1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở việt nam hiện nay

86 263 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài xuất phát từ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại hiện hành ……….65 3.1.2 Hoà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRỊNH THỊ NGỌC LAN

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến Các thông tin, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên

bản của luận văn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trịnh Thị Ngọc Lan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Vũ Đặng Hải Yến - người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và bạn bè vì sự ủng hộ và những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng

hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… …1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM… …8

1.1 Một số vấn đề lý luận về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam… ……… ………8

1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam……… 8 1.1.2 Đặc điểm nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam……… 11 1.1.3 Phân loại nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam……….14

1.2 Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam……… ……….16

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của

nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam……… …….16 1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại

của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… 18 1.2.3 Ý nghĩa của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại

của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY………25

2.1 Thực trạng các quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……… 25 2.2 Thực trạng các quy định về phương thức và phạm vi đầu tư nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… …31

Trang 5

2.2.1 Các quy định về phương thức đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam………31 2.2.2 Các quy định về phạm vi đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong quan

hệ nhượng quyền thương mại tại Việt Nam………34

2.3 Thực trạng các quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… ……… 36

2.3.1 Về khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……… 36 2.3.2 Nội dung của Hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……….………37 2.3.3 Hình thức của Hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……… …….45 2.3.4 Luật áp dụng đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……… 47

2.4 Thực trạng các quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……….………… 49 2.5 Thực trạng các quy định về một số vấn đề khác có liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 52

2.5.1 Thực trạng các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài………… ………….52 2.5.2 Thực trạng các quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh ……… ….57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……….………65

3.1 Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam……….……….……… 65

Trang 6

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài xuất phát từ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại hiện hành ……….65 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thương mại tại Việt Nam hiện nay ………67

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ……….…69

3.2.1 Hoàn thiện các quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… ………69 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… 70 3.2.3 Hoàn thiện các quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam………73 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về một số vấn đề khác có liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam…………73 3.2.4.1 Hoàn thiện các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam……… 73 3.2.4.2 Hoàn thiện các quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh

……… …….74

KẾT LUẬN ……… 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh xuất hiện vào thế kỷ XIX và ngày càng được mở rộng, phát triển trên phạm vi toàn cầu Thực tiễn cho thấy hoạt động nhượng quyền thương mại có rất nhiều ưu điểm như:

hạn chế rủi ro cho các chủ thể mới gia nhập thị trường, hạn chế các chi phí đầu

tư, dễ dàng mở rộng hệ thống kinh doanh một cách hiệu quả… Những lợi thế đặc biệt từ phương thức kinh doanh này là lý do để các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn nhượng quyền thương mại là cách thức phổ biến để thâm nhập vào thị trường Việt Nam

Kể từ ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Những cam kết mở cửa thị trường và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã tạo điều kiện cho hoạt động thương mại của Việt Nam nói chung và hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng phát triển mạnh mẽ Môi trường này dẫn đến thực tế ngày một nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam thông qua phương thức nhượng quyền thương mại Có thể kể tới hàng loạt các thương hiệu từ nước ngoài đã thâm nhập

và phát triển nhanh chóng ở Việt Nam trong thời gian qua thông qua phương thức nhượng quyền như: Lotteria, Kentucky, Gloria Jean’s Coffee, The Body Shop, Adam Khoo Learning Centre, Buffalo Wild Wings,… [21]

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung và hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình thực thi các quy định này đã cho thấy nhiều hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại như: về chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài chưa được quy định toàn diện, đầy đủ; phương thức và phạm vi đầu tư thông qua nhượng quyền thương mại không được quy định rõ ràng, chi tiết gây khó khăn cho quá trình tiến hành các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các nội dung trong hợp đồng nhượng quyền thương mại như đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên chưa được quy định cụ thể; trình tự, thủ tục, chi

Trang 8

phí liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại chưa rõ ràng, chưa hợp

lý, chưa thống nhất; các quy định liên quan đến pháp luật đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại chưa đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật Những bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật nói trên đã góp phần hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến với phương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại để thâm nhập thị trường Việt Nam

Cụ thể, các nhà đầu tư đang sử dụng phương thức kinh doanh này đã gặp nhiều lúng túng, khó khăn; trong khi đó các nhà đầu tư đang đứng trước cơ hội lựa chọn phương thức kinh doanh này để tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường Việt Nam lại có tâm lý e ngại, lo sợ, không an toàn Do đó, nếu không giải quyết tốt những bất cập của hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại thì không thể tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, hiệu quả và an toàn tại Việt Nam để có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

Xuất phát từ lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sỹ

luật học Với đề tài trên, luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại nói riêng và pháp luật thương mại nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về nhượng quyền thương mại nói chung và pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài nói riêng là một nội dung quan trọng của pháp luật thương mại đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, nhiều công trình nghiên cứu khoa học và bài viết đã được công bố, đề cập tới các vấn đề pháp lý và kinh tế

Trang 9

của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Ở cấp độ luận án có thể kể tới Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Vũ Đặng

Hải Yến với đề tài: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Trường

Đại học Luật Hà Nội – 2008) Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật thương mại nói chung Các quy định pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa được đề cập chi tiết, rõ ràng và riêng biệt trong luận án này

Nghiên cứu về nhượng quyền thương mại ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật

học là các công trình: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2005); “Vấn đề bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền trong quan

hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam - so sánh với pháp luật của Anh, Pháp và liên minh châu Âu” của tác giả Nguyễn Thị Tình (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2009); “Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại” của tác giả Đỗ Phương Thảo (Trường Đại học Luật Hà Nội – 2012); “Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị

Như Nguyễn (Trường Đại học Luật Hà Nội – 2012)… Các công trình luận văn thạc sỹ nói trên đã nghiên cứu về nhượng quyền thương mại với những nội dung

cơ bản nhất dưới góc độ pháp luật thương mại nói chung hoặc dưới góc độ pháp luật cụ thể như pháp luật sở hữu trí tuệ

Ngoài ra, có thể kể tới các bài viết tiếp cận nhượng quyền thương mại dưới

góc độ pháp lý với những vấn đề cơ bản nhất của tác giả Bùi Ngọc Cường: “Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 07/2007); “Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại” (Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 08/2007) Nghiên cứu về nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh là các bài viết: “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ Luật Cạnh tranh” của tác giả Nguyễn Thanh Tú

Trang 10

(Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3/2007); “Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Nguyễn Hồng Vân (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử năm 2011); “Điều khoản bảo mật thông tin và điều khoản và điều khoản cấm cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại” của tác giả Hoàng Thị Thanh Thủy (Tạp chí Luật học số 02/2011);

“Mối quan hệ giữa pháp luật nhượng quyền thương mại và cạnh tranh”, của tác

giả Ngô Thị Thu Hà – Hoàng Văn Thành (Tạp chí Tài chính số 02 năm 2014)

Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết nói trên đã tập trung nghiên cứu về nhượng quyền thương mại dưới nhiều góc độ khác nhau như góc độ pháp luật thương mại nói chung, góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, cạnh tranh

Có thể thấy, pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài chưa được nghiên cứu rõ ràng, riêng biệt trong các công trình nghiên cứu

Tuy nhiên, với tư cách là một bộ phận không tách rời của pháp luật nhượng quyền nói riêng và pháp luật thương mại nói chung nên pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng gián tiếp được đề cập

và phân tích một cách cơ bản trong các công trình nghiên cứu về pháp luật nhượng quyền thương mại Luận văn thạc sỹ luật học này sẽ tiếp cận và nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống và riêng biệt về pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề

lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, luận văn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn là tập trung làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

Trang 11

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đánh giá những

ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: các quan điểm, tư tưởng luật học

về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

và pháp luật điều chỉnh hoạt động này; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài; thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn tập trung vào năm nội dung cơ bản, bao

Trang 12

Toàn bộ nội dung của luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm, hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài dựa trên năm vấn đề cơ bản nêu trên

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam; phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng

Phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp, kết hợp nghiên

cứu lí luận với thực tiễn để hoàn thành luận văn

6 Kết quả nghiên cứu đề tài

Luận văn đã đạt được những kết quả sau:

Thứ nhất, trình bày và phân tích các vấn đề lý luận về nhượng quyền

thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng như pháp luật điều chỉnh hoạt động này; xác định rõ mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với các chế định pháp luật khác như pháp luật đầu tư, pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật cạnh tranh Từ đó đánh giá sự cần thiết phải có những quy định cụ thể và gắn bó mật thiết, bổ trợ giữa các chế định pháp luật kể trên với pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm tạo ra hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại toàn diện và đầy đủ

Thứ hai, phân tích và làm sáng tỏ những bất cập của pháp luật hiện hành

điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thứ ba, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động

nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, luận văn được cơ cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhượng quyền thương mại và pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay;

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhượng quyền thương mại chính là một cách thức kinh doanh thu lợi nhuận nhưng cũng chính là một cơ hội đầu tư xúc tiến thương mại hoặc một cơ hội nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh độc lập của các bên nhận quyền và bên nhượng quyền thương mại

Xét dưới góc độ pháp lý, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của các thương nhân thông qua việc chia sẻ quyền thương mại trên một tên thương mại, quy trình, bí quyết kinh doanh cho một thương nhân khác Các bên trong quan hệ ràng buộc với nhau bởi một loạt các thoả thuận pháp lý, trong đó, quan trọng nhất là việc bên nhượng quyền – dưới sự cho phép và giám sát của pháp luật – đồng ý trao cho bên nhận quyền một “quyền thương mại” bao gồm quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới tên thương mại của mình và nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định Được sự đồng thuận của bên nhượng quyền, bên nhận quyền có quyền sử dụng một cách hợp pháp tất cả các dấu hiệu nhận biết thương nhân hay sản phẩm của thương nhân do bên nhượng quyền làm chủ sở hữu để tiến hành hoạt động kinh doanh, tuy nhiên bên nhận quyền phải đồng ý chấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa ra

Khái niệm về hoạt động nhượng quyền thương mại được xây dựng trong Điều 284 Luật thương mại 2005 như sau:

“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền được quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

Trang 15

1 Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”

Với khái niệm này, pháp luật thương mại của Việt Nam khẳng định nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, vì vậy, hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục đích kinh doanh Ngoài ra, khái niệm này cũng chỉ rõ tính chất ràng buộc qua lại giữa các bên có liên quan, nhất là khẳng định sự giám sát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền thương mại

Như vậy, xét dưới cả góc độ kinh tế và góc độ pháp lý, với những đặc điểm

đã phân tích, có thể xây dựng được một khái niệm cơ bản về hoạt động nhượng quyền thương mại với tư cách là một hoạt động thương mại đặc thù Nhượng quyền thương mại được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa các bên, trong đó, bên nhượng quyền thương mại cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một

“gói” các quyền thương mại của mình mà chủ yếu liên quan đến đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành kinh doanh với một tư cách pháp lý độc lập;

đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền thương mại; ngoài ra, bên nhượng quyền thương mại có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại nhằm duy trì tính hệ thống trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật, đào tạo nhân lực và một số cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho bên nhận quyền thương mại

Bên cạnh đó, theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm

2002 thì: “Đầu tư là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ

sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội” Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan

niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực để thực hiện và phát triển hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Theo khoản 1 Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 thì

“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình

Trang 16

để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này

và các quy định khác của pháp luật có liên quan” Từ các khái niệm nêu trên, có

thể hiểu “đầu tư” là hoạt động sử dụng các nguồn lực bao gồm nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật, nguồn vốn, các quyền tài sản khác… để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận

Theo khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2005 thì “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”

Như vậy, cụm từ “nhà đầu tư nước ngoài” có thể hiểu là các tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng nguồn vốn, nhân sự, tài sản, hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật, các quyền tài sản… để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam nhằm thu lợi nhuận

Từ những khái niệm đã đề cập ở trên, có thể đưa ra khái niệm nhượng

quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là “các tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện đầu tư bằng hoạt động nhượng quyền thương mại, trong đó, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể là bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền trong hợp đồng nhượng quyền; nội dung cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài là bên nhượng quyền thương mại cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một

“gói” các quyền thương mại của mình mà chủ yếu liên quan đến đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành kinh doanh với một tư cách pháp lý độc lập;

đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền thương mại; ngoài ra, bên nhượng quyền thương mại có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận nhằm duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật, đào tạo nhân lực và một số cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho bên nhận quyền thương mại” Toàn bộ quá trình xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng

nhượng quyền thương mại này được thực hiện bởi sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ nhượng quyền tại Việt Nam

Trang 17

1.1.2 Đặc điểm hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thứ nhất, về chủ thể, hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư

nước ngoài tại Việt Nam luôn có sự tham gia của ít nhất một bên chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài có thể hiểu là các tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài sử dụng nguồn vốn, nhân sự, tài sản, hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật, các quyền tài sản… để thực hiện hoạt động đầu tư thông qua phương thức nhượng quyền thương mại tại Việt Nam nhằm thu lợi nhuận

Nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một hoạt động thương mại đặc thù gồm hai chủ thể chính: bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là thương nhân nước ngoài Tức

là, trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể xảy ra các trường hợp: (i) bên nhượng quyền là thương nhân nước ngoài và bên nhận quyền là thương nhân Việt Nam; (ii) bên nhượng quyền

là thương nhân Việt Nam và bên nhận quyền là thương nhân nước ngoài; (iii) bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều là thương nhân nước ngoài

Trong quan hệ nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bên nhượng quyền thương mại và bên nhận quyền thương mại đều là thương nhân Cụ thể, nếu thương nhân nước ngoài là bên nhượng quyền thương mại phải hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định và có lãi, khẳng định được giá trị của gói “quyền thương mại” trong lĩnh vực dự định nhượng quyền (cụ thể là khả năng tài chính, thời gian hoạt động, lợi nhuận hàng năm, hệ thống cơ sở kinh doanh…) Các đặc điểm cơ bản này của bên nhượng quyền đảm bảo cho hoạt động nhượng quyền có tính khả thi và đạt hiệu quả cao Thực

tế cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành nhượng quyền thương mại vào Việt Nam đều là các thương nhân đã xây dựng và hoạt động kinh doanh hiệu quả, tạo được thương hiệu của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên nhiều quốc gia Thời gian hoạt động lâu năm, khả năng tài chính vững mạnh, hệ thống cơ sở kinh doanh có mặt trên nhiều quốc gia cùng với kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao về tổ chức hoạt động, cách thức kinh doanh, yếu tố quản lý, đào tạo nhân sự… là những lợi thế đặc trưng mà các nhà đầu tư nước

Trang 18

ngoài có được khi tiến hành đầu tư thông qua phương thức nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Bên cạnh đó, trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài

ở vị trí là bên nhận quyền thương mại tại Việt Nam phải là thương nhân độc lập

về mặt pháp lý, tài chính, có các điều kiện cơ bản về các nguồn lực để có thể tiến hành nhận nhượng quyền thương mại, tham gia vào hệ thống của bên nhượng quyền cũng như trực tiếp chịu trách nhiệm đối với các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh Bên nhận quyền phải tuyệt đối tuân theo

mô hình nhượng quyền thương mại, khai thác bí quyết và hoạt động kinh doanh một cách nhất quán trong mạng lưới nhượng quyền thương mại Điểm khác biệt

cơ bản giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và hoạt động đại lý là trong hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền phải trả phí khai thác lợi ích cho bên nhượng quyền và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền; tuy nhiên đối với hoạt động đại lý, bên nhận đại lý không phải thực hiện nghĩa vụ này Với các đặc điểm trên có thể thấy, khi nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại với tư cách là bên nhận quyền sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn so với nhà đầu tư Việt Nam Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài có thể gặp các khó khăn trong việc tìm hiểu và đáp ứng các điều kiện về nguồn lực con người, đất đai, yếu tố văn hóa, khả năng kiểm soát các rủi ro… khi ở vị thế là bên nhận quyền

Như vậy, chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là các thương nhân có quyền kinh doanh độc lập, hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lưới thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và bên nhận quyền để đảm bảo lợi ích của cả bên nhượng quyền

và bên nhận quyền Điểm khác biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam so với nhà đầu tư trong nước là họ chỉ được hoạt động nhượng quyền đối với các hàng hóa, dịch vụ mà Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài phân phối quy định tại biểu cam kết gia nhập WTO

Thứ hai, về đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Cũng giống như đối tượng của quan hệ nhượng quyền thương mại nói chung, đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là “quyền thương mại” “Quyền

Trang 19

thương mại” trong hoạt động nhượng quyền thương mại này là một khái niệm

mở, cho phép các bên trong quan hệ nhượng quyền cụ thể hóa từng nội dung bao gồm trong đó Quyền thương mại là tổng hợp các quyền đối với hầu hết các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các bên nhượng quyền và nhận quyền có thể thỏa thuận một số đối tượng hoặc toàn bộ đối tượng của quyền thương mại

“Quyền thương mại” có thể đơn giản chỉ là bí quyết kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, công nghệ sản xuất nhất định… hoặc là tổng hợp tất cả những quyền đối với hầu hết các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để bên nhận quyền có thể sử dụng và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ giống với những sản phẩm, dịch bên nhượng quyền tạo ra Tính chất “tổng hợp”, “kết hợp” giữa các quyền đối với các đối tượng của sở hữu trí tuệ là yếu tố không thể thiếu của quyền thương mại Đối tượng của quan hệ nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều yếu

tố kết hợp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ thuộc sở hữu của thương nhân nhượng quyền

Thứ ba, tính đồng bộ và tính hệ thống là đặc trưng không thể thiếu của

quan hệ nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Tính hệ thống thể hiện ở chỗ tất cả các cơ sở nhượng quyền đều đạt các tiêu chuẩn theo một mô hình đã được xây dựng từ trước của bên nhượng quyền: cách thức, chất lượng, sản phẩm, đặc trưng, phong cách phục vụ, hình ảnh cửa hàng,

mô hình quản lý… Trong hệ thống nhượng quyền thương mại, những đặc trưng

cơ bản nhất của hàng hóa, dịch vụ và cách thức cung ứng của bên nhượng quyền phải được bên nhận quyền lặp lại Mọi sự sáng tạo và phát triển không xuất phát

từ ý chí của bên nhượng quyền hoặc không được sự cho phép của bên nhượng quyền sẽ phá hỏng tính hệ thống của mạng lưới cung ứng sản phẩm được tạo ra

từ quan hệ nhượng quyền thương mại Mục đính chính của quan hệ nhượng quyền thương mại là tạo ra một hệ thống kinh doanh thống nhất, đồng bộ và đem lại lợi nhuận cho các bên Do đó, tính đồng bộ, hệ thống chính là đặc trưng

cơ bản và quan trọng trong quan hệ nhượng quyền thương mại và đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà các bên, nhất là bên nhượng

Trang 20

quyền hướng tới trong khi thiết lập các quan hệ nhượng quyền thương mại với các bên nhận quyền thương mại

1.1.3 Phân loại nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài

Có thể phân loại nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dựa trên nhiều căn cứ khác nhau:

Thứ nhất, căn cứ vào phương thức nhượng quyền thương mại có thể phân

thành: nhượng quyền thương mại trực tiếp và nhượng quyền thương mại gián tiếp Nhượng quyền thương mại trực tiếp là hoạt động được tiến hành giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền mà không có sự xuất hiện của bên thứ ba nào khác Tính chất trực tiếp được hiểu là sự chuyển giao “quyền thương mại” là sự chuyển giao một cách trực tiếp từ chủ sở hữu “quyền thương mại” tới người trực tiếp kinh doanh và trả phí cho “quyền thương mại” được nhượng đó Mặt khác, tính chất “trực tiếp” còn được hiểu là các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại, cụ thể là chủ sở hữu “quyền thương mại” và bên trực tiếp phát triển kinh doanh thu lợi nhuận từ “quyền thương mại” đều phải trực tiếp chịu rủi ro đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, đồng thời phải trực tiếp chịu trách nhiệm pháp lý với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên thứ ba có liên quan trong suốt quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại gián tiếp còn được gọi là nhượng quyền thương mại độc quyền Theo đó, trong nhượng quyền thương mại chung, bên nhượng quyền ban đầu (hay còn gọi là bên nhượng quyền sơ cấp) sẽ tiến hành chỉ định một bên nhượng quyền ban đầu (hay còn gọi là bên nhận quyền sơ cấp) với đầy đủ các điều kiện kinh tế cũng như pháp lý để ký hợp đồng nhượng quyền thương mại

sơ cấp Tuy nhiên, việc ký hợp đồng nhượng quyền thương mại sơ cấp không làm phát sinh việc bên nhận quyền sơ cấp tiến hành trực tiếp kinh doanh trên

“quyền thương mại” thuộc sở hữu của bên nhượng quyền sơ cấp mà chỉ làm phát sinh cho bên này quyền được phân phối “quyền thương mại” cho các bên nhận quyền riêng lẻ khác (hay còn gọi là các bên nhận quyền thứ cấp) với tư cách là bên nhượng quyền thứ cấp Đối với hình thức nhượng quyền thương mại gián tiếp này, sau khi lựa chọn và ký hợp đồng nhượng quyền thương mại sơ cấp với bên nhận quyền sơ cấp, phần lớn trách nhiệm của bên nhượng quyền sơ cấp

Trang 21

trong quan hệ nhượng quyền thứ cấp hầu như không đặt ra Toàn bộ trách nhiệm này được chuyển giao cho bên nhận quyền sơ cấp và sự ràng buộc với bên nhượng quyền sơ cấp chỉ dừng lại trong phạm vi các nghĩa vụ mà hợp đồng nhượng quyền thương mại sơ cấp đã xác định

Thứ hai, căn cứ vào đối tượng nhượng quyền thương mại có thể phân hoạt

động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành

ba nhóm hình thức hoạt động chính:

- Nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ:

Bên nhượng quyền sẽ chuyển giao cho bên nhận quyền một gói “quyền thương mại” để tiến hành kinh doanh một dịch vụ nhất định nhằm thu lợi nhuận Theo

đó, bên nhận quyền chào bán một dịch vụ dưới tên thương mại hoặc biểu tượng, nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền theo những chỉ dẫn của bên nhượng quyền nhằm đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống nhượng quyền thương mại

- Nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất:

Bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền một gói “quyền thương mại” cho bên nhận quyền được tiến hành sản xuất hàng hóa, sản phẩm theo đúng quy trình, tiêu chuẩn và được gắn tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, logo, biểu tượng do bên nhượng quyền làm chủ sở hữu Trong quá trình nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam, các bên nhượng quyền và nhận quyền sẽ tiến hành các hoạt động chuyển giao bí quyết sản xuất, công thức pha chế, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn sản phẩm… Loại hình nhượng quyền thương mại này thường thấy trong các ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm, đồ uống, mà trong đó bên nhượng quyền cung cấp các thành phẩm chủ yếu, nguyên liệu hoặc bí quyết kỹ thuật và cấp li-xăng quyền sử dụng các nhãn hiệu, tên thương mại và trong một số trường hợp là bí mật kinh doanh, sáng chế thuộc sở hữu của mình để bên nhận quyền chế biến, sản xuất và bán các sản phẩm Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại sản xuất thường gắn liền với nhượng quyền thương mại phân phối

- Nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối:

Trang 22

Bên nhận quyền được phép phân phối những hàng hóa, sản phẩm do bên nhượng quyền sản xuất hoặc kinh doanh dưới bảng hiệu của bên nhượng quyền

Hình thức này tương đối giống với hoạt động đại lý thương mại Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và hoạt động đại lý thương mại là trong hoạt động nhượng quyền thương mại, sau khi gia nhập hệ thống nhượng quyền, với tư cách pháp lý độc lập của mình, bên nhận quyền sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh, mặc dù hoạt động kinh doanh này được cấu thành chủ yếu bởi hàng hóa, sản phẩm và tên thương mại của một thương nhân khác (bên nhượng quyền)

Trong thực tiễn, chúng ta có thể bắt gặp các hình thức nhượng quyền thương mại độc lập trong từng lĩnh vực sản xuất, phân phối hoặc dịch vụ Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, các hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại có quan hệ chặt chẽ với nhau, chẳng hạn như một hình thức nhượng quyền thương mại có thể kết hợp cả nhượng quyền sản xuất và nhượng quyền phân phối, hoặc nhượng quyền sản xuất và nhượng quyền dịch vụ

1.2 Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Theo nghĩa rộng, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại

của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam bao gồm các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Các quan hệ phát sinh trong suốt quá trình nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm nhiều nhóm Cụ thể, đó là các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài nhằm quản lý hoạt động đầu tư bằng phương thức nhượng quyền thương mại; mối quan hệ giữa các thương nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa thương nhân nước ngoài và thương nhân Việt Nam để hợp tác kinh doanh trên cùng một

“quyền thương mại”; các quan hệ phát sinh trong nội bộ của các thương nhân trong suốt quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại; mối quan

Trang 23

hệ giữa các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền thương mại và các khách hàng của hệ thống nhượng quyền thương mại đó Như vậy, theo nghĩa rộng, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Với cách hiểu này, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chỉ bao gồm hệ thống pháp luật thương mại mà còn bao gồm các quy định trong các văn bản pháp luật khác như: luật dân sự, luật đất đai, luật hành chính, luật sở hữu trí tuệ, luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,… Như vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo nghĩa rộng là tổng hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các bên tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Theo nghĩa hẹp, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại

của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là các quy phạm pháp luật cụ thể do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh trực tiếp các quan hệ phát sinh trong quá trình nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Cụ thể, đó là các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chuẩn bị, đầu tư, ký kết hợp đồng, đăng ký, tiến hành nhượng quyền thương mại… Với cách hiểu này, pháp luật về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các quy định cụ thể với một hoạt động thương mại độc lập, đặc thù, đó là hoạt động nhượng quyền thương mại được tiến hành bởi nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng và chịu sự chi phối của pháp luật nhượng quyền thương mại nói riêng và pháp luật thương mại nói chung Pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoai tại Việt Nam chính là sự phát triển cụ thể hơn so với nền tảng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung Theo nghĩa hẹp, nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng

Trang 24

quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm: (i) nhóm quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; (ii) nhóm quy định về phương thức và phạm vi đầu tư trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; (iii) nhóm quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam; (iv) nhóm quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; (v) nhóm quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong mối quan hệ với pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm những bộ phận sau:

Thứ nhất là nhóm quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hoạt động nhượng quyền thương

mại bao gồm hai chủ thể chính là bên nhượng quyền và bên nhận quyền Nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư thông qua phương thức nhượng quyền thương mại có thể ở vị trí là bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền Nhóm các quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định cụ thể các đối tượng nước ngoài được phép tiến hành đầu tư thông qua phương thức nhượng quyền tại Việt Nam Nhóm quy định này nêu rõ các đặc điểm pháp lý, năng lực chủ thể cũng như các điều kiện

mà nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng để có thể thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Theo đó, nếu nhà đầu tư nước ngoài là bên nhượng quyền phải đáp ứng các điều kiện về sự trải nghiệm thực tế của “quyền thương mại” như thời gian hoạt động, hệ thống cơ sở kinh doanh, năng lực tài chính…; còn bên nhận quyền phải đáp ứng các điều kiện phải tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định có thể đáp ứng yêu cầu của hoạt động nhượng quyền thương mại, phải đáp ứng yêu cầu thực hiện ngành nghề kinh doanh dự kiến nhận quyền… Nhìn chung, các quy định cụ thể về đối tượng, năng lực chủ thể, các điều kiện cần đáp ứng đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động

Trang 25

nhượng quyền thương mại tại Việt Nam là căn cứ để xác định các chủ thể đầu tư bằng phương thức nhượng quyền, giúp cho quá trình quản lý và thực thi hoạt động này đạt hiệu quả Nhà đầu tư nước ngoài vốn là một chủ thể có nhiều đặc điểm pháp lý phức tạp nên việc quy định cụ thể các điều kiện đối với đối tượng này trong hoạt động nhượng quyền là căn cứ để thẩm tra và xác định chính xác những chủ thể đủ khả năng tiến hành nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Thứ hai là nhóm quy định về phương thức và phạm vi đầu tư trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhóm

quy định này được thể hiện chủ yếu trong Biểu cam kết gia nhập WTO, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn các luật trên Nhóm quy định về phương thức đầu tư quy định những cách thức nhà đầu

tư nước ngoài có thể lựa chọn và sử dụng để thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Các hình thức hiện diện thương mại và lộ trình mở cửa đối với từng hình thức hiện diện cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam được quy định rất rõ trong biểu cam kết gia nhập WTO và cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành Các hình thức hiện diện thương mại quy định cụ thể về đặc điểm pháp lý, lộ trình mở cửa tại Việt Nam, cơ cấu tổ chức và phương thức hợp tác giữa các thương nhân… sẽ là căn cứ cho các nhà đầu tư nước ngoài xem xét và quyết định lựa chọn khi đầu tư bằng phương thức nhượng quyền thương mại Đồng thời các quy định về phạm vi đầu tư chỉ rõ các lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ cụ thể nhà đầu

tư nước ngoài được phép tiến hành nhượng quyền tại Việt Nam Đi kèm với các lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ này là các quy định về ưu đãi đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động nhượng quyền Đồng thời, các quy định này giúp các

cơ quan quản lý và kiểm soát việc nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài đối với các hàng hóa, dịch vụ quan trọng hoặc nhạy cảm đối với nền kinh tế đất nước Các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để các nhà đầu

tư nước ngoài có thể tiến hành các hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Thứ ba là nhóm quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhóm quy định này đưa ra khái niệm về hợp

Trang 26

đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của loại hợp đồng này Đây chính là cơ sở để phân biệt loại hợp đồng này với các hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng và các hợp đồng thương mại nói chung Thông qua khái niệm pháp lý cơ bản về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các mối quan hệ cơ bản nhất giữa các chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại đặc thù này cũng được nhận diện, từ đó các bên trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại, các bên thứ ba, cơ quan quản lý Nhà nước

có thể kiểm soát được các bước tiến hành hợp đồng nhượng quyền thương mại gắn với trách nhiệm pháp lý của mỗi bên Bên cạnh đó, nhóm quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng đưa ra các yêu cầu có tính chất bắt buộc để hợp đồng có giá trị pháp lý trên thực

tế như các điều kiện về năng lực chủ thể, các điều kiện về hình thức hợp đồng

Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ nhượng quyền thương mại cũng được quy định cụ thể Với lợi thế của chủ sở hữu

“quyền thương mại” trong quan hệ nhượng quyền thương mại có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bên nhượng quyền luôn có ưu thế hơn khi thỏa thuận thiết lập mối quan hệ cũng như trong quá trình thực hiện mối quan hệ với bên nhận quyền Điều đó dễ dẫn tới sự lạm dụng và xu hướng độc quyền của bên nhượng quyền Chính vì vậy, việc pháp luật có các quy định điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại, đặc biệt là nghĩa vụ của bên nhượng quyền là cần thiết và tạo điều kiện cho hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển, đảm bảo quyền và lợi ích của cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền Những quy định về các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng được đề cập rõ ràng trong nội dung các quy định

về hợp đồng nhượng quyền thương mại Như vậy, có thể nói, pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là nội dung rất quan trọng trong tổng thể pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại

Trang 27

Thứ tư là nhóm quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhóm quy định này nêu rõ các trường hợp cần

phải tiến hành đăng ký nhượng quyền cũng như các trình tự, thủ tục, hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền giải quyết và quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Thông qua những thông tin đăng ký, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thẩm tra và có căn cứ để quyết định thương nhân có đủ khả năng để hoạt động nhượng quyền thương mại hay không đồng thời quản lý hoạt động này Tính rõ ràng, minh bạch và thuận tiện, chính xác của các quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại cũng góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Thứ năm là nhóm quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hoạt động

nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một hoạt động thương mại đặc thù Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại này có quan hệ chặt chẽ với pháp luật sở hữu trí tuệ “Quyền thương mại” là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại có sự tham gia của nhà đầu

tư nước ngoài là một khái niệm khá phức tạp Đó không đơn giản chỉ là phép cộng của các quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu trí tuệ như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh Đó phải là sự kết hợp toàn vẹn, tạo nên một “gói” các quyền không thể tách rời nhau để bên nhượng quyền có thể chuyển cho bên nhận quyền nhằm thực hiện các công việc kinh doanh dựa trên việc khai thác “quyền thương mại”

Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam luôn có quan hệ chặt chẽ với các chế định pháp luật sở hữu trí tuệ Trong chừng mực nhất định, pháp luật sở hữu trí tuệ giúp cho các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại có thể định dạng được những yếu tố cấu thành của “quyền thương mại” và nhận biết tính hợp pháp khi thực hiện việc chuyển giao các yếu tố đó từ bên nhượng quyền sang bên nhận

quyền thương mại

Trang 28

Thứ sáu là nhóm quy định liên quan đến cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong quan

hệ nhượng quyền thương mại có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, việc cùng sử dụng “quyền thương mại” của một chủ sở hữu để kinh doanh thu lợi nhuận đã làm cho quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trở nên khác biệt so với quan hệ mua bán hoặc cho thuê “quyền thương mại” khác

Tính chất này đòi hỏi sự bảo vệ tối đa đối với “quyền thương mại” do bên nhượng quyền xây dựng nên trước những rủi ro có thể xuất phát từ bên nhận quyền Bởi vậy, trong một chừng mực nhất định, pháp luật điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại cho phép bên nhượng quyền được đặt ra những yêu cầu nhất định hướng bên nhận quyền tới những thỏa thuận mang tính hạn chế cạnh tranh để có thể giảm thiểu rủi ro và hạn chế sự đổ vỡ của hệ thống nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, trong kinh doanh, sự hạn chế của một bên theo ý chí chủ quan của bên đó thì không bao giờ đủ Nếu sự sáng tạo của bên nhượng quyền hoặc của các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại đi quá giới hạn thì môi trường cạnh tranh sẽ không được bảo vệ và việc phá vỡ môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường Pháp luật cạnh tranh với các quy định cụ thể sẽ vạch ra các giới hạn

mà trong giới hạn đó, sự sáng tạo của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại đều được chấp nhận Có thể nói, những chế định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trong thị trường liên quan trong pháp luật cạnh tranh dành riêng cho hoạt động nhượng quyền thương mại có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại Nếu không có sự tham gia của các quy định của pháp luật cạnh tranh trong việc điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại thì hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, dẫn tới sự mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật thương mại

Trang 29

1.2.3 Ý nghĩa của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thứ nhất, đối với hệ thống pháp luật, pháp luật điều chỉnh hoạt động

nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng và hệ thống pháp luật thương mại nói chung Các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với các quy định về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam và pháp luật thương mại tạo nên một hệ thống pháp luật đa dạng nhưng vẫn thống nhất Ngoài ra, sự tương tác giữa các quy định điều chỉnh nhượng quyền thương mại của nhà đầu

tư nước ngoài với các quy định pháp luật về đầu tư, sở hữu trí tuệ và cạnh tranh cũng thúc đẩy sự hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật này Các quy định

về nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong mối quan hệ với các quy định về đầu tư, cụ thể là các quy định liên quan tới chủ thể đầu tư, hình thức, phạm vi đầu tư… sẽ tương tác và thúc đẩy sự hoàn thiện, thống nhất của các quy định này Cũng như vậy, các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của hoạt động nhượng quyền thương mại, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại được xây dựng trên nền tảng của các quy định về quyền tài sản trong các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại Các quy định này trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện nhóm quy định về quyền tài sản thương mại của hệ thống pháp luật dân sự và thương mại Mặt khác, các quy định liên quan đến vấn đề bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có có quan hệ chặt chẽ và tương tác với các quy định của pháp luật cạnh tranh Chính mối quan hệ và sự tương tác này sẽ giúp hoàn thiện các chế định pháp luật khác nhau trong hệ thống pháp luật thương mại, từ đó điều chỉnh hữu hiệu các quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại

Như vậy, sự tồn tại của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là sự tồn tại tất yếu Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu

Trang 30

tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng và hệ thống

pháp luật thương mại nói chung

Thứ hai, đối với thực tiễn nền kinh tế và đời sống xã hội, các quy định pháp

luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư của các

cá nhân, tổ chức nước ngoài khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Điều này thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy kinh tế nội địa phát triển với các phương thức kinh doanh mới

mẻ và hiệu quả cao Từ đó, nền kinh tế và đời sống xã hội có sự giao lưu sâu rộng với nền kinh tế thế giới và các yếu tố văn hóa nước ngoài

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng các quy định về chủ thể của hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2005 thì “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Bên cạnh đó, Luật thương mại 2005 cũng quy định chủ thể đầu tư

bằng hình thức nhượng quyền thương mại phải là thương nhân, tức là chủ thể của quan hệ nhượng quyền thương mại phải được thành lập và hoạt động hợp pháp, có thẩm quyền kinh doanh và có quyền hoạt động thương mại phù hợp với đối tượng được nhượng quyền Như vậy, chúng ta có thể hiểu nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam là các tổ chức kinh tế nước ngoài được thành lập hợp pháp, các cá nhân nước ngoài hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh hợp pháp bỏ vốn thực hiện hoạt động đầu tư bằng phương thức nhượng quyền thương mại tại Việt Nam để thu lợi nhuận Trong quan hệ nhượng quyền thương mại tồn tại hai chủ thể, đó là bên nhượng quyền và bên nhận quyền Nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam có thể đảm nhận vị trí là bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền Ngoài ra, trong quan hệ nhượng quyền có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài không chỉ dừng lại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, mà đôi khi trong quan hệ này còn có thể xuất hiện thêm bên nhận quyền thứ hai Theo đó, bên nhận quyền thứ hai là bên nhận lại quyền kinh doanh thương mại của bên nhượng quyền từ bên nhận quyền thứ nhất Trong trường hợp này, các bên lại phải có những thỏa thuận, ứng xử phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên, nhất là bên nhượng quyền Như vậy, dưới góc độ pháp luật bên nhượng quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại là thương nhân cấp quyền thương mại bao gồm cả bên nhượng quyền thứ nhất và bên nhượng lại quyền Bên nhận quyền là thương nhân nhận quyền thương mại để khai thác, kinh doanh, bao gồm cả bên nhận quyền thứ nhất (bên nhận quyền sơ cấp) và bên nhận quyền thứ hai (bên

Trang 32

nhận quyền thứ cấp) Theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP, chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại bao gồm: bên nhượng quyền, bên nhận quyền, bên nhượng quyền thứ cấp, bên nhận quyền sơ cấp, bên nhận quyền thứ cấp Theo đó, các cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam có thể là một trong các chủ thể nêu trên của hợp đồng nhượng quyền thương mại Theo các quy định về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại này thì hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể thực hiện dưới nhiều hình thức: ở hình thức cơ bản nhất, tồn tại các bên nhượng quyền và bên nhận quyền; ở hình thức phức tạp hơn, các bên nhận quyền sơ cấp có thể được thực hiện việc nhượng lại quyền thương mại cho các bên nhận quyền thứ cấp và trở thành bên nhượng quyền thứ cấp Quy định này đáp ứng tính đa dạng với rất nhiều biến thể mà hoạt động nhượng quyền thương mại chứa đựng

Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam cũng phải tuân thủ các quy định về điều kiện đối với chủ thể trong quan hệ nhượng quyền được quy định rõ trong Điều 5, Điều 6 Nghị định 35/2006/NĐ-CP Cụ thể, thương nhân nước ngoài ở vị trí là bên nhượng quyền phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện: (i) Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại; (ii) đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Bộ Công thương đối với hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài); (iii) hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại, không vi phạm quy định pháp luật Việt Nam, không thuộc các danh mục hàng hóa cấm nhượng quyền tại Việt Nam theo biểu cam kết WTO (không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, nếu thuộc danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật) Có thể thấy, điều kiện đặt ra đối với thương nhân nhượng quyền khá khắt khe và phức tạp, hầu hết những quy định này tập

Trang 33

trung vào khả năng tài chính, thời gian hoạt động, số lượng các cơ sở kinh doanh

đã có… Thực chất mục đích các yêu cầu khắt khe được đặt ra đối với bên nhượng quyền là để cho bên nhận quyền, ở một mức độ nhất định nào đó, tránh khỏi nguy cơ phải đối mặt với các rủi ro trong kinh doanh Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền bắt buộc phải có một hệ thống và

cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải nghiệm thị trường đủ để tạo ra một giá trị “quyền thương mại”

hợp lý và tạo niềm tin cho bên nhận quyền Với lợi thế có sẵn đó, trong quan hệ với bên nhận quyền, bên nhượng quyền sẽ nhận được một khoản phí nhượng quyền không nhỏ Do đó, pháp luật thương mại cần xây dựng được hệ thống các điều kiện cơ bản mà một doanh nghiệp nhượng quyền phải đáp ứng khi muốn kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại Những điều kiện về mặt pháp lý đối với bên nhượng quyền bao gồm: về hình thức doanh nghiệp tham gia ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại với tư cách là bên nhượng quyền đều phải là thương nhân Có nghĩa là, các đối tượng thuộc diện được trở thành bên nhượng quyền trong một hợp đồng nhượng quyền không giới hạn ở hình thức tồn tại của thương nhân, mà chỉ cần có dấu hiệu của một loại chủ thể đặc biệt được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại Bên cạnh đó, thời gian hoạt động của bên nhượng quyền trong lĩnh vực dự định sẽ nhượng quyền là một khoảng thời gian luật định Khoảng thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào cách nhìn của pháp luật từng nước về sự phức tạp và tính chứa đựng rủi ro của hoạt động nhượng quyền thương mại Quy định này chỉ mang tính chất dẫn đường, củng cố thêm niềm tin và hỗ trợ cho sự lựa chọn thông minh và an toàn của bên nhận quyền Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam thì bên nhượng quyền nước ngoài phải hoạt động kinh doanh hệ thống nhượng quyền ít nhất một năm ở bất kỳ quốc gia nào trước khi thực hiện việc nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Và bên nhận quyền thương mại thứ cấp chỉ có thể cấp lại quyền thương mại một khi đã hoạt động kinh doanh hệ thống được nhượng quyền tại Việt Nam ít nhất một năm Quy định này tương tự như quy định về nhượng quyền thương mại của Trung Quốc, nhưng quy định của Trung Quốc nghiêm ngặt hơn ở chỗ bên

Trang 34

nhượng quyền nước ngoài phải kinh doanh tối thiếu hai hệ thống nhượng quyền tại Trung Quốc từ một năm trở lên và không bị lỗ trước khi thực hiện nhượng quyền Các biện pháp trên chứng tỏ rằng luật pháp Việt Nam hướng đến bảo vệ doanh nghiệp trong nước thông qua việc bảo đảm rằng ít nhất doanh nghiệp trong nước cũng mua được một hệ thống kinh doanh đã qua trải nghiệm trên thị trường và có thể đánh giá khả năng sinh lợi và hoạt động của hệ thống kinh doanh đó Đồng thời, với tư cách là một lĩnh vực hoạt động thương mại mới mẻ, nhượng quyền thương mại phải được tạo mọi điều kiện để phát triển một cách tương đối tự do và nhanh chóng Vì vậy, quy định một khoảng thời gian ngắn để nhận biết giá trị “quyền thương mại” của bên nhượng quyền cũng là một trong những cách thức tiếp cận có ý nghĩa của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, đặt trong tương quan thực tế thì khoảng thời gian một năm theo quy định của pháp luật Việt Nam là tương đối ngắn Trong khoảng thời gian này, tên thương mại và các công nghệ đặc trưng của thương nhân không phải lúc nào cũng đã được hình thành một cách trọn vẹn

Trong khi đó, đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài ở vị trí là thương nhân nhận quyền thì điều kiện đối với chủ thể này dường như đơn giản hơn, cụ thể tại Điều 6 Nghị định 35/2006/NĐ-CP quy định thương nhân nhận quyền được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với đối tượng của quyền thương mại Tuy nhiên, thực tế để tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền phải có tư cách độc lập về mặt pháp lý, tài chính và đầu tư; đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra để thực hiện việc tham gia vào hệ thống nhượng quyền của bên nhượng quyền

Luật pháp cũng yêu cầu bên nhận quyền phải là bên có đủ khả năng tiến hành các hoạt động kinh doanh sau khi nhận quyền kinh doanh của bên nhượng quyền Cụ thể, bên nhận quyền thường phải đáp ứng các yêu cầu về ngành nghề kinh doanh, giấy phép kinh doanh, thậm chí là chứng chỉ hành nghề khi tham gia vào quan hệ nhượng quyền thương mại nhất định Thông thường, pháp luật thương mại của các nước đặt ra những yêu cầu nhất định đối với các đối tượng

sẽ trở thành bên nhận quyền trong quan hệ nhượng quyền thương mại Cụ thể, bên nhận quyền phải tồn tại dưới một tên thương mại riêng, xác định một tư

Trang 35

cách pháp lý hoàn toàn độc lập với bên nhượng quyền, mặc dù để bán hàng hóa

và cung ứng dịch vụ tới người tiêu dùng, bên nhận quyền phải sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng, nhận biết thương nhân, trong đó bao gồm cả tên thương mại của bên nhượng quyền Khi điều kiện này được đáp ứng, sự lạm dụng hợp đồng nhượng quyền thương mại vào các mục đích khác của doanh nghiệp như thuê mướn lao động mà không phải ký hợp đồng lao động và trả tiền bảo hiểm sẽ được ngăn chặn một cách hiệu quả nhất Ngoài ra, bên nhận quyền phải tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định Để đảm bảo cho hệ thống nhượng quyền có thể phát triển và không bị phá vỡ bởi bất kỳ một bên nhận quyền nào trong một loạt các bên nhận quyền đã ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, pháp luật một số nước quy định bên nhận quyền phải có đủ năng lực chủ thể mà một trong những dấu hiệu nhận biết chủ thể nhận quyền có đủ năng lực pháp lý, đó là chủ thể này phải tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp

Xét cho đến cùng, mức độ rủi ro của bên nhượng quyền khi tham gia ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại là khá cao Bên nhượng quyền sẽ có khả năng phải đối mặt với nguy cơ mất công nghệ, bí quyết kinh doanh, hứng chịu những tổn thất do sự đổ vỡ hệ thống nhượng quyền mà nguyên nhân chỉ xuất phát từ sự thất bại của một bên nhận quyền duy nhất Chính vì vậy, việc quy định những điều kiện nhất định đối với bên nhận quyền cũng chính là một trong những biện pháp hạn chế rủi ro cho bên nhượng quyền Pháp luật thương mại Việt Nam không quy định hình thức tồn tại cho bên nhận quyền

Nhìn chung, các quy định về chủ thể đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam đã khá chi tiết và đầy

đủ Tuy nhiên, nhóm quy định này vẫn tồn tại một số hạn chế khi quy định về các đối tượng chủ thể thuộc nhóm nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể, theo quy định

tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2005 thì “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Như vậy,

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập ở Việt Nam không nằm trong diện này Tuy nhiên, Quyết định 55/2009/QĐ-TTg ban hành ngày 15/04/2009 xác định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam lại quy định nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh

Trang 36

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam với tỷ lệ vốn của bên nước ngoài cao hơn 49% Sự không thống nhất này khiến một nhà đầu tư sử dụng một công ty con được thành lập tại Việt Nam để đầu tư tiếp vào một lĩnh vực bị hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết của WTO Như vậy việc xác định được công ty con này có phải chịu các hạn chế đó hay không sẽ khó khăn và không rõ ràng Ngoài ra, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài có hợp tác với nhà đầu tư trong nước để thành lập liên doanh hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam Sau đó, liên doanh này tiếp tục hợp tác với một liên doanh khác hoặc một nhà đầu tư nước ngoài khác thì tỷ lệ vốn giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất khó xác định khi không có quy định cụ thể về việc xác định tỷ lệ vốn góp trong trường hợp này Trong khi đó, khoản 4 Điều 29 của Luật Đầu tư lại quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên”, có vẻ phù hợp với định hướng của Quyết định 55 nhưng lại chưa hoàn toàn thể hiện đúng như vậy

Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư thì: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới Trong trường hợp này, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách như một nhà đầu tư nước ngoài độc lập nếu hợp tác với công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài khác hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để lập Doanh nghiệp tại Việt Nam Điều này khác biệt với quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư, cụ thể: Doanh nghiệp 100% vốn đầu

tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, tức là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có thể được coi như một doanh nghiệp Việt Nam (mà không được coi là nhà đầu tư nước ngoài) Xuất phát từ việc chưa xác định rõ ràng tư cách pháp lý của nhà đầu tư trong trường hợp trên, dẫn đến việc khó xác định tư cách chủ thể tham gia trong hoạt động nhượng quyền

Trang 37

2.2 Thực trạng các quy định về phương thức và phạm vi đầu tư nhượng

quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2.2.1 Các quy định về phương thức đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Theo biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngay sau khi gia nhập WTO (11/01/2007), Việt Nam cam kết mở cửa thị trường phân phối, trong đó có việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại với hai phương thức là: cung cấp qua biên giới và hiện diện thương mại tại Việt Nam (Các hình thức hiện diện bao gồm: Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài; Công ty liên doanh hoặc Chi nhánh tại Việt Nam)

Phương thức cung cấp qua biên giới là phương thức mà theo đó, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác Theo phương thức này, cả người cung cấp dịch vụ lẫn người tiêu dùng dịch vụ đều không di chuyển ra khỏi lãnh thổ nước mình Dịch vụ được cung cấp và tiêu thụ qua biên giới Đối với phương thức cung cấp qua biên giới, Việt Nam không hạn chế thương nhân nước ngoài tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại theo phương thức này Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng, cụ thể về phương thức cung cấp dịch vụ này dẫn đến việc thiếu hành lang pháp lý để nhà đầu tư nước ngoài thực thi trên thực tế

Phương thức hiện diện thương mại là phương thức mà theo đó, nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh… trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ Đối với phương thức hiện diện thương mại, Việt Nam cho phép thương nhân nước ngoài sẽ được phép thành lập liên doanh với tỷ lệ góp vốn của nước ngoài không vượt quá 49% trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Đến 01/01/2008, nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn vào công ty liên doanh với tỷ lệ bất kỳ và tới 01/01/2009 sẽ được quyền thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để hoạt động trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài còn được phép thành lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ

Trang 38

nhượng quyền thương mại từ ngày 01/01/2010, với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam Như vậy, tới thời điểm hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư bằng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam có thể thiết lập các hình thức hiện diện như: doanh nghiệp 100%

vốn nước ngoài, góp vốn vào công ty liên doanh với tỷ lệ bất kỳ và thành lập chi nhánh Các hình thức này đã tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam thông qua hoạt động nhượng quyền thương mại

Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập công ty 100% vốn đầu

tư nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn một trong các hình thức:

Trường hợp này công ty sẽ có hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu vốn

để thành lập công ty theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Khi đó, mỗi nhà đầu tư nước ngoài sở hữu một phần vốn trong công ty Do toàn bộ vốn đầu tư của các nhà đầu tư đều là vốn đầu tư nước ngoài nên công ty theo hình thức đầu tư này vẫn được coi là công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài.Theo quy định của pháp luật Đầu tư, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài và công ty liên doanh đều có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp 100%

vốn đầu tư nước ngoài mới như quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư Trong trường hợp này, doanh nghiệp 100%

vốn đầu tư nước ngoài có tư cách như một nhà đầu tư nước ngoài độc lập nếu hợp tác với công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài khác hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập Doanh nghiệp tại Việt Nam

Trường hợp thành lập doanh nghiệp liên doanh hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, tức là nhà đầu tư nước ngoài sẽ hợp tác với nhà đầu tư

Trang 39

Việt Nam để thành lập một doanh nghiệp mới với hình thức là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Nhà đầu tư nước ngoài

có thể lựa chọn đầu tư góp vốn không quá 49% vốn điều lệ hoặc góp trên 49%

vốn điều lệ Theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì:

“a) Trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có trên 49% vốn điều lệ là

sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc tham gia thành lập thì phải có

dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

b) Trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có không quá 49% vốn điều

lệ là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tham gia thành lập thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với

dự án đầu tư trong nước”

Thực tế trong trường hợp liên doanh, nếu nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng thủ tục thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì rất thuận lợi cho việc đăng ký danh mục ngành nghề kinh doanh bằng việc họ sẽ được quyền lựa chọn nhiều ngành nghề kinh doanh Tuy nhiên, trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập công ty liên doanh với thủ tục áp dụng là thủ tục đầu tư theo quy định của Luật đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài

sẽ bị hạn chế nhiều về lĩnh vực ngành nghề (không thể tự lựa chọn đăng ký số lượng và các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, thậm chí không cùng lĩnh vực kinh doanh) và số lượng ngành nghề đăng ký bị chi phối bởi quy mô tổng vốn đầu tư cũng như quá trình thẩm tra cấp phép đầu tư sẽ phức tạp và mất nhiều thời gian

Còn đối với việc thành lập Chi nhánh, chi nhánh là đơn vị trực thuộc của nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động theo ủy quyền và quyết định của nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên pháp luật chưa có quy định rõ về nội dung ủy quyền giữa công ty chủ sở hữu và chi nhánh trong hoạt động nhượng quyền thương mại

Điều này có thể dẫn tới việc khó khăn cho bên nhận quyền trong mối quan hệ

Trang 40

nhượng quyền với Chi nhánh của bên nhượng quyền, đặc biệt là việc xác định tư cách pháp lý của Chi nhánh trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh

từ hoạt động nhượng quyền thương mại

Như vậy, xuất phát từ đặc thù nguồn vốn đầu tư và quốc tịch của nhà đầu

tư, sẽ tồn tại các hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác nhau

Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc xác định chủ thể tham gia trong hoạt động nhượng quyền thương mại

2.2.2 Các quy định về phạm vi đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Theo quy định tại Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài được tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại cho tất cả các mặt hàng, ngoại trừ các mặt hàng thuộc danh mục các mặt hàng hạn chế lâu dài bao gồm: thuốc lá và xì gà, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ và dầu đã qua chế biến, gạo, đường mía và đường củ cải Đây là các mặt hàng nhạy cảm mà Chính phủ Việt Nam chưa có ý định cho nước ngoài tham gia phân phối tại Việt Nam

Phạm vi đầu tư này cũng đã thể hiện rõ sự khác biệt giữa hoạt động nhượng quyền thương mại của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước Trong khi nhà đầu tư trong nước không bị hạn chế về phạm vi đầu tư tức là không bị hạn chế về các loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh thì nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép nhượng quyền thương mại theo các mặt hàng được biểu cam kết WTO quy định

Với những cam kết mở cửa tại Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, các thương nhân nước ngoài đã thực hiện hoạt động đầu tư thông qua nhượng quyền thương mại trên nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi cho phép Lĩnh vực thực phẩm, đồ uống là một trong các lĩnh vực được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn và hoạt động sôi động nhất Thông qua phương thức nhượng quyền thương mại, các tập đoàn thức ăn nhanh nổi tiếng nước ngoài đã

có mặt tại Việt Nam Có thể điểm qua là thương hiệu Lotteria thuộc Tập Đoàn Lotteria của Hàn Quốc, KFC, Pizza Hut thuộc tập đoàn Yum! của Mỹ… Sự kiện Burger King, tập đoàn thức ăn nhanh (fastfood) của Mỹ, khai trương cửa hàng

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm