Quan điểm khác thì cho rằng: “TTGNTNHS là tình tiết được quy định trong phần chung BLHS với tính chất là TTGN chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ VÂN HỒNG
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC TOÀN ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân đạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt là TTGNTNHS) là kết quả của sự thể chế hóa chính sách nhân đạo của Nhà nước trong xử lý tội phạm Chính vì vậy, việc quy định về các TTGNTNHS là phần không thể thiếu trong Bộ luật hình sự Việt Nam (viết tắt là BLHS) Theo quy định tại Điều 45
BLHS thì,“khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” Điều đó thể hiện, việc cân nhắc các TTGNTNHS là một trong
những căn cứ rất quan trọng khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội Việc quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ trong xử lý tội phạm đều có thể đem lại những hệ quả tiêu cực đối với việc cảỉ tạo, giáo dục người phạm tội nói riêng và đối với xã hội nói chung Việc nhận thức và áp dụng đúng các TTGNTNHS đối với người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người phạm tội nhận thức rõ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của mình qua đó giúp họ cải tạo tốt để sớm trở thành người có ích cho xã hội Mặt khác, việc nhận thức và áp dụng đúng các TTGNTNHS còn đề cao
sự công bằng và tính nhân đạo của luật hình sự Việt Nam qua đó có tác dụng giáo dục người dân ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật, củng cố lòng tin của nhân dân đối với pháp luật nói chung, luật hình sự nói riêng Tất cả những điều đó sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08- NQ/TW và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị, trong đó xác định công tác xét
xử là trọng tâm; bản án hình sự của Toà án phải bảo đảm đúng pháp luật; hình phạt mà Toà án áp dụng đối với người phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh
Trang 92
phòng, chống tội phạm Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định về TTGNTNHS giúp cho người áp dụng nhận thức rõ và áp dụng đúng các tình tiết này trong hoạt động xét xử; phát hiện, chỉ rõ những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các tình tiết này đồng thời đưa ra những giải pháp cho việc giải thích, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung các TTGNTNHS để nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của các tình tiết này trong hoạt động xét xử của ngành Toà án nói chung, các Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc (viết tắt là TAND) nói riêng là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng nêu trên, tác giả chọn đề tài “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, có khá nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết ở các cấp độ, khía cạnh khác nhau về các TTGNTNHS trong đó tiêu biểu
là các công trình nghiên cứu sau đây:
- Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (Luận án tiến sĩ luật
học), của tác giả Dương Tuyết Miên bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội năm 2003;
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Luận án tiến sĩ luật học), của tác giả Trần Thị Quang Vinh bảo vệ tại
Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội năm 2003;
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong việc định tội danh và quyết định hình phạt (Luận văn thạc sĩ luật học), của tác giả Phạm Thị Thanh
Nga bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2004
- Một số bài viết đăng trên các tạp chí: “Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999 của tác giả Dương Tuyết Miên (Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2003); “Lại bàn về tình tiết giảm nhẹ” của tác giả Quách Thành Vinh (Tạp chí Tòa án nhân dân số 16/2005);
“Về một số tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự do Tòa án tự áp dụng” của tác giả Nguyễn Văn Trượng (Tạp chí Tòa án nhân
Trang 10Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về lý luận cũng như làm rõ thực tiễn áp dụng các TTGNTNHS tại các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện BLHS và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các TTGNTNHS trong công tác xét xử của ngành Tòa án nói chung và các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về việc xác định và
áp dụng các TTGNTNHS; đánh giá thực tiễn xét xử áp dụng các TTGN tại các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện BLHS và
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các TTGNTNHS trong thực tiễn
Với mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn được xác định là:
+ Phân tích khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa quy định các TTGNTNHS
+ Phân tích nội dung các TTGNTNHS trong BLHS Việt Nam
+ Phân tích thực tiễn áp dụng các TTGNTNHS tại các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc thời gian (2009-2013); phát hiện, chỉ rõ những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân những hạn chế, vướng mắc đó đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục các hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng các tình tiết này
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề
lý luận về các TTGNTNHS và thực tiễn áp dụng các tình tiết này tại các
TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 114
- Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của BLHS
về các TTGNTNHS và thực tiễn áp dụng các TTGNTNHS tại các TAND ở
tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2009 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học luật như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về các TTGNTNHS; phân tích rõ thực trạng, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các TTGN TNHS tại các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện BLHS về các TTGNTNHS và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các tình tiết này tại các TAND ở tỉnh Vĩnh Phúc
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương
Chương 1: Những vấn đề chung về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự
Chương 2: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc; những hạn chế, vướng mắc và giải pháp khắc phục
Trang 125
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Theo từ điển Luật học thì thuật ngữ “tình tiết giảm nhẹ TNHS” được
hiểu là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội giảm đi so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ để giảm nhẹ TNHS đối với trường hợp phạm tội đó [15, tr.116] Như vậy, TTGNTNHS có thể hiểu là những tình tiết trong vụ án có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức độ TNHS của người phạm tội
Điều 45 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS” Chính vì vậy, để quyết định hình phạt đối với người phạm tội được
chính xác, luật hình sự Việt Nam coi các TTGNTNHS là một trong các căn
cứ quyết định hình phạt độc lập bên cạnh các căn cứ khác: Căn cứ vào các quy định của BLHS; căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và căn cứ vào nhân thân người phạm tội
Nghiên cứu một số quy định về các TTGNTNHS của pháp luật hình sự của một số nước, tác giả nhận thấy, có một số nước quy định các TTGN TNHS là căn cứ quyết định hình phạt bên cạnh các căn cứ khác Ví dụ, BLHS Liên bang Nga quy định các TTGN là căn cứ quyết định hình phạt cùng với các căn cứ quyết định hình phạt khác trong cùng một điều luật tại khoản 3 Điều 60 BLHS và tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật này còn quy định cụ thể các TTGN hình phạt bao gồm 10 tình tiết Ngoài ra khoản 2 Điều 61 BLHS Nga
quy định “Khi áp dụng hình phạt có thể cân nhắc các tình tiết khác không được quy định tại khoản 1 Điều này là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt” [12,
tr.78] Bên cạnh đó, Điều 62 BLHS Nga quy định việc áp dụng hình phạt khi
Trang 13có lợi và các tình tiết không có lợi cho người thực hiện tội phạm Trước hết là: Các động cơ và mục đích của người thực hiện tội phạm, quan điểm được phản ánh từ hành vi và ý chí dành cho hành vi mức độ vi phạm nghĩa vụ cách thức thực hiện hành vi và các ảnh hưởng có lỗi của hành vi, cuộc sống trước
đó của người thực hiện tội phạm, hoàn cảnh cá nhân và kinh tế cũng như xử
sự của người đó sau khi thực hiện hành vi, đặc biệt là sự cố gắng bồi thường thiệt hại của họ cũng như cố gắng của họ để đạt được việc hòa giải với người
án để quyết định hình phạt cho người phạm tội được chính xác
Khoản 1 Điều 46 BLHS đã quy định cụ thể các TTGNTNHS làm cơ sở pháp lý cho Tòa án khi quyết định hình phạt Đây là các TTGN đã được tổng kết trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và được ghi nhận chính thức trong luật Nghiên cứu các TTGNTNHS được quy định tại khoản 1 Điều
46 BLHS, chúng ta có thể thấy, các tình tiết này thuộc các nhóm tình tiết có đặc điểm là: các tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội nhằm cải
Trang 147
tạo, giáo dục người phạm tội và các tình tiết phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội Tất cả các tình tiết này đều có đặc điểm chung là những tình tiết có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS của người phạm tội
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm các TTGN TNHS
Có quan điểm cho rằng: “TTGNTNHS là những tình tiết đã được quy định trong BLHS hoặc do Tòa án xác định dựa trên hướng dẫn của cơ quan
có trách nhiệm phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của
họ Những tình tiết này có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức độ TNHS của người phạm tội” [5, tr.87]
Quan điểm khác thì cho rằng: “TTGNTNHS là tình tiết được quy định trong phần chung BLHS với tính chất là TTGN chung hoặc là tình tiết do Tòa
án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình
sự tương ứng cá thể hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [1, tr.16]
Quan điểm khác lại cho rằng: “Các TTGNTNHS là những tình tiết của
vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết TNHS, có ý nghĩa làm giảm mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng chưa được ghi nhận trong chế tài” [16, tr.45]
Như vậy, tuy có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau nhưng các quan điểm trên đều thể hiện rõ những đặc điểm của các TTGNTNHS là: Các tình tiết được ghi nhận trong Phần chung của BLHS (Điều 46) hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Tòa án xác định; là căn cứ để quyết định hình phạt, ảnh hưởng làm giảm nhẹ TNHS của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt xác định Các tình tiết này đều là các tình tiết liên quan đến việc giải quyết TNHS, phản ánh mức độ
Trang 15có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức độ TNHS của người phạm tội
Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn xét xử áp dụng các TTGNTNHS cho thấy mỗi TTGN trong các trường hợp khác nhau thì sự ảnh hưởng của chúng đối với TNHS của người phạm tội
khác nhau song tất cả các TTGNTNHS có đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, các TTGNTNHS là những tình tiết được quy định trong
BLHS hoặc Tòa án xác định Nghĩa là các tình tiết này phải được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS; hoặc là các tình tiết được Tòa án công nhận khi áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội (bao gồm các tình tiết được quy định trong Nghị quyết số 01/2000/NQ - HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hoặc các tình tiết khác do Tòa án xác định, ghi rõ trong bản án) Điều đó cho thấy các TTGNTNHS rất đa dạng Các TTGN không những được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS mà còn được xác định (thêm), áp dụng đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể Quy định này phù hợp với thực tiễn áp dụng cũng như nguyên tắc nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam
- Thứ hai, các TTGNTNHS là các tình tiết có lợi cho người phạm tội
Sự xuất hiện của các TTGN trong vụ án hình sự làm giảm các hậu quả bất lợi đối với người phạm tội Điều đó được thể hiện trong mỗi vụ án cụ thể , tùy thuộc vào sự xuất hiện của các TTGN người phạm tội có thể được xử lý áp dụng theo tội danh, khung hình phạt hoặc loại hình phạt nhẹ hơn Ví dụ, được
xử lý theo tội danh nhẹ hơn như: A đi làm đồng về thì thấy mọi người đang chửi mắng B vì B đã có hành vi hãm hiếp cháu C (con gái của A) Quá tức, A liền cầm cuốc đánh B chết do bị A đánh cuốc vào đầu Vụ việc đã được xác định A đã giết B và có TTGN là phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích
Trang 169
động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân (Điều 95 BLHS) chứ không phải theo tội giết người (Điều 93 BLHS) Có trường hợp người phạm tội được xử lý theo khung hình phạt nhẹ hơn như: A phạm tội trộm cắp tài sản trị giá 2 triệu đồng (tức khoản 1 Điều 138) Vì A có 2 TTGN quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS Khi quyết định hình phạt Tòa án áp dụng Điều 47 BLHS có thể xử phạt A 3 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) hay chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn như phạt cải tạo không giam giữ
- Thứ ba, mức độ giảm nhẹ TNHS của mỗi tình tiết là do Tòa án cân
nhắc, xem xét và quyết định Pháp luật không quy định cụ thể các TTGN có ảnh hưởng như thế nào đối với hành vi phạm tội và TNHS của họ Vì vậy, các tình tiết này có ảnh hưởng thế nào đối với hành vi phạm tội cũng như TNHS của họ là do Toà án cân nhắc và quyết định Ví dụ, khi người phạm tội có 2 TTGN quy định tại Điều 46 BLHS thì tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, đối với người phạm tội này có thể được Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề mà điều luật quy định hoặc trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn còn đối với người phạm tội kia lại không được áp dụng
- Thứ tư, mức độ ảnh hưởng của mỗi TTGN đến mức độ nguy hiểm của
hành vi cũng như mức độ TNHS của người phạm tội không giống nhau Có tình tiết ảnh hưởng nhiều, có tình tiết ảnh hưởng ít; có tình tiết chỉ có ý nghĩa đối với tội này mà không có ý nghĩa giảm nhẹ đối với tội khác Ví dụ, cùng phạm tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94 BLHS nhưng người phạm tội này có tình tiết phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra (điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS) còn người phạm tội kia có tình tiết người phạm tội tự thú (điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS) Khi quyết định hình phạt, người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra (điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS)
sẽ nhẹ hơn so với người phạm tội tự thú (điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS)
Trang 1710
nhưng nếu những người phạm tội gián điệp quy định tại Điều 80 BLHS thì ngược lại Người phạm tội có tình tiết phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra (điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS) sẽ không được xem xét miễn TNHS nhưng nếu có tình tiết người phạm tội tự thú (điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS), thành khẩn khai báo và không thực hiện nhiệm vụ được giao thì người phạm tội còn được miễn TNHS
- Thứ năm, TTGNTNHS chỉ được sử dụng một lần đối với một hành vi
phạm tội Nói cách khác là một TTGNTNHS không được sử dụng đồng thời
là tình tiết (giảm nhẹ) định tội hoặc tình tiết (giảm nhẹ) định khung hình phạt
hay giảm nhẹ hình phạt Khoản 3 Điều 46 BLHS quy định: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt” Ví dụ người phạm tội bị xét xử theo Điều 95 BLHS “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Trong trường hợp này mặc dù người phạm tội có TTGN được quy định tại điểm đ Điều 46 BLHS “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” nhưng khi Tòa án sử dụng làm tình tiết
định tội trong Điều 95 BLHS thì tình tiết đó không được xem là TTGNTNHS khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội
1.2 PHÂN LOẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Các TTGNTNHS mặc dù đều có đặc điểm chung là những tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội hoặc phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ cần được xem xét để hình phạt đã tuyên có tính khả thi hoặc đảm bảo thực hiện các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Song các TTGN lại rất khác nhau trong nội dung phản ánh, tính chất, mức độ ảnh hưởng đến tội phạm và TNHS của người phạm tội
Trong khoa học luật hình sự có nhiều cách phân loại TTGNTNHS Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội, các TTGNTNHS được chia thành ba nhóm [13, tr.265] :
Trang 18+ Tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi và người phạm tội như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
+ Tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi như: Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra; phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức; phạm tội do lạc hậu; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
- Các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội bao gồm các tình tiết: người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; người phạm tội lập công chuộc tội; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác
- Các tình tiết phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội bao gồm các tình tiết: người phạm tội là phụ nữ có thai; người phạm tội là người già; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra
Cách phân loại trên đã được nhiều tác giả đề cập đến, trong đó có tác
giả đã phân loại các TTGNTNHS thành ba nhóm: “Các TTGNTNHS ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Các TTGNTNHS phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội; Các TTGNTNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội” [5, tr.89]
Có thể thấy, cách phân loại này về cơ bản vẫn giống như cách phân loại trên, chỉ khác là đã đưa tình tiết người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm và tình tiết người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
Trang 1912
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thuộc vào nhóm TTGNTNHS phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội để làm rõ tiêu chí xác định của nhóm tình tiết đó Thực ra, mỗi cách phân loại trên đều có yếu tố hợp lý và những vướng mắc nhất định Những vướng mắc đó xuất phát từ đặc thù của chính các TTGNTNHS Chính vì vậy, không có một cách phân loại nào mang tính tối ưu để có một sự phân chia hoàn chỉnh tuyệt đối
Từ góc độ nghiên cứu dựa trên đặc điểm, tính chất của các
TTGNTNHS, có thể phân loại thành các nhóm cơ bản sau:
- Các tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được quy định trong BLHS là những tình tiết như: người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn Các TTGNTNHS này đều có điểm chung là ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
- Các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội được quy định trong BLHS là những tình tiết như: người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan điều tra có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; người phạm tội đã lập công chuộc tội; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác Các TTGNTNHS của nhóm tình tiết này gắn liền với những biểu hiện ghi nhận quá trình phấn đấu tốt của bản thân người phạm tội trước khi thực hiện tội phạm, thái độ ăn năn hối lỗi của người phạm tội đối với hành vi phạm tội của mình
- Các tình tiết phản ánh hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội được quy định trong BLHS là những tình tiết như: phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức; phạm tội do lạc hậu; người phạm tội là người già; là phụ nữ có thai; là người có
Trang 2013
bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình Các TTGNTNHS của nhóm tình tiết này không những phản ánh hoàn
cảnh đặc biệt của người phạm tội mà còn gắn liền với chính sách nhân đạo của Nhà nước trong xử lý tội phạm
Việc chia nhóm các TTGNTNHS theo cách phân loại trên như chỉ có tính chất tương đối Bởi vì, có một số TTGNTNHS có thể vừa phản ánh tính
ít nguy hiểm của tội phạm, vừa phản ánh hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của họ
Ví dụ, tình tiết “phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức” là TTGN nó vừa
thể hiện tính ít nguy hiểm của hành vi phạm tội, vừa thể hiện việc phạm tội trong hoàn cảnh đặc biệt do bị người khác đe dọa, cưỡng bức dẫn đến phạm tội
Hay như tình tiết “người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm” là TTGN vừa thể hiện tính ít nguy hiểm của hành vi phạm tội vừa thể
hiện phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội
Ý nghĩa của việc quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự là những tình tiết có ý nghĩa làm giảm đi tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt giảm nhẹ hơn đối với một hành vi phạm tội nhất định Chính vì vậy, việc quy định các TTGNTNHS trong pháp luật hình sự có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện xã hội cũng như phương diện pháp lý
Về phương diện xã hội: Việc quy định các TTGNTNHS là một bảo
đảm quan trọng để thực hiện bình đẳng xã hội trong lĩnh vực hình sự và thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong xử lý tội phạm Bởi lẽ, tội phạm được thực hiện bởi những cá nhân cụ thể với những đặc điểm khác biệt
về nhân thân (như trình độ văn hóa, hoàn cảnh gia đình, thái độ đối với pháp luật ), với sự khác nhau về mức độ thực hiện tội phạm, hình thức thực hiện tội phạm, mức độ lỗi, mức độ tác hại xảy ra trên thực tế Những tình tiết này ở mức độ nhất định có ảnh hưởng đến TNHS của người phạm tội Việc quy định các TTGNTNHS trong pháp luật hình sự không những để thực hiện bình đẳng xã hội trong lĩnh vực hình sự mà còn nhằm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong lĩnh vực xử lý tội phạm Một trong những nội dung quan trọng của chính sách hình sự đã được ghi nhận tại Điều 3 BLHS là: Chính
Trang 2114
sách hình sự của Nhà nước là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, cưỡng chế với thuyết phục, giáo dục người phạm tội Như vậy, về phương diện xã hội, việc quy định các TTGNTNHS trong pháp luật hình sự thực sự trở thành phương tiện cần thiết để thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong
xử lý tội phạm
Về phương diện pháp lý: Việc quy định các TTGNTNHS là căn cứ
quyết định hình phạt không chỉ hướng dẫn cho các Tòa án đánh giá đúng mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để
từ đó tuyên một hình phạt phù hợp mà còn đảm bảo việc áp dụng thống nhất các TTGN trong phạm vi cả nước, góp phần hạn chế tình trạng tùy tiện trong
áp dụng pháp luật
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu các quy định của BLHS Việt Nam cũng như một số quy định của pháp luật nước ngoài và một số quan điểm khác nhau về các TTGNTNHS, tác giả rút ra kết luận sau:
Về khái niệm: Các TTGNTNHS là những tình tiết của vụ án hình sự,
đã được quy định trong BLHS hoặc do Tòa án xác định, phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo, giáo dục hoặc hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội Những tình tiết này có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức độ TNHS của người phạm tội
Về đặc điểm: Các TTGNTNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS hoặc Tòa án xác định; có lợi cho chủ thể; sự ảnh hưởng của các TTGN đến việc quyết định hình phạt do Tòa án cân nhắc, xem xét và ảnh hưởng của từng TTGN đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không giống nhau
và một TTGNTNHS không đồng thời là TTGN định tội hoặc định khung hình phạt Tất cả các TTGNTNHS đều là những tình tiết phản ánh tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng cải tạo, giáo dục hoặc hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội
Trang 2215
Về phân loại: Dựa trên đặc điểm, tính chất của các TTGNTNHS có thể phân loại thành ba nhóm cơ bản là: các tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục và các tình tiết phản ánh hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội Việc phân loại này giúp cho việc áp dụng, xác định các TTGN được chính xác, khách quan
Về ý nghĩa: Các TTGNTNHS có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện
xã hội cũng như phương diện pháp lý Các TTGN này là những làm giảm đi tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt giảm nhẹ hơn đối với một hành vi phạm tội nhất định Việc quy định TTGNTNHS không những thể hiện bình đẳng xã hội trong lĩnh vực hình sự
mà còn nhằm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong xử lý tội phạm Ngoài ra, còn là căn cứ để quyết định hình phạt đối với người phạm tội một cách đúng đắn, khách quan
Trang 2316
Chương 2 CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐƯỢC QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 ĐIỀU 46 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, các TTGNTNHS bao gồm
18 tình tiết Dựa trên đặc điểm, tính chất của các TTGNTNHS chúng ta có thể phân loại các tình tiết này thành ba nhóm sau:
- Các tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
- Các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội
- Các tình tiết phản ánh hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội
2.1.1 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
2.1.1.1 Người phạm tội đã ngăn chặn; làm giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS)
Ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm là trường hợp người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm
có hành vi không cho hậu quả của tội phạm xảy ra hoặc làm giảm bớt hậu quả của nó Trong thực tiễn, tình tiết này thể hiện ở việc người phạm tội có hành
vi, biện pháp cụ thể hạn chế hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra Ví
dụ như sau khi vô ý làm cháy nhà đã lao vào chữa cháy, cứu người bị hại, tài sản hoặc sau khi tấn công vào người bị hại đã nhanh chóng đưa họ đi cấp cứu Trong nhiều trường hợp nếu người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt hậu quả của tội phạm có thể được loại trừ TNHS như đối với trường hợp tự
nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Ví dụ: Trần Thị G do bực tức với
Nguyễn Văn M nên định giết cháu bé Nguyễn Hương K (con gái của M) để trả thù G đã tẩm thuốc độc vào chiếc bánh bao và cho cháu K Khi K cầm bánh đưa lên miệng định ăn thì G nhận thấy hành vi của mình quá độc ác nên giật chiếc bánh ném đi Trong trường hợp này G đã có hành vi ngăn chặn
Trang 2417
được tác hại xảy ra nếu không có hành vi giật chiếc bánh đó để K ăn sẽ gây hậu quả làm K chết Hành vi giật chiếc bánh có thuốc độc ném đi này G có thể được loại trừ TNHS như đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Bên cạnh vai trò là TTGNTNHS khi quyết định hình phạt, tình tiết người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm còn là căn cứ
để miễn TNHS, miễn hình phạt cho người không tố giác tội phạm theo quy
định tại khoản 3 Điều 314 BLHS:“Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt” Điểm đặc trưng của việc hạn chế tác hại
của tội phạm trong trường hợp này là người hạn chế tác hại của tội phạm không phải là người đã gây ra những thiệt hại cho xã hội mà do người phạm tội khác đã gây ra trước đó và người không tố giác có ý thức tích cực là đã hạn chế tác hại có thể xảy ra
BLHS quy định tình tiết này là TTGNTNHS được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho
xã hội do tội phạm gây ra ngay cả khi hành vi phạm tội đã chấm dứt
2.1.1.2 Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS)
Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn là trường hợp đã thực hiện tội phạm nhưng chưa gây ra hậu quả cho xã hội hoặc tuy hậu quả đã xảy ra nhưng không lớn vì được hạn chế do những nguyên nhân có thể xuất phát từ trong hoặc ngoài ý muốn của người phạm tội Mức
độ giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà họ thực hiện
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay, có ý kiến cho rằng phạm vi
áp dụng TTGN này chỉ sử dụng đối với các tội có cấu thành vật chất, còn đối với các tội có cấu thành hình thức thì không được áp dụng
Trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn nó liên quan đến hậu quả của tội phạm, khách thể mà tội phạm xâm hại, chứ không liên quan đến tội phạm có cấu thành vật chất hay cấu thành
Trang 2518
hình thức hoặc chỉ đơn thuần là thiệt hại về mặt tài sản Ví dụ: H thấy K đội
một chiếc mũ rất đẹp (trị giá 25.000đ), H chặn đường K lại và bảo “mày đưa chiếc mũ đang đội đầu cho tao” K không cho nên bị H tát một cái vào má trái của K để dọa K, sau đó chiếm đoạt chiếc mũ của K Trong trường hợp này H
đã phạm tội “cướp tài sản” Rõ ràng là H phạm tội gây thiệt hại không lớn
(25.000đ) nhưng lại không áp dụng TTGN tại điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS
để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn đó chính là những thiệt hại do tội phạm gây ra, có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản và các mặt khác, tùy theo từng tội phạm quy định tại từng điều luật cụ thể trong BLHS để cho rằng phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn Trong thực tiễn chưa có văn bản luật nào quy định đối với tội cướp tài sản hay các tội có cấu thành hình thức thì không được áp dụng điểm
g khoản 1 Điều 46 BLHS Chính vì vậy, khi chưa có quy định cụ thể hoặc văn bản hướng dẫn nên áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo
2.1.1.3 Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm
h khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là tình tiết được áp dụng khi có đủ hai điều kiện: phạm tội lần đầu
và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Trong thực tiễn khi áp dụng TTGN này, các Toà án có sự nhận thức khác nhau về nội dung nên áp dụng không thống nhất:
Về trường hợp “phạm tội lần đầu” có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng: phạm tội lần đầu là lần đầu tiên bị đưa ra xét
xử Nếu người phạm tội đã nhiều lần phạm tội nhưng chưa lần nào bị Tòa án kết án thì vẫn được coi là phạm tội lần đầu Ví dụ năm 2012, Nguyễn Văn A bị Công an phường xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp; ngày 15/3/2013 Nguyễn Văn A lại trộm cắp tài sản trị giá 1.000.000 đồng và bị truy tố theo khoản 1 Điều 138 BLHS; khi quyết định hình phạt đối với Nguyễn Văn A, Tòa
án xác định bị cáo A “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”
Quan điểm thứ hai cho rằng: phạm tội lần đầu là trường hợp lần đầu bị
đưa ra xét xử hoặc tuy đã bị đưa ra xét xử nhiều lần, nhưng trước khi bị đưa ra
Trang 2619
xét xử lần này, các lần phạm tội trước đó đã được xóa án tích hoặc hết thời hiệu
truy cứu TNHS thì vẫn được coi là phạm tội lần đầu Ví dụ: Năm 2007,
Nguyễn Văn A bị TAND huyện H xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
về tội đánh bạc, đã được xóa án tích; ngày 25/12/2012 Nguyễn Văn A lại bị truy tố về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS Khi quyết định hình phạt,
Tòa án xác định A“phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”
Quan điểm thứ ba cho rằng: phạm tội lần đầu là trường hợp một người
thực hiện một hoặc một số hành vi phạm tội nhưng chưa bị xử lý hoặc xét xử
lần nào, lần đưa ra xét xử này là lần đầu tiên Ví dụ: Ngày 23/1/2012, Phạm
Văn H bị bắt quả tang đang vận chuyển 30 kg pháo nổ; trong quá trình điều tra còn phát hiện trước đó, ngày 20/12/2011 Phạm Văn H còn mua bán 40 kg
pháo nổ Với hành vi phạm tội như trên, H bị truy tố về tội “vận chuyển, buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 155 BLHS Khi quyết định hình phạt, Tòa
án đã xác định H “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”
Quan điểm thứ tư cho rằng: phạm tội lần đầu là từ trước tới nay chưa
phạm tội lần nào Nếu các lần phạm tội trước đó đã bị xử lý hành chính, đã bị kết án chưa được xóa án hoặc đã được xóa án, hoặc đã hết thời hiệu truy cứu TNHS thì lần phạm tội mới này vẫn không được coi là phạm tội lần đầu
Trong trường hợp này, chỉ coi là phạm tội lần đầu khi bị xét xử người phạm tội chưa một lần nào có hành vi phạm tội và lần phạm tội này cũng chỉ
bị truy cứu TNHS về một tội và tội đó thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Nếu người phạm tội tuy trước đó chưa phạm tội lần nào nhưng lần bị đưa ra xét xử lần này lại bị truy cứu TNHS về nhiều tội khác nhau thì cũng không được coi
là “phạm tội lần đầu” Ví dụ: Vũ Văn K bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 BLHS và tội “dâm ô đối với trẻ em” theo khoản
1 Điều 116 BLHS Trước khi bị truy tố về hai tội này, Vũ Văn K chưa phạm
tội lần nào cũng không được coi là “phạm tội lần đầu” Bởi vì điều luật quy định “phạm tội lần đầu” chứ không quy định “bị kết án lần đầu” hay “bị xét
xử lần đầu” Phạm tội là hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà luật
hình sự bảo vệ, không phụ thuộc vào việc người có hành vi đó bị xử lý như thế nào Một người có hành vi phạm tội có thể bị Tòa án kết án, có thể bị xử
Trang 2720
phạt hành chính, có thể được miễn truy cứu TNHS nhưng họ vẫn bị coi là đã
phạm tội nên lần phạm tội bị Tòa án đang xét xử không thể coi là “phạm tội lần đầu” được Tại Điều 63 BLHS quy định “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án” chứ không quy định “coi như chưa phạm tội” Ý nghĩa của
TTGN này là chiếu cố những người chưa bao giờ thực hiện hành vi phạm tội, nay vì lý do hoặc hoàn cảnh nào đó mà họ phạm tội lần đầu Tuy nhiên nếu chỉ phạm tội lần đầu mà thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì không được coi là TTGN, mà phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng mới được coi là TTGN
Về “trường hợp ít nghiêm trọng”, quan điểm thứ nhất cho rằng: trường
hợp ít nghiêm trọng chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng tức là tội mà họ bị truy tố, xét xử có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba
năm tù quy định ở khoản 3 Điều 8 BLHS Ví dụ: Tội giết con mới đẻ (Điều 94
BLHS); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106 BLHS)…; quan điểm thứ hai cho rằng: trường hợp ít nghiêm trọng là trường hợp có khung
hình phạt đối với tội ấy có mức cao nhất đến 03 năm tù hoặc đối với cả tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng do có tình tiết đặc biệt của vụ án khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ xử phạt bị cáo không
quá 3 năm tù Ví dụ: khoản 1 Điều 97 BLHS quy định tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ” có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù là
tội nghiêm trọng Nhưng người phạm tội có nhiều TTGN, Tòa án chỉ xử phạt
bị cáo với hình phạt từ 3 năm tù trở xuống thì vẫn coi đây là trường hợp ít nghiêm trọng
Từ những phân tích trên cho thấy, căn cứ để xác định tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà không quy định gây thiệt hại không lớn cho xã hội Điều đó có nghĩa nguy hại cho xã hội
và thiệt hại cho xã hội không phải là một, có trường hợp chưa gây thiệt hại
nhưng đã gây nguy hại lớn cho xã hội Ví dụ: Hành vi hoạt động thành lập
hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mặc dù chưa gây thiệt hại (chưa lật đổ được chính quyền nhân dân) vẫn bị coi là hành vi gây
Trang 2821
nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội (Điều 79 BLHS) Ngược lại có hành vi gây thiệt hại lớn cho xã hội nhưng lại chưa bị coi là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội, nên hành vi này cũng chỉ là hành vi phạm tội ít nghiêm trọng (khoản 1 Điều 203 BLHS) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội là tiêu chí cơ bản để xác định tội phạm ít nghiêm trọng nhưng nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí này thì cũng chưa thể xác định tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm ít nghiêm trọng là đến ba năm tù hoặc khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ xử phạt người phạm tội không quá ba năm tù Ngoài ra khi xem xét người phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, chủ yếu là xác định vị trí, vai trò và thủ đoạn phạm tội của nó, hậu quả phạm tội đã gây ra và thái độ khai báo thế nào v.v và đánh giá toàn diện cả về mặt khách quan và chủ quan của người phạm tội
BLHS quy định tình tiết này là TTGNTNHS nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người trước khi phạm tội có nhân thân tốt chưa phạm tội lần nào, lần phạm tội này gây nguy hại không lớn
2.1.2 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội
2.1.2.1 Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là trường hợp người phạm tội gây ra hậu quả thiệt hại và tự nguyện đền bù, khắc phục những thiệt hại đã gây ra Đó là, về ý thức người phạm tội phải tự nguyện nghĩa là họ tự xác định được trách nhiệm dân sự của mình, đã thực hiện biện pháp vật chất nhằm để sửa chữa, để bồi thường thiệt hại hoặc
để khắc phục hậu quả đã xảy ra Tuy nhiên, tình tiết này được áp dụng đối với người đã gây ra tội phạm, có thiệt hại và phải có nghĩa vụ, chịu trách nhiệm
về hậu quả mà mình đã gây ra Vì vậy, không coi việc khắc phục hậu quả của tội phạm do bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Trong trường hợp này, không có sự tự nguyện của người phạm tội trong việc bồi thường,
Trang 2922
khắc phục hậu quả của tội phạm Đối với trường hợp không gây ra thiệt hại trực tiếp cho một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào hoặc thiệt hại đó khó có thể tính toán được cụ thể, tức là trường hợp người phạm tội có nghĩa vụ nộp lại những khoản vật chất mà họ có được do phạm tội nhưng họ đã tự nguyện nộp lại khi chưa có quyết định của Tòa án hoặc có quyết định nhưng chưa có hiệu lực pháp luật do có kháng cáo, kháng nghị thì không được áp dụng tình tiết
này Ví dụ: H và C đồng phạm với D về tội buôn lậu Sau khi phạm tội H và C
khai báo thật thà, đồng thời đem nộp lại hết số tiền thu lời bất chính (được D
chia cho từ hành vi buôn lậu) Trong vụ án này, quan điểm 1 cho rằng, H và
C được hưởng tình tiết tự nguyện khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1
Điều 46 BLHS Quan điểm 2 cho rằng, H và C không được hưởng TTGN này
chỉ được hưởng TTGN theo khoản 2 Điều 46 BLHS
Trong vụ án này, việc nộp lại số tiền thu lời bất chính của hai bị cáo là thể hiện thái độ tự nguyện vì biết rằng trước sau cũng bị tịch thu khoản tiền này nên khoản tiền nộp lại chỉ được áp dụng TTGN theo khoản 2 Điều 46 BLHS (TTGN khác được ghi vào bản án), không được áp dụng TTGN theo khoản 1 Điều 46 BLHS vì thiệt hại gây ra cho nền kinh tế cũng như các mặt khác của đời sống xã hội không thể tính toán được cụ thể, bị cáo không có nghĩa vụ bồi thường mà là nghĩa vụ nộp lại
Việc BLHS quy định tình tiết này là TTGNTNHS bởi nó thể hiện sự tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả của người phạm tội nhằm làm giảm nhẹ hậu quả của tội phạm, đồng thời khuyến khích, động viên người phạm tội huy động tối đa nguồn lực kinh tế để sửa chữa bồi thường, khắc phục phần nào hậu quả đã gây ra một cách kịp thời nhanh chóng
2.1.2.2 Người phạm tội tự thú (điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS)
Theo từ điển Luật học, “tự thú là tự nguyện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khai báo về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện hoặc tham gia thực hiện trước khi bị phát giác”[15, tr.130]
Theo tinh thần của hướng dẫn tại mục 8 Phần I về Hình sự tại Công văn
số 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 của TAND tối cao giải đáp các vấn đề
về nghiệp vụ, thì “tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của
mình trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội
Trang 3023
Thuật ngữ “tự thú” ngoài việc quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46
BLHS, còn được sử dụng trong các quy định tại khoản 2 Điều 3 BLHS (nguyên tắc xử lý); khoản 3 Điều 23 BLHS (thời hiệu truy cứu TNHS); khoản
2 Điều 25 BLHS (miễn TNHS); khoản 3 Điều 80 BLHS (tội gián điệp); khoản
6 Điều 289 BLHS (tội đưa hối lộ) Thông qua các quy định này và định nghĩa
của Từ điển thuật ngữ luật học, chúng ta có thể hiểu “tự thú” là trường hợp
sau khi tội phạm được thực hiện, hành vi phạm tội hoặc người phạm tội tuy chưa bị phát hiện nhưng người phạm tội ra trình diện trước cơ quan có thẩm quyền, khai báo về hành vi phạm tội của mình
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng có trường hợp sau khi bị bắt, người phạm tội đã khai báo ra một số lần thực hiện hành vi phạm tội khác cần được
áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú Ví dụ vụ án: Trần Văn H bị bắt về tội
mua bán trái phép chất ma túy Trong quá trình điều tra, H còn khai nhận về một số lần buôn bán ma túy khác mà cơ quan công an chưa từng biết Trong trường hợp này có quan điểm cho rằng Trần Văn H được hưởng TTGNTNHS theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS, quan điểm khác lại cho rằng
Trần Văn H không được áp dụng TTGN “người phạm tội tự thú”, chỉ được
áp dụng TTGN “người phạm tội thành khẩn khai báo” Đối với trường hợp
này, cần coi việc khai nhận các lần phạm tội trước của Trần Văn H là tự thú
Vì trong trường hợp này, người phạm tội thể hiện sự ray rứt lương tâm của mình, chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật vì lẽ công bằng nên đã khai ra hành vi phạm tội ở một số lần trước đó của mình Sở dĩ, BLHS quy định tình
tiết “người phạm tội tự thú” nhằm khuyến khích, động viên người có hành vi
phạm tội ra trình báo trước khi tội phạm bị phát hiện hoặc trong quá trình bị bắt khai ra các lần phạm tội trước để được hưởng chính sách khoan hồng của
Trang 3124
những người lầm lỡ phạm tội nay đã nhận thức rõ sai phạm của mình, muốn được hoàn lương
Thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là hai nội dung khác nhau Trong
đó thành khẩn khai báo được hiểu là tự nguyện khai rõ và đúng tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Còn ăn năn hối cải là trường hợp người phạm tội hối hận về việc đã thực hiện tội phạm và thể hiện mong muốn sửa chữa lỗi lầm thông qua chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
Trong thực tiễn áp dụng tình tiết này có ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng người phạm tội để được áp dụng tình tiết này cần phải đáp ứng được hai điều kiện là vừa phải thành khẩn khai báo, vừa phải ăn năn hối cải Ý kiến khác lại cho rằng chỉ cần 1 điều kiện là được áp dụng tình tiết này tức là chỉ cần khai báo thành khẩn hoặc chỉ cần người phạm tội tỏ ra ăn năn, hối cải là được áp dụng tình tiết này Ở đây, mặc dù là hai nội dung khác nhau nhưng
“thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải” có mối quan hệ qua lại và trong
nhiều trường hợp việc đánh giá bị cáo có ăn năn hối cải hay không là rất khó khăn Vì vậy, khi người phạm tội thành khẩn khai báo là có đủ điều kiện để áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trong trường hợp tại cơ quan điều tra, bị cáo chối tội nhưng tại phiên tòa bị cáo
nhận tội thì vẫn được áp dụng tình tiết này Ví dụ: Nguyễn Văn A thực hiện
hành vi trộm cắp tài sản Ngay sau khi bị bắt, Nguyễn Văn A không khai nhận toàn bộ hành vi của mình nhưng tại phiên tòa lại thành khẩn khai báo Khi quyết định hình phạt, Tòa án cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS cho
bị cáo A là hoàn toàn đúng pháp luật
2.1.2.4 Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm (điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS)
Trường hợp này được hiểu người phạm tội đã có hành vi cung cấp những tin tức, tài liệu cho các cơ quan có trách nhiệm hoặc làm việc theo yêu cầu của cơ quan đó để phát hiện, điều tra về tội phạm mà họ đã tham gia thực hiện hoặc về tội phạm khác, người phạm tội khác có liên quan mà họ biết
Thái độ tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm để phát hiện tội phạm đã thể hiện sự nhận thức về tội lỗi mà người phạm tội đã thực hiện Mặt
Trang 3225
khác sự hợp tác đó giúp cơ quan có trách nhiệm nhanh chóng tìm ra tội phạm
và những người phạm tội khác Đó là một hoạt động hữu ích, cần được khuyến khích trong quá trình giải quyết TNHS đối với người phạm tội và là
cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này Mức độ giảm nhẹ TNHS của tình tiết này phụ thuộc vào hiệu quả của hành vi mà người phạm tội giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm
Trên diễn đàn khoa học có ý kiến cho rằng không thể áp dụng đồng
thời tình tiết “người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm” với các tình tiết “người phạm tội tự thú” và tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” Việc tích cực giúp
đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm là điều kiện để được áp dụng TTGN tự thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Như vậy, cách hiểu trên chưa thực sự xác đáng bởi lẽ cùng là khai báo
về hành vi phạm tội nhưng mức độ và hiệu quả của việc khai báo đối với việc phát hiện và điều tra tội phạm là khác nhau Và ngoài việc khai báo về hành vi phạm tội trong trường hợp này, người phạm tội còn có thể phải thực hiện một
số việc theo yêu cầu của cơ quan có trách nhiệm
Ví dụ 1: Sau khi trộm cắp tài sản của nhà hàng xóm, Nguyễn Văn N
thấy sợ nên đã nói với cha mẹ, cha mẹ N đã dẫn N tới cơ quan công an tự thú, thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Ví dụ 2: Nghe lời khuyên của bạn gái, Trần Văn D đã tới cơ quan công
an đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý của mình Nhận định đây là một đường dây buôn bán ma túy lớn và tin tưởng vào ý thức muốn hoàn lương của D, cơ quan công an đã yêu cầu D vẫn tới điểm hẹn và thực hiện một số công việc nhất định để lần ra đầu mối Từ những tin tức ban đầu do D tự thú và tiếp tục cung cấp, các cơ quan có trách nhiệm đã phát hiện và triệt phá thành công một đường dây buôn bán ma tuý xuyên quốc gia
Qua hai ví dụ trên cho thấy, cùng là tự thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nhưng tính chất, ý nghĩa đối với việc phát hiện, điều tra tội phạm trong hai trường hợp là rất khác nhau Do đó không thể chỉ
Trang 3326
áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú và thành khẩn khai báo để giảm nhẹ TNHS cho Trần Văn D, mà cần áp dụng cả TTGN người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm
2.1.2.5 Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm r khoản 1 Điều
46 BLHS)
Lập công chuộc tội là trường hợp của người sau khi phạm tội đã có những hành vi rất tích cực để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước hoặc của công dân với mong muốn bù đắp lại những thiệt hại cho xã hội
do hành vi phạm tội của mình gây ra Như vậy, khi lập công chuộc tội, người phạm tội đã thể hiện sự ăn năn hối hận, quyết tâm cải tạo nhận ra sai lầm của mình Do đó pháp luật hình sự đã có chính sách khoan hồng đối với người lập
công chuộc tội và quy định “người phạm tội đã lập công chuộc tội” là
TTGNTNHS độc lập bên cạnh tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Thông thường người phạm tội được coi là lập công chuộc tội nếu họ có thành tích xuất sắc trong hoàn cảnh đặc biệt đáng được biểu dương, khen ngợi như không quản ngại khó khăn đặc biệt, có thể ảnh hưởng tới tính mạng đã lao vào đám cháy, lũ, bão để cứu vớt người, tài sản Về mặt lý luận, người phạm tội tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm cũng là một hình thức biểu hiện của lập công chuộc tội, tuy nhiên trong trường hợp này họ đã được giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS
Mức độ giảm nhẹ hình phạt của tình tiết này phụ thuộc vào thành tích của
người phạm tội đã lập được, thành tích càng lớn mức độ giảm nhẹ càng nhiều
2.1.2.6 Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác ( điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS)
BLHS năm 1999 đã quy định mới tình tiết “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” là
TTGNTNHS Theo điểm b Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS, thì người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân
Trang 3427
chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua Đây là tình tiết phản ánh quá trình phấn đấu tốt của người phạm tội trước khi thực hiện tội phạm thông qua những thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác Những thành tích đó thường được thể hiện bằng
sự ghi công của Nhà nước Việc quy định này xuất phát từ đòi hỏi công bằng thông qua việc cân nhắc hợp lý giữa công và tội, đồng thời có tính đến khả năng cải hóa người phạm tội
2.1.3 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phản ánh hoàn cảnh (đặc điểm) đặc biệt của người phạm tội
2.1.3.1 Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS)
Phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại
Luật hình sự Việt Nam, cũng như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đều quy định phòng vệ chính đáng là hành vi hợp pháp, thuộc quyền của chủ thể; phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm Nhưng nếu sự phòng vệ
rõ ràng là quá mức, gây ra những thiệt hại không cần thiết thì hành vi đó là trái pháp luật, chủ thể bị đe dọa phải chịu những hậu quả bất lợi Phòng vệ
chính đáng đòi hỏi việc chống trả chỉ ở mức độ cần thiết, phù hợp với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đang xảy ra hoặc đe doạ xảy ra ngay lập tức và yêu cầu cần được bảo vệ của các lợi ích bị xâm phạm Căn cứ
để đánh giá sự cần thiết là: tầm quan trọng của khách thể đang bị hành vi tấn công xâm hại hoặc đe doạ xâm hại; sức mạnh, sự mãnh liệt của hành vi tấn công và khả năng phòng vệ, chống trả của người bị tấn công; tính chất, mức
độ nguy hiểm của phương pháp; công cụ, phương tiện mà người có hành vi tấn công và người chống trả sử dụng; hoàn cảnh thời gian, không gian nơi xảy
ra vụ việc Sự đánh giá phải đặt trong mối liên hệ biện chứng của tất cả các căn cứ trên
Trang 3528
Đây là TTGN đặc biệt bởi lẽ người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong khi đang có sự tấn công trái phép từ phía người bị hại và vì bảo vệ lợi ích nói trên mà buộc phải chống trả lại sự xâm hại Trên thực tiễn áp dụng, tình tiết giảm nhẹ này thường được áp dụng với ý nghĩa là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt nên ít được áp dụng là TTGNTNHS quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS Đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tình tiết phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là TTGN định tội, là yếu tố bắt buộc để xác định tội danh nên khi quyết định hình phạt, Toà án không được áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vì vậy, phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chỉ có thể được coi là TTGNTNHS đối với các tội không phải là tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ Tuy nhiên, không thể loại bỏ tình tiết phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ra khỏi khoản 1 Điều 46 BLHS như ý kiến của một số luật gia từng nêu Bởi về mặt
lý thuyết có thể xảy ra những trường hợp cần áp dụng tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Ví dụ: Nhìn thấy Trần Văn B đang lái một chiếc ô tô tải định đâm thẳng
vào cháu Dương Văn Minh đang đi bộ trên đường, Nguyễn Văn A (được phép sử dụng súng) đã dùng súng bắn vào lốp xe làm ô tô dừng lại Khi xe đã dừng, A tiếp tục bắn thêm hai viên đạn nữa làm hàng hoá trên xe bị bốc cháy
Vụ việc được làm rõ, xác định Trần Văn B là lái xe của công ty Dược phẩm
X, đang chở hàng từ nơi sản xuất tới kho chứa, do bực tức với cha của Minh nên B định đâm chết Minh; thiệt hại về tài sản là 100.000.000 đồng; Đối với Nguyễn Văn A, trong trường hợp này A có quyền phòng vệ khi B định đậm chết Minh nhưng khi xe ô tô đã dừng lại A tiếp tục bắn thêm hai viên đạn làm cháy hàng hoá, hỏng xe là không cần thiết nên A phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của mình Do đó Nguyễn Văn A phải chịu TNHS về tội huỷ hoại tài sản của người khác theo quy định tại Điều 143 BLHS Khi xét xử, Toà án phải áp dụng tình tiết phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Trang 36- Có một nguy cơ thực tế đe doạ xâm phạm lợi ích Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc công dân Nếu không có sự tác động nhằm ngăn chặn thì thiệt hại tất yếu sẽ xảy ra Nguy cơ này có thể phát sinh từ hành vi của con người do sơ xuất trong sản xuất, sinh hoạt hoặc các hiện tượng thiên nhiên như bão, lũ, động đất
- Việc gây thiệt hại là sự lựa chọn duy nhất; thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại muốn tránh
Thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết thường là tài sản Về nguyên tắc, pháp luật không thừa nhận việc gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ để bảo vệ tài sản
Khi đánh giá trách nhiệm của chủ thể gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải xem xét một cách tổng thể các điều kiện nêu trên trong mối liên hệ chặt chẽ với ý thức của chủ thể là mong muốn bảo vệ các lợi ích lớn hơn và hoàn cảnh khi xảy ra vụ việc Chỉ khi nào thiệt hại gây ra rõ ràng là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì chủ thể phải chịu TNHS về sự vượt quá của mình
Theo quy định của BLHS,“phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” là TTGNTNHS khi quyết định hình phạt là vì
hành vi của con người trong tình thế cấp thiết (không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa) là hoạt động cần thiết, tích cực và được khuyến khích Nhưng nếu việc gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, là hành vi nguy hiểm thì người gây thiệt hại phải chịu TNHS về sự vượt quá của mình
2.1.3.3 Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành
vi trái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác gây ra (điểm đ khoản
1 Điều 46 BLHS)
Trạng thái tinh thần bị kích động là trạng thái tâm lý không hoàn toàn
tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình Có nghĩa đây là trạng thái mà tâm
Trang 3730
lý bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình Người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức Vì vậy, nếu người phạm tội thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra, thì TNHS của họ được giảm nhẹ so với các trường hợp phạm tội thông thường
Để được áp dụng tình tiết này cần đảm bảo điều kiện: người bị hại hoặc người thứ ba có hành vi trái pháp luật và người phạm tội bị kích động bởi hành vi trái pháp luật đó Mức độ giảm nhẹ của tình tiết này phụ thuộc vào tính trái pháp luật trong hành vi của người bị hại hoặc người thứ ba và tình
trạng tâm lý bị kích động của bị cáo Ví dụ vụ án: Đặng Văn Kha là anh trai
của bị cáo Đặng Văn Thảo và là người nghiện ma túy Trong khi lên cơn nghiện Kha đã lấy dao dọa, yêu cầu chị Trần Thị Liên là vợ Thảo phải đưa tiền cho Kha đi mua ma túy Thảo đi về thấy anh Kha đang giằng co, xô đẩy
vợ mình thì vào can ngăn Thấy vậy, Kha liền xô chị Liên ngã xuống đất (lúc này chị Liên đang mang thai tháng thứ 8), rồi xông vào đánh Thảo Ngay lập tức, Thảo nhặt con dao để cạnh đó đâm một cái làm anh Kha chết tại chỗ Với nội dung trên, Thảo bị xét xử về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS
Tuy nhiên, khi áp dụng TTGN có hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thảo không được áp dụng TTGN được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS vì Thảo được xem xét xử ở khoản 2 Điều 93 BLHS Quan điểm thứ hai cho rằng: Thảo được áp dụng TTGN “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người hị hại hoặc người khác gây ra” được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS
Trong vụ án này, bị cáo Thảo được áp dụng TTGN “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” vì bản thân Kha là đối tượng nghiện ma túy,
thường xuyên thúc ép gia đình lấy tiền mua ma túy sử dụng, trước khi bị đâm Kha đã có hành vi de dọa, xô đẩy đòi chị Liên đưa tiền và còn đánh Thảo
Trang 3831
Việc Đặng Văn Thảo bị xét xử về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS
là đúng người, đúng tội Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần áp dụng
TTGN“phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra”
Mức độ giảm nhẹ TNHS của tình tiết này phải xét đến tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật, mức độ bị kích động và mức độ phản ứng của người bị kích động Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật càng cao thì mức độ giảm nhẹ càng nhiều
2.1.3.4 Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra (điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt và khó khăn đặc biệt này do khách quan không phải
do mình tự gây ra
Điều kiện để được áp dụng tình tiết này là người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội trong hoàn cảnh gặp khó khăn đặc biệt, do khách quan đem lại như bão, lũ, động đất, hoả hoạn, bị mất trộm, có người thân thích bị ốm nặng Mục đích của việc thực hiện tội phạm là nhằm thoát ra khỏi tình trạng khó
khăn đó Ví dụ: Trước diễn biến phức tạp của cơn bão to, có nguy cơ làm sập
nhà, Nguyễn Văn T đã đập cửa nhà hàng xóm là Trần Đình Q (đi vắng) đưa
vợ mới đẻ và con sang trú ở đó 2 ngày Bão tan, T đưa vợ con về nhưng sau
đó cũng không hề nói lại với Q Hành vi của T trong trường hợp này là phạm tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo quy định tại Điều 124 BLHS Tuy nhiên khi xác định TNHS của Nguyễn Văn T được giảm nhẹ theo quy định tại
điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS
Trường hợp người phạm tội gặp khó khăn đặc biệt nhưng khó khăn này
do mình tự gây ra hoặc việc thực hiện tội phạm không phải nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn thì không được hưởng TTGN này
Ví dụ: Sinh viên Trần Văn A đã được bố mẹ cho tiền đóng học phí nhưng
A đã đánh bạc hết Cuối học kỳ, vì lo sợ không đóng học phí thì không được
dự thi nên A đã đi trộm cắp tiền của bạn để đóng học phí Trường hợp này,
A không được áp dụng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 46 BLHS để được giảm nhẹ hình phạt
Trang 39ra cho người bị ép buộc” [15, tr.37]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu bị đe dọa là trường hợp một người bị người khác răn đe gây thiệt hại nếu làm trái ý họ Điều này làm cho người bị
đe doạ lo sợ về một tai họa có thể xảy ra và để tránh tai họa đó người bị đe doạ đã buộc phải thực hiện hành vi phạm tội Trường hợp bị cưỡng bức là trường hợp một người bị người khác dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần buộc họ phải thực hiện hành vi phạm tội
Ví dụ: Trong đường dây vận chuyển trái phép chất ma túy, A là người
thực hiện vận chuyển cho B một số lần Lần này A không vận chuyển nữa nhưng B đe dọa nếu không vận chuyển B sẽ cho người giết vợ con B
Như vậy trong trường hợp người bị đe dọa, cưỡng bức đến mức bị tê liệt ý chí, không còn sự lựa chọn nào khác là phải thực hiện theo yêu cầu của người đe dọa, cưỡng bức nên đã gây thiệt hại cho xã hội thì được coi là không
có lỗi và không phải chịu TNHS Đối với trường hợp người bị đe dọa, cưỡng bức vẫn còn khả năng nhận thức và vẫn có sự lựa chọn khác mà thực hiện tội phạm thì vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình Tuy nhiên, trong trường hợp này, người phạm tội ít nguy hiểm hơn so với các trường hợp thông
thường khác Đó là lý do BLHS quy định “phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức” là TTGNTNHS