1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh luật khuyến khích đầu tư của CHDCND lào và luật đầu tư của việt nam

90 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 809,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảm bảo đầu tư là các cam kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư để khẳng định rằng hoạt động đầu tư sẽ không bị Nhà nước can thiệp bởi các điều kiện không thuộc về cạnh tranh trong kinh do

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm học cao học tại trường Đại học Luật Hà Nội, tác giả luận văn đã được học và sinh sống trong môi trường giáo dục tốt nhất Việt Nam Với lòng say mê học hỏi và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, tác giả luận văn

đã rất vinh dự được học tập ở trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ, giáo viên trường Đại học Luật Hà Nội và khoa sau Đại học trường Đại học Luật Hà Nội Đặc biệt là thầy PGS TS Trần Ngọc Dũng đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tác giả luận văn trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Tác giả NOIMANY PIXA

Trang 3

MỤ LỤ

Trang

D NH MỤ H VI T TẮT

CHƯƠNG 1

CƠ S L LUẬN CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT

KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC CỘNG H A

DCND LÀO VÀ LUẬT ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC CỘNG

H A HCN VIỆT NAM

5

1.1 ĐƯỜNG LỐI, HÍNH S H Ủ ĐẢNG ND M LÀO VÀ

Ủ ĐẢNG ỘNG SẢN VIỆT N M VỀ THU HÚT VÀ

KHUY N KHÍ H Đ U TƯ

5

1.1.1 5

1.1.2

7

1.1.3

11

1.2 VỊ TRÍ, V I TRÒ Ủ LUẬT Đ U TƯ ĐỐI VỚI VIỆ

THU HÚT VÀ KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ở LÀO VÀ

VIỆT N M

16

1.3 NH NG TIÊU HÍ Ủ VIỆ SO S NH LUẬT KKĐT

Ủ HD ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG

HÒ XH N VIỆT N M

18

1.4 MỤ ĐÍ H Ủ VIỆ SO S NH LUẬT KKĐT Ủ

HD ND LÀO VÀ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M 19

CHƯƠNG 2

S TƯƠNG Đ NG VÀ KHÁC BIỆT TRONG LUẬT

KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ CỦA CỘNG H A DCND LÀO

VÀ LUẬT ĐẦU TƯ CỦA CỘNG H A HCN VIỆT NAM

21

Trang 4

2.1 SO SÁNH LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ ỘNG

HÒ D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ

XH N VIỆT N M TRONG HÍNH S H VỀ Đ U TƯ

21

2.2 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ ỘNG

HÒ D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ

XH N VIỆT N M TRONG BẢO ĐẢM Đ U TƯ

24

2.3 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H ĐẨU TƯ Ủ ỘNG HÒ

D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT

N M VỀ QUYỀN VÀ NGHĨ VỤ Ủ NHÀ Đ U TƯ

27

2.4 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ ỘNG

HÒ D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ

XH N VIỆT N M VỀ HÌNH THỨ Đ U TƯ

30

2.5 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ ỘNG

HÒ D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ

XH N VIỆT N M VỀ LĨNH VỰ , ĐỊ BÀN Đ U TƯ; ƯU

ĐÃI, HỖ TRỢ Đ U TƯ

35

2.5.1 ữ ĩ ự ã 35

2.5.2 ị b ợ 39

2.5.3 ã ợ 43

2.5.3.1 ã 43

2.5.3.2 ã 44

2.5.3.3 Nh ng ưu đãi về thuế 49 2.5.3.4 ã ớ ô

x ô 55

2.6 SO S NH LUẬT KKĐT Ủ ỘNG HÒ D ND LÀO VÀ

LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M VỀ

Đ U TƯ KINH DO NH VỐN NHÀ NƯỚ

60

2.7 SO S NH LUẬT KKĐT Ủ ỘNG HÒ D ND LÀO VÀ

LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M VỀ

Đ U TƯ R NƯỚ NGOÀI

62

Trang 5

2.8 SO S NH LUẬT KKĐT Ủ ỘNG HÒ D ND LÀO VÀ

LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M

TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚ VỀ Đ U TƯ

66

CHƯƠNG 3:

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ CỦA CỘNG H A

DCND LÀO

70

3.1 C NGUYÊN TẮ Ủ VIỆ HOÀN THIỆN LUẬT

KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ NƯỚ ỘNG HÒ

DCND LÀO

70

3.1.1

70 3.1.2 ợ b ớ 71

3.1.3

ự ý ọ ý

72 3.1.4

ù ợ ớ ặ b

72 3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ NƯỚ ỘNG HÒ D ND LÀO 73 3.2.1 S ổ bổ ị ê

H 73

3.2.2 S ổ bổ ị 73

3.2.3 S ổ bổ ị

ê 74

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of South-East Nations

(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ) CHDCND ộng hòa Dân chủ Nhân dân

DCND Dân chủ Nhân dân

WTO World Trade Organisation

(Tổ chức Thương mại Thế giới) XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Xu hướng quốc tế h a đời sống kinh tế thế giới là kết quả của quá trình

phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới làm cho các nước

và v ng lãnh thổ t ng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới Trong xu thế đ , một quốc gia không thể tách biệt khỏi thế giới Nh ng thành tựu của khoa học

và kinh tế đã k o các quốc gia xích lại gần nhau hơn Dưới tác động của toàn cầu h a, các nước hội nhập ngày càng sâu rộng Mặt khác, trong xu hướng mở

c a, các nước đều muốn thu h t được nhiều nguồn lực t bên ngoài để phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; vì thế các nước đều muốn tạo ra nh ng điều kiện ưu đãi để thu h t được nhiều kênh đầu tư nước ngoài

Nhận thức được vấn đề này, Nhà nước Lào và Việt Nam đã thực hiện đường lối đổi mới theo hướng mở c a với bên ngoài thể n i trên thế giới hiếm c các quốc gia láng giềng nào c mối quan hệ truyền thống lâu đời và c tinh thần hợp tác h u nghị khăng khít anh em như mối quan hệ Việt Nam - Lào Hai quốc gia c ng nằm trên bán đảo Đông Dương, c ng trải qua biết bao thăng trầm lịch s Khi hai nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, cơ sở vật chất của cả Việt Nam và Lào đều bị tàn phá nặng nề, hai nước bắt đầu xây dựng XH N với mức xuất phát thấp Trong khi đ , nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, xu thế toàn cầu h a được thể hiện ngày càng rõ n t, các quốc gia không phân biệt về chế độ chính trị, văn h a đều đổi mới mình để hội nhập và phát triển Một trong nh ng cách thức quan trọng mà các quốc gia cần thay đổi

để "đi tắt, đ n đầu" tiến kịp với xu thế chung đ là xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật kinh tế Việc xây dựng pháp luật kinh tế đòi hỏi phải ph hợp với điều kiện kinh tế trong nước và trình độ phát triển chung của thế giới

Để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển thường xuyên, liên tục, việc thu h t vốn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng là vô c ng cần thiết Tuy nhiên, khả năng thu

Trang 9

h t được nhiều hay ít vốn đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đ nhân tố quan trọng là chính sách, pháp luật về đầu tư Hệ thống pháp luật đầu tư được coi là thước đo đánh giá môi trường đầu tư của mỗi quốc gia Bởi vậy, vấn đề quan trọng là quan tâm xây dựng pháp luật về khuyến khích đầu tư nhằm nâng cao khả năng thu h t các nguồn vốn t trong và ngoài nước

Pháp luật được xây dựng trên nền tảng kinh tế-chính trị-xã hội, rồi sau khi được ban hành n lại được d ng để điều chỉnh chính thực tế cuộc sống Trải qua quá trình áp dụng, thông thường hệ thống pháp luật nào cũng sẽ thể hiện nh ng hạn chế và nh ng điều không ph hợp Bởi vậy, việc s a đổi pháp luật là vấn đề cần thiết và tất yếu Trải qua 9 năm áp dụng Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam, 5 năm áp dụng Luật Khuyến khích đầu tư của Lào, bên cạnh nh ng thành công và

ưu điểm đạt được, thì pháp luật khuyến khích đầu tư của hai nước đã bộc lộ một

số điểm bất cập và hạn chế

Để kết th c quá trình học cao học luật tại Việt Nam, tác giả đã lựa chọn vấn đề " So sánh Luật Khuyến khích Đầu tư của nước HD ND Lào và Luật Đầu tư của nước ộng hòa XH N Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học của mình Việc so sánh pháp luật của hai nước n i chung, pháp luật khuyến khích đầu tư n i riêng là cần thiết Một mặt điều đ ghi nhận và khẳng định

nh ng thành công, mặt khác nhận thức và khắc phục nh ng hạn chế, bất cập trong pháp luật của nhau Bởi không c một hệ thống pháp luật nào là hoàn chỉnh, vấn đề là cần biết điều chỉnh n ph hợp với thực tế, cần hoàn thiện n một cách thường xuyên Việc tìm hiểu các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư của Việt Nam và Lào không chỉ là học nh ng cái hay mà còn r t ra được kinh nghiệm của nước bạn, để t đ làm bài học cho việc xây dựng chính sách

và pháp luật khuyến khích đầu tư tại nước mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khuyến khích đầu tư là một vấn đề quan trọng, vì vậy, hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư được Việt Nam và Lào quan tâm t rất sớm Đã c một

số công trình khoa học trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu về vấn đề

Trang 10

này, thí dụ như Tìm hiểu pháp luật đầu tư của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật HD ND Lào của Poumy Sinlatanathamatheva, kh a luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Hà Nội, 2007,"Pháp luật về khuyến khích đầu tư ở nước HD ND Lào- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện" luận văn Thạc

sỹ Luật của Phut Sa Đy Bu Đa Ph t năm 2009 tại trường Đại học Luật Hà Nội;

"Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư nhằm hình thành và phát triển khu công nghiệp ở Lào" Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2010 của Phon Sa Đy tại trường Đại học Luật Hà Nội; Như vậy là c một số công trình so sánh pháp luật của hai nước Việt Nam và Lào, nhưng nh ng công trình nghiên cứu này chỉ nêu pháp luật về đầu tư của Việt Nam và HD ND Lào mà chưa đi sâu so sánh một cách đầy đủ, c hệ thống và sâu sắc gi a Luật Đầu tư của Việt Nam với Luật Khuyến khích Đầu tư của Lào

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi của một luận văn Thạc sỹ Luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

- Đường lối, chính sách của Đảng ộng sản, Nhà nước Việt Nam và Đảng Nhân dân ách mạng Lào, Nhà nước Lào trong lĩnh vực đầu tư

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu tư của Lào và của Việt Nam

- Đánh giá thành công, hạn chế của pháp luật khuyến khích đầu tư của Lào và Luật Đầu tư của Việt Nam, t đ đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư của Lào

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã s dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để phân tích, đánh giá các vấn đề Bên cạnh đ , tác giả còn s dụng phương pháp diễn dịch, phân tích, so sánh để tìm ra điểm giống nhau và khác nhau trong các quy định của pháp luật về đầu tư của mỗi quốc gia

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Trang 11

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là dưới g c độ so sánh với Luật Đầu

tư của Việt Nam đưa ra phương hướng và nh ng giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư ở Lào

Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:

Nghiên cứu nh ng vấn đề lý luận pháp lý về Đầu tư ở Việt Nam và CHDCND Lào; Phân tích và so sánh các quy định hiện hành của Việt Nam và Lào về đầu tư; Đưa ra các nguyên tắc, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư ở Lào

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn đã trình bày khái niệm cơ bản về khuyến khích đầu tư, sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật khuyến khích đầu tư của Lào và pháp luật đầu tư của Việt Nam

Trên cơ sở trình bày, phân tích, luận văn đã nghiên cứu so sánh một cách toàn diện quy định pháp luật khuyến khích đầu tư ở Lào và Luật Đầu tư ở Việt Nam

Luận văn cũng trình bày được nh ng nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp cụ thể, thiết thực để hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư của Lào

7 Kết cấu luận văn

Ngoài Lời n i đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm ba chương:

hương 1: ơ sở lý luận của việc ban hành Luật Khuyến khích đầu tư của nước ộng hòa D ND Lào và Luật Đầu tư của nước ộng hòa XH N Việt Nam

hương 2: Sự tương đồng và khác biệt trong Luật Khuyến khích đầu tư của ộng hòa D ND Lào và Luật Đầu tư của nước ộng hòa XH N Việt Nam

hương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư ở ộng hòa D ND Lào

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ S L LUẬN CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU

TƯ CỦA NƯỚC CỘNG H A DCND LÀO VÀ LUẬT ĐẦU TƯ CỦA

NƯỚC CỘNG H A HCN VIỆT NAM 1.1 ĐƯỜNG LỐI, HÍNH S H Ủ ĐẢNG NHÂN DÂN H

MẠNG LÀO VÀ Ủ ĐẢNG ỘNG SẢN VIỆT N M VỀ THU HÚT VÀ KHUY N KHÍ H Đ U TƯ

Khi nền kinh tế thế giới càng phát triển, hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra càng mạnh mẽ thì các quốc gia ngày càng ch trọng đến việc hoàn thiện pháp luật đầu tư ũng vì thế mà khái niệm khuyến khích đầu tư ngày càng trở nên phổ biến

Dưới g c độ ngôn ng học, " " được hiểu là việc tạo điều

kiện thuận lợi hơn bình thường để phát triển một công việc nào đ "Đầu tư" là việc bỏ ra giá trị nào đ , bao gồm nhân lực, vật lực, của cải vật chất với mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị bỏ ra Như vậy, khuyến khích đầu tư là việc tạo điều kiện thuận lợi để chủ đầu tư bỏ ra một giá trị vật chất, phi vật chất vào một mục đích kinh doanh nhất định

Dưới g c độ pháp lý, pháp luật của Lào và của Việt Nam đều không đưa

ra khái niệm " " mà chỉ c định nghĩa về " " Khoản 1, Điều 3, Luật Đầu tư (2005) của Việt Nam định nghĩa "

bỏ bằ ữ ì ặ ô ì ì

e ị ị ê quan" Khoản 1, Điều 3 Luật Khuyến khích đầu tư (2009) của Lào định nghĩa ngắn gọn hơn, nhưng nội dung cũng tương tự " ĩ

ữ ì ô ì x "

Theo định nghĩa của Diễn đàn Thương mại và phát triển của Liên hợp

quốc (UN T D) thì "K ò ọ ã b

Trang 13

ợ ớ ự các ngành, ự ặ ở "

Như vậy, khuyến khích đầu tư được hiểu là một sự ưu đãi hơn so với mức thông thường nhằm th c đẩy, tác động tích cực tới các chủ thể được khuyến khích là các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản h u hình hoặc vô hình để tiến hành sản xuất, kinh doanh, hình thành tài sản trong các hoạt động đầu tư

Qua các cách tiếp cận khác nhau, tác giả luận văn xin đưa ra khái niệm chung nhất về khuyến khích đầu tư như sau:

ác chính

b ợ ơ bì ự

ớ ặ ị ớ e ữ

ê ị

Trong pháp luật đầu tư tồn tại hai khái niệm phổ biến, đ là ưu đãi đầu

tư và bảo đảm đầu tư Theo đ , để khuyến khích các nhà đầu tư đưa vốn ra đầu tư thì bất kỳ quốc gia nào cũng phải đưa ra các biện pháp để nhà đầu tư cảm thấy an toàn khi tiến hành đầu tư Biện pháp đ là việc đảm bảo đầu tư Đảm bảo đầu tư là các cam kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư để khẳng định rằng hoạt động đầu tư sẽ không bị Nhà nước can thiệp bởi các điều kiện không thuộc

về cạnh tranh trong kinh doanh như: trưng thu, trưng mua hay việc đảm bảo

nh ng quyền tối thiểu của nhà đầu tư như bảo đảm về vốn, tài sản, bảo hộ quyền

sở h u trí tuệ, quyền chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài thể n i đảm bảo đầu tư là cái nền cơ bản mà mọi quốc gia hiện nay đều cam kết và đáp ứng cho nhà đầu tư d là trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài ũng vì vậy mà các quốc gia trên thế giới quy định bảo đảm đầu tư tương tự nhau Khi tiến hành đầu

tư, người ta thường quan tâm tới các biện pháp ưu đãi đầu tư của mỗi quốc gia Biện pháp ưu đãi đầu tư chính là biện pháp khuyến khích đầu tư Như vậy, ta c thể phân biệt được khuyến khích đầu tư với đảm bảo đầu tư mặc d việc đưa ra các biện pháp đảm bảo đầu tư hay khuyến khích đầu tư đều nhằm th c đẩy, thu h t hoạt động đầu tư và đều được quy định trong Luật Đầu tư của Việt

Trang 14

Nam, Luật Khuyến khích đầu tư của Lào Như vậy, ngày nay, nói đến khuyến khích đầu tư, ta hiểu đ là việc các Nhà nước đưa ra và áp dụng các biện pháp

ưu đãi đầu tư

1.1.2

Trong bối cảnh toàn cầu h a và khu vực h a làm cho các nền kinh tế xích lại gần nhau hơn, hính phủ Lào đã c chính sách hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế bắt đầu t năm 1989 hính phủ Lào đã mở c a đ n nhận việc đầu tư của nước ngoài, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư theo ngành nghề kinh doanh do Nhà nước quy định trên cơ sở pháp luật của ộng hòa D ND Lào Trên cơ sở Hiến pháp, Đảng và Nhà nước Lào đã thực hiện chính sách mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế đa phương và song phương, đa dạng

h a quan hệ với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng, tự

do, hòa bình và c ng c lợi Đảng và Nhà nước Lào cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thực hiện mục tiêu công nghiệp h a, hiện đại h a và phát triển nền kinh tế quốc gia Bên cạnh

đ , Nhà nước Lào cũng ban hành các văn bản pháp luật về công nhận đầu tư đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, pháp luật về đầu tư của Lào vẫn còn tồn tại nh ng bất cập, thiếu đồng bộ ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau

Mục tiêu quan trọng của hính phủ Lào trong việc mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài là hướng tới việc thực hiện chính sách đổi mới toàn diện, trong đ đặc biệt quan trọng là lĩnh vực kinh tế, thực hiện mục tiêu chuyển đổi việc quản lý kinh tế, phát huy sức mạnh dân chủ, thống nhất chính sách tiền tệ, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp năng lượng Mặt khác, trong khi phát triển kinh tế thì phải giải quyết được nh ng đòi hỏi về vốn, máy m c, trang thiết bị công nghệ hiện đại, trình độ lao động và trình độ quản

lý Huy động vốn đầu tư không chỉ đem lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn g p phần tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm cho người lao động, chính sách

Trang 15

quan tâm dành cho người ngh o, vấn đề trật tự an toàn xã hội được đảm bảo hơn

Nhận thấy được vai trò to lớn của chính sách đầu tư, Ban chấp hành trung ương Đảng nhân dân ách mạng Lào đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

của ộng hòa D ND Lào trong giai đoạn 2010-2020:

ớ ô

doan ự ò ô b ự

ớ ự ô bì

ỏ ự ổ ị ữ b ớ

ớ ợ ớ ă

– xã ự ù ợ ở

ợ ớ ớ ợ x ọ ớ ự ý

ị ơ ơ ở ớ ị ơ ớ ”

Thể chế h a đường lối chính sách của Đảng Nhân dân ách mạng Lào, hính phủ Lào đã ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, trong đ quy định các cá nhân, tổ chức không chỉ là nhà đầu tư trong nước mà còn là các nhà đầu tư nước ngoài c quyền đầu tư tại HD ND Lào trên nguyên tắc các bên

c ng c lợi, hoạt động trên cơ sở pháp luật của ộng hòa D ND Lào, nhà đầu

tư sẽ được bảo vệ bởi pháp luật của ộng hòa D ND Lào

Pháp luật đầu tư của Lào nhìn chung đã bảo đảm được tính thống nhất

gi a các văn bản pháp luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản trong đ Luật Doanh nghiệp quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình và kể cả việc g p vốn của các nhà đầu tư Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu

tư, quy định về việc xem x t đơn xin ph p đầu tư của các nhà đầu tư Trong t ng thời điểm cụ thể, HD ND Lào đã ban hành một số văn bản pháp luật về công

Trang 16

nhận đầu tư đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, như : Pháp lệnh

về đầu tư nước ngoài ngày 9 4 1988 được s a đổi bổ sung bởi Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài số 01 1994-QH ngày 14/3/1994, Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước số 03 95-QH ngày 14 10 1995 được

s a đổi, bổ sung bởi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước số 10 QH ngày 22/10/2004; Nghị định của hính phủ về việc quản lý đầu tư của Nhà nước ngày

22 5 2002; Quyết định về tổ chức thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào ngày 22 3 2001, ngoài ra còn c một số văn bản pháp luật liên quan khác Hiện nay, hoạt động đầu tư của Lào đang được thực hiện theo hệ thống các văn bản sau:

Một là, Luật Đầu tư nước ngoài : Luật Đầu tư nước ngoài đẩu tiên của

HD ND Lào được ban hành ngày 19 4 1988, đã được thay thế bằng Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua ngày

14 3 1994, c hiệu lực tháng 6 1994 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài của HD ND Lào) Luật này chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài Theo Điều 1 Luật này, nước HD ND Lào khuyến khích tư nhân và pháp nhân nước ngoài đầu tư tại HD ND Lào trên nguyên tắc các bên c ng c lợi, tuân theo pháp luật của HD ND Lào Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài c thể hoạt động đầu tư trong mọi ngành kinh tế được Nhà nước cho ph p đầu tư tại Lào, bao gồm kinh doanh mở nhưng phải thông qua Ủy ban Quản lý đầu tư nước ngoài ( IM ) òn nh ng ngành nghề kinh doanh dành cho công dân Lào, thì trong một số trường hợp, Ủy ban quản lý đầu tư nước ngoài sẽ xem x t giải quyết nếu thấy sự cần thiết

Hai là, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước: Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội Lào thông qua ngày 22 10 2004, quy định đối tượng

áp dụng như sau: Luật khuyến khích đầu tư quy định nguyên tắc, thủ tục và biện pháp khuyến khích, quản lý đầu tư để hoạt động đầu tư được thuận lợi, đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư, Nhà nước và nhân dân nhằm tăng cường đầu tư trong và ngoài nước, g p phần quan trọng trong việc phát triển v ng chắc và bền

Trang 17

v ng kinh tế – xã hội (Điều 1) Việc Khuyến khích đầu tư nhằm tạo môi trường

và điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư tiến hành kinh doanh trong các ngành và khu vực đầu tư tại HD ND Lào (Điều 2)

Mục tiêu của việc khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài tại

HD ND Lào nhằm mở rộng các ngành kinh doanh thu h t vốn và ngoại tệ vào lưu thông trong nước, khuyến khích xuất khẩu và tìm kiếm thị trường nước ngoài để t đ tiếp thu và học hỏi trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, phát triển và nâng cao trình độ cho người lao động trong nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân lao động, t đ g p phần cải thiện và nâng cao đời sống xã hội Vì mục tiêu nêu trên mà nội dung cơ bản pháp luật đầu tư của Lào quy định nh ng nguyên tắc trong hoạt động đầu tư, các loại hình và ngành nghề đầu tư, các biện pháp khuyến khích, bảo hộ và quản lý việc đầu tư trong nước và nước ngoài quan trọng nhất là việc quy định quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

Tuy nhiên, do quy định ở nhiều văn bản khác nhau nên không tránh khỏi việc tồn tại nh ng quy định khác nhau đối với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu

tư nước ngoài Đây cũng là bất cập, vướng mắc mà Việt Nam gặp phải trong thời gian trước đây Để việc đầu tư được quản lý thống nhất trên toàn lãnh thổ Lào, cả về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, cũng giống như Việt Nam, Đảng, Nhà nước, Quốc hội Lào quyết định ban hành một đạo luật mới chuyên biệt về đầu tư gọi là Luật Khuyến khích đầu tư của HD ND Lào (2009) thay thế cho Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, số 10 QH, ngày 22 10 2004 và Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài số 11 QH, ngày 22 10 2004 Theo đ , Luật Khuyến khích đầu tư của HD ND Lào (2009) bao gồm 10 chương và

100 điều

Như vậy, việc thống nhất các đạo luật về đầu tư trong và ngoài nước thành một đạo luật là điều tất yếu, ph hợp với xu thế phát triển quốc tế cũng như đáp ứng yêu cầu trong nước

Trang 18

1.1.3

T sau khi bước ra khỏi cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc 1945, trong hoàn cảnh th trong giặc ngoài, Nhà nước còn non tr , Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương v a kháng chiến kiến quốc v a bảo toàn lãnh thổ, hoàn thành cuộc cách mạng giải ph ng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước Thời

kỳ Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế vận hành theo

cơ chế kế hoạch h a tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, pháp luật về đầu tư chưa được hình thành, Đảng và Nhà nước điều hành nền kinh tế chủ yếu bằng phương thức mệnh lệnh hành chính và chính sách của Đảng Về mặt pháp lý, để đảm bảo cho mọi mầm mồng kinh tế tư bản không xâm nhập vào nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa thì khu vực kinh tế tư nhân không được th a nhận trong giai đoạn này

Pháp luật về Đầu tư chỉ thực sự được quan tâm xây dựng trong nh ng năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và nền kinh tế Đánh dấu bằng thắng lợi của Đại hội VI (12 1986) là một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế n i chung và pháp luật đầu tư n i riêng, bằng việc quy định phát triển nền kinh tế hàng h a nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với quan điểm huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế, kiến thiết đất nước, pháp luật đầu tư của Việt Nam đã t ng bước được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng thông thoáng và đảm bảo cho các nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn kinh doanh ụ thể, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp nhà nước ác văn bản pháp luật này c ng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh về đầu tư với phương pháp, nội dung điều chỉnh mới, quy định các vấn đề pháp lý về đầu tư trong nền kinh tế thị trường trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản như tự do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh Điều này g p phần không nhỏ vào việc tăng cường hiệu quả huy động

Trang 19

vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao đời sống của nhân dân

ng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế Trong việc tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại, việc mở rộng thu h t đầu tư nước ngoài, trao đổi công nghệ là một hướng ưu tiên quan trọng Điều lệ đầu tư ban hành k m theo Nghị định số 115 P ngày 18 4 1977 của hính phủ là văn bản pháp lý đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Theo văn bản này tại Điều 1, hính Phủ Việt Nam : chấp thuận đầu tư trực tiếp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn v n lãnh thổ của Việt Nam và các bên c ng c lợi Điều lệ đầu tư đã tạo ra một khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài, làm tiền đề cho nh ng cải cách sau này Xuất phát

t thực tiễn nền kinh tế – xã hội của Việt Nam, c tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới và r t kinh nghiệm t Điều lệ Đầu tư (1977), ngày 29 12 1987, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ác quy định của đạo luật này đã thể hiện vai trò, vị trí, tác dụng của đầu

tư nước ngoài đối với nền kinh tế quốc dân Ngay sau khi ra đời, Luật Đầu tư nước ngoài (1987) đã c ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xây dựng hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế mới với nhiều thành phần kinh

tế tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật Sự phát triển của nền kinh tế vận động không ng ng làm cho Luật Đầu tư nước ngoài

1987 tại Việt Nam bộc lộ một số hạn chế, thiếu s t trong việc thi hành cũng như bản thân nội dung luật Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được hoàn thiện

t ng bước Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được s a đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992 Năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài (mới) tại Việt Nam được thông qua thay thế cho Luật năm 1987 và các văn bản luật s a đổi bổ sung năm 1990, 1992 Ngày 9 6 2000, Việt Nam tiếp tục ban hành Luật s a đổi bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996

Trang 20

Qua gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đã được hoàn thiện t ng bước Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được s a đổi, bổ sung liên tục Trên cơ sở Luật Đầu

tư nước ngoài, hính phủ Việt Nam và các bộ, ban ngành đã ban hành một số lượng lớn các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo thành hệ thống pháp luật về đầu

tư nước ngoài; điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam So với pháp luật nhiều nước khác trong khu vực, pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam được coi là khá thông thoáng, cởi mở và c tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, nh ng yêu cầu của đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp h a, hiện đại

h a đất nước chủ động hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra nh ng đòi hỏi khách quan đối với việc cần thiết phải xây dựng một Luật Đầu tư chung nhằm huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, cụ thể là:

Một là - Nghị quyết BCH Trung ương Đảng lần thứ IX đã đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp h a, hiện đại h a, khắc phục nguy cơ tụt hậu của nước ta so với thế giới và khu vực, đưa Việt Nam ra khỏi nh m nước đang phát triển c thu nhập thấp Do đ , trong nh ng năm tới, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển là rất lớn Đây là một nhiệm vụ kh khăn đòi hỏi phải tiếp tục quán triệt đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng được khẳng định trong Đại hội Đảng lần thứ IX, cụ thể ở Nghị quyết BCH TW Đảng kh a

IX : gắn huy động nguồn nội lực và ngoại lực, gắn cải cách trong nước với hội nhập để tận dụng cơ hội và vượt qua th thách trong giai đoạn tới; điều đ một mặt đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ và hoàn thiện cơ bản thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XH N; mặt khác cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các giải pháp đồng bộ nhằm thu h t và s dụng c hiệu quả các nguồn lực; trong đ c việc phải xây dựng một Luật Đầu tư áp dụng thống nhất nhằm đảm bảo quyền bình đẳng, tự do đầu tư kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo sự hấp dẫn các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế

Trang 21

Hai là – T khi tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về đầu

tư, kinh doanh không ng ng được cải thiện theo hướng ph hợp với việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XH N Trong quá trình đ , môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng không ng ng được hoàn thiện, thay đổi theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập c ng một sân chơi chung cho các hình thức đầu tư, các thành phần kinh tế, thể hiện qua hàng loạt các đạo luật mới được ban hành, hoặc s a đổi, bổ sung Nh ng khác biệt về điều kiện đầu tư, kinh doanh như điều kiện gia nhập thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra và hoạt động quản lý doanh nghiệp gi a đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đã được thu h p đáng kể

Tuy nhiên, do các luật liên quan đến đầu tư được ban hành riêng l , lại chưa c sự thống nhất về nội dung, phạm vi điều chỉnh nên trên thực tế chưa thực sự tạo được một sân chơi bình đẳng như chủ trương của Đảng và yêu cầu hội nhập Nh ng khác biệt như vậy đã và đang tiếp tục làm cho hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh thiếu nhất quán, minh bạch; tình trạng phân biệt đối

x gi a các nhà Đầu tư và các loại hình doanh nghiệp khác nhau đang tồn tại, đã hạn chế việc phát huy các nguồn lực Thêm vào đ , sự phát triển năng động, đa dạng của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã càng làm bộc lộ nh ng bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành phần kinh tế

Do đ , việc xây dựng Luật Đầu tư áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư

là yêu cầu thiết yếu và bức x c nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nhất là môi trường pháp lý nhằm củng cố niềm tin của các nhà đầu tư tạo điều kiện thuận lợi để thu h t đầu tư tối đa và s dụng hiệu quả các hoạt động đầu tư

Ba là – trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động đầu tư, hiện nay đang ở giai đoạn thực hiện về cơ bản các cam kết quốc tế đ như

nh ng cam kết trong khuôn khổ T , Hiệp định khung về khu vực đầu tư

S N, Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, Hiệp định tự do h a,

Trang 22

khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản và nh ng cam kết khi gia nhập WTO Việc ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến hoạt động đầu

tư một mặt đòi hỏi Việt Nam phải mở c a thị trường, x a bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế hoặc các trợ cấp không ph hợp với thông lệ quốc tế, mặt khác vẫn phải duy trì một số chính sách bảo hộ sản xuất trong nước c điều kiện, c thời gian, mở c a thị trường theo lộ trình xác định Do đ , việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế trong đ c Luật Đầu

tư, là yêu cầu cấp thiết

Bốn là, uộc cạnh tranh thu h t vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới vào khu vực đang diễn ra ngày càng gay gắt, nhất là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trong bối cảnh đ , các nước trong khu vực đang cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do h a chính sách đầu

tư, thương mại với các đối tác kinh tế lớn nhằm tranh thủ nguồn vốn đầu tư, công nghệ, Hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam trước đây được coi là hấp dẫn, thông thoáng nay giảm dần tính cạnh tranh so với nh ng chuyển biến mới về nh ng chính sách thu h t đầu tư của các nước trong khu vực và thế giới Vì vậy, cần phải ban hành Luật Đầu tư (mới) thể hiện rõ ràng, minh bạch hơn chính sách bảo đảm đầu tư, khuyến khích ưu đãi đầu tư, đơn giản h a thủ tục hành chính

Năm là, Nguồn vốn đầu tư t khu vực Nhà nước hàng năm hiện chiếm tới 55%-57% Tổng đầu tư xã hội và đ ng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập

cơ cấu kinh tế, nhất là trong việc hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, trong các ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và thu h t đầu tư của các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên công tác quản lý đầu tư n i chung, đặc biệt là quản lý các dự án đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước còn nhiều yếu k m, thiếu s t đã dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, hiệu quả s dụng nguồn vốn đầu tư còn thấp, cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp lý, s dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước còn k m hiệu quả, công tác giám sát, thanh tra chậm được ch

Trang 23

ý và còn l ng t ng trong hướng dẫn triển khai thực hiện Một trong nh ng nguyên nhân quan trọng của tình trạng n i trên là chưa c văn bản pháp luật c

đủ hiệu lực để điều chỉnh hoạt động đầu tư t nguồn vốn nhà nước

Như vậy, việc ban hành Luật Đầu tư chung đã trở thành đòi hỏi tất yếu khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XH N, bắt nguồn t chủ trương đường lối của Đảng, t thực tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế nhằm huy động nhiều hơn, s dụng c hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài của mọi thành phần kinh tế Trước nhu cầu đ , Luật Đầu tư được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 29 11 2005, gồm c 10 chương, 89 điều quy định về bảo đảm đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu

tư, hình thức hoạt động đầu tư và các lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi đầu tư và

hỗ trợ đầu tư (Luật Đầu tư c hiệu lực t ngày 1 7 2006) ho đến nay (2014) một dự thảo về s a đổi Luật Đầu tư đang tiếp tục được xem x t thông qua

1.2 VỊ TRÍ, V I TRÒ Ủ LUẬT Đ U TƯ ĐỐI VỚI VIỆ THU HÚT

VÀ KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ở LÀO VÀ VIỆT N M

Việc khuyến khích đầu tư được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của quốc gia Hệ thống các văn bản pháp luật này bao gồm Luật Đầu tư của Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư của Lào Ngoài ra còn c các văn bản dưới luật, như các nghị định, thông tư về khuyến khích đầu tư Trong các văn bản đ c các điều khoản ghi nhận đầy đủ các biện pháp, thủ tục để các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư Việc ghi nhận này thể hiện sự quan tâm rõ ràng, cụ thể, c tính hệ thống của các quốc gia đối với việc khuyến khích đầu tư Vai trò to lớn của Luật Đầu tư được thể hiện ở nh ng điểm sau :

Thứ nhất, Luật Khuyến khích đầu tư là một cách thức để th c đẩy hoạt động đầu tư được tiến hành nhanh ch ng và hiệu quả Hoạt động đầu tư t khi phát sinh ý tưởng đến khi đưa vào thực tiễn đầu tư sản xuất là cả một quá trình, phải trải qua nhiều giai đoạn, thủ tục Nh ng giai đoạn và thủ tục này ảnh hưởng tới tiến độ g p vốn, hiệu quả công việc và tâm lý của nhà đầu tư Bởi vậy, việc

Trang 24

khuyến khích đầu tư g p phần r t ngắn thời gian chờ đợi đầu tư, g p vốn Điều quan trọng là gi p nhà đầu tư nhận ra được sự quan tâm, ưu ái của hính phủ đối với hoạt động đầu tư, không chỉ trong giai đoạn khởi đầu dự án đầu tư mà trong suốt quá trình hoạt động của dự án Nhà đầu tư sẽ được hưởng các ưu đãi

về s dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, được tạo thuận lợi trong việc kinh doanh cũng như chia s nh ng rủi ro khi gặp kh khăn hính điều này sẽ th c đẩy hoạt động đầu tư về số lượng cũng như quy mô dự

án đầu tư Như vậy, bằng các biện pháp khuyến khích đầu tư, quốc gia đưa ra chính sách sẽ thu h t được nguồn vốn lớn vào quá trình phát triển kinh tế nước mình Đồng thời, nhà đầu tư bỏ ra nguồn vốn lớn cũng được hưởng nhiều quyền lợi và thu được nhiều lợi nhuận hơn [21,tr.10]

Thứ hai, thông qua việc ban hành Luật Khuyến khích đầu tư, Nhà nước chủ động cơ cấu lại nền kinh tế Bởi mục đích của việc khuyến khích đầu tư là thu h t đầu tư vào địa bàn, ngành, lĩnh vực nào đ Trong t ng giai đoạn phát triển, Nhà nước c nh ng chủ trương phát triển khác nhau với t ng ngành nghề, khu vực nhằm tận dụng lợi thế quốc gia, xây dựng bàn đạp vực dậy cả nền kinh

tế hay để ứng dụng kỹ thuật hiện đại ác chính sách ưu đãi được áp dụng đối với nh ng nhà đầu tư vào nh ng địa bàn c điều kiện kinh tế, xã hội kh khăn nhằm mục đích hình thành nhiều dự án đầu tư, tạo ra nhiều việc làm cho lao động quanh khu vực, tận dụng nh ng thế mạnh của v ng; ưu đãi đầu tư được áp dụng vào nh ng ngành nghề ứng dụng khoa học kỹ thuật cao nhằm đưa nền khoa học quốc gia tiến kịp với tốc độ phát triển của quốc tế Như vậy, thông qua công cụ pháp luật khuyến khích đầu tư, hính phủ c thể định hướng các nhà đầu tư đầu tư vào nh ng lĩnh vực, khu vực cần được phát triển

Thứ ba, thông qua việc ban hành Luật Khuyến khích đầu tư, người ta c thể đánh giá sự thông thoáng của pháp luật đầu tư n i riêng và pháp luật quốc gia n i chung Như đã phân tích, khuyến khích đầu tư bao gồm hai biện pháp khuyến khích đầu tư và bảo đảm đầu tư Hai biện pháp này được đưa ra đều nhằm th c đẩy hoạt động đầu tư Mỗi biện pháp đảm nhiệm một vai trò nhất

Trang 25

định trong hoạt động khuyến khích đầu tư Trong điều kiện kinh tế hiện nay, khuyến khích đầu tư được xem là một biện pháp quan trọng, mấu chốt để th c đẩy việc đầu tư Hoạt động đầu tư trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ

ng với sự phát triển đ c sự hoàn thiện pháp luật về đầu tư thể n i hầu hết các biện pháp trong nh m biện pháp bảo đảm đầu tư ở các nước trên thế giới đều được quy định tương tự nhau Vì vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư thường quan tâm tới nh m biện pháp khuyến khích đầu tư hơn là

nh m bảo đảm đầu tư Thông qua nội dung khuyến khích đầu tư, ch ng ta c thể đánh giá mức độ thông thoáng, cơ chế chính sách của một quốc gia Việc khuyến khích đầu tư càng mở rộng với nhiều biện pháp ưu đãi càng chứng tỏ sự

ưu ái của quốc gia đ với các nhà đầu tư và sự quan tâm tới hoạt động phát triển kinh tế Ngược lại, chính sách khuyến khích đầu tư của quốc gia bị hạn chế, thắt chặt phần nào chứng tỏ sự kh p kín của pháp luật nước đ T g c độ pháp luật khuyến khích đầu tư, các nhà đầu tư sẽ cảm nhận, hình dung và đánh giá cả hệ thống pháp luật nước sở tại

1.3.NH NG TIÊU HÍ Ủ VIỆ SO S NH LUẬT KKĐT Ủ ỘNG HÒ D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M

ị ” [22,tr.26] Trong phạm vi của một Luận văn Thạc sĩ, tác giả tiến

hành so sánh Luật Khuyến khích đầu tư của ộng hòa D ND Lào và Luật Đầu

tư của ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên nh ng tiêu chí sau:

- So sánh về chính sách về đầu tư;

- So sánh về Bảo đảm đầu tư;

- So sánh về Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư;

Trang 26

- So sánh về Hình thức đầu tư;

- So sánh về Lĩnh vực, địa bàn đầu tư; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư;

- So sánh về Đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước;

- So sánh về Đầu tư ra nước ngoài;

- So sánh về Quản lý nhà nước về đầu tư

1.4 MỤ ĐÍ H Ủ VIỆ SO S NH LUẬT KKĐT Ủ HD ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M

Việc so sánh Luật Khuyến khích Đầu tư của Lào và Luật Đầu tư của Việt Nam nhằm mục đích sau:

1.4.1 Thấy được sự tương đồng trong chính sách, pháp luật về thu h t và khuyến khích đầu tư của nước HD ND Lào và của nước ộng hòa XH N Việt Nam

Việt Nam và Lào là hai quốc gia c tình cảm anh em truyền thống,h u nghị đặc biệt, c quan hệ rất khăng khít trên nhiều lĩnh vực Trong bối cảnh lịch

s tương tự nhau, việc hoạch định chính sách, thể chế h a đường lối của Đảng vào hoạt động đầu tư phát triển kinh tế – xã hội ở hai nước sẽ là điều kiện thuận lợi để tìm hiểu, học hỏi và r t ra nh ng bài học kinh nghiệm thực tiễn cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Việt Nam và pháp luật của Lào về khuyến khích đầu tư

1.4.2 Thấy được sự tương thích của Luật Đầu tư của Lào và của Việt Nam với Luật Đầu tư của các nước khác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, mở c a và hội nhập của mỗi nước

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đầu tư là một trong nh ng giải pháp quan trọng nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như huy động nguồn lực về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật cho phát triển kinh tế Để giải bài toán này thì trước hết pháp luật đầu tư về thu h t và khuyến khích đầu tư phải bao hàm

nh ng quy phạm pháp luật, nh ng chính sách, nguyên tắc đầu tư, bảo đảm đầu

tư tương thích với pháp luật quốc tế Trong nh ng năm qua, Việt Nam và Lào luôn chủ động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia để t ng bước

Trang 27

ph hợp với thông lệ quốc tế, tập quán quốc tế bằng việc ký kết các hiệp định song phương, đa phương ác cam kết quốc tế của Việt Nam và Lào c hình thức, phạm vi và mức độ khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu chung là nhằm tự do h a hoạt động đầu tư bằng việc mở c a các lĩnh vực kinh tế và thực hiện chế độ không phân biệt đối x đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình nhất định, đồng thời thiết lập một cơ chế khuyến khích, bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp ph hợp với thông lệ quốc tế

1.4.3 Thấy được nh ng ưu điểm và thành công, nhược điểm và bất cập trong các quy định của hai nước về thu h t và khuyến khích đầu tư, nhằm hoàn thiện pháp luật về Đầu tư của ộng hòa D ND Lào

Hoạt động nghiên cứu pháp luật thu h t và khuyến khích đầu tư c vai trò

hỗ trợ cho việc cải cách pháp luật quốc gia Nh ng tri thức c được t kết quả của việc nghiên cứu so sánh sẽ hỗ trợ rất lớn cho các nhà làm luật trong việc xây dựng hoặc cải tổ hệ thống pháp luật của quốc gia Dựa vào các nghiên cứu so sánh, tác giả nhận thấy thay vì phải dự đoán và c nguy cơ phải chịu nh ng giải pháp k m thích hợp, ch ng ta c thể khai thác, tham khảo các kinh nghiệm quý báu, phong ph t hệ thống pháp luật nước khác Việt Nam là nước c nền kinh

tế đang phát triển, trình độ lập pháp đi trước Lào, do đ việc nghiên cứu pháp luật của Việt Nam về thu h t và khuyến khích đầu tư sẽ gi p cho Lào nh ng bài học kinh nghiệm về sự thành công để học tập và nh ng hạn chế, sai lầm cần khắc phục

Trang 28

CHƯƠNG 2

S TƯƠNG Đ NG VÀ KHÁC BIỆT TRONG LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ CỦA CỘNG H A DCND LÀO VÀ LUẬT ĐẦU TƯ CỦA CỘNG

H A HCN VIỆT NAM 2.1 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ

DÂN HỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XÃ

HỘI HỦ NGHĨ VIỆT N M TRONG HÍNH S H VỀ Đ U TƯ

hính sách đầu tư được hiểu là nh ng quan điểm, định hướng, tư tưởng chỉ đạo trong khuyến khích đầu tư hính sách đầu tư còn được coi là cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp, chế độ ưu đãi cho hoạt động đầu tư

hính sách đầu tư được quy định tại Điều 4, Luật KKĐT của Lào, theo đ

quy định dễ hiểu hơn, nhà đầu tư chỉ cần quan tâm tới chính sách đầu tư của một quốc gia Ở Lào, nhà đầu tư được đầu tư vào mọi ngành nghề, lĩnh vực và khu vực tr hoạt động liên quan tới an ninh và ổn định quốc gia, tác động mạnh mẽ

Trang 29

tới môi trường hiện nay và lâu dài, tới sức khỏe người dân hoặc văn h a tốt đ p của đất nước nghĩa là ngoài ngành nghề, lĩnh vực và khu vực liên quan tới an ninh và ổn định quốc gia, tác động mạnh mẽ tới môi trường, tới sức khỏe người dân hoặc văn h a tốt đ p của đất nước thì nhà đầu tư được đầu tư vào tất cả ngành nghề, lĩnh vực và khu vực còn lại, phạm vi rộng hơn phạm vi được quy định trong Luật Đầu tư của Việt Nam Luật Đầu tư của Việt Nam quy định các lĩnh vực, ngành, nghề mà pháp luật không cấm phải diễn giải ở hai điều luật khác là Điều 29 về Lĩnh vực đầu tư c điều kiện, Điều 30 Lĩnh vực cấm đầu tư

và Nghị định số 108 2006 NĐ- P quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Đầu tư ngày 22 9 2006 Tuy nhiên, tác giả cho rằng việc quy định như vậy là hợp lý vì n g p phần tạo cơ sở pháp lý cho hính phủ trong hoạt động quản lý hoạt động đầu tư tốt hơn (ở Lào không c quy định về lĩnh vực đầu tư c điều kiện như ở Việt Nam, trong tương lai sắp tới, khi mà dòng vốn DI và OD tuôn chảy vào Lào thì cần thiết phải c quy định này)

Bên cạnh đ , các nhà đầu tư luôn được đối x bình đẳng trong ưu đãi, không phân biệt đối x gi a đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư để phát triển

cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự do và sự bình đẳng gi a các nhà đầu tư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm về khuyến khích đầu tư trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Tiếp đ , các chính sách đầu tư cũng được quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5, Điều 4 :

Trang 30

ớ ô b ở ữ

ợ ợ ự

ớ ự ớ ê

ò xã ĩ ê

ớ ã ớ

ĩ ự ị b ã .”

Trên cơ sở đ , t y thuộc vào mỗi thời kỳ phát triển kinh tế mà hính phủ

đề xuất nh ng chính sách ưu đãi ph hợp hính sách đầu tư còn được quy định rải rác ở nh ng điều khoản khác nhau ụ thể, tại Điều 32, Luật Đầu tư của

Việt Nam còn ghi nhận : ự ĩ ự ị

nh ng ưu đãi mà Luật Đầu tư chỉ nêu ra mang tính nguyên tắc, cơ sở , định hướng, còn các luật khác như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Nhà ở quy định chi tiết Hơn thế n a, các chính sách ưu đãi không chỉ áp dụng đối với dự án đầu tư mới, mà còn áp dụng cả với các dự

án mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, giảm ô nhiễm môi trường Để đảm bảo quyền lợi tối đa cho mọi nhà đầu tư thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi đầu

tư, pháp luật của Việt Nam còn c nh ng quy định khá chặt chẽ tại Điều 11 Luật Đầu tư và Điều 20 Nghị định số 108 2006 NĐ- P ngày 22 tháng 9 năm 2006 Theo đ , trường hợp c chính sách mới ban hành c quyền lợi ưu đãi cao hơn quyền lợi nhà đầu tư được hưởng trước đ , thì kể t khi chính sách mới c hiệu

Trang 31

lực, nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi mới này Trường hợp chính sách mới ban hành gây bất lợi cho nhà đầu tư thì khi chính sách đ c hiêu lực, nhà đầu tư vẫn được đảm bảo quyền lợi bằng việc tiếp tục được hưởng ưu đãi hoặc xem x t bồi thường, được tr thiệt hại vào thu nhập chịu thuế Việc pháp luật của Việt Nam đưa ra nh ng quy định này đã thể hiện sự nhất quán trong chính sách khuyến khích đầu tư, g p phần củng cố lòng tin và khuyến khích hoạt động đầu

tư của nhà đầu tư vào Việt Nam

và không phân biệt đối x gi a các nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và quyền được chuyển thu nhập ra nước ngoài (Điều 6)

Đáp ứng yêu cầu của quá trình đàm phán gia nhập WTO và ph hợp với các quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Luật quy định cam kết của Nhà nước Việt Nam về việc mở c a thị trường đầu tư ph hợp với

lộ trình đã cam kết Đồng thời, Nhà nước Việt Nam không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu ưu tiên mua, s dụng hàng h a, dịch vụ t nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước; xuất khẩu hàng h a hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một t lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng h a và

Trang 32

dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước, nhập khẩu hàng h a với

số lượng giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng h a xuất khẩu hoặc phải

tự cân đối ngoại tệ t nguồn vốn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu; đạt được t lệ nội địa h a nhất định trong hàng h a sản xuất; đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước; cung cấp hàng h a, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc ở nước ngoài; đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể (Điều 8) Đây là điểm rất quan trọng mà các nước đối tác đàm phán WTO rất quan tâm Quy định thể hiện

sự nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tạo sân chơi bình đẳng gi a các thành phần kinh tế, x a bỏ dần nh ng bảo hộ theo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

Trước đây, khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài n i riêng,

và các tổ chức, cá nhân nước ngoài n i chung thường bị áp dụng giá, phí khi s dụng hàng h a, dịch vụ trong nước cao hơn so với cá nhân, tổ chức là người Việt Nam Điều này đã tạo sự bất bình đẳng, phân biệt đối x gi a tổ chức, cá nhân nước ngoài và tổ chức, cá nhân Việt Nam, gây ra sự cản trở đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Để giải quyết vấn đề này, Luật Đầu tư (2005) đã quy định: Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng h a, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát (Điều 10)

Một nội dung quan trọng được Luật Đầu tư (2005) quy định là vấn đề bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách (Điều 11) Theo đ , trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành c các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đ , thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể t ngày pháp luật, chính sách mới đ c hiệu lực Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đ c hiệu lực, thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được

Trang 33

giải quyết bằng một số biện pháp, như tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi; được tr thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án; được xem x t bồi thường trong một số trường hợp cần thiết ăn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà ộng hòa

XH N Việt Nam là thành viên, hính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư

Theo nguyên tắc đảm bảo việc quản lý đầu tư trong nước và nước ngoài thì tài sản của nhà đầu tư sẽ được quản lý bởi pháp luật, bao gồm nhiều lĩnh vực như Luật Lao động, Luật Bảo hiểm, Luật Bảo hiểm trong hợp đồng, Luật Bảo hiểm ngoài hợp đồng với mục tiêu cao nhất là tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi khuyến khích đầu tư trong nước và thu h t đầu tư nước ngoài ụ thể, theo Điều 3, Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài thì: tài sản và vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Lào sẽ được bảo vệ bằng pháp luật của Lào, không bị nhà nước trưng thu, trưng dụng, quốc h u h a Trường hợp cần thiết s dụng vào lợi ích chung, nhà đầu tư sẽ được Nhà nước Lào bồi thường nhanh ch ng và hợp lý

ũng theo Điều 5 của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, tài sản, vốn của nhà đầu tư được đảm bảo bằng các quy định cụ thể của pháp luật Nhà nước không tịch thu vốn và tài sản đầu tư của các doanh nghiệp Tuy nhiên, trong

nh ng trường hợp cần thiết phải s dụng nh ng tài sản, vốn đầu tư đ , thì các nhà đầu tư sẽ được bồi thường và thanh toán theo quy định của pháp luật

HD ND Lào

Theo Điều 100, Luật Khuyến khích đầu tư (2009) thì : quyền lợi của các doanh nghiệp c được t hai luật trước hoặc hợp đồng đã ký với hính phủ sẽ không bị thay đổi

Như vậy, cơ chế bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư của Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư của Lào đã tạo lòng tin cho các nhà đầu tư, để nhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn đầu tư hính phủ Lào cũng đã và đang cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư

Trang 34

2.3 SO S NH LUẬT KHUY N KHÍ H ĐẨU TƯ Ủ ỘNG HÒ

D ND LÀO VÀ LUẬT Đ U TƯ Ủ ỘNG HÒ XH N VIỆT N M VỀ QUYỀN VÀ NGHĨ VỤ Ủ NHÀ Đ U TƯ

Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư là nội dung cơ bản của quan hệ pháp luật đầu tư Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư được ghi nhận bởi pháp luật Trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư , trên cơ sở pháp luật, nhà đầu tư còn

c thể ấn định các quyền và nghĩa vụ cho mình gắn với nh ng quan hệ đầu tư cụ thể

Luật Đầu tư chỉ quy định ở mức độ nguyên tắc (luật khung) nh ng quyền

và nghĩa vụ cơ bản của nhà đầu tư Ngoài ra, gắn với t ng dự án đầu tư, các quyền và nghĩa vụ cụ thể của nhà đầu tư được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực khác như : pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, lao động, pháp luật về đất đai, tài nguyên, pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý ngoại hối, pháp luật về bảo vệ môi trường

Theo Luật Khuyến khích đầu tư của Lào (2009) thì nhà đầu tư c :

Q được hiểu là nhà đầu tư c quyền đầu tư

vào tất cả các ngành, lĩnh vực và khu vực mà pháp luật khuyến khích và không cấm Trong đ , nhà đầu tư c quyền tự do lựa chọn hình thức và cách thức kinh doanh, lập chi nhánh, mở văn phòng đại diện Trong trường hợp đầu tư không hiệu quả hoặc do c sự thay đổi về chính sách hoặc quy định của pháp luật Lào gây bất lợi cho nhà đầu tư thì nhà đầu tư c quyền xin chuyển đổi mục đích hoặc

dự án đầu tư T y t ng trường hợp, nhà đầu tư c thể xin tô nhượng dự án t hính phủ hoặc chính quyền địa phương hoặc t đặc khu kinh tế của hính phủ

Trang 35

Để thuận tiện cho hoạt động kinh doanh đầu tư tại Lào, pháp luật còn quy định nhà đầu tư được mở tài khoản bằng tiền kíp ngoại tệ tại ngân hàng bất kỳ của Lào (Điều 65)

Q ý ự được hiểu là nhà đầu tư tự lập kế

hoạch đầu tư; tìm kiếm và s dụng vật liệu, phương tiện, máy m c, vật tư, vật liệu và công nghệ trong việc đầu tư; Nhà nước đảm bảo cho nhà đầu tư được quyền tiếp cận thị trường trong nước và thị trường nước ngoài; tiến hành thảo luận về việc đầu tư của mình; trao hoặc chuyển giao, r t vốn hoặc thêm vốn kinh doanh và ủy quyền cho nhà đầu tư khác tiến hành kinh doanh tạm thời; đề nghị lên cơ quan c thẩm quyền nhằm xem x t việc tạm d ng, hủy bỏ hoặc chuyển doanh nghiệp của mình sang hình thức kinh doanh khác (Điều 66)

Q được hiểu là để tạo điều kiện thuận lợi cho

hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư diễn ra một cách suôn s Pháp luật cho

ph p nhà đầu tư tự do ký hợp đồng tuyển dụng chuyên gia, các nhà chuyên môn vào làm việc; bố trí, điều động người lao động vào các vị trí khác nhau theo nhu cầu của doanh nghiệp Việc ký hợp đồng phải đảm bảo thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động (Điều 67)

Q ớ ớ

So với pháp luật Việt Nam thì đây là một điểm khác biệt Trong khi Việt Nam mặc nhiên th a nhận nhà đầu tư sang đầu tư và làm việc tại Việt Nam, nếu đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu, được cư tr , sinh sống và kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam và sẽ do một Luật chuyên ngành điều chỉnh thì pháp luật Lào lại quy định riêng một điều luật trong Luật Khuyến khích đầu tư của mình Theo

đ , nhà đầu tư nước ngoài c ng với các thành viên trong gia đình c quyền cư

tr tại Lào theo thời hạn đầu tư huyên gia, chuyên viên nước ngoài c quyền

cư tr tại Lào theo hợp đồng lao động Nhà đầu tư nước ngoài c ng các thành viên trong gia đình, các chuyên gia, chuyên viên nước ngoài được tạo điều kiện thuận lợi nhập cảnh vào HD ND Lào, kể cả việc xin visa xuất nhập cảnh nhiều lần, mối lẫn không quá 5 năm (Điều 68)

Trang 36

Quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong việc chuyển vốn, tài sản và thu nhập nước ngoài: đây được coi như là biện pháp bảo đảm đầu tư và ưu đãi đầu

tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài Theo đ , nhà đầu tư nước ngoài sau khi hoàn thành và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và các lệ phí đối với Nhà nước thì

c quyền chuyển vốn, tài sản và thu nhập của mình, đặc biệt là thu nhập t việc đầu tư, tiền và tài sản khác thuộc quyền sở h u cá nhân (Điều 69)

Nếu như pháp luật của Lào c xu hướng khái quát h a các quyền của nhà đầu tư vào một điều luật, thì pháp luật của Việt Nam quy định quyền và nghĩa

vụ của nhà đầu tư thành nh ng điều luật riêng biệt cụ thể ở hương III Luật Đầu

tư của Việt Nam t Điều 13 về quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh, Điều 14 về quyền tiếp cận, s dụng nguồn lực đầu tư, Điều 15 về quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu

tư, Điều 16 về quyền mua ngoại tệ, Điều 17 về quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư, Điều 18 về thế chấp quyền s dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Điều 19 về các quyền khác của nhà đầu tư Như vậy so với Luật Khuyến khích đầu tư (2009) của Lào, thì Luật Đầu tư của Việt Nam quy định cụ thể và chi tiết hơn, điều chỉnh nh ng vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động đầu tư, t đ tạo cơ sở để thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cũng như trong công tác quản lý nhà nước về đầu tư Đối với nhà đầu tư thì n tạo cơ sở pháp lý để nhà đầu tư thực hiện quyền và bảo vệ quyền đầu tư của mình

ĩ

Nhằm thu h t tối đa các nguồn lực, vốn, công nghệ cho phát triển kinh tế, Nhà nước một mặt quy định cụ thể quyền năng đầu tư dành cho các nhà đầu tư, một mặt khác nhà đầu tư phải thực hiện nh ng nghĩa vụ của nhà đầu tư đối với Nhà nước Nhìn chung, pháp luật của Việt Nam và của Lào đều cho rằng, nhà đầu tư khi tiến hành kinh doanh trên lãnh thổ hai nước phải :

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán và thống kê;

Trang 37

- Thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm, lao động;

- Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập, tham gia tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là ông đoàn;

- Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;

Ngoài nh ng điểm chung trên, thì Luật Khuyến khích đầu tư của Lào còn quy định mang tính khuyến nghị, theo đ nhà đầu tư phải khuyến khích s dựng lao động Lào, ch ý phát triển tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn và chuyển giao công nghệ cho lao động Lào Khi nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư phải c nghĩa vụ Phối hợp với chính quyền địa phương trong hoạt động kinh doanh của mình , đền b mất mát do tiến hành kinh doanh, g p phần giải quyết kh khăn cho người dân v ng dự án thể n i, pháp luật về Khuyến khích đầu tư của Lào quy định nghĩa vụ của nhà đầu tư rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn Ví dụ, khoản 2 Điều 20 Luật Đầu tư Việt Nam quy định nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật , khoản 2, Điều 70, Luật Khuyến khích đầu tư (2009) của Lào quy định ngay nhà đầu tư phải c nghĩa vụ nộp thuế hải quan, thuế nội địa, lệ phí và phí dịch vụ khác một cách đầy đủ đ ng hạn , ch ý đến các vấn đề xã hội hơn (quy định riêng một điều luật về nghĩa vụ bảo vệ môi trường Điều 71) Tuy nhiên, nhà làm luật của Lào dường như bỏ quên điều quan trọng nhất trong hệ thống nghĩa vụ của

nhà đầu tư, đ là ị ự

e ă ý ị ” (khoản 1, Điều 20 Luật Đầu tư của Việt Nam)

Trang 38

điểm riêng nhất định về cách đầu tƣ vốn, tính chất liên kết và phân chia kết quả kinh doanh gi a các nhà đầu tƣ ăn cứ vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình, các nhà đầu tƣ c quyền lựa chọn các hình thức đầu tƣ thích hợp theo quy định của pháp luật

Luật Đầu tƣ (2005) của Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tƣ của Lào (2009) đều phân chia các hình thức đầu tƣ thành hai nh m là : Đầu tƣ trực tiếp

và đầu tƣ gián tiếp:

ì ự

ự ì bỏ

ý ”(khoản 2, Điều 3 Luật Đầu tƣ của Việt Nam

(2005) Theo Luật Đầu tƣ (2005) của Việt Nam, các hình thức đầu tƣ trực tiếp bao gồm:

- ổ ặ

Đầu tƣ vào các tổ chức kinh tế c nội dung là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn thành lập mới các cơ sở kinh doanh hoặc g p vốn vào vốn điều lệ để nắm quyền quản trị của đơn vị kinh doanh đang hoạt động Theo quy định hiện hành, đầu tƣ vào tổ chức kinh tế bao gồm các nh m hình thức đầu tƣ chủ yếu sau:

- Thành lập tổ chức kinh tế 100 vốn của nhà đầu tƣ Thuộc nh m hình

thức đầu tƣ này gồm có : doanh nghiệp tƣ nhân, công ty TNHH 1 thành viên (do một cá nhân hoặc một tổ chức làm chủ sở h u), hộ kinh doanh cá thể

- Thành lập, g p vốn vào tổ chức kinh tế c sự hợp tác gi a nhiều nhà đầu

tƣ, ở nh m hình thức đầu tƣ này, nhà đầu tƣ c thể thành lập hoặc g p vốn vào công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, tổ hợp tác, hợp tác xã, và liên hiệp hợp tác xã

Trong nh m hình thức đầu tƣ vào tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tƣ đƣợc tiến hành thông qua tƣ cách pháp lý của các tổ chức kinh tế Ngoài việc tuân thủ các quy định của Luật Đầu tƣ, việc thành lập, tổ chức hoạt động của các tổ chức kinh tế còn chịu sự điều chỉnh của các quy định trong các văn bản pháp luật về hình thức tổ chức kinh doanh

Trang 39

- e ợ

Khác với hình thức đầu tư vào các tổ chức kinh tế, ở nh m hình thức đầu

tư theo hợp đồng, việc đầu tư vốn để kinh doanh của nhà đầu tư được tiến hành trên cơ sở hợp đồng được giao kết gi a các nhà đầu tư hoặc gi a nhà đầu tư với Nhà nước (các cơ quan Nhà nước c thẩm quyền) Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của mình ph hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng Khi nhà đầu tư lựa chọn đầu tư theo hợp đồng, ngoài việc phải tuân thủ Luật Đầu tư, việc giao kết, thực hiện hợp đồng còn phải ph hợp với các quy định chung về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Theo quy định hiện hành, đầu tư theo hợp đồng bao gồm các hình thức sau:

- Hợp tác kinh doanh (hợp doanh) : là hình thức đầu tư được thực hiện

trên cơ sở hợp đồng giao kết gi a các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao

(BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), và hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): BOT, BTO, BT là nh ng hình thức đầu tư thông qua hợp đồng được ký kết gi a cơ quan nhà nước c thẩm quyền và nhà đầu tư Theo các hợp đồng này, nhà đầu tư bỏ vốn để xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng và chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo nh ng phương thức thanh toán, đền b khác nhau

-

Đầu tư phát triển kinh doanh là hình thức đầu tư, theo đ , nhà đầu tư bỏ vốn để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh c vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả

s dụng vốn đầu tư hiện c đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho

sự tăng trưởng và phát triển bền v ng của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh bao gồm các hình thức cụ thể là : mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh (thành lập chi nhánh), văn phòng đại diện, các đơn vị

Trang 40

trực thuộc ; đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường

- ự

Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư, theo đ nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở h u doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp c thanh toán

ì

Sự khác nhau cơ bản gi a các hình thức đầu tư trực tiếp và các hình thức đầu tư gián tiếp là mức độ, phạm vi quản lý và kiểm soát của chủ đầu tư đối với hoạt động kinh doanh Trong các hình thức đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và s dụng các nguồn lực đầu tư Nhà đầu tư gián tiếp về cơ bản chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế t hoạt động đầu tư Đầu tư gián tiếp bao gồm nh ng hình thức phổ biến như đầu

tư thông qua mua chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ c giá khác); đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm

So sánh với nh ng quy định trên trong Luật Đầu tư của Việt Nam, hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư của nước HD ND Lào c một

số khác biệt Sự khác biệt đầu tiên phải kể đến đ là sự phân chia hình thức đầu

tư theo loại hình đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại hai đạo luật riêng biệt

Theo Điều 4, Luật Đầu tư nước ngoài của HD ND Lào, nhà đầu tư nước ngoài được ph p đầu tư vào HD ND Lào theo 2 hình thức sau: liên doanh với một hoặc nhiều nhà đầu tư Lào; doanh nghiệp 100 vốn đầu tư nước ngoài

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w