cụ thể cho việc dãn nhãn sản phẩm Đồng thời, FTC cũng giám sát việc dãn nhãn thuốc lá theo Luật về quảng cáo và dán nhãn thuốc

lá liên bang (Federal Cigarette Labelling and Advertising Act) Luật này quy định các nhà sản xuất, đóng gói và nhập khẩu phải báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Y

tế và Dịch vụ Nhân dân các thành phần của thuốc lá17

Trang 37

dịch vụ sửa chữa xe hay thuê khách sạn, nhà nghỉ đều được quy định hết sức cụ thể và chính xác

 Ủy ban an toàn người tiêu dùng (gọi tắt là CCS)

Ủy ban này được thành lập từ năm 1985, đây là một cơ quan hành chính

có nhiệm vụ là nâng cao công tác phòng chống rủi ro liên quan đến việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ (những rủi ro của cuộc sống hàng ngày không bao gồm tai nạn giao thông và những tai nạn ở nơi làm việc)

Theo Điều L.224, mục 2, Nghị định số 89/445 ngày 03/07/1989, CCS có

ba nhiệm vụ chính, đó là: Cung cấp bất kỳ biện pháp phòng ngừa nào nhằm cải thiện công tác phòng chống rủi ro đối với sức khỏe và an toàn khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ; Xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn và Thông báo cho công chúng thông qua các thông cáo báo chí, bản tin và mục bản tin định kỳ

Nhìn chung, các cơ quan Nhà nước ở các quốc gia vừa kể trên đều đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Mỗi văn bản pháp luật được ban hành đều được sự quản lý và giám sát của một cơ quan chức năng chuyên biệt Điều này

đã làm nên sự khác biệt trong công cuộc quản lý giữa các cơ quan bảo vệ NTD khác nhau, từ đó làm cho công tác xử lý các yêu cầu của NTD được dễ dàng, thuận tiện hơn Bên cạnh đó, các cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD ở các nước này đều đã dần đơn giản hóa các phương thức, thủ tục, khiến NTD chủ động hơn trong việc khiếu nại giành lại quyền lợi cho bản thân NTD nhờ

đó cũng ngày càng tin tưởng vào sự bảo vệ của Nhà nước và các cơ quan quản

lý pháp luật bảo vệ NTD này

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA HỆ THỐNG

CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các

cơ quan quản lý Nhà nước

Trong quá trình thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, hệ thống các

cơ quan quản lý Nhà nước tại Việt Nam thời gian qua đã có những bước củng

cố quan trọng trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành tuy nhiên cũng không tránh khỏi những hạn chế còn tồn tại Tác giả sẽ đi vào nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các cơ quan quản lý nhà nước trên

cơ sở thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan

và thực trạng hoạt động của những cơ quan này

2.1.1 Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thực trạng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được thể hiện qua một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về tổ chức, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được xây dựng từ trung ương đến địa phương, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định trong việc phân công, phân nhiệm về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan

Từ năm 2004 đến nay, chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được giao cho Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) tại Nghị định số 29/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16/01/2004 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Thương mại Tiếp nhận nhiệm vụ này, Bộ Thương mại, sau này là Bộ Công thương đã giao cho Cục Quản lý Cạnh tranh là cơ quan giúp việc Bộ trưởng thực hiện chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Tại các địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giao cho Sở Công thương là cơ quan giúp Ủy ban

Trang 39

nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD tại địa phương Cục Quản lý Cạnh tranh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn chuyên môn về công tác bảo vệ NTD cho các cán bộ Sở Công thương và các cơ

quan có liên quan khác

Từ năm 2011, Cục Quản lý cạnh tranh đã tham mưu để Bộ Công thương

ra các văn bản chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện hoạt đông quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương, trong đó có hoạt động kiện toàn, hoàn thiện cơ quan quản

lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD và các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi NTD Trên cơ sở đó, tại nhiều tỉnh, thành phố, hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD đã được ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm, tạo điều kiện về nguồn lực cũng như điều kiện hoạt động Tại một số Sở Công thương ở các tỉnh, thành, hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD từng bước đã đi vào nề nếp và đạt được những kết quả đáng ghi nhận

Bên cạnh cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, việc hình thành các tổ chức xã hội (các hội bảo vệ quyền lợi NTD) để tham gia vào công tác bảo vệ NTD là hết sức quan trọng Vì vậy, Cục Quản lý cạnh tranh đã phối hợp với các tỉnh, thành phố xúc tiến thành lập các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD, đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ các hội bảo vệ quyền lợi NTD đã được thành lập để các tổ chức này hoạt động có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam

Tuy nhiên, mặc dù hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam được tổ chức tương đối đầy đủ từ trung ương đến địa phương nhưng giữa các cơ quan quản lý nhà nước các cấp không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, thống nhất trách nhiệm từ trung ương tới địa phương trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể là ở cấp Trung ương, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan quản lý chuyên trách của Bộ công thương về bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan này nữa là quản lý hoạt động cạnh tranh và phòng vệ thương mại Vì vậy công tác bảo vệ quyền lợi NTD được giao cho Phòng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhỏ trong Cục, với cơ sở vật chất và nhân lực còn rất hạn chế (hiện nay là 11 người

Trang 40

trong biên chế) Điều này ảnh hưởng lớn tới nhận thức của xã hội, của doanh nghiệp, của những NTD và ảnh hưởng tới hiệu quả công tác bảo vệ NTD của các cấp địa phương trong thời gian qua Giữa cấp trung ương và các cấp địa phương không được phân công nhiệm vụ cụ thể, thống nhất trách nhiệm dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, phớt lờ trách nhiệm trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD trên cả nước Tương tự như cấp trung ương, ở cấp tỉnh, công tác quản lý hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD cũng được giao cho Ủy ban nhân dân theo Điều 49 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD nhưng cơ quan này cũng được giao nhiều loại nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực khác nhau dẫn đến không có

sự tập trung chuyên môn Theo phản ánh từ thực tế ở các tỉnh mặc dù được Ủy ban nhân dân giao nhiệm vụ như vậy thì chưa có Sở công thương nào có chuyên viên chuyên trách về bảo vệ quyền lợi NTD, tất cả các chuyên viên phụ trách trong lĩnh vực này đều là kiêm nhiệm do nhiệm vụ phân công không được rõ ràng và không được chú trọng về mặt chuyên môn, thường là chỉ mang tính chất đối phó phục vụ cho việc báo cáo hàng năm Điều 49 cũng không phân định rõ

là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì thực hiện những nhiệm vụ gì còn Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã thì thực hiện những nhiệm vụ gì Thực tế ở các cấp huyện, xã thì Ủy ban nhân dân cấp huyện tự quyết định đơn vị giúp Ủy ban thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Điều đó dẫn đến tình trạng mỗi tỉnh, huyện, xã lại có cách phân công nhiệm vụ và quản lý khác nhau cho các đơn vị chuyên môn; có nơi giao cho Chi cục quản lý thị trường (Hải Dương), có nơi giao cho Phòng quản lý thương mại (Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Đà Nẵng Bắc Giang, Phú Thọ, Nghệ An), có nơi giao cho Phòng kinh

tế đối ngoại (Hà Nội) hoặc Phòng pháp chế (Cà Mau)18…

Thực tiễn công tác bảo vệ quyền lợi NTD trong thời gian qua cho thấy hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD chưa được các cơ quan quản lý nhà nước tại các địa phương xem là một trong những nhiệm vụ phải thực hiện, thiếu vắng các chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra thường xuyên của các cơ quan cấp trên đối với

18

Nguyễn Văn Thành, Nguyên phó ban bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Cục quản lý cạnh tranh,

“Thực trạng năng lực và các giải pháp tăng cường năng lực của ủy ban nhân dân các cấp trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm