1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự việt nam

81 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy trong BLTTDS có những quy định về nghĩa vụ của đương sự gọi tắt là nghĩa vụ tố tụng - NVTT của đương sự còn quy định rải rác, chưa thật cụ thể như quy định quyền và nghĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ HUYỀN

Hà Nội – 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hoàng Phúc

Trang 3

BLDS 2005 Bộ luật Dân sự 2005

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự

BLTTDS 2004 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

BLTTDS 2011 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 BPKCTT Biện pháp khẩn cấp tạm thời

PLCPGĐĐG Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng,

người phiên dịch trong tố tụng 2012 QHPL Quan hệ pháp luật

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Trang 4

1.2 Cơ sở quy định nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự 11

1.4 Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về nghĩa vụ của

đương sự trong tố tụng dân sự

16

Chương 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ

21

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam về nghĩa vụ của đương sự

2.2.2 Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án 36 2.2.3 Nghĩa vụ chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết

vụ

41

2.2.4 Nghĩa vụ tôn trọng Tòa án và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa 41

Trang 5

Kết luận Chương 2 48

Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA

ĐƯƠNG SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM

THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ

NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ

51

3.1 Thực tiễn thực hiện nghĩa vụ tố tụng của đương sự 51 3.1.1 Đương sự không cung cấp chứng cứ và chứng minh 52 3.1.2 Không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án 54 3.1.3 Không chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ

án

57

3.1.4 Đương sự không tôn trọng Tòa án, vi phạm nội quy phiên tòa 57 3.1.5 Không nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng chi phí giám định, định giá 58

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy định

của pháp luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ của đương sự

trong thời gian giải quyết vụ án dân sự

62

3.2.5 Bổ sung quy định thế nào là hành vi không tôn trọng Tòa án, vi phạm nội

quy, trật tự phiên tòa và biện pháp xử lý

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Việc giải quyết vụ án dân sự (VADS) tại Tòa án là do nhu cầu giải quyết các quan

hệ pháp luật (QHPL) nội dung giữa các đương sự nên các đương sự là một thành phần chủ yếu, không thể thiếu của VADS Không có đương sự thì cũng không thể có VADS tại Tòa

án Để bảo đảm giải quyết nhanh chóng, đúng đắn các VADS, các đương sự cần thực hiện tốt nghĩa vụ của mình để không làm ảnh hưởng đến thời hạn xét xử và kết quả giải quyết VADS Khi tham gia QHPL tố tụng dân sự (TTDS), các đương sự thường chỉ quan tâm nhiều đến quyền của mình mà không để ý tới nghĩa vụ của mình đối với việc giải quyết VADS Do đó, ý thức chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự (PLTTDS) về nghĩa

vụ của đương sự thường không tốt dẫn đến gây trở ngại cho Tòa án, khó khăn cho các đương sự khác trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ Đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng án quá hạn của Tòa án ngày một nhiều, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết VADS, gây bức xúc cho các đương sự khác Mặt khác, việc áp dụng chế tài đối với những hành vi vi phạm nghĩa vụ của đương sự chưa được thực thi trên thực tế khiến cho việc hiện nghĩa vụ của đương sự chưa được tốt

Nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp xử lý việc không thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong PLTTDS Việt Nam được quy định tại chương VI, chương XIV và chương XXXII Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Thực tế cho thấy trong BLTTDS có những quy định về nghĩa vụ của đương sự (gọi tắt là nghĩa vụ tố tụng - NVTT) của đương sự còn quy định rải rác, chưa thật cụ thể như quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong cùng một điều luật nhưng không phân định rõ đâu là quyền và đâu là nghĩa vụ hoặc có những quy định đến nay vẫn chưa được ban hành như về thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động TTDS khiến cho Thẩm phán, Tòa án không có cơ sở

để xử lý các hành vi không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, dẫn đến việc chấp hành NVTT của đương sự chưa được nghiêm, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết VADS và làm cho sự nghiêm minh của pháp luật không được bảo đảm

Đúng như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm

2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020, đã nhận định: “Chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư

Trang 7

pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung” Do đó, nhiệm vụ đặt ra trong cải

cách tư pháp là: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố

tụng tư pháp” trong đó cần “tiếp tục hoàn thiện thủ tục TTDS Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” theo

hướng: “Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý

bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”, “tạo điều kiện thuận lợi cho người dân Ttham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”

Do đó, việc nghiên cứu đề tài Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam là hết sức cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay về cả lý luận và thực tiễn Qua đó, có

cách nhìn tổng quan hơn, rõ ràng hơn về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Từ đó, tìm ra những thiếu sót, bấp cập trong việc áp dụng pháp luật để đưa ra các biện pháp khắc phục vướng mắc, kiến nghị sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến nay chưa có một bài viết hay công trình khoa học nào nghiên cứu riêng, đầy đủ

và chi tiết về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Nghĩa vụ của đương sự trong TTDS chỉ được đề cập đến trong một phần bài viết, đề tài nghiên cứu về đương sự như: Bài viết

“Người tham gia TTDS” của ThS Nguyễn Việt Cường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân

(TAND), số 8/2005, tr 14 – 20; Luận văn thạc sỹ luật học năm 2008, luận án tiến sỹ luật

học năm 2010 với đề tài “Đương sự trong TTDS - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương và Khoá luận tốt nghiệp năm 2010 với đề tài “Đương sự trong

TTDS” của tác giả Lê Thị Phượng Tất cả đều nghiên cứu về khái niệm, thành phần, năng

lực hành vi TTDS của đương sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự và thực tiễn đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng cũng chủ yếu nói về quyền của đương sự, còn nghĩa vụ của đương sự thì chỉ nói về nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập và hậu quả pháp lý của sự vắng mặt Hoặc là chỉ nghiên cứu về một nghĩa vụ nào đó của đương sự như

nghĩa vụ chứng minh của đương sự có Khoá luận tốt nghiệp năm 1997 với đề tài “Nghĩa vụ

chứng minh của đương sự trong TTDS” của tác giả Lê Tiến Tý hay chỉ nghiên cứu về

bảo đảm sự có mặt của bị đơn như bài viết “Bảo đảm sự có mặt của bị đơn và những vấn đề

liên quan khi giải quyết VADS” của tác giả Lê Xuân Tri đăng trên Tạp chí TAND số 1 năm

1998 Các tác giả trên đã đưa ra được một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện PLTTDS về

Trang 8

đương sự nhưng đến nay BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 phần nào

đã giải quyết được một số bất cập và kiến nghị của các tác giả Qua hơn một năm thi hành BLTTDS sửa đổi, thực tế vẫn có những bất cập mới chưa được giải quyết Do đó, rất cần những đề tài nghiên cứu chỉ ra được những bất cập đó của PLTTDS hiện hành, để từ đó đưa

ra được những kiến nghị sửa đổi, bổ sung có tính khả thi, kịp thời hoàn thiện PLTTDS về đương sự nói chung, về NVTT của đương sự nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, yêu cầu của đương sự tại Tòa án các cấp thì đương sự có nghĩa vụ dân sự đối với đương sự có quyền dân sự và có NVTT đối với Tòa

án Trong TTDS có loại thủ tục giải quyết vụ án dân sự (VADS) và có loại thủ tục giải quyết việc dân sự (VDS) Do giới hạn không cho phép nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm do luật TTDS điều chỉnh (hay còn gọi là nghĩa vụ tố tụng) Trong số NVTT của đương sự thì đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu về một số nghĩa vụ quan trọng mà việc không thực hiện nghĩa vụ đó của đương sự sẽ làm ảnh hưởng đến thời hạn và kết quả giải quyết đúng đắn của VADS đó

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ trương cải cách tư pháp Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác nhau cũng được sử dụng như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, thống

kê, diễn giải, quy nạp

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, từ đó phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về NVTT của đương sự và thực tiễn thực hiện các quy định này ở Tòa án; đồng thời

đi sâu nghiên cứu các biện pháp xử lý đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ TTDS nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự một cách đúng đắn, để từ đó tìm ra giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật TTDS về NVTT của đương sự giúp cho hoạt động

tố tụng tại Tòa án được bảo đảm, được tôn trọng và giữ gìn sự nghiêm minh của pháp luật

Trang 9

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS như khái niệm, ý nghĩa của việc quy định nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền của đương sự trong TTDS, mối quan hệ giữa nghĩa vụ TTDS của đương

sự với hoạt động TTDS tại Tòa án, các yêu cầu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong TTDS

- Nêu khái quát về sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về nghĩa vụ của đương sự

- Nghiên cứu quy định của PLTTDS một số nước về nghĩa vụ của đương sự để tìm ra những điểm phù hợp nhằm tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này

- Phân tích làm rõ các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về nghĩa vụ của đương sự để tìm ra những hạn chế, bất cập của các quy định này

- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS,

để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS về nghĩa vụ của đương sự

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, luận văn có những đóng góp mới sau:

- Xây dựng được khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS

- Phân tích và làm sáng tỏ những điểm bất cập của các quy định pháp luật tố tụng về nghĩa vụ của đương sự

- Nêu ra thực tiễn việc thực hiện NVTT của đương sự tại một số Tòa án

- Đưa ra một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp xử lý hành vi không thực hiện hoặc chậm thực hiện NVTT của đương sự

7 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, có hệ thống

về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về nghĩa vụ của đương sự trong TTDS, qua đó có cơ sở

lý luận để phân tích, đánh giá những bất cập của các quy định pháp luật TTDS hiện hành,

Trang 10

đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật TTDS về nghĩa vụ của đương sự để làm

cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS

Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Thư ký trong công tác thực tiễn và có thể được sử dụng để đóng góp vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTDS về nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp bảo đảm thực hiện NVTT của đương sự

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Chương 2: Nội dung pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nghĩa vụ của đương sự Chương 3: Thực tiễn thực hiện nghĩa vụ tố tụng của đương sự và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ của đương sự

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự:

Nghĩa vụ mà tiếng Anh và tiếng Pháp đều viết là “obligation” có nguồn gốc từ danh

từ “obligatio” của tiếng Latin Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghĩa vụ như:

“Nghĩa vụ là một QHPL được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một chủ thể (chủ thể quyền -

người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định” [7, tr 11]. Cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang tên

“Petit Dictionnaire de Droit” định nghĩa: “Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó một

người, được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó”[42] Điều thứ 676 Bộ luật dân sự (BLDS) Trung Kỳ

1936 và Điều thứ 641 BLDS Bắc Kỳ đã định nghĩa: Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật

thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm gì đối với một hay nhiều người nào đó

Còn "tố tụng" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định

những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)" [9, tr 302] Sách Tiếng nói nôm na của

Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn

Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái (trang 1027-1028) Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure" (tiếng Pháp) hay “procedure” (tiếng Anh) đều bắt nguồn từ chữ La tinh procedere nghĩa là tiền bước, gợi lên ý tưởng một đường lối phải theo để đi đến chỗ

thắng kiện như trong Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921; Bộ dân sự, thương sự tố tụng Trung kỳ năm 1935 Dưới chế độ cũ ở miền Nam trước năm 1975, cũng

có Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng năm 1972 Hoặc theo Pothier, một luật gia trứ danh

cuối thế kỷ XIX đã định nghĩa: “Tố tụng là hình thức phải theo để đệ đơn kiện, kháng biện,

can thiệp, cứu xét, phán xử, thượng khống và thi hành án văn” [31]

Như chúng ta đã biết, nghĩa vụ dân sự của một người bắt đầu từ khi người đó tham vào một giao dịch dân sự và kết thúc khi người đó thực hiện xong nghĩa vụ của mình đối với người có quyền dân sự Nhưng khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự xảy ra và

Trang 12

được giải quyết tại Tòa án thì chỉ khi có phán quyết của Tòa án bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật thì mới xác định được đương sự nào có quyền dân sự và đương

sự nào có nghĩa vụ dân sự Lúc này, đương sự có nghĩa vụ dân sự mới phải thực hiện nghĩa

vụ dân sự của mình Nhưng để có được phán quyết của Tòa án một cách nhanh chóng, đúng đắn thì việc giải quyết tranh chấp phải diễn ra trong một quá trình TTDS mà ở đó đương sự vừa có quyền lại vừa có NVTT Chỉ khi có việc giải quyết VADS tại Tòa án thì khi đó đương sự mới có NVTT Việc giải quyết VADS được bắt đầu từ khi có đơn khởi kiện cho đến khi có phán quyết của Tòa án và đương sự phải thực hiện NVTT trong suốt quá trình

giải quyết VADS

Trong các văn bản pháp luật tố tụng từ trước đến nay đều không có khái niệm NVTT của đương sự mặc dù thuật ngữ “nghĩa vụ tố tụng dân sự” hoặc “nghĩa vụ tố tụng” đã được

sử dụng trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) như Điều

20 quy định Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, Điều 23 quy định Quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện được uỷ quyền, Điều 27 quy định Sự kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, Điều 29 quy định Quyền và nghĩa vụ tố tụng của tổ chức

xã hội BLTTDS năm 2004 cũng sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ tố tụng” tại các Điều như 57,

62, 67, 74, 189, 192, 406 Đến năm 2011, BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung cũng vẫn

sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ tố tụng” Trong các công trình nghiên cứu trước đây cũng như

các giáo trình của các trường đại học hay PLTTDS của nước ngoài cũng sử dụng thuật ngữ này nhưng cũng không đưa ra khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS hay NVTT Tuy nhiên, từ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS một cách khái quát như sau:

Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự (gọi tắt là NVTT của đương sự) là việc bắt buộc đương sự phải thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật

1.1.2 Đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

- Nghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

Các chủ thể của hoạt động TTDS rất đa dạng, bao gồm: Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng (TGTT), người liên quan Tùy thuộc vào mục đích TGTT và địa vị pháp lý của mỗi chủ thể mà mối liên hệ giữa các chủ thể này với nhau

Trang 13

trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án là khác nhau Trong các chủ thể đó, đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS bởi lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng Mối liên hệ giữa đương sự và Tòa án là rõ nét nhất trong quá trình TTDS Khi đương sự thực hiện nghĩa vụ của mình là cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa

vụ pháp lý của các chủ thể khác như Tòa án, Viện kiểm sát và những người TGTT khác Chẳng hạn, về nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chính trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ, Tòa án chỉ tiến hành việc thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định khi mà đương sự không

tự thu thập được và có yêu cầu

Trong quá trình giải quyết VADS, đa phần nghĩa vụ của đương sự là phải thực hiện đối với yêu cầu của Tòa án Sau khi có phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm, nếu Viện kiểm sát muốn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu đương sự cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị thì đương sự sẽ có NVTT là cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với Viện kiểm sát Ở một số quốc gia như Cộng hòa Pháp thì đương sự còn có nghĩa vụ với nhau như nghĩa vụ phải gửi các tài liệu chứng cứ của mình cho phía bên kia nhưng PLTTDS Việt Nam lại không quy định các đương sự có nghĩa vụ gì với nhau mà chỉ quy định đương sự có nghĩa vụ đối với Tòa án trong việc giải quyết VADS Do đó, có thể nói rằng nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Việt Nam là nghĩa vụ đối với Nhà nước, với Tòa án và trong một số trường hợp là đối với Viện kiểm sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Tòa án là chủ thể đặc biệt duy nhất được thực hiện quyền lực của Nhà nước để giải quyết VADS Để thực hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết VADS, Tòa án có quyền yêu cầu đương sự và những người TGTT khác phải thực hiện NVTT Các đương sự

có những nghĩa vụ chung mà bất cứ một đương sự nào khi đến Tòa án cũng phải thực hiện mặc dù không nhận được bất cứ một văn bản tố tụng tố tụng nào của Tòa án như nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, nghĩa vụ chấp hành nội quy phiên tòa Có những nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện theo văn bản tố tụng của Tòa án như giấy triệu tập, thông báo, quyết định, bản án buộc các đương sự phải thi hành như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa

án, nghĩa vụ chấp hành các thông báo, quyết định của Tòa án Có những nghĩa vụ đương

sự vừa có thể tự thực hiện vừa có thể phải thực hiện theo yêu cầu của Tòa án như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Mỗi một VADS khác nhau lại có quá trình tiến hành tố tụng khác nhau như thủ tục giải quyết vụ án,

Trang 14

thủ tục giải quyết việc Trong thủ tục giải quyết vụ án có thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục hòa giải công nhận sự thỏa thuận, thủ tục đưa vụ án ra xét xử Trong thủ tục giải quyết VADS thì có các thủ tục giải quyết các yêu cầu khác nhau, mỗi yêu cầu lại có một thủ tục riêng Như vậy, ở mỗi một VADS áp dụng thủ tục gì thì đương sự sẽ phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của thủ tục đó

Tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo điều kiện để cho các đương sự thực hiện được đầy đủ các nghĩa vụ của mình Các đương sự thực hiện các NVTT của mình một cách có thiện chí và đúng theo quy định của pháp luật thì sẽ bảo đảm cho việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn Trường hợp đương sự chống đối, không hợp tác, không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án, không đến Tòa

án theo giấy triệu tập sẽ gây cản trở cho hoạt động tố tụng của vụ án đó, làm cho vụ án bị quá hạn luật định hoặc nếu xét xử được thì có thể không thực sự đúng sự thật khách quan vì chỉ xét xử theo tài liệu, chứng cứ của một bên cung cấp

- Nghĩa vụ tố tụng của đương sự mang tính bắt buộc và phải chịu chế tài nếu không thực hiện

NVTT của đương sự là do PLTTDS quy định, bắt buộc các đương sự phải thực hiện khi khởi kiện và tham gia vào quá trình giải quyết VADS Các đương sự đều phải thực hiện những NVTT bình đẳng như nhau, không phân biệt tư cách TGTT Cho dù đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì đều có NVTT chung phải thực hiện như nhau như đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, đều phải tôn trọng Tòa án và chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án Nhưng khi giải quyết từng yêu cầu cụ thể của đương sự và dựa vào từng kết quả giải quyết yêu cầu đó mà các đương sự lại có NVTT khác nhau như yêu cầu được chấp nhận thì nguyên đơn không phải chịu án phí, còn bị đơn phải chịu án phí Chế tài áp dụng đối với các đương sự khi không thực hiện NVTT là khác nhau, phụ thuộc vào tư cách TGTT của đương sự đó như Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà nguyên đơn không

có mặt thì VADS sẽ được đình chỉ, còn bị đơn vắng mặt thì vụ án vẫn được đưa ra xét xử vắng mặt bị đơn

- Nghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết với nghĩa vụ dân sự của đương sự

và quyền tố tụng của đương sự

NVTT của đương sự có mối liên hệ mật thiết với nghĩa vụ dân sự (NVDS) của đương sự Chỉ có người có quyền dân sự và NVDS có tranh chấp tại Tòa án thì người đó mới trở thành đương sự và có NVTT Chủ thể của NVDS là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại) Khi chủ thể của

Trang 15

quan hệ pháp luật nội dung khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp và được Tòa án thụ lý giải quyết thì họ trở thành đương sự - chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS và họ có NVTT Việc thực hiện NVTT của đương sự góp phần bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự của mình

Khi TGTT tại Tòa án, cùng với việc được hưởng các quyền tố tụng, đương sự cũng phải thực hiện các NVTT Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các đương sự

có quyền bình đẳng về quyền và NVTT Mọi quyền và nghĩa vụ của đương sự đều có mối liên hệ mật thiết với nhau Thông thường, quyền tố tụng có trước, NVTT có sau Ví dụ như: nguyên đơn có quyền khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên khi khởi kiện nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh rằng quyền và lợi ích của nguyên đơn bị xâm phạm Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện nhưng cũng có quyền tố tụng trước là quyền được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện rồi mới phải thực hiện NVTT là phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có (Điều 56, 58, 59, 175 BLTTDS 2004) Việc đương sự không thực hiện NVTT ảnh hưởng đến chính đương sự đó và những chủ thể khác Đối với bản thân họ sẽ phải chịu chế tài như bị phạt tiền, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu của đương

sự Đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thì gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, cản trở quá trình tìm ra công lý của quan Tòa Đối với các đương sự khác thì gây mất thời gian, chi phí đi lại hoăc gây khó khăn trong quá trình chứng minh của người đó Trong khi đó, đương sự không thực hiện quyền của mình thì không phải chịu gì

cả Trên thực tế, quyền tố tụng là vấn đề các đương sự quan tâm hơn là NVTT và nếu có quan tâm thì đương sự bên này chỉ quan tâm đến NVTT của đương sự bên kia Cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến hành tố tụng thì quan tâm đến việc chấp hành NVTT của các đương sự, còn các đương sự chỉ quan tâm đến quyền của mình khi TGTT Bên cạnh đó,

có một số nghĩa vụ của đương sự cũng là quyền của đương sự khi tham gia TTDS như quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

Về nguyên tắc, để bảo đảm việc giải quyết VADS được khách quan, đúng pháp luật thì các đương sự phải bình đẳng với nhau về nghĩa vụ TTDS NVTT của các đương sự là bình đẳng giữa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không phân biệt cá nhân hay cơ quan, tổ chức, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu

NVDS của đương sự do các bên thỏa thuận, pháp luật quy định hoặc theo phán quyết của Tòa án Còn NVTT của đương sự là do pháp luật TTDS quy định Khi đương sự có điều kiện thực hiện đầy đủ các NVTT cũng chính là lúc họ có điều kiện nhất trong việc bảo

vệ các quyền và nghĩa vụ dân sự

Trang 16

- Nghĩa vụ tố tụng của đương sự có thể được thực hiện thông qua người đại diện và có thể được chuyển giao cho người khác

Vấn đề này phụ thuộc vào NVDS, bởi chỉ có những NVDS được chuyển giao cho người khác (như NVDS về tài sản) thì NVTT của người đó mới được chuyển giao Trong quá trình Tòa án giải quyết VADS, đương sự có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện hợp pháp tham gia vào bất kỳ giai đoạn nào của quá trình này để thực hiện các NVTT Người đại diện của đương sự là người TGTT thay mặt đương sự thực hiện quyền và NVTT

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án Người đại diện có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật có đầy

đủ tất cả các NVTT của đương sự, trừ quyền hòa giải trong vụ án ly hôn, còn người đại diện theo ủy quyền chỉ phải thực hiện NVTT trong phạm vi được ủy quyền

Trong quá trình Tòa án đang giải quyết VADS có thể có một trong các đương sự là

cá nhân chết hoặc đương sự là cơ quan tổ chức đang TGTT phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì NVTT của đương

sự sẽ được chuyển giao cho những cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa NVDS về tài sản Trường hợp NVDS của họ không được kế thừa thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS

Từ khái quát và đặc điểm của nghĩa vụ của đương sự trong TTDS như trên, có thể đưa ra khái niệm cụ thể hơn về NVTT của đương sự như sau:

Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự (gọi tắt là NVTT của đương sự) là việc bắt buộc đương sự phải thực hiện đối với Nhà nước, với cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, với đương sự và với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng và bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật

1.2 Cơ sở quy định nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

Việc pháp luật quy định đúng, đầy đủ và hợp lý NVTT của đương sự trong TTDS là một bảo đảm cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn VADS Vì vậy, việc làm rõ được các cơ sở quy định NVTT của đương sự là vô cùng cần thiết trong việc đánh giá các quy định của PLTTDS hiện hành về NVTT của đương sự Qua việc nghiên cứu cho thấy, PLTTDS hiện hành quy định về NVTT của đương sự dựa trên những cơ sở sau:

1.2.1 Cơ sở lý luận:

Khi các chủ thể của các QHPLDS thực hiện việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, giải quyết yêu cầu và được Tòa án thụ lý thì các chủ thể của QHPLDS được Tòa án giải quyết trở thành đương sự trong TTDS Lúc này, đương sự không chỉ dừng lại ở việc có

Trang 17

được các quyền và NVDS mà còn được PLTTDS quy định cho các chủ thể này các quyền

và NVTT khi TGTT trong việc giải quyết VADS Các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương

sự có mối liên hệ mật thiết với các quyền và NVDS của đương sự, trong đó, quyền và NVDS của đương sự và nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án là nền tảng để ghi nhận các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự Đồng thời việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ TTDS của đương sự là bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự Vì vậy, xét về mặt lý luận việc ghi nhận nghĩa vụ TTDS của đương sự phải dựa trên cơ sở, phù hợp với quyền và NVDS, cụ thể được thể hiện như sau:

- Khi TGTT tại Tòa án để giải quyết VADS, đương sự có quyền về dân sự phải có NVTT là chứng minh rằng họ là chủ thể có quyền, lợi ích về dân sự đang có tranh chấp Đồng thời họ có nghĩa vụ chứng minh đương sự kia là người có nghĩa vụ về dân sự

- Các chủ thể trong QHDS bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, tức là bình đẳng trong việc hưởng quyền và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng như chịu trách nhiệm trong các QHDS mà mình tham gia Vì vậy, việc ghi nhận các NVTT của đương sự cũng phải dựa trên cơ sở bảo đảm các đương sự bình đẳng với nhau về NVTT Sự bình đẳng về NVTT của đương sự trong TTDS không đồng nghĩa với việc các đương sự đều có nghĩa vụ giống nhau mà được hiểu là ngoài những NVTT giống nhau của đương sự thì mỗi đương sự TGTT với tư cách khác nhau sẽ có những NVTT khác nhau Xét một cách tổng thể thì các đương sự TGTT với tư cách khác nhau nhưng bình đẳng với nhau về điều kiện

để TGTT, điều kiện thực hiện NVTT

- Việc quy định NVTT của đương sự phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc ghi nhận NVTT của đương sự với nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án và Viện kiểm sát cũng như quyền và NVTT của các chủ thể tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch đúng với vai trò của mỗi chủ thể này trong TTDS Bởi vì, cùng với việc quy định quyền của đương sự thì đồng thời phải xác định nghĩa vụ của các chủ thể khác trong việc bảo đảm quyền của đương sự và ngược lại, khi các chủ thể trong TTDS có các quyền tố tụng thì đồng thời xác định NVTT của chủ thể khác nhằm bảo đảm cho việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn Trong mối quan

hệ trung tâm giữa Tòa án với đương sự, việc ghi nhận các NVTT của đương sự phải bảo đảm sự tôn trọng của đương sự đối với Tòa án, không gây khó khăn và cản trở Tòa án thực hiện quyền lực Nhà nước, bảo đảm cho Tòa án giải quyết VADS một cách kịp thời và đúng đắn nhưng Tòa án cũng phải có nghĩa vụ bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền và

Trang 18

NVTT của mình

Bổ sung hay mở rộng quyền của đương sự phải đi đôi với việc xác định NVTT của đương sự đó khi TGTT Đồng thời, quy định các quyền hạn của Tòa án đối với đương sự để Tòa án có cơ sở tiến hành giải quyết và áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời những hành vi

vi phạm NVTT của đương sự nhằm thực hiện được mục đích của TTDS là bảo đảm việc giải quyết VADS được nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật

tế đó, đòi hỏi PLTTDS phải quy đinh rõ ràng NVTT của đương sự như phải quy định rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi TGTT tại Tòa án, để họ dễ nhận biết và thực hiện, đồng thời phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc và kịp thời những hành vi vi phạm NVTT của đương sự đã gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa án

Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan làm cho quá trình giải quyết VADS có sai lầm dẫn đến án bị hủy đi hủy lại nhiều lần, gây mất lòng tin của đương

sự, dẫn đến sự chống đối của họ đối với quá trình hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết VADS Sai lầm này do những người tiến hành tố tụng đã chịu sự tác động, chi phối từ nhiều phía, có thể từ cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa phương, từ cơ quan quản lý cấp trên, từ những người thân thích hoặc quen biết họ hoặc do hạn chế về chuyên môn, thái

độ sách nhiễu, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho đương sự không tin vào phán quyết của Tòa án nên đã có hành vi không thực hiện NVTT của mình, cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án

Việc nhà nước quy định các NVTT của đương sự nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi

để cho các bên đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về nội dung của mình; tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự thực hiện quyền TTDS của mình; giúp cho việc

Trang 19

giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn Việc các đương sự thực hiện NVTT như thế nào sẽ có ý nghĩa nhất định đối với quá trình giải quyết VADS Do vậy, trong quá trình

tố tụng các đương sự phải thực hiện NVTT của mình một cách có thiện chí và đúng theo quy định của pháp luật

1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.3.1 Tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp của pháp luật về nghĩa vụ của đương sự trong

tố tụng dân sự

Nghĩa vụ của đương sự và việc bảo đảm nghĩa vụ của đương sự là hai mặt không thể tách rời nhau PLTTDS nếu chỉ dừng lại ở việc quy định đầy đủ nghĩa vụ của đương sự thì vẫn chưa đủ mà cẩn phải có các quy định bảo đảm cho việc đương sự thực hiện tốt nghĩa vụ của mình khi TGTT tại Tòa án Bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong TTDS

là trách nhiệm thuộc về Tòa án và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác

Về cơ bản PLTTDS hiện hành đã có nhiều quy định nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự như quy định các biện pháp bảo đảm cần thiết như cảnh cáo, phạt tiền người vi phạm, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những quy định cụ thể nhằm bảo đảm sự trợ giúp của cá nhân, cơ quan, tổ chức để đương sự có thể thực hiện nghĩa vụ của mình Đồng thời, còn thiếu những quy định cụ thể

để xử lý các hành vi vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự như thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt hành vi vi phạm nghĩa vụ Thực tế đó chứng tỏ PLTTDS hiện hành cần nhanh chóng hoàn thiện, đồng bộ với luật nội dung, bảo đảm tính nghiêm minh,

công bằng, dân chủ và pháp chế, từ đó có những quy định cụ thể, thống nhất để bảo đảm

việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự nhất là bảo đảm việc bị đơn và người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án Cần có sự thống nhất về nhận thức cũng như bổ sung quy định của PLTTDS về việc đương sự không thực hiện NVTT thì

sẽ không được hưởng quyền tố tụng Cần thiết có thể bổ sung quy định các chế tài nghiêm khắc hơn nữa đối với việc đương sự không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không tôn trọng Tòa án như phạt tiền nặng hơn hoặc có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải đương

sự đó đến Tòa án hoặc không được hưởng một số quyền tố tụng

Để bảo đảm cho việc áp dụng chế tài đối với đương sự không thực hiện NVTT đạt hiệu quả, cần thiết phải ban hành trình tự, thủ tục, biện pháp áp dụng và thi hành chế tài đó

có tính khả thi nhất Tránh việc Tòa án ban hành quyết định áp dụng các chế tài mà PLTTDS quy định nhưng không thể thực thi trên thực tế Ví dụ như: Tòa án quyết định

Trang 20

phạt tiền đương sự nhưng Cơ quan thi hành án dân sự không thể thu tiền của đương sự được do họ không chịu nộp tiền hoặc không có tiền để nộp hoặc chi phí để Cơ quan thi hành án phải bỏ ra để cưỡng chế thi hành lớn hơn số tiền có thể thu được Vậy giải pháp trong vấn đề này như thế nào cần có sự sửa đổi, bổ sung PLTTDS một cách toàn diện và đồng bộ mới tạo điều kiện để bảo đảm cho việc thực hiện tốt NVTT của đương sự

1.3.2 Ý thức chấp hành pháp luật của đương sự

Việc thực hiện tốt NVTT của đương sự nhất là bảo đảm sự có mặt của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn sẽ quyết định quá trình giải quyết VADS nhanh hay chậm, có hiệu quả hay không Thực tế, trong quá trình giải quyết VADS có nhiều trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn đã không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, cố tình trốn tránh, làm cho

vụ án bị kéo dài, gây khó khăn cho việc Tòa án giải quyết vụ án Có trường hợp đương sự không những cố tình trốn tránh, từ chối khai báo, mà còn thách thức cán bộ Tòa án, khi cán

bộ Tòa án trực tiếp đến nhà đương sự để lấy lời khai, xem xét, định giá Còn về phía nguyên đơn thì nhiều trường hợp chưa thực sự tích cực trong việc thu thập chứng cứ mà có

tư tưởng ỷ lại cho Tòa án Nguyên nhân của sự việc đó có thể do ý thức chấp hành pháp luật của đương sự không tốt hoặc do đương sự không có lòng tin đối với việc giải quyết VADS của Tòa án Do đó, có thể nói rằng ý thức chấp hành pháp luật của đương sự là một trong những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện tốt NVTT của đương sự

Ý thức chấp hành pháp luật của đương sự còn bị ảnh hưởng bởi sự tư vấn mang tính chất cố tình gây khó khăn cho hoạt động tố tụng của Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự đó về dân sự của một số luật sư, luật gia với mục đích bảo vệ thân chủ của mình đến cùng, bất chấp việc tư vấn đó có thể gây khó khăn, cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa án

1.3.3 Trách nhiệm của Tòa án

Tòa án là cơ quan thực hiện quyền lực của Nhà nước trong việc xét xử, giải quyết VADS, là cơ quan tiến hành tố tụng và là chủ thể có quyền áp dụng các thủ tục và biện pháp

tố tụng đối với đương sự Do đó, trách nhiệm của Tòa án cũng rất quan trọng trong việc thực hiện quyền của mình đối với NVTT của đương sự Tòa án thực hiện quyền của mình một cách khách quan, vô tư, công minh và bình đẳng đối với tất cả các đương sự, không phân biệt đương sự đó là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là cá nhân

Trang 21

hay cơ quan, tổ chức thì sẽ tạo điều kiện cho đương sự thực hiện được NVTT của mình một cách tốt nhất và tạo được lòng tin của đương sự vào việc giải quyết VADS

Khi thực hiện quyền của Tòa án trong việc yêu cầu đương sự thực hiện NVTT như triệu tập đương sự đến Tòa án, thì Tòa án cũng cần phải có cách áp dụng một cách linh hoạt

và khoa học như: Việc triệu tập đương sự trực tiếp hay gián tiếp qua bưu điện, qua chính quyền địa phương thì phải đảm bảo giấy đó đến tay đương sự trước đó ít nhất từ một đến hai ngày để họ còn sắp xếp công việc ở cơ quan và gia đình thì mới có thể có mặt đúng giờ theo giấy triệu tập của Tòa án được Hoặc đương sự đã thông báo trước với Tòa án là họ bận công việc vào buổi sáng thì Tòa án cần triệu tập họ vào buổi chiều Khi đã triệu tập được đương sự đến Tòa án thì cần tận dụng hết thời gian đương sự có mặt ở Tòa án để thực hiện các thủ tục tố tụng, tránh việc chỉ triệu tập lên để giao tài liệu, chứng cứ hoặc nhận văn bản tố tụng của Tòa án rồi lại để họ về sẽ khiến cho đương sự không coi việc có mặt là quan trọng Ngoài ra, cán bộ Tòa án cũng cần phải nâng cao trách nhiệm trình độ, năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp, thái độ tiếp đương sự thì mới tạo được niềm tin cho đương sự vào việc giải quyết VADS, từ đó họ sẽ thực hiện tốt NVTT của mình

1.4 Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về nghĩa vụ của đương sự trong

BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp đã quy định đương sự có một số nghĩa vụ tố tụng

như: nghĩa vụ viện dẫn, giải thích và chứng minh các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình (Điều 6, 8, 9); có nghĩa vụ giúp thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ; nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ, thì theo yêu cầu của bên kia, thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yêu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế (Điều 11); có nghĩa vụ cung cấp những văn bản giải thích pháp luật cần thiết để giải quyết vụ tranh chấp theo yêu cầu của Thẩm phán (Điều 13); phải thông báo cho nhau, trong một thời gian hợp lý, những tình tiết làm căn cứ cho những yêu cầu của mình, những chứng cứ đã xuất trình và căn cứ pháp luật đã viện dẫn, nhằm bảo đảm cho mỗi bên đương sự có thể tự tổ chức việc bảo vệ quyền lợi của mình (Điều 15); có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án (Điều 24); bên đương sự đưa ra một

Trang 22

giấy tờ, tài liệu nào đó làm căn cứ có nghĩa vụ phải trao đổi giấy tờ, tài liệu đó cho các bên khác trong cùng vụ kiện (Điều 132); các bên đương sự phải có mặt trước Tòa, trước thẩm phán hoặc trước Hội đồng xét xử (HĐXX) theo yêu cầu của Thẩm phán chịu trách nhiệm thẩm cứu vụ kiện và của HĐXX (Điều 184, 185); các bên đương sự phải tự mình trả lời những câu hỏi đặt ra cho họ mà không được đọc một bản trả lời sẵn nào (Điều 191);

Về hậu quả pháp lý đối với việc đương sự không thực hiện nghĩa vụ, BLTTDS Pháp quy định: đương sự bên kia nhận được tài liệu, giấy tờ phải hoàn lại cho đương sự bên này,

nếu không hoàn lại có thể bị phạt tiền và cưỡng chế (Điều 136); khi Thẩm phán yêu cầu

bên nào phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định mà bên đó không nộp đúng hạn hoặc không chịu nộp hoặc từ chối nộp thì vụ kiện không được tiếp tục (Điều 269, 271); đương sự

có thể bị phạt tiền từ 100 đến 1.000 Phờ-răng, bồi thường thiệt hại nếu yêu cầu thay đổi Thẩm phán không được chấp nhận (Điều 353); nếu không có lý do chính đáng mà nguyên đơn không ra trước Tòa , bị đơn có thể yêu cầu cứ xét xử tranh chấp coi như có mặt cả hai bên Thẩm phán cũng có thể mặc nhiên tuyên bố việc nguyên đơn triệu tập bị đơn ta Tòa là

vô hiệu (Điều 468); nếu sau khi đã đến phiên tòa, một trong các đương sự không chịu thực hiện các hành vi tố tụng trong thời hạn yêu cầu, Thẩm phán sẽ xử như có tranh trụng giữa hai bên trên cơ sở những tài liệu hiện có; nếu không đương sự nào thực hiện các hành vi tố tụng trong thời hạn yêu cầu, thẩm phán có thể mặc nhiên xóa sổ thụ lý vụ kiện và các bên không có quyền kháng cáo quyết định này (Điều 468, 469); bị đơn vắng mặt có thể được triệu tập lại theo yêu cầu của nguyên đơn hoặc theo quyết định của thẩm phán, nếu giấy triệu tập lần trước không đến tay họ (Điều 471); nếu bị đơn không ra Tòa, việc kiện vẫn có thể được xét xử và quyết định về nội dung Khi có nhiều bị đơn được triệu tập về cùng một việc, nếu một người không đến, việc xét xử coi như có mặt tất cả các bị đơn nếu quyết định còn được kháng cáo (Điều 472); bên thua kiện phải chịu án phí, trừ khi Tòa án có quyết định ghi rõ đầy đủ căn cứ buộc bên kia phải chịu toàn bộ hoặc một phần án phí (Điều 696); giấy triệu tập gửi bị đơn có giá trị như giấy gọi ra Tòa và ghi rõ nếu bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, Tòa chỉ dựa trên các tài liệu do nguyên đơn cung cấp và có thể ra quyết định bất lợi cho bị đơn (Điều 847-2)

BLTTDS Liên bang Nga năm 2003 quy định: Các bên có NVTT như nhau (Điều 38);

người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có NVTT như nguyên đơn (Điều 42); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có NVTT như các bên (Điều 43); trong trường hợp một bên không thể TGTT (công dân chết, thay đổi pháp nhân do giải thể, chấm dứt; chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ và những trường hợp thay thế khác), thì bên đó được thay thế bằng người kế thừa NVTT Việc thay thế được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng (Điều 44); trong trường hợp đương sự không thực hiện NVTT thì phải chịu hậu quả pháp lý do PLTTDS quy định (Điều 34, 35); mỗi bên có nghĩa

Trang 23

vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối

yêu cầu của bên kia (Điều 56); nếu người được tống đạt từ chối tiếp nhận giấy gọi hoặc

giấy báo của Tòa án thì người được tống đạt coi như đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án hoặc thơi gian và địa điểm thực hiện hoạt động tố tụng (Điều 117); những người TGTT và những người có mặt tại phòng xử án có nghĩa vụ tuân thủ trật tự phiên tòa (Điều 158) Người vi phạm bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo Nếu vi phạm trật tự phiên tòa lần thứ hai thì bị đuổi khỏi phòng xử án một thời gian hoặc trong toàn bộ thời gian xét xử hoặc bị phạt tiền với mức dưới 10 lần lương tối thiểu Trường hợp hành vi của người vi phạm trật tự phiên tòa có dấu hiệu tội phạm, Thẩm phán chuyển cho Kiểm sát viên khởi tố về hình sự (Điều 159); đương sự đã được triệu tập nhưng vắng mặt một trong những người TGTT mà không được thông báo thì tạm hoãn phiên toà (Khoản 2 Điều 167); Tòa án

có quyền xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt một trong những người TGTT đã được thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên toà, nếu người đó không đưa ra lý do vắng mặt hoặc Tòa án cho rằng lý do vắng mặt là không chính đáng Tòa án có quyền xét xử vụ

án với sự vắng mặt của bị đơn đã được thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên toà, nếu bị đơn không thông báo cho Tòa án lý do vắng mặt chính đáng của mình và không yêu cầu Tòa án xét xử vụ án với sự vắng mặt của bị đơn

BLTTDS Trung Quốc quy định các đương sự có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập,

nguyên đơn có giấy gọi nhưng không có lý do chính đáng mà không ra toà, có thể xử vắng mặt, các đương sự có nghĩa vụ tuân thủ kỷ luật phiên tòa, hay đương sự có trách nhiệm đưa

ra chứng cứ về những chủ trương của mình nêu ra (Điều 64)

Theo pháp luật TTDS của Anh thì đương đương sự không thanh toán đầy đủ án phí

sẽ bị phạt tiền [21, tr.105] Khi nhận được giấy triệu tập của Tòa án, bị đơn phải trình diện trước Tòa hoặc ít nhất phải phúc đáp Tòa án trong thời hạn 14 ngày Bị đơn không trình diện hoặc không nộp bản tự bào chữa thì quyết định triệu tập đương sự đương nhiên có hiệu lực như một quyết định xét xử vắng mặt và có hiệu lực thi hành Khi bị đơn phản đối đơn kiện thì luật sư tư vấn của nguyên đơn phải nộp bản giải trình nội dung đơn khởi kiện trong thời hạn 14 ngày (có thể gia hạn nếu được sự đồng ý của bị đơn) Trong thời hạn 14 ngày tiếp theo, luật sự tư vấn của bị đơn phải đáp lại bằng một văn bản tự bào chữa và các yêu cầu phản tố nếu có Tại phiên xét xử, luật sư biện hộ của các bên thay mặt cho các bên trình bày các tình tiết của vụ án (tr.170-172)

Phần nhiều các đương sự trong Pháp luật TTDS Mỹ cũng trao quyền cho đại diện là

các luật sư để thực hiện NVTT Các đương sự đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt địa vị xã hội, cơ quan nhà nước với doanh nghiệp tư nhân Khi khởi kiện, nguyên đơn phải thực hiện việc “phát lệnh khởi kiện” cho bị đơn bằng cách gửi bản sao của đơn khởi kiện và giấy triệu tập thông qua một cảnh sát trưởng, một viên thừa phát lại hoặc gửi qua

Trang 24

đường bưu điện tùy theo quy tắc của Tòa án thụ lý vụ kiện Bị đơn khi nhận được trát của Tòa án có nghĩa vụ phải nộp một “tờ biện minh” để trả lời cho đơn khởi kiện của nguyên đơn Các đương sự có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình; đương sự thua kiện có nghĩa vụ phải chịu án phí; đương sự kháng cáo phải nộp tiền

dự phí kháng cáo Một trong những thủ tục tố tụng bắt buộc đối với đương sự là các đương

sự phải tuyên thệ rằng việc trình bày của họ là ngay tình Nếu đương sự gian trá, Tòa án có thể trừng phạt đương sự đã cố tình tạo ra sự gian trá đó

So sánh các quy định của PLTTDS nước ngoài với PLTTDS Việt Nam nhận thấy: PLTTDS Việt Nam đã tiếp thu và học hỏi cách làm luật TTDS của nước Cộng hòa liên bang Nga trước đây cả về cách bố cục, cách hành văn và quy định về NVTT của đương sự Nhìn sang các nước khác, chúng ta thấy cần phải học hỏi và rút kinh nghiệm quy định của

họ về NVTT mang tính chất thực sự tranh tụng và bảo đảm việc đương sự thực hiện NVTT một cách tốt nhất Một số quy định về NVTT của đương sự của các nước đó mà PLTTDS Việt Nam có thể tiếp thu để sửa đổi, bổ sung như quy định: đương sự có nghĩa vụ viện dẫn, giải thích các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình; có nghĩa vụ cung cấp những văn bản giải thích pháp luật cần thiết để giải quyết vụ tranh chấp; phải thông báo cho nhau, trong một thời gian hợp lý, những tình tiết làm căn cứ cho những yêu cầu của mình, những chứng cứ đã xuất trình và căn cứ pháp luật đã viện dẫn, nhằm bảo đảm cho mỗi bên đương sự có thể tự tổ chức việc bảo vệ quyền lợi của mình; bên đương sự đưa ra một giấy

tờ, tài liệu nào đó làm căn cứ có nghĩa vụ phải trao đổi giấy tờ, tài liệu đó cho các bên khác trong cùng vụ kiện Đương sự bên kia nhận được tài liệu, giấy tờ phải hoàn lại cho đương

sự bên này, nếu không hoàn lại có thể bị phạt tiền và cưỡng chế; khi thẩm phán yêu cầu bên nào phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định mà bên đó không nộp đúng hạn hoặc không chịu nộp hoặc từ chối nộp thì vụ kiện không được tiếp tục; đương sự có thể bị phạt tiền, bồi thường thiệt hại nếu yêu cầu thay đổi thẩm phán không được chấp nhận; nếu sau khi đã đến phiên tòa, một trong các đương sự không chịu thực hiện các hành vi tố tụng trong thời hạn yêu cầu, thẩm phán sẽ xử như có tranh trụng giữa hai bên trên cơ sở những tài liệu hiện có; nếu không đương sự nào thực hiện các hành vi tố tụng trong thời hạn yêu cầu, thẩm phán có thể mặc nhiên xóa sổ thụ lý vụ kiện và các bên không có quyền kháng cáo quyết định này (BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp); nếu người được tống đạt từ chối tiếp nhận giấy gọi hoặc giấy báo của Tòa án thì người được tống đạt coi như đã được thông báo về thời gian

và địa điểm xét xử vụ án hoặc thơi gian và địa điểm thực hiện hoạt động tố tụng (BLTTDS Liên bang Nga)

Trang 25

NVTT của đương sự mang tính bắt buộc và chế tài, có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết VADS của Tòa án, với NVDS của đương sự và quyền tố

tụng của đương sự, có thể được thực hiện thông qua người đại diện và có thể được chuyển

giao cho người khác

Các quy định của PLTTDS hiện hành về NVTT của đương sự được xây dựng trên cơ

sở lý luận phù hợp với quyền và NVDS và thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án

Để bảo đảm cho việc thực hiện NVTT của đương sự thì cần có những quy định pháp luật định đúng, đầy đủ và hợp lý kết hợp với chế tài nghiêm và có tính khả thi Ngoài ra, ý thức chấp hành pháp luật của đương sự và trách nhiệm của Tòa án cũng là một trong những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện NVTT của đương sự Và cần có các quy định về xử

lý các vi phạm NVTT của đương sự và các biện để đương sự có thể thực hiện NVTT của mình Đồng thời, cần nâng cao ý thức pháp luật của đương sự trong việc thực hiện NVTT của mình cũng như nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện NVTT đương sự

Trên cơ sở tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới quy định về nghĩa vụ của đương sự và các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự, từ đó đánh giá tính ưu khuyết của các quy định đó để làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung quy định của PLTTDSVN về nghĩa vụ của đương sự

Trang 26

Chương 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam về nghĩa vụ của đương sự

2.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Năm 1884, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, chấm dứt thời kỳ xã hội

Việt Nam “thuần” phong kiến chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến Chế độ phong

kiến qua đi nhưng vẫn để lại những dấu vết đậm nét về hoạt động lập pháp với nhiều bộ luật khác nhau nhưng có quy mô và hoàn thiện nhất vào lúc bấy giờ phải kể đến ba bộ luật lớn là Quốc Triều Hình Luật (nhà Lê thế kỷ XV), Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ (thế kỷ

XV – XVIII), Hoàng Việt Luật Lệ (luật Gia Long) Do mang ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến nên các bộ luật này mang tính chất hà khắc, vai trò của con người, của công dân, của đương sự không được đề cao, thủ tục xét hỏi, thẩm vấn được quy định phổ biến, các chế tài áp dụng mang tính chất hình sự Nghĩa vụ của đương sự trong vụ kiện dân

sự được quy định một cách tản mạn và không rõ ràng Tuy vậy, đây cũng là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc quy định nghĩa vụ của đương sự sau này Lần đầu tiên

trong bộ Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ quy định: “Những người kiện tụng có đơn cáo

trạng khiếu nại về: ruộng đất không xuất trình văn khế, cưới xin không sính lễ, treo hỏi, tài sản không có trúc thư, tiền nợ không có văn tự, đánh nhau không có biên bản thương tích,

án mạng không có nghiệm án, trộm cướp không có tang vật, cờ bạc không có tang chứng,

ức hiếp không phải là người hiền quý danh vọng thì các nha môn không được khám tụng Nếu nhận bừa thì gom xét sự việc trước sau luận bác đi” Nghĩa vụ của đương sự lần đầu

tiên được nhắc đến một cách rõ ràng trong việc chứng minh yêu cầu của mình bằng cách cung cấp chứng cứ trong những vụ việc cụ thể, nếu khi yêu cầu giải quyết mà đương sự không đưa ra được bằng chứng thì quan xét xử sẽ bác bỏ đơn kiện Trong tập V bộ Hoàng

Việt Luật Lệ có quy định “phàm đơn gửi Tòa án chỉ cho phép một đơn thưa một việc thưa

việc phạm tội thật có bằng chứng Thừa thẩm quan lúc xử kiện cung chứng đã xác thực mà

có 1, 2 người không đến hầu tòa thì không liên quan đến bản án” Đây là hai quy định

được áp dụng phổ biến khi có việc thưa kiện Nó được áp dụng rộng rãi khi giải quyết các vấn đề kiện tụng thuộc cả luật hình sự, dân sự và hôn nhân gia đình

Bằng hai bản thỏa ước ngày 5/6/1882 cắt đứt miền Nam bao gồm 6 tỉnh để sát nhập vào lãnh thổ Pháp gọi là Nam Kỳ, thỏa ước ngày 6/6/1884 biến miền Bắc và miền Trung thành lãnh thổ bảo hộ của Pháp và đạo dụ năm 1898 của Hoàng đế Đồng Khánh nhượng 3

Trang 27

thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng thành đất nhượng địa cho Pháp, Việt Nam chính thức bị thực dân Pháp đô hộ Khi đến nước ta chúng thiết lập một chế độ đô hộ hà khắc nhằm bóc lột và vơ vét của cải đặc biệt thông qua hai cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn Nhằm phục vụ cho mưu đồ của mình chúng thay đổi nước ta thành một nước thực dân nửa phong kiến Việc đầu tiên là ban hành các bộ luật nhằm ổn định tình hình trong nước, thiết lập sự đô hộ Liên quan đến hoạt động TTDS, trong giai đoạn này chúng ban hành một số bộ luật khác nhau như Bộ dân sự tố tụng Nam Kỳ năm 1910, Bộ dân sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1917, Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921, và Bộ Hộ sự và thương sự Trung Kỳ năm 1942… Các bộ luật này mang tư tưởng phong kiến và dựa trên khuôn mẫu của BLDS Pháp 1807 Trong giai đoạn

này, nghĩa vụ của đương sự được quy định như “Về phương diện dẫn chứng… buộc bên

đương sự nào nại ra phải có nghĩa vụ dẫn chứng ” và “Các đương sự trong một vụ kiện phải dẫn chứng Mỗi người muốn viện dẫn một sự kiện hay một hành vi pháp lý phải chứng minh sự kiện, hành vi đó” [43, tr 191] Đây là một quy định hiếm hoi có thể tiếp cận được bởi các văn bản thời kỳ này được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp, không dịch ra chữ Quốc Ngữ cũng như không có các công trình nghiên cứu chi tiết Mặt khác, giai đoạn này sử

dụng một cách đồng loạt các án lệ nơi Tòa án nên các quy tắc thành văn “chủ yếu vạch sẵn

tỷ mỉ những lề lối phải theo như một thông tư hành chính chứ ít có điều khoản chính xác định thức một nguyên tắc pháp lý tổng quát” - mang tính chất thủ tục [31, tr 22] Đồng thời với đó là việc duy trì hai hệ thống Tòa án khác nhau với việc phân chia hai loại đương

sự khác nhau Tòa án do pháp lập xét xử các công dân của Pháp hoặc những người được biệt đãi như người pháp, Tòa án của Việt Nam xét xử những đương sự là người Việt nhưng vẫn bị những nhà cầm quyền người Pháp thâu tóm và thống trị, Việt Nam trong giai đoạn

này “không có một nền tư pháp thuần túy bởi vì tất cả các quyền hành hư hay thực đều do

nhà cầm quyền Pháp nắm giữ”[55]

2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á được thành lập, đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trong đời sống xã hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng

Ngày 10/10/1945 nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ mà không trái với bản chất của nhà nước cách mạng Tuy nhiên, sắc lệnh trên chỉ đề cập đến việc cho áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung của chế độ cũ mà không không đề cập đến việc có cho tiếp tục áp dụng các quy định về hoạt

Trang 28

động tố tụng hay không Tiếp theo đó, nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đến hoạt động TTDS ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Sắc Lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán, Sắc Lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp, Sắc Lệnh 112/SL ngày 28/6/1946

bổ xung sắc lệnh số 51, Sắc Lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật

tố tụng, Sắc Lệnh 159/SL ngày 7/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn … các quy định về nghĩa vụ của đương sự được quy định khá nhiều trong các văn bản này

Tại Thông tư số 2386 – NCPL ngày 19/12/1961 của TANDTC hướng dẫn: “Trong

bản án sơ thẩm phải chỉ ra: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết những vấn đề cụ thể gì và nêu

ra những bằng chứng gì làm căn cứ – ý kiến của bị đơn đối với những lời thỉnh cầu của nguyên đơn: có chấp nhận hay không lời thỉnh cầu đó hoặc chỉ chấp nhận đến mức nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn cứ cho những ý kiến đó” Khi đương sự có yêu cầu

giải quyết thì buộc phải dẫn ra những chứng cứ bảo vệ cho yêu cầu của mình, nguyên đơn phải nêu rõ những vấn đề yêu cầu, bị đơn phải nêu rõ mình có chấp nhận hay không hoặc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đến mức nào và cũng có nghĩa vụ dẫn chứng

Theo đề án năm 1964 của TANDTC về chuyển hướng tổ chức các Tòa án địa

phương có hướng dẫn: “Trong các vụ kiện về dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm

chứng minh các yêu cầu của mình và đề xuất các chứng cứ Nếu các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì Tòa án sẽ yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ sung…” và “ Các đương sự có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.” Đương sự có quyền và nghĩa cụ xuất trình chứng cứ Tòa án sẽ yêu cầu, hướng dẫn

họ xuất trình chứng cứ trong trường hợp chứng cứ chưa đầy đủ đương sự nào có yêu cầu thì có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu đó

Công văn số 96/NCPL ngày 08/2/1977 của TANDTC quy định: “Nếu các đương sự

đã có quyền lợi thì họ cũng có những nghĩa vụ trong TTDS Nghĩa vụ bao trùm của họ là phải sử dụng những quyền về tố tụng một cách thiện ý, do đó, họ có những nhiệm vụ cụ thể là: đề xuất chứng cứ, khai báo đúng sự thật mà không được mua chuộc nhân chứng hoặc dùng tài liệu giả mạo trong tố tụng, có mặt tại Tòa án khi được triệu tập và chấp hành nghiêm chỉnh bản án Nguyên đơn đã được triệu tập mà không đến Tòa án, nếu không có lý

do chính đáng, thì vụ kiện của họ sẽ bị tạm xếp Bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng

có thể bị xử vắng mặt Người sử dụng tài liệu giả mạo có thể bị truy tố về hình sự Người đi kiện mà bị bác yêu cầu thì phải chịu án phí ” (Mục A – Phần thứ nhất)

Trang 29

Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo thông tư số 96 –

NC/PL ngày 8/2/1977 của TANDTC hướng dẫn: “Để bảo vệ quyền lợi của mình các đương

sự có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ nhưng TAND không được phép chỉ dựa vào lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.” Mặc dù đương sự có nghĩa vụ đề xuất những

chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng Tòa án với vị trí của cơ quan xét xử không được thiên vị bất cứ bên nào mà phải xem xét một cách toàn diện cũng như tìm mọi biện pháp để có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án bảo vệ quyền lợi của các bên

Tại Thông tư liên ngành cố 02/TTLN ngày 02/10/1985 của TANDTC–VKSNDTC–

BTP–BLĐ-TCDN quy định: “Thủ trưởng cơ quan, giám đốc xí nghiệp hoặc đại diện của

Ủy ban nhân dân trong việc kiện phải có mặt khi được Tòa án triệu tập để điều tra hoặc xét

xử, nhưng cũng có thể cử người đại diện cho mình TGTT” (Mục 2 – Phần IV)

2.1.3 Giai đoạn từ 1989 đến 2005

Năm 1989 được đánh dấu bằng sự ra đời của PLTTGQCVADS, tiếp theo đó là PLTTGQCVAKT năm 1994 và PLTTGQCTCLĐ năm 1996 Đây là ba pháp lệnh tiền thân của BLTTDS hiện nay, nó đã bước đầu khắc phục được tính chất tản mạn của các quy phạm pháp luật, thu trình tự giải quyết vụ việc về những văn bản thống nhất và có giá trị cao Tuy nhiên, ba pháp lệnh này lại mang tính chất chung chung, định hướng, các quy định còn chưa thực sự rõ ràng, vẫn chưa thể thống nhất VADS về một trình tự thủ tục chung gây khó khăn cho đương sự và Tòa án Về nghĩa vụ của đương sự tại các pháp lệnh này được quy định như sau:

PLTTGQCVADS ngày 29/11/1989 quy định: Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; thi hành quyết định, thực hiện yêu cầu của Toà án; phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có

lý do chính đáng thì có thể bị Toà án phạt tiền từ hai mươi nghìn đồng đến năm mươi nghìn đồng (khoản 3 Điều 20); Người đại diện được uỷ quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được uỷ quyền (Điều 23); Nếu đương sự chết mà quyền hoặc nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế TGTT; Nếu pháp nhân sáp nhập, phân chia hoặc giải thể thì pháp nhân nào tiếp tục nhiệm vụ, tiếp thu tài sản của pháp nhân cũ có quyền và nghĩa vụ tố tụng của pháp nhân đó (Điều 27); Nguyên đơn; bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền TƯAP, trừ những trường hợp được miễn (Điều 31, 32); Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án (khoản 3 Điều 46); Người vi phạm trật tự phiên toà, tuỳ trường hợp, có

Trang 30

thể bị chủ toạ phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ; Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ phiên toà và thi hành lệnh của chủ toạ phiên toà về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bắt giữ người gây rối trật tự phiên toà (Điều 54)

Pháp lệnh này không quy định việc áp giải đương sự cho nên Tòa án không có quyền yêu cầu áp giải bị đơn cố tình vắng mặt Đối với các trường hợp Tòa án đã triệu tập nhiều lần mà bị đơn không chịu đến trụ sở Tòa án để Tòa án lấy lời khai, hòa giải, thì Tòa án có thể phối hợp với Ủy ban nhân dân(UBND) cấp xã triệu tập họ đến trụ sở UBND để lấy lời khai, ủy quyền cho UBND lấy lời khai hoặc trực tiếp đến nhà họ để lấy lời khai Nếu đã làm như vậy mà vẫn không lấy được lời khai của bị đơn, thì Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết từ các nguồn khác và phản ảnh rõ trong hồ sơ việc không lấy được lời khai của bị đơn Sau đó Tòa án tự mình hoặc đề nghị UBND cấp xã niêm yết giấy triệu tập phiên tòa tại trụ

sở UBND và tại nơi ở của bị đơn Nếu bị đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn không đến phiên tòa, thì Tòa án xét xử vụ án vắng mặt của họ theo quy định tại khoản 3 Điều 48

của Pháp lệnh (Nghị quyết 02/1990/HĐTP của HĐTP TANDTC)

PLTTGQCVAKT ngày 16/3/1994 cũng quy định: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp

chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình” (Điều 3), phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa (khoản 3 Điều 21)

PLTTGQCTCLĐ ngày 11/4/1996 có quy định: “Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp

tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 2), phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa (Khoản 3 Điều 20)

NVTT của đương sự trong các pháp lệnh trên và vấn đề chứng minh trong giai đoạn

từ 1989 đến trước khi BLTTDS 2004 có hiệu lực còn có nhiều hạn chế do sự nhận thức chưa đúng đắn trên cơ sở của một nền kinh tế, xã hội kém phát triển, các giao lưu dân sự còn đơn giản, tranh chấp diễn ra không nhiều với độ phức tạp không cao Với những hạn chế chung về chứng minh, ba pháp lệnh không đề cao vai trò chứng minh của đương sự cũng như không tạo điều kiện để đương sự có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình

2.2 Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành quy định về nghĩa vụ của đương sự

Nghĩa vụ của đương sự được quy định chung với quyền của đương sự tại Điều 58 BLTTDS năm 2004 Nhưng Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 không sửa đổi, bổ sung gì về nghĩa vụ của đương sự Trong điều luật lại không quy định tách bạch khoản nào quy định quyền, khoản nào quy định về nghĩa vụ mà chỉ liệt kê đương

sự có những quyền và nghĩa vụ từ điểm a đến điểm y khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi

Trang 31

Theo cách liệt kê này thì có thể được hiểu những quy định ở phần trên của khoản 2 là quy định về quyền, còn những quy định ở phần dưới là quy định về nghĩa vụ Nhưng thực tế lại không phải như vậy Bởi lẽ, nếu hiểu theo cách trình bày như vậy thì cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh chỉ là quyền của đương sự Nhưng tại Điều 6 BLTTDS quy định một nguyên tắc cơ bản là: Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa

án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Như vậy, cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh trong TTDS vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự Với cách hiểu thông thường quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTDS thì khi TGTT, đương sự có

các nghĩa vụ như sau: Cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ và hợp pháp (điểm b), phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án (điểm p), tôn trọng Tòa

án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà (điểm r), nộp tiền TƯAP, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí theo quy định của pháp luật (điểm u)

Chính sự quy định không rõ ràng như vậy nên cũng có quan điểm cho rằng ngoài các

nghĩa vụ như trên thì đương sự còn có nghĩa vụ “tham gia phiên tòa” Tham gia phiên tòa

vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự Ở khía cạnh là quyền thì Tòa án phải triệu tập hợp lệ để đương sự được tham gia phiên tòa để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ở khía cạnh là nghĩa vụ thì đương sự phải tham gia phiên tòa để trả lời các câu hỏi của HĐXX, để đối đáp, tranh luận với đương sự phía bên kia nhằm làm rõ các tình tiết của

vụ án Khi tham gia phiên tòa, đương sự phải trả lời các câu hỏi của HĐXX chứ không chỉ

là có mặt tại phiên tòa nhưng không nói, không hỏi gì cả thì sự có mặt của họ tại phiên tòa

là không có ý nghĩa

BLTTDS Việt Nam còn quy định quyền và nghĩa vụ riêng, đặc thù của từng đương

sự như quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (Điều 59), của bị đơn (Điều 60), của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Điều 61), kế thừa quyền và NVTT (Điều 62) Nhưng ở mỗi quy định riêng đó cũng không có quy định thêm nghĩa vụ riêng của từng tư cách TGTT của các đương sự mà chỉ quy định thêm quyền của đương sự Cho nên các đương sự dù là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có nghĩa vụ riêng

mà chỉ có nghĩa vụ chung của đương sự Nhưng khi không thực hiện NVTT thì ở mỗi tư cách TGTT thì đương sự lại phải chịu những biện pháp chế tài khác nhau

Trang 32

2.2.1 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh:

Theo điểm b khoản 2 Điều 56 BLTTDS và các điều từ Điều 79 đến Điều 98 BLTTDS thì về cơ bản việc thu thập chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án chỉ thực hiện việc thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập và khi có yêu cầu của đương

sự Điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Nguyên tắc này được kế thừa từ các quy định trong PLTTGQCVADS năm 1989 (Điều 3), PLTTGQCVAKT năm 1994 (Điều 3) và PLTTGQCVALĐ năm 1996 (Điều 2) Tuy nhiên, nếu đi vào cụ thể từng điều luật có thể thấy các pháp lệnh trước đây đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Việc đồng nhất hai nghĩa

vụ này với nhau là không có cơ sở bởi việc cung cấp chứng cứ chỉ là một phần trong hoạt động chứng minh bao gồm nhiều hoạt động từ thu thập, cung cấp đến nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Từ đó sẽ không nhận thức được đầy đủ về vai trò chứng minh của đương sự cũng như không thể tạo ra những cơ chế hữu hiệu để đương sự có thể hoàn thành được nghĩa vụ của mình, ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp Nguyên nhân là lúc đó vẫn tồn tại hoạt động điều tra của Tòa án đối với mỗi vụ án cụ thể Từ việc điều tra, thu thập chứng cứ Tòa án sẽ phân tích, đánh giá và quyết định Chính vì vậy mà trong một thời gian dài vai trò chứng minh của đương sự trong việc giải quyết VADS không được quan tâm và đề cao Khắc phục những hạn chế trước đây và phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại, BLTTDS năm 2004 đã

bỏ đi hẳn phần điều tra trong TTDS, đề cao hơn nghĩa vụ chứng minh của đương sự và được

cụ thể hóa tại Điều 79 BLTTDS

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản

và có tính chỉ đạo xuyên suốt vì xuất phát từ bản chất của TTDS là giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên cơ sở pháp luật, mục đích là để bảo vệ các quyền và lợi ích của mọi chủ thể của QHPLDS Theo đó, không có sự can thiệp của quyền lực nhà nước, các bên hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ tố tụng Đương sự là trung tâm của hoạt động tố tụng, là chủ thể của QHPL nội dung đang tranh chấp Quyền và lợi ích của họ sẽ do chính họ quyết định thông qua hoạt động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Nhà nước không can thiệp

mà chỉ công nhận các quyền lợi khi xem xét chứng cứ thấy có căn cứ và hợp pháp thông qua hoạt động chứng minh của đương sự Việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết VADS Tòa án chỉ có thể giải quyết đúng đắn VADS khi có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của VADS đã được làm sáng tỏ Nhìn chung, việc cung cấp chứng cứ là nghĩa vụ của đương sự đối với yêu cầu của mình,

Trang 33

bởi vì họ là người trong QHPL phát sinh tranh chấp, hơn ai hết họ là người hiểu rõ nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, nội dung vụ án, họ cũng là người đưa ra yêu cầu do vậy họ phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh làm rõ các tình tiết của

vụ án Tuy nhiên, việc cung cấp chứng cứ của đương sự phải tuân theo quy định của BLTTDS về trình tự và thủ tục

Về phía đương sự thì việc cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh vừa là quyền vừa là nghĩa vụ Còn về phía Tòa án, khi đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh thì cũng là lúc Tòa án tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình Do đó, khi đương sự có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án như: Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai

sự thật, từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ phải chịu biện pháp xử lý theo quy định tại Điều 385 BLTTDS như bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính hoặc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật

Nhìn chung, về cơ bản những quy định của BLTTDS về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh của đương sự đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm giải quyết VADS đúng thời hạn và đúng đắn Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS cho thấy, đa số các bản

án bị hủy, sửa là do sai sót trong việc thu thập, xác minh chứng cứ; thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự cũng cho thấy không phải lúc nào đương sự cũng có thể tự thu thập chứng cứ để chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này thể hiện các quy định của BLTTDS về cung cấp chứng cứ, chứng minh còn có những bất cập nhất định như: Những quy định của BLTTDS về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự chủ yếu là về nguyên tắc, thiếu những quy định cụ thể bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để thực hiện nghĩa vụ chứng minh Vậy, để thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì đương sự phải xuất trình chứng cứ Đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án bằng hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án Điều 84 BLTTDS quy định: Trong quá trình Tòa án giải quyết VADS, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp

pháp Đương sự là nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ngay khi nộp

đơn khởi kiện tại Tòa án theo quy định tại Điều 165 BLTTDS Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện

Trang 34

và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên trong trường hợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ Các tài liệu, chứng cứ khác người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án

Ví dụ: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng, thì người khởi kiện phải gửi kèm theo bản sao hợp đồng có tranh chấp, hoá đơn thanh toán tiền, nhận tài sản, biên bản thanh lý…; nếu họ chưa có thể gửi đủ các tài liệu, chứng cứ này, thì cùng với đơn khởi kiện họ phải gửi bản sao hợp đồng (Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP của TANDTC)

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền cung cấp chứng cứ khi Tòa

án thông báo về việc khởi kiện của nguyên đơn Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn, nhưng không quá mười lăm ngày (khoản 1 Điều 175)

Để thực hiện được nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ thì đương sự phải giao nộp tài liệu, chứng cứ có sẵn hoặc thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết VADS đúng đắn Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu trữ chứng cứ cần thu thập đó (Điều 94 BLTTDS)

Trong quá trình giải quyết VADS đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu những hậu quả

về việc đó, nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 84 )

Cung cấp chứng cứ là một nghĩa vụ thì hậu qủa của việc đưa ra các yêu cầu nhưng lại không cung cấp đầy đủ các chứng cứ cho Tòa án thì họ sẽ phải chịu hậu quả không có

Trang 35

lợi do bản án mà Tòa án tuyên chỉ căn cứ vào các chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do tự Tòa án thu thập được Có quan điểm cho rằng không nên quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ hoặc nghĩa vụ chứng minh các yêu cầu của chính các đương sự mà chỉ nên quy định các đương sự có quyền cung cấp chứng cứ để thực hiện quyền lực tham gia vào quá trình chứng minh của mình Như vậy, nếu xét thấy cần thiết, đương sự có thể tự mình quyết định cung cấp hoặc không cung cấp những chứng cứ, tài liệu liên quan đến việc bảo vệ quyền, hoặc lợi ích hợp pháp của mình Quy định như trên sẽ dẫn đến một số điểm cần tranh luận như sẽ xử lý như thế nào trong trường hợp đương sự từ chối thực hiện quyền

của mình nhưng việc từ chối cung cấp chứng cứ của họ có thể làm phương hại đến quyền

và lợi ích chung hoặc của người khác Do đó, buộc các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh trong TTDS là một điều rất cần thiết Do vậy, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương

sự được quy định trong phần các nguyên tắc của BLTTDS Đương sự cung cấp chứng cứ

có thể do ý thức chủ động của họ hoặc do thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án Trong quá trình cung cấp chứng cứ, nếu đương sự có hành vi làm giả, huỷ hoại những chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án; khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị Tòa án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính hoặc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (Điều 385 BLTTDS)

Do pháp luật quy định cung cấp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ và không giới hạn thời gian cung cấp chứng cứ của đương sự nên đương sự đã chây ỳ, chống đối việc cung cấp các chứng cứ bất lợi cho mình cũng như lựa chọn thời điểm thích hợp để cung cấp chứng cứ có lợi cho mình Theo quy định của BLTTDS hiện nay, trong quá trình giải quyết VADS việc giao nộp chứng cứ có thể được thực hiện bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, không quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ của các đương sự Đây là điều bất cập

và thiếu tính thống nhất, BLTTDS quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án nhưng lại không quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự nên có nhiều trường hợp chứng cứ được cung cấp tại cấp phúc thẩm, các bên đương sự còn lại không thể có thời gian thu thập những chứng cứ để phản bác lại lập luận dựa trên chứng cứ mới của bên kia gây bất lợi cho họ

BLTTDS hiện nay chỉ quy định nghĩa vụ của đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa

án mà không quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho nhau hoặc cũng không quy định trách nhiệm của Tòa án công bố các chứng cứ của đương sự này cho các đương sự khác

Trang 36

biết Mặc dù, đương sự có quyền “được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập” (điểm d khoản 2 Điều 58) Nguyên đơn

có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nếu nguyên đơn đã cung cấp được nhưng không có người ở địa chỉ đó nữa thì giải quyết như thế nào? Có thuộc trường hợp đình chỉ, trả lại đơn khởi kiện theo điểm i khoản 1 Điều

192 BLTTDS hay không thì chưa có hướng dẫn cụ thể

PLTTDS đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự là vì QHDS là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu nhà nước can thiệp, hỗ trợ hay không Mặt khác, các bên đương sự là những người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì và đang ở đâu Do đó, khi các bên đã đưa việc tranh chấp của họ ra Tòa án thì Tòa án chỉ là trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật, chứ không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự Trong một số vụ án, có đương sự không hiểu đây là nghĩa vụ chứng minh của mình cho nên không những không cung cấp chứng cứ cho Tòa án mà còn không hợp tác với Tòa án khi Tòa án thu thập chứng cứ, như không cho Tòa án xem xét đối tượng tranh chấp, không cho định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ đối với nhà đất, triệu tập đến để lấy lời khai nhưng không đến, Vì vậy, có những trường hợp Tòa án đã phải căn

cứ vào các chứng cứ bên kia cung cấp và các tài liệu đã thu thập được để giải quyết vụ án

Một trong những biện pháp để hoàn thiện vai trò chứng minh của đương sự là đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong hoạt động chứng minh và sự triệt để tuân thủ pháp luật Bình đẳng ở đây nghĩa là không có bất cứ sự phân biệt nào về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự Không ai có bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào dù đó là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, dù là cá nhân hay cơ quan, tổ chức Đồng thời, hậu quả pháp lý bất lợi sẽ áp dụng cho tất cả các đương sự không thực hiện nghĩa vụ chứng minh Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động phải dựa trên quy định của pháp luật Không chỉ đương sự phải triệt để tuân thủ pháp luật khi thực hiện hoạt động chứng minh mà đòi hỏi cả từ phía các cơ quan tổ chức có trách nhiệm phối hợp, giúp

đỡ đương sự Một mặt cần nâng cao ý thức trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức này mặt khác phải quy định các biện pháp chế tài cụ thể để áp dụng khi họ vi phạm, quy kết trách nhiệm về từng cá nhân cụ thể Như vậy, hoạt động tố tung mới diễn ra thuận lợi và suôn sẻ Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự là một trong những phương thức pháp lý

Trang 37

quan trọng để Tòa án và những người TGTT giải quyết VADS đúng pháp luật Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, đương sự phải đưa ra những chứng

cứ hợp pháp, những lý lẽ thuyết phục Bởi lẽ, quyền lợi của cá nhân, tổ chức chỉ có nghĩa lý nếu họ chứng tỏ được sự hiện hữu của nó Vì vậy, cung cấp chứng cứ để chứng minh là vấn

đề quan trọng để bảo vệ quyền lợi Thiếu sự chứng minh này quyền lợi nhiều khi có cũng như không

Nguyên đơn phải chứng minh mọi sự kiện và hành vi đối kháng với bị đơn Bị đơn không phải làm gì cả, có thể giữ thái độ thụ động, chống đối lại nguyên đơn nếu cho rằng bị đơn yêu cầu không có căn cứ Nhưng trước chứng cứ đầy đủ của nguyên đơn, bị đơn nại ra

lý lẽ để chống lại yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải chứng minh cho lý lẽ nại ra của mình Khái niệm nghĩa vụ chứng minh (mà chúng ta muốn áp đặt cho các đương sự) phải chăng chỉ bao hàm một ý nghĩa là đương sự phải xuất trình các chứng cứ khi đưa ra yêu cầu

từ đó chứng tỏ cho Tòa án thấy rằng yêu cầu của họ là đúng? Ngược lại, nếu họ không chứng tỏ được điều đó thì coi như họ không chứng minh được yêu cầu của mình Hay nói như cách hiểu của từ điển Tiếng Việt: Chứng minh nghĩa là làm cho thấy rõ là có sự thật, là đúng; còn có thật hoặc có đúng hay không là phụ thuộc vào người đánh giá Nếu như vậy nghĩa vụ chứng minh của các đương sự thực chất là các đương sự phải thuyết phục được Tòa án và những người TGTT rằng những gì họ trình bày là đúng Tuy nhiên Tòa án có bị thuyết phục để tin những gì đương sự đưa ra là đúng hay không lại là một vấn đề khác Do

đó, điều quan trọng có thể không phải là chứng minh mà là chứng cứ Nếu đương sự chỉ xuất trình chứng cứ một cách khách quan thì không cần đương sự chứng minh Bằng hoạt động của mình, Tòa án cũng có thể tìm ra được sự thật khách quan của vụ án Nếu hiểu khái niệm chứng minh chỉ đơn thuần là việc đưa ra các chứng cứ và lập luận rằng các chứng cứ đó là đúng và do vậy yêu cầu của đương sự là đúng thì hơi vội vàng Theo chúng tôi hiểu thì đương sự cần thiết phải có nghĩa vụ chứng minh Cụ thể là họ đưa ra bất kỳ một yêu cầu nào họ phải xuất trình các tài liệu, chứng cứ hoặc lý lẽ để lập luận rằng yêu cầu của

họ là đúng Chắc chắn là cũng không ai đưa ra yêu cầu mà lại cho rằng yêu cầu đó là không đúng Tuy vậy, nếu chỉ một mình đương sự hoặc thậm chí cả đương sự và luật sư của đương sự đều xuất trình các chứng cứ và lập luận rằng chứng cứ đó là đúng thì cũng chưa hẳn yêu cầu đó là đúng Việc chấp nhận yêu cầu của đương sự hay bác yêu cầu đó là trách nhiệm, đồng thời là quyền hạn của thẩm phán Như vậy, nếu hiểu đúng ra là đương sự xuất

Trang 38

trình chứng cứ và Tòa án chứng minh (trên cơ sở yêu cầu của đương sự và sử dụng các chứng cứ của đương sự cung cấp) là yêu cầu đó đúng hay sai

Nghĩa vụ chứng minh rộng hơn nghĩa vụ cung cấp chúng cứ bởi để chứng minh thì ngoài việc cung cấp chứng cứ đương sự còn sử dụng lý lẽ, lập luận, căn cứ pháp lý Đương

sự có nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh Điều này không có nghĩa là tất cả các đương sự đều phải thực hiện hoạt động chứng minh Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng họ không bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình là có căn cứ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, bị đơn cũng không bắt buộc phải chứng minh… Nghĩa vụ chứng minh nói một cách tổng quát nhất là thuộc về phía đương sự đã đưa ra yêu cầu

Thuật ngữ “yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự

công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh Nội dung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao gồm yêu cầu và phản đối Trong yêu cầu có yêu cầu ban đầu (đơn khởi kiện), yêu cầu thay đổi, bổ xung trong quá trình giải quyết vụ việc, yêu cầu phản tố (đòi hỏi công nhận lợi ích của bị đơn) và yêu cầu độc lập (đòi hỏi của người thứ ba

về việc tham gia vụ án) Phản đối bao gồm phản đối về nội dung (là sự phủ nhận của bị đơn), phản đối về mặt tố tụng (bị đơn cho rằng nguyên đơn không có quyền kiện họ: ví dụ như không có tư cách hoặc kiện ở tòa không có thẩm quyền Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ phải có nghĩa vụ chứng minh trước; họ phải xuất trình các chứng cứ, đưa ra lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, đồng thời họ phải chỉ ra quy định của pháp luật cho phép chấp nhận yêu cầu của họ (tính hợp pháp của yêu cầu); bên phản đối yêu cầu phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầu cũng phải chứng minh…

Điều đó cho thấy, theo quy định của BLTTDS thì nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà đặt ra với cả bên bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn Quy định này thể hiện sự bình đẳng, ngang bằng về nghĩa vụ chứng minh, không có loại đương sự nào được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh, dù đương sự đó khởi kiện bảo vệ lợi ích của mình hay lợi ích chung hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng không được miễn trừ nghĩa

vụ này

Trang 39

Đồng thời với việc phải làm thì nghĩa vụ còn mang lại một hậu quả pháp lý Hậu quả pháp lý này là việc được Tòa án công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụ chứng minh Ngược lại, khi đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh thì yêu cầu đưa ra sẽ không được chấp nhận và sẽ phải chịu hậu quả Không loại trừ trường hợp người đưa ra yêu cầu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nhưng hậu quả pháp lý mang lại không phải là một hậu quả bất lợi như khi bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn lại không thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà chỉ “chối dài” nhưng phản đối đó vẫn được chấp nhận, trường hợp này phải thấy được rằng hậu quả bất lợi ở đây đã thuộc về phía nguyên đơn vì họ đã không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình nên đã không được công nhận quyền và lợi ích Do đó, nếu bên đương sự có nghĩa vụ đưa chứng cứ để chứng minh

mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ, đó là, nếu họ là nguyên đơn

sẽ bị bác yêu cầu, nếu là bị đơn sẽ bị xử thua kiện, sẽ phải chấp nhận các yêu cầu đã được chứng minh của nguyên đơn

Quá trình chứng minh là việc sử dụng chứng cứ đúng đắn (thỏa mãn ba yêu cầu về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp) bao gồm các hoạt động: cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ Các hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau, chỉ có hoạt động trước mới có hoạt động sau, và hoạt động sau sẽ là cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của hoạt động trước Phải có hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ VADS, nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không Bốn hoạt động này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến thời điểm nào là hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ Nhưng có thể nhận thấy rằng những hoạt động này kéo dài suyên suốt quá trình giải quyết VADS, nó chỉ kết thúc khi Tòa án ra phán quyết Nếu cho rằng đương sự có nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương sự có thể hoặc cần thiết phải tham gia vào toàn bộ quá trình chứng minh, bao gồm cả nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Điều đó cần thiết phải được xem xét một cách cẩn thận

và khoa học Về thực chất, đương sự không có đầy đủ cơ hội và không có đủ quyền (theo quy định của pháp luật) để biết được một cách đầy đủ về tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ

Trang 40

Đương sự chỉ biết được những chứng cứ do họ cung cấp Trong phần tranh luận tại phiên tòa, họ có thể biết được những chứng cứ khác thông qua HĐXX hoặc thông qua quá trình tranh luận Tuy vậy, họ không biết được toàn bộ chứng cứ của vụ án Trong trường hợp không biết được toàn bộ chứng cứ của vụ án mà tham gia vào quá trình đánh giá chứng cứ

và có nghĩa vụ chứng minh thì việc chứng minh đó sẽ rất khó khăn Theo quy định hiện nay của pháp luật về tố tụng, chỉ có Tòa án, Viện kiểm sát, các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mới có khả năng tiếp cận được tất cả các chứng cứ của vụ án Ở các nước mà pháp luật quy định việc TGTT của luật sư là bắt buộc hoặc gần như bắt buộc

để thay mặt đương sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì việc các đương sự

có nghĩa vụ chứng minh đồng nghĩa với việc luật sư của đương sự phải thực hiện nghĩa vụ

đó Ở Việt Nam, khả năng tự bảo vệ của các đương sự rất yếu Sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn hẹp Hơn nữa chế định TGTT bắt buộc của luật sư trong TTDS chưa có và cũng chưa có điều kiện để thực hiện Nếu quy định các đương sự có nghĩa vụ chứng minh toàn

bộ thì có thể dẫn đến đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ Trong lúc đó, một bên đương sự khác được hưởng lợi không có căn cứ chỉ do đương sự yêu cầu đã không có khả năng chứng minh được quyền của mình Do đó, trong trường hợp đương sự do thiếu hiểu biết pháp luật nên không biết phải chứng minh cái gì, chứng minh như thế nào thì Tòa án cần phải thông báo cho đương sự biết họ phải cung cấp chứng cứ gì

để chứng minh cho vấn đề gì chứ không phải chỉ thông báo chung chung là: cung cấp toàn

bộ chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình là có căn cứ pháp luật thì đương sự

mới biết là họ cần phải có chứng cứ gì để chứng minh Trường hợp đương sự biết được cần phải có chứng cứ gì để chứng minh nhưng chứng cứ đó đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ mà đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu trữ chứng cứ cần thu thập đó

Quy định hiện nay của BLTTD đã không phân được ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh của đương sự (Điều 6 BLTTDS) với trách nhiệm nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án (Điều 85 BLTTDS) BLTTDS xác định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự và nếu

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm