1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

72 534 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nếu các hoạt động tố tụng không thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS quy định ở giai đoạn này, rất có thể tội phạm sẽ bị bỏ lọt hoặc lợi ích hợp pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn

Hà Nội - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các cố liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Văn Thực

Trang 3

1.2 Cở sở, ý nghĩa của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 18

2.1 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 18

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 18 2.1.2 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 22

2.2 Quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32

Trang 4

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN

VỤ ÁN HÌNH SỰ 33

3.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 33

3.1.1 Những kết quả đạt được 33

3.1.2 Những tồn tại, hạn chế 38

3.1.3 Nguyên nhân những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 41

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 48

3.2.1 Giải pháp lập pháp 48

3.2.2 Các giải pháp khác 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 62

Trang 5

BLHS: Bộ luật hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

KSHĐTP: Kiểm sát hoạt động tƣ pháp KSV: Kiểm sát viên

KTVAHS: Khởi tố vụ án hình sự

QĐKTVA: Quyết định khởi tố vụ án THQCT: Thực hành quyền công tố TTHS: Tố tụng hình sự

VKS: Viện kiểm sát

Trang 6

Số hiệu

bảng

3.1 Số vụ án VKS trực tiếp khởi tố và yêu cầu CQĐT khởi tố 34

3.2 Số vụ án VKS hủy quyết định khởi tố và không khởi tố của

CQĐT

35

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tố tụng hình sự (TTHS), khởi tố vụ án hình sự (KTVAHS) là giai đoạn đầu tiên có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Giai đoạn này có nhiệm vụ xác định có sự việc xảy ra hay không, nếu xảy ra thì có hay không dấu hiệu của tội phạm để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, nhằm xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ Kết thúc giai đoạn này, khi đã khởi tố vụ án Cơ quan điều tra (CQĐT) được tiến hành các biện pháp điều tra, kể cả các biện pháp cưỡng chế tố tụng để nhanh chóng phát hiện tội phạm và người phạm tội Vì vậy, nếu các hoạt động tố tụng không thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định ở giai đoạn này, rất có thể tội phạm sẽ bị bỏ lọt hoặc lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm, làm oan sai người vô tội… Là cơ quan tư pháp có chức năng thực hành quyền công tố (THQCT)

và kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP) nên Viện kiểm sát (VKS) có vị trí vô cùng quan trọng trong giai đoạn khởi tố Trong các cơ quan tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát

là cơ quan tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Nghị quyết số 08/NQTW

ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt

chức năng công tố và kiểm sát việc tuân Theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình" [04]

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 08 – NQ/TW, ngày 02/6/2005, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 49 – NQ/ TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [05] Theo đó, VKS tập trung vào chức năng công tố, nghiên cứu việc chuyển VKS thành Viện công tố, tăng cường hơn nữa vai trò của VKS đối với

Trang 8

hoạt động điều tra Cùng với đó trong thời gian qua Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKS năm

2002 và BLTTHS năm 2003 nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và VKS nói riêng Các văn bản pháp luật trên có nhiều quy định mới liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKS Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định của luật góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS Từ lý do trên, tác

giả quyết định chọn đề tài: “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong khởi tố

vụ án hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này, qua nghiên cứu tìm hiểu cho thấy, các công trình khoa học tập trung nghiên cứu theo những khía cạnh sau:

Nghiên cứu chung về việc đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân

dân Điển hình như: Nguyễn Minh Đức: “Về chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát

theo tinh thần cải cách tư pháp”, (Tạp chí chuyên ngành), 2006, Hà nội; Lê Hữu Thể,

“Tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp” (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2008; Khuất Duy Nga: “Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kì đổi mới” (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2005: Đỗ Văn

Dương: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

(Tạp chí chuyên ngành)…

Nghiên cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố trên một số lĩnh vực cụ

thể, như: Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp trong giai đoạn điều tra (Sách tham khảo), Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2005; Phạm

Mạnh Hùng: Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về quan hệ giữa

Viện kiểm sát và cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự (Tạp chí chuyên ngành) 2007,

Hà Nội…

Một số công trình nghiên cứu về VKS trong giai đoạn khởi tố như: “Kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự”, Luận văn

thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thành Trì, năm 1996; “Chức năng của Viện kiểm sát trong

Trang 9

tố tụng hình sự”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Võ Phước Long thực hiện năm 2007;

“Kiểm sát hoạt động khởi tố và điều tra vụ án hình sự”…

Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của VKS nhân dân nói chung và một số công trình, bài viết nghiên

cứu về chức năng hoạt động của VKS trên một số lĩnh vực cụ thể Về vấn đề: “Nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự”

có một số công trình đề cập đến nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện hoặc chưa nghiên cứu dưới góc độ coi khởi tố vụ án là một giai đoạn

tố tụng độc lập mà vẫn gắn liền với giai đoạn điều tra Hơn nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp luật đã được sửa đổi,

bổ sung với nhiều quy định mới Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể

và toàn diện hơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật và thực trạng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về cải cách tư

pháp

Trang 10

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như Lý luận- thực tiễn, lịch

sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, logic, điều tra xã hội học… nhằm giải quyết mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

5.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cùng với việc làm rõ vấn đề quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, những quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; đánh giá thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn này, luận văn đưa

ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của VKS trong giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự

5.2 Nhiệm vụ của đề tài

Với mục đích trên, đề tài tập trung làm rõ các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề chung như: khái niệm về: nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát và vấn đề thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

- Nghiên cứu một cách khái quát những quy định của pháp luật TTHS và những văn bản pháp luật có liên quan về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

- Phân tích những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

6 Đóng góp khoa học của đề tài

- Thứ nhất, đề tài góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức về nhiệm vụ, quyền

hạn, trách nhiệm của VKS cùng với vấn đề về thực hành quyền công tố và kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trang 11

- Thứ hai, với việc đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật TTHS về

nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự,

đề tài đã giải quyết được những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện những quy định của pháp luật trên thực tế

- Thứ ba, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu để nghiên cứu,

giảng dạy trong nhà trường và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học khi nghiên cứu những vấn đề có liên quan

7 Cơ cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm

3 chương:

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Trang 12

1.1.1 Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trước tiên, cần xác định KTVAHS không phải là hành vi tố tụng mà là một giai đoạn tố tụng bắt đầu từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận những thông tin về tội phạm, kiểm tra xác minh các thông tin đó, kết thúc khi xử lý nguồn tin, ra các quyết định phù hợp theo quy định của pháp luật tố tụng Trong trường hợp xác định có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án, nếu xác định không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Do vậy, KTVAHS được coi là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng vụ án hình sự

Đến nay, trong lý luận, quan niệm KTVAHS có cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều thừa nhận đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng Từ điển Bách khoa Việt

Nam giải thích, “Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của Cơ quan điều tra, kiểm sát

hoặc xét xử, ra quyết định khởi tố vụ án khi xác định có dấu hiệu tội phạm và đó là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự” [51, tr 352] Còn Từ điển Luật học thì

cho rằng, “Khởi tố vụ án hình sự là khi nhận được tin báo về một vụ việc nào đó, cơ

quan Công an hoặc Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin Chỉ sau khi có dấu hiệu tội phạm thì mới được quyết định khởi tố

vụ án” [52, tr 254] Theo sách Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội

và Hội đồng nhân dân, “Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động tố tụng hình sự do cơ quan

có thẩm quyền tiến hành sau khi đã xác minh một sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự” [15,

tr167] Còn Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì giải thích: “Khởi tố vụ

án hình sự là hoạt động tố tụng hình sự do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành sau khi đã xác định một sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự” [02, tr685] Giáo trình luật tố tụng hình sự

Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội thì đưa ra khái niệm “Khởi tố vụ án hình

Trang 13

sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định

có hay không dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án’’ [31, tr 235]

Mặc dù có các cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể thống nhất: KTVAHS là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra, xác minh những tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Do vậy, có

thể khái niệm về KTVAHS như sau: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của

Tố tụng hình sự trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định một sự việc có dấu hiệu của tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án làm căn cứ tiến hành điều tra

Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự như sau:

Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn TTHS đầu tiên, có thời hạn được

xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn KTVAHS chỉ xác định có hay không

có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố,

ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm Lâm, Hải quan, Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng trong giai

đoạn KTVAHS bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; thu thập dấu

Trang 14

vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm Bên cạnh đó hoạt động khám nghiệm hiện trường có thể được tiến hành trước khi KTVA (về nguyên tắc, các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành khi đã có quyết định khởi tố vụ án)

Toàn bộ những vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án hình sự được quy định từ Điều

100 đến Điều 109 của BLTTHS năm 2003, theo đó trình tự khởi tố vụ án hình sự được thực hiện qua các bước:

- Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Nhiệm vụ giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định

cụ thể tại điều 103 BLTTHS năm 2003: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách

nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức

và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền” Cơ quan điều tra và

VKS là những cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do cá nhân, cơ quan, tổ chức chuyển đến

Viện kiểm sát khi tiếp nhận các tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay hồ sơ kèm theo các tài liệu liên quan đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành xác minh Cơ quan điều tra là đầu mối quản lý toàn bộ các tố giác, tin báo về tội phạm (nguồn đề khởi tố)

- Kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm

Thời hạn và nhiệm vụ kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm được quy định tại điều 103 BLTTHS năm 2003 Theo quy định của luật thì chỉ có CQĐT mới được xác minh, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong thời hạn 20 ngày, trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng, CQĐT có nhiệm vụ khẩn trương chủ động áp dụng các biện pháp do luật định để xác minh kiểm tra nguồn tin, xem xét có hay không dấu hiệu của tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

Trang 15

- Quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là căn cứ pháp lý để CQĐT tiến hành những biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật Quyết định khởi tố vụ án hình sự được

quy định cụ thể tại điều 104 BLHS năm 2003 khi có căn cứ cụ thể quy định tại Điều

100 BLTTHS năm 2003 [31, tr 154], [31, tr 463]

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định nguồn thông tin về tội phạm hoặc sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự Các trường hợp được sử dụng làm căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được quy

định tại điều 107 BLHS năm 2003 Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

bao gồm: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác

1.1.2 Khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trong khoa học pháp lí, thẩm quyền, nhiệm vụ và nghĩa vụ là các khái niệm khác nhau Thẩm quyền là “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các

cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định” [52, tr 459] Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động) Nghĩa vụ là việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực hiện hoặc không được thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật Còn nhiệm

vụ là công việc phải làm, phải gánh vác [49, tr 1251] Theo cách giải nghĩa này thì

nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện

Tuy nhiên, khi nói đến nhiệm vụ người ta thường nói đến công việc phải thực hiện của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định Cùng một chủ thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm

Trang 16

vụ khác nhau Quyền hạn được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ ho phép [49, tr

1384] Dưới góc độ pháp lí, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [52] Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể Trong khoa học pháp lí, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước hoặc của người

có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ của cá nhân người có thẩm quyền của cơ quan tổ chức đó

Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan VKS là những hoạt động, những quyền năng pháp lí cụ thể của VKS trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng của ngành mình để cùng thực hiện chức năng chung của cả bộ máy Nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật Theo quy định tại Điều 23 BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện cả hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt đông tư pháp nhằm đảm bảo cho việc ra quyết định khởi tố, không ra quyết định khởi tố được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm Như vậy, có thể đưa ra khái niệm:

Nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hệ thống những hoạt động mà Viện kiểm sát phải tiến hành, các hoạt động này được pháp luật quy định nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động

tư pháp để đảm bảo cho việc khởi tố hoặc không khởi tố được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm

Quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hệ thống những quyền năng pháp lý được pháp luật quy định mà Viện kiểm sát được làm để thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, không khởi tố được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm

Có thể thấy, giữa “nhiệm vụ của Viện kiểm sát” và “quyền hạn của Viện kiểm sát” có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời Nhiệm vụ, bản thân nó

Trang 17

cũng đã chứa đựng quyền hạn Nhiệm vụ - quyền hạn tạo nên sự thống nhất trong trạng thái cân bằng do pháp luật quy định Khi pháp luật trao cho Viện kiểm sát một nhiệm vụ nào đó thì cũng sẽ trao cho cơ quan này những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ đó Ngược lại, nếu VKS có thể sử dụng quyền hạn trong một vụ án hình

sự cụ thể thì có nghĩa là cơ quan này đã được pháp luật trao cho nhiệm vụ giải quyết

vụ án đó và phải thực hiện đầy đủ nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác Trên thực tế không thể phân biệt hoạt động nào thể hiện nhiệm vụ của VKS và hoạt động

nào thể hiện quyền hạn của viện kiểm sát Ví dụ: theo quy định tại điểm a khoản 2

Điều 36 BLTTHS, Viện trưởng VKS có nhiệm vụ yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự Đây vừa là nhiệm vụ và cũng là quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự Mối quan hệ này không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà

cả trong hoạt động thực tiễn Nhận thức, sử dụng đúng quyền hạn theo nhiệm vụ, đúng đối tượng, đúng mục đích giúp cho VKS có sự vận dụng đồng bộ, tổng hợp, linh hoạt nhiệm vụ và quyền hạn qua đó phát huy tối đa hiệu quả hoạt động Có thể nói nhiệm

vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát là hai bộ phận không tách rời trong quy định về địa

vị pháp lý của Viện kiểm sát cũng như việc thực hiện các quy định này trong thực tiễn Việc thực hiện quyền cũng đồng thời là việc thực hiện nhiệm vụ của của Viện kiểm sát

và ngược lại

Trong thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu

theo hai nghĩa: Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận trước người khác, xã hội hoặc Nhà nước và được các quy phạm pháp luật quy định Thứ hai, trách nhiệm là hậu

quả bất lợi phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó Trong BLTTHS năm 2003 không quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát Tuy nhiên với tư cách là chủ thể những hoạt động của Viện kiểm sát, BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể về trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát và Kiểm sát viên (KSV):

“Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình”

“Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình”

Trang 18

Cùng với đó, theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 của Quốc hội thì VKS có trách nhiệm bồi thường khi gây ra các thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần cho cá nhân, tổ chức trong thi thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình Như vậy, “trách nhiệm của VKS trong tố tụng hình sự” được hiểu theo nghĩa thứ hai Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Khi có vi phạm và sai sót trong giai đoạn này thì Viện kiểm sát có trách nhiệm bồi thường, các

cá nhân với tư cách là chủ thể tiến hành các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát có liên quan tùy theo tính chất và mức độ mà bị xử lý kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy:

Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là những hậu quả (bất lợi) mà Viện kiểm sát phải gánh chịu theo quy định của pháp luật khi thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

1.2 Cở sở, ý nghĩa của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ Hiến pháp năm 2013 thì Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua cơ quan đại diện dân cử Bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, quyền lực Nhà nước thống nhất nhưng trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Mỗi cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định chức năng nhất định để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được Hiến pháp quy định hai chức năng: Thực hành quyền công

tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp

“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định." (Điều 107 Hiến pháp năm 2013)

Trang 19

“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực

hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp

luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp theo quy định của pháp luật.” (Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

2002)

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật (Điều 23 BLTTHS năm 2003)

Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình

cứ, công minh và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự [03] Theo nội dung này, tác giả coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố

Quan điểm thứ hai thì cho rằng: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc

Trang 20

về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác minh tội phạm và người phạm tội Trên

cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [35, tr 40] Bên cạnh đó còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố[23, tr 18-19], [24, tr 24], [35], tuy nhiên tác giả luận văn thấy quan điểm hai là tương đối hợp lý vì đã thể hiện được đầy đủ nội dung của quyền công tố, quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, điều này được thể hiện rõ tại Điều 137 Hiến pháp năm 2013 và Điều 23 BLTTHS năm 2003 Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, VKS phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác minh tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa

Như vậy, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị

Việc tiến hành những biện pháp do luật định được Nhà nước giao trách nhiệm thực hiện các biện pháp pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là thực hành quyền công tố: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Quan điểm của tác giả luận văn về cơ bản là nhất trí với nội dung trên nhưng cần

bổ sung thêm như sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, bởi vì khởi tố là một giai đoạn tố tụng độc lập, hoạt động thực hành quyền công tố phải được tiến hành ngay khi có sự việc phạm tội xảy ra

Nội dung thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án bao gồm các nhiệm vụ, quyên hạn để phát động quyền công tố – khởi tố vụ án và một số hoạt động khác

Trang 21

- Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự

Để làm rõ vấn đề này, trước tiên ta phải hiểu thế nào là “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự” Theo tác giả luận văn thì có thể đi đến nhận thức vấn đề, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong KTVAHS là hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự có đối tượng là hành vi xử sự của các cơ quan có thẩm quyền KTVAHS được pháp luật quy định, nhằm bảo đảm cho việc khởi tố vụ án được nhanh chóng, kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật

Nội dung của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án là những biện pháp mà VKS không trực tiếp ra quyết định, qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các

vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án thì kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu bổ sung, khắc phục

Các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS được tiến hành trước khi khởi tố vụ án như: Kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của CQĐT nhằm đảm bảo mọi hoạt động này được thực thi đúng trình tự, thủ tục luật định

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn KTVAHS của VKS tiếp tục được thể hiện qua hoạt động kiểm sát việc KTVAHS, quyết định không KTVAHS; kiểm sát việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định KTVAHS của Cơ quan điều tra

Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS có các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và quyền yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm của chủ thể tiến hành các hoạt động tư pháp hình sự trong giai đoạn khởi tố vụ án

Như vậy, xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà pháp luật trao cho cơ quan VKS những nhiệm vụ, quyên hạn cụ thể để thực hiện chức năng của mình Cùng với

đó, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện không đúng, không đầy đủ chức năng được giao Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện chức năng thực hành quyền

Trang 22

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo việc khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nếu xảy ra sai sót, vi phạm thì phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là những nhiệm vụ then chốt để phát triển xã hội, một xã hội ổn định là một xã hội ít tội phạm Phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mọi công dân, tổ chức trong xã hội Trong công cuộc giữ gìn an ninh trật tự xã hội, vai trò của những đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tội phạm là vô cùng quan trọng Viện kiểm sát là cơ quan trực tiếp đấu tranh chống tội phạm Với những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự mà Nhà nước giao phó, là đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện xử lý, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo mọi hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

2 Trong giai đoạn KTVAHS, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hành

vi sử xự của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án Qua nghiên cứu một số vấn đề

lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự, tác giả luận văn đã xây dựng được khái niệm thế nào là “nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự”, qua

đó thấy được vai trò quan trọng của VKS trong công tác phòng, chống tội phạm.Những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà Nhà nước giao cho nhằm đảm bảo cho cơ quan Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS

3 Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong giai đoạn KTVAHS, VKS có quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi,

Trang 23

hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố vụ

án của các cơ quan khác có thẩm quyền Mọi quyết định khởi tố vụ án hình sự của các

cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ thực sự có hiệu lực sau khi đã được VKS xem xét, quyết định Bên cạnh đó Viện kiểm sát còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan

có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn KTVAHS, Viện kiểm sát được sử dụng tất cả quyền năng pháp lý do luật định để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố vụ án, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Tất cả những luận cứ nêu trên là cơ sở để đánh giá thực trạng của VKS trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam ở chương tiếp theo

Trang 24

Chương 2:

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM

SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án hình sự

Điều 36, 104 và 109 BLTTHS năm 2003 đều có quy định thống nhất là VKS ra quyết định KTVAHS trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan quy định tại khoản này và trong trường hợp HĐXX yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Như vậy, về thẩm quyền trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án của VKS theo quy định của BLTTHS năm 1988 rộng hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003 Theo

Điều 87 BLTTHS năm 1988 thì“khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều

tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự…” Điều đó dẫn tới việc

khởi tố vụ án bị chồng chéo, đồng thời làm giảm hiệu quả của công tác thực hành quyền công tố của VKS Khắc phục tình trạng trên, BLTTHS năm 2003 đã thu hẹp phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS Theo đó thì VKS chỉ được ra quyết định khởi

tố vụ án trong 2 trường hợp đó là: VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, HĐXX yêu cầu khởi tố vụ án VKS không chủ động phát hiện và khởi tố vụ án hình sự

Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, kháng nghị quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử

Thứ nhất: Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 quy định khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, VKS yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 36 So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể và rõ ràng hơn Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không quy định cụ

Trang 25

thể về thẩm quyền yêu cầu khởi tố vụ án của VKS nhưng theo hướng dẫn tại điểm 2 mục 2 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 19/05/1992 thì khi kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của CQĐT, VKS có quyền yêu cầu khởi tố hoặc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra Như vậy, so với các quy định của pháp luật trước đây thì quyền hạn của VKS bị giới hạn hơn rất nhiều

Thứ hai: VKS thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2003 quy định vấn đề này tại Điều 106 như sau: “Khi có căn cứ xác định

tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì CQĐT, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự” Còn BLTTHS năm 1988 không quy định về vấn đề này Như vậy để thấy

được sự đổi mới trong các quy định của pháp luật hiện hành xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ

án hình sự

Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì VKS có văn bản yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nếu CQĐT không nhất trí và rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này không có căn cứ thì VKS căn cứ theo khoản 5, Điều 112 của BLTTHS ra quyết định hủy bỏ

Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, VKS có văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong thời gian 24 giờ, kể từ khi ra quyết định phải gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 26

Việc quy định về thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đảm bảo cho việc khởi tố vụ án được chính xác phù hợp, hạn chế bỏ lọt tội phạm

Thứ ba: Kháng nghị quyết định khởi tố vụ án của HĐXX Đối với quyết định

khởi tố vụ án của HĐXX theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2003 và Điều 12 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC

ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng

đã ký) thì khi nhận được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của HĐXX, Kiểm sát viên thụ

lý vụ án tiến hành kiểm tra các tài liệu, chứng cứ và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền để xử lý như sau:

- Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án của HĐXX có căn cứ thì ra quyết định khởi tố

vụ án hình sự và chuyển ngay quyết định đó kèm theo tài liệu có liên quan đến CQĐT

có thẩm quyền để tiến hành điều tra;

- Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của HĐXX không có căn cứ thì ra quyết định không KTVAHS và gửi quyết định đó cho Toà án nơi HĐXX yêu cầu khởi tố

Thực hiện một số hoạt động khác

Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn nói trên, VKS còn có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Thứ nhất: VKS ra quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp

luật của CQĐT và các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố vụ án Kháng nghị Quyết định KTVAHS của Hội đồng xét xử

Khoản 2, Điều 109 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT nếu quyết định này không có căn cứ, theo quy định tại Khoản 5, Điều 112 BLTTHS 2003 và điểm 8 TTLT/05 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT – VKSTC – BCA – BQP ngày 07/09/2005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm

2003

Trang 27

Thứ hai: Đối với các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt người

trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ

Trong giai đoạn khởi tố vụ án những biện pháp ngăn chặn như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ là những biện pháp được tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong những trường hợp này, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS được pháp luật TTHS Việt Nam quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 81

và khoản 3 Điều 86 BLTTHS năm 2003

Thứ ba: Phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này Trong trường hợp cần thiết, VKS phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải

ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu VKS quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt

Thứ tư: Đối với việc tạm giữ:

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, biện pháp bắt khẩn cấp và tạm giữ trong giai đoạn KTVAHS được áp dụng nhiều hơn, bên cạnh đó biện pháp khám xét cũng có thể được áp dụng trước khi khởi tố vụ án Đối với hoạt động này VKS thực hiện hoạt động công tố thông qua việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh khám xét Điều

141 BLTTHS năm 2003 quy định như sau: “… Lệnh khám xét của những người được

quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành…”

Như vậy, theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam, VKS luôn là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quan trọng trong các biện pháp bắt, tạm giữ đảm

Trang 28

bảo được áp dụng đúng người, đúng pháp luật góp phần quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án

2.1.2 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong khởi tố vụ án hình sự được pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam điều chỉnh và được thể hiện cụ thể như sau:

- Kiểm sát việc tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm;

- Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự, thay đổi

bổ sung quyết định khởi tố vụ án; kiểm sát việc giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án của Tòa án và kiểm sát kháng nghị quyết định khởi tố của Tòa án

- Kiểm sát hoạt động bắt người trong trường hợp khẩn cấp, áp dụng biện pháp tạm giam, tạm giữ, khám xét

Kiểm sát việc tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố

Điều 103 BLTTHS năm 2003 đã quy định rõ ràng và đầy đủ nhiệm vụ giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS và CQĐT Điều 10 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều

tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày

02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caoTrần Quốc Vượng đẫ ký)

cũng đã quy định rất cụ thể vấn đề này Theo đó, khi kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, VKS tập trung kiểm sát các hoạt động sau:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công KSV tiếp nhận, quản lý đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan,

tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan Nhà nước chuyển đến

Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/08/2013 của Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thông, Viện kiếm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của BLHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo

06/2013/TTLT-BCA-về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội Biên phòng,

cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác trong lực

Trang 29

lượng công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư; công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú

- Kiểm sát viên khi được giao nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá sơ bộ bước đầu về tính chất của tố giác, tin báo đó để có phương pháp xử lý kịp thời, đúng pháp luật

+ Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm có tính khẩn cấp và yêu cầu đặt ra là cần phải khám nghiệm hiện trường hoặc cần ngăn chặn ngay hành vi phạm tội thì Kiểm sát viên được phân công phải tiến hành sơ vấn người báo tin để nhanh chóng nắm được thông tin ban đầu, báo cáo ngay với lãnh đạo để có biện pháp xử lý kịp thời

và thông báo với Cơ quan điều tra cùng cấp để phối hợp tổ chức bảo vệ hiện trường, tổ chức cấp cứu và lấy sinh cung (nếu nạn nhân sắp chết); truy bắt người thực hiện hành

vi phạm tội (nếu xác định được ngay sau khi sự việc xảy ra) và tiến hành khám nghiệm đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền …

+ Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp đến Viện kiểm sát cung cấp hoặc được gửi đến VKSND bằng đơn, thư, công văn thông qua bưu điện cũng như các tố giác, tin báo về tội phạm do VKS trực tiếp thu thập được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thì Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý; ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận; nội dung tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tên, tuổi và địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp; sau đó tiến hành phân tích đánh giá bước đầu về các thông tin, tài liệu đã thu thập được để báo cáo

và xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo đồng thời làm thủ tục chuyển cho CQĐT có thẩm

Trang 30

quyền để tiến hành thẩm tra, xác minh, đồng thời lập kế hoạch theo dõi, kiểm tra kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra

+ Đối với kiến nghị KTVAHS do cơ quan nhà nước chuyển đến thường kèm theo các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình kiểm tra, thanh tra cùng với bản kết luận về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm (hồ sơ thanh tra, kiểm tra) Trong trường hợp này, Kiểm sát viên được phân công phải tiến hành nghiên cứu, phân loại, đánh giá các tài liệu chứng cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy

ra để báo cáo với lãnh đạo Nếu có căn cứ xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm thì Kiểm sát viên làm báo cáo bằng văn bản đề nghị lãnh đạo ra quyết định chuyển toàn bộ hồ sơ cho CQĐT và yêu cầu KTVAHS Nếu qua nghiên cứu xác định chưa có

đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo với lãnh đạo làm thủ tục chuyển hồ sơ, tài liệu cho CQĐT để tiếp tục kiểm tra, xác minh thêm và giải quyết theo thẩm quyền

+ Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm xâm phạm các hoạt động tư pháp mà người thực hiện là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp thì sau khi tiếp nhận, Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo để chuyển ngay đến Cục điều tra hình sự thuộc VKSND tối cao thẩm tra, xác minh và giải quyết theo thẩm quyền

- Kiểm sát viên được phân công kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của CQĐT cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Kiểm sát viên phải kiểm tra quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đảm bảo hoạt động của Cơ quan điều tra theo đúng các quy định của pháp luật về trình

tự, thủ tục và thời hạn giải quyết; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục kịp thời hoặc báo cáo lãnh đạo ra văn bản kiến nghị Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 BLTTHS, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin; nếu xác định có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn

24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định đó kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp để tiến hành kiểm sát

Trang 31

- Hàng tuần, Kiểm sát viên yêu cầu CQĐT cùng cấp thông báo đầy đủ cho VKS các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà Cơ quan điều tra đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời Hiện nay, theo quy định tại điều

9 Thông tư liên tịch số 06/2013, sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu xác định thông tin đó là

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền của cơ quan thì trong thời hạn 3 ngày làm việc, Thủ trưởng CQĐT phải ra quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến VKS cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật Đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu tội phạm thì CQĐT ra quyết định khởi tố

vụ án hình sự và thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 BLTTHS năm 2003 Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của

cơ quan mình thì khẩn trương tiến hành kiểm tra, xác minh, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, phải thông báo ngay bằng văn bản cho VKS

có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan mình

Hàng tháng, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS cấp huyện, Lãnh đạo đơn

vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Cơ quan điều tra cùng cấp nắm số lượng, kết quả giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận; nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời hạn luật định thì yêu cầu Cơ quan điều tra nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

- Kiểm sát viên cần căn cứ vào quy định tại tiết c, điểm 7 Mục I Thông tư liên tịch số 01/2005 để tiến hành hoạt động kiểm sát Theo đó, “Cơ quan Công an có trách nhiệm thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm từ kết quả xử lý

Trang 32

những vụ vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của mình và chuyển kết quả tổng hợp thống

kê sang Viện kiểm sát cùng cấp, sau khi loại thống kê này được thực hiện”

Trên cơ sở kết quả của quá trình kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm đã thụ lý, CQĐT sẽ ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử

Hoạt động kiểm sát việc khởi tố của VKS bao gồm hai nội dung là kiểm tra có tính căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định vấn đề này cụ thể tại Điều 109 BLTTHS năm 2003

Tính có căn cứ của các quyết định tố tụng là một nội dung cơ bản mà hoạt động kiểm sát khởi tố hướng tới Thông qua hoạt động kiểm sát việc khởi tố nếu xét thấy quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì VKS có quyền quyết định hủy bỏ các quyết định nói trên

Nội dung quan trọng thứ hai mà VKS cẩn phải xem xét khi thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố là thẩm quyền ra quyết định KTVAHS; quyết định không KTVAHS, nội dung và hình thức của quyết định đó đã đúng theo quy định của BLTTHS chưa Nếu qua kiểm sát phát hiện có những vi phạm về thẩm quyền ra quyết định KTVAHS thì yêu cầu cơ quan ra quyết định đó có biện pháp khắc phục

Thứ nhất: Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự; việc thay đổi hoặc bổ sung

quyết định khởi tố vụ án hình sự;

- Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án để xem xét, xử lý

- Kiểm sát viên phải nghiên cứu các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, bao gồm: Các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các tài liệu

Trang 33

kèm theo do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét cùng các tài liệu, dấu vết, tang vật đã được phát hiện thu giữ (đối với các vụ án có khám nghiệm hiện trường); đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần theo quy định tại Điều 105 BLTTHS; biên bản

và kết quả giám định dấu vết, tang vật như dấu vết máu, dấu vết súng đạn, dấu vết đường vân; chất ma túy…; biên bản và kết quả giám định thương tật; biên bản và kết quả định giá tài sản; biên bản ghi lời khai của người bị hại, người làm chứng

- Đối với các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, xem xét quyết định khởi tố và các tài liệu có liên quan để xác định việc khởi tố vụ án hình sự có thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 105 BLTTHS hay không?

Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố thì Kiểm sát viên được cử phải báo cáo kết quả nghiên cứu với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét xử lý kịp thời

Thứ hai: Đối với quyết định khởi tố vụ án và yêu cầu khởi tố của HĐXX

Điều 108 BLTTHS năm 2003 quy định vấn đề này so với quy định tại điều 87 BLTTHS năm 1998 có những thay đổi, trong đó quy định thay thế “Tòa án” bằng “Hội đồng xét xử” và bổ sung quy định: “Yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố” như vậy theo quy định mới thì HĐXX có thẩm quyền tự mình khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố Điều này đã tạo ra sự linh hoạt cho HĐXX có hai phương án xử lý khi thông qua xét xử phát hiện được sự việc có dấu hiệu tội phạm

Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, yêu cầu khởi

tố của HĐXX, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ hay không có căn cứ pháp luật thì giải quyết theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2003, khoản 4 Điều

11 và khoản 2 Điều 12 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết

định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng đã ký)

Trang 34

Thời hạn để thực hiện các hoạt động này cũng là ba ngày làm việc kể từ khi nhận đƣợc các quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu khởi tố

Thực hiện hoạt động kiểm sát việc khởi tố, VKS sẽ loại trừ ngay từ đầu các vi phạm của CQĐT và yêu cầu khắc phục kịp thời để hạn chế việc khởi tố tràn lan không

có căn cứ rồi sau đó phải đình chỉ điều tra hoặc không khởi tố vụ án không có căn cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm

Thư ba: Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự:

BLTTHS năm 2003 đã quy định tại Điều 108 nhƣ sau:“Quyết định không khởi tố

vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định ” Đây là một tiến bọ rõ nét so với quy định tại BLTTHS năm 1998 Theo

đó, BLTTHS năm 1988 quy định không rõ ràng cơ sở pháp lý để VKS thực hiện chức năng kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT Dẫn đến tình trạng việc nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa cơ quan tiến hành tố tụng, CQĐT xuất phát từ nhận thức cho rằng chỉ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì CQĐT mới phải gửi quyết định đó cho VKS theo quy định tại khoản 3 Điều 87

BLTTHS năm 1998 là“ Trong thời hạn 24 giờ quyết định khởi tố vụ án hình sự của

CQĐT được gửi đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố”

Qua hoạt động kiểm sát, nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan đã khởi tố có căn cứ thì thông báo cho các cơ quan đó biết; nếu chƣa có căn cứ thì yêu cầu cơ quan này bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ Sao khi xem xét, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp hoặc không có căn cứ KTVAHS của CQĐT thì xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm

sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo

Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng đã ký)

Cũng theo đó thì thời hạn để thực hiện các hoạt động này là ba ngày làm việc kể

từ khi nhận đƣợc các quyết định của CQĐT hoặc cơ quan khác đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 35

Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và một số hoạt động khác

Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là những hoạt động điều tra nhằm xem xét, phát hiện và ghi nhận các dấu vết của tội phạm, thu thập vật chứng và làm sáng

tỏ các tình tiết liên quan đến vụ án trên hiện trường vụ án

Là những hoạt động điều tra nhưng rất nhiều trường hợp các hoạt động này được tiến hành trước khi khởi tố, bởi vì qua kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi mới lấy được cơ sở làm căn cứ xác định dấu hiệu của tội phạm để quyết định khởi tố vụ án hình sự

Với tính chất quan trọng của các hoạt động trên, pháp luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể về trình tự, thủ tục khám nghiệm, trong đó có quy định sự bắt buộc

tham gia của VKS, theo Khoản 2 Điều 125 và Điều 126 BLTTHS năm 1988 quy định:

“Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự Trước khi

tiến hành khám nghiệm, điều tra viên phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết ’’

“Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp biết ”

Khoản 2 Điều 150 và Điều 151 BLTTHS năm 2003 cũng quy định nội dung tương tự như vậy nhưng chặt chẽ hơn đó là Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi

VKS thực hiện hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, tử thi bảo đảm hoạt động này được tiến hành khách quan, toàn diện, đúng pháp luật và nắm rõ được các tình tiến liên quan đến vụ án ngay từ ban đầu khi tội phạm xảy ra để làm cơ sở cho hoạt động kiểm sát tiếp theo như kiểm sát khởi tố vụ án, kiểm sát khởi tố bị can… Bên cạnh đó, trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngoài hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi còn có một số hoạt động khác được tiến hành như bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám xét Việc kiểm sát thực hiện việc kiểm sát chặt chẽ tính có căn cứ và hợp pháp của các hoạt động trên kịp thời phát hiện vi phạm và yêu cầu CQĐT khắc phục, nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được pháp luật bảo vệ không bị xâm hại

Trang 36

2.2 Quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 36, 37 BLTTHS năm 2003, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát và Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi

và quyết định của mình Theo Điều 5 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 03/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04/10/2002 về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, trước pháp luật, tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà Kiểm sát viên có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Các hình thức kỷ luật có thể được áp dụng đối với Kiểm sát viên theo luật Cán bộ, công chức năm 2008 là: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Hạ bậc lương; d) Giáng chức; đ) Cách chức; e) Buộc thôi việc Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS với tư cách là các Kiểm sát viên giữ chức vụ lãnh đạo đều có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật nêu trên Bên cạnh đó, theo Điều 37 BLTTHS năm 2003 Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi

và quyết định của mình Trước viện trưởng, Kiểm sát viên có mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới; giữa người phân công nhiệm vụ và người được phân công nhiệm vụ Những hành vi vi phạm của Kiểm sát viên có thể là: không nhận nhiệm vụ được phân công; tuân thủ không đúng hoặc làm quá so với nhiệm vụ được phân công… Nói như vậy không có nghĩa là Kiểm sát viên phải tuân thủ cấp trên một cách tuyệt đối Trong trường hợp việc phân công nhiệm vụ của Viện trưởng là trái pháp luật thì Kiểm sát viên

có quyền từ chối và nếu Viện trưởng vẫn quyết định thì Kiểm sát viên phải chấp hành, nhưng Viện trưởng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; trong trường hợp này Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng cấp trên trực tiếp và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó

Trong BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì trong giai đoạn khởi tố

vụ án hình sự, Kiểm sát viên, Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó viện trưởng

có thể là một trong những chủ thể của nhóm tội xâm phạm các hoạt động tư pháp như: Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 297); Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296); “Tội dùng nhục hình” (Điều 298); “Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án” (Điều 300)… Các hành vi vi phạm pháp luật hình sự có thể là: làm sai lệch hồ sơ vụ án; ra các quyết định tố tụng trái pháp luật; Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ (Điều 302)…

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w