1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật người cao tuổi và vấn đề bảo vệ người cao tuổi ở việt nam hiện nay

80 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó cần phải kể đến: những bất cập trong quy định pháp luật NCT hiện hành; cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật NCT về bảo vệ NCT chưa thự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHÙNG THỊ VÂN ANH

PHÁP LUẬT NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VẤN ĐỀ BẢO

VỆ NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI MINH HỒNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Bùi Minh Hồng, người đã

tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt thời gian em hoàn thành Luận văn này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy chúng em trong suốt thời gian qua

Đồng thời, em cũng xin được cảm ơn cha mẹ, người thân và các bạn học viên đã luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu

Mặc đù đã cố gắng nghiên cứu hoàn thành Luận văn này nhưng Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô giáo để Luận văn thêm hoàn thiện

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Học viên

Phùng Thị Vân Anh

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Trang 4

Hôn nhân và gia đình HN&GĐ

Nghị định số 06/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban

hành ngày 14/01/2011 hướng dẫn thi hành một số

điều của Luật Người cao tuổi

Nghị định số 06/2011/NĐ-CP

Thông tư 35/2011/TT-BYT của Bộ Y tế ngày

15/10/2011 về Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe

người cao tuổi

Thông tư 35/2011/TT-BYT

Thông tư 21/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính

ngày 18/02/2011 về việc quản lý và sử dụng kinh

phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi

tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương,

khen thưởng người cao tuổi

Thông tư 21/2011/TT-BTC

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những điểm mới của Luận văn 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 5

7 Kết cấu của Luận văn 5

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI VÀ BẢO VỆ NGƯỜI CAO TUỔI 6

1.1 Khái niệm người cao tuổi và bảo vệ người cao tuổi 6

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 6

1.1.2 Khái niệm bảo vệ người cao tuổi 11

1.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới với vấn đề bảo vệ người cao tuổi 15

1.2.1 Pháp luật của một số nước Bắc Âu với vấn đề bảo vệ người cao tuổi 15

1.2.2 Pháp luật một số nước châu Á với vấn đề bảo vệ người cao tuổi 17

1.3 Khái quát lịch sử phát triển của pháp luật người cao tuổi Việt Nam về bảo vệ người cao tuổi 20

1.3.1 Giai đoạn trước năm 2000 21

1.3.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009 22

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay 24

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ NGƯỜI CAO TUỔI 29

2.1 Quy định của pháp luật người cao tuổi Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi 29

2.1.1 Quyền của người cao tuổi 29

2.1.2 Nghĩa vụ của người cao tuổi 38

Trang 6

của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ người cao tuổi 39

2.3 Quy định của pháp luật người cao tuổi Việt Nam hiện hành về cách thức bảo vệ người cao tuổi 43

2.3.1 Cách thức bảo vệ người cao tuổi khi quyền của người cao tuổi bị xâm phạm 43

2.3.2 Cách thức bảo vệ người cao tuổi khi quyền của chủ thể khác bị xâm phạm 45

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN BẢO VỆ NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 47

3.1 Thực tiễn bảo vệ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay 47

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc bảo vệ người cao tuổi 47

3.1.2 Những tồn tại, vướng mắc trong việc bảo vệ người cao tuổi 51

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay 60

3.2.1 Giải pháp về mặt pháp lí 60

3.2.3 Giải pháp về mặt xã hội 64

KẾT LUẬN 70

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Người cao tuổi (NCT) Việt Nam là lớp người có vai trò, vị trí quan trọng đối với gia đình

và xã hội, là nguồn nội sinh quý giá của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước Dù tuổi đã cao nhưng bằng trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm và uy tín với cộng đồng, NCT đã nêu gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; gương mẫu chấp hành và vận động gia đình, cộng đồng chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; cùng con, cháu tham gia làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo; mạnh dạn đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực xã hội…

Kế thừa đạo lý, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Kính lão, trọng thọ” của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm ban hành các văn bản pháp luật về NCT và bảo vệ NCT, tiêu biểu là Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) và Luật NCT Để giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, Luật HN&GĐ là cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận và bảo vệ quyền được phụng dưỡng, chăm sóc, thương yêu, quan tâm, giúp đỡ của NCT từ vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em cũng như các thành viên khác trong gia đình Cùng với đó là sự ra đời của Luật NCT - văn bản trực tiếp ghi nhận và bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của NCT, chăm sóc và phát huy vai trò NCT Từ đó có thể thấy việc phát huy vai trò NCT và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần NCT là trách nhiệm của tất cả các gia đình, Nhà nước và toàn xã hội

Trong những năm gần đây, khi cuộc sống ngày càng được nâng cao, điều kiện vật chất

và đời sống tinh thần của mỗi người được cải thiện, NCT đã được gia đình, Nhà nước và cả xã hội quan tâm, chăm sóc chu đáo hơn, được tham gia nhiều hoạt động xã hội, được phát huy vai trò của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các phong trào thi đua do Hội NCT các cấp phát động như “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”, “Tuổi cao - gương sáng”… đã góp phần phát huy vai trò NCT trong việc nêu gương sáng về đạo đức cho con, cháu học tập, noi theo, gìn giữ và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng gia đình văn hóa Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của NCT bị xâm phạm, NCT thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và xã hội, thậm chí

họ còn bị con, cháu đánh đập, mắng nhiếc, bị ngược đãi, bị bỏ đói… Điển hình là việc đôi vợ chồng già hơn 80 tuổi ở Quốc Oai (Hà Nội), mặc dù sinh hạ được bảy người con nhưng cuối đời

Trang 8

lại bị con cái hắt hủi đuổi ra khỏi nhà cùng cỗ quan tài, phải ở nhờ đình làng [48] hay câu chuyện ông cụ 87 tuổi bị con đưa ra nằm ngoài vỉa hè ở phố Núi Trúc (Hà Nội) [49] Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó cần phải kể đến: những bất cập trong quy định pháp luật NCT hiện hành; cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật NCT về bảo vệ NCT chưa thực

sự phát huy được hiệu quả; nhận thức của đa số người dân về vấn đề bảo vệ NCT còn chưa cao…

Vì vậy, việc nghiên cứu về NCT và bảo vệ NCT, đánh giá thực tiễn bảo vệ NCT trong gia đình cũng như ngoài xã hội, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này là một yêu cầu cần thiết, cấp bách Theo đó,

đề tài “Pháp luật NCT và vấn đề bảo vệ NCT ở Việt Nam hiện nay” được lựa chọn để đáp ứng

nhu cầu khách quan nói trên

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xã hội càng phát triển thì sự quan tâm đến những đối tượng yếu ớt, dễ bị tổn thương càng

rõ rệt Cũng vì lẽ đó mà đã có rất nhiều bài báo, bài viết đề cập đến NCT – lớp người “cây cao, bóng cả” của dân tộc

Dưới góc độ xã hội học, có thể kể đến các bài viết như: “Chăm sóc NCT ở một số nước châu Á” của tác giả Bùi Thị Hương Trầm, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 56 (8/2011); “Các nước Bắc Âu với chính sách chăm sóc NCT” của tác giả Lan Hương, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 62 (2/2012) Với các mô hình chăm sóc NCT ở một số nước trên thế giới mà những bài viết này đưa ra, chúng ta đã tiếp thu, học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực tế quý báu nhằm nâng cao hơn nữa quyền chăm sóc, phụng dưỡng của NCT nước ta Hay bài viết “Tâm trạng của NCT trong mối quan hệ gia đình qua nghiên cứu một số chân dung tâm lý” của tác giả Trần Hoàng Thị Ngọc Diễm, đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 9/2013 đã chủ yếu đi vào nghiên cứu trạng thái tâm lý của NCT trong mối quan hệ gia đình

Dưới góc độ luật học, cũng trong một bài nghiên cứu của mình (Khoá luận tốt nghiệp

“Bạo lực gia đình đối với NCT ở Việt Nam hiện nay”), học viên đã có dịp tìm hiểu về NCT nhưng trong một phạm vi hoàn toàn khác

Như vậy, nhìn chung thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về NCT và bảo vệ NCT, tìm hiểu pháp luật NCT về bảo vệ NCT, đánh giá thực tiễn bảo vệ NCT và đưa ra những giải

Trang 9

pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này còn khá mới mẻ, chưa có một công trình nghiên cứu dưới góc độ luật học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận về NCT và bảo vệ NCT, tìm hiểu pháp luật NCT về bảo vệ NCT, đánh giá thực tiễn bảo vệ NCT ở Việt Nam hiện nay và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

Với mục đích như vậy, việc nghiên cứu sẽ có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau đây:

- Nghiên cứu, tìm hiểu về NCT và bảo vệ NCT về mặt lý luận

- Tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật NCT Việt Nam hiện hành về bảo vệ NCT

- Tìm hiểu, đánh giá thực tiễn bảo vệ NCT ở Việt Nam hiện nay không chỉ trong gia đình

mà cả ngoài xã hội, chỉ rõ những thành tích đạt được cũng như những bất cập, yếu kém

- Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật NCT hiện hành cũng như thực tiễn bảo

vệ NCT ở nước ta hiện nay, Luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

Từ những nhiệm vụ trên, Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi những quy định của pháp luật NCT Việt Nam hiện hành về bảo vệ NCT và thực tiễn bảo vệ NCT ở Việt Nam trong những năm qua

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong Luận văn này, học viên sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề hôn nhân gia đình Đó chính là phương pháp biện chứng duy vật

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 10

- Phương pháp mô tả được sử dụng trong quá trình liệt kê, khái quát các quy định của pháp luật NCT Việt Nam hiện hành về quyền, nghĩa vụ của NCT, những hành vi bị cấm thực hiện đối với NCT…

- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được dùng khi phân tích các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NCT, những hành vi bị cấm thực hiện nhằm bảo vệ NCT khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong Luận văn

- Phương pháp quy nạp được học viên sử dụng nhằm đưa ra các nhận định, các kết luận

về những vấn đề đã được phân tích, làm rõ trước đó

- Phương pháp so sánh khi nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật NCT Việt Nam về bảo vệ NCT

- Phương pháp thống kê được dùng trong quá trình xử lý các số liệu mà học viên thu thập được nhằm đánh giá một cách khách quan về thực tiễn bảo vệ NCT ở Việt Nam trong những năm vừa qua

5 Những điểm mới của Luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về pháp luật NCT và vấn đề bảo

vệ NCT ở Việt Nam hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn đã trình bày được các điểm mới sau:

- Xây dựng được một định nghĩa mới về NCT Việt Nam bên cạnh định nghĩa được ghi nhận trong Luật NCT 2009 Theo đó, các đặc điểm về NCT được chỉ ra rõ ràng cho thấy sự khác biệt của đối tượng nghiên cứu so với các đối tượng khác như trẻ em

- Xây dựng được định nghĩa về bảo vệ NCT Việt Nam

- Đưa ra những đánh giá nhất định về sự hình thành và phát triển của pháp luật NCT Việt Nam về bảo vệ NCT

- Khái quát, phân tích các quy định của pháp luật NCT Việt Nam hiện hành về việc bảo

vệ NCT

Trang 11

- Đánh giá được những thành tựu, hạn chế trong việc bảo vệ NCT ở nước ta thời gian qua

cả trong phạm vi gia đình và xã hội

- Làm sáng tỏ những vướng mắc, cản trở làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng pháp luật NCT về bảo vệ NCT

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

Nội dung của Luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là NCT Việt Nam Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật NCT, chúng ta sẽ nhận thức được rằng bảo

vệ NCT không phải chỉ là bảo vệ bằng pháp luật mà còn bảo vệ bằng các cơ chế khác nhau Chúng ta sẽ biết được các quyền và nghĩa vụ của NCT, những hành vi bị cấm thực hiện đối với NCT, chính sách của Nhà nước ta trong việc chăm sóc, bảo vệ, phát huy vai trò của NCT ; thấy được thực tiễn bảo vệ NCT ở nước ta hiện nay và từ đó sẽ biết tôn trọng và bảo vệ NCT, phát huy vai trò to lớn của NCT trong gia đình và xã hội Học viên cũng hy vọng Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu liên quan đến pháp luật NCT

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về NCT và bảo vệ NCT;

Chương 2 Quy định của pháp luật NCT Việt Nam hiện hành về bảo vệ NCT;

Chương 3 Thực tiễn bảo vệ NCT ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CAO TUỔI VÀ BẢO VỆ NGƯỜI CAO TUỔI

1.1 Khái niệm người cao tuổi và bảo vệ người cao tuổi

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

1.1.1.1 Định nghĩa

NCT còn được gọi là phụ lão, người cao niên hay người già Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng thì người cao niên được hiểu là “người đã nhiều tuổi” [18, tr.113] Phụ lão được hiểu là “người già cả” [18, tr.789]

Dưới góc độ xã hội, có thể hiểu NCT là người tuổi đã cao, đã già và thường đã có những cống hiến nhất định cho gia đình, xã hội

“Trong quan niệm của cộng đồng quốc tế, NCT là một nhóm xã hội trong nhóm dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý” [12] Do đó, các quyền của NCT có nguy cơ cao bị

bỏ quên hay bị vi phạm Chính vì lẽ đó, NCT cần được bảo vệ đặc biệt hơn so với các đối tượng khác trong xã hội

Ở Việt Nam, NCT là lớp người có vai trò, vị trí quan trọng đối với gia đình và xã hội Họ

là tấm gương sáng trong lao động, học tập, cống hiến và nghệ thuật ứng xử để con cháu noi theo NCT là những con người đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và hi sinh tuổi thanh xuân của mình để gìn giữ nền độc lập ấy Ngày nay, NCT vẫn là một trong những lực lượng nòng cốt ở cơ sở và trong mỗi gia đình, nêu gương, kiên trì hướng dẫn, động viên con cháu chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường sống, đóng góp để kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh

Dưới góc độ pháp lý, căn cứ vào các dấu hiệu khác nhau mà phổ biến và đặc trưng nhất

là dấu hiệu tuổi thọ con người mà mỗi Nhà nước đưa ra khái niệm NCT của mình Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là NCT Quỹ Dân số Liên hợp quốc cũng định nghĩa

“NCT là những người từ 65 tuổi trở lên” [21] Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì

mốc tuổi này không phù hợp Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia,

Trang 13

song, Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là “từ 60 tuổi trở lên trong đó phân

ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên)” [30]

Ở Việt Nam, vào những năm 50 – 60 của thế kỷ XX, do tuổi thọ của người dân còn thấp

mà những người từ 50 tuổi trở lên đã được xem là NCT Ngày nay, cùng với sự tăng lên của tuổi thọ con người, quan niệm về NCT cũng dần thay đổi Điều 2 Luật NCT năm 2009 quy định

NCT là “công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” với cả nam và nữ Mặc dù theo Bộ luật lao

động, nữ giới 55 tuổi về hưu nhưng tới 60 tuổi họ mới được coi là NCT Sở dĩ Luật NCT quy định như vậy là bởi theo phong tục tập quán truyền thống, những người từ 60 tuổi trở lên đã hoàn thành một chu kì về sinh học Hơn nữa, sức khỏe của đa số người Việt Nam ở lứa tuổi nói trên đều đã giảm sút rất nhiều Ngoài ra, xuất phát từ điều kiện thiếu thốn về vật chất, chế độ dinh dưỡng, y tế như trước đây mà đã hình thành nên quan niệm xã hội cho rằng người sống đến tuổi 60 thì đã được xem là sống lâu Quan niệm này cho đến nay vẫn duy trì và tồn tại trong xã hội ta dù cho điều kiện kinh tế, cuộc sống vật chất của con người đã từng bước được cải thiện hơn

Ở lứa tuổi trên, NCT được xem là lớp người cận kề “xưa nay hiếm” Với họ, ý thức về ngành nghề, giới tính, địa vị xã hội, vinh quang trong quá khứ… dần dần lùi xa Sức khỏe giảm sút, địa vị kinh tế có sự thay đổi, điều này chi phối các yếu tố tâm lý (vui, buồn, lo, nghĩ…) của NCT Mong muốn lớn nhất của NCT là được sự tôn trọng của con cháu, của thế hệ trẻ và có cơ hội để tiếp tục giúp đỡ người thân, cống hiến cho xã hội

Đồng thời, NCT là những công dân đã có một thời gian dài hi sinh, cống hiến cho đất nước và miệt mài lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Do đó, khi đã về già, họ sẽ được pháp luật đảm bảo các điều kiện tốt nhất để nghỉ ngơi, dưỡng già, được các thành viên khác trong gia đình quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng và bảo vệ

Như vậy, trên cơ sở quy định của Luật NCT và với những phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về NCT Việt Nam như sau:

“NCT Việt Nam là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, thuộc nhóm xã hội dễ bị tổn thương, cần được sự quan tâm, bảo vệ, chăm sóc đặc biệt của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội”

Trang 14

1.1.1.2 Đặc điểm

NCT có một số đặc điểm sau đây:

- Thứ nhất, NCT là người từ đủ 60 tuổi trở lên:

Đặc điểm này nhằm phân biệt NCT với các đối tượng khác, như trẻ em, người thành niên Nếu như trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em 2004)), người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên (Điều 20 Bộ luật dân sự 2005)… thì phải

từ đủ 60 tuổi trở lên, một công dân mới trở thành NCT

Theo quy định của tại khoản 1 Điều 187 Bộ luật lao động năm 2012 thì tuổi nghỉ hưu là

60 với nam giới và 55 với nữ giới Theo đó, nam giới nghỉ hưu mà đủ 60 tuổi trở lên thì là NCT

Nữ giới dù đến tuổi nghỉ hưu hay cả trường hợp nam giới nghỉ hưu sớm mà chưa đủ 60 tuổi thì vẫn chưa được xem là NCT Khi từ đủ 60 tuổi trở lên, là NCT, họ sẽ được nghỉ ngơi, dưỡng già, vui vầy cùng con cháu, được hưởng những chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho họ Trách nhiệm của các gia đình, Nhà nước và toàn xã hội là phát huy vai trò của NCT, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho họ

- Thứ hai, NCT là một nhóm xã hội đặc biệt, dễ bị tổn thương:

Như đã nói, theo quan niệm của cộng đồng quốc tế, NCT là một nhóm xã hội trong nhóm dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý Khi về già, tâm lý của NCT thường thay đổi thất thường NCT thường nhắc nhiều hơn đến quá khứ đã qua Nhiều cán bộ đã nghỉ hưu, trở nên nhàn rỗi nên có cảm giác hụt hẫng, mất đi vị thế trong gia đình và xã hội Từ

đó mà tính tình của NCT cũng thay đổi theo, trở nên cố chấp, bảo thủ và bị gánh nặng quá khứ

đè nén Thêm vào đó, guồng quay của cuộc sống hiện đại kéo người trẻ lao vào công việc, ít thời gian dành cho gia đình hơn Điều này khiến cho NCT có cảm giác bị bỏ rơi, là người thừa trong gia đình Ngoài ra, khi các nhu cầu của bản thân không được con cháu để ý tới, NCT dễ bị tủi thân, mặc cảm

Hơn thế nữa, do quy luật sinh học, sức khoẻ của NCT yếu hơn lớp trẻ tuổi, nhất là về thể

chất “NCT thường mắc các bệnh thường mắc các bệnh lão khoa, như các bệnh liên quan đến tim mạch (xơ vữa động mạch, thiểu năng động mạch vành…) hô hấp (viêm phế quản, hen …), tiêu hoá, tiết niệu (u xơ tiền liệt tuyến…), xương khớp (vôi hóa, loãng xương…), rối loạn chuyển

Trang 15

hoá máu (tăng gluco, cholesterol…), thần kinh (parkinson, alzheimer, trầm cảm…)” [12] Theo khảo sát năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì “huyết áp, tiền liệt tuyến, rối loạn tiểu tiện, những bệnh tật phát sinh như sa sút tinh thần có tới 95% NCT có bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính như: Xương khớp, tim mạch và và trầm cảm lại có xu hướng tăng Đáng lo ngại là, đa số NCT nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ, vì vậy, khi phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn, dẫn đến nguy cơ khuyết tật ở NCT cũng rất cao, trong đó, thường gặp nhất là mất thị lực và thính lực” [27]

Kết quả điều tra quốc gia về NCT Việt Nam năm 2011 cho thấy “hỗ trợ của con cái và thu nhập từ lao động là những nguồn thu nhập chủ yếu dành cho chi tiêu hàng ngày của NCT, trong khi lương hưu/trợ cấp chỉ đóng vai trò nhỏ” [52] Theo đó, khi tuổi ngày một cao lên, kéo

theo đó là sức khỏe và sức lao động ngày càng giảm sút thì NCT sẽ dễ bị tổn thương khi thu nhập từ lao động giảm nhanh và hỗ trợ của con cháu giảm Do vậy, không chỉ gia đình mà cả xã hội cần dành sự quan tâm, chăm sóc nhiều hơn nữa cho đối tượng đặc biệt này

- Thứ ba, NCT là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm, vốn sống, có hiểu biết sâu rộng

về văn hóa, nghệ thuật cũng như các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, NCT đang “tích cực đẩy mạnh phong trào hiến kế, hiến công, đóng góp công sức, kiến thức, kinh nghiệm, tham gia nghiên cứu khoa học, giảng dạy, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện cuộc vận động xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, nêu gương sáng trên các lĩnh vực sản xuất, xóa đói giảm nghèo, tham gia tư vấn, hoạt động phong trào, hội, đoàn thể ” [3] NCT thường giữ vai

trò trọng trách trong các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở: như tổ chức Đảng, Chính quyền, Mặt trận NCT còn là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động xã hội như phong trào xây dựng khu dân cư văn hoá, tổ chức hoà giải, tổ chức khuyến học, khuyến tài… của địa phương và dòng

họ Họ chính là những tấm gương sáng để giáo dục con cháu, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Sự đóng góp công sức và những việc làm thiết thực của NCT cho cộng đồng dân cư tạo dựng được cuộc sống tình nghĩa, đậm đà thôn xóm

Ngoài ra, NCT còn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền lại những kinh nghiệm, dạy

dỗ con cháu và làm sống lại các những giá trị truyền thống, các quy tắc xã hội, các nghi lễ của

Trang 16

dân tộc Tóm lại, có thể thấy những kinh nghiệm và vốn sống đó ở NCT rất cần được khích lệ

Bảng số liệu: Số cụ bà tương ứng với 100 cụ ông [47, tr.15]:

Số liệu thống kê cho thấy, dù ở độ tuổi nào thì số NCT là phụ nữ cũng nhiều hơn so với

số NCT là nam Đáng chú ý là từ tuổi 85 trở lên, số NCT là nữ nhiều gấp hơn 2 lần số NCT là nam Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó rượu bia, thuốc lá cũng như áp lực công việc và cuộc sống khiến cho NCT là nam có tuổi thọ thấp hơn NCT là nữ

- Thứ năm, NCT chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp:

Theo Tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy: 72,5% NCT sống ở nông thôn Hiện nay, hầu hết NCT ở khu vực nông thôn đang tự tạo công ăn việc làm trong nông nghiệp với thu nhập không ổn định và là nông dân Theo số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (2008)

có khoảng 43% NCT hiện vẫn đang làm việc Tỷ lệ NCT ở vùng nông thôn và phụ nữ cao tuổi tham gia vào lực lượng lao động cao hơn đáng kể so với NCT sinh sống tại khu vực đô thị và nam giới cao tuổi

Trang 17

- Thứ sáu, tính cho đến nay, đại đa số NCT Việt Nam đều là những người đã trải qua từ

1-2 cuộc chiến tranh vệ quốc, trong đó có rất nhiều người đã có những đóng góp to lớn cho việc giữ gìn nền độc lập của đất nước:

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì trong số hơn 8 triệu NCT hiện nay, có: “6.900

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 7.000 người là lão thành cách mạng, 30.000 người là cán bộ đã từng bị địch bắt, giam cầm, tra tấn, 500.000 người là thương bệnh binh 100.000 là người thanh niên xung phong, 5.000 người có công với cách mạng có thể nói độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của nhân dân ta được vững bền như ngày nay có phần đóng góp vô giá của các thế hệ NCT” [12] Với những cống hiến và hi sinh của NCT cho đất nước, chúng ta càng cần có những

chính sách ưu ái hơn dành cho lớp người này

1.1.2 Khái niệm bảo vệ người cao tuổi

vệ NCT bằng pháp luật Điều này xuất phát từ chính bởi tính cưỡng chế của pháp luật Do vậy,

để bảo vệ NCT được tốt nhất thì đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ

Khi nói đến pháp luật thì không chỉ dừng lại ở các quy định trên giấy mà còn bao gồm việc thực thi nó Vì thế, bất cứ một văn bản pháp luật nào cũng chứa đựng những quy định về việc thực thi pháp luật Chẳng hạn như Luật HN&GĐ khi quy định về quyền được chăm sóc, phụng dưỡng, thương yêu, giúp đỡ của con, cháu, các thành viên khác trong gia đình dành cho NCT, Luật này còn ghi nhận cả vấn đề cấp dưỡng nhằm đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần

Trang 18

cho những NCT không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình Luật HN&GĐ còn nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ NCT cũng như có quy định riêng về xử lý vi phạm với những người vi phạm Luật NCT với tư cách là văn bản trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo vệ NCT không những đã quy định rõ ràng các quyền, nghĩa vụ của NCT mà còn quy định

cụ thể trách nhiệm cho gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT Như vậy, khi chúng ta nghiên cứu, phân tích vấn đề bảo vệ NCT thì không thể chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy định của Luật HN&GĐ, Luật NCT mà còn phải phân tích những biện pháp bảo đảm các quyền của NCT

Việc bảo vệ NCT bằng pháp luật trước hết phải được hiểu là sự ghi nhận trong pháp luật quyền, nghĩa vụ cho NCT, trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, xã hội trong chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT Thêm vào đó, trong trường hợp NCT bị chủ thể khác vi phạm quyền hay có hành vi vi phạm quyền của chủ thể khác thì NCT được pháp luật bảo vệ Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền của NCT phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của Nhà nước Nhà nước ghi nhận các quyền cho NCT và bảo đảm cho những quyền này được thực hiện

Từ những phân tích kể trên, có thể đưa ra định nghĩa về bảo vệ NCT như sau:

“Bảo vệ NCT là tổng hợp những phương thức do pháp luật quy định để ghi nhận quyền, nghĩa vụ cho NCT, trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, xã hội trong chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT, trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền của NCT và cơ chế bảo vệ NCT đối với hành vi vi phạm của họ”

Định nghĩa này thể hiện những nội dung sau:

- Chủ thể bảo vệ NCT:

Vấn đề bảo vệ NCT từ lâu đã được cả nhân loại quan tâm và ghi nhận Pháp luật nước ta cũng không phải ngoại lệ Các chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho NCT, các quyền của NCT trong Luật HN&GĐ, Luật NCT đã phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, đòi hỏi của NCT nước ta và toàn xã hội Bởi ai trong chúng ta rồi cũng tới lúc về hưu, trở thành NCT, cần được nghỉ ngơi, dưỡng già, cần được sự quan tâm, chăm lo của gia đình và xã hội

Trong giai đoạn già hóa dân số hiện nay, vấn đề bảo vệ NCT được xem là mối bận tâm của Nhà nước, xã hội và mỗi cá nhân Bảo vệ NCT có thể do một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia thực hiện Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao nhất, nó cần sự chung tay, góp sức, đòi hỏi trách nhiệm của cả cộng đồng Mọi thành viên trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, bảo

Trang 19

vệ NCT NCT cũng đóng vai trò “chủ thể bảo vệ” khi quyền của mình bị xâm phạm, có thể bằng cách: Tự mình bảo vệ và yêu cầu sự bảo vệ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Các

cá nhân, tổ chức có liên quan chỉ bảo vệ NCT trong những trường hợp pháp luật quy định, chẳng hạn như khi NCT có đơn thư, khiếu nại, tố cáo về việc quyền lợi của họ bị xâm phạm…

- Đối tượng được bảo vệ là NCT:

Đặc điểm này nhằm phân biệt bảo vệ NCT với bảo vệ phụ nữ, bảo vệ trẻ em… Nếu như bảo vệ phụ nữ có đối tượng được bảo vệ là phụ nữ, tức là nhũng người mang giới tính nữ; đối tượng của bảo vệ trẻ em là những người dưới 18 tuổi thì đối tượng của bảo vệ NCT là những công dân Việt Nam từ trên 60 tuổi trở lên, là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, có nhiều kinh nghiệm sống quý báu, có nhiều đóng góp quan trọng cho gia đình và xã hội Việc bảo vệ nhóm đối tượng này thể hiện chính sách nhân văn, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, đòi hỏi của NCT và toàn xã hội

- Hoạt động bảo vệ NCT:

Hoạt động bảo vệ NCT là những cách thức để chống lại các hành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của NCT cũng như bảo vệ NCT trong trường hợp họ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác

Trường hợp NCT bị chủ thể khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, họ có thể sử dụng hai cách thức phổ biến sau để bảo vệ quyền: Tự mình bảo vệ và yêu cầu sự bảo vệ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Mỗi chủ thể khác nhau sẽ lựa chọn những cách thức bảo vệ quyền lợi khác nhau (Ví dụ: Bản thân NCT có thể bảo vệ quyền của mình bằng cách sử dụng cả hai biện pháp trên)

Pháp luật ghi nhận các quyền của NCT và quy định việc thực hiện, bảo vệ các quyền của NCT Trên cơ sở đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để cho NCT được hưởng quyền trên thực tế

Trường hợp NCT có hành vi xâm phạm quyền của chủ thể khác, NCT vẫn được bảo vệ Chẳng hạn: Pháp luật hình sự quy định không tạm giam với người già yếu phạm tội trừ một số trường hợp đặc biệt Hay người già phạm tội được xem là tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm, hình phạt Đó chính là những quy định thể hiện truyền thống nhân văn, “Kính lão trọng thọ” của dân tộc ta

Trang 20

xử với NCT cho đúng mực, đúng pháp luật Bản thân NCT cũng từ đó mà tự nhận thức về quyền, nghĩa vụ… của mình và nâng cao ý thức tự bảo vê khi quyền… mà pháp luật ghi nhận cho họ bị xâm pham Trường hợp, quyền, lợi ích hợp pháp của NCT bị xâm phạm thì pháp luật với cơ chế bảo vệ NCT sẽ phát huy hiệu quả của mình trên thực tiễn

Việc bảo vệ NCT còn giúp cho NCT có được tâm lý thoải mái, niềm tin vào cuộc sống NCT sẽ yên tâm với những ưu tiên, bảo đảm mà Nhà nước, xã hội, gia đình dành cho mình, NCT sẽ có cuộc sống vật chất cũng như tinh thần ngày một cải thiện hơn Từ đó sẽ tạo thuận lợi cho việc phát huy vai trò, tiềm năng vô tận của NCT NCT sẽ yên tâm cống hiến, tham gia làm kinh tế, mang hết những hiểu biết, kinh nghiệm, kiến thức quý báu của mình truyền dạy cho lớp lớp cháu con… nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Đối với gia đình:

Không chỉ có ý nghĩa với bản thân NCT, vấn đề bảo vệ NCT còn có ý nghĩa thiết thực với gia đình của NCT, nơi gắn bó với NCT nhất Thông qua các quy định pháp luật về quyền của NCT, về những chính sách ưu tiên mà Nhà nước, xã hội dành cho NCT, về việc phát huy vai trò của NCT… cũng như những biện pháp, cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật, gia đình của NCT sẽ nhận thức và có ý thức giác ngộ pháp luật, từ đó, họ sẽ “sống và làm việc theo pháp luật” nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCT trong gia đình họ Khi những thành viên khác trong gia đình có sự hiểu biết, sự quan tâm, tôn trọng NCT và bảo đảm cho quyền, lợi ích của NCT được thực hiện thì thế hệ trẻ, nhất là các em nhỏ sẽ có được ý thức “kính lão trọng thọ”

Trang 21

với NCT, từ đó góp phần hình thành nên những gia đình có văn hóa, sống hòa thuận, đầm ấm, hạnh phúc

Thêm vào đó, gia đình NCT bằng hiểu biết pháp luật của mình sẽ có những phản hồi, những hành vi nhất định khi quyền, lợi ích hợp pháp của NCT bị một thành viên gia đình hoặc một ai khác xâm phạm hay khi những chính sách, pháp luật dành cho NCT trên thực tế có điểm chưa phù hợp, còn bất cập Ngay cả trong trường hợp NCT xâm phạm quyền của chủ thể khác, gia đình họ vẫn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ NCT khi những chính sách nhân đạo mà Nhà nước dành cho NCT bị vi phạm Điều này sẽ là cơ sở cho những

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, những nhà làm luật để họ đưa ra những quy phạm pháp luật hoàn thiện hơn

Ngoài ra, gia đình của NCT cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn, được hỗ trợ nhiều hơn vì không chỉ riêng gia đình mà cả Nhà nước và xã hội cùng “chung tay, góp sức”, dành sự quan tâm, chăm lo cho NCT

- Đối với xã hội:

Vấn đề bảo vệ NCT từ lâu đã luôn được cả xã hội quan tâm, ủng hộ Chính vì vậy, chúng

ta đã xây dựng một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ về vấn đề này và đã nhận được sự đồng thuận từ xã hội Một khi quyền, lợi ích hợp pháp của NCT được bảo đảm bằng pháp luật thì việc phát huy vai trò của NCT sẽ thuận lợi hơn Từ đó, NCT sẽ phát huy vai trò quan trọng của mình vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hơn thế nữa, việc bảo vệ NCT còn nhằm kế thừa và phát huy truyền thống pháp luật tốt đẹp của dân tộc ta Đó chính là truyền thống thương yêu, kính trọng NCT, sự quan tâm, chăm lo của toàn xã hội dành cho NCT Điều này là tiền đề cho một xã hội tốt đẹp với những nhân cách hoàn thiện, những gia đình văn hóa…

1.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới với vấn đề bảo vệ người cao tuổi

1.2.1 Pháp luật của một số nước Bắc Âu với vấn đề bảo vệ người cao tuổi

Các nước Bắc Âu nổi tiếng thế giới về mô hình “Nhà nước phúc lợi” nên vấn đề bảo vệ NCT được quan tâm đặc biệt Theo đó, NCT ở các nước này không chỉ được hưởng một cuộc sống sung túc, khỏe mạnh mà còn có ý nghĩa

Trang 22

Ở Bắc Âu, Chính phủ liên bang đảm nhận trách nhiệm về phúc lợi đối với NCT “Nhà nước, Hội đồng quận và các thành phố chịu trách nhiệm tổ chức để đáp ứng các nhu cầu của NCT Chính quyền liên bang quy định một giới hạn về ngân sách đối với từng quận và thành phố, trong khi đó, các nhà lãnh đạo địa phương đưa ra các chính sách và dịch vụ trong giới hạn này theo những nhu cầu đặc biệt của cộng đồng” [45] Chẳng hạn như ở Đan Mạch, luật pháp

nước này quy định các thành phố phải cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ việc nhà, việc giữ gìn sức khỏe thân thể và tinh thần cho những NCT có nhu cầu Theo đó, các cấp thành phố tự quyết định việc tổ chức các dịch vụ và thời gian biểu cho NCT

Các nước Bắc Âu có hệ thống chính sách đối với NCT hết sức hoàn hảo, qua đó bảo đảm cho NCT có được đời sống vật chất cũng như tinh thần đầy đủ, được tiếp cận toàn diện và thích hợp đối với việc chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ cần thiết khác Hơn thế nữa, các nước Bắc Âu luôn đề ra các cơ chế thích hợp để đảm bảo cho các chính sách, pháp luật quy định cho NCT được bảo đảm thực hiện trên thực tế Thực tế cho thấy các nước Bắc Âu đã tổ chức thành công các trung tâm chăm sóc ban ngày cho NCT, ở đó sẵn có nhiều hoạt động cho NCT Ngoài ra,

“Thụy Điển và Đan Mạch đã áp dụng những hoạt động tình nguyện xã hội, qua đó NCT có thể giúp đỡ lẫn nhau bằng nhiều cách Các bệnh viện lão khoa và các khoa chuyên về chứng mất trí, chỉnh hình, nội khoa và chăm sóc giai đoạn cuối cũng đồng thời được triển khai Cách tiếp cận của Bắc Âu là đưa ra một hệ thống chăm sóc tập trung vào các nhu cầu cá nhân của người bệnh” [45] Bên cạnh đó, các nước Bắc Âu còn tổ chức các đường dây nóng để nhận tố giác,

phàn nàn của NCT khi NCT bị đối xử tệ bạc

Ở Đan Mạch, “chỉ có 5% NCT sống cùng gia đình Tuy nhiên, 80% số NCT vẫn có thể mỗi tuần thăm gia đình một lần, bởi có đến 60% số NCT sống cách nơi ở của gia đình chỉ nửa giờ đi xe” [23, tr.75] Mỗi NCT từ 75 tuổi trở lên đều được một nhân viên tới thăm nhà 2

lần/năm (nếu họ không phản đối) chia sẻ, cố vấn cho NCT các hoạt động và các dịch vụ tại nhà hợp lý, cho NCT có được cảm giác an toàn và thoải mái

Tất cả mọi người Đan Mạch từ 67 tuổi trở lên đều nhận được lương hưu của Nhà nước Bên cạnh khoản lương hưu của Nhà nước còn có khoản lương hưu thị trường lao động bổ sung

do những người chủ chi trả “Tất cả những người nghỉ hưu có thể xin thêm trợ cấp hoặc vay tiền thuê nhà kể cả khi họ thuê hoặc có nhà riêng Những NCT sống ở nhà tập thể có thể xin những khoản này khi có 5 trong số những người cư trú ở đó ít nhất là 55 tuổi Việc chuyển tuyến đến

Trang 23

các trung tâm tập luyện với mục đích phục hồi sẽ được miễn phí và điều trị theo liệu pháp vật lý với giá bao cấp 40% Dịch vụ chăm sóc răng hàm mặt đặc biệt tại nhà có thể được bố trí ở tại nhiều quận Dịch vụ về lương thực có sẵn các bữa ăn được cung cấp tại nhà với giá bao cấp Các dịch vụ về nhà ở và sân bãi cho những NCT thông qua thành phố theo giá thấp” [45]

Để đảm bảo cho các dịch vụ đưa ra đều hiệu quả, Bộ Các vấn đề xã hội của Đan Mạch kết hợp với các cơ quan đại diện của các thành phố phát triển một hệ thống phân tích dịch vụ dành cho NCT Đan Mạch còn có riêng một Hội đồng NCT và một cơ quan chuyên đón nhận những lời phàn nàn của NCT Hội đồng NCT đảm nhận việc cố vấn cho các thành phố về chính sách đối với NCT nói chung

Ở Thụy Điển, cũng như ở nhiều nước Bắc Âu khác, chế độ dưỡng lão dành cho NCT khá

hoàn hảo “Người lao động về hưu được định kỳ lĩnh lương đủ sống, người già yếu, nếu không

tự lo được cuộc sống của mình, có thể ở trong viện dưỡng lão của Nhà nước, được hưởng sự chăm sóc y tế miễn phí, điều kiện sống tại đây tương đương với khách sạn 3 sao” [23, tr.75]

Nếu NCT cần có điều kiện sống tốt hơn vì lý do sức khỏe, họ sẽ được đưa đến những nơi ở được thiết kế đặc biệt cho NCT không còn khả năng tự chăm sóc Còn nếu NCT không muốn rời hẳn nhà mà chỉ muốn nhận được sự chăm sóc bổ sung trong một khoảng thời gian nhất định thì họ có thể tìm đến các trung tâm chăm sóc ban ngày

Như vậy, có thể thấy việc bảo vệ NCT ở các nước Bắc Âu rất toàn diện và dường như đạt tới mức hoàn hảo Vấn đề bảo vệ NCT không chỉ được quy định trên giấy mà còn có những cơ chế hữu hiệu nhằm hiện thực hóa chúng

1.2.2 Pháp luật một số nước châu Á với vấn đề bảo vệ người cao tuổi

“Năm 1950, châu Á mới chỉ có 55 triệu người trên 65 tuổi, đến năm 2000, con số này là

207 triệu, và ước tính toàn châu Á sẽ có 865 triệu NCT vào năm 2050” [11, tr.75] Với tốc độ

già hóa dân số này sẽ dẫn tới sự mất cân bằng nghiêm trọng về hệ thống hưu trí, gây khó khăn

cho việc hỗ trợ những người già Chính vì lẽ đó mà “một số nước Châu Á đang nỗ lực xây dựng

và thực hiện các chính sách và các chương trình cải thiện điều kiện sống và chất lượng cuộc sống cho NCT Những nỗ lực đó bao gồm các chính sách tăng cường đảm bảo thu thập và chăm sóc cho NCT” [25]

Trang 24

Ở nhiều nước châu Á hiện nay, hệ thống chăm sóc NCT thể hiện qua hai kênh chủ yếu: dựa vào cộng đồng, lấy gia đình làm trung tâm và dựa vào các công trình phúc lợi của Nhà nước gồm: chương trình an sinh xã hội và quỹ lương hưu Do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, việc con cháu sống chung với NCT ngày càng ít đi Để giải quyết xu hướng đang thay đổi này

trong cấu trúc gia đình, nhiều Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã “xây dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho NCT Nhìn chung trong toàn khu vực, Chính phủ các nước một mặt ngày càng chú trọng đến việc sắp xếp tổ chức các giải pháp dành cho NCT, mặt khác tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh hệ thống hỗ trợ gia đình truyền thống” [25]

Ở Hàn Quốc, bên cạnh sự chăm sóc qua hệ thống phi chính thức, như gia đình, người

thân, hàng xóm hoặc bạn bè thì “các dịch vụ chăm sóc theo yêu cầu cũng bắt đầu thu hút được

sự quan tâm của xã hội với nhiều gói dịch vụ để lựa chọn: chăm sóc tại nhà theo ngày, chăm sóc tại nhà trong thời gian ngắn theo yêu cầu hoặc trợ giúp các công việc tại nhà” [11, tr.76]

Đáng chú ý, ở Nhật Bản có những hòn đảo, nơi tập trung nhiều NCT cô đơn, sống một mình Các cảnh sát khu vực thường xuyên ghé qua vừa để thăm hỏi, trò chuyện với NCT vừa để đảm bảo an toàn cho NCT Nhìn chung, NCT ở Nhật Bản có mức sống cao Họ có chế độ sinh hoạt điều độ, thường xuyên đi thăm khám bác sĩ cũng như được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và xã hội, vì vậy, Nhật Bản được xem là một trong những nước có tuổi thọ cao trên thế giới

Ở Singapore, “Chính phủ nước này áp dụng nguyên tắc “cùng chi trả” theo đó, các công dân đều có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ tiết kiệm y tế Một cá nhân có thể sử dụng khoản tiết kiệm y tế của mình để chi trả viện phí cho bản thân họ, cũng như cho cha mẹ họ Mọi công dân Singapore từ 60 tuổi trở lên đều nhận được khoản tiền trợ cấp bằng 75% các khoản phí chí trả tại các phòng khám Bên cạnh đó, quốc gia này cũng áp dụng nhiều biện pháp khác như mở rộng các chương trình giáo dục công cộng cho NCT, giao đất cho các tổ chức phi chính phủ xây dựng nhà ở cho NCT, nghiên cứu tính khả thi của việc cung cấp các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe cho NCT ốm yếu tại gia đình và giảm thuế thu nhập đối với nhưng người chăm sóc NCT” [11, tr.77]

Ở Trung Quốc đã có một giải pháp rất hữu hiệu để giảm tải áp lực cho gia đình trong việc chăm sóc NCT Ở các khu phố tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Đại Liên, Giang Tô, Quảng Đông,

Hồ Nam thường có “các trung tâm tiếp đón người hưu trí đến sinh hoạt, giải trí, ăn uống, tắm

Trang 25

gội, nhắc nhở uống thuốc đều và kiểm tra sức khỏe cho họ” [11, tr.76] Theo mô hình này, các

khu phố ở gần nhau được khuyến khích góp chung nguồn tài nguyên về giải trí để người về hưu

đỡ nhàm chán khi hưởng thụ các dịch vụ Đây được coi là một loại nhà dưỡng lão đặc biệt dành

cho người già, con cái sẽ đưa bố mẹ đến đó vào buổi sáng, đón về nhà vào buổi chiều Như vậy,

cả người già và con cái họ đều có được liều thuốc tâm lý hữu hiệu trong cuộc sống đầy lo toan

và bận rộn hiện nay

Về chế độ lương hưu cho NCT thì “chỉ có một số nước như Malaysia, Singapore, Nhật Bản áp dụng chế độ lương hưu cho phần lớn NCT, còn ở nhiều nước khác, chế độ này chỉ giới hạn trong một nhóm dân cư, là công chức hay người làm công cho các doanh nghiệp lớn” [11,

tr.75] Nói đến Nhật Bản, đây là quốc gia rất chú trọng và đề cao các hình thức bảo hiểm mang lại lợi ích lâu dài cho mỗi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là NCT Chế độ này được biết đến là khoản bảo hiểm chăm sóc nằm trong chế độ bảo hiểm xã hội, cùng với bảo hiểm y tế, bảo hiểm

hưu trí, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm thất nghiệp “Người dân có nghĩa vụ tham gia đóng bảo hiểm chăm sóc Cơ quan bảo hiểm tại các địa phương có trách nhiệm chi trả các dịch vụ chăm sóc cho người tham gia NCT nếu tham gia thì sẽ được hưởng 2 dịch vụ chăm sóc: chăm sóc tại

cơ sở tập trung (nhà dưỡng lão) và chăm sóc tại nhà, với nhiều dịch vụ khá phong phú và chuyên nghiệp như: chăm sóc sinh hoạt, chăm sóc sinh hoạt đặc biệt, tập vật lý trị liệu, điều dưỡng, điều trị bệnh ” [11, tr.75]

Về việc phát huy vai trò của NCT, ở châu Á, “các nhà lập kế hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu đã chú trọng đến nhu cầu đảm bảo và tạo cơ hội cho việc lồng ghép và tham gia xã hội của NCT trong cộng đồng địa phương của họ để tạo ra lòng tự tin

và đảm bảo về mặt tâm lý cho NCT” [25]

Để bảo vệ quyền, lợi ích của NCT, Nhà nước và xã hội đã thông qua các biện pháp nhằm cải thiện các điều kiện của người dân như sinh kế, sức khoẻ và tham gia vào sự phát triển của xã

hội Như ở Trung Quốc, “chính quyền các cấp đã đưa dịch vụ dành cho NCT vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đầu tư vào các dịch vụ cho NCT, đồng thời khuyến khích đầu tư từ tất cả các ngành trong xã hội tạo thuận lợi cho các dịch vụ đó tăng trưởng theo

sự phát triển kinh tế - xã hội” [29] Trung Quốc còn đưa ra các chính sách để khuyến khích xã hội và các quỹ tư nhân tham gia theo định hướng huy động xã hội hướng tới NCT như: “tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền các cấp, khuyến khích phát triển các dịch vụ xã hội dành

Trang 26

cho NCT, tăng cường các dịch vụ công” Bên cạnh đó là “chính sách tài trợ các khoản trợ cấp tài chính và được hưởng các chính sách vay với thuế ưu đãi cho các nhà cung cấp dịch vụ xã hội cho NCT” [29] Hơn thế nữa, Trung Quốc hướng tới việc thiết lập hệ thống bảo hiểm xã hội nhân thọ ở nông thôn theo phương thức “đóng góp cá nhân là chính và các khoản trợ cấp tập

thể là phần bổ sung hoà nhập trong hoạt động trợ cấp quốc gia” [29] Ngoài ra, Trung Quốc rất

tích cực triển khai các mô hình mới như mô hình coi “đất đai là bảo hiểm nhân thọ” hay “nhà ở

là khoản nhân thọ”, nghĩa là coi thu nhập từ tài sản là khoản an sinh nhân thọ Từ đó, “những công dân trên 60 tuổi có thể sử dụng khoản lợi tức chia thêm hàng năm từ đất đai để cải thiện cuộc sống Những người nông dân dưới 60 tuổi có thể sử dụng một phần trong khoản lợi tức chia thêm hàng năm từ đất đai để cộng dồn vào khoản tích luỹ nhân thọ cá nhân Tại các thành phố, việc khuyến khích “nhà ở là khoản nhân thọ” rất khả thi, trong đó, các công dân cao tuổi

tự nguyện thế chấp nhà của họ cho Chính phủ hoặc các tổ chức tài chính để có được các khoản vay “thế chấp ngược” Hàng tháng họ sẽ nhận được các khoản thanh toán giúp cải thiện cuộc sống Sau khi những người này qua đời, căn nhà có thể sẽ được giải quyết theo hợp đồng định

cư hoặc con cháu sử dụng nó để thanh toán các khoản vay” [29]

Tóm lại, có thể thấy, hiện nay, cả thế giới đang phải đối mặt với xu hướng già hóa dân số Thực tế, mỗi quốc gia trên thế giới đều đặt ra cho mình những mô hình giải quyết vấn đề NCT Nghiên cứu pháp luật quốc tế về bảo vệ NCT có ý nghĩa hết sức thiết thực Nó chỉ ra cho chúng

ta những bài học, những hướng đi cụ thể để trên cơ sở điều kiện của Việt Nam, chúng ta cần phải hoàn thiện pháp luật về NCT cũng như đưa ra các giải pháp, cơ chế thích hợp để bảo đảm thực hiện pháp luật về NCT

1.3 Khái quát lịch sử phát triển của pháp luật người cao tuổi Việt Nam về bảo vệ người cao tuổi

Vấn đề bảo vệ NCT luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, trong

đó có Việt Nam Vốn là một dân tộc có truyền thống “Kính lão, trọng thọ”, pháp luật NCT Việt Nam dù ở giai đoạn phát triển nào cũng ghi nhận cho NCT những quyền nhất định và có cơ chế bảo đảm cho nó được thực hiện trên thực tiễn Có nhiều cách phân chia các giai đoạn phát triển của pháp luật NCT Việt Nam về bảo vệ NCT, song, việc phân chia dựa trên sự ra đời của văn bản pháp luật chuyên ngành trực tiếp điều chỉnh vấn đề này có lẽ là hợp lý hơn cả Theo đó, học viên đã phân chia pháp luật NCT Việt Nam về bảo vệ NCT thành ba giai đoạn phát triển sau

Trang 27

đây: Giai đoạn trước năm 2000, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009 và giai đoạn từ năm 2009 đến nay

1.3.1 Giai đoạn trước năm 2000

Nhận thấy tầm quan trọng của cha mẹ, ông bà, của NCT đối với gia đình và trật tự xã

hội, ngay từ thế kỷ XV, bộ “Quốc triều hình luật” thời Lê sơ (1470 -1497) đã có “nhiều quy định tội phạm nhằm bảo vệ quan hệ “bố mẹ – con cái” như: Tội bất hiếu (Điều 475), tội đại bất kính (Điều 430)”[12] Bộ luật còn quy định nghĩa vụ của con, cháu là phải: “Vâng lời và phụng

dưỡng cha mẹ, ông bà (Điều 2), “Chịu tội thay cho ông bà, cha mẹ” (Điều 38), “Không được kiện cáo ông bà, cha mẹ” (Điều 511), “Che giấu tội cho ông bà, cha mẹ, ngoại trừ tội mưu phản, đại nghịch” (Điều 2) nhằm điều chỉnh quan hệ giữa con, cháu với ông bà, cha mẹ Những quy định đó đề cao đạo hiếu, chữ tình, thể hiện tính nhân văn của pháp luật nước ta thời đó Nó răn dạy con người phải làm tròn bổn phận của mình với ông bà, cha mẹ và phần nào đã nhằm mục đích bảo vệ NCT

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã mở ra trang lịch sử mới về sự phát triển của dân tộc Ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến vai trò của NCT đối với sự nghiệp

cách mạng Người đã từng kêu gọi thành lập tổ chức Phụ lão cứu quốc hội: “… Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải chân thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức Phụ lão cứu quốc hội để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hùn sức giữ gìn nền độc lập của nước nhà” [3] Bác cũng đã từng căn dặn:

“Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng, đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức Nước mất, phụ lão cứu Nước suy sụp, phụ lão phù trì Nước nhà hưng, suy, tồn, vong, phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề” [20]

Thực hiện lời dạy đó của Bác, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác NCT Theo đó, Nhà nước ta đã xây dựng và bảo đảm thực hiện chế độ chính sách đối với NCT Điều

đó được quy định và thể hiện từ Hiến pháp 1946, được kế thừa và phát triển trong các Hiến pháp

1959, 1980, 1992 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái… Con cái có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ” (Điều 64) Bên cạnh Hiến pháp, Luật HN&GĐ

năm 1959 và năm 1986 cũng đã đề cập tới NCT trong các quy định về quyền, nghĩa vụ giữa vợ -

Trang 28

chồng, cha mẹ - con, ông bà - cháu… Đó là cơ sở nền tảng cho việc ghi nhận quyền được chăm sóc, phụng dưỡng, được bảo vệ của NCT

Năm 1994, Hội NCT Việt Nam đã được thành lập Ngày 27/9/1995, Ban Bí thư Trung

ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 59-CT/TW về chăm sóc NCT, trong đó yêu cầu “các cấp, các ngành làm tốt việc chăm sóc vật chất và tinh thần của NCT và dành ngân sách để chăm sóc NCT, tạo điều kiện về mọi mặt để Hội NCT phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc NCT góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, giữ gìn

và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc” Ngày 27/02/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Chỉ thị số 117/TTg ngày 27/2/1996 về chăm sóc NCT và hỗ trợ hoạt động cho Hội NCT Việt Nam Văn bản này đã thực sự phát huy hiệu quả của mình trong quản lý hoạt động của NCT và hoạt động của Hội NCT trên thực tiễn Tiếp đó là sự ra đời của Quyết định số 121/1998/QĐ-TTg ngày 9 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập ủy ban năm Quốc tế NCT Việt Nam; Chỉ thị số 34/ 1998/ CT-TTg ngày 30/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức hoạt động Năm Quốc tế NCT Đến Bộ luật Hình sự 1999 đã quy định tội danh

“ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ… người có công nuôi dưỡng” (Điều 151) qua đó nhằm bảo vệ NCT

Như vậy, trong giai đoạn này, pháp luật NCT Việt Nam đã ghi nhận nhiều quy định về bảo vệ NCT Đó là các quy định mang tính nguyên tắc, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về bảo vệ NCT Việt Nam sau này Tuy nhiên, nhìn chung thì các quy định nói trên còn sơ sài, chủ yếu nhằm ghi nhận và bảo đảm quyền được chăm sóc, phụng dưỡng của NCT, cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ NCT cũng như phát huy vai trò quan trọng của NCT trong bảo vệ và xây dựng đất nước

1.3.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009

Ngày 28/4/2000, Pháp lệnh NCT số 23/2000/PL-UBTVQH10 đã được Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội ban hành Đây là bước phát triển quan trọng của pháp luật NCT Việt Nam về bảo

vệ NCT So với các văn bản được ban hành trước năm 2000 thì đây là văn bản pháp lý có hiệu lực cao, điều chỉnh trực tiếp và toàn diện vấn đề NCT ở nước ta Theo Pháp lệnh NCT thì NCT

là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên (Điều 1) Pháp lệnh rất đề cao trách nhiệm của gia đình

trong phụng dưỡng NCT, theo đó, “Việc phụng dưỡng NCT là trách nhiệm chủ yếu của gia đình có NCT NCT cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và

Trang 29

xã hội trợ giúp” (Điều 3) Pháp lệnh khẳng định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý, truyền thống của dân tộc ta” (Lời mở đầu) NCT có quyền được

phụng dưỡng bởi vợ (chồng), con, cháu ruột (Điều 9) Người có nghĩa vụ phụng dưỡng không

có điều kiện trực tiếp chăm sóc NCT có thể ủy nhiệm cho cá nhân hoặc tổ chức dịch vụ chăm sóc NCT, nhưng phải được NCT đồng ý (Điều 11) NCT cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được: trợ cấp xã hội hoặc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội; khám, chữa bệnh miễn phí và được Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ sở bảo trợ xã hội tổ chức, chi phí mai táng khi chết (Điều 12) Thêm vào đó, NCT còn được ưu tiên trong khám, chữa bệnh; khi tham gia giao thông công cộng và vui chơi giải trí (Điều 13) Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho NCT rèn luyện sức khỏe, tham gia học tập nâng cao trình độ, đóng góp kinh nghiệm, hiểu biết, tài năng, trí tuệ, phẩm chất tốt đẹp của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 23, Điều 24) Để bảo đảm cho các quy định này được thực hiện trên thực tế, Pháp lệnh đã quy định

rõ trách nhiệm của Nhà nước cũng như các cơ quan, tổ chức có liên quan

Cùng với Pháp lệnh NCT là sự ra đời của hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị định của Chính phủ số 30/2002/NĐ-CP, ngày 26/3/2002 quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh NCT; Nghị định số 120/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số 30/2002/NĐ-CP nói trên và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh NCT do các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành Tất cả chúng đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý và thực hiện công tác NCT

ở nước ta trong giai đoạn 2000 - 2009

“Sau 8 năm thực hiện Pháp lệnh NCT, các tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện chế độ trợ cấp cho NCT Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 527.866 NCT từ 85 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng với mức 120.000 đồng/người/tháng Số người bị tàn tật, cô đơn, không nơi nương tưạ từ 60 tuổi đến dưới 85 tuổi được hưởng trợ cấp theo Nghị định 67 là 121.032 người và nhiều NCT khỏe được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội với mức sinh hoạt phí từ 240.000 đồng/người/tháng Hiện có 05 tỉnh thực hiện trợ cấp cao hơn mức quy định tối thiểu của Chính phủ từ 150.000 đồng trở lên (Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 30

Đến cuối năm 2008, nhiều xã, phường đã hình thành 3 loại quỹ dành cho NCT, là: Quỹ toàn dân chăm sóc NCT; Quỹ của Hội NCT và Quỹ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ do con cháu trong gia đình, họ tộc đóng góp Các nguồn quỹ này đã có tác dụng trợ giúp NCT khi khó khăn, bệnh tật.Việc hỗ trợ sửa chữa hoặc làm mới nhà ở cho NCT được nhiều tỉnh, thành phố tích cực

hỗ trợ, đầu tư bằng nhiều nguồn vốn” [3]

Từ những phân tích như trên, chúng ta có thể nhận thấy, Pháp lệnh NCT ra đời đã thể hiện được quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với việc chăm sóc, phụng dưỡng NCT Cùng với các chính sách an sinh xã hội, Pháp lệnh NCT là bước đi thích hợp của Nhà nước trong tổng thể các chính sách xã hội Qua hơn 8 năm thi hành Pháp lệnh, công tác NCT đã

có những bước chuyển biến tích cực Song, văn bản này chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền và nghĩa vụ; phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công tác NCT trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và hội

nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, dù Pháp lệnh NCT và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của NCT đã được ban hành và tổ chức thực hiện nhưng đó đều là “các văn bản dưới luật, thiếu hệ thống và đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn Hơn nữa, Pháp lệnh NCT ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, trong khi đó, tỷ lệ NCT chỉ chiếm trên 8% dân số” [3] nên hiệu quả và ý

nghĩa thực tiễn của nó chưa cao Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật NCT, trên

cơ sở kế thừa Pháp lệnh NCT và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các nội dung trực tiếp liên quan đến NCT ở nước ta hiện nay

Để thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về NCT, đồng thời khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc thực thi chương trình hành động Madrit mà Việt Nam tham gia, thúc đẩy tiến trình hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam về NCT thì rất cần thiết phải xây dựng và ban hành Luật NCT

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay

Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ NCT trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới của Việt Nam, ngày

23 tháng 11 năm 2009, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật NCT Luật NCT gồm 6 chương với 31 điều Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT; trách nhiệm của

Trang 31

gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; Hội NCT Việt Nam Luật NCT đã khắc phục được những tồn tại của Pháp lệnh NCT nói ở trên, nhằm tạo cơ sở pháp lý cao hơn để ghi nhận vai trò cũng như nhằm đảm bảo tốt hơn việc chăm sóc, bảo vệ các quyền hợp pháp của NCT Theo Luật này, NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên NCT được ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cụ thể, được phát huy vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước, gia đình và toàn xã hội có trách nhiệm bảo đảm cho các quyền của NCT được thực hiện có hiệu quả trên thực tiễn

So với Pháp lệnh NCT 2000, Luật NCT 2009 có những điểm mới sau:

- Đã thể chế hoá một cách hệ thống đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về NCT Chẳng hạn như chính sách của Nhà nước đối với NCT (Điều 4), trách nhiệm của

cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NCT (Điều 5)…

- Các quy định được thay đổi mang tính quy phạm hơn, giảm các điều khoản mang tính

nghị quyết, khẩu hiệu Chẳng hạn như thay vì quy định như Điều 7 Pháp lệnh NCT “NCT phải nêu gương tốt trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và chấp hành pháp luật, giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc” thì Luật NCT quy định cụ thể về nghĩa

vụ của NCT tại khoản 2 Điều 3

- Xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Theo đó, Luật NCT quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; Hội NCT Việt Nam Đối tượng áp dụng là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên chứ không phải công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên như trước

- Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ mang tính đặc thù của nhóm NCT Trước đây, Pháp lệnh NCT không có điều luật riêng quy định về quyền của NCT, nghĩa vụ của NCT

- Điều chỉnh, sửa đổi một số quy định của Pháp lệnh hiện hành để phù hợp với một số luật mới được ban hành, đồng thời bổ sung và quy định cụ thể hơn một số chính sách trong: Chăm sóc sức khỏe; hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao, giao thông công cộng; chúc thọ, mừng thọ, tang lễ; xã hội hoá theo hướng ưu tiên lứa tuổi, đối tượng; đảm bảo công bằng hơn, bổ sung các quy định liên quan đến cơ sở chăm sóc NCT và Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò NCT

Trang 32

- Đối tượng NCT được hưởng các chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước được mở rộng hơn Theo Điều 1 Pháp lệnh NCT thì NCT cô đơn, không nơi lương tựa, không có nguồn thu nhập thì được trợ cấp xã hội Còn theo quy định của Điều 17 Luật NCT thì NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng; người từ đủ

80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp nói trên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp xã hội hằng tháng

- Đã xây dựng được cơ sở pháp lý đảm bảo cho các hoạt động của NCT, khuyến khích sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân nhằm xã hội hóa công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT Chẳng hạn như bên cạnh quyền, nghĩa vụ của NCT, Luật NCT còn quy định trách nhiệm cho gia đình, Nhà nước và cả xã hội trong chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò của NCT, từ đó bảo đảm các quyền của NCT được thực thi có hiệu quả trên thực tiễn Luật còn quy định về việc thành lập, hoạt động, giải thể… của cơ sở chăm sóc NCT, đó là cơ sở cho việc xã

hội hóa việc chăm sóc NCT

- Thể hiện được sự cam kết của nước ta trong việc thực hiện tuyên bố về chương trình hành động Quốc tế Madrit mà Việt Nam đã kí kết Chẳng hạn như thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2012-2020 với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc NCT và phát huy vai trò của NCT trong xã hội, phù hợp với tiềm

năng và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trên thực tế, NCT Việt Nam đã được

chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kì khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế nói chung và hệ thống các bệnh viện lão khoa; được chăm lo đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch Người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi qua đời Bên cạnh đó, các cơ quan Nhà nước đã tạo điều kiện tốt nhất để NCT phát huy vai trò phù hợp với khả năng của mình thông qua việc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng cũng

như việc trực tiếp cống hiến trong khoa học, sản xuất, kinh doanh…

- Có chế tài để đảm bảo thực thi các điều luật sau khi Luật được Quốc hội thông qua Chẳng hạn như chế tài tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động chăm sóc NCT quy định trong Nghị định số 06/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT (Nghị định số 06/2011/NĐ-CP)

Trang 33

Triển khai thực hiện Luật NCT, Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương đã và đang tập trung xây dựng văn bản hướng dẫn, tập huấn tuyên truyền, phổ biến luật pháp, chỉ đạo các địa phương triển khai thực thi Ngày 14/01/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2011/NĐ-CP Đây là sự cụ thể hóa Luật NCT với những quy định cụ thể về các mức trợ cấp,

về những ưu đãi NCT trong các hoạt động giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch, về việc thành lập và vận hành của các cơ sở chăm sóc NCT… Mới đây nhất, ngày 21 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Trên cơ sở đó, các Bộ cũng ban hành các Thông tư liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như: Thông tư số 21/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18 tháng 02 năm 2011 quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương khen thưởng NCT (Thông tư số 21/2011/TT-BTC); Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2011 quy định hồ sơ, thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ chí phí mai táng và tiếp nhận NCT vào cơ sở bảo trợ xã hội; Thông tư số 127/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 09 tháng 09 năm 2011 quy định mức thu phí thăm quan di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh đối với NCT; Thông tư số 35/2011/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 15 tháng 10 năm 2011 hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe NCT (Thông tư số 35/2011/TT-BYT ) và các văn bản luật pháp liên quan khác Như vậy, Luật NCT và các văn bản hướng dẫn Luật thể hiện một hệ thống chính sách khá toàn diện, phù hợp, tạo điều kiện cho NCT được chăm sóc, phát huy vai trò quan trọng của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Bên cạnh Luật NCT, Quốc hội cũng đã ban hành Luật HN&GĐ; Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… với các quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NCT Chẳng hạn như ngoài việc quy định quyền được chăm sóc, phụng dưỡng của NCT trong quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con, ông bà -

cháu…, Luật HN&GĐ còn quy định vợ, chồng không được “cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều 22), nghiêm cấm việc “hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình”

(Điều 107) cũng như quy định vấn đề cấp dưỡng nhằm bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho NCT Hay như trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 có nhiều quy định để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, trong đó có NCT, một chủ thể dễ dàng trở

Trang 34

thành nạn nhân của bạo lực gia đình như quy định tại Điều 2 về các dạng hành vi cụ thể của hành vi bạo lực gia đình, Điều 8 về các hành vi bị nghiêm cấm liên quan tới bạo lực gia đình…

Đó là hành lang pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích của NCT, lớp người “cây cao, bóng cả” của đất nước

Hơn nữa, Chính phủ Việt Nam cũng cam kết thực hiện Chương trình hành động quốc gia Madrid về NCT; ban hành các Chiến lược, Chương trình hành động liên quan đến NCT như: Chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020… Cùng với đó, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã ban hành các văn bản quy định các chính sách cụ thể về chăm sóc và phát huy vai trò của NCT…

Mới đây, ngày 28 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua

Hiến pháp sửa đổi Tại Khoản 3 Điều 37 của Hiến pháp sửa đổi đã bổ sung nội dung: “NCT được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” và trong khoản 2 Điều 59 Hiến pháp sửa đổi có nội dung: “Nhà nước

tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã

hội, có chính sách trợ giúp NCT, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó

khăn khác”

Luật HN&GĐ năm 2000 đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung Dự thảo Luật HN&GĐ (sửa đổi) đã ghi nhận một nguyên tắc cơ bản đó là: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách

nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, NCT, người khuyết tật thực hiện các quyền về HN&GĐ; giúp đỡ

các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để vấn đề bảo vệ NCT được đảm bảo hơn

Tóm lại, có thể nói, từ truyền thống văn hóa đến các chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chăm sóc và phát huy NCT trong tất cả các giai đoạn phát triển của đất nước Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ NCT ở giai đoạn sau luôn có sự kế thừa những tinh hoa của pháp luật giai đoạn trước cũng như bổ sung, hoàn thiện hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra và bảo đảm việc thực thi có hiệu quả quyền của NCT

Trang 35

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO

VỆ NGƯỜI CAO TUỔI

2.1 Quy định của pháp luật người cao tuổi Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi

2.1.1 Quyền của người cao tuổi

Ở nước ta, quyền của NCT đều được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Trong Hiến pháp năm 1992, quyền của NCT được đề cập trực tiếp trong Điều 67 và được hàm chứa trong

một số điều khác Điều 67 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”, qua đó, quy định quyền được giúp đỡ

của NCT và ấn định trách nhiệm đó cho Nhà nước và xã hội Bên cạnh đó, NCT còn có các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp 1992 ghi nhận Đây là cơ sở cho việc xây dựng các quy định về bảo vệ NCT trong Luật HN&GĐ 2000 và Luật NCT 2009 sau này

Mới đây, ngày 28 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp sửa đổi Liên quan đến bảo vệ NCT, Hiến pháp sửa đổi đã có những quy định rất

quan trọng: “NCT được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (khoản 3 Điều 37); “Nhà nước tạo bình đẳng về

cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp NCT, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (khoản 2

Điều 59) Quy định tại khoản 2 Điều 59 đã xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội cho NCT Đây là điều kiện hết sức quan trọng để quyền, lợi ích của NCT được bảo đảm trên thực tế

Bên cạnh đó, theo quy định của Hiến pháp sửa đổi, cũng như những công dân khác, NCT còn được hưởng các quyền con người, quyền công dân mà pháp luật nhân quyền quốc tế và nhiều Hiến pháp của các nước trên thế giới đã ghi nhận; trong đó có một số quyền mới như quyền sống, quyền nghiên cứu khoa học, và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật; quyền được sống trong môi trường trong lành; NCT được hưởng các quyền đó một cách mặc nhiên

và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm các quyền đó được thực hiện

Trang 36

Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định liên quan đến NCT, Luật NCT đã quy định trực tiếp,

cụ thể các quyền của NCT và bảo vệ quyền lợi cho họ Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ với tư cách

là luật chuyên ngành quy định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, có nhiều quy định liên quan đến bảo vệ NCT; các luật khác như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình,… cũng có những quy định liên quan đến lĩnh vực này Như vậy, pháp luật NCT Việt Nam hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ các quyền cho NCT

Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Luật NCT, các quyền của NCT bao gồm:

- Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe:

“Nhu cầu cơ bản” là các nhu cầu cần thiết để NCT tồn tại và phát triển “Nhu cầu cơ bản” khác với “nhu cầu thiết yếu” “Nhu cầu thiết yếu” (của người được cấp dưỡng) theo Khoản 2 Điều 16 Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ

“được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng

cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng” Như

vậy, “nhu cầu thiết yếu” là nhu cầu tối thiểu, cần thiết được cung cấp để duy trì sự sống So với

“nhu cầu thiết yếu” , “nhu cầu cơ bản” ở mức độ cao hơn, có nội hàm rộng hơn, không chỉ bao gồm nhu cầu về vật chất mà còn bao gồm các nhu cầu về tinh thần, về xã hội như nhu cầu được học tập, nhu cầu được yêu thương, quan tâm, chia sẻ…

Có thể thấy nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe luôn được ưu tiên hàng đầu Đối với người già, tuổi càng cao thì họ càng cần sự hỗ trợ của những người thân gia đình để đáp ứng nhu cầu này của chính họ Ẩn chứa trong “nhu cầu cơ bản” về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe của NCT còn là sự quan tâm, thái độ, tình cảm của con cháu dành cho họ

Do vậy, việc chăm sóc, phụng dưỡng NCT vừa phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về vật chất vừa phải thấu hiểu tâm lý, tâm tư, nguyện vọng, làm giàu thêm đời sống tinh thần của NCT

Luật NCT đã dành nguyên hai chương quy định về phụng dưỡng, chăm sóc và chăm sóc sức khoẻ cho NCT Theo đó, phụng dưỡng NCT được hiểu là chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của NCT Người có nghĩa vụ và quyền phụng

Trang 37

dưỡng NCT là con, cháu của NCT và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng

theo quy định của pháp luật về HN&GĐ

Căn cứ vào quy định nói trên có thể thấy người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng NCT

có thể sống chung hoặc không cùng chung sống với NCT Họ là những người có nghĩa vụ nuôi

dưỡng, cấp dưỡng NCT theo quy định của Luật HN&GĐ Theo Luật này, “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” (Điều 35), “Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại” (khoản 2 Điều 47), “Anh, chị, em… có nghĩa và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con” (Điều 48) Để khẳng định nghĩa vụ của con,

cháu và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông bà, cha mẹ khi tuổi già, sức yếu, Luật HN&GĐ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà trong trường hợp không sống chung với cha mẹ, ông bà tại Điều 57 và 59 Ngoài ra, Điều 58 và Điều 60 của Luật HN&GĐ còn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của anh, chị, em ruột với nhau, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn Đó là nghĩa vụ, là đạo lý, là lẽ sống của người Việt Nam Đó cũng

là những quy định nhằm bổ trợ cho Luật NCT liên quan đến quyền được phụng dưỡng của NCT

Theo quy định tại Điều 11 Luật NCT, khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định số 06/2011/NĐ-CP thì trong trường hợp người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng không có điều kiện trực tiếp chăm sóc NCT mà được sự đồng ý của NCT thì được quyền ủy nhiệm cho cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chăm sóc NCT theo một hợp đồng cung ứng dịch vụ với những cam kết nhất định Nội dung chủ yếu của hợp đồng này gồm có: Tình trạng sức khỏe, bệnh tật của NCT; thời gian chăm sóc, địa điểm chăm sóc, phương thức thực hiện chăm sóc; chi phí dịch vụ, phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ của người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chăm sóc và các nội dung khác Hợp đồng này phải được lập thành văn bản và phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NCT, phải có ý kiến đồng ý của NCT hoặc người giám hộ NCT

Đối với cá nhân trực tiếp chăm sóc NCT phải bảo đảm những điều kiện sau: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, không mắc các tệ nạn xã hội và không thuộc đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích; có sức khỏe và kỹ năng để chăm sóc NCT (khoản 1 Điều 1 Nghị định số 06/2011/NĐ-CP) NCT có

Trang 38

quyền yêu cầu người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng thay đổi cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ được ủy nhiệm chăm sóc mình

Riêng với NCT thuộc hộ gia đình nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội thì được hưởng các chế độ như: Trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng bằng mức nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội; Được hưởng bảo hiểm y tế; được cấp tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, thuốc chữa bệnh thông thường, dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng và được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết (khoản 2 Điều 18 Luật NCT) Quy định này nhằm hiện thực hóa quyền được bảo đảm nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe của NCT trên thực tế

Khi thực hiện nghĩa vụ và quyền chăm sóc, phụng dưỡng NCT, vợ (chồng), con, cháu và các thành viên khác trong gia đình phải hết lòng vì NCT, không những về vật chất mà cả đời sống tinh thần nữa Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng NCT không được có hành vi bạo lực gia đình đối với NCT (như: hành hạ, ngược đãi hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của NCT; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; cưỡng ép NCT lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của NCT nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính…) Đó là những hành vi được Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 ghi nhận nhằm bảo vệ NCT trước hành vi bạo lực trong gia đình

- Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn:

Quy định này nhằm tôn trọng quyền tự do lựa chọn chỗ ở của NCT Điều này phù hợp với quy định về quyền tự do cư trú của công dân quy định trong Hiến pháp

Theo một khảo sát ở thủ đô Hà Nội của GS Nguyễn Đình Cử thì: “có 55% các cụ đã về hưu muốn ở chung với con cái đã xây dựng gia đình; 20,9% cho là “tùy hoàn cảnh”; chỉ có 22,7% thực sự mong muốn ở riêng; trên thực tế chỉ có 2,7% các cụ sống riêng” [26, tr 16] Như

vậy, không phải NCT nào cũng muốn sống chung với con cháu Đôi khi vì những lý do nhất định (như mong muốn được sống một mình, tự do, thoải mái hay vì không hợp với con, cháu, với phong cách, môi trường sống của thế hệ trẻ ) mà NCT quyết định ở nhà riêng hoặc vào viện dưỡng lão sống Nhà làm luật Việt Nam không bắt buộc, “đóng khung” rằng NCT phải

Trang 39

chung sống cùng một mái nhà với con, cháu bởi điều này chưa hẳn mang lại niềm vui cho họ Chúng ta cho NCT lựa chọn nơi sống, nhưng đưa ra các quy định để đảm bảo rằng họ có một cuộc sống khi về già thật tốt và ý nghĩa Dù không sống chung nhưng con cháu, người thân cũng như Nhà nước và xã hội vẫn dành sự quan tâm, chăm sóc, những chính sách ưu tiên cho NCT,

đó chính là yếu tố nhân văn mà Luật NCT hướng tới Theo đó, con, cháu và các thành viên khác trong gia đình cần tôn trọng mong muốn, nguyện vọng được sống chung với con, cháu hoặc sống riêng của NCT Đó là quyền cơ bản và hết sức chính đáng của NCT, được pháp luật bảo

vệ

Trong trường hợp con, cháu và các thành viên khác trong gia đình có hành vi trái pháp luật buộc NCT ra khỏi chỗ ở thì quyền được sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn của NCT được Luật NCT quy định đã bị xâm phạm Đồng thời, đây cũng là hành vi bạo lực gia đình với NCT do Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 điều chỉnh Hành vi này tùy mức độ, tính chất có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật

- Được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật NCT và các quy định khác của pháp luật có liên quan:

Luật NCT quy định NCT được sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua việc định

kì khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Cụ thể: Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác, trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, được phục hồi sức khỏe sau các đợt điều trị cấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình, được kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại, hướng dẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y tế cơ sở và được chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại trạm y tế xã, phường, thị trấn nơi cư trú Các bệnh viện có trách nhiệm tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường

để điều trị người bệnh là NCT

Thêm vào đó, căn cứ vào các quy định tại Thông tư số 71/2011/TT-BGTVT của Bộ GTVT ban hành ngày 30/12/2011 quy định về hỗ trợ NCT khi tham gia giao thông công cộng thì khi tham gia giao thông công cộng, NCT còn được hỗ trợ như sau:

 Hỗ trợ NCT khi tham gia giao thông đường sắt, đường thủy:

Trang 40

NCT khi đi lại bằng tàu hỏa, tàu biển chở khách và phương tiện thủy nội địa được mua

vé tại cửa bán vé dành cho các đối tượng ưu tiên Nhân viên phục vụ trên tàu có trách nhiệm hướng dẫn, sắp xếp chỗ ngồi thuận tiện cho NCT; hỗ trợ NCT khi lên, xuống phương tiện và sắp xếp hành lý khi cần thiết NCT khi đi lại bằng tàu hỏa được giảm ít nhất 15% giá vé, giá dịch vụ khi sử dụng các dịch vụ: bốc xếp hành lý, mua vé qua điện thoại, đưa vé đến tận nhà; được giảm ít nhất 15% giá vé khi đi lại bằng phương tiện thủy nội địa, tàu biển chở khách

 Hỗ trợ NCT khi tham gia giao thông đường bộ:

NCT sử dụng phương tiện vận tải công cộng đường bộ được ưu tiên mua vé tại các quầy

vé, được sử dụng chỗ ngồi dành cho các đối tượng ưu tiên Lái xe, nhân viên phục vụ trên phương tiện vận tải khách có trách nhiệm hướng dẫn NCT sử dụng chỗ ngồi ưu tiên, hỗ trợ lên, xuống xe và sắp xếp hành lý cho các đối tượng cần sự chăm sóc đặc biệt Nhà nước ta khuyến khích các doanh nghiệp vận tải xây dựng phương án miễn, giảm giá vé cho NCT và công bố thực hiện trên các tuyến vận tải

 Hỗ trợ NCT khi tham gia giao thông bằng đường hàng không:

Nhân viên của các hãng hàng không Việt Nam, doanh nghiệp cảng hàng không và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không liên quan khác có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho NCT trong dây chuyền phục vụ hành khách tại các cảng hàng không, sân bay Việt Nam, bao gồm: làm thủ tục vé, sắp xếp chỗ ngồi, kiểm tra an ninh hàng không, chờ ở phòng chờ, lên tàu bay và nhận hành lý ký gửi tại nơi đến NCT được giảm ít nhất 15% giá vé hạng phổ thông ít có điều kiện hạn chế nhất bán lại lãnh thổ Việt Nam trên các tuyến vận chuyển hàng không nội địa Trường hợp NCT cần sự chăm sóc đặc biệt có người thân đi cùng thì người

đi cùng được bố trí chỗ ngồi phù hợp để tiện chăm sóc Thêm vào đó, nếu NCT đồng thời thuộc đối tượng được giảm giá vé, giá dịch vụ theo các chế độ khác nhau thì chỉ được hưởng một mức giảm giá vé cao nhất

- Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí,

du lịch và nghỉ ngơi:

Có thể thấy đây là chủ trương đúng đắn của Nhà nước nhằm khuyến khích NCT tham gia tham quan các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, tham gia các hoạt động thể dục, thể thao

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w