1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa tổng công ty hàng không việt na

73 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 714,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sỹ luật học, Luận văn không có tham vọng đi sâu tìm hiểu tất cả các nội dung của pháp luật về vấn đề này hay đề xuất tất cả các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MAI ANH

PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP

ÁP DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGÔ HUY CƯƠNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC……… 10

1.1 Khái quát về doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 10

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 10

1.1.2 Vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 13

1.1.3 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước… 14

1.2 Khái quát về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 17

1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 17

1.2.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước………19

1.2.3 Sơ lược pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam……… 21

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN……… 28

2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……… 28

2.1.1 Mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước……….……… 28

2.1.2 Đối tượng và điều kiện để thực hiện cổ phần hóa……….31

2.1.3 Hình thức cổ phần hóa……… 34

2.1.4 Trình tự cổ phần hóa……….….35

2.1.4.1 Xây dựng phương án cổ phần hóa……….…… 35

2.1.4.1.1 Xử lý tài chính khi cổ phần hóa 35

2.1.4.1.2 Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa 40

2.1.4.2 Tổ chức thực hiện phương án cổ phần hóa 46

2.1.4.2.1 Bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa 47

2.1.4.2.2 Đối tượng và điều kiện mua cổ phần 50

Trang 3

2.1.4.2.3 Chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp 53 2.1.4.3 Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH

NAM 59

3.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty hàng không Việt Nam……… … 59 3.2 Cơ sở pháp lý thực hiện cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam… 61 3.3 Những khác biệt trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam so với các quy định chung của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng……… ……… 62 3.3.1 Đặc thù của việc lựa chọn hình thức cổ phần hóa Tổng công ty hàng

không ViệtNam 63 3.3.2 Những khác biệt trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam so với các quy định chung của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng 63 3.3.2.1 Về xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản 63 3.3.2.2 Về Lựa chọn, sử dụng kết quả xác định giá trị doanh nghiệp 66 3.3.2.3 Việc bán cổ phần cho cổ đông chiến lược và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) 66 3.3.2.4 Về việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp 67 3.3.2.5 Việc kiến nghị giữ lại toàn bộ phần thặng dư vốn phát hành thêm cổ phần tương ứng với phần vốn nhà nước 67

KẾT LUẬN……….70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….71

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay, đặc biệt là các tác động của nền kinh tế thế giới với nền kinh tế nước nhà, nhiệm vụ đổi mới và sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước để phù hợp với nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tái khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước

giữ vai trò chủ đạo Để khắc phục các hạn chế còn tồn đọng trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này, phát huy tiềm lực cũng như vận dụng các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, kinh tế vào chính hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa được xác định là các giải pháp tối ưu trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hình thành và phát triển cùng với đòi hỏi phải cổ phần hóa loại hình doanh nghiệp nhà nước ngay từ những ngày đầu thực hiện cải cách nền kinh tế những năm 1986 Qua hơn 20 năm, pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã có nhiều thay đổi để đáp ứng các yêu cầu của tình hình mới Đến nay, các quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã phần nào khắc phục được những bất cập còn tồn đọng và tạo đà thúc đẩy quá trình cổ phần hóa này nhanh chóng, khẩn trương theo yêu cầu đặt ra

Trang 5

Hàng không dân dụng là một lĩnh vực mới mẻ và đặc thù, trong đó sự tham gia của nhà nước gần như bao phủ tất cả các hoạt động của ngành này (kinh doanh vận chuyển hàng không; khai thác cảng hàng không, sân bay; điều hành bay) Tổng công ty Hàng không Việt Nam là một trong những doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực mạnh và nhận được nhiều ưu thế trong hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng không trước đây Nhưng trước sự cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế, việc cổ phần hóa Tổng công

ty Hàng không Việt Nam đã được xác định từ những năm 2007, theo đó Chính phủ đặt ra thời điểm đến năm 2013 phải cổ phần hóa thành công Tuy nhiên đến nay, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (tỷ lệ lạm phát trong những năm gần đây tăng cao, thị trường chứng khoán nhiều thời điểm có sự xuống dốc ) nên quá trình cổ phần hóa này vẫn chưa được hoàn tất

Để góp tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về cổ phần hóa loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đặc biệt là trong việc thực hiện cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam thì việc nghiên cứu, tìm hiểu để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như áp dụng khi cổ phần hóa Tổng công

ty này là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sỹ luật học, Luận văn không có tham vọng đi sâu tìm hiểu tất cả các nội dung của pháp luật về vấn đề này hay đề xuất tất cả các giải pháp khi thực hiện cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không

Việt Nam mà chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản của: “Pháp luật về

cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam” với

mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100%

Trang 6

vốn nhà nước cũng như đề xuất một số giải pháp với mục đích thực hiện thành công cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam theo đúng tiến độ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới luật học nước ta ngay từ những ngày đầu thực hiện cải cách nền kinh tế Tuy nhiên sau nhiều năm, trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế

- xã hội thời kỳ mới, các quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã có những chuyển biến và thay đổi rõ rệt mà chưa có công trình nào giai đoạn gần đây nghiên cứu, đặc biệt là đề xuất những giải pháp áp dụng với một trường hợp doanh nghiệp cụ thể khi thực hiện cổ phần hóa

Nhận diện được thiếu sót này, Luận văn đề cập đến việc nghiên cứu “Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam” với mong muốn thông qua việc phân tích, đánh giá pháp luật về cổ phần hóa loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước để làm rõ hơn các thay đổi tích cực quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này và đề xuất một số giải pháp áp dụng khi cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa học

đã công bố, Luận văn với đề tài “Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam” có đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

- Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là:

+ Hệ thống các quan điểm, quy định của pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (bao gồm mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa; đối tượng và điều kiện để thực hiện cổ phần hóa; hình thức cổ phần hóa; một số nội dung trong các trình tự cổ phần hóa tập trung vào các điểm sau đây:

xử lý tài chính khi cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, bán

cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa, đối tượng và điều kiện mua cổ phần, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp và hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần)

+ Việc thực hiện cổ phần hóa Công ty mẹ - Tổng công ty hàng không Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vào những quy định cơ bản của pháp luật

về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất một số giải pháp

áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam mà không đi sâu vào các nội dung liên quan đến vấn đề tài chính cũng như khi cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam, vì đến nay doanh nghiệp này đã hoàn thành báo cáo tài chính (đã kiểm toán) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp (ngày 31/3/2013) và hoàn thành công tác kiểm kê, phân loại tài sản, xác nhận nợ cũng như đang chuẩn bị hoàn tất thủ tục công bố giá trị doanh nghiệp

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 8

Luận văn với đề tài “Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đề xuất những giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam” có mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Mục đích:

+ Về mặt lý luận, nhận thức được vai trò chủ đạo của loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong nền kinh tế thị trường - định hướng xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần hiện nay (dẫn dắt nền kinh tế và khắc phục các khuyết tật của thị trường); nắm vững được các quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về

cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đặt trong mối quan hệ so sánh với các quy định trước đây để từ đó nhận diện được những thay đổi tích cực của pháp luật trước đòi hỏi của thực tế, từ đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam

+ Về mặt thực tiễn, trên cơ sở thành công của nhiều doanh nghiệp nhà nước

đã cổ phần hóa, đề xuất được những giải pháp trọng tâm để lựa chọn khi thực hiện

cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam

- Để đạt được các mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

+ Tìm hiểu những vấn đề lý luận về vai trò của doanh nghiệp nhà nước, những nội dung cơ bản của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đặt trong mối quan hệ so sánh với quy định của pháp luật giai đoạn trước đây

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung, thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thời

Trang 9

gian qua; trên cơ sở đó chỉ ra một số bất cập còn tồn đọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này

- Đưa ra định hướng và các giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và áp dụng khi trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới, sắp xếp khu vực kinh tế nhà nước qua từng giai đoạn

- Phương pháp bình luận, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong Chương 1 nghiên cứu những vấn đề chung về doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

và cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam

- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu, phương pháp đánh giá… được sử dụng trong Chương 2 nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước,

từ đó nghiên cứu xác lập định hướng và đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá… được sử dụng trong Chương

3 để đưa ra một số giải pháp cụ thể áp dụng khi thực hiện cổ phần hóa Tổng công

ty Hàng không Việt Nam

6 Kết cấu của Luận văn

Trang 10

Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được kết cấu thành 3 Chương, cụ thể:

- Chương 1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và

cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

- Chương 2 Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

- Chương 3 Đề xuất một số giải pháp áp dụng trong quá trình cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC

1.1 Khái quát về doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Trước yêu cầu giải quyết các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và điều tiết

vĩ mô trong nền kinh tế thị trường, do vậy một thực tế ở hầu hết các quốc gia hiện nay đó là đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước hay còn gọi là doanh nghiệp nhà nước

Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước, doanh nghiệp

nhà nước đã bắt đầu được chú trọng và phát triển với tên gọi ban đầu là “doanh nghiệp quốc gia” được ghi nhận trong Sắc lệnh số 104/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 01/01/1948: “Doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển”

Căn cứ vào phạm vi hoạt động, ở các giai đoạn sau này, những đơn vị kinh

tế đó của nhà nước có các tên gọi khác nhau: xí nghiệp quốc doanh (trong công nghiệp); nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (trong nông-lâm nghiệp); cửa hàng quốc doanh (trong thương nghiệp)

Thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” được sử dụng chính thức từ năm

1991 – trong thời gian đầu của quá trình đổi mới, đây là một tổ chức kinh doanh

do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu (Điều 1 Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước – được ban hành kèm theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban

Trang 12

hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước) Khi Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 ra đời, doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa như

sau: “Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao” (Điều 1 Luật

Doanh nghiệp nhà nước năm 1995) Theo đó, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý [5,tr 177-179]

Như vậy có thể thấy, đến trước thời điểm ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, doanh nghiệp nhà nước vẫn được hiểu là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ Tuy nhiên, khi Luật Doanh nghiệp nhà

nước năm 2003 được ban hành, quan điểm này đã thay đổi, theo đó “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc

có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà

nước năm 2003) Và đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp nhà nước

được định nghĩa “là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều

lệ” (khoản 4 Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Có thể thấy trong từng giai

đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, hiện nay doanh nghiệp nhà nước được xác định không chỉ là những doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ mà còn là những doanh nghiệp

có cổ phần, vốn góp chi phối vủa nhà nước, có nghĩa Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ

Trang 13

Từ các khái niệm và phân tích trên có thể hiểu doanh nghiệp 100% vốn

nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ Doanh

nghiệp 1000% vốn nhà nước này có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, đặc điểm về sự hình thành: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

là tổ chức kinh tế, do Nhà nước thành lập Các doanh nghiệp này do Nhà nước trực tiếp thành lập để thực hiện các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu do Nhà nước đề ra

Thứ hai, đặc điểm về sở hữu: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là doanh

nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ

Thứ ba, đặc điểm về quyền định đoạt đối với doanh nghiệp: Với đặc điểm

là Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ nên Nhà nước có toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp (phê duyệt điều lệ doanh nghiệp, bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp hoặc quyết định một số các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp…)

Thứ tư, đặc điểm về hình thức tồn tại: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

hiện nay có hình thức rất đa dạng: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên

Thứ năm, đặc điểm về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: Doanh

nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân; tự chủ về tài chính, tự cân đối các khoản thu chi, kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu do chủ sở hữu nhà nước giao; quản lý sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nước

Trang 14

giao, cho thuê Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ được ghi trong Điều lệ doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn)

1.1.2 Vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

năm 2013 tái khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” Như vậy có thể thấy, trải qua các giai

đoạn lịch sử, đến nay vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước là đương nhiên và lâu dài Tuy nhiên trong thời kỳ hiện nay, vai trò chủ đạo cần phải được hiểu đúng một cách thống nhất Ông Phùng Quốc Hiển – Uỷ viên Trung Ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cho rằng: “dẫn dắt nền kinh tế và khắc phục các khuyết tật của thị trường là vai trò mà không một thành phần kinh tế nào có thể thay thế được ”

Theo đó, thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Nhà nước tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra của cải, vật chất giống như các thành phần kinh tế khác, là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân và cũng phải tuân thủ cơ chế quản lý, quy luật của kinh tế thị trường, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác

Với lợi thế là những tổ chức có tiềm lực kinh tế sẽ có khả năng thu hút đầu

tư và hợp tác với tư bản nước ngoài để có thể khai thác, động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nhà tư bản nước ngoài đó cho sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà hoặc tạo đối trọng đối với thị trường nội địa hoặc thế giới

Trang 15

Thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nhà nước sử dụng nguồn lực của mình, nhất là nguồn lực về ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng, thiết yếu, tạo ra những bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội

mà các thành phần kinh tế khác không làm được (đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, bình ổn giá cả, đầu tư phát triển các vùng sâu, vùng xa, những lĩnh vực, địa bàn còn có điều kiện khó khăn và thậm chí không có lợi nhuận, gánh vác nhiệm vụ dự trữ những mặt hàng chiến lược của quốc gia,…)

Nhận thức sâu sắc vai trò của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhưng đồng thời cũng phải tỉnh táo thấy được những yếu kém, tồn tại và nguyên nhân của nó để sẵn sàng khắc phục được những hạn chế, yếu kém còn tồn đọng để củng cố, giữ vững vai trò chủ đạo của loại hình doanh nghiệp này trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước

1.1.3 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Trong những năm qua, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước nói riêng phần nhiều bị ảnh hưởng Để củng cố vị trí chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, Chính phủ đã đẩy mạnh công cuộc sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước, bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội Qua sắp xếp, doanh nghiệp nhà nước đã được cơ cấu lại một cách cơ bản, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh (tính đến ngày 30/9/2011 còn khoảng 1.225 doanh nghiệp nhà nước) tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt [5] Các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được chuyển thành công ty trách

Trang 16

nhiệm hữu hạn một thành viên, hiện tại cả nước đang có khoảng 103 doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn [8]

Về kết quả sản xuất kinh doanh, bên cạnh những con số khả quan về doanh thu và lợi nhuận (Năm 2010, doanh thu của các doanh nghiệp nhà nước

mà trong đó chủ yếu là từ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tăng 35% so với thực hiện năm 2009, lợi nhuận tăng 66% so với thực hiện năm 2009) thì khu vực kinh tế nhà nước mà đặc biệt là đối với các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước gặp khá nhiều khó khăn: tính đến ngày 31/12/2010, lỗ phát sinh trong năm 2010

là 1.116 tỷ đồng, lỗ lũy kế là 26.123 tỷ đồng (chưa kể Vinashin vì Vinashin đang trong quá trình tái cơ cấu nên tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh không thống kê vào đây), nhiều tập đoàn và tổng công ty ở trong tình trạng kinh doanh thua lỗ như: Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1, Tổng công ty chè Việt Nam, Tổng công ty đầu tư phát triển

đô thị và khu công nghiệp, Tổng công ty xăng dầu quân đội, Tổng công ty 15 –

Bộ Quốc phòng, Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn,… [2]

Quá trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước đã làm giảm số lượng cồng kềnh của loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhưng tình trạng yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn còn khá nhiều, chưa tương xứng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước nhà Xem xét một cách toàn diện hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước này, có thể xác định được các bất cập còn tồn đọng như sau:

- Chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn chồng chéo, chưa quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, giám sát công tác: tổ chức nhân sự; xây dựng phê duyệt hoặc thẩm định trình cấp

Trang 17

có thẩm quyền phê duyệt phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản của các doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu

- Công tác quản trị, điều hành của nhiều doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; chậm thay đổi để phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường và xu thế hội nhập; nhiều doanh nghiệp chậm đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ, chưa thực sự năng động trong việc cạnh tranh, tiếp cận thị trường đối với hàng hoá, sản phẩm của mình, chưa chú trọng phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, có tay nghề cao

- Việc huy động quá nhiều vốn để thực hiện đầu tư, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, thành lập nhiều công ty con, công ty liên kết hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề của một số tập đoàn, tổng công ty trong khi năng lực quản lý và khả năng tài chính có hạn đã dẫn tới hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu cao, ảnh hưởng không tốt đến năng lực tài chính và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp

Một số tập đoàn, tổng công ty trong những năm vừa qua đã tham gia góp vốn vào ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, bất động sản Việc đầu tư này chưa thực sự hợp lý khi nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính còn hạn chế Mặt khác việc đầu tư vào những lĩnh vực này ở cuối chu kỳ tăng trưởng kinh tế và bắt đầu của

xu hướng khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán thấp nên hiệu quả đầu tư không cao hoặc không có hiệu quả

- Việc tuân thủ các quy định của Nhà nước trong công tác quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa cao, chế độ

Trang 18

báo cáo thường xuyên, định kỳ chưa đầy đủ, không đúng thời gian quy định, chất lượng báo cáo không đảm bảo yêu cầu, thiếu số liệu để so sánh, đánh giá việc sử dụng vốn, tài sản

- Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp vừa chưa bao quát, chưa thực hiện được theo định kỳ, vừa chồng chéo [2]

1.2 Khái quát về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

1.2.1 Khái niệm cổ phấn hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Trong suốt quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của mình, khu vực kinh tế nhà nước đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước Nhưng khi bước vào công cuộc đổi mới đất nước những năm 1986 và bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực này đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới, cải cách khu vực kinh tế nhà nước, trong

đó chú trọng tới các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Tuy nhiên áp dụng giải pháp nào cho loại hình doanh nghiệp này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia

Thực tế cho thấy hình thức cổ phần đã xuất hiện từ rất sớm, từ thế kỷ XV, XVI và phát triển rất mạnh từ thế kỷ XVIII Ngày nay cổ phần hóa đã trở thành hình thức kinh tế phổ biến, đặc trưng của các nền kinh tế hiện đại Hình thức cổ phần liên kết các nhà đầu tư hợp vốn thành lập công ty cổ phần, xã hội hóa nguồn vốn, trực tiếp thúc đẩy nhanh lực lượng sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ

Trang 19

Rút kinh nghiệm từ công cuộc cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu những năm 70, 80 của thế kỷ trước, từ sự thành công của quá trình cổ phần hóa ở Trung Quốc, Việt Nam xác định cổ phần hóa là giải pháp tối ưu trong quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Vậy, cổ phần hóa là gì ? Dưới góc độ pháp lý, cổ phần hóa là việc biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ tồn tại dưới hình thức công

ty cổ phần, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung của nhiều người thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho nhiều người dưới hình thức bán cổ phần cho họ Những người này trở thành cổ đông của công ty cổ phần, doanh nghiệp một chủ trở thành công ty

cổ phần Như vậy, cổ phần hóa có thể áp dụng đối với bất kỳ doanh nghiệp một chủ nào, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước đều có thể cổ phần hóa [7,tr 145]

Vậy còn cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là gì ? Dưới góc

độ pháp lý, cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là việc “chuyển đổi những doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu ” (khoản 1 Điều 1 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần)

Dưới góc độ sở hữu, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ

sở hữu 100% vốn nhà nước sang hình thức sở hữu của nhiều thành phần kinh tế thông qua hình thức bán cổ phần

Như vậy, bản chất của cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ, tức là

Trang 20

chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác Nói cách khác, cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là hành vi mua và bán, trong đó nhà nước sẽ thu được tiền bán cổ phần của doanh nghiệp, các cổ đông sẽ được quyền sở hữu và định đoạt toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh cũng như hưởng các lợi nhuận sau khi đã làm nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước

1.2.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật quan trọng nhất chi phối là quy luật giá trị và giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh Các chủ thể kinh tế tiến hành sản xuất, kinh doanh đều hướng đến đạt mục tiêu sinh lợi, giá trị tạo ra giá trị thặng dư Dưới tác động của quy luật giá trị, muốn đạt mục tiêu đó, các chủ thể không có cách nào khác phải cạnh tranh để chiếm ưu thế trên thị trường, để tiêu thụ hàng hóa và đạt lợi nhuận [11,tr 54]

Khi nền kinh tế thị trường còn đang ở trình độ thấp, cơ cấu của nền kinh tế thị trường chủ yếu là các xí nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và nhu cầu về vốn kinh doanh chưa nhiều, các rủi ro trong kinh doanh cũng ở mức độ thấp Nhưng khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, các chủ thể kinh tế muốn tồn tại và phát triển thì qui mô doanh nghiệp phải lớn, trình độ công nghệ phải càng cao, trình độ quản lý phải tốt mới có điều kiện nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu không ngừng tăng lên của người tiêu dùng Để

mở rộng qui mô kinh doanh cũng như đầu tư đổi mới nhanh công nghệ thì phải

có vốn lớn Muốn vậy các chủ thể kinh tế phải tìm kiếm các giải pháp tích tụ hoặc tập trung vốn kinh doanh cho doanh nghiệp, theo đó cổ phần hóa được xác

Trang 21

định là giải pháp tối ưu nhất trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam:

- Cổ phần hóa góp phần làm cho doanh nghiệp phát triển mạnh về quy mô

Trong khi các hình thức giải thể, sáp nhập, thành lập mới doanh nghiệp chủ thu hẹp đáng kể số lượng doanh nghiệp nhà nước trước đó, chưa giải quyết được vấn đề quan trọng nhất là “sở hữu” thì cổ phần hóa với những ưu điểm của mình đã giải quyết được gần như triệt để vấn đề đó

- Cổ phần hóa có lợi cho việc tập trung nguồn vốn

Trong tình hình kinh tế thế giới và trong nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thu chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay luôn là một vấn đề khó khăn, trong đó chi ngân sách để bảo đảm cho các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là một thách thức lớn Nhưng thông qua cổ phần hóa, khó khăn về vốn này sẽ cơ bản được giải quyết

Cổ phần hóa tạo ra khả năng huy động vốn rộng rãi, nhanh chóng, kịp thời đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh Vốn có thể được chuyển dịch giữa các nhà đầu tư trong và ngoài công ty cổ phần, tính chất xã hội hóa vốn hoạt động kinh doanh rất cao, tạo ra khả năng sử dụng vốn linh hoạt, có hiệu quả

- Cổ phần hóa góp phần phòng, chống tham nhũng, tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán

Trong công ty cổ phần, mỗi bộ phận và mỗi thành viên đều có lợi ích riêng gắn với lợi ích và mục tiêu của doanh nghiệp, điều này tạo ra động lực bên trong mỗi hoạt động quản lý do có sự ràng buộc và giám sát lẫn nhau, hạn chế các hành vi vụ lợi như khi doanh nghiệp đang thuộc hoàn toàn sở hữu của nhà nước

Trang 22

Trong công ty cổ phần, với tư cách vừa là người lao động, vừa là người sở hữu, người lao động trong các công ty cổ phần có điều kiện làm chủ thực sự doanh nghiệp, họ có thể tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của công ty, nâng cao tính chủ động, tích cực của mình để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Với các doanh nghiệp có tiềm lực lớn, thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ góp phần phát triển thị trường vốn quan trọng này đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay

- Cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là giải pháp hữu hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Theo cam kết của Việt Nam khi trở thành thành viên chính thức của WTO (tháng 11/2006) cũng như trong các hiệp định song phương và đa phương về thương mại, Việt Nam phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, như vậy sẽ không còn tình trạng bao cấp của Nhà nước đối với các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp này phải thực sự mạnh

để có thể cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

1.2.3 Sơ lược pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Quyết định số

202/CT

(ngày 08/6/1992)

Nghị định số 28/CP (ngày 07/5/1996)

Nghị định số 44/1998/NĐ-CP (ngày 29/6/1998)

Nghị định số 64/2002/NĐ-CP (ngày 19/6/2002)

Nghị định số 187/2004/NĐ-CP (ngày 16/11/2004)

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP (ngày 26/6/2007)

Nghị định số 59/2011/NĐ-CP (ngày 18/7/2011)

Nghị định số

189/2013/NĐ-CP

(ngày 20/11/2013)

Trang 23

Pháp luật Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hình thành và phát triển cùng với quá trình ra đời và phát triển cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ mới, theo đó nền kinh tế được chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [12] Trong lúc này, vấn đề quan trọng nhất của đổi mới nền kinh tế là sắp xếp và đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được đề cập tại Điều

22 của Quyết định số 217/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/11/1987 ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh: “Bộ Tài chính nghiên cứu làm thử việc mua bán cổ phiếu ở một số doanh nghiệp quốc doanh…” Trong thời điểm này đây là một vấn đề hết sức mới mẻ, vì vậy chúng ta mới chỉ bắt đầu làm thử Sau

đó, tại Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nêu rõ “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần” nhưng trước hết “phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi

mở rộng phạm vi” Lúc này, vấn đề cổ phần hóa chủ yếu được điều chỉnh bởi hai văn bản quy phạm pháp luật là: Quyết định số 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và Chỉ thị số 84/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hóa sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước Theo

đó, Nhà nước chủ trương cổ phần hóa trong phạm vi hẹp, chỉ cố phần hóa các doanh nghiệp nhà nước có qui mô vừa, làm ăn có lãi hoặc có tiềm năng Cổ phần

Trang 24

hóa doanh nghiệp được bán cho tổ chức, cá nhân trong nước nhưng chưa được bán cho người nước ngoài, cách thức bán cổ phần còn khá đơn giản, hình thức chỉ là bán một phần vốn nhà nước Đây là giai đoạn thử nghiệm nên chính sách

cổ phần hóa còn khá thận trọng

Trên cơ sở rút kinh nghiệm thực tế bước đầu, Hội nghị lần thứ chín của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII xác định “đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng diện đến các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa, kể cả doanh nghiệp lớn”, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996

về chuyển một số doanh nghiệp thành công ty cổ phần Phạm vi cổ phần hóa đã được mở rộng hơn trước, đối tượng cổ phần hóa không chỉ là các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ mà còn có thể cổ phần hóa cả những doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, điều kiện kèm theo đối với các doanh nghiệp này là có phương án kinh doanh hiệu quả Hình thức cổ phần hóa lúc này được

mở rộng hơn, giữ nguyên phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn và tách một bộ phận doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa Đối tượng mua cổ phần cũng được mở rộng, nhà nước không chỉ bán

cổ phần cho những tổ chức, cá nhân trong nước mà còn thí điểm bán cổ phần cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ

Giai đoạn từ năm 1998-2002 là giai đoạn cổ phần hóa đại trà nên đối tượng cổ phần hóa tiếp tục được mở rộng Ngày 29/6/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để thay thế cho Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 Theo Nghị định này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam cũng được mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Hình thức cổ phần hóa được bổ sung thêm hình thức bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà

Trang 25

nước tại doanh nghiệp, nghĩa là nhà nước có thể không cần có cổ phần trong công ty Cũng trong thời điểm này, vấn đề tổ chức thực hiện cổ phần hóa cũng

có sự thay đổi: trước đây Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm tra và quyết định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, tuy nhiên đến Nghị định 44 thì với những doanh nghiệp có mức vốn trên 10 tỷ đồng mới thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính; với các doanh nghiệp có mức vốn từ 10 tỷ trở xuống do Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 quyết định giá trị Những quy định này nhằm mở rộng quy mô cổ phần hóa trong giai đoạn này và

để thực hiện mục tiêu “huy động vốn” của toàn xã hội, thay đổi cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa

Sau 4 năm thực hiện, đến năm 2002, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã không còn phù hợp và bị thay thế bởi Nghị định số 64/2002/NĐ-CP và Nghị định này lại tiếp tục được thay thế bằng Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về cổ phần hóa công ty nhà nước

Năm 2006, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X được tổ chức, đây được xác định là đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững Nghị quyết tại đại hội Đảng lần thứ X này đã chỉ rõ: “Chúng ta chủ trương xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh cao, chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn và công ty lớn dựa trên hình thức cổ phần Cần tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa” [13] Cũng trong năm này, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới-WTO (ngày 07/11/2006) sau 11 năm và trải qua 15 vòng đàm phán

Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế-quốc tế và tạo ra những sự thay đổi căn bản cho kinh tế Việt Nam

Trang 26

Trước yêu cầu của tình hình mới, cả hệ thống pháp luật Việt Nam đã có sự thay đổi để đáp ứng với yêu cầu đang đặt ra, trong đó có pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Nghị định số 109/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/6/2007 được ban hành và thay thế cho Nghị định số 187/2004/NĐ-CP không còn phù hợp Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước lại được hoàn thiện thêm một bước, khắc phục được những tồn đọng trước đây

Sau 03 năm triển khai Nghị định 109/2007/NĐ-CP, công tác cổ phần hoá

đã đạt được kết quả quan trọng Số lượng các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn được cổ phần hoá đã nhiều hơn, trong đó có cả những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Tuy nhiên, thực tế tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo quy định của Nghị định 109/2007/NĐ-

CP trong thời gian qua có dấu hiệu chững lại Theo tài liệu của các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước gửi về Bộ Tài chính thì đã

có 276 doanh nghiệp được tiến hành cổ phần hoá theo Nghị định

109/2007/NĐ-CP (tính từ tháng 8/2007 đến tháng 7/2010), chỉ đạt 25% so với số doanh nghiệp phải tiến hành cổ phần hoá giai đoạn 2007-2010 theo các phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tiến độ sắp xếp, cổ phần hoá từ năm 2008 đến năm 2010 còn chậm, việc đổi mới phương thức quản lý còn chưa rõ ràng (tỷ lệ

cổ phần Nhà nước còn nắm giữ lớn ở nhiều doanh nghiệp, các doanh nghiệp quy

mô lớn chưa lựa chọn được nhà đầu tư chiến lược) Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, chủ quan thì về cơ chế cổ phần hoá một số ngành, lĩnh vực chưa có hướng dẫn phù hợp (như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn), một

số cơ chế quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác như hệ thống chính sách pháp luật về đất đai chưa thực sự khả thi nên có nhiều vướng mắc trong thực tiễn như:

Trang 27

- Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá theo mức giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 còn bất cập, không hợp lý nên không khả thi (nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá gặp vướng mắc khi xác định giá đất theo giá thị trường do UBND tỉnh không xác định được)

- Chính sách bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược còn quá thận trọng, chưa linh hoạt, chưa hấp dẫn nên chưa thực sự thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong nước cũng như ngoài nước tham gia

- Chính sách bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá chưa thực sự tạo điều kiện để thu hút và gắn bó người lao động làm việc lâu dài cho doanh nghiệp, đặc biệt là người lao động giỏi, có trình độ

- Việc xác định trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong quá trình triển khai cổ phần hoá (cơ quan tư vấn cổ phần hoá, cơ quan quyết định cổ phần hoá, Ban Chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp ) và xử lý vi phạm còn hạn chế

Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, yêu cầu lúc này phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, việc hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

“- Đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật cùng việc đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, thông thoáng, thuận lợi cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

- Thực hiện đúng tinh thần Nghị Quyết Đại hội X và chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 45-KL/TW ngày 10/4/2009 tiếp tục hoàn thiện cơ chế cổ phần

Trang 28

hoá gắn với thị trường, ngăn ngừa thất thoát tài sản nhà nước, đổi mới chính sách bán cổ phần để thu hút cổ đông chiến lược và tạo sự gắn bó chặt chẽ, lâu dài giữa người lao động với doanh nghiệp Cơ chế cổ phần hoá phải rõ ràng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện, thận trọng khi cổ phần hoá những doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh trong những lĩnh vực nhạy cảm

- Phải đảm bảo tính liên tục, tính công bằng trong quá trình sắp xếp và cổ phần hoá, theo đó một số cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá vẫn được đảm bảo nhất quán, có kế thừa

hệ thống cơ chế chính sách trước đây

- Nâng cao tính công khai, minh bạch để tăng cường sự giám sát đối với công tác cổ phần hoá, kịp thời phát hiện và có giải pháp khắc phục những bất cập để nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hoá doanh nghiệp 100% vốn nhà nước” [1]

Trên cơ sở đó, Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần được ban hành và thay thế cho Nghị định số 109/2007/NĐ-CP trước đó Hiện nay, cùng với Nghị định số 189/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20/11/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP (chủ yếu liên quan đến các vấn đề về tài chính doanh nghiệp khi cổ phần hóa), đây là hai văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh đến vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam

Trang 29

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

2.1.1 Mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tại mỗi nước là khác nhau Tuy nhiên các mục tiêu chung mà hầu hết các quốc gia đều hướng tới đó là: nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phát triển thị trường vốn, tăng cường khu vực kinh tế tư nhân, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Chính phủ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển khả năng cạnh tranh của các công ty

Ở Việt Nam, dựa trên các nguyên tắc trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (việc cổ phần hóa phải góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, làm cho tài sản thuộc sở hữu nhà nước được sử dụng một cách có hiệu quả và cổ phần hóa phải nằm trong chương trình tổng thể

và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội do nhà nước đặt ra) mà mục tiêu cổ phần hóa loại hình doanh nghiệp này hiện nay có sự khác biệt so với các nước khác (khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần):

- Một là, chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của

Trang 30

các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Hai là, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư

và người lao động trong doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nhà nước ra đời bắt nguồn từ sự cần thiết phải điều tiết các hoạt động kinh tế của nhà nước, nhà nước nắm quyền sở hữu các doanh nghiệp này, vô hình chung trong suốt một thời gian dài nhà nước đã chi phối loại hình doanh nghiệp này theo kiểu quản lý hành chính; bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đã nhận được những ưu đãi đặc biệt trong quá trình sản xuất kinh doanh Những điều này đã làm mất đi tính tự chủ của một doanh nghiệp, làm giảm năng lực hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường Sau nhiều năm, nhiều doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã lạc hậu về kỹ thuật, yếu kém trong cách thức quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh sụt giảm, không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng và chưa tương xứng với vị trí chủ đạo trong nền kinh tế nước nhà Trong thời điểm kinh tế thế giới và trong nước hiện nay gặp nhiều khó khăn, vấn đề thu-chi ngân sách nhà nước một cách

có hiệu quả luôn được quan tâm Trước tình hình đó, để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì điều cần nhất là vốn đầu tư Doanh nghiệp có nguồn tài chính dồi dào sẽ có điều kiện đổi mới công nghệ và phương thức quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường Theo đó, nguồn tài chính này được huy động từ nhiều đối tượng: từ chính những người lao động trong doanh nghiệp, từ các cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước…Bên cạnh mục tiêu kinh tế, cổ phần hóa

Trang 31

doanh nghiệp 100% vốn nhà nước còn đặt ra mục tiêu bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể, từ lợi ích của nhà nước đến chính lợi ích của doanh nghiệp và của các nhà đầu tư cũng như người lao động trong doanh nghiệp; bảo đảm dân chủ và công bằng, hiệu quả sản xuất gắn liền với lao động với mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Để thực hiện hai mục tiêu trên, yêu cầu đặt ra khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đó là: thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán” (khoản

3 Điều 1 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP) Đây là những yêu cầu phù hợp trong giai đoạn hiện nay, được đặt ra từ những năm 2002, 2004, 2007 và duy trì đến năm 2011 để tiếp tục thực hiện nhằm giảm thiểu và chấm dứt tình trạng cổ phần hóa khép kín và không gắn kết với thị trường chứng khoán

Như vậy, trong quá trình tái cơ cấu và đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được xác định

là một yêu cầu tất yếu, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay Bên cạnh năng lực tài chính vững mạnh, cổ phần hóa góp phần đưa các phương thức quản lý mới, hiện đại và sáng tạo để ứng dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cổ phần hóa được mở rộng, không phải chỉ khép kín trong nội bộ doanh nghiệp sẽ thu hút được đông đảo các nhà đầu tư chiến lược

có tiềm lực Với những doanh nghiệp có điều kiện sẽ thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), cổ phần hóa lúc này gắn với thị trường chứng khoán, góp phần tạo sự minh bạch, công khai trong quá t nh này cũng như sự phát triển của thị trường vốn, thị trường chứng khoán

Trang 32

2.1.2 Đối tƣợng và điều kiện để thực hiện cổ phần hóa

Nghị định số 59/2011/NĐ-CP xác định đối tượng áp dụng cổ phần hóa là những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, bao gồm:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước)

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp thuộc các Bộ; cơ quan ngang Bộ; cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

So với Nghị định 109/2007/NĐ-CP, Nghị định này đã điều chỉnh lại đối tượng cổ phần hoá là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ cho phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp (từ ngày 01/7/2010, các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty mẹ nhà nước

đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức này)

Đây là những đối tượng có quy mô và phạm vi hoạt động lớn, tập trung lớn phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp Việc xác định các đối tượng nêu trên nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên và

số ít các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhưng chưa hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điều này cho thấy mô hình công ty

cổ phần với những ưu thế của mình là lựa chọn phù hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, thu hút vốn của các nhà đầu tư

Trang 33

trong và ngoài cũng như đổi mới công nghệ và phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của chính những doanh nghiệp này

Tuy nhiên, những đối tượng thuộc diện cổ phần hóa trên phải bảo đảm điều kiện: không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ Qua từng thời kỳ, việc xác định các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ căn cứ vào tình hình kinh tế-xã hội trong nước cũng như ảnh hưởng của tình hình kinh tế quốc tế Đến thời điểm này, các doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được quy định tại Danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước được ban hành kèm theo Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/3/2011 Theo đó, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực trọng yếu như: sản xuất, cung ứng vật liệu

nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ; sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; sản phẩm mật mã, trang thiết bị chuyên dùng cơ yếu, tài liệu kỹ thuật và cung ứng dịch vụ bảo mật thông tin bằng kỹ thuật nghiệp vụ mật mã; các doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa kết hợp kinh tế với quốc phòng; truyền tải hệ thống điện quốc gia; sản xuất, phân phối điện quy

mô lớn đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; các cảng hàng không; cảng biển loại I (cảng biển đặc biệt quan trọng,

có quy mô lớn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng); điều hành bay; điều hành vận tải đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị; bảo đảm an toàn hàng hải; bưu chính công ích; phát thanh, truyền hình; xổ số kiến thiết; xuất bản, báo chí; in, đúc tiền; sản xuất thuốc lá điếu; quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện, kè đá lấn biển;

Trang 34

quản lý, duy tu công trình đê điều, phân lũ và phòng chống thiên tai; trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; tín dụng chính sách, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các

bí quyết kinh doanh, công nghệ mà tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần thiết phải nắm giữ 100% vốn để thực hiện các nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính được giao

Hiện nay, tiêu chí mới về phân loại doanh nghiệp nhà nước đang được Chính phủ nghiên cứu rà soát để bổ sung những doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ vào diện thực hiện tái cơ cấu để tăng thêm số doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, giảm số doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần chi phối (trích Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị ngày 18/02/2014 triển khai tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước 2014-2015)

Ngoài điều kiện nêu trên, điều kiện đủ để doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được tiến hành cổ phần hóa là “còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp” Trường hợp sau khi đã được xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp mà giá trị thực tế doanh nghiệp thấp hơn các khoản phải trả thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa chỉ đạo doanh nghiệp phối hợp với Công ty Mua bán nợ Việt Nam và các chủ nợ của doanh nghiệp xây dựng phương án tái cơ cấu doanh nghiệp; trường hợp phương án tái cơ cấu doanh nghiệp không khả thi và hiệu quả thì chuyển sang thực hiện các hình thức chuyển đổi khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc đối tượng cổ phần hoá kinh doanh thua lỗ mất hết vốn nhưng có khả năng khôi phục lại sản xuất, có thể tiếp tục duy trì việc làm cho người lao động

Trang 35

- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều

lệ

Với hình thức này, doanh nghiệp phải có uy tín cao, kinh doanh nhiều năm

có lãi và có phương án cổ phần hóa khả thi

- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

Hình thức này áp dụng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần

có cổ phần Tuy nhiên, khi thực hiện hình thức này cần tránh tình trạng “tư nhân hóa” – bán toàn bộ cổ phần ra bên ngoài Xác định ưu tiên bán cho người lao động tại doanh nghiệp rồi sau đó mới bán ra bên ngoài, nhưng không phải cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp

Như vậy, sau nhiều năm pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã thể hiện sự linh hoạt của mình, đáp ứng được các yêu cầu của thực tế

Trang 36

2.1.4 Trình tự cổ phần hóa

2.1.4.1 Xây dựng phương án cổ phần hóa

Căn cứ vào kế hoạch cổ phần hóa trong Đề án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cơ quan

có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp và kế hoạch, lộ trình triển khai công tác cổ phần hóa Ban chỉ đạo cổ phần hóa sẽ thực hiện các hoạt động trong bước xây dựng phương án cổ phần hóa như sau: chuẩn bị hồ sơ, tài liệu; tổ chức kiểm kê, xử lý những vấn đề tài chính và tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp; quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp; hoàn tất phương án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trong bước đầu tiên này, các nội dung quan trọng được pháp luật quy định

cụ thể đó là:

2.1.4.1.1 Xử lý tài chính khi cổ phần hóa

Các quy định về xử lý tài chính doanh nghiệp khi cổ phần hóa ở toàn bộ Chương II gồm 09 Điều (từ Điều 13-Điều 21): quy định về kiểm kê, phân loại và

xử lý tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp cũng như tại thời điểm doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp lần đầu dưới hình thức công ty cổ phần

- Theo đó, khi nhận được quyết định thực hiện cổ phần hóa của cơ quan

có thẩm quyền, doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản, các nguồn vốn và quỹ doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua có rất nhiều vướng mắc liên quan đến việc kiểm tra, quyết toán nghĩa vụ nộp ngân sách tại các doanh nghiệp cổ phần hoá như: khoản thuế truy thu và tiền phạt chậm nộp thuế, việc kế thừa nghĩa vụ nộp thuế từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần, xử lý

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w