TÍN H CẤP TH IẾT CỦA VIỆC NGH IÊN CỨU ĐỀ TÀI Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, thủ tục giải quyết vụ án kinh doanh thương mại KDTM tại Tòa án thực hiện theo các quy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TƯỞNG THỊ LAN
THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG M ẠI – TH ỰC TIỄN G IẢI Q UYẾT TẠI TÕ A ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÕA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
M ã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚN G DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN CÔN G BÌN H
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch ưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tưởng Thị Lan
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dâ n sự
BPKCTT : Biệ n pháp khẩn cấp tạm thời
NXB : Nhà xuất bả n
Trang 4M ỤC LỤC
Chương 1: THỦ TỤC SƠ THẨ M VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠN G
2.1 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và đội ngũ cán bộ Tòa án nhân
dân huyện Ứng Hòa ảnh hưởng đến giải quyết vụ án kinh doanh thương
mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thàn h phố Hà nội
36
2.2 Kết quả giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hòa thành phố Hà nội
41
2.3 Những tồn tại và nguyên nhân trong giải quyết vụ án kinh doanh thương
mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà nội
43
Chương 3: M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ RÖT RA TỪ THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯ ƠNG MẠI TẠI TÕA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN ỨNG HÕA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
55
3.1 Một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật thủ tục sơ thẩm vụ án kinh
doanh thương mại
55
3.2 Một số kiến nghị về thực hiện pháp luật thủ tục sơ thẩm vụ án kinh
doanh thương mại
62
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 TÍN H CẤP TH IẾT CỦA VIỆC NGH IÊN CỨU ĐỀ TÀI
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, thủ tục giải quyết
vụ án kinh doanh thương mại (KDTM ) tại Tòa án thực hiện theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của của Bộ luật Tố tụng dân sự (LSĐBSBLTTDS) về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung Trong đó, thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM bao gồm các thủ tục như xem xét điều kiện thụ lý vụ án, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
và xét xử sơ thẩm vụ án
Nếu như trước đây, số lượng các vụ án KDTM phát sinh tại Tòa án không nhiều thì trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ KDTM nảy sinh ngày càng đa dạng, theo đó những vụ án
K D TM Tòa án ph ải thụ lý, g iải quyết ngày càng nhiều và phức tạp R iêng ở huyện Ứng Hòa thì loại vụ án này Tòa án phải thụ lý giải quyết lại càng nhiều và phức tạp bởi Ứng Hòa trước đây là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ nhưng kể từ năm 2008 đã được sáp nhập vào thành phố Hà Nội, trở thành một huyện ngoại thành thành phố Hà Nội nên tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí không đồng đều, công tác quản lý nhiều bất cập Thực tế việc giải quyết các vụ án KDTM của các Tòa án cho thấy các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành còn nhiều bất cập, các tranh chấp KDTM có nhiều điểm khác với tranh chấp dân sự nhưng được giải quyết theo các quy định chung về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung mà không có các quy định riêng là chưa phù hợp Vì vậy, BLTTD S tuy đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhưng v ẫn cần tiếp tục được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Xuất phát từ những lý do trên, Tác giả đã lựa chọn
đề tài “Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại - Thực tiễn giải quyết tại
Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật
học của mình
Trang 62 TÌNH HÌNH NGH IÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung và thủ tục sơ thẩm vụ án
K D TM nói riêng đ ã được giới kho a học pháp lý và nhất là những ngườ i trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Nh iều vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng BLTTDS và LSĐBSBLTTDS trong thực tiễn giải quyết các vụ án KDTM đã được các bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý đề cập,
trao đổi như bài "Áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh
chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án - Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện BLTTDS” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương đăng trên tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 3/2010; bài "Một số khó khăn khi áp dụng các Biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án ” của
tác giả Vũ Đức Hoàng đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 19/2010; bài "Một số
kiến nghị liên quan đến quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án theo Điều 29 BLTTDS” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh
đăng trên tạp chí Nghề luật số 3/2010 Và gần đây nhất là bài viết "Thực tiễn áp
dụng pháp luật trong việc giả i quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án” của tác giả Triệu Thị Q uỳnh H oa đ ăng trên tạ p chí Tòa án nh ân dân số
19/2012 Tuy vậy, các bài viết này mới chỉ đề cập, giải quyết đ ược một số vấn đề riêng lẻ của thủ tục giải quyết vụ án KDTM Cho đến nay vẫn chưa có công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về " Thủ
tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại”
3 ĐỐI TƢỢN G VÀ PHẠM V I NG HIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu đề tài gồm các vấn đề sau:
Trang 7- Thực tiễn thực hiện thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM tại Tòa án cấp sơ thẩm Phạm vi nghiên cứu đề tài gồm những vấn đề cơ bản sau:
- N hững vấn đề lý luận cơ b ản về thủ tục sơ th ẩm vụ án K D TM như k hái niệm, đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM ;
- Đ ường lối, qu an điểm của Đ ảng và N hà nước ta về cải cách tư ph áp ở Việt Nam trong những năm gần đây;
- Các quy định của pháp lu ật V iệt N am hiện hành về thủ tục sơ thẩm vụ án
4 MỤC ĐÍC H VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Đ Ề TÀI
Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục đích sau đây:
án nhân dân huyện Ứng H òa thành phố H à N ội
Để đạt được các mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ:
- N ghiên cứu những vấn đề lý lu ận cơ bản v ề thủ tụ c sơ th ẩm vụ án KDTM như khái niệm, đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM ;
- N ghiên cứu các quy định củ a pháp luật V iệt N am hiện hành về thủ tụ c sơ thẩm vụ án KDTM ;
Trang 8- K hảo sát v à thực tiễn thực hiện các quy đ ịnh củ a pháp luật V iệt N am hiện hành về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội để nhận diện những vướng mắc, bất cập từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện và thực hiện
5 PHƯƠN G PHÁP NG HIÊN CỨU
Đề tài Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng H ồ Chí M inh và đường lối của Đ ảng Cộng sản V iệt N am về N hà nước và pháp luật
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp lịch sử, phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu
6 NHỮN G ĐIỂM M Ớ I CỦA LUẬN VĂN
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện về vấn đề liên quan đến thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM theo quy định
của LSĐ BSBLTTD S nên có một số điểm mới sau:
- X ây dựng khái n iệm thủ tụ c sơ thẩm vụ án K D TM ; ch ỉ rõ đặc điểm của thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM ;
- Làm rõ nh ững nội dung cơ bản củ a thủ tục sơ thẩm vụ án K D TM theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành ;
- Tìm ra được những điểm bất cập của pháp lu ật về thủ tục sơ thẩm vụ án
K D TM và thực tiễn th ực h iện, từ đó đ ề xuất đượ c những giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án KDTM của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội
Trang 97 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm: Lời nói đầu, phần nộ i dung và kết luận Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
C hương 1: Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
C hương 2: Thực tiễn g iải quyết vụ án kinh doanh thương m ại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội
C hương 3: M ột số kiến nghị rút ra từ thực tiễn giải quyết vụ án k inh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội
Trang 10Chương 1:
THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam chưa có điều luật n ào quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM Thuật ngữ KDTM còn được hiểu nhầm lẫn với các thuật ngữ khác như thương mại, kinh tế dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ án KDTM Vì vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM là điều cần thiết để làm cơ sở pháp
lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục trong quá trình giải quyết các vụ án KDTM
Ở góc độ ngôn ngữ phổ thông, "kinh doanh" là tổ chức, sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời, "kinh tế" là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, "thương mại" là thực hiện lưu thông hàng hóa
bằng mua bán [51]
Theo cách hiểu này, nội hàm tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm cả tranh chấp kinh doanh, thương mại Có thể bao quát tranh chấp kinh tế gồm các tranh chấp kinh doanh, thương mại: Tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu
tư, tranh chấp giữa quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại song phương và đa phương, tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại đa phương Kinh tế
có sự bao hàm yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác
Ở góc độ pháp lý, hiện nay hầu hết quan điểm lại đồng nhất "tranh chấp
kinh tế" với "tranh chấp KDTM"
Trang 11Ở Việt Nam, quan niệm về tranh chấp kinh tế có những điểm khác nhau qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với
hệ thống chi tiêu, kế hoạch do nhà nước giao Hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế, mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước Do vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồn g kinh tế là một
kỷ luật bắt buộc chứ không hoàn toàn từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng Vì vậy, trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan chủ quản Trách nhiệm ph át sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế nh ẹ về y ếu tố v ật chất mà nặng về tính chất hành chính
Có thể nói trong giai đoạn này, các quan hệ kinh tế vốn khá đơn giản về nội dung và thành phần chủ thể, lại được điều chỉnh bởi kinh tế Nhà nước Vì vậy, các tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước Các tranh chấp kinh tế trong giai đoạn này không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh doanh, thương mại, tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi thiết thực của các bên mà chủ yếu vì sự ổn địn h, hài hòa chung cho cả nền kinh tế
Trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của W T O năm
2007, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh các Doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình công ty và hộ kinh doanh
cá thể Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú
và tính chất phức tạp Trong điều kiện đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường
Trang 12kinh doanh lành mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên
cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình Trong giai đoạn này, kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và n ghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế
Trong Luật Thương mại năm 2005 (LTM) không đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại, mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại, theo đó hoạt
động thương mại là "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (Khoản 1 Điều 3 LTM ) Theo khái niệm này, quan niệm về
hoạt động thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi Hướng tiếp cận này của LTM cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật
Doanh nghiệp 2005: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (Khoản 2 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp)
Theo Điều 29 BLTTDS thì tranh chấp KDTM được hiểu là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Theo quy định của BLTTDS có thể hiểu rằng, tranh chấp KDTM thực chất là tranh chấp kinh tế đã được m ở rộng nội hàm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung của tranh chấp KDTM được liệt kê tại Điều 29 BLTTDS, thực chất cũng là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của LTM Tuy có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau và có sự thay đổi trong thuật ngữ pháp lý, nhưng thực tế đều nhìn nhận những xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ KDTM là tranh chấp KDTM Nhìn chung quan niệm về hoạt động
Trang 13thương mại và tranh chấp KDTM được thể hiện qua các quy định trong văn bản
pháp luật thời gian gần đây là khá nhất quán Như vậy, tranh chấp KDTM là sự
bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể kinh
doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động KDTM
Trong lĩnh vực dân sự, khi các tranh chấp dân sự xảy ra, đương sự khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án dân sự Theo đó, những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động, được quy định tại các Điều 25, Điều 27, Điều 29 và Điều 31 BLTTDS do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện mà được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án dân sự Trong đó, các tranh chấp về KDTM được quy định tại Điều 29 BLTTDS được Tòa án thụ
lý giải quyết được gọi là vụ án KDTM
BLTTDS bao gồm 418 điều và được cơ cấu thành 9 phần, trong đó bao gồm cả những quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ
án dân sự Thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng được thực hiện theo các quy định từ Điều 161 đến Điều 310 BLTTDS 2004 Còn những vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng được quy định tại Phần thứ nhất của BLTTDS (từ Điều 1 đến Điều 160) bao gồm những quy định về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án nhân dân, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, chứng minh và chứng cứ, biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấp, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện, án phí Các quy định này quy định về nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết vụ án KDTM, quyền
và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khi giải quyết
vụ án KDTM
Theo Từ điển Tiếng Việt 1997 của Viện Ngôn ngữ học thì “thủ tục là
những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc
có tính chất chính thức”[51, tr 927] Thủ tục bảo đảm việc giải quyết công việc
có hiệu quả Khi giải quyết các công việc đều phải theo thủ tục nhất định Theo
Trang 14quy định của BLTTDS, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động đều được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự Do đó, thủ tục giải quyết vụ
án KDTM là một trong những thủ tục của thủ tục tố tụng dân sự (TTDS)
Theo quy định tại Đ iều 17 BL TTD S, Toà án thực h iện ch ế độ hai cấp x ét xử: sơ thẩm và phúc thẩm Do vậy, các vụ án K DTM cũng có thể được xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ
án KDTM nào cũng phải trải qua xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tò a án cấp phúc thẩm Tùy vào kết quả việc giải quyết vụ án K DTM ở Tòa án cấp sơ thẩm
và tùy thuộc vào việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự mà việc giải quyết vụ án KDTM ở cấp sơ thẩm có thể kết thúc ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc phiên tòa sơ thẩm
Theo Từ điển G iải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đ ại họ c Lu ật H à
N ội thì "sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự" [49, tr 225] Thủ tục tố tụng lần
đầu giải quyết vụ án được gọi là thủ tục sơ thẩm
Từ những điều phân tích ở trên , có thể rút ra k ết luận : “Thủ tụ c sơ thẩm vụ
án KD TM là thủ tục TTD S xét xử lần đầu vụ án KD TM , được Tòa án có thẩm quyền áp dụng để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kin h tế phát sinh trong hoạt động KDTM, bao gồm thủ tục khởi kiện và thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm
và xét xử sơ thẩm vụ án KD TM ”
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Trong pháp lu ật tố tụng dân sự V iệt N am hiện tại không có quy định riêng
về trình tự thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án KDTM mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ áp dụng các quy định về trình tự thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự nói chung
để giải quyết các tranh chấp KDTM phát sinh Do đó, thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM cũng mang những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự như sau:
Trang 15- Là thủ tục cơ bản của tố tụng dân sự được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định quy định trong BLTTDS bao gồm các việc như khởi kiện và thụ lý vụ
án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phiên tòa sơ thẩm vụ án
- Là thủ tục tố tụng đầu tiên giải quyết tranh chấp của các bên đương sự nên phán quyết của Tò a án trong bản án, quyết định không phải là phán quyết cuối cùng, đương sự vẫn có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị bản án, quyết định
Tuy vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự, thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM cũng có một số đặc điểm riêng sau:
- Về chủ thể khởi kiện vụ án KD TM , đối với vụ án K D TM chủ thể khởi
kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) – đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện
vụ án KDTM đó là khi tham gia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ đó đều có mục đích lợi nhuận
- Về các tài liệu, ch ứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện, đối vớ i vụ án
KDTM do chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh nên khi nộp đơn khởi kiện, để được Tòa án chấp nhận thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động của pháp nhân… để chứng minh tư cách chủ thể của mình
- Về hình thức đơn khởi kiện, đối với các vụ án K D TM cần lưu ý đến
người đứng tên trong đơn khởi kiện Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân như Côn g ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hay
hộ kinh doanh cá thể, do đó, người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Người đại diện theo pháp luật của
Trang 16pháp nhân cũng có thể ủy quyền cho người kh ác ký đơn khởi kiện v à tham gia tố tụng tại Tòa án Khi đó, Tòa án cần kiểm tra việc ủy quyền ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng đó có đúng quy định pháp luật hay không Ngoài ra, đương sự là công ty thì đơn khởi kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn
- Về sự tham gia của Kiểm sát viên , trên thực tế đối với các vụ án K D TM
thường rất phức tạp, để giải quyết đúng vụ án thì Tòa án đều phải tiến hành thu thập chứng cứ nên hầu hết đều có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là bắt buộc Nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì HĐXX phải hoãn phiên tòa
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KD TM , do yêu cầu của ph át triển sản
xuất, kinh doanh, thời hạn việc giải quyết vụ án KDTM được pháp luật quy định ngắn hơn thời hạn giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hôn nhân và gia đình và vụ
án lao động
- Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), đối với vụ án
KDTM Tòa án không thể tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT Trong quá trình giải quyết vụ án KDTM nếu đương sự có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT thì Tòa án mới xem xét có ra quyết định áp dụng BPKCTT hay không
- Về án phí, việc giải quyết vụ án KD TM không có trường hợp nào được
miễn án phí và mức án phí phải nộp trong các vụ án KDTM thường là rất lớn
1.2 THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1.2.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
1.2.1.1 Khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại
Thủ tục giải quyết vụ án K D TM là thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng cho trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ KDTM, khi đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì một hoặc các bên chủ thể sẽ nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để thực hiện quyền khởi kiện vụ
án K D TM của mình M ặc dù quyền khở i kiện vụ án K D TM là quyền củ a công dân được pháp luật Việt Nam ghi nhận, song theo quy định tại các Điều 161, 162,
Trang 17168 v.v của BLTTD S, muốn khởi kiện vụ án K D TM phải đáp ứng các điều kiện sau:
Một là, đáp ứng điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án KDTM
Chủ thể khởi kiện trong vụ án KDTM nói riêng và vụ án dân sự nói chung phải có năng lực chủ thể tố tụng dân sự, bao gồm năng lực pháp luật tố tụng dân
sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực pháp luật tố tụng dân sự l à khả năng pháp luật quy định cá nhân, tổ chức có các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân
sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự
Đối với vụ án KDTM, chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) - đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa là khi nộp đơn khởi kiện, để được Tòa án chấp nhận thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động của pháp nhân để chứng minh tư cách chủ thể của mình
Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh
có tư cách pháp nhân Đó là công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể Vì vậy, cần lưu ý đến người đứng tên trong đơn kiện các vụ án KDTM Người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Riêng đối với công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật của công ty nhưng Chủ tịch H ội đồng thành viên kiêm G iám đốc
là đại diện cho công ty với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án Do
đó, Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền kí đơn khởi kiện Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp là người kí đơn khởi kiện Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng có thể uỷ quyền cho người khác kí đơn kiện và tham gia tố tụng tại Toà án Ngoài ra, đương sự
là công ty thì đơn kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn
Trang 18N goài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện vụ án K D TM đó
là khi tham gia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ đó đều có mục đích lợi nhuận "Mục đích lợi nhuận" của cá nhân, tổ chức trong hoạt động KDTM là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động KDTM đó (Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 03/2012/NQ - HĐTP)
H ai là, vụ án KD TM được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án
Tòa án chỉ thụ lý vụ án KDTM để giải quyết khi vụ án đúng thẩm quyền xét xử của mình Do đó, để đơn khởi kiện vụ án KDTM được thụ lý thì yêu cầu đầu tiên pháp luật đặt ra là trong hợp đồng KDTM giữa các bên chủ thể không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài giữa các bên b ị vô hiệu Yêu cầu tiếp theo là việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án,
được thể hiện ở ba phương diện: Thứ nhất, vụ án KDTM mà chủ thể nộp đơn
khởi kiện phải thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại
Điều 29 BLTTDS Thứ hai, vụ án KDTM được khởi kiện phải đúng với cấp Tòa
án có thẩm quyền giải quyết quy định tại Điều 33, Điều 34 BLTTDS Thứ ba, vụ
án KDTM được khởi kiện phải đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 35 BLTTDS Nếu Tòa án nhận đượ c đơn khởi kiện là Tòa án do các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì ngoài việc gửi đơn khởi kiện còn phải kèm theo văn bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án KDTM giữa các bên
Ba là, việc yêu cầu Tòa án g iải quyết vụ án K D TM phải ch ưa đ ược giải
quyết bằng một bản án, quyết định của Tòa án; phán quyết của Trọng tài thương mại hay quyết định của cơ quan nhà nước đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật Vì để bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; phán quyết của Trọng tài thương mại hay quyết định của cơ quan nhà nước thì phải thi hành khi chúng có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định được khởi kiện lại
Trang 19Ngoài ra, việc khởi kiện phải được thực hiện bằng đơn khởi kiện gửi cho Tòa án có th ẩm quy ền N ội dung đơn khởi k iện theo quy đ ịnh tại K hoản 2 Đ iều
164 BLTTD S v à m ẫu đơn b an hành kèm th eo N ghị quyết số 05/2012/N Q -H Đ TP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANTC) hướng dẫn thi hành một số quy định tron g Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của B LTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo LSĐ BSBLTTD S
1.2.1.2 Thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Thụ lý vụ án K D TM là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện vụ án K D TM của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết Cũng như các vụ án dân sự nói chung, theo Điều 167 và Điều 168 BLTTDS, thụ lý vụ án KDTM thuộc trách nhiệm của Tòa án nơi nhận được đơn khởi kiện vụ án K D TM Sau khi nhận được đơn khởi kiện vụ án KDTM của đương sự, Tòa án phải tiến hành các quy trình tố tụng trong thời hạn nhất định bao gồm:
Thứ nhất, Tòa án tiến hành nhận đơn khởi kiện và nghiên cứu trong thời
hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn để ra một trong các quyết định sau: Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác hoặc trả lại đơn khởi kiện Nếu thấy nội dung đơn khởi kiện không đáp ứng các nội dung cơ b ản phải có được quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTDS thì Tòa án phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Tòa án ấn định nhưng không quá 30 ngày, trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày [18] Sau khi người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định thì Tòa án tiếp tục làm thủ tục thụ lý vụ án Nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
và tài liệu chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện
Thứ hai, Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo,
nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thì Tòa án cần dự tính tiền tạm ứng án phí và thông báo ngay cho người khởi kiện để họ làm thủ tục nộp tiền tạm
Trang 20ứng án phí Về mức đóng án phí sơ thẩm của vụ án KDTM có hai loại: một là, đối với các vụ án KDTM không có giá ngạch mức án phí là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng chẵn); hai là, đối với các vụ án KDTM có giá ngạch thì có 6 (sáu) mức
2.000.000.000 đồng
36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến
4.000.000.000 đồng
72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng
112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải n ộp tiền tạm ứng án phí
Thứ ba, khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án
phí, Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án
Quy định về việc thụ lý vụ án có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt ra trách nhiệm cho Tòa án phải giải quyết vụ án trong thời gian luật định Việc thụ lý vụ
án còn nhằm bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân
1.2.2 Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thươ ng mại
Chuẩn bị xét xử vụ án K D TM là m ột g iai đoạn độc lập trong thủ tụ c giải quyết vụ án K D TM tại Tò a án b ao gồm các ho ạt động từ sau khi thụ lý nh ư phân
Trang 21công thẩm phán giải quyết vụ án ; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án; tiến hành hò a giải; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thờ i; ra các quyết định tạm đ ình chỉ, đ ình chỉ giải quyết vụ án hoặc quyết đ ịnh đưa vụ án ra xét xử Có thể thấy, đây là giai đoạn tố tụng rất quan trọng, trong g iai đo ạn này Tò a án sẽ nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án để xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thu thập chứng cứ phục vụ cho việc ra một phán quyết, quyết định đúng đắn về vụ án trong phiên tòa sơ thẩm Nhìn chung, giai đo ạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án K D TM là giai đoạn rất quan trọng, làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đ ảm bảo cho v iệc x ét x ử và ra các phán quyết của Tòa án được kh ách qu an, toàn diện và đúng pháp luât
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM là 2 (hai) tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thêm 1 (một) tháng [18] Quy định này của pháp luật tố tụng dân sự là không hợp lý bởi lẽ rất nhiều các vụ án KDTM có tính chất phức tạp, số lượng đương sự nhiều, nhiều vụ án không chỉ đơn giản là giải quyết mâu thuẫn giữa các bên đương sự trong quan hệ kinh doanh mà còn phải giải quyết mâu thuẫn về việc xử lý tài sản thế chấp là các bất động sản, hàng hóa lưu kho Khi đó, các Thẩm phán giải quyết vụ án KDTM cũng phải tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng như các vụ án dân sự thông thường khác Vì lẽ đó, việc BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM ngắn hơn thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ
án dân sự khác hay các vụ án về hôn nhân và gia đình là hoàn toàn bất hợp lý, khiến cho việc giải quyết các vụ án KDTM trong nhiều trường hợp phải tiến hành gấp gáp, gây áp lực cho các Thẩm phán giải quyết nên dễ dẫn đến nhiề u sai sót
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM, các công việc chuẩn
bị xét xử chủ yếu được tiến hành bao gồm:
Thứ nhất, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án
Trang 22Vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án Việc phân công này là cơ sở để Thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ
án đã được giao, đồng thời để Thẩm phán thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 41 BLTTDS, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật
Theo quy định tại Điều 172 BLTTDS thì: “Trong thời hạn ba ngày làm
việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ, trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án được xét xử lại từ đầu ”[18]
Thứ hai, thông báo việc thụ lý vụ án
Sau khi đã tiến hành các công việc thụ lý, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ biết được vụ án đã được thụ lý Tòa án cũng phải thông báo cho V iện kiểm sát (V KS) cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án
để VKS thực hiện chức năng kiểm sát của mình đối với việc giải quyết vụ án của Tòa án
Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS: "trong thời hạn 3 ngày làm việc kể
từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải gửi thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho VKS cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Văn bản thông báo phải có các nội dung sau:
- N gày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
- Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
- N hững vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;
- Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng v ăn bản nộp cho Tòa
án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu có
Trang 23Thời hạn này được pháp luật quy định là 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày nữa
- H ậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu" [18]
Pháp luật quy định về việc thông báo việc thụ lý cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nhằm bảo đảm quyền lợi cho đương sự Thông báo thụ lý để bị đơn biết được nguyên đơn khởi kiện những vấn đề gì, biết được những tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp từ đó mà bị đơn sẽ chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu chứng cứ ra Tòa án thì họ sẽ phải chuyển một bộ hồ sơ
đó cho bị đơn, sau đó Tòa án mới tiến hành thụ lý giải quyết vụ án
Thứ ba, lập hồ sơ vụ án
Để lập hồ sơ vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, Tòa
án xác định các tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu của đương sự khởi kiện
vụ án KDTM Khi nhận được các chứng cứ, tài liệu kèm theo Tòa án phải đưa chúng vào hồ sơ vụ án Thủ tục giao nhận chứng cứ tài liệu được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 84 BLTTDS Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng và phải có danh mục ghi lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ
án, căn cứ vào pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự Khoản 1 và Khoản
2 Điều 85 BLTTDS quy định : “Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối
Trang 24chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với ngư ời làm chứng; trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặ c hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự ” [18]
Thứ tư, hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Theo Điều 10 BLTTDS quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa
giải và tạo điều kiện thuận lợi để đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS” [18] và khoản 1 Điều 180
BLTTDS quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến
hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ Luật này”[18] Như vậy, hòa giải trong
giải quyết vu án KDTM là một thủ tục bắt buộc trừ trường hợp tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội (Khoản 2 Điều 181 BLTTDS) Nếu vụ án KDTM thuộc trường hợp phải tiến hành hòa giải song đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định mà không có thủ tục hòa giải thì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án, quyết định đó có thể bị hủy
Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương
sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải ( Điều 183 BLTTDS)
Thành phần tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 184 BLTTDS bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải; Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải; các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ; Người phiên dịch nếu đương sự không biết tiếng việt; Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hòa giải Trình tự tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 185a BLTTDS
Việc quy định bắt buộc hòa giải trong giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án
là xuất phát từ nguyên tắc chung được quy định tại Điều 5 BLTTDS về quyền
Trang 25quyết định và tự định đoạt của đương sự, trong đó quy định các đương sự có quyền thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức
xã hội nên trong quá trình giải quyết vụ án KDTM, trước khi đưa vụ án ra xét xử Toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
Trong quá trình hòa giải vụ án KDTM, ngoài việc là người đứng ra chủ trì pháp lý, Thẩm phán còn có vai trò như một nhà phân tích tâm lý học am hiểu về tâm lý con người Ngoài việc phân tích những khía cạnh thuận lợi nếu hòa giải thành như: giảm 50% án phí, không phải đưa vụ án ra xét xử sẽ giảm được chi phí và thời gian tham gia tố tụng, duy trì được mối quan hệ đoàn kết, hợp tác kinh doanh, thuận lợi về thi hành án, Thẩm ph án cũng cần xoa dịu sự bất đồng giữa các bên đương sự bằng việc đề cập đến vấn đề tình hình kinh tế trong nước
và thế giới gặp nhiều khó khăn, diễn biến bất lợi của thị trường tài chính, thị trường bất động sản, giá cả một số mặt hàng tăng đã tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nên vấn đề thanh toán không đúng cam kết như trong hợp đồng hay việc thực hiện không đúng tiến độ của hợp đồng là việc khó tránh khỏi Từ đó, các bên đương sự hiểu và có sự thông cảm, chia sẻ hơn với nhau nên hòa giải thành và Tòa án không phải đưa vụ án ra xét
xử
Việc hòa giải thành có ý nghĩa về nhiều mặt, vì nó không những góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang có tranh chấp, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp mà còn bảo đảm cả lợi ích của Nhà nước và của xã hội Bên cạnh đó, Hòa giải thành có tác dụng làm cho các bên tranh chấp tự nguyện, tự giác thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của họ, tránh việc phải sử dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong quá trình thi hành án Đồng thời, vụ việc tranh chấp cũng không phải xử đi
xử lại nhiều lần, giảm bớt tốn kém về nhiều mặt của các bên đương sự cũng như của Nhà nước Được coi là hòa giải thành khi các bên đương sự thỏa thuận đư ợc với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án
Thứ năm, các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Trang 26- Q uyết định áp dụng BPKCTT
Đối tượng của vụ án mà các đương sự hướng tới trong đa số các vụ án KDTM là tài sản nên để tránh việc đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc nhằm đảm bảo cho thi hành án dân sự, khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án thường áp dụng các BPKCTT như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền
về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng cho thấy các BPKCTT ít khi được Thẩm phán áp dụng Điều đó cho thấy các quy định về việc áp dụng các BPKCTT trong BLTTDS chưa thực
sự mang tính khả thi Ngoài nguyên nhân do các đương sự không yêu cầu, yêu cầu không đúng, không chính xác hoặc không có tài sản bảo đảm thì việc BLTTDS quy định nếu Thẩm phán (HĐXX) áp dụng các BPKCTT sai, gây thiệt hại có thể phải bồi thường thiệt hại nên các Thẩm phán e ngại khi áp dụng
- Q uyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Trong trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì hết thời hạn 7 (bảy) ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Khoản 1 Điều 187 BLTTDS) [18] Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (Khoản 1 Điều 188 BLTTDS) Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Khoản 2 Điều 188 BLTTDS)[ 18]
- Q uyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án tạm ngưng việc giải quyết vụ
án khi có những căn cứ do pháp luật quy định Đặc điểm của quyết định này là cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tạm thời cho ngừng việc giải quyết vụ án chứ không
Trang 27phải ngừng hẳn việc giải quyết vụ án Tính chất gián đoạn tạm thời này sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa Mục đích của việc ra Quyết định này là đảm bảo giải quyết vụ án không bị vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ g iải quyết vụ án KDTM theo Điều 189 BLTTDS gồm:
- Đ ương sự là cá nhân đ ã chết, cơ quan, tổ chức đ ã sáp nhập, ch ia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó;
- Đ ương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
- Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;
- Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước khi mới giải quyết được vụ án;
- Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án
mà thời hạn giải quyết đã hết;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và VKS cùng cấp
- Q uyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết
vụ án khi có những căn cứ do pháp luật quy định Đặc điểm của quyết định này là sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, các hoạt động tố tụng giải quyết
vụ án KDTM sẽ ngừng lại
Các căn cứ để Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM theo Điều 192 BLTTDS gồm:
Trang 28- N guyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
- Cơ quan, tổ chức đ ã bị giải th ể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
- N gười khởi kiện rút đơn khởi kiện và đ ược Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
- Các đương sự đã tự thỏa thuận và không y êu cầu Tòa án t iếp tục giải quyết vụ án;
- N guyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai m à vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng;
- Đ ã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp , hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
- Thời hiệu khởi kiện đã hết;
- Các trường hợp quy định tại K hoản 1 Đ iều 168 của Bộ luật n ày mà Tòa
Trang 29Quyết định đưa vụ án ra xét xử có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều
195 BLTTDS Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, VKS cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Trường hợp VKS tham gia phiên tòa theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp
1.2.3 Phiên tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
1.2.3.1 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm
N hững quy định chung về phiên tòa sơ thẩm đ ược quy định tại Chương
X IV và một số chương kh ác của B LTTD S bao gồm các quy đ ịnh về các vấn đề
cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các thủ tục buộc phải có khi tiến hành ph iên tò a sơ thẩm như: N guyên tắc tiến hành phiên tòa sơ th ẩm, thành phần H ội đồng xét xử (H Đ X X ), những người tham gia phiên tòa sơ th ẩm và hoãn phiên tòa sơ thẩm
- Về nguyên tắc tiến hành phiên tòa sơ thẩ m :
Để giải quyết đúng được các vụ án KDTM, việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm phải được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc, phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của tố tụng dân sự quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 24 của BLTTDS Ngoài ra, vì sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa là rất quan trọng cho nên phiên tòa sơ thẩm cần phải tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp hoãn phiên tòa ( Điều 196 BLTTDS) Từ đó, bảo đảm cho các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quy ền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Ngoài những yêu cầu trên, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân
sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS) Điều này là cần thiết nhằm giúp cho Tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chứng cứ một cách toàn diện Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục trừ thời gian nghỉ Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu
Trang 30đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được thì phải thay đổi thành phần HĐXX Trong trường hợp đặc biệt được BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngưng không quá 5 ngày làm việc Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục
- Về thành phần H ội đồng xét xử:
Theo quy định tại Điều 52 BLTTDS, thành phần HĐXX sơ thẩm vụ án KDTM gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì HĐXX có thể gồm 2 Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân
Trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào của HĐXX vì lý do đặc biệt không thể tham gia xét xử vụ án nữa thì việc thay thế thành viên đó được thực hiện theo quy định tại Điều 198 BLTTDS
- Về những người tham gia phiên tòa sơ thẩm :
Những người tham gia phiên tòa sơ thẩm được quy định từ Điều 199 đến Điều 207 của BLTTDS Theo đó, tất cả những người tham gia TTDS phải được triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm Đối với VKS, theo quy định tại Điều 21
BLTTD S đã được sửa đổi theo LSĐ BSBLTTD S thì "Viện kiểm sát nhân dân
tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có n hược điểm về thể chất, tâm thần” Quy định này là hoàn toàn hợp lý nhằm đảm bảo cho VKS hoàn thành
chức năng, nhiệm vụ của mình khi giám sát, kiểm tra hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án do hoạt động này có thể sai sót, thiếu minh bạch hoặc vi phạm thủ tục tố tụng mà cơ sở của hành vi này là một bên đương sự không có khả năng thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
- Về hoãn phiên tòa:
Việc hoãn phiên tòa được quy định tại Điều 208 BLTTDS Phiên tòa sơ thẩm dân sự giải quyết vụ án KDTM có thể bị hoãn khi phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, người làm chứng hoặc do sự vắng mặt của các bên đương sự, những người
Trang 31tham gia tố tụng khác hoặc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72, các Đ iều 199, 204, 205, 206, 207, 215 và khoản 4 Điều 203 BLTTDS và các trường hợp khác theo quy định của BLTTDS Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa
Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định Quyết định hoãn phiên tòa phải được lập thành văn bản Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 208 BLTTDS
Quyết định hoãn phiên tòa ph ải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX
ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó đồng thời gửi cho VKS cùng cấp Quy định này có tác dụng tránh việc hoãn phiên tòa tùy tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định
1.2.3.2 Thủ tục bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu ph iên tòa đượ c quy đ ịnh từ Điều 213 đến Đ iều 216 BLTTD S, bao gồm các thủ tục sau:
Thứ nhất, thủ tục khai mạc phiên tòa
Khai mạc phiên tòa là thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiến hành xét xử Thủ tục này bao gồm các công việc sau: Khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; Thư ký báo cáo với HĐXX về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập phiên tòa, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt; Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của các đương sự; Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai hay không
Thứ hai, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám
định, người phiên dịch
Trang 32Theo quy định tại Điều 214 BLTTDS thì “trong trường hợp có người yêu
cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu
rõ lý do”[18] Q uyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám đ ịnh,
người phiên dịch phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải lập thành văn bản Trong trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa
Thứ ba, xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Điều 215 BLTTDS quy định khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì Chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định theo thủ tục do BLTTDS quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý
do Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng xử án và phải được lập thành văn bản
Thứ tư, bảo đảm tính khách quan của người làm chứng
Người làm chứng biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết của vụ án KDTM Những thông tin mà người làm chứng khai báo, cung cấp cho Tòa án rất có giá trị cho Tòa án giải quyết vụ án Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan trong việc tham gia tố tụng của người làm chứng, Điều 216 BLTTDS quy định các biện pháp để đảm bảo tính khách quan trong lời khai của người làm chứng như: không để cho những người làm chứng nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan; trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng
Trang 331.2.3.3 Thủ tục hỏi tại phiên tòa
X ét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quy ết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của m ình trước Tò a án
Ở phiên tòa, HĐXX không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình b ày của các đương sự, những người tham g ia tố tụng kh ác, xem xét các tài liệu, vật chứng Chỉ sau khi nghe ý kiến của nh ững người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, HĐXX mới nghị án
để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án
Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự được Nhà nước khuyến khích Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trước khi xét xử vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi xem đến thời điểm này các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức
xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án phải được lập thành văn bản và có hiệu lực pháp luật ngay
Sau khi chủ tọa đã thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết như quy định tại các Điều 217, 218 và 220 BLTTDS nhưng có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên đương sự trong vụ án cũng không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì HĐXX bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe các bên đương sự trình bày về các yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp HĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án cũng như tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án do các bên đương sự cung cấp, giao nộp Điều 221 BLTTDS quy định trình tự các bên đương sự được trình bày việc kiện tại phiên tòa
Trang 34Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cùng song hành tham gia tố tụng, cả hai người đều có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của đương sự (Điều 221 BLTTDS) Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, củ a những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, thực hiện nghĩa
vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Sau khi Hội đồng xét xử nghe xong lời trình bày của các bên đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đ ề của vụ án được tiến hành ngay Theo quy định tại Điều 222 BLTTDS, các chủ thể có quyền tham gia vào quá trình hỏi tại phiên tòa gồm có: các thành viên của HĐXX, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên (nếu có) Trình tự hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành theo thứ tự chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến hội thẩm nhân dân, kế đến là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tiếp theo là đương sự, rồi đến những người tham gia tố tụng khác Trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì kiểm sát viên sẽ tiến hành hỏi sau đương sự
Việc hỏi được tiến hành riêng cho từng người, xong người này mới đến người khác (các Điều 223, 224, 225 và 226 BLTTDS) Các câu hỏi đã đặt ra phải liên quan đến vụ án và về những vấn đề đương sự, người bảo vệ của đương sự trình bày chưa rõ Đương sự được hỏi có thể tự trả lời hoặc người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay, sau đó đương sự bổ sung Mục đích của việc hỏi tại phiên tòa nhằm tìm ra tính chính xác, khách quan, tính hợp pháp của vụ án để từ đó HĐXX ra một phán quyết đúng đắn đảm bảo được
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét như quy định tại Điều 229 BLTTDS Việc xem xét các vật chứng, ảnh có liên quan đến vụ án sẽ giúp cho
Trang 35HĐXX xem xét các chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan và cũng là giúp cho các đương sự thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cùng với việc thực hiện quyền bảo vệ của mình trên cơ sở các chứng cứ được đưa ra trình trước Tòa án Để bảo đảm cho việc xem xét chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện và phán quyết của Tòa án là có căn cứ thì khi cần thiết HĐXX có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể mang đến phiên tòa được Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng nếu thấy cần thiết, HĐXX sẽ cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ngay tại phiên tòa, trừ trường hợp cần giữ bí m ật nhà n ước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự
1.2.3.4 Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tranh luận tại ph iên tò a sơ thẩm là hoạt động trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa
án Do đó, BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ đ ạo củ a đương sự trong việc tranh luận tại phiên tòa BL TTD S dành hẳn một mụ c với 4 Đ iều luật từ Điều 232 đến Đ iều 235 quy định về ho ạt động tranh lu ận tại ph iên tòa Đ iều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự th ật kh ách quan của vụ án và xu hướng đổi mới ho ạt động tư pháp ở nước ta, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp được nêu ra trong Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị
Vai trò điều khiển, hướng dẫn phần tranh luận vào việc làm sáng tỏ toàn
bộ các tình tiết của vụ án thuộc về chủ tọa phiên tòa Nội dung chính của tranh luận là thủ tục đối đáp giữa các đương sự Khi phát biểu, mỗi bên đưa ra đánh giá
cứ, tài liệu cũng như kết quả của việc hỏi tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận nhưng có quyền cắt những ý kiến k hông liên quan đến vụ án Trong phần này, HĐXX không tham gia tranh luận mà Chủ tọa phiên
Trang 36tòa chỉ điều hành cho việc tranh luận đúng thủ tục và đúng yêu cầu giải quyết vụ án.
Trình tự tranh luận phải được thực hiện theo quy định tại Điều 232 BLTTDS: (1) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu, Nguyên đơn bổ sung ý kiến; (2) người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu, Bị đơn bổ sung ý kiến; (3) người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bổ sung Nếu không có người bảo vệ thì tự đương sự phải trình bày
ý kiến của mình khi tranh luận
Trường hợp kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ tọa phiên tòa đề nghị kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quy ết vụ án của Thẩm phán, H Đ X X ; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án (Điều 234 BLTTDS)[18]
Nếu qua tranh luận mà HĐXX thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi, sau khi hỏi xong lại tiếp tục tranh luận theo quy định tại Điều 235 BLTTDS
1.2.3.5 Nghị án và tuyên án
- Nghị án:
Nghị án là một bước quan trọng đối với bất cứ cấp xét xử nào Trong đó, HĐXX xem xét, quyết định giải quyết vụ án Thủ tục nghị án được quy định tại Điều 236, Điều 237 BLTTDS với nội dung thể hiện tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp được đề ra trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị
Khi kết thúc phần tranh luận, HĐXX vào phòng nghị án để nghị án Chỉ có các thành viên của HĐXX mới được tham gia nghị án Trong quá trình nghị án không ai được vào phòng nghị án Như vậy, việc nghị án được tiến hành theo nguyên tắc bí mật nhằm đảm bảo cho việc nghị án của các thành viên HĐXX tập
Trang 37trung, tránh sự chi phối bên ngoài đối với việc ra phán quyết Khi nghị án cần tôn trọng nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số HĐXX vẫn giữ nguyên tắc làm việc như trong giai đoạn xét xử: có Hội thẩm nhân dân tham gia và Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 4 Luật Tổ chức TAND) [22]; HĐXX làm việc độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 5 Luật Tổ chức TAND) [22]
Trình tự nghị án được quy định tại khoản 2 Điều 236 BLTTDS, theo đó, Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng [18] Việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện cho Hội thẩm có tiếng nói khách quan, vô tư về việc giải quyết
vụ án, tránh tình trạng bị phụ thuộc hoặc bị áp đặt bởi ý kiến của Thẩm phán Hơn nữa, quy định này nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội thẩm trong hoạt động
tố tụng, buộc Hội thẩm phải đầu tư nghiên cứu và nắm vững nội dung vụ án cũng như các quy định pháp luật Có như vậy việc xét xử mới đạt hiệu quả
Biên bản nghị án do một thành viên HĐXX ghi lại và thể hiện đầy đủ tất cả các vấn đề mà HĐXX thảo luận và biểu quyết Người có ý kiến thiểu số có quyền ghi lại ý kiến của mình để lại trong hồ sơ vụ án Biên bản nghị án phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên HĐXX
- Tuyên án:
Sau khi bản án đã được thông qua, HĐXX trở lại phòng xét xử để tuyên án Thủ tục tuyên án được thực hiện theo quy định tại Điều 239 BLTTDS 2004 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP Khi tuyên án, tất cả mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy Chủ tọa đọc nguyên văn bản án, quyết định Trong trường hợp xử kín, chủ tọa tóm tắt nội dung bản án nhưng phần nhận định phải tuyên bố công khai Trong trường hợp có đương sự là người không biết tiếng Việt, sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và nội dung các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM, có thể rút ra một số kết luận sau:
Trang 381 Thủ tục sơ thẩm vụ án KD TM là thủ tục T TDS xét xử lần đầu vụ án KDTM, được Tòa án có thẩm quyền áp dụng để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế phát sinh trong hoạt động KDTM, bao gồm thủ tục khởi kiện và thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử sơ thẩm vụ án KDTM
2 Thủ tục sơ thẩm vụ án KD TM cũng mang những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự như là thủ tục cơ bản của tố tụng dân sự được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định quy định trong BLTTDS; là thủ tục tố tụng đầu tiên giải quyết tranh chấp của các bên đương sự nên phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định không phải là phán quyết cuối cùng, đương sự vẫn có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị bản án, quyết định Tuy nhiên, bên cạnh đó thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM cũng có những đặc điểm riêng như: chủ thể khởi kiện vụ án KDTM chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng lý kinh doanh và các chủ thể của quan hệ KDTM đều có mục đích lợi nhuận; tài liệu, chứng cứ nộp kèm đơn khởi kiện vụ án K D TM phải có G iấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Điều lệ hoạt động của pháp nhân để chứng minh tư cách chủ thể của chủ thể khởi kiện; đối với hầu hết các vụ án KDTM sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa
là bắt buộc; thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM là hai tháng (được gia hạn một tháng); đối với vụ án KDTM Tòa án không thể tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT…
3 Thủ tục sơ thẩm vụ án KD TM được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện hợp lệ của đương sự và kết thúc bằng một trong các quyết định tố tụng tương ứng như: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (trong trường hợp có căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 192 BLTTDS); hoặc Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án; hoặc Bản án sơ thẩm của Tòa án trong trường hợp Tòa án phải ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy, sau khi thụ lý vụ án KDTM, Tòa án phải tiến hành rất nhiều công việc như phân công Thẩm phán, Thư ký giải quyết vụ án KDTM, thông báo thụ lý, ra các
Trang 39quyết định cần thiết, nghiên cứu hồ sơ, triệu tập người tham gia tố tụng… để giải quyết được vụ án KDTM
4 Pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành đã kế thừa những thành tựu, khắc phục thiếu sót của văn bản tố tụng trước đó nên đã quy định hoàn chỉnh hơn thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết các vụ án KDTM của Tòa án cấp sơ thẩm