1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội

79 228 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, tại Công trình khoa học cấp v i đề tài “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” thì khái niệm quyền nhân thân được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THÙY DƯƠNG

QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN

NHÂN THÂN TRONG MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐÌNH NGHỊ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

Lời cảm ơn

Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của Quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Phó giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Đình Nghị đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập./

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

NỘI DUNG

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO

VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI 6

1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội 6

1.1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân 6

1.1.1.2 Ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân 12

1.2 Bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội 17

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

QUYỀN NHÂN THÂN TRONG MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI Ở VIỆT

2.1 Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội ở Việt

Nam 37

Trang 5

2.1.1 Một số kết quả đạt được 37 2.1.2 Thực trạng bảo vệ quyền của cá nhân trong một số trường hợp cụ thể 39

2.1.2.1 Thực trạng bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh 39 2.1.2.2 Thực trạng bảo vệ quyền bí mật đời tư 45 2.1.2.3 Thực trạng bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín 51

2.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã hội ở Việt Nam 57

2.2.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và bảo vệ

2.2.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và

2.2.2.1 Sửa đổi, bổ sung các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân được quy định ở

2.2.2.2 Pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về những dạng hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền bí mật đời tư, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín để làm căn cứ giải quyết vụ án 62 2.2.2.3 Quy định thời hạn phải xin phép sử dụng hình ảnh của cá nhân; thu thập, công bố thông tin, tư liệu của cá nhân trong trường hợp người đó đã chết 63 2.2.2.4 Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về mức bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân nói chung, xâm phạm các quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội nói riêng 64 2.2.2.5 Mở rộng hành vi được coi là xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã hội và theo hướng mở 65 2.2.2.6 Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo, thực hiện quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã hội 66 2.2.2.7 Có cơ chế đặc thù trong việc quản lý Internet 67

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền nhân thân của cá nhân là m t trong những quyền dân s có ý ngh a vô cùng quan trọng được pháp luật nhiều quốc gia trên thế gi i ghi nhận và bảo vệ, trong đó có Việt Nam Gần mười năm LDS 2005 được đưa vào th c tiễn áp dụng

v i những sửa đổi, bổ sung trên cơ sở kế thừa và phát triển để hoàn thiện thì quyền nhân thân của cá nhân được Nhà nư c ta bảo vệ ngày càng mở r ng, cùng v i đó là những công cụ pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân khi có hành vi xâm phạm Tuy nhiên, v i s phát triển của x h i thì có thể thấy những quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu của th c tiễn Những năm gần đây, s phát triển của truyền thông hiện đại, đặc biệt là mạng x h i đ trở thành phương tiện thỏa

m n về thông tin, s hiểu biết về thế gi i, đưa con người đến gần nhau hơn, bình đẳng hơn trên các phương diện tiếp cận thông tin Con người “choáng ngợp” v i những tiện ích mà môi trường mạng x h i mang lại, xong cũng không ít người đ phải chịu những hậu quả do tốc đ lan truyền “chóng mặt” của nó đem đến

So v i các quốc gia trong khu v c Châu Á, thì Việt Nam là quốc gia có tốc

đ người dùng Internet tăng nhanh nhất trong giai đoạn 2000 - 2010 ên cạnh những lợi ích thì có thể nói chưa bao giờ tình trạng xâm phạm quyền nhân thân diễn

ra nhiều, dễ dàng và nhanh trong môi trường mạng x h i như hiện nay v i những công cụ trợ giúp là thiết bị quay phim, chụp ảnh được thiết kế ngày càng nhỏ gọn để ngụy trang, cất giấu tiện lợi cũng như có khả năng ghi hình từ xa, ghi hình trong bóng tối… Từ những chuyện tưởng chừng như rất bình thường như: đăng m t bức ảnh, gửi cho nhau xem m t video, đăng m t bức ảnh riêng tư của người khác lên trang cá nhân của mình nhưng đôi khi đ vượt qua ranh gi i mà nhiều người cho

là “chuyện đùa” của những người thân quen, và nó đang nảy sinh nhiều vấn đề pháp

lý cần lưu ý V i s trợ giúp của Internet, quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm không chỉ gi i hạn ở Việt Nam mà c n trên phạm vi nhiều nư c và bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của mạng x h i, đặc biệt là những người của công chúng M t s vô tình đôi khi đem lại hậu quả khôn lường, trở thành m t hành vi xâm phạm đến quyền đối v i hình ảnh của cá nhân, quyền bí mật đời tư, xâm phạm đến quyền được bảo vệ danh d và nhân phẩm, uy tín ên cạnh đó, có những cá

Trang 8

2

nhân lợi dụng môi trường mạng x h i cố ý xâm phạm t i quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật bảo vệ Tình trạng tiết l thông tin của người khác, rao bán trong môi trường mạng x h i khi không được người đó đồng ý; đăng những hình ảnh, video mang tính chất đồi trụy của bạn do những mâu thuẫn, hiềm khích, thậm chí là trục lợi; đăng ảnh của người khác mà không xin phép người đó1… xảy ra m t cách phổ biến là những vấn đề nhức nhối trong dư luận, gây bức xúc, tạo dư luận không tốt liên quan đến việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng x h i Hơn bao giờ hết, việc truy tìm “thủ phạm” trong những trường hợp này là hết sức khó khăn do pháp luật chưa có cơ chế đặc thù trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng x h i

Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu, tìm hiểu, xác định, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân và th c trạng bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã h i ở Việt Nam m t cách có hệ thống là điều hết sức cần thiết, có ý ngh a lý luận và th c tiễn sâu sắc Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung và quyền nhân thân trong

môi trường mạng xã h i nói riêng, học viên đ chọn đề tài: “Quyền nhân thân và

bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội” cho Luận văn Thạc s của

mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam từ trư c đến nay, quyền nhân thân đ được đề cập t i khá nhiều nhưng chưa có m t công trình nào nghiên cứu m t cách toàn diện và làm rõ th c trạng bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i trong xu thế h i nhập của Việt Nam hiện nay dư i cấp đ Luận văn thạc s V i những công trình đ được công bố liên quan đến quyền nhân thân thì mỗi công trình lại khai thác vấn đề này ở từng góc đ và khía cạnh nhất định Chẳng hạn như: Công trình nghiên cứu khoa học cấp của T a án nhân dân

Tối cao v i đề tài: “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân

của công dân theo quy định của BLDS” [30] N i dung của công trình này m i chỉ

khẳng định được vai tr của T a án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung mà chưa đưa ra được phương hư ng giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền

1 Trang báo điện tử http://vnexpress.net đăng ngày 14/4/2014 đưa tin vụ ảnh nữ sinh bị treo biển tôi là người

ăn tr m được m t nam thanh niên chụp hình và đăng lên trang Facebook cá nhân

Trang 9

3

nhân thân của cá nhân trong từng trường hợp cụ thể Sau này, khi BLDS 2005 ra đời, có m t số công trình mà có thể kể đến như đề tài nghiên cứu khoa học cấp

trường do TS Lê Đình Nghị làm chủ nhiệm đề tài: “Quyền nhân thân của cá nhân

và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự”, Trường Đại học Luật Hà N i,

năm 2008; Luận văn của TS Lê Đình Nghị: “Quyền bí mật đời tư theo quy định

của pháp luật dân sự Việt Nam”; Luận văn Thạc s Luật học của tác giả Lê Thị Hoa

v i đề tài: “Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định của

BLDS năm 2005”; khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Dạ Lan v i đề tài

“Quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”; khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tiến Dũng về đề tài “Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã hội- Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” Ngoài ra, c n có m t số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý

như “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật một số nước

phương Tây - đối chiếu với pháp luật Việt Nam” của tác giả Chu Đức Tuấn đăng

trên tạp chí Nhà nư c và Pháp luật số 04/2008; “Khái niệm và phân loại quyền

nhân thân”- tác giả PGS TS ùi Đăng Hiếu đăng trên tạp chí Luật học số 07/2009;

“Bàn luận về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của BLDS 2005”- tác giả Phùng ích Ngọc đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

22(230)T1/2012;“Bàn thêm về các quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS

2005” của tác giả Phùng Trung Tập đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

17(249)/T9/2013…

Nhận thức được vấn đề, đề tài: “Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân

trong môi trường mạng xã hội” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp đ Luận văn

Thạc s m t cách chuyên sâu v i những kiến thức hiểu biết của cá nhân, không có

s trùng lặp, đồng thời kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết đ đạt được

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong đề tài này, tác giả phân tích m t cách có hệ thống các biện pháp bảo vệ quyền nhân của cá nhân và chỉ đi sâu nghiên cứu những quyền nhân thân của cá nhân điển hình bị xâm phạm trong môi trường mạng x h i ở Việt Nam hiện nay mà

Trang 10

4

không đi sâu tìm hiểu cụ thể các quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong LDS hiện hành

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài tìm hiểu quy định của pháp luật dân s hiện hành về bảo vệ quyền nhân thân cũng như pháp luật của m t số ngành luật khác; môi trường mạng xã h i và mối liên quan giữa quyền nhân thân và môi trường mạng xã h i; th c trạng bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã

h i ở Việt Nam hiện nay cũng như những kiến nghị trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã h i ở Việt Nam hiện nay

V i mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân và phân loại quyền nhân thân, ý ngh a của quyền nhân thân;

- Phân tích khái niệm môi trường mạng xã h i, chỉ ra mối liên quan giữa quyền nhân thân và môi trường mạng xã h i;

- Xem xét việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của BLDS - đặt trong s phân tích mối tương quan v i m t số ngành luật khác như hình

s , hành chính

- Tìm hiểu th c tiễn của việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã h i ở Việt Nam hiện nay, những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và đề ra phương hư ng hoàn thiện…

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài “Quyền nhân thân và

bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội” được nghiên cứu trên cơ sở

phương pháp luận của Chủ ngh a Mác- Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng và kết hợp m t cách hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, diễn giải, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để chứng minh cho những luận điểm được đưa ra trong luận văn

Trang 11

5

6 Kết cấu luận văn

Luận văn Thạc s Luật học v i đề tài “Quyền nhân thân và bảo vệ quyền

nhân thân trong môi trường mạng xã hội” được kết cấu bởi hai chương, ngoài phần

Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo:

Chương 1: M t số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân

thân trong môi trường mạng x h i

Chương 2: Th c trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân

trong môi trượng mạng x h i ở Việt Nam

Trang 12

6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG MÔI TRƯỜNG

MẠNG XÃ HỘI 1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân

1.1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân

Con người được coi là trung tâm, là tâm điểm hư ng t i của mọi cu c cách mạng x h i M t trong những yếu tố đánh giá s tiến b của từng giai đoạn lịch sử,

s phát triển của mỗi quốc gia đó là ghi nhận quyền con người Giống như nhiều quốc gia khác trên thế gi i, quyền con người cũng được Nhà nư c ta ghi nhận trong văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, đó là Hiến pháp Điều này thể hiện s coi trọng của Nhà nư c đối v i các quyền của con người- trong đó có quyền nhân thân

Trong khoa học pháp lý cũng như trong LDS chưa có khái niệm chính thức

về quyền nhân thân Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng có nhiều định ngh a về quyền nhân thân được nêu ra trong các công trình nghiên cứu khoa học của từng tác

giả Chẳng hạn, tại Công trình khoa học cấp v i đề tài “Vai trò của Tòa án nhân

dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” thì

khái niệm quyền nhân thân được đưa ra như sau:

- Dư i góc đ chủ thể, quyền nhân thân về dân s được hiểu là quyền con người về dân s gắn liền v i mỗi cá nhân được thụ hưởng v i tư cách là thành viên của c ng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân s , do đó, mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Dư i góc đ khách thể, quyền nhân thân về dân s của cá nhân được hiểu

là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân s gắn liền v i mỗi cá nhân để đảm bảo địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để

cá nhân th c hiện các quyền con người về dân s trong s bảo h của Nhà nư c và pháp luật [30, tr 19] Theo đó, quyền dân s được hiểu là quyền con người trong

l nh v c dân s , quyền nhân thân này có kể từ thời điểm m t cá nhân được sinh ra

Trang 13

7

và toàn quyền định đoạt như quyền sống, quyền t do tín ngưỡng, quyền được học tập…; không thể chuyển giao và là quyền để phân biệt các cá nhân v i nhau

Theo Từ điển giải thích Luật học của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý,

Tư pháp (Nxb Tư pháp), thì quyền nhân thân được hiểu: “Quyền nhân thân: Quyền

dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Quyền nhân thân bao gồm: quyền có họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn, quyền có quốc tịch; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyện tự

do đi lại, cư trú; quyền lao động; quyền tự do sáng tạo, quyền tác giả đối với tác phẩm; quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp

Khi quyền nhân thân của một người bị xâm phạm thì người đó có quyền: yêu cầu người vi phạm hoặc tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; tự mình yêu cầu hoặc yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại vật chất hoặc tinh thần Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” [34 tr.653]

V i cách tiếp cận khái niệm quyền nhân thân như trên đ có s trùng hợp v i

tư tưởng của LDS 2005 Điều 24 LDS 2005 quy định:“Quyền nhân thân được

quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo

như quy định này thì quyền nhân thân bao gồm hai đặc điểm cơ bản là: (i) gắn liền

v i mỗi cá nhân và (ii) không thể chuyển giao cho người khác

Quyền nhân thân là quyền dân s gắn liền v i mỗi cá nhân Trong đó,

“Quyền dân s được hiểu là những quyền công dân được thể hiện trong mối quan

hệ giữa các cá nhân và được bảo đảm bằng pháp luật dân s ” [22, tr 6] Hay nói

cách khác, quyền dân s là quyền công dân trong l nh v c dân s Nó là cách xử s được phép của chủ thể có quyền năng trong quan hệ dân s Cách xử s này do Nhà

nư c quy định hoặc thừa nhận “Quyền dân s hiểu theo ngh a r ng là quyền của

Trang 14

8

chủ thể được pháp luật quy định như m t b phận n i dung năng l c pháp luật của chủ thể đó Như vậy, các chủ thể có năng l c pháp luật dân s khác nhau thì có các quyền dân s khác nhau Quyền dân s hiểu theo ngh a hẹp là quyền của chủ thể trong quan hệ dân s nhất định mà chủ thể đó đang tham gia; quyền t mình th c hiện những hành vi nhất định, quyền yêu cầu cơ quan nhà nư c có thẩm quyền bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm” [32] Như vậy, quyền dân

s là quyền của các chủ thể được Nhà nư c ghi nhận trong các văn bản pháp luật về dân s nói chung, trong LDS nói riêng trong l nh v c dân s và Nhà nư c cũng bảo đảm cho các quyền đó được th c hiện bằng việc quy định hệ thống các biện pháp bảo vệ, các chế tài… Nó là quyền công dân trong l nh v c dân s Trong khi

đó, quyền nhân thân cũng là m t khái niệm được bao hàm trong n i dung quyền con người, quyền công dân Khi các quyền con được chịu s điều chỉnh của quan hệ pháp luật dân s thì nó trở thành quyền dân s Do đó, quyền nhân thân là m t b phận của quyền dân s

Tuy nhiên, v i việc quy định như trên của Điều luật dẫn t i m t số điểm chưa hợp lý, thống nhất giữa các Điều luật c n lại trong LDS 2005 ởi, đối v i pháp nhân, LDS 2005 đ có quy định liên quan đến nhân thân của pháp nhân trong trường hợp quy định về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 604 Theo đó, tại quy định đ nhắc đến danh d , uy tín và tài sản của pháp nhân và chủ thể khác Tại chương IV của LDS 2005 quy định về pháp nhân thì cũng có những điều luật thể hiện pháp nhân có những đặc điểm thể hiện quyền nhân thân của pháp nhân như tên gọi - họ, tên; khai sinh - thành lập; khai tử - phá sản; danh d , uy tín… ằng cách gián tiếp, LDS đ công nhận quyền nhân thân cho các pháp nhân Do đó, có thể thấy quyền nhân thân không chỉ gắn v i

cá nhân mà c n gắn v i chủ thể khác Đây cũng là nhận định của PGS TS ùi

Đăng Hiếu trong bài viết về “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” đăng trên

tạp chí Luật học số 7/2009 Trong đó, tác giả đưa ra những lập luận để chứng minh cho việc quyền nhân thân không chỉ gắn v i cá nhân mà c n gắn v i các chủ thể khác mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn trong phần n i dung quan điểm của tác giả khi đưa ra khái niệm về “quyền nhân thân”

Trang 15

9

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học 1999 thì khái niệm quyền

nhân thân được nghiên cứu dư i góc đ : “Giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức

được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân

Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [32, tr 105] V i cách giải thích

thuật ngữ như trên thì v i những giá trị nhân thân không được pháp luật ghi nhận thì không được coi là quyền nhân thân; quyền nhân thân được gi i hạn chỉ là những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều này dường như đ bó hẹp quyền nhân thân của con người Tuy nhiên, so v i khái niệm về quyền nhân thân được đưa trong trong Công trình khoa học cấp và trong quy định Điều 24 LDS

2005 ở trên thì chủ thể của quyền nhân thân đ được mở r ng Quyền nhân thân không chỉ là quyền mà pháp luật ghi nhận cho con người mà các pháp nhân, tổ chức cũng được ghi nhận có quyền này

Ngoài ra, trong bài viết “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” của PGS

TS ùi Đăng Hiếu đăng trên tạp chí Luật học số 7/2009, tác giả cũng cho rằng chủ thể của quyền nhân thân không những gắn v i cá nhân mà gắn v i cả những chủ thể khác Theo tác giả, v i quy định tại Điều 24 LDS 2005 nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là gắn liền v i cá nhân và không thể chuyển dịch là chưa phù hợp, thống nhất v i các Điều luật khác trong luật này, bởi th c tế c n có m t số quyền dân s thỏa m n hai đặc điểm trên nhưng không được xác định là quyền nhân thân Cụ thể, trong l nh v c HN GĐ quy định:

“Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của luật này Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác” Tương ứng v i ngh a vụ cấp dưỡng là quyền yêu cầu

cấp dưỡng cũng không thể thay thế bằng các quyền, ngh a vụ khác và “không thể chuyển giao cho người khác” (Điều 50 Luật HN GĐ 2000) Quyền yêu cầu cấp dưỡng là quyền tài sản, không phải là quyền nhân thân Ngoài ra, điểm a khoản 1

Điều 309 LDS 2005 cũng quy định “Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi

Trang 16

10

thường thiệt hại ngoài do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín” là các quyền tài sản không thể chuyển giao cho người khác Những quyền

yêu cầu bồi thường thiệt hại này được phát sinh khi các quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm; nó gắn liền v i cá nhân người bị thiệt hại, không được chuyển giao cho người khác Mặc dù thỏa m n cả hai đặc điểm cơ bản được nêu trong khái niệm về quyền nhân thân quy định tại Điều 24 LDS 2005: (i) gắn liền v i cá nhân

và (ii) không thể chuyển dịch nhưng chúng không phải là quyền nhân thân Trong bài viết của mình, PGS TS ùi Đăng Hiếu không đồng ý v i quy định cho rằng quyền nhân thân gắn liền v i mỗi cá nhân Các văn bản mà tác giả đưa ra có liên quan đến yếu tố pháp lý của pháp nhân, tổ chức- chủ thể của quan hệ pháp luật dân

s như Điều 604 và 611 LDS 2005 có đề cập đến “danh dự, uy tín của pháp nhân,

chủ thể khác” và Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004 và Nghị quyết

số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của H i đồng thẩm phán T a án nhân dân

Tối cao đều có quy định: “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các

chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh

dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin…

vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu” Tác giả cho rằng, v i những quy định đó đ hư ng t i s thừa

nhận các quyền nhân thân đối v i pháp nhân và các chủ thể khác

Khác v i quan điểm của PGS.TS ùi Đăng Hiếu khi xây d ng khái niệm về

quyền nhân thân, v i đề tài: “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân

sự Việt Nam” trong Luận án Tiến sỹ, tác giả TS Lê Đình nghị đ xây d ng định

ngh a về quyền nhân thân trên hai phương diện chủ quan và khách quan

* Theo nghĩa khách quan: Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy

phạm pháp luật do Nhà nư c ban hành, trong đó có n i dung quy định rõ cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền v i bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân

th c hiện quyền của mình

* Theo nghĩa chủ quan: Quyền nhân thân là quyền dân s chủ quan gắn liền

v i cá nhân do Nhà nư c quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác [23, tr.18] Có thể thấy, tác giả đồng tình v i quan

Trang 17

n i dung bài viết đ phân tích ở trên Mặc dù, pháp nhân là chủ thể “hư cấu”, chỉ có

ý ngh a về mặt pháp lý nhưng pháp nhân và các chủ thể khác như h gia đình, tổ hợp tác cũng có những giá trị phi vật chất, không định giá được và không thể chuyển giao cho chủ thể khác Vì thế, các giá trị đó của pháp nhân và chủ thể khác cần phải được bảo vệ khi bị xâm phạm

Ngoài ra, như chúng ta đ biết d a vào những tiêu chí nhất định mà quyền dân s được phân thành những loại quyền khác nhau và m t trong những cách phân loại phổ biến nhất trong hệ thống pháp luật dân s đó là s phân chia thành quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền tài sản được hiểu là những quyền có khả năng định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao v i tư cách là m t loại tài sản Trong khi đó, quyền nhân thân thì không thể định giá được bằng tiền; là những giá trị nhân thân, giá trị tinh thần gắn liền v i chủ thể đó Đây cũng là tiêu chí quan trọng nhằm phân biệt quyền nhân thân và quyền tài sản mang tính nhân thân Vì đối tượng của quyền nhân thân là những giá trị tinh thần của chủ thể trong khi đó đối tượng của quyền tài sản mang tính nhân thân là những giá trị tài sản gắn liền v i bản thân cá nhân đó như quyền yêu cầu cấp dưỡng

Từ s phân tích trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về quyền nhân thân như

sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với giá trị tinh thần của mỗi chủ

thể được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, mang tính chất phi tài sản và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trang 18

12

1.1.1.2 Ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân

Thứ nhất, việc ghi nhận quyền nhân thân trong BLDS thể hiện sự tôn vinh và bảo vệ các giá trị tinh thần của con người của Nhà nước, đặc biệt khi đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế

Con người là mục tiêu của mọi cu c cách mạng, việc pháp luật nư c ta ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của con người trong văn bản pháp lý có hiệu l c cao nhất là Hiến pháp đồng thời được cụ thể hóa ở LDS đ thể hiện quyền nhân thân có ý ngh a quan trọng Ghi nhận quyền nhân thân là m t trong những yếu tố đánh giá s tiến b của Nhà nư c, nó đánh dấu s phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở mức đ cao dư i góc đ khoa học pháp lý Trong bối cảnh quốc

tế hiện nay, khi mà Nhà nư c ta đang trong quá trình h i nhập thì việc ghi nhận và bảo vệ các quyền nhân thân đ khẳng định bản chất của Nhà nư c ta- Nhà nư c của dân, do dân và vì dân Nó sẽ là công cụ hữu hiệu để chống lại các quan điểm phản

đ ng của các thế l c thù địch khi chúng có manh mún xuyên tạc các quy định liên quan đến quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng của Nhà nư c ta Thông qua quy định các quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật đ cho thấy được

s tiến b của m t đất nư c, nền t do dân chủ của m t quốc gia cũng như s tôn trọng của con người trong x h i được pháp luật thừa nhận Ở Việt Nam, cùng v i

s phát triển của đất nư c, luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, do đó các quyền nhân thân ngày càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn và những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả

Thứ hai, các quy định về quyền nhân thân của cá nhân trong hệ thống pháp luật tạo cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình

Hệ thống pháp luật cùng v i cơ quan th c thi có đầy đủ và đảm bảo thì sẽ là

cơ sở vững chắc cho cá nhân th c hiện các quyền của mình V i khẳng định quyền nhân thân là quyền dân s gắn liền v i mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định… có ý ngh a không chỉ trong l nh

v c dân s mà c n có giá trị pháp lý trong các l nh v c khác như chính trị, văn hóa,

x h i… Pháp luật nư c ta đ th c hiện việc bảo đảm quyền dân s cho chính cá nhân có quyền chứ không phải bảo đảm cho chủ thể khác

Trang 19

13

Thứ ba, các quy định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các chủ thể khác khi các quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm

Trong m t x h i lý tưởng, mọi quyền dân s trong đó có quyền nhân thân của chủ thể sẽ được mọi người tôn trọng, không bị xâm phạm Tuy nhiên, trên th c

tế của đời sống x h i, do nhận thức của mỗi người không giống nhau, nên việc quyền nhân thân của chủ thể khác bị xâm phạm là điều không tránh khỏi Việc xâm phạm các quyền này của chủ thể không những gây cản trở cho việc th c hiện các quyền dân s của cá nhân, của chủ thể khác mà c n ảnh hưởng t i trật t pháp lý của x h i ên cạnh việc ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân, của chủ thể thì pháp luật nư c ta cũng đề ra những biện pháp nhằm bảo vệ những quyền này khi bị xâm phạm Nó là công cụ hữu hiệu để T a án và các cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền khác áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi các quyền nhân thân bị xâm phạm Chính vì thế, việc ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân có ý ngh a quan trọng trong việc bảo đảm trật t x pháp lý của x h i

1.1.2 Mạng xã hội

V i s ra đời ồ ạt của các mạng x h i (Social Network) thời gian gần đây ở

Việt Nam cũng như trên toàn thế gi i đ tạo ra m t làn sóng m i kích thích s phát triển của kênh truyền thông c ng đồng, s phát triển không ngừng của Internet và

đặc biệt là nhu cầu sử dụng chúng của gi i trẻ Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng,

Việt Nam là nư c có tốc đ người dùng Internet tăng nhanh nhất trong giai đoạn 2000- 2010 so v i các quốc gia châu Á2:

2 Nguồn: www.internet.worldstats.com

Trang 20

14

Việc hiểu và nắm rõ môi trường mạng x h i là điều cần thiết trong xu thế

h i nhập của mỗi cá nhân Hiện nay, trên thế gi i có rất nhiều trang mạng x h i như: MySpace, Facebook nổi tiếng nhất ở thị trường ắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 ở Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái ình Dương; ebo tại Anh, CyWord tai Hàn Quốc; Mixi tại Nhật ản; Yahoo!360 tại Việt Nam… Chúng

ta không thể phủ nhận rằng mạng x h i đ mang đến cho con người rất nhiều tiện ích từ những tính năng ưu việt của mình v i tốc đ rất nhanh Ở bất kì vị trí nào có

hỗ trợ phương tiện của mạng, chúng ta có thể dễ dàng nắm được rất nhiều thông tin,

từ hiện tượng x h i, phát kiến khoa học, xu thế thời đại, thông tin, hình ảnh của những người nổi tiếng, gia đình, bạn bè… ở trong nư c hay thậm chí ở những nơi cách chúng ta nửa bán cầu Các trang mạng x h i là môi trường tạo ra cơ h i để kết nối c ng đ ng, để giao tiếp, tìm kiếm bạn bè, tạo d ng các mối quan hệ m i không phụ thu c vào thời gian và không gian… Có thể nói, mạng x h i là m t kênh thông tin vô cùng l n, phong phú, đa dạng nhưng nó cũng khiến người xem khó có thể phân biệt và đánh giá được giá trị và mức đ chính xác của thông tin Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các mạng x h i trở thành nơi để nói xấu, bôi nhọ, chỉ trích

m t cá nhân (bạn bè, người nổi tiếng…) hoặc tổ chức nào đó- thậm chí chính bố

Trang 21

15

mẹ, thầy cô giáo Từ đó đem lại những tác đ ng tiêu c c t i cá nhân, ảnh hưởng xấu

t i s hình thành và phát triển nhân cách của con người, làm thay đổi các chuẩn

m c đạo đức, các giá trị văn hóa và gây bất ổn trong x h i Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng gi i công nghệ thông tin đưa ra khá nhiều định ngh a khác nhau về “mạng

(iii) “M t mạng x h i là m t cấu trúc x giao bao gồm những giao điểm (những cá nhân hoặc tổ chức) bu c lại v i nhau nhờ m t hoặc nhiều loại giao thiệp đặc điểm như trao đổi tài chính, tình bằng hữu, l ng ghen ghét, mậu dịch, những liên kết web, hoặc những đường bay” [59]

Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 3 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm

2006 thì “Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền

đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin” Tiếp

đến, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì đưa ra cách giải

thích về dịch vụ mạng x h i tr c tuyến tại khoản 14 Điều 3 của Nghị định: “Dịch

vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo Blog, diễn đàn (Forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác”

Như vậy, theo tinh thần của những Điều luật trên, cũng như v i những cách

giải thích về mạng x h i thì có thể hiểu m t cách chung nhất, “Môi trường mạng

xã hội (Social network) là phương tiện cho phép kết nối mọi người có cùng sở thích trên Internet lại với nhiều mục đích khác nhau; là kênh thông tin, giải trí không phân biệt thời gian và không gian thông qua cơ sở hạ tầng thông tin”

Trang 22

16

Có thể nói, s ra đời của mạng x h i là m t bư c tiến b l n trong đời sống, giao tiếp của loài người Tại Việt Nam, mạng x h i tuy m i ra đời nhưng đ phát triển nhanh chóng và mang lại nhiều lợi ích cho x h i bên cạnh những vấn đề nảy sinh như là công cụ đắc l c làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật t an toàn x

h i, tuyên truyền, kích đ ng bạo l c, dâm ô, đồi trụy, phá hoại thuần phong mỹ tục, xuyên tạc, vu khống, xâm phạm các quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật bảo vệ…

1.1.3 Mối liên quan giữa quyền nhân thân và môi trường mạng xã hội

- Thứ nhất, môi trường mạng xã hội là phương tiện phổ biến, truyền bá các

biện pháp bảo vệ quyền nhân thân V i nhiều kênh thông tin khác nhau cùng v i

tốc đ lan truyền của môi trường mạng x h i thì đây được coi là môi trường tuyên truyền có hiệu quả D a vào dư luận x h i cũng như d a vào lợi thế của mạng x

h i mà thông tin về biện pháp bảo vệ quyền nhân thân có thể được phổ biến m t cách dễ dạng, hư ng t i số lượng chủ thể l n Những vụ việc xâm phạm quyền nhân thân cùng v i những chế tài xử lý được công khai thông qua môi trường mạng mang lại tính răn đe trong phạm vi r ng từ đó hạn chế được nhiều hành vi xâm phạm quyền nhân thân

- Thứ hai, thông qua môi trường mạng xã hội thì quyền nhân thân của cá

nhân dễ dàng bị xâm phạm hơn bao giờ hết cùng với tốc độ lan truyền nhanh chóng

do tính năng ưu việt của môi trường mạng xã hội mang lại Đây được coi là yếu tố

khó khăn, trở ngại l n đối v i việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân hiện nay Cùng v i s phát triển của x h i, của công nghệ thông tin thì những hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng được thể hiện ngày m t đa dạng, tinh vi và gây hậu quả khó lường… Mặt khác, các cá nhân tham gia môi trường mạng x h i thường chủ quan, không nhận thức đúng về những nguy cơ tiềm ẩn từ môi trường này nên không có thái đ cảnh giác cao Do vậy, chưa bao giờ quyền nhân thân của cá nhân lại dễ dàng bị xâm phạm và được truyền đi v i tốc đ nhanh như hiện nay

- Thứ ba, tùy thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, việc xem xét mối

tương quan giữa hành vi xâm phạm quyền nhân thân sẽ được đặt ra là có hay không trong môi trường mạng xã hội ởi, môi trường mạng x h i là không gian

mở cho phép kết nối, chia sẻ thông tin của những cá nhân v i nhau trên nguyên tắc

Trang 23

17

không được ảnh hưởng t i quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác “Công dân có

quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…” (Điều 25 Hiến pháp

2013) Thông qua môi trường mạng x h i, dư i nhiều hình thức khác nhau như gửi mail, viết blog, viết báo mạng, chia sẻ thông tin qua những trang mạng x h i phổ biến như www.facebook.com, www.zing.vn mà những thông tin đời tư của cá nhân, hình ảnh cá nhân được chia sẻ Trong khi đó, quyền bí mật đời tư, quyền đối

v i hình ảnh của cá nhân là m t trong những quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận bảo vệ Có thể thấy, trong mối liên quan đối v i quyền được t do thông tin

v i quyền đối v i hình ảnh và quyền bí mật đời tư đ có s “xung đ t” và việc xem xét mối liên quan này có ý ngh a quan trọng trong việc xác định m t hành vi có bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng x h i Ví dụ, nếu m t người ghi lại và công bố hình ảnh của cá nhân khác trên trang facebook cá nhân của mình mà không được s đồng ý của người đó thì đây được coi là hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i Nhưng, nếu m t người

th c hiện yêu cầu nghề nghiệp phản ánh lại thông tin chính trị của đất nư c thì cá nhân khác không thể phản đối việc ghi hình cũng như công bố hình ảnh của họ Ví

dụ, hình ảnh của Thủ tư ng Nguyễn Tấn Dũng và ông Plamen Vasilew Oresharski cùng phu nhân và phái đoàn cấp cao ulugaria đ đến thăm tỉnh Thừa Thiên- Huế ngày 9/4/2014 đ được phóng viên báo Việt báo đăng bài và hình ảnh trên website báo thì Thủ tư ng không thể phản đối việc ghi hình này cũng như công bố các bức

hình đó Trong trường hợp này, quyền được thông tin được chiếm ưu thế hơn [38]

1.2 Bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội

1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội

Quyền nhân thân được pháp luật quy định trong LDS 2005, đồng thời pháp luật đề ra các cơ chế pháp lý cho các quyền này được bảo đảm trên th c tế Tuy nhiên, môi trường mạng x h i là môi trường đặc biệt v i tốc đ lan truyền tin nhanh chóng không kể thời gian và không gian nên để bảo đảm m t cách có hiệu quả nhất việc th c thi các quyền này trên th c tế thì cần phải có những cơ chế đặc thù

Dư i góc đ ngôn ngữ học, “bảo” ngh a là giữ, “vệ” ngh a là che chở; “bảo vệ” ngh a là giữ gìn, chống lại mọi s hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên

Trang 24

18

vẹn, khỏi bị hư hỏng, mất mát [35, tr 111] Theo cách hiểu này, thì việc bảo vệ quyền nhân thân có thể được th c hiện trư c khi có hành vi xâm phạm và được th c hiện bởi chủ thể mang quyền cũng như cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền để chống lại mọi s xâm phạm quyền nhân thân

Dư i góc đ luật th c định, Điều 25 LDS 2005 không đưa ra định ngh a về bảo vệ quyền nhân thân mà chỉ d liệu các các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ th c hiện khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân xảy ra v i mục đích: (i) ngăn chặn hành vi vi phạm quyền nhân thân; (ii) khôi phục tình trạng ban đầu của người bị vi phạm; (iii) bu c người xâm phạm phải bồi thường thiệt hại đ xảy ra cho người bị thiệt hại Các biện pháp này được th c hiện bởi chính chủ thể hưởng quyền hoặc bởi cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền

Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp v i đề tài: “Vai trò của Tòa

án trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” đưa

ra khái niệm bảo vệ quyền nhân thân như sau: “Bảo vệ quyền nhân thân theo quy

định của BLDS là biện pháp cần thiết được pháp luật quy định, mà cá nhân người

bị vi phạm tự áp dụng hay yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng để buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải cải chính hoặc xin lỗi công khai, phải bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại thực tế xảy ra) cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm [30, tr 34] Cũng giống v i tinh thần của Điều 25 LDS

2005, khái niệm bảo vệ quyền nhân thân được đưa ra trên tinh thần liệt kê các biện pháp bảo vệ sau khi có hành vi xâm phạm những quyền này trên th c tế Pháp luật Việt Nam cũng như trong công trình nghiên cứu trên đây hoàn toàn không đề cập đến việc t bảo vệ quyền nhân thân nói chung, bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i nói riêng Chúng tôi cho rằng, v i những quy định như trên sẽ chưa đủ sức để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền nhân thân ởi, nếu Nhà nư c trao quyền cho các chủ thể “sở hữu” quyền nhân thân cũng như các chủ thể khác trong phạm vi nhất định t bảo vệ quyền nhân thân nói chung, các quyền nhân thân

dễ bị xâm phạm trong môi trường mạng x h i nói riêng sẽ tạo ra m t “bức tường lửa” để ngăn chặn các hành vi xâm phạm Khi đó, các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo s tác đ ng của pháp luật sẽ không c n phát huy tác dụng trên th c tế Từ

đó, quyền nhân thân của cá nhân sẽ được bảo vệ m t cách tối ưu nhất

Trang 25

19

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi cho rằng việc bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i cần phải xác định m t cách rõ ràng theo hai

hư ng đồng thời sau: (i) T bảo vệ vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x

h i; (ii) ảo vệ bằng các biện pháp do pháp luật quy định bởi những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo đó, n i hàm của khái niệm bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i sẽ phải bao gồm những n i dung:

- Chủ thể được tiến hành th c hiện việc bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i;

- Thời điểm của việc bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i: trư c, trong và sau khi có hành vi xâm phạm;

- Các biện pháp bảo vệ cụ thể

Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm bảo vệ quyền nhân thân

trong môi trường mạng x h i như sau: “Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong

môi trường mạng xã hội là tổng thể các biện pháp do pháp luật quy định, theo đó,

cá nhân có quyền tự bảo vệ quyền nhân thân; quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền nhân thân của mình khi bị xâm phạm nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm, lan truyền, tiết lộ bí mật của chủ thể khác…thông qua

cơ sở hạ tầng thông tin để bảo đảm cho các quyền nhân thân được Nhà nước ghi nhận cho cá nhân trở thành hiện thực”

1.2.2 Vai trò của bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã hội

Trong x h i hiện nay, cùng v i s bùng nổ mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông thì nhu cầu về thông tin của con người cũng ngày càng được nâng cao

V i tính chất đặc thù của mạng x h i, việc xâm phạm quyền nhân thân ngày m t

dễ dàng và có chiều hư ng gia tăng Các cá nhân có thể dễ dàng công khai, phát tán hình ảnh, những thông tin bí mật của người khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh d , nhân phẩm, uy tín của những cá nhân đó Đặc biệt, khi đất nư c ta đang trong quá trình h i nhập quốc tế thì nhu cầu bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i là vấn đề bức thiết cần được đặt ra và có vai tr vô cùng quan trọng

Trang 26

20

Thứ nhất, tăng cường sự tôn trọng các quyền con người được pháp luật thừa nhận, góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể trong môi trường mạng xã hội, tạo môi trường mạng lành mạnh, ổn định

Môi trường mạng x h i là nơi quyền nhân thân dễ dàng bị xâm phạm nhất

và có sức ảnh hưởng l n, nhanh và trong phạm vi r ng Việc ghi nhận quyền nhân thân của cá nhân cùng các biện pháp bảo vệ quyền này sẽ góp phần tăng cường s tôn trọng quyền của con người Các cá nhân sẽ có ý thức hơn đối v i những quyền được Nhà nư c bảo vệ Mặt khác, việc đề ra các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân không những để bảo đảm nó được th c thi trên th c tế mà c n giúp các cá nhân có thể bảo vệ, giữ gìn những giá trị tinh thần của mình, hạn chế hành vi xâm phạm quyền nhân thân Từ đó, tạo môi trường mạng lạnh mạnh, ổn định, lấy được l ng tin, s ủng h của các cá nhân khi tham gia mạng x h i

Thông qua những biện pháp bảo vệ sẽ là những chế tài góp phần khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân bị xâm phạm trong môi trường mạng x h i nói riêng ên cạnh bảo vệ thì việc

đề ra những biện pháp này cũng là bài học răn đe, giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân để hạn chế t i mức thấp nhấp s can thiệp của chủ thể khác đối v i quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i

Thứ hai, các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân trên môi trường đa dạng tạo điều kiện cho các cá nhân có thể lựa chọn cho mình biện pháp phù hợp nhất; giúp

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi, chức năng của mình lựa chọn cơ

sở pháp lý phù hợp để giải quyết các tranh chấp liên quan ởi mỗi hình thái của

việc xâm phạm quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i thì pháp luật quy định cho các chủ thể những biện pháp bảo vệ khác nhau tùy thu c vào thời điểm và mức đ của hành vi xâm phạm như biện pháp t bảo vệ, biện pháp pháp lý khác do pháp luật quy định V i n i dung này chúng tôi sẽ tập trung phân tích sâu hơn ở phần 1.2.3 của bài viết

Ngoài ra, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng x h i chính là s bảo đảm cho các quyền nhân thân của cá nhân được Nhà nư c ghi nhận trở thành hiện th c

Trang 27

21

1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân

Quyền nhân thân theo pháp luật nư c ta ghi nhận rất đa dạng nên những hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng được thể hiện v i nhiều hình thức và mức

đ khác nhau Cùng v i đó là nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân v i những tính chất và cơ chế đặc thù riêng để bảo đảm cho quyền nhân thân bởi những s xâm phạm, đó có thể là biện pháp t bảo vệ, biện pháp xử lý hành chính, biện pháp

xử ý hình s , biện pháp dân s … V i mỗi ngành luật khác nhau sẽ có vai tr khác nhau d a trên đặc điểm, tính chất của từng ngành luật S đa dạng của biện pháp sẽ bảo vệ quyền nhân thân nói chung, các quyền nhân thân bị xâm phạm trong môi trường mạng x h i nói riêng m t cách tốt nhất

sẽ có những cách th c hiện bảo vệ quyền nhân thân là khác nhau

So v i những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác của cá nhân thì biện pháp t bảo vệ có những điểm khác biệt về chủ thể cũng như về thời gian th c hiện biện pháp bảo vệ Nếu như các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác được tiến hành bởi cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền như T a án, các tổ chức được Nhà nư c trao quyền thì biện pháp t bảo vệ được th c hiện bởi bản thân chủ thể hưởng quyền Mặt khác, về thời gian th c hiện thì biện pháp t bảo vệ quyền nhân thân được xảy ra trư c, trong và sau khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân Mặc dù, Điều 25 LDS 2005 đ đề cập đến m t biện pháp t bảo vệ quyền nhân thân nhưng đây là biện pháp được th c hiện sau khi có hành vi xâm phạm t i những quyền này

Theo đó, khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền: “Tự

mình cải chính ” (Khoản 1 Điều 25 LDS 2005) Ngoài ra, tùy thu c vào tính chất

Trang 28

22

của hành vi xâm phạm thì chủ thể có hành vi có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính, biện pháp hình s hoặc các biện pháp khác… Như vậy, khác v i những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác thì biện pháp t bảo vệ mang tính chất “ngăn chặn” các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể

Trong môi trường mạng x h i, các biện pháp t bảo vệ thường được cá nhân

sử dụng để bảo vệ quyền nhân thân của mình có thể như th c hiện các biện pháp bảo mật thông tin (cài đặt chương trình bảo vệ thông tin, đặt mật khẩu cấp quyền truy cập thông tin, tư liệu của cá nhân…); t bảo quản cũng như có cách quản lý những tài liệu thu c về cá nhân, hình ảnh mang tính chất nhạy cảm, riêng tư của bản thân mà không muốn tiết l ra ngoài: khóa, cho vào két sắt có m số…

V i việc t th c hiện biện pháp này thì chủ thể hưởng quyền sẽ chủ đ ng có cách thức ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng như l a chọn cách thức bảo vệ phù hợp cho mình trên nguyên tắc “hưởng quyền dân s nhưng không được làm ảnh hưởng t i quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác” [23, tr

116] theo tinh thần của Điều 10 LDS 2005 quy định: “Việc xác lập, thực hiện

quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến quyền, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” ên cạnh những ưu

điểm mà biện pháp t bảo vệ quyền nhân thân mang lại thì biện pháp này cũng có

m t số hạn chế mà có thể kể đến như: (i) hiệu quả không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng chế nhà nư c; (ii) việc th c hiện yêu cầu của cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm phụ thu c vào người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền này có nhận thức được trách nhiệm của họ hay không

1.2.3.2 Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

Cùng v i những quy định ghi nhận quyền nhân thân của con người thì pháp luật dân s Việt Nam đ có những quy định v i mục đích bảo vệ các quyền này khi

có những hành vi xâm phạm làm ảnh hưởng t i quyền và lợi ích của chủ thể Theo Điều 25 LDS 2005, cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể bảo vệ quyền nhân thân của mình theo các phương thức khác nhau như (i) T mình cải chính; (ii) Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ

Trang 29

23

chức có thẩm quyền bảo vệ; (iii) u c người vi phạm bồi thường thiệt hại Cụ thể,

Điều 25 LDS 2005 được quy định như sau:

“Khi quyền nhân thân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

nư c có thẩm quyền theo yêu cầu của chủ thể hưởng quyền và chỉ th c hiện khi đ

Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên năm 1999 thì “Cải

chính” được hiểu là: “Chữa cho đúng sự thật và tuyên bố trước đông người” [35, tr

240] Theo đó, nếu m t người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân thì bản thân người bị xâm phạm có quyền t mình cải chính bằng cách tr c tiếp như trình bày trư c đông người hoặc thông qua hình thức gián tiếp như cải chính thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí (đăng bài cải chính trên đài truyền hình, đài phát thanh, trên các trang báo mạng, diễn đàn…) Hiệu quả th c hiện của biện pháp cải chính là tương đối cao vì khi bản thân chủ thể tr c tiếp đính chính lại những thông tin, hình ảnh liên quan đến bản thân mình đ giải tỏa được s hoài nghi của d luận và công chúng Ngược lại, nếu việc cải chính thông tin m t cách không trung th c thì bản thân những người có quyền nhân thân bị xâm phạm sẽ phải chịu “sức ép” của dư luận, những chê trách từ phía dư luận và công chúng

Trong môi trường mạng x h i, t mình cải chính là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bị xâm được áp dụng trong trường hợp người có hành vi trái

Trang 30

Gần đây m t trang báo mạng đăng tin bà Phạm Thị Thanh Ngọc có hành vi

ép tài xế của m t h ng taxi ở Hải Dương quan hệ 30 lần/hai ngày gây xôn xao trong

c ng đồng mạng Ngay sau khi bài báo được đăng tải thì có rất nhiều người truyền đường link bài viết cho nhau đọc và trên các trạng mạng x h i như Facebook, Zalo… Trao đổi v i báo Pháp luật Hồ Chí Minh [15], bà Ngọc cho rằng những thông tin mà báo chí đ đăng tải vừa qua là sai s thật, đ xúc phạm t i danh d , nhân phẩm, uy tín của mình

* Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai

Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân được áp dụng trong trường hợp khi quyền nhân thân

đó bị xâm phạm Theo biện pháp này, thì người có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể tr c tiếp yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bu c người vi phạm th c hiện m t trong các hành vi:

- Chấm dứt hành vi xâm phạm: Đây là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của

cá nhân có phạm vi tương đối r ng bởi nó có thể áp dụng trong mọi trường hợp quyền nhân thân bị xâm phạm Tùy thu c vào biểu hiện của hành vi xâm phạm quyền nhân thân mà người xâm phạm phải chấm dứt hành vi theo nhiều cách khác

nhau Ví dụ, đối v i hành vi xâm phạm “Quyền bí mật đời tư” của cá nhân thì

người có hành vi xâm phạm có hành vi thu thập công bố thông tin thì người thu

Trang 31

25

thập, công bố thông tin phải dừng việc thu thập, công bố Người có hành vi xâm

phạm “Quyền bất khả xâm phạm” về chỗ ở thì hành vi chấm dứt đó có thể là không

được tiếp tục xâm phạm bất hợp pháp chỗ ở của người khác Trong trường hợp

người có hành vi sử dụng, phát tán xâm phạm về “Quyền của cá nhân đối với hình

ảnh” thì phải chấm dứt hành vi này khi đ gây ra thiệt hại cho cá nhân có quyền

nhân thân v i hình ảnh hoặc chưa gây ra thiệt hại vì sử dụng hình ảnh mà không có

- Xin lỗi, cải chính công khai: Xin lỗi, cải chính công khai là biện pháp mang lại giá trị tinh thần, là biện pháp phi vật chất Đặc biệt, khi quyền nhân thân của cá nhân đối v i hình ảnh, quyền bí mật đời tư của cá nhân bị xâm phạm thì đây là biện pháp rất quan trọng để bảo vệ iện pháp này không mang lại cho chủ thể lợi ích vật chất nhưng nó lại có ý ngh a rất l n trong việc bù đắp những thiệt hại về tinh thần do hành vi xâm phạm trái pháp luật của chủ thể khác gây ra Người xâm phạm

có thể gặp tr c tiếp người bị xâm phạm quyền nhân thân để xin lỗi hoặc xin lỗi bằng những hình thức khác theo yêu cầu của người bị xâm phạm như gửi thư, đăng báo… Khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người khác thì bản thân người này phải t cải chính lại các thông tin trư c đây mà mình đ đưa ra bằng các biện pháp qua phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh, truyền hình…) hoặc có thể tr c tiếp cải chính

* Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại

Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền bu c người vi phạm bồi thường thiệt hại là biện pháp được áp dụng tương đối phổ biến trong quan hệ dân s và là biện pháp tương đối quan trọng Đây được coi là m t chế tài dân s được áp dụng đối v i người có hành vi xâm phạm t i quyền nhân thân của chủ thể được pháp luật bảo vệ hay nói m t cách khác nó là m t chế tài pháp lý,

Trang 32

26

bu c chủ thể có hành vi xâm phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi xâm phạm của mình gây ra Khi hành vi này gây thiệt hại, người bị xâm phạm có quyền yêu cầu chính chủ thể đ xâm phạm t i quyền nhân thân của mình hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nư c- cơ quan được Nhà nư c trao quyền l c bu c người vi phạm phải bồi thường thiệt hại

Căn cứ vào các quy định của pháp luật dân s hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân được phân ra làm hai loại trách nhiệm Đó là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

có ý ngh a l n trong việc xác định hành vi xâm phạm, mức bồi thường… Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm dân s phát sinh do không th c hiện hoặc th c hiện không đúng, không đầy đủ ngh a vụ theo hợp đồng Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) có quan hệ hợp đồng và thiệt hại phải do hành vi không th c hiện hoặc

th c hiện không đúng, không đầy đủ ngh a vụ trong hợp đồng gây ra Các bên có thể thỏa thuận trư c trong hợp đồng về các biện pháp cưỡng chế, mức bồi thường, mức phạt hoặc các biện pháp bảo đảm th c hiện việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra Đối v i trường hợp xâm phạm quyền nhân thân đối v i hình ảnh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng liên quan t i quyền nhân thân đối v i hình ảnh của cá nhân chỉ phát sinh khi tổ chức hoặc cá nhân có hành vi không th c hiện hoặc th c hiện không đúng, không đầy đủ ngh a vụ mà hai bên đ thỏa thuận trong hợp đồng khi giữa người có quyền nhân thân v i hình ảnh và tổ chức hoặc cá nhân bất kì có giao kết v i nhau hợp đồng về việc sử dụng hình ảnh của người đó v i mục đích thương mại Ví dụ, hợp đồng dân s được giao kết giữa công ty nhiếp ảnh A v i cô người mẫu P.T, theo đó, công ty nhiếp ảnh A chụp ảnh

cô P.T để đăng lên tạp chí Tạp chí giai nhân, tuy nhiên sau khi chụp hình cô người mẫu này xong, công ty A lại đăng những hình ảnh đó của cô lên m t số website có

n i dung đồi trụy Hành vi này của công ty A đ xâm phạm t i danh d cũng như danh tiếng của cô P.T Theo đó, công ty nhiếp ảnh A đ vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho cô Q theo đúng như các điều khoản đ được thỏa thuận trong hợp

Trang 33

27

đồng Hoặc sẽ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng do xâm phạm quyền bí mật đời tư nếu hành vi xâm phạm là hành vi vi phạm hợp đồng giữa m t bên trong quan hệ hợp đồng v i người bị xâm phạm bí mật đời tư là m t bên hợp đồng

Ngược lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các chủ thể mà trư c đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy không liên quan đến việc th c hiện ngh a vụ theo hợp đồng khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Nó là trách nhiệm pháp lý bắt bu c phải th c hiện, phát sinh dư i tác đ ng tr c tiếp của các quy phạm pháp luật, không có s thỏa thuận trư c của các chủ thể Các bên chỉ có thể thỏa thuận sau khi đ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường… Xét quyền nhân thân đối v i bí mật đời

tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư là giữa bên xâm phạm quyền bí mật đời tư v i người bị xâm phạm không tồn tại quan hệ hợp đồng Ví dụ, khi mua sắm tại trung tâm mua sắm NK, nhân viên của trung tâm thường xin lại địa chỉ, thông tin của khách hàng đ mua sản phẩm tại đây Khi được hỏi thông tin các khách hàng đều cho và hai bên không có s giao kết bất kỳ m t hợp đồng nào Sau đó, tất cả những thông tin của 50.000 khách hàng đ mua sắm tại Trung tâm mua sắm NK đ bị giao bán trên m t trang web Hành vi đưa những thông tin cá nhân của khách hàng lên trang mạng xã h i công khai đ làm ảnh hưởng t i cá nhân các khách hàng, điều này đ xâm phạm t i quyền bí mật đời tư của họ

Những điều kiện cần phải thỏa m n đề bu c m t chủ thể bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của họ gây ra: (i) Phải có thiệt hại xảy ra; (ii) Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân v i thiệt hại xảy ra; (iv)

Có lỗi của người gây thiệt hại

- Thứ nhất, Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là những hậu quả bất lợi th c tế xảy ra mà bản thân chủ thể bị xâm phạm quyền nhân thân phải gánh chịu Thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó, thiệt hại về vật chất là những khoản chi phí

Trang 34

28

hợp lý nhằm khắc phục, hạn chế thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, để có cơ sở yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân bồi thường thiệt hại do hành vi của họ gây ra thì người bị xâm phạm phải đưa ra những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Về nguyên tắc, việc xác định thiệt hại do quyền nhân thân bị xâm phạm là tương đối khó, vì quyền nhân thân gắn v i giá trị tinh thần của con người, nó mang tính chất phi tài sản, nhất là trong các trường hợp xác định thiệt hại

do hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư, quyền nhân thân đối v i hình ảnh Hậu quả của những hành vi xâm phạm này là những thiệt hại về danh d , nhân phẩm, uy

tín của người bị xâm phạm Khoản 3 Điều 307 LDS 2005 quy định: “Người gây

thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị hại” và điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần I Nghị quyết số

03/2006/NQ- HĐTP quy định: “b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân

được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất

uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”

Không giống như việc xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, việc xác định tài sản trong trường hợp danh d , nhân phẩm và uy tín của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm không đơn giản ởi vì không thể “lượng hóa” được thiệt hại trong trường hợp này Thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không có công thức chung duy nhất để quy đổi thành tiền áp dụng do mọi trường hợp MC Đan Lê từng chia sẻ những thiệt hại của bản thân khi cô bị ghép mặt vào m t clip sex và bị

lan truyền trên mạng: “Thiệt hại vật chất có thể tính được, còn những thiệt hại tinh

thần mới thực sự là khủng khiếp Đây là yếu tố ảnh hưởng nặng nề nhất Tôi đã trải

Trang 35

nhưng “mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”

(Khoản 2 Điều 611 LDS 2005)

- Thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là hành vi gây ra thiệt hại cho các quan hệ

x h i được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật đó có thể do pháp luật cấm

th c hiện hoặc yêu cầu th c hiện nhưng chủ thể đ không th c hiện hoặc có th c hiện nhưng th c hiện không đúng, th c hiện không đầy đủ nên đ gây thiệt hại Nó

là những xử s cụ thể của con người được thể hiện dư i dạng hành đ ng hoặc không hành đ ng Hành vi xâm phạm quyền nhân thân rất đa dạng

Trong môi trường x h i hiện nay, quyền của cá nhân đối v i hình ảnh, quyền bí mật đời tư, quyền được bảo vệ danh d , nhân phẩm, uy tín là những quyền nhân thân dễ bị xâm phạm nhất trong môi trường mạng x h i ên cạnh những lợi ích của việc sử dụng thư điện tử, truy cập internet là những mặt trái của nó về x h i

do những người có hành vi trái pháp luật đ lợi dụng “không gian” này để làm phương tiện truyền bá những thông tin thất thiệt, đăng tải những hình ảnh, video bí mật thu c về đời tư của cá nhân để vu khống, bôi nhọ danh d m t cách cố ý hoặc

v i nhiều mục đích khác… V i s trợ giúp của Internet, hình ảnh, bí mật đời tư được phát tán r ng v i tốc đ “chóng mặt”, không chỉ gi i hạn trong phạm vi trong

nư c mà c n trên phạm vi nhiều quốc gia Việc ngăn chặn và truy tìm những thủ phạm đối v i loại t i phạm này là tương đối khó khăn Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong môi trường mạng x h i được thể hiện dư i nhiều hành đ ng khác nhau Đó có thể là hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không được s

Trang 36

30

đồng ý của họ; đăng tải hình ảnh, video đời tư trên các trang báo mạng, diễn đàn, trang mạng x h i như Facebook, Zalo, Youtobe… gây thiệt hại về danh d , nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó hay đăng tải hình ảnh của cá nhân không đúng s thật, bịa đặt như sử dụng kỹ thuật photoshop để chỉnh sửa hình ảnh hoặc cắt ghép ảnh…; hành vi thu thập, công bố các thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân nhưng không được s đồng ý của cá nhân hoặc thân nhân cá nhân đó trong trường hợp cá nhân đ chết, mất năng l c hành vi dân s theo quy định của pháp luật, sau đó phát tán lên môi trường mạng x h i…

ên cạnh những hành vi sử dụng hình ảnh không xin phép chủ thể có quyền

và sử dụng bí mật đời tư của cá nhân thì có những hành vi sử dụng hình ảnh, công khai bí mật đời tư của cá nhân nhưng không được coi là hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân nếu hành vi đó được th c hiện theo quyết định của cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền theo những trình t , thủ tục nhất định Đây cũng chính là gi i hạn của n i dung quyền nhân thân đối v i hình ảnh, quyền bí mật đời tư

* Có lỗi của người gây thiệt hại

Khoản 1 Điều 604 LDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý…

mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Lỗi là m t yếu tố làm phát sinh trách nhiệm

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và được hiểu là “thái đ tâm lý của m t người đối v i hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại” [23, tr 123] Nghị quyết số

03/2006/NQ- HĐTP cũng nhấn mạnh yếu tố lỗi: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại” Như vậy, người có hành vi trái pháp luật

xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi hành vi đó được th c hiện v i lỗi cố ý hoặc vô ý Trong đó, lỗi cố ý gây

thiệt hại là: “Trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại

cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng

để mặc cho thiệt hại xảy ra” (khoản 2 Điều 308 BLDS 2005); lỗi vô ý gây thiệt hại

là “Trường hợp một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng

gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”

Trang 37

31

Như vậy, về nguyên tắc khi m t người có lỗi xâm phạm quyền nhân thân của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại và được thể hiện dư i hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, th c tiễn cho thấy các quyền nhân thân bị xâm phạm trong môi trường mạng xã h i thường là do lỗi cố ý Bởi, v i những hành vi như đăng tải hình ảnh, video đời tư trên các trang báo mạng, diễn đàn, trang mạng xã h i như Facebook, Zalo, Youtobe… gây thiệt hại về danh d , nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó hay đăng tải hình ảnh của cá nhân không đúng s thật, bịa đặt như sử dụng kỹ thuật photoshop để chỉnh sửa hình ảnh hoặc cắt ghép ảnh… thì người th c hiện hành vi vi phạm đó thường có chủ đích từ trư c

* Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân

Khi đề cập đến mối quan hệ nhân quả là nói đến s liên hệ mật thiết giữa hai hiện tượng trong thế gi i khách quan có s tác đ ng, chuyển hóa lẫn nhau, trong đó hiện tượng thứ nhất đóng vai tr là nguyên nhân, hiện tượng tứ hai đóng vai tr là kết quả Nguyên nhân là cái có trư c, kết quả là cái có sau, nguyên nhân là yếu tố quyết định đến kết quả Khoa học luật dân s không có lý luận riêng về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả trong pháp luật dân s được xây d ng trên cơ sở cặp phạm trù nhân quả của Chủ ngh a duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin Theo đó, mối quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là mối quan hệ giữa hành vi khách quan (hành vi trái pháp luật)

v i hậu quả (thiệt hại th c tế xảy ra) Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải xảy

ra trư c thiệt hại trong m t không gian và thời gian xác định Như vậy, trong mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm quyền nhân thân thì việc có hành vi xâm phạm t i các quyền nhân thân của chủ thể phải đưa lại m t thiệt hại cho chủ thể hưởng quyền bị xâm phạm Hành vi xâm phạm quyền nhân thân là nguyên nhân và thiệt hại xảy ra được xác định là hậu quả Xét trong mối quan hệ nhân quả này thì hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải có trư c và thiệt hại có sau

Trong quan hệ pháp luật này, việc làm rõ mối quan hệ nhân quả có ý ngh a đặc biệt quan trọng Làm rõ mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật v i hậu quả

Trang 38

32

thiệt hại xảy ra sẽ trả lời được hai câu hỏi khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do các quyền nhân thân của chủ thể bị xâm phạm:

- Có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

- Mức bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào nếu nhiều người gây thiệt hại cho m t người hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi?

Việc xác định đúng quan hệ nhân quả là rất khó khăn, phức tạp và có ý ngh a rất quan trọng trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể ở mức đ nào Do vậy, để đánh giá đúng nguyên nhân của mối quan hệ nhân quả trên phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Quan hệ nhân quả là s tồn tại khách quan, không phụ thu c vào ý chí của con người Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy

ra, phải đảm bảo tính khách quan, phải đặt trong mối liên hệ tất nhiên, n i tại của các hiện tượng chứ không được xác định quan hệ nhân quả theo lối nhận xét chủ quan

- Cần phân biệt nguyên nhân v i điều kiện Việc xác định hành vi vi phạm nào là nguyên nhân và hiện tượng nào là điều kiện trong th c tiễn là hết sức phức tạp, khó khăn nhưng rất cần thiết Làm rõ được s khác nhau trên chúng ta sẽ xác định được đúng chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nguyên nhân là cái tr c tiếp gây ra ra thiệt hại, nếu không có nó thì không bao giờ xảy ra thiệt hại Điều kiện không phải là cái tr c tiếp gây ra thiệt hại nhưng nó có tác đ ng thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình thiệt hại xảy ra Trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân là yếu tố quyết định, c n điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả Ở đây, m t nguyên nhân có thể đưa ra nhiều kết quả khác nhau phụ thu c vào điều kiện cụ thể Nó có thể là những kết quả gây ảnh hưởng nghiêm trọng t i

cu c sống của cá nhân nhưng nó cũng có thể là những hậu quả tốt đối v i họ

Tóm lại, theo quy định tại Điều 25 BLDS 2005 thì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể bảo vệ quyền nhân thân của mình theo nhiều phương thức khác nhau như: t mình bảo vệ, yêu cầu có quan tổ chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc

bu c người vi phạm bồi thường thiệt hại Việc áp dụng m t hay nhiều biện pháp

Trang 39

33

bảo vệ quyền nhân thân hoặc áp dụng biện pháp bảo vệ quyền nhân thân nào là tùy vào từng trường hợp cụ thể quyền nhân thân bị xâm phạm và do ý thức chủ quan của người có quyền nhân thân bị xâm phạm mà t l a chọn biện pháp bảo vệ phù hợp để mang lại hiệu quả V i những quy định trong pháp luật dân s Việt Nam hiện hành đ mang lại ý ngh a to l n trong việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể khi bị xâm phạm Đây là việc làm cần thiết Hơn nữa, các quyền nhân thân của

cá nhân bao gồm nhiều quyền khác nhau và các hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân cũng rất đa dạng nên việc pháp luật quy định đa dạng hóa các phương thức bảo

vệ quyền nhân thân của cá nhân là hoàn toàn phù hợp, tạo điều kiện cho việc bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả hơn nữa

1.2.3.3 Biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của một số ngành luật khác

Cá nhân có quyền được bảo vệ quyền nhân thân của mình ên cạnh những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật dân s thì pháp luật những ngành luật khác của nư c ta c n có những biện pháp khác trong việc bảo vệ quyền nhân thân Đó là các biện pháp xử lý kỷ luật người vi phạm, biện pháp hành chính và biện pháp hình s

* Biện pháp xử lý kỷ luật

iện pháp xử lý kỷ luật là biện pháp được áp dụng đối v i những đối tượng

là cán b , công chức; người lao đ ng có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân và thu c các trường hợp phải xử lý kỷ luật

- Thứ nhất, đối v i cán b , công chức:

Theo Luật Cán b , công chức năm 2008 thì cán b , công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nư c và thu c m t trong các đối tượng được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 của Luật này Theo quy định tại Điều 78 và 79 của Luật Cán b , công chức năm 2008 thì trong quá trình th c thi nhiệm vụ được cơ quan giao nếu cán b , công chức có hành vi vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân nói riêng nếu chưa đến mức đ truy cứu trách nhiệm hình s thì tùy theo tính chất, mức đ vi phạm mà sẽ phải chịu m t trong các hình thức kỷ luật như sau:

- Khiển trách; - Cách chức;

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm