Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN QUỲNH HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI KIÊN ĐIỆN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Quỳnh Hoa
Trang 3NCTN Người chưa thành niên
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ
TỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
5
1.1 Một số vấn đề chung về người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 5 1.2 Khái niệm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng
đối với người chưa thành niên
11
1.3 Những yêu cầu và điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với
người chưa thành niên
31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ
TỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
41
2.1 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
41
2.2 Dự báo tình hình người chưa thành niên phạm tội và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tình cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời kỳ lịch sử, thế hệ trẻ là thế hệ tương lai của đất nước, là thế hệ kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là thế hệ làm chủ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Ở Việt Nam, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội, thế hệ trẻ luôn được tạo điều kiện để tu dưỡng, rèn luyện, phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ và đạo đức Trong công cuộc đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiêu thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng không thể phủ nhận những mặt tiêu cực vẫn còn bộc lộ ảnh hưởng đến sự phát triển chung như: số trẻ em thanh thiếu niên lang thang cơ nhỡ, bị lạm dụng sức lao động chưa có xu hướng giảm đang là vấn đề bức súc của toàn xã hội Đáng lưu ý là số
ít người trẻ hiện đang là đối tượng bị ảnh hưởng, tác động của các tệ nạn xã hội, trong
đó có một số bộ phận nhỏ không làm chủ được bản thân, có lối sống buông thả, không lành mạnh, có các hành vi vi phạm pháp luật hoặc phạm tội Theo số liệu thống kê, trung bình cứ 10 người phạm tội thì có 01 người là NCTN
Để đối mặt với tình trạng trên, toàn xã hội đang thực hiện nhiều giải pháp ngăn chặn tình trạng NCTN phạm tội gia tăng VKSND là một trong các cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự với chức năng nhiệm vụ là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà đại diện là Kiểm sát viên khi tham gia hoạt động tố tụng đối với những vụ án có bị can, bị cáo là NCTN thời gian qua đã có nhiều hình thức biện pháp nâng cao chất lượng công tác, đặc biệt là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, việc cụ thể hóa các giai đoạn của pháp luật trong hoạt động tố tụng được VNKSND rất quan tâm, nhất là những quyết định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự, vì thế công tác của VKSND trong những năm qua đã đạt nhiều kết quả đang khích lệ Vị thế của VKSND đã được nâng cao lên trong xã hội; góp phần nâng cao, niềm tin của xã hội, của người dân với chế độ xã hội nói chung và với các Cơ quan tư pháp nói reeng Tuy vậy, trong thực tế chất lượng, hiệu quả công tác của VKSND nói chung, của Kiểm sát viên nói riêng trong hoạt động tố tụng hình sự còn nhiều tồn tại yếu kém Số bị can phải đình chỉ điều tra, số bị cáo được Tòa án tuyên không phạm tội, tình trạng vi phạm tố tụng trong tạm giữ, tam giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xẻ, thi hành án vẫn còn xảy ra, thậm chí xảy
49-ra với cả những vụ án có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án là NCTN
Trang 6Nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát, nhất là góp phần vào việc nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện các quyết định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN cũng như việc nâng cao chất lượng thực hiện những quyết định đó, tôi lựa chọn đề tài:
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối
với người người chưa thành niên” để làm đề tài nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp
khóa học cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu
Đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta thời gian qua Đổi mới tổ chức
và hoạt động của VKSND, làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và cac nhà quản lý chỉ đạo thực tiễn
Đã có nhiều công trình khoa học, bài viết chuyên đề, … có liên quan về quyền hạn nhiệm vụ và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong TTHS có thể kể ra:
- Công trình đã in thành sách: Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2005; Dương Thanh Biểu: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư Pháp, Hà Nội,
2007
- Các đề tài khoa học cấp trường: Trường Đại học Luật Hà Nội, Lý Văn Quyền (chủ nhiệm): Tình hình phạm pháp về ma tuý do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Hà Nội, 2003; Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Cao Việt Cường (chủ nhiệm): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Kiểm sát viên trong công tác THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Hà Nội, 2013…
- Các luận án tiến sĩ: Đỗ Thị Phượng, “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2008; Lê Minh Thắng, “Đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011;…
- Các luận văn thạc sĩ: Nguyễn Trọng Nghĩa, “Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự”, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội,
Hà Nội, 2010; Hoàng Hải Yến, “Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, năm 2013; Trần Mạnh Đông, “Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội, 2009;…
- Bài báo: Bùi Thành Chung, “Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội”,
Trang 7khai-niem-toi-pham-do-nguoi-chua-thanh-nien-gay-ra -co-so-co-tin -394; Phạm Quốc Uy, “Khó khăn khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội”, http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/index.php/home/detail/780/Kho-khan-khi-ap-dung-bien-phap-ngan-chan-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-; …
http://www.pup.edu.vn/vi/Dien-dan-phap-luat/Khai-niem-nguoi-chua-thanh-nien-va-Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về thủ tục tố tụng đối với NCTN và về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng các vụ án hình
sự của các tác giả kể trên đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, các công trình khoa học và bài viết nêu trên mới chỉ đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong một phạm vi hạn chế, kết quả nghiên cứu của các công trình này cũng cho thấy, tuy là một chế định cơ bản về người tiến hành tố tụng trong luật tố tụng hình sự nhưng chế định Kiểm sát viên vẫn chưa được lưu tâm một cách thỏa đáng và còn chứa đựng rất nhiều tranh luận, đặc biệt là chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong các hoạt động tố tụng đối với NCTN Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể
và toàn diện hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV trong hoạt động tố tụng đối với NCTN nhằm đề xuất các kiến nghị lập pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đó
- Với mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ các khái niệm: NCTN, NCTN trong TTHS, đặc điểm tâm sinh lý của NCTN, tình hình NCTN phạm tội trong 5 năm trở lại đây;
+ Làm rõ những quy định trong pháp luật TTHS và những văn bản pháp luật có liên quan về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN;
+ Làm rõ thực trạng, thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người NCTN và đề xuất được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thể hiện những quy định đó trong thực tiễn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn là những quy định của pháp luật trong TTHS về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự đối với NCTN nhất là trong hoạt động tố tụng với người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, phạm nhân đang thi hành án là người NCTN trong cái giai đoạn TTHS khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Phạm vi nghiên cứu là những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN, trong các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và thực
Trang 8tiễn thi hành trong vòng 5 năm trở lại đây (từ năm 2009 đến năm 2013)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tử tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng pháp quyền xã hội chủ nghĩa về tội phạm và phòng chống tội phạm là NCTN trên địa bàn cả nước trong giai đoạn hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phân tích Luận văn còn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê hình sự,… để nghiên cứu Ngoài ra, để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập số liệu thống kê về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của một số cơ quan điều tra, Viện kiểm sát các cấp Những luận điểm khoa học trong luận văn của tác giả là được phát triển dựa trên các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý Việt Nam và của một số nước khác trong khu vực và trên thế giới
6 Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sỹ nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Với việc phân tích, lý giải và rút ra một số kết luận khoa học, đề tài góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV trong hoạt động tố tụng đối với NCTN được thống nhất Với việc đề xuất sửa đổi,
bổ sung một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV, đề tài giải quyết được những hạn chế, vướng mắc trong quy định và việc thực hiện những quy định của pháp luật Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm các sản phẩm khoa học về pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, có thể sử dụng làm tài liệu
để các nhà khoa học luật tố tụng hình sự tham khảo khi nghiên cứu những vấn đề có liên quan
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia là hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Trang 9CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
ĐỐI VỚI NCTN
1.1 Một số vấn đề chung về người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Trong tự nhiên, mọi sinh vật không ngừng phát triển và thay đổi Con người cũng vậy, từ khi sinh ra, cơ thể ngày một lớn lên, trí tuệ thêm sâu sắc, khoảng thời gian có sự phát triển nhảy vọt, đó là tuổi dậy thì Dậy thì bắt đầu từ khoảng 12 – 18 tuổi, đây là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang người lớn, là thời kỳ diễn ra những thay đổi lớn về thể chất lẫn tinh thần Những người trong lứa tuổi này được gọi là NCTN Đặc trưng của lứa tuổi này là tâm sinh lý chưa phát triển đầy đủ, dễ bị tổn thương và đang cần được giúp đỡ và hướng dẫn Khi NCTN xâm hại đến các quan hệ xã hội hoặc
bị xâm hại từ những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, tùy theo mức độ họ
sẽ bị xử lý hành chính hoặc phải trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật hình sự
và TTHS, tham gia quan hệ pháp đó, họ sẽ trở thành chủ thể của hoạt động TTHS - người tham gia tố tụng
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
NCTN là thuật ngữ được dùng trong nhiều ngành, lĩnh vực khoa học khác nhau Khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia
Dưới góc độ khoa học và thực tiễn, các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều có quan điểm chung thống nhất về việc xem xét, đánh giá con người theo quy luật phát triển từ thấp đến cao, từ người ít tuổi đến người cao tuổi, từ NCTN đến người đã thành niên Để định nghĩa như thế nào là NCTN thì các nhà khoa học cũng đã đưa ra nhiều quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: NCTN là người chưa đến tuổi trưởng thành [14, tr.1482, 1725] Những nhà khoa học theo quan điểm này cho rằng tuổi trưởng thành của con người là độ tuổi cụ thể được pháp luật quy định hoặc thừa nhận là người đã thành niên và đã có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Trái lại, người chưa đến tuổi trưởng thành là chưa thành niên - chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật Như vậy, theo quan điểm này thì quyền và nghĩa vụ công dân là cơ
sở pháp lý để phân biệt người thành niên với NCTN [23, tr.1530]
Quan điểm thứ hai cho rằng: NCTN là người chưa đủ 18 tuổi [19] Theo tác giả của quan điểm này thì dựa trên những quy định của pháp luật như BLHS, BLTTHS, BLTTDS, LTTHC, PL thủ tục giải quyết vụ án hành chính,… có thể thấy rằng: một là, khi tham gia tố tụng tại Tòa án, những người dưới 18 tuổi đều được coi là NCTN; hai
là, mặc dù NCTN cũng được phân chia thành các độ tuổi khác nhau nhưng sự phân chia này chỉ để xác định được tư cách tham gia tố tụng tại Tòa án, xác định được tội
Trang 10danh, xác định được có phải chịu TNHS hay không mà thôi Vì vậy, theo tác giả, định nghĩa NCTN chỉ cần là người chưa đủ 18 tuổi mà thôi
Quan điểm thứ ba cho rằng: NCTN là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người
đã thành niên [15] Những người theo quan điểm này đưa ra khái niệm về NCTN dựa trên việc nghiên cứu những quy định của hệ thống luật pháp quốc tế cũng như những quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của NCTN trong pháp luật Việt Nam Qua nghiên cứu cho thấy rằng độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 1992,
Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật TTHS năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân
sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác, nhìn chung tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi
và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể Ngoài ra, những người theo quan điểm này dựa trên những đặc điểm về NCTN đó là sự phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tâm – sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống , thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao mà những quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ trong những văn bản pháp luật nêu trên là chưa đầy đủ
Qua nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học, tôi thấy rằng, nhìn chung các nhà khoa học đều đồng tình là NCTN là người chưa đủ 18 tuổi, có đặc điểm tâm, sinh lý chưa phát triển một cách toàn diện Để định nghĩa được thế nào là NCTN, ta cần phải dựa trên những tiêu chí như: độ tuổi của NCTN, đặc trưng tâm, sinh lý, quyền
và nghĩa vụ pháp lý của NCTN Các quan điểm trên mặc dù đã phần nào khái quát được hình ảnh NCTN nhưng chưa thật sự đầy đủ Quan điểm thứ nhất chỉ đưa ra khái niệm chung chung đó là NCTN là người chưa đến tuổi trưởng thành, các nhà khoa học theo quan điểm này áp dụng từ ngữ Hán việt trong quá trình đưa ra khái niệm nhưng chưa giải thích được cụ thể như thế nào là tuổi trưởng thành nên chưa làm rõ độ tuổi cũng như những đặc trưng cơ bản về NCTN Quan điểm thứ hai mặc dù đã giới hạn được NCTN là những người dưới 18 tuổi nhưng cũng chưa nêu được đặc trưng tâm lý cũng như các quyền và nghĩa vụ luật định của họ Trong các quan điểm nêu trên, tôi đồng tình với quan điểm thứ ba bởi các nhà khoa học theo quan điểm này đã định nghĩa hầu như đầy đủ, khái niệm cho ta thấy hình ảnh về NCTN khá rõ nét
Từ những phân tích trên, theo tôi “NCTN là người chưa đủ 18 tuổi; chưa phát
triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý; chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên”
1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
TTHS là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án) TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan THTT; người THTT; người tham gia tố tụng; các cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác góp phần giải quyết vụ án hình sự [28, tr.9] Quá trình giải quyết vụ án
Trang 11hình sự là một quá trình liên tục, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng Theo quy định của BLTTHS 2003 thì các hoạt động TTHS bao gồm:
- Hoạt động của các cơ quan THTT trong vụ án hình sự: là hoạt động của các cơ quan: CQĐT, VKS, Toà án Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự
- Hoạt động của cơ quan THTT được thực hiện thông qua hoạt động của người THTT Người THTT là những công chức trong cơ quan THTT, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự
- Hoạt động của những người tham gia tố tụng: Bao gồm hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan THTT xác định
sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)
- BLTTHS còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của
cơ quan THTT Như vậy, trong một chừng mực nhất định, đây cũng là các hoạt động TTHS
Tất cả các hoạt động nêu trên đều phát sinh trong lĩnh vực TTHS nên có thể coi là các hoạt động TTHS nói chung
Như đã nêu ở trên, khi NCTN tham gia vào quan hệ TTHS nghĩa là họ đã trở thành chủ thể của hoạt động TTHS - người tham gia tố tụng Theo quy định tại chương
IV BLTTHS, người tham gia tố tụng bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch Do những đặc trưng về sự phát triển thể chất cũng như vấn đề về tâm sinh lý của NCTN có nhiều khác biệt so với đối tượng là người đã thành niên nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong khi tham gia hoạt động tố tụng và để thi hành đúng, thống nhất các quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là NCTN, VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ra Thông tư số 01/2011/ TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật TTHS đối với người tham gia tố tụng là NCTN Theo hướng dẫn tại Thông tư 01/2011 thì người tham gia tố tụng là NCTN chỉ bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại, người làm chứng [11] mà thôi
Trang 12Người bị hại là NCTN trong TTHS là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra khi chưa đủ 18 tuổi [20, tr.2] Theo quy định tại Điều 55 và các đặc điểm của NCTN ta có thể hiểu người làm chứng là NCTN trong TTHS là người có đầy đủ năng lực hành vi và có khả năng khai báo đúng đắn, biết được những tình tiết liên quan đến vụ án hình sự khi chưa đủ 18 tuổi Cả người bị hại và người làm chứng khi tham gia vào hoạt động tố tụng đều nhằm góp phần tìm ra sự thật vụ án, giúp các
cơ quan THTT điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật Tuy nhiên, như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên VKSND trong hoạt động tố tụng đối với người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN (sau đây gọi chung là NCTN phạm tội) nên không đi sâu tìm hiểu về người tham gia tố tụng là bị hại và nhân chứng là NCTN NCTN phạm tội theo quy định tại Điều 68 BLHS 1999 là những người đã thực hiện hành vi bị luật hình sự quy định là tội phạm từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi Ngoài ra, Điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) như sau:
"1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."
Như vậy, NCTN phạm tội chỉ bao gồm các đối tượng: người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi bị luật hình sự quy định là tội phạm, bất kể đó là loại tội phạm gì, được thực hiện với lỗi gì; người từ đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp người từ đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện tội phạm, nếu NCTN thực hiện hành
vi nguy hiểm bị luật hình sự quy định là tội phạm rất nghiêm trọng thì họ chỉ phải chịu TNHS khi tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý, còn nếu họ thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý thì không phải chịu TNHS Đối với trường hợp tội phạm mà những người ở độ tuổi này thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì họ phải chịu TNHS cho dù tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý
Như vậy có thể kết luận, NCTN phạm tội là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS đã thực hiện tội phạm được quy định trong BLHS khi chưa đủ 18 tuổi NCTN phạm tội thì bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bị bắt bao gồm người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã… Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự Bị cáo là người đã bị toà án quyết định đưa ra xét xử Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN thoả mãn những quy định pháp lí về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng họ lại đang ở độ tuổi từ đủ 14 nhưng chưa đủ 18 Ngoài ra, không thể không kể đến người bị kết án và người đang thi hành án là NCTN Bởi xét cho cùng thì trong TTHS, cả ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đều có nhiệm vụ
Trang 13chung là kịp thời phát hiện điều tra đầy đủ, toàn diện, thu thập chứng cứ làm rõ để xác minh một người là có tội hay không có tội thể hiện qua bản án, quyết định của Tòa án Tuy nhiên, bản án mới chỉ dừng lại ở việc thể hiện một người là có tội hay vô tội, đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản, để điều này được thực hiện trên thực tế thì cần phải thi hành bản án, quyết định đó, thi hành án được coi là “động tác có tính quyết định cuối cùng” trong quá trình tố tụng và hiệu quả của nó sẽ góp phần đạt được mục đích của quá trình TTHS [18, tr.412-413] Vậy, người bị kết án là chưa thành niên là người phạm tội đã bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án khi chưa đủ 18 tuổi
Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ các dấu hiệu tội phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định trong BLHS thì họ sẽ bị khởi tố và xét
xử theo tiến trình tố tụng chung được BLTTHS quy định Tuy vậy, do các đặc trưng về tâm sinh lý nên tội phạm do NCTN gây ra có những đặc điểm riêng so với tội phạm do người đã thành niên gây ra Tội phạm do NCTN thực hiện bị truy cứu trách nhiệm hình
sự khi có các điều kiện sau đây: Một là, có hành vi phạm tội do NCTN thực hiện, đặc biệt là khi NCTN phạm tội đó có nhân thân xấu; Hai là, tội phạm do NCTN thực hiện
có tính chất nghiêm trọng; Ba là, những biện pháp giáo dục, phòng ngừa như giáo dục tại xã, phường, đưa vào trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo NCTN phạm tội mà cần áp dụng hình phạt đối với họ [16, tr.15] Bởi những lý do đặc biệt đó nên thủ tục cũng như hoạt động TTHS đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN cũng được quy định thành một chương riêng - chương XXXII: “Thủ tục tố tụng đối với NCTN” thuộc phần 7 “Thủ tục đặc biệt” trong BLTTHS năm 2003
1.1.3 Một số đặc điểm của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Độ tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang lứa tuổi người lớn, là thời kỳ diễn ra những thay đổi lớn về thể chất lẫn tinh thần Những người trong giai đoạn tuổi này chưa phát triển đẩy đủ về tâm sinh lý Những NCTN không còn thỏa mãn với vai trò thụ động của người được giáo dục, được dạy dỗ mà đã bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định cuộc sống riêng của mình
- Đặc điểm sinh lý: Đặc trưng của lứa tuổi thiếu niên là sức sống phát triển rất mạnh mẽ, và ở lứa tuổi này sự cần bằng bị phá vỡ Trong những năm này cơ thể các
em phát triển mạnh mẽ về chiều dài và do vậy mà gầy đi mặc dù trọng lượng có tăng lên một cách đáng kể Sự phát triển “nhảy vọt” này của cơ thể sẽ có tác động mạnh đến tâm lý của các em, và cũng chính nó gây ra một đặc điểm sinh lý khác: Đó là tính mất căn đối tạm thời Sự phát dục và những chuyển biến trong sự phát triển thể chất của thiếu niên có ý nghĩa quan trọng đối với sư nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới Sự phát dục kích thích phát triển và ý thức quan tâm đến giới khác, làm xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung cảm mới Tóm lại, ở lứa tuổi NCTN có sự thay đổi rất lớn về thể chất Cũng chính những thay đổi quan trọng trong cấu tạo và hoạt động của cơ thể, đã gây nên mất căn đối tạm thời, rối loạn trong cấu tạo và hoạt động của cơ thể, rối loạn tạm thời của hệ thần kinh, hệ tim mạch và đó là cơ sở cho những đặc điểm của đời
Trang 14sống tình cảm ở tuổi thiếu niên
- Đặc điểm về tâm lý: Vị thế xã hội của lứa tuổi NCTN có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó Các quan hệ xã hội của NCTN đã mở rộng Trong các mối quan hệ
đó, người lớn kể cả thầy cô đều nhìn nhận NCTN như những người chuẩn bị làm người lớn và đòi hỏi họ phải có cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình Những thay đổi trong vi thế xã hội, những thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm việc ở lứa tuổi NCTN những yêu cầu về hiểu biết chuẩn mực về quan hệ người – người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội
Bước sang tuổi NCTN các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong khả năng phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Tuy nhiên NCTN thường có những đặc điểm về tâm sinh lý là nồng nhiệt, hành động thường bồng bột, xốc nổi, nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm sống, dễ va vấp, sự hiểu biết về pháp luật còn rất hạn chế, nông cạn, thiếu chính xác, sự hiểu biết của họ về các mặt của cuộc sống xã hội chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực của xã hội Ở lứa tuổi chưa thành niên, con người chịu sự chi phối, tác động mạnh mẽ của môi trường sống Quá trình hình thành nhân cách cũng như các phẩm chất khác thuộc về nhân thân của họ chịu sự chi phối có tính quyết định của môi trường giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội Nếu được sống trong môi trường lành mạnh thì người NCTN sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần trở thành người có ích cho xã hội Ngược lại, các em cũng dễ tiếp thu những thói hư tật xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách, cũng dễ bị kích động, lôi kéo vào những hành động vi phạm pháp luật Nó trở thành nguyên nhân của những hành vi chuẩn như: hút ma túy, đánh bạc, hiếp dâm, đua xe… Ngoài ra, trong giai đoạn quá độ từ trẻ em sang người lớn, các em thiếu kinh nghiệm sống dẫn đến phản ứng bồng bột xốc nổi, dễ cáu giận, không tự kiểm chế và làm chủ được bản thân Thông thường các em giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng Thực tế cho thấy, NCTN
có trình độ nhận thức về tính chất nguy hiểm cũng như chống đối xã hội của hành vi phạm tội và khả năng kiềm chế còn kém Phần lớn NCTN không có ý thức và thói quen của sự đối chiếu, so sánh những hành vi của mình với các quy phạm pháp luật, với các quy tắc xử sự chung của xã hội
Từ những phân tích trên, có thể thấy, lứa tuổi chưa thành niên là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ về thể chất cũng như tư duy logic Đa số các em đã đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi cũng như kỳ vọng của gia đình tích cực rèn luyện đao đức lối sống để trở thành người có ích cho xã hội Tuy nhiên, một phần không nhỏ NCTN không nhận thức được sứ mạng quan trọng của mình, ăn chơi, đua đòi, a dua cùng chúng bạn hậu quả xảy ra là họ phạm tội khi còn nhỏ tuổi Đối với NCTN phạm tội, việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của họ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đường lối xử lý hình sự, trong công tác điều tra, truy tố, xét xử cũng như quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân
Trang 15Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý đó của NCTN, pháp luật nước ta đã đưa ra đường lối nhân đạo, khoan hồng và thấu tình đạt lý
1.2 Khái niệm và quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
1.2.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Theo từ điển tiếng việt, nhiệm vụ là công việc phải làm vì một mục đích nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định [43, tr.925] Còn quyền hạn là quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ trong công việc được giao [43, tr.1045] Ngoài ra, từ điển luật học cũng định nghĩa quyền hạn là quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [34, tr.651] Cũng theo Từ điển luật học thì: quyền hạn của một chủ thể được pháp luật quy định đồng thời cũng là nhiệm vụ của chủ thể đó được sử dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định của chủ thể đó Điều này đã được quy định
ở một số điều cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như các luật tổ chức về các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, tất cả đều được quy định theo cách thức phản ánh nét đặc thù trong việc pháp luật xác định chức trách của các cơ quan nhà nước, chức danh nhà nước; quyền hạn đồng thời là nhiệm vụ và ngược lại
Trên cơ sở tổ chức hoạt động của VKSND các cấp dựa theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Nên nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên cũng được dựa theo nguyên tắc trên Theo đó, tùy theo từng cấp kiểm sát, Kiểm sát viên được Viện trưởng phân công thực hiện nhiệm vụ và có quyền hạn được pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ đó Ngoài ra, VKS cấp trên có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS cấp dưới; các Kiểm sát viên cấp dưới có thể tiến hành một số hoạt động thuộc thẩm quyền của Kiểm sát viên cấp trên khi được VKS cấp trên ủy quyền
Nói cách khác, “khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật và sự chỉ
đạo trực tiếp của Viện trưởng VKS cấp mình, sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao” [25] Mặc dù vậy, khi “sự chỉ đạo của Viện trưởng VKS cùng cấp” có
mâu thuẫn với việc “tuân theo pháp luật” thì “Kiểm sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ
được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật…” (Điều 13 Pháp lệnh
Kiểm sát viên); nếu Viện trưởng vẫn quyết định thì Kiểm sát viên phải chấp hành, nhưng Viện trưởng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; trong trường hợp này Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng cấp trên trực tiếp và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó Kiểm sát viên có quyền độc lập khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuận theo pháp luật nên khi thực hiện hoạt động tố tụng tại phiên tòa theo phân công của Viện trưởng VKSND cùng cấp, Kiểm sát viên có một số quyền: rút toàn bộ hay một phần quyết định truy tố, thay
Trang 16đổi cáo trạng theo hướng đề nghị HĐXX áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội danh nhẹ hơn, áp dụng khung hình phạt khác nhẹ hơn (Điều 195, Điều 217 BLTTHS)… Nếu kết quả xét xử công khai tại phiên tòa đã phản ánh nội dung khác hẳn với quyết định truy tố của VKS mà quyết định này đã được Viện trưởng thông qua trước đó thì Kiểm sát viên không còn cách nào khác, trên cơ sở các quy định của pháp luật sẽ tự ra quyết định thay đổi hay rút quyết định truy tố Sự tôn trọng sự thật khách quan của vụ án để thay đổi ý kiến chủ quan cho phù hợp của Kiểm sát viên tại phiên tòa đảm bảo cho quyền công tố được thực hiện một cách kịp thời Điều đó không những làm tăng lên trách nhiệm, uy tín của VKS mà còn khẳng định tính khách quan, công minh, tuân thủ pháp luật trong hoạt động của Kiểm sát viên Như vậy, có thể thấy trong nhiều trường hợp, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao không phải lúc nào cũng phải tuân theo sự chỉ đạo của Viện trưởng một cách máy móc mà vẫn phải có sự độc lập nhất định, thậm chí chỉ tuân theo pháp luật, không phụ thuộc vào bất
cứ cá nhân, cơ quan nào Như vậy, có thể hiểu “Nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong
TTHS là hệ thống những hoạt động mà Kiểm sát viên phải tiến hành, các hoạt động này được pháp luật quy định hoặc theo sự phân công của Viện trưởng VKSND cùng cấp nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp”; và “Quyền hạn của Kiểm sát viên trong TTHS là hệ thống những quyền năng pháp lý được pháp luật quy định mà Kiểm sát viên được làm, khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Có thể thấy, giữa “nhiệm vụ của Kiểm
sát viên” và “quyền hạn của Kiểm sát viên” có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời Nhiệm vụ, bản thân nó cũng đã chứa đựng quyền hạn Nhiệm vụ - quyền hạn tạo nên sự thống nhất trong trạng thái cân bằng do pháp luật quy định Mối quan hệ này không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà cả trong hoạt động thực tiễn Nhận thức, sử dụng đúng quyền hạn theo nhiệm vụ, đúng đối tượng, đúng mục đích giúp cho Kiểm sát viên có sự vận dụng đồng bộ, tổng hợp, linh hoạt nhiệm vụ và quyền hạn qua
đó phát huy tối đa hiệu quả hoạt động Còn khi Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình không đúng với quy định của pháp luật hoặc trái với sự chỉ đạo đúng đắn của cấp trên thì họ sẽ phải chịu “trách nhiệm” đối với những công việc họ đã làm
Trong thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, xã hội hoặc Nhà nước và được các quy phạm pháp luật quy định Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó Khoản 2 Điều 37
BLTTHS quy định: “Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước
Viện trưởng về những hành vi và quyết định của mình” Như vậy, “trách nhiệm của
Kiểm sát viên trong TTHS” được hiểu theo nghĩa thứ hai Trách nhiệm của Kiểm sát
Trang 17viên cũng có sự phân định giữa “trách nhiệm của Kiểm sát viên trước pháp luật” và
“trách nhiệm của Kiểm sát viên trước Viện trưởng VKS”
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm của Kiểm sát
viên như sau: Trách nhiệm của Kiểm sát viên là hậu quả bất lợi mà Kiểm sát viên phải
gánh chịu theo quy định của pháp luật hoặc trước Viện trưởng về những hành vi vi phạm của mình khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao
1.2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên
NCTN là người ở độ tuổi chuyển tiếp của sự tăng trưởng, phát triển từ độ tuổi
“trẻ em” đến thời điểm bắt đầu của tuổi trưởng thành - là giai đoạn thay đổi quan trọng nhất về thể chất, cảm xúc và ý thức xã hội diễn ra ở mỗi cá nhân Đây là giai đoạn “quá độ”, sự phát triển tâm lý rất phức tạp, mẫn cảm, dễ thay đổi và khó lường trước Tâm lý học xác định quá trình hình thành và phát triển của NCTN phụ thuộc mạnh mẽ về tâm sinh lý, tùy thuộc độ tuổi, nhưng ở mức độ không đồng đều và với những dấu hiệu tâm sinh lý rất khác nhau ở mỗi giới tính1; đồng thời có thể bị phân hóa để tạo thành tính cách khác nhau khi bị tác động bởi những môi trường, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Xuất phát từ những đặc điểm riêng của sự phát triển tâm sinh lý đó, nên khi NCTN thực hiện hành vi phạm tội thường xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau và do đó, hành
vi phạm tội của NCTN có các đặc điểm, cơ chế khác với hành vi phạm tội của người đã thành niên Tội phạm do NCTN thực hiện hầu hết là do tác động của môi trường, bởi vậy, động cơ, mục đích phạm tội của NCTN thường là bột phát, nhất thời và không rõ ràng NCTN thường hay a dua, hùa theo bạn bè vi phạm pháp luật nên những vụ án do NCTN thực hiện còn có yếu tố đồng phạm nhưng chưa có sự thống nhất về ý chí cũng như chưa có sự phân công thực hiện rõ ràng Cách thức thực hiện tội phạm của NCTN thường là đơn giản, khác với người đã thành niên là họ có chuẩn bị trước, có khi rất tinh vi, phức tạp và có ý chí thực hiện cao Môi trường cũng như phạm vi của những vụ
án do NCTN phạm tội hạn chế bởi trong thực tế đời sống, sinh hoạt, NCTN chỉ có khả năng, điều kiện tham gia trong một số môi trường xã hội nhất định, hay nói theo quan điểm cấu thành tội phạm thì NCTN chỉ có thể có điều kiện xâm hại một số khách thể nhất định được pháp luật bảo vệ, như: trật tự công cộng, quyền sở hữu (chủ yếu là sở hữu tư nhân),…
Kiểm sát viên được phân công tham gia hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự nói chung và vụ án do NCTN phạm tội nói riêng chính là nhân danh VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật các vụ án hình
sự mà Hiến pháp quy định Theo đó, khi thi hành công tác, họ có các nhiệm vụ quyền
1
Thường là một trẻ em nữ 13-14 tuổi có tính cách phát triển tương đương với một trẻ em trai 15-16 tuổi
Trang 18hạn quy định cụ thể tại Điều 37 Bộ luật TTHS Để phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi thực hiện các chức năng luật quy định, trước hết cần tìm hiểu sơ lược
về khái niệm “thực hành quyền công tố” và “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”
Việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là THQCT có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước Ở nước
ta hiện nay thì khái niệm về quyền công tố còn có nhiều quan điểm khác nhau và khái quát lại thì có một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS Có thể thấy rõ quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKS để xem xét quyền công tố Quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [45]
Theo tôi, quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, phủ nhận tính độc lập của hai quyền năng trên mặc dù chúng có nội dung và phạm vi tác động khác nhau
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện quyền công tố chỉ ở một lĩnh vực TTHS và ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm [46]
Theo tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi của quyền công
tố, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này Bản chất của công tố là buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động buộc tội không chỉ trong việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án mà được thực hiện xuyên suốt trong quá trình điều tra
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [24] Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình
sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được
mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác
Theo tôi, quan điểm trên đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi quyền công tố, xóa nhòa ranh giới giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác Bởi bản chất của quyền công tố là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội, nên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS Các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính VKS chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào các hoạt động tố tụng đó
Trang 19Trên đây là một số quan điểm về quyền công tố Tôi đồng nhất với cách phân tích, lập luận thể hiện quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật TTHS, nó luôn gắn liền với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm) Bản chất của hoạt động TTHS là hoạt động của các cơ quan THTT để phát hiện
và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Trong hoạt động TTHS luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản đó là chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội; chức năng xét xử Buộc tội là một chức năng tố tụng nhằm truy cứu TNHS đối với người phạm tội Cơ quan thực hiện chức năng buộc tội có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc cụ thể đối với cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ đưa ra những tài liệu, chứng cứ cụ thể cho sự buộc tội đó Với những lập luận trên, tôi đưa ra khái niệm quyền công tố như sau:
Quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKSND) để phát hiện tội phạm, truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa
Xuất phát từ quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước để phát hiện tội phạm, truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa, nên
"thực hành quyền công tố chính là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó" [22]
Tôi nhận thấy quan điểm như trên về THQCT là hợp lý Tuy nhiên, xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố đã được pháp luật quy định, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người
phạm tội chính là THQCT Do vậy, tôi đồng tình với quan điểm: "Thực hành quyền
công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử" [17]
Cũng như đối với “quyền công tố” và THQCT thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên, kèm theo đó là trách nhiệm của họ khi sử dụng quyền hạn đó Theo định nghĩa tại Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân
văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì "kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc
chấp hành pháp luật của Nhà nước Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm
2002 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND
nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước Với cách
giải thích khái niệm "kiểm sát" của các cuốn từ điển nêu trên, tôi cho rằng, kiểm sát
gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và kiểm tra Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi
phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh
Trang 20giá hoạt động của người, cơ quan bị kiểm tra
Như đã đề cập ở phần trước, ta biết rằng TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của
cơ quan THTT (CQĐT, VKS, Tòa án), người THTT (Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bào chữa…) của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS Do đó, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS là việc thực hiện chức năng của VKSND, hoạt động đó có nội dung là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các hoạt động nêu trên, của các chủ thể nêu trên
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong các giai đoạn tố tụng của một vụ án hình sự, nhằm đảm bảo cho quá trình THTT vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật [29]
Đối với khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng” thì cần phân biệt với khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS” Hiện nay quan điểm phổ biến nhất cho rằng: hoạt động tư pháp là các hoạt động do cơ quan tư pháp thực hiện và một số hạn chế hoạt động do các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình
tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết vụ án Và do đó, hoạt động tư pháp trong TTHS là các hoạt động do cơ quan tố tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình TTHS, được điều chỉnh bằng pháp luật TTHS, trực tiếp liên quan tới việc giải quyết các vụ án hình sự [44]
Nhìn chung, phạm vi và đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS rộng hơn, bao trùm phạm vi, đối tượng của kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự, cụ thể như sau [21]:
Thứ nhất, hoạt động tư pháp trong TTHS là hoạt động chỉ do các cơ quan tư pháp
và các cơ quan được giao thực hiện một số thẩm quyền tư pháp chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện Đây là những hoạt động có tính quyền lực nhà nước Còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS không chỉ là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS mà còn bao gồm cả những hoạt động của các chủ thể khác (cơ quan, tổ chức không phải là các cơ quan tư pháp, hoạt động của những người tham gia tố tụng và những hoạt động này không mang tính quyền lực Nhà nước)
Thứ hai, hoạt động tư pháp trong TTHS bao gồm những dạng thực hiện pháp luật
ở mức độ cao: áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật – do các dạng thực hiện pháp luật này gắn với chức năng, nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng Trong khi
đó, những hoạt động tuân theo pháp luật trong TTHS bao gồm cả các dạng thực hiện pháp luật ở mức độ thấp, gắn với nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân của những người
Trang 21tham gia tố tụng (tuân thủ pháp luật – kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm, chấp hành pháp luật – thực hiện nghĩa vụ một cách tích cực)
Có thể thấy, các nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên được quy định từ điểm a đến điểm h Khoản 1 Điều 37 BLTTHS thực chất chỉ là cụ thể hóa hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ
án hình sự Đối với những vụ án có người bị bắt, bị can, bị cáo, người bị kết án là NCTN, Kiểm sát viên ngoài việc phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 37 BLTTHS thì còn phải thực hiện các nhiệm vụ riêng biệt được đặt
ra với những vụ án có chủ thể tham gia tố tụng là chủ thể đặc biệt đó là NCTN quy định tại chương XXXII
Theo quy định tại Điều 302 của BLTTHS, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đối với NCTN phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của NCTN Khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây:
Một là, xác định tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN Để xác định tuổi của NCTN, phải xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của họ, căn cứ vào các tài liệu hợp pháp như giấy khai sinh,
sổ hộ khẩu gia đình, các giấy tờ, tài liệu khác Cần phải áp dụng mọi biện pháp để xác định độ tuổi được chính xác Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo thì về nguyên tắc chung phải áp dụng phương pháp xác định có lợi cho họ
Trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN cũng là vấn đề cần phải chứng minh trong các vụ án có bị can, bị cáo là NCTN Trình độ phát triển về thể chất, tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN một mặt thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà NCTN thực hiện, mặt khác cũng cho thấy khả năng giáo dục, cải tạo đối với họ, từ đó cơ quan tiến hành tố tụng có thể quyết định biện pháp xử lý thích hợp Hai là, làm rõ điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN Điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN thể hiện ở hoàn cảnh, điều kiện sống của gia đình, thái độ của cha
mẹ, ảnh hưởng của người đã thành niên trong gia đình đối với việc giáo dục, dạy dỗ NCTN, môi trường sống, điều kiện học tập sinh hoạt ở nhà trường hoặc nơi cư trú… Việc làm rõ điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN trong một số trường hợp có ý nghĩa cho thấy nguyên nhân, điều kiện phạm tội của họ, giúp cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm, người phạm tội một cách toàn diện và đầy đủ Hơn nữa, điều kiện sinh sống và giáo dục của NCTN còn là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định việc giao NCTN phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát, là căn
cứ để Tòa án lựa chọn áp dụng biện pháp tư pháp cụ thể trong trường hợp có căn cứ để
áp dụng biện pháp tư pháp
Ba là, xác định có hay không người thành niên xúi giục NCTN thường hiếu kỳ,
Trang 22nông nổi nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ Nếu có sự xúi giục, lôi kéo của người thành niên đối với việc phạm tội của NCTN thì có thể xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của NCTN Ngoài ra, người thành niên có hành vi xúi giục NCTN thực hiện tội phạm cũng
có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Bốn là, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội Việc xác định nguyên nhân
và điều kiện phạm tội cũng là vấn đề cần đặc biệt chú trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án NCTN phạm tội Qua đó, không chỉ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đúng người, đúng tội mà còn là cơ sở để kiến nghị với cơ quan, tổ chức liên quan áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm loại trừ hoặc hạn chế hành vi phạm tội của NCTN
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn tiếp
nhận tin báo, tố giác tội phạm
Điều 103 BLTTHS năm 2003 đã quy định rõ ràng và đầy đủ nhiệm vụ giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS và CQĐT Điều 10 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao) cũng đã quy định rất cụ thể vấn đề này Theo đó, khi giải quyết cũng như kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, Kiểm sát viên được Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công cần tập trung xử lý những công việc sau: Đầu tiên, Kiểm sát viên phải tiếp nhận, quản lý đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan Nhà nước chuyển đến Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/08/2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm: CQĐT, VKS, Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác trong lực lượng công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Tin báo, tố giác tội phạm được thể hiện dưới các hình thức như: tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư; công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng;
cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm; đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin
về tội phạm; cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác; hoặc người phạm tội đến tự thú Các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư; công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản
Trang 23tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú
Kiểm sát viên khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm phải phải đánh giá sơ bộ bước đầu về tính chất của tố giác, tin báo đó để có phương pháp xử lý kịp thời, đúng pháp luật Từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Kiểm sát viên đã phải nghiên cứu và làm sáng tỏ các chi tiết trong tố giác, tin báo về tội phạm để từ đó có thể xác định có phải tố giác, tin báo về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện hay không (có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không, lỗi cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội; những đặc điểm nhân thân của người phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra); nếu vụ án đúng là do người chưa thành niên gây ra, KSV cần tiếp tục xác minh những chi tiết khác được BLTTHS quy định tại Điều 302 như: tuổi, trình độ phát triển về thể chất, tinh thần, mức độ nhận thức về hành
vi phạm tội, điều kiện sinh sống và giáo dục; đặc biệt là phải xác định rõ xem có hay không trường hợp người chưa thành niên bị người khác xúi giục Sau đó, cùng với việc tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết khác Kiểm sát viên có thể đưa ra các quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Để giải quyết hiệu quả tố giác, tin báo
về tội phạm, phụ thuộc rất nhiều vào năng lực trình độ của cán bộ xử lý, sự tinh thông nghiệp vụ và hiểu biết xã hội của Kiểm sát viên Đối với những tin báo phức tạp, thì Kiểm sát viên phải cùng Điều tra viên của CQĐT phối hợp thực hiện tốt kế hoạch điều tra và yêu cầu điều tra đã đặt ra
Kiểm sát viên được phân công kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của CQĐT cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; phải kiểm tra quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đảm bảo hoạt động của CQĐT theo đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu CQĐT khắc phục kịp thời hoặc báo cáo lãnh đạo ra văn bản kiến nghị Hàng tuần, Kiểm sát viên yêu cầu CQĐT cùng cấp thông báo đầy đủ cho VKS các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà CQĐT đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời Kiểm sát viên cần căn cứ vào quy định tại tiết c, điểm 7 Mục I Thông tư liên tịch số 01/2005 để tiến hành hoạt động kiểm sát Theo đó, Cơ quan Công an có trách nhiệm thống kê kết quả tiếp nhận,
xử lý tố giác, tin báo về tội phạm từ kết quả xử lý những vụ vi phạm thuộc thẩm quyền
xử lý của mình và chuyển kết quả tổng hợp thống kê sang VKS cùng cấp, sau khi loại thống kê này được thực hiện Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 BLTTHS, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin; nếu xác
Trang 24định có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS thì ra quyết định không khởi tố vụ
án hình sự Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố
vụ án hình sự, CQĐT phải gửi các quyết định đó kèm theo các tài liệu liên quan cho VKS cùng cấp để tiến hành kiểm sát
Hàng tháng, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS cấp huyện, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với CQĐT cùng cấp nắm số lượng, kết quả giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận; nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời hạn luật định thì yêu cầu CQĐT nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả cho VKS theo quy định tại Điều 103 BLTTHS
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn khởi tố
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự do NCTN thực hiện là nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được pháp luật quy định Thông qua hoạt động này, VKSND có trách nhiệm đảm bảo việc khởi tố vụ án hình sự đối với NCTN của các cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ và hợp pháp, kịp thời phát hiện tội phạm và người phạm tội để điều tra, xử lý theo pháp luật
Khi được phân công THQCT và kiểm sát việc tuân theo tuân theo pháp luật trong
vụ án đối với NCTN thì trước hết KSV cần nắm chắc quy định của pháp luật tại: các Điều 36,37 Điều 100 – 105, Điều 108, 109 và các Điều 301 – 310 BLTTHS năm 2003; các Điều 68 đến 77 Bộ luật hình sự năm 1999; các Điều 10, 11, 12, 13 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều ra vụ án hình sự; Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002; các Điều 6 đến 11 Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là NCTN
Theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 thì chỉ khởi tố vụ án hình sự khi
đã xác định được các dấu hiệu của tội phạm, việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; CQĐT, VKS, Tòa án, đơn vị bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trực tiếp phát hiện tội phạm; người phạm tội tự thú Khi đã xác định được dấu hiệu tội phạm đủ căn cứ để khởi tố vụ án thì CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án, trong trường hợp xác định không có dấu hiệu tội phạm CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án và thông báo cho các đơn vị có thẩm quyền Trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án Trách nhiệm của KSV là phải đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố
Tính có căn cứ của việc khởi tố vụ án hình sự do người chưa thanh niên thực hiện thể hiện ở chỗ: có sự kiện phạm tội pháp lý xảy ra trên thực tế; sự kiện đó thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự; trong mọi trường hợp khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tội phạm của NCTN, các cơ quan
Trang 25Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm (Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999) Tính có căn cứ được xác định bằng các tài liệu, chứng cứ nhằm xác minh tội phạm Kiểm sát viên phải kiểm tra xem tài liệu chứng cứ đã thu thập được dù để xác định có sự kiện phạm tội xảy ra chưa; nếu đủ rồi thì có được thể hiện trong quyết định khởi tố vụ án hình sự không?
Trên cơ sở kiểm sát tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án, công việc tiếp theo KSV phải thực hiện là kiểm sát tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình
sự do ngươi chưa thanh niên thực hiện, thể hiện:
Thứ nhất, về thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự do NCTN phạm tội Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định khởi tố vụ án của CQĐT đó là khi nào thì CQĐT ra quyết định khởi tố; khi nào Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố; Phó thủ trưởng CQĐT điều tra ra quyết định khi nào;… theo quy định tại các điều: Điều 34, Điều 104 BLTTHS
Thứ hai, về nội dung, hình thức của quyết định khởi tố vụ án hình sự Khi kiểm sát nội dung, hình thức của quyết định khởi tố vụ án hình sự Kiểm sát viên phải đảm bảo sao cho nội dung, hình thức của các quyết định tố tụng đó đúng với quy định tại Khoản 2 Điều 104 BLTTHS năm 2003 Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ luật hình sư được áp dụng và họ tên chức
vụ người ra quyết định
Trong trường hợp khởi tố vụ án đối với NCTN theo theo yêu cầu của người bị hại ngoài những nội dung kể trên KSV cần phải xác định thêm các nội dung như: Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu khởi tố vụ án hay không; tính chất, mức
độ, hậu quả của hành vi phạm tội… Khi người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước người mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ
Nếu quyết định khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên thông báo
để CQĐT tiến hành hoạt động tố tụng đối với vụ án một cách bình thường; nếu xác định quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định huỷ bỏ; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản
2 Điều 109 BLTTHS và điểm 7.1 mục 7 Thông tư liên ngành số VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005
05/2005/TTLN-Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do NCTN thực hiện Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự có căn cứ thì thông báo cho các cơ quan ra quyết định khởi tố biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu cơ quan ra quyết định không khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ; nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự là không
có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó và đề nghị người
có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Trang 26của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện ra quyết định huỷ bỏ quyết định này và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong hai trường hợp đó là khi VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các CQĐT và của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp HĐXX yêu cầu VKS khởi tố vụ án HĐXX ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra
Trường hợp thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, nếu tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Kiểm sát viên tiến hành tố tụng trong vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Nếu quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan đã ra quyết định là không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu cơ quan đã ra quyết định hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra, truy tố
Khởi tố bị can
Khi kiểm sát việc khởi tố bị can là NCTN, Kiểm sát viên cần nắm rõ các quy định: các Điều 36, 27, 49, 126, 127, 129 BLTTHS 2003; Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002; Điều 13 Quy công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự bởi kiểm sát việc khởi tố bị can là NCTN là nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong công tác kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo cho mọi quyết định khới tố bị can đều có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội
để trên cơ sở đó tiến hành điều ra, xử lý theo pháp luật
Về nguyên tắc, CQĐT chỉ được ra quyết định khởi tố bị can sau khi đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp phạm tội quả tang mà người phạm tội có đầy đủ các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngay sau khi khởi tố vụ án có thể ra ngay quyết định khởi tố bị can Kiểm sát viên là người kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can đó Khi tiến hành kiểm sát việc khởi tố bị can Kiểm sát viên phải đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc khởi tố bị can là NCTN: nếu thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng để quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố
bị can; nếu thấy các căn cứ để xác định bị can phạm tội chưa đầy đủ, chưa rõ thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố; nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó;
Trang 27nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự
do ngay cho người bị tạm giữ
Kiểm sát viên kiểm sát đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can là NCTN của CQĐT bằng các phương thức như: kiểm sát qua hồ sơ, tài liệu; hoặc trực tiếp gặp bị can là NCTN để nắm các thông tin
Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là hoạt động của Kiểm sát viên nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của điều tra viên, các thành viên Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan để bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của CQĐT được thực hiện đúng qui định của pháp luật, phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản đầy đủ các dấu vết, vật chứng có trên hiện trường, phục vụ cho công tác điều tra, nghiên cứu, xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện hành vi đó
Đối tượng của kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là việc tuân theo pháp luật của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Phạm vi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi bắt đầu từ khi nhận được tin báo về vụ việc xảy ra cần khám nghiệm đến khi kết thúc việc khám nghiệm, hoàn thiện các công việc về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thông qua và ký biên bản khám nghiệm của những người tiến hành và tham gia khám nghiệm
Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nhằm bảo đảm việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của Hội đồng khám nghiệm tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi được tiến hành nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời
Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là một nội dung hoạt đông của VKSND trong các công tác kiểm sát điều tra và công tác kiểm sát xét xử hình sự, nhằm đảm bảo tính có căn cứ, tích hợp pháp và tính cần thiết của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Đối tượng kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của cơ quan và người có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội
Phạm vi kiểm sát bắt đầu từ khi có người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cho đến khi áp dụng biện pháp ngăn chặn kết thúc, bị hủy bỏ, chấm dứt
Hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm: đảm bảo tính đúng đắn, có căn cứ và tính cần thiết của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội
Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với NCTN
Trang 28phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh
độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS
Ngoài ra, Kiểm sát viên khi tham gia hoạt động tố tụng đối với NCTN cần lưu ý một số điểm sau:
Thứ nhất, đối với NCTN đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do đối với họ
Thứ hai, khi bắt giữ NCTN phạm tội, trong trường hợp cần thiết phải sử dụng vũ lực thì việc sử dụng vũ lực phải theo đúng quy định của pháp luật và chỉ ở mức độ đủ
để kiểm soát NCTN phạm tội
Thứ ba, khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với NCTN phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam
Thứ tư, NCTN phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên Khi xét thấy NCTN phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra Chế độ tạm giữ, tạm giam NCTN phạm tội phải được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành
Thứ năm, cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN phạm tội phải thông báo bằng văn bản cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Khoản 3 Điều 303 BLTTHS
Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với NCTN cần hết sức thận trọng Nếu nhận thấy việc tạm giữ, tạm giam NCTN là có căn cứ nhưng không cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác Có thể áp dụng biện pháp giao NCTN cho cha mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của NCTN khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành
tố tụng Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ NCTN, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó
Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN, Kiểm sát viên cần đảm bảo việc tuân thủ các quy định trên Nếu phát hiện thấy Cơ quan điều tra, Tòa án có sự vi phạm, Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện có biện pháp xử lý kịp thời
Trang 29 Kiểm sát việc hỏi cung bị can
Hoạt động đầu tiên khi tham gia hệ thống tư pháp mà NCTN phải đương đầu là
họ bị CQĐT triệu tiệp để hỏi cung Cuộc tiếp xúc đầu tiên với cán bộ điều tra sẽ để lại tác động lâu dài cho NCTN và có thể gây ra ảnh hưởng lớn đến thái độ của họ đối với những người có thẩm quyền và quy định của pháp luật Nếu NCTN được CQĐT đối
xử công bằng, thân thiện có thể dễ dàng chấp nhận trách nhiệm cho các hành vi sai trái của mình Ngược lại, NCTN bị xâm hại hay bị đối xử không công bằng, không thân thiện sẽ có xu hướng cảm thấy uất ức và không tin tưởng người lớn và những người có thẩm quyền, điều này khiến cho quá trình phục hồi thêm khó khăn
Vì lý do nêu trên, Kiểm sát viên được phân công tham gia hoạt động tố tụng đối với những vụ án do NCTN phạm tội cần phải đảm bảo rằng về việc lấy lời khai của NCTN phải được tiến hành đúng với yêu cầu tố tụng, và việc lấy lời khai phải được thực hiện theo cách tự nguyện, công bằng và phù hợp với lứa tuổi Không những thế, Kiểm sát viên còn phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế khi tiến hành TTHS của CQĐT, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can là NCTN được tôn trọng, thực hiện đủ
và đúng quy định của pháp luật; đảm bảo lời khai của bị can là NCTN trở thành chứng
cứ có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải giúp VKS nắm được đầy đủ các tài liệu, những tình tiết của vụ án thông qua lời khai của bị can để đối chứng, so sánh với các chứng cứ khác trên cơ sở đó, VKS đánh giá về những tài liệu, chứng cứ của vụ án và những hành vi phạm tội của bị can được chính xác, toàn diện
Kiểm sát viên cần chủ động bàn với Điều tra viên kế hoạch và đề ra yêu cầu hỏi cung bị can ngay sau khi khởi tố bị can để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội phạm
đã khởi tố Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu hoặc có vấn đề mới phát sinh thì Kiểm sát viên tiếp tục nêu yêu cầu để Điều tra viên hỏi cung làm rõ Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc hỏi cung bị can và việc lập biên bản hỏi cung bị can của Điều tra viên, bảo đảm việc hỏi cung và lập biên bản hỏi cung bị can thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 131 và Điều 132 BLTTHS
Trong quá trình điều tra vụ án, khi có đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội;
bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai
bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi cung bị can Trước khi hỏi cung, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xin ý kiến chỉ đạo
và thông báo trước cho Điều tra viên biết
Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ Cơ quan điều tra chuyển sang, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án
Việc hỏi cung bị can và lập biên bản hỏi cung bị can do Kiểm sát viên tiến hành
Trang 30phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 131 và Điều 132 BLTTHS Biên bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát một bản
Khi giám sát quá trình điều ra hoặc thực hiện việc lấy lời khai, Điều tra viên và Kiểm sát viên cần đảm bảo tất cả các hoạt động tố tụng đều tuân thủ BLTTHS và TTLT số 01/2011, đồng thời khuyến khích về việc sử dụng các kỹ thuật thân thiện với trẻ em khi có thể Đặc biệt, Kiểm sát viên phải phân biệt một cách rõ ràng giữa việc
“lấy lời khai” và việc “hỏi cung” bị can là NCTN bởi “lấy lời khai” là một cuộc hội thoại hai chiều có kế hoạch do CQĐT thực hiện đối với người bị hại hoặc nhân chứng nhằm thu thập những tình tiết có thực về sự việc phạm tội, những cuộc lấy lời khai có thể là chính thức theo kế hoạch tại một địa điểm cụ thể như tại cơ quan cảnh sát hoặc không chính thức, không theo kế hoạch (bột phát) tại một địa điểm bất kỳ Trong khi
đó, “hỏi cung” là một cuộc đối thoại có kế hoạch nhằm đối chất và buộc tội với một đối tượng tình nghi, bị can để thu thập thông tin về sự việc phạm tội của họ, mục đích của cuộc đối thoại là để đối tượng tình nghi thừa nhận sự việc phạm tội và thú tội bởi vậy, chỉ có những đối tượng tình nghi thì mới bị hỏi cung mà thôi
Việc cử người bào chữa và kiểm sát việc cử người bào chữa đối với bị can là NCTN
Việc tham gia tố tụng của người bào chữa trong những vụ án do NCTN phạm tội
là bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 57, Điều 58 và Điều 305 BLTTHS Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo
là NCTN là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trừ trường hợp họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân Khi giao quyết định tạm giữ hoặc quyết định khởi tố bị can, cơ quan ra quyết định phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can là NCTN và người đại diện hợp pháp của họ về quyền có người bào chữa Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là NCTN có thể lựa chọn người bào chữa theo quy định của pháp luật hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Trường hợp bị can, bị cáo là NCTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư
cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình, trừ trường hợp NCTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đề nghị Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là trẻ em không nơi nương tựa và có thể đề nghị trợ giúp pháp lý cho bị can, bị cáo là NCTN khác
Trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản lưu trong hồ sơ vụ án
Trang 31Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là NCTN theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát phải đảm bảo các quy định của pháp luật về việc cử người bào chữa cho bị can, bị cáo là NCTN Trong trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Viện kiểm sát phải có biện pháp để bảo đảm quyền bào chữa của NCTN được thực hiện đầy đủ Nếu phát hiện Cơ quan điều tra, Tòa án không tuân thủ các quy định trên, Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện
có biện pháp xử lý thích hợp
Kiểm sát việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức
Theo quy định tại Điều 306 của BLTTHS, đại diện của gia đình người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là NCTN; đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo học tập, lao động, sinh sống có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án
Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là NCTN có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc trong những trường hợp cần thiết khác thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng Đại diện gia đình có thể hỏi người bị tạm giữ, bị can nếu được Điều tra viên đồng ý; được đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu khiếu nại, đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra Nếu phát hiện Cơ quan điều tra, Tòa án không tuân thủ các quy định trên, Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện có biện pháp xử lý thích hợp
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm kể trên, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong những vụ án do NCTN phạm tội Kiểm sát viên còn phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm chung như:
Đề ra yêu cầu điều tra: Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra thông qua việc trao đổi bằng lời nói hoặc bằng văn bản trong quá trình trực tiếp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra Đối với các trường hợp khác, khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bản yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ; hoàn thiện các thủ tục tố tụng hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự
Trực tiếp thực hiện một số hoạt động điều tra: trong quá trình kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố Kiểm sát viên có thể triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; tiến hành đối chất, nhận
Trang 32dạng và thực nghiệm điều tra Kiểm sát viên có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can khi có
đề nghị của CQĐT hoặc thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước và sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ CQĐT chuyển sang, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra, củng cố tài liệu, chứng
cứ Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để kiểm tra chứng cứ trong các trường hợp lời khai của họ còn có mâu thuẫn với nhau, có mâu thuẫn với những chứng cứ khác đã thu thập được hoặc có nghi ngờ về tính trung thực, khách quan trong lời khai đó Trong trường hợp cần thiết để kiểm tra chứng cứ, xác định tính trung thực, khách quan trong các lời khai, Kiểm sát viên có thể trực tiếp thực hiện việc lấy lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành việc đối chất theo quy định tại Điều 138 BLTTHS; tiến hành việc nhận đạng theo quy định tại Điều
139 BLTTHS và tiến hành việc thực nghiệm điều tra theo quy định tại Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Hoạt động của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố, ngoài việc phải nghiên cứu thật kỹ các chứng cứ, tài liệu đã được CQĐT thu thập trong quá trình điều tra, còn phải trực tiếp tiếp xúc với người chưa thành niên phạm tội để kiểm tra lời khai và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác trước khi lập cáo trạng truy tố Để đảm bảo việc truy tố
có căn cứ và đúng pháp luật đòi hỏi Kiểm sát viên cần phải có phương pháp tiếp xúc khoa học và thân thiện với người chưa thành niên phạm tội, bao gồm cả việc đảm bảo môi trường, thái độ, hành vi, cách nói chuyện, cử chỉ, dấu hiệu và tất cả các quyết định liên quan đến người chưa thành niên phạm tội nhằm thu thập được thông tin về tội phạm do người chưa thành niên gây ra một cách chính xác và khách quan
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử
Theo quy định tại điều 189 BLTTHS thì sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là bắt buộc Nếu Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết thay thế thì HĐXX phải hoãn phiên tòa Quyết định truy tố bị can của Viện kiểm sát được thể hiện bằng bản cáo trạng Cáo trạng là văn bản pháp lý mang tính quyền lực nhà nước - quyền công tố do Viện kiểm sát, nhân danh nhà nước, truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, đúng pháp luật Tại phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sẽ đọc cáo trạng truy tố bị can ra trước tòa Kiểm sát viên có thể trình bày ý kiến bổ sung để làm rõ thêm nội dung của bản cáo trạng Việc thay đổi, bổ sung hoặc rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố được thực hiện theo quy định của Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 33Tại phiên tòa, Kiểm sát viên xét hỏi để khẳng định kết quả điều tra, để chứng minh các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đảm bảo tính hợp pháp về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức và để bảo vệ quan điểm truy tố đã thể hiện trong bản cáo trạng Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự là thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm Theo quy định tại Điều 217 BLTTHS, sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng, hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và
đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội Đồng thời từ thực tế của vụ án đang xét
xử, thông qua việc luận tội, Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước, đường lối chính sách của Đảng, giáo dục đạo đức xã hội góp phần phòng ngừa vi phạm và tội phạm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào cáo trạng, những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Theo quy định tại Điều 17 Luật Tổ chức VKSND, Điều 218 BLTTHS thì khi tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải thực hiện việc tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, nếu những người này trình bày ý kiến tranh luận phản bác lại một phần hoặc toàn bộ lời luận tội và đưa ra đề nghị của mình
Tại phiên tòa xét xử bị cáo là NCTN, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải đảm bảo sự tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc thực hiện các thủ tục tố tụng liên quan đến bị cáo là NCTN Trước hết, thành phần HĐXX phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Đối với Thẩm phán phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của NCTN Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể đề nghị Lãnh đạo Viện kiến nghị Tòa án quyết định xét xử kín
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, nếu ngoài những trường hợp hoãn phiên tòa như đối với vụ án mà bị cáo là người đã thành niên, Kiểm sát viên nhận thấy đại diện gia đình bị cáo chưa thành niên vắng mặt nhưng có lí
do chính đáng, vắng mặt đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, lao động, sinh sống, vắng mặt người bào chữa trong trường hợp bị cáo, đại diện hợp pháp của họ không từ chối người bào chữa
Ngoài ra, Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa hình sự có bị cáo là NCTN cần chú ý một số quy định tại Điều 11 thông tư 01/2011/ TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là NCTN như: không còng tay hoặc sử dụng các phương tiện cưỡng chế khác trong quá trình xét xử tại Tòa án, trừ trường hợp họ phạm tội đặc
Trang 34biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý hoặc có việc làm tiêu cực hoặc có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên toà; việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, thủ tục xét xử cũng như các câu hỏi đưa ra tại phiên tòa cần đơn giản, rõ ràng để đảm bảo cho NCTN và đại diện gia đình của họ có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi; HĐXX phải cho phép NCTN bày tỏ ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình và phải cân nhắc, xem xét các ý kiến, quan điểm, nguyện vọng đó trước khi ra bản án, quyết định Trường hợp có vi phạm thì Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải có trách nhiệm kiến nghị khắc phục ngay tại phiên tòa và báo cáo lãnh đạo Viện để kháng nghị nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Khi thực hiện công tác kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc tham gia tố tụng của những người tiến hành tố tụng và có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng khác; Kiểm sát viên có quyền đưa ra những yêu cầu để bảo đảm cho việc xét xử của Toà án đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong đó có việc đề nghị triệu tập thêm người làm chứng, đưa thêm vật chứng ra để xem xét Sau khi kết thúc phiên toà, Kiểm sát viên phải kiểm tra biên bản phiên toà
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong giai đoạn thi
Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án ra quyết định thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án là người chưa thành niên phải đảm bảo ra quyết định thi hành án đúng thẩm quyền, đúng nội dung theo quyết định của bản án, đúng thời hạn, kịp thời, bảo đảm tính giáo dục, nghiêm minh Kiểm sát viên phải chủ động nắm bắt các bản án
đã có hiệu lực pháp luật, các quyết định thi hành án của Tòa án, yêu cầu Tòa án cung cấp đầy đủ các quyết định thi hành án hoặc thông qua các quyền yêu cầu để kiểm tra việc Tòa án ra quyết định thi hành án Ngoài ra, các Viện kiểm sát nhân dân cần có sổ theo dõi việc ra quyết định thi hành án để ghi chép cập nhật thường xuyên và đầy đủ các quyết định thi hành án của Tòa án Thông qua việc ghi chép sổ sách đầy đủ, Kiểm sát viên có thể phát hiện ra các bản án chưa có quyết định thi hành án, thời hạn ra quyết định đã hết hay sắp hết để có biện pháp kịp thời tác động để ra quyết định thi hành án hoặc ra quyết định khác liên quan đến việc thi hành án Đối với những trường hợp
Trang 35người bị kết án phạt tù nhưng hiện chưa đi chấp hành án, Kiểm sát viên cần có biện pháp chủ động phối hợp với Tòa án để rà soát lại các đối tượng đó, phân loại các đối tượng này để có biện pháp xử lý như yêu cầu cơ quan công an ra quyết định truy nã hoặc tổ chức kiểm tra nơi đối tượng cư trú, vận động người thân của đối tượng thuyết phục đối tượng ra chấp hành án
Trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên
Theo quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên có thể bị xử
lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất mức độ vi phạm Các hình thức kỷ luật có thể được áp dụng đối với Kiểm sát viên theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 là: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Hạ bậc lương; d) Giáng chức; đ) Cách chức; e) Buộc thôi việc Trước viện trưởng, Kiểm sát viên có mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới; giữa người phân công nhiệm vụ và người được phân công nhiệm
vụ Những hành vi vi phạm của Kiểm sát viên như: không nhận nhiệm vụ được phân công; tuân thủ không đúng hoặc làm quá so với nhiệm vụ được phân công… (trừ trường hợp việc phân công nhiệm vụ của Viện trưởng là trái pháp luật thì Kiểm sát viên có quyền từ chối)
Trong quá trình điều tra vụ án, hoạt động lấy lời khai những người tham gia tố tụng và hỏi cung bị can là một trong những hoạt động chính, cần thiết và cơ bản của quá trình điều tra, một số Kiểm sát viên đã có hành vi sử dụng bức cung, nhục hình của đối với bị can, người làm chứng, người liên quan để các đối tượng này khai nhận theo ý muốn của họ Hành vi này không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sự đúng đắn của các cơ quan tư pháp mà nó còn xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của những người có liên quan, đặc biệt là đối với những bị can, bị cáo là người chưa thành niên Ngoài ra, có một vài Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng vì lợi ích cá nhân làm sai lệch hồ sơ vụ án bằng việc lạm dụng các quy định về “hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội” và “miễn trách nhiệm hình sự” dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của công dân và của xã hội Thêm vào đó, một số Kiểm sát viên thiếu trách nhiệm, cẩu thả đã không kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT khiến cho việc khởi tố vụ án, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can không có căn cứ hoặc trái pháp luật Có trường hợp khi
có sự kiện phạm tội xảy ra, Điều tra viên và Kiểm sát viên cùng họp bàn thống nhất không khởi tố vụ án nên dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm Khi Kiểm sát viên có những hành vi như: làm sai lệch hồ sơ vụ án; ra các quyết định tố tụng trái pháp luật; bức cung, dùng nhục hình khi trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra…, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Theo đó, Kiểm sát viên sẽ trở thành một trong những chủ thể của nhóm tội xâm phạm các hoạt động tư pháp thuộc chương XXII Bộ luật này
1.3 Những yêu cầu và điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Trang 36Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V (Khóa XI) đã ghi rõ: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp”
Đây là những định hướng rất quan trọng trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước, xuất phát từ nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống quyền lực nhà nước, về sự đóng góp to lớn của ngành Kiểm sát nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta và những mong đợi của xã hội, của nhân dân trong quá trình phát triển tiếp theo của đất nước
Từ những định hướng mang tính chiến lược đó cũng đặt ra cho Kiểm sát viên VKSND những yêu cầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của họ trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
1.3.1 Những yêu cầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
Dựa trên các kiến thức pháp lý đã được đào tạo qua sách vở cũng như những kinh nghiệm thực tiễn tham gia vào công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật những vụ án hình sự do NCTN phạm tội, yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đó là đấu tranh phòng chống tội phạm, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, đòi hỏi Viện kiểm sát phải thực hiện một cách chính xác và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong tố tụng hình sự Vì vậy theo ý kiến tôi, nếu xem xét dưới giác độ vai trò, trách nhiệm pháp lý thì hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản phải được thực hiện theo hai hướng chủ yếu: Một là, thông qua các công tác để thực hiện chức năng; hai là phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa với các chủ thể khác Bằng phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp tác động để áp dụng các biện pháp đấu tranh ngăn chặn tội phạm thông qua việc sử dụng các quyền năng và nghĩa vụ pháp lý của mình trong quá trình tố tụng
đã làm toát lên ý nghĩa và tác dụng phòng ngừa của mỗi công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Bởi vậy khi đánh giá hiệu quả của hoạt động phòng ngừa tội phạm sẽ không thể nào tách rời kết quả công tác công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp Điều đó cũng có ý nghĩa là: Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm, đòi hỏi Viện kiểm sát nhân dân phải không ngừng nâng cao chất lượng các công tác thực hiện chức năng, phải hướng trọng tâm các công tác chuyên môn nghiệp
vụ vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm Các Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng cùng với việc đảm bảo không để một tội phạm và người phạm tội nào không bị phát hiện, xử lý, còn có trách nhiệm làm rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa qua từng vụ án, đối với mỗi lĩnh vực, mỗi địa phương nhất định Ngoài ra, hoạt động của Kiểm sát viên khi
Trang 37tham gia vào vụ án hình sự nói chung, vụ án do NCTN phạm tội nói riêng là một chức năng tố tụng nhằm chống lại một người cụ thể, thực chất, quyền này tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân Vì vậy, Kiểm sát viên khi được giao nhiệm
vụ là được nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra trước tòa án và đại diện cho công lý buộc tội họ trước phiên tòa thì phải đảm bảo việc nghiên cứu hồ sơ một cách độc lập, hợp lẽ công bằng, bảo đảm pháp chế, không trái với các quy tắc đạo đức xã hội, đảm bảo các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng pháp luật, xác định tội phạm
và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Thứ hai, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động tố tụng đối với NCTN, Kiểm sát viên cần phải bảo đảm được quyền của NCTN khi tham gia TTHS, bởi về mặt tâm, sinh lý, NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất
và tinh thần, họ chưa hoàn toàn có khả năng kiểm soát hành vi, phân tích tình huống,
và hiểu được hậu quả của hành vi của mình Vì lý do trên, NCTN không thể tham gia vào quá trình tố tụng hay chịu chung mức hình phạt như pháp luật quy định đối với người đã trưởng thành, họ sẽ phải chịu TNHS một cách ít hơn so với hành vi phạm tội
đó nhưng do người đã thành niên thực hiện Cả công ước Quốc tế về quyền trẻ em cũng như luật pháp và chính sách của Việt Nam đều yêu cầu có những thủ tục pháp lý đặc biệt dành riêng cho bị can, bị cáo, người bị kết án là NCTN trong mỗi giai đoạn của TTHS Những thủ tục này nhằm đảm bảo cho NCTN có cơ hội để sửa đổi lỗi lầm của mình và trở thành công dân tốt, tránh đẩy họ vào sâu hơn tình trạng phạm tội Các VKS nói chung và Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự đối với NCTN nói riêng phải đảm bảo các bên tham gia vào quá trình tố tụng đó tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật TTHS và đảm bảo thực hiện biện pháp thân thiện đối với NCTN Đây chính là yêu cầu đặt ra đối với Kiểm sát viên tham gia hoạt động tố tụng đối với NCTN nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
Thứ ba, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với NCTN, Kiểm sát viên cần phải đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội đối với NCTN bị tình nghi là phạm tội đó “Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự) trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Nguyên tắc này thể hiện ở các nội dung sau: không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật; người bị tình nghi,bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ
Trang 38luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng
cứ xác thực không còn nghi ngờ Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo là NCTN đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ Nếu không chứng minh làm
rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích để áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho họ Ví dụ, nghi ngờ một người là người phạm tội nhưng không chứng minh được họ phạm tội thì phải coi họ là người vô tội; nghi ngờ một người phạm tội nặng nhưng không chứng minh được họ phạm tội nặng mà chỉ có cơ sở xác định họ hành vi của họ thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhẹ hơn thì phải coi là họ phạm tội nhẹ hơn…
Mục đích của tố tụng hình sự là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tọi phạm và người phạm tội Tuy nhiên, trong thực tế, có thể xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, cả hai khả năng oan và lọt cùng song song tồn tại mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định Trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi phải thực hiện theo hướng “Thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”
Cuối cùng, Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật những vụ án do NCTN phạm tội phải thể hiện được tính nhân đạo trong các quy định cũng như chính sách pháp luật Việt Nam Chương X BLHS có những điều khoản đặc biệt áp dụng cho NCTN vi phạm pháp luật hình sự Ngoài những nguyên tắc chung áp dụng cho mọi người, Điều 69 BLHS còn nêu rõ những nguyên tắc áp dụng cho NCTN như sau:
Về mục đích can thiệp: Xử lý NCTN vi phạm pháp luật hình sự là nhằm giáo dục
và giúp đỡ để chúng sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Yêu cầu đánh giá: trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội do NCTN gây ra, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải đánh giá khả năng hiểu biết của NCTN về mức độ nguy hiểm do hành vi của họ gây ra cho xã hội và nguyên nhân điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội đó
Miễn trách nhiệm hình sự: NCTN phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu họ phạm phải những tội ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng nhưng không gây tổn hại lớn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, và họ được gia đình, các tổ chức giám sát và giáo dục
Về chính sách xử lý: được quy định tại các Khoản 3 đến Khoản 6 điều 69 BLHS Ngoài BLHS, BLTTHS cũng quy định những nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội như:
Về chuyên môn của các cơ quan THTT: phải hiểu biết sâu sắc về NCTN, thành lập các phòng, ban chuyên trách xử lý những vụ án NCTN phạm tội
Trang 39Về yêu cầu chứng minh: ngoài những vấn đề cần chứng minh quy định tại Điều
63 BLTTHS, cần làm rõ những vấn đề như: độ tuổi, trình độ nhận thức, mức độ phát triển về trí tuệ, hoàn cảnh, môi trường sống, nguyên nhân – điều kiện phạm tội, vấn đề NCTN bị người đã thành niên lôi kéo
Về chính sách áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Điều 303 BLTTHS đã giới hạn chặt chẽ nhằm giảm việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN
Về người tham gia tố tụng: BLTTHS quy định, đối với NCTN tham gia vào hoạt động tố tụng, nhất định phải có người bào chữa; đại diện gia đình tham gia
Về tính riêng tư, nhân phẩm NCTN: điều 307 BLTTHS quy định, trong trường hợp cần thiết, vụ án liên quan đến NCTN có thể được xét xử kín Quy định này nhằm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với NCTN
Về chấp hành hình phạt: NCTN được chấp hành hình phạt tù theo một chế độ giam giữ riêng, trong thời gian chấp hành hình phạt, NCTN được đào tạo nghề hoặc học văn hóa,…
12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là NCTN cũng đưa ra nhiều quy định áp dụng đối với NCTN thể hiện chính sách nhân đạo sâu sắc trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.3.2 Điều kiện nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với NCTN
1.3.2.1 Vấn đề năng lực chuyên môn của Kiểm sát viên
BLTTHS năm 2003 chưa xây dựng điều luật cụ thể quy định về yêu cầu đối với chủ thể tiến hành tố tụng đối với những vụ án do NCTN thực hiện Tuy nhiên, ngoài những yêu cầu chung về người tiến hành tố tụng đối với những vụ án thông thường như: người THTT phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức, trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí tiến hành tố tụng, có năng lực công tác, có sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, được bổ nhiệm chức danh tư pháp,…(quy định Luật tổ chức VKSND 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên 2002); khi xây dựng những quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với NCTN phạm tội, trong những điều luật cụ thể cũng có nhắc đến yêu cầu riêng đối với người THTT khi tham gia vào hoạt động tố tụng đối với NCTN
Điều 302 BLTTH 2003 đã quy định rất rõ ràng: không chỉ Kiểm sát viên, mà Điều tra viên, Thẩm phán (người THTT nói chung) khi tiến hành tố tụng các vụ án có
bị can, bị cóa là NCTN phải là người có kiến thức về tâm lý và giáo dục NCTN, cũng như các hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm NCTN Ngoài ra, Điều
307 BLTTHS 2003 còn yêu cầu bắt buộc một trong hai hội thẩm tham gia vào HĐXX các vụ án có bị cáo là NCTN bắt buộc phải là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Quy định như vậy rất cần thiết vì chỉ khi có kiến thức về NCTN và các vấn đề liên quan đến chúng, những người THTT mới có thể đưa ra những phán xét đúng đắn về