1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân ở việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện

81 569 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 614,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Có thể nhận xét về tình hình nghiên cứu pháp luật thuế TNCN qua các giai đoạn sau: - Trước 1/1/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh thuế thu nhập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỒ THỊ HẢI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến Cô giáo – Tiến sỹ Nguyễn Minh Hằng – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp

đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế và các bộ môn khác của trường đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện Luận văn, nhưng do sự hạn chế

về nguồn tài liệu cũng như thời gian và trình độ nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy (cô) giáo, các nhà nghiên cứu để Luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Trang 3

Ngân sách nhà nước : NSNN

Thu nhập cá nhân : TNCN

Thu nhập doanh nghiệp : TNDN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Nguồn thu từ thuế TNCN vào NSNN từ 2009 đến nay

Bảng 2 Cơ cấu nguồn thu từ thuế TNCN giai đoạn 2009 - 2011

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6

1.1 Khái quát chung về thuế TNCN 6

1.1.1 Khái niệm thuế TNCN 6

1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN 8

1.1.3 Vai trò của thuế TNCN 11

1.2 Khái quát chung về pháp luật thuế TNCN 13

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế TNCN 13

1.2.2 Lịch sử hình thành pháp luật về thuế TNCN 14

1.2.3 Các nguyên tắc đánh thuế áp dụng trong pháp luật thuế TNCN 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 20

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN 20

2.1.1 Quy định về phạm vi áp dụng thuế TNCN 20

2.1.3 Quy định về kỳ tính thuế 32

2.1.4 Quy định về căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú 34

2.1.5 Quy định về căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú 44

2.1.6 Một số quy định về quản lý thuế TNCN 46

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay 50

2.2.1 Những kết quả đạt được 50

Trang 5

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở

VIỆT NAM 61

3.1 Những yêu cầu có tính định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 61

3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 63

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung quy định về một số loại thu nhập chịu thuế TNCN 63

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về thu nhập được miễn thuế 64

3.2.3 Hoàn thiện quy định về giảm trừ gia cảnh 66

3.2.4 Hoàn thiện quy định về thuế suất thuế TNCN 67

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 68

3.3.1 Nâng cao hiệu quả của cơ chế hành thu và kiểm soát thu nhập của người nộp thuế 69

3.3.2 Đẩy mạnh hoạt động đăng ký và cấp mã số thuế cho người nộp thuế 70

3.3.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế 71

3.3.4 Cải cách hệ thống hành chính thuế TNCN 72

3.3.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế TNCN; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, sự ra đời và tồn tại của thuế là hiện tượng khách quan, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước tồn tại và phát triển Hệ thống thuế được cấu thành bởi nhiều sắc thuế khác nhau, hướng đến các chủ thể và các hoạt động phong phú, đa dạng của đời sống xã hội với những chức năng riêng biệt Trong đó, thuế TNCN là sắc thuế có chức năng cơ bản là phân phối thu nhập, qua việc điều tiết trực tiếp vào TNCN nhằm giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội

Sự hình thành nền kinh tế thị trường là cơ sở tiền đề cho sự ra đời của thuế TNCN ở Việt Nam Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 1990

đã động viên được sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao trong xã hội cho NSNN, giảm bớt sự chênh lệch về mức sống của người lao động trong xã hội Trải qua năm lần sửa đổi, bổ sung, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có những điều chỉnh các quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế,…để phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước

Nhằm tăng hiệu lực pháp lý của thuế TNCN cũng như khắc phục những nhược điểm của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, ngày 21/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNCN, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 Từ khi thực hiện Luật thuế TNCN đến nay, hệ thống thuế ở Việt Nam đã dần hoàn thiện, phạm vi đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế được

mở rộng; thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập và đóng góp ngày càng lớn cho NSNN Tuy nhiên, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật thuế TNCN đã không còn phù hợp với thực tiễn như quy định về mức giảm trừ gia cảnh, một số quy định về kỳ tính thuế, về thủ tục kê khai, quyết toán thuế còn phức tạp, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, công tác quản lý thuế cũng như hiện đại hoá quản lý thuế

Trang 7

Những bất cập này phần nào đã sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh kịp thời khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN vào năm 2013

Mặc dù vậy, trong bối cảnh mới, các quy định của pháp luật thuế TNCN vẫn còn những nhược điểm như quy định về giảm trừ gia cảnh, quy định về xác định thuế TNCN đối với một số loại thu nhập chưa hợp lý,…Ngoài ra, công tác quản lý thuế TNCN trên thực tiễn vẫn còn gặp những vướng mắc, khó khăn gây thất thoát nguồn thu cho NSNN

Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng pháp luật thuế TNCN hiện hành để

từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết Đó cũng là lý do để

tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề pháp lý về thuế TNCN ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” làm luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nhận xét về tình hình nghiên cứu pháp luật thuế TNCN qua các giai đoạn sau:

- Trước 1/1/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh thuế thu

nhập đối với người có thu nhập cao được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sỹ, bài

báo khoa học như “Một số vấn đề pháp lý về thuế TNCN” - Luận văn thạc sĩ luật học của Võ Quang Huy (1997), “Thực trạng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện” bài viết trên Tạp chí Luật học, số 10/2007 của Ths Trần Vũ Hải; “Một số vấn đề về nguyên tắc công bằng trong pháp luật về thuế TNCN” bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2008 của Ths

Trần Minh Đức,…

Các nghiên cứu giai đoạn này hầu hết đã chỉ ra những nhược điểm của pháp luật hiện hành về thuế TNCN và đề ra những giải pháp khắc phục Đó là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện và ban hành Luật thuế TNCN 2007

- Từ 1/1/2009 đến nay: Luật thuế TNCN 2007 chính thức có hiệu lực, thuế

TNCN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tiêu biểu là bài

viết “Những vấn đề đặt ra khi thực thi luật thuế TNCN Việt Nam” của TS.Lê Thị

Trang 8

Thu Thuỷ in trong Tạp chí Luật học số 6/2009; “ Tìm hiểu các quy định về thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản” - Khoá luận tốt nghiệp của Ma Thị Vân Kiều (2010) “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu nhập chịu thuế TNCN” - Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Văn Dũng (2011); “Vấn đề giảm trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN năm 2007 - Thực trạng

và kiến nghị từ kinh nghiệm Nhật Bản” - Khoá luận tốt nghiệp của Trần Thúy Mai Lan (2012); “Pháp luật thuế TNCN với thu nhập từ bất động sản” - Khoá luận tốt

nghiệp của Nguyễn Thị Kim Cúc (2012) Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở một

số khía cạnh của thuế TNCN như thu nhập chịu thuế TNCN, phạm vi áp dụng của thuế TNCN, quy định về giảm trừ gia cảnh,…

Ở cấp độ luận văn thạc sỹ Luật học, tiêu biểu có “Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện” – Luận văn thạc sỹ Luật

học của Hoàng Quốc Đạt (2012) đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN trên phương diện thực tiễn áp dụng, có sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới để ra các giải pháp áp dụng có hiệu quả ở Việt

Nam; “Pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” -

Luận văn thạc sĩ luật học của Tạ Minh Hảo (2013) đã làm rõ nội dung pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam Các nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Tuy nhiên, có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu một cách toàn diện về pháp luật thuế TNCN, nhất là ở cấp độ Luận văn thạc sỹ không nhiều…Đặc biệt là từ thời điểm 1/7/2013 khi Luật thuế TNCN được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực ở một số điều khoản thì vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập đến pháp luật thuế TNCN trong giai đoạn mới Đó là thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tác giả khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài có phạm vi nghiên cứu như sau:

- Pháp luật Việt Nam về thuế TNCN tại Luật thuế TNCN 2007, sửa đổi, bổ sung 2013; Luật quản lý thuế 2006; Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu

Trang 9

nhập cao; Các văn bản hướng dẫn thi hành; so sánh với pháp luật thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới

- Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công

Các phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp sử dụng trong bài là: phương pháp liệt kê; phương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp phân tích tổng hợp

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm cung cấp cho người đọc những vấn

đề pháp lý cơ bản nhất về thuế TNCN, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của pháp luật thuế TNCN cũng như thực tế áp dụng

để đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế TNCN hiện hành

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu đó, những nhiệm vụ nghiên cứu sau sẽ phải đảm bảo thực hiện:

• Nghiên cứu các vấn đề lý luận về thuế TNCN và pháp luật thuế TNCN

• Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thuế TNCN và đánh giá ưu điểm cũng như hạn chế

• Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thuế TNCN, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng

• Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Mặc dù lựa chọn đề tài nghiên cứu không phải là mới, tuy nhiên tác giả kỳ vọng luận văn sẽ đóng góp những điểm mới về mặt khoa học như sau:

Trang 10

Thứ nhất, luận văn đã phân tích và chỉ ra được những bất cập và hạn chế của

pháp luật thuế TNCN hiện hành, đặc biệt là của Luật thuế TNCN 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN được ban hành năm 2013 Đây là vấn đề không dễ bởi việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trong bối cảnh các quy định pháp luật thuế TNCN vừa được sửa đổi, bổ sung và bắt đầu áp dụng từ 1/1/2014 (riêng một số điều khoản đã được áp dụng từ 1/7/2013)

Thứ hai, những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN

và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN mà luận văn đề ra mang tính cập nhật cao

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế TNCN và pháp luật thuế TNCN

Chương 2:Thực trạng pháp luật thuế TNCN hiện hành ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ

PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Khái quát chung về thuế TNCN

1.1.1 Khái niệm thuế TNCN

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải

có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế

Với phạm vi tác động rộng rãi lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội,

hệ thống thuế của các quốc gia được xây dựng linh hoạt với chức năng và đối tượng chịu tác động riêng biệt Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay đó là dựa trên căn cứ đối tượng bị đánh thuế hay đối tượng chịu thuế, theo đó các sắc thuế hiện nay được phân loại thành thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản

Thuế thu nhập là tên gọi chỉ những sắc thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội

Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế quan trọng được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Do động viên trực tiếp vào thu nhập nên thuế thu nhập có các đặc điểm như: là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế; có tính phức tạp và ổn định không cao; chịu sự điều

Trang 12

chỉnh của luật quốc gia và luật quốc tế Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thuế thu nhập gồm hai loại là thuế TNDN và thuế TNCN, mặc dù hai loại thuế này có thể ban hành trong cùng một văn bản luật hoặc được ban hành riêng lẻ

Thuế TNCN là sắc thuế đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách

và thực hiện công bằng xã hội Sự ra đời của thuế TNCN bắt nguồn từ các lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập

đảm bảo công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, những cá nhân nào nắm giữ tư liệu sản xuất, tài sản, vốn,…nhiều hơn sẽ có ưu thế chiếm phần thu nhập cao hơn Từ sự phân phối mang tính kinh tế này tất yếu sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Hiển nhiên những người có thu nhập cao cũng nhờ vào xã hội

mà họ mới có được, do đó thuế TNCN là một trong những công cụ mà Nhà nước

sử dụng để tái phân phối lại thu nhập xã hội, đảm bảo công bằng xã hội

Thứ hai, sự ra đời của thuế TNCN còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của

Nhà nước Bất kỳ Nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, cùng với xu thế phát triển kinh tế - xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi cá nhân ngày càng cao, Nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính

to lớn cho mình thông qua thuế TNCN

Thứ ba, thuế TNCN còn là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết các

hoạt động kinh tế xã hội Ở các quốc gia, Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của cộng đồng và thuế TNCN là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng đó Thu nhập của mỗi cá nhân, tổ chức hay một quốc gia là chỉ tiêu quan trọng quyết định vấn đề tích lũy, đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng và vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội Thông

Trang 13

qua việc đánh thuế vào thu nhập với những cách thức khác nhau, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết của mình

Nhìn chung, việc phân định thuế TNCN và thuế TNDN dựa trên cơ sở chủ thể nộp thuế là cá nhân hay tổ chức có thu nhập chịu thuế Theo đó, thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần

Như vậy, có thể rút ra định nghĩa về thuế TNCN như sau: Thuế TNCN là sắc thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội

Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và

cá nhân không kinh doanh Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt

Một điểm đặc biệt nữa của thuế TNCN đó là hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay khi áp dụng thuế TNCN đều thực hiện trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế của Nhà nước, đó là thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và thu thuế theo yếu tố quốc tịch Theo đó, những cá nhân là đối tượng nộp thuế TNCN không chỉ là chủ thể có quốc tịch của Nhà nước thu thuế mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thu thuế Đặc điểm này đã phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Đánh thuế trùng ở thuế TNCN xảy ra khi một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có thể vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà cá nhân đó mang quốc tịch, vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà thu nhập đó phát sinh Để hạn chế tình trạng này, các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn giải pháp ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia khác trong Luật thuế TNCN

1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN

Thuế TNCN có các đặc điểm cơ bản như sau:

Trang 14

- Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu

Thuế trực thu là loại thuế mà chủ thể nộp thuế cũng đồng thời là chủ thể gánh chịu thuế, nghĩa là chủ thể nộp thuế sẽ mất một phần thu nhập của chính mình vì thuế

Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác

Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN

- Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân

Trong quá trình lao động, con người tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí phân loại Mục đích của việc phân loại thu nhập

là cơ sở cho việc phân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng như đặt ra cơ chế hành thu hiệu quả

Khái niệm “thu nhập” hiện nay chưa được hiểu thống nhất nên vẫn còn

nhiều quan điểm khác nhau Chính vì vậy, các nhà làm luật thường chỉ liệt kê các khoản được coi là thu nhập của tổ chức, cá nhân mà không đưa ra khái niệm thu nhập

Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập của cá nhân phát sinh rất đa dạng Nếu căn cứ vào hoạt động hoặc các giao dịch làm phát sinh thu nhập thì thu nhập bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu nhập từ lao động; thu

Trang 15

nhập từ tài sản, tiền vốn; thu nhập từ chuyển nhượng; thu nhập từ thừa kế, tặng cho; thu nhập từ bản quyền; thu nhập do bồi thường; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ Nhà nước hoặc xã hội dành cho và các khoản thu nhập khác

Các loại thu nhập kể trên không phải thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế mà chỉ có một số khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịụ thuế

Pháp luật thuế TNCN nói riêng và thuế thu nhập nói chung ở các quốc gia đều quy định các khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm soát được Có như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng và đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN

- Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần

Thuế suất luỹ tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ yếu áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương và thu nhập từ kinh doanh Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

- Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và phức tạp

Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh,

về mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả trên thị trường

Trang 16

Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn định của thu nhập Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế

- Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế

Đây là đặc trưng của thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới khổng chỉ áp dụng đối với công dân của mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó Để tránh tình trạng đánh thuế hai lần lên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia cũng là nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN

1.1.3 Vai trò của thuế TNCN

Thứ nhất, thuế TNCN góp phần tạo nguồn thu cho NSNN

Thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động một bộ phận của cải trong xã hội nhằm tạo nguồn thu cho NSNN Bất kỳ Nhà nước nào để thực hiện được các chức năng cơ bản của mình đều phải

có nguồn lực vật chất và thuế là nguồn thu quan trong để đáp ứng nhu cầu đó

Thuế TNCN được hình thành từ việc điều tiết một phần thu nhập chịu thuế của các cá nhân trước khi hành vi tiêu dùng xảy ra Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với

sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa là thu nhập của dân cư càng cao thì mức thu từ thuế TNCN càng tăng Do đó, thuế TNCN đang dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ thuế cho NSNN

Ngoài ra, thuế TNCN còn góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN Bởi trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế TNDN khi có sự thông đồng giữa các doanh

Trang 17

nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được

kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN

Thứ hai, thuế TNCN là công cụ để Nhà nước tái phân phối sản phẩm xã hội, giảm phân hóa giàu nghèo, góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội

Có thể nói rằng đây là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của thuế TNCN Sở

dĩ như vậy là do thuế TNCN điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của thuế TNCN đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập của các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có thu nhập thấp

Theo Michel Bouvier, các sắc thuế trực thu trong đó có thuế TNCN có khả năng cá nhân hóa tốt hơn, việc đánh thuế có tính đến điều kiện và hoàn cảnh của người nộp thuế nên nó đảm bảo tính công bằng tốt hơn Tất nhiên khi đề cập đến vấn đề tính công bằng của thuế TNCN vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi khi những người có thu nhập càng cao sẽ phải nộp thuế nhiều hơn những người có thu nhập thấp khi thuế được áp dụng theo tính chất lũy tiến như hiện nay [20;tr.222]

Tính công bằng của thuế TNCN còn được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ thuế được

áp dụng trên cơ sở có tính đến điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế Người nộp thuế không bị giới hạn về các khoản được giảm trừ hợp pháp như số lượng người phụ thuộc khi xác định giảm trừ gia cảnh; số lần tham gia từ thiện, nhân đạo, Như vậy, cùng có thu nhập bằng nhau nhưng các cá nhân có thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế khác nhau nếu số lượng người phụ thuộc của họ không giống nhau Đây là một đặc điểm mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được bởi nghĩa vụ thuế chỉ có thể phát sinh khi hành vi tiêu thụ hang hóa, dịch vụ xảy ra

Thứ ba, thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội của Nhà nước

Trang 18

Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ

đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất

Ngoài ra để tiến hành thu thuế TNCN, Nhà nước cũng phải xây dựng một hệ thống hành thu thuế, từ đó sẽ đánh giá được tình hình thu nhập của dân cư cũng như thực trạng của nền kinh tế Từ những đánh giá đó mà Nhà nước có thể đưa ra các chính sách kinh tế khác phù hợp hơn như chính sách về việc làm, chính sách bảo hiểm, chính sách trợ cấp xã hội,…

Thứ tư, thuế TNCN góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện thu nhập bất hợp pháp

Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được

từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế , lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế–xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN

1.2 Khái quát chung về pháp luật thuế TNCN

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế TNCN

Để thực hiện hoạt động thu thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, sự điều chỉnh của Nhà nước thông qua các quy định pháp luật là hết sức cần thiết Việc ban hành các văn bản pháp luật về thuế TNCN có ý nghĩa quan trọng, tạo căn cứ pháp

lý cho việc áp dụng thuế TNCN trên thực tế Bởi suy cho cùng, mặc dù Nhà nước nào cũng có quyền đánh thuế nhưng để nguồn thu từ thuế trở thành hiện thực, Nhà

Trang 19

nước phải sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu và đặc thù nhất của mình

để thực hiện các mục tiêu đã định

Như vậy, pháp luật thuế TNCN là tổng hợp các qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế của cá nhân có phát sinh thu nhập theo qui định của pháp luật

Pháp luật thuế TNCN phải được xây dựng dựa vào những tiêu chuẩn nhất định và điều chỉnh tổng thể các loại thuế khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau Xây dựng hệ thống pháp luật thuế TNCN cần xem xét và thực hiện theo những căn cứ cơ bản như đảm bảo nguồn vật chất chi tiêu nhà nước; những yếu tố liên quan đến tình hình phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư, định hướng phát triển của Nhà nước; yêu cầu đảm bảo bao quát hết nguồn thu cho NSNN và đảm bảo yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể

1.2.2 Lịch sử hình thành pháp luật về thuế TNCN

1.2.2.1 Quá trình hình thành pháp luật thuế TNCN trên thế giới

Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử ra đời sớm Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế TNCN được đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942 Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp 1916 và Liên Xô năm 1922

Thuế TNCN được tính theo hai phương pháp chính sau:

- Phương pháp tính thuế theo từng hộ gia đình: được áp dụng ở Pháp, Hà Lan Với phương pháp tính thuế này, bảo đảm tính công bằng xã hội cao hơn nhưng phức tạp bởi hộ gia đình phải mở sổ sách kế toán theo dõi nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình

- Phương pháp tính thuế thu nhập đối với từng cá nhân: được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật Bản, Thụy Điển Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ

Trang 20

làm, đảm bảo nguồn thu cho NSNN Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho hiệu quả

và đáp ứng yêu cầu đảm bảo công bằng xã hội, nhất là những cá nhân có người phụ thuộc [21; tr.199]

Pháp luật thuế TNCN các quốc gia thường đề cập đến các nội dung cơ bản như: Đối tượng nộp thuế; Thu nhập chịu thuế: Thu nhập không chịu thuế; Căn cứ tính thuế; Thuế suất.Việc thu nộp thuế được áp dụng theo phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn phát sinh thu nhập, theo đó người chi trả thu nhập giữ lại tiền thuế

để nộp vào NSNN trước khi trả thu nhập cho người nhận

Pháp luật thuế TNCN có vai trò rất quan trong trong hệ thống pháp luật thuế của nhiều quốc gia, đặc biệt là trong việc huy động nguồn thu NSNN, phân phối thu nhập, giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Tuy nhiên đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhay của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt

ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nước trong từng thời kỳ nhất định

1.2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam

Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972

Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 05 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên nhưng khoảng cách chênh lệch

về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp

Trang 21

cũng có xu hướng ngày càng tăng Như vậy, việc áp dụng thuế TNCN sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời Nhà nước

sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân Thông qua đó vừa thực hiện nguồn lực vừa góp phần chống tham nhũng, lãng phí

Tuy nhiên, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: Phạm vi điều chỉnh tương đối hẹp do không đánh thuế đối với một số khoản thu nhập không thường xuyên, không đánh thuế đối với cá nhân kinh doanh; Chưa thật sự công bằng do không khấu trừ các khoản chi phí cần thiết để duy trì cuộc sống; Biểu thuế lũy tiến từng phần có thuế suất lũy tiến quá nhanh, lại không bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Ngoài ra, thu nhập của cá nhân đồng thời được điều tiết bởi các văn bản như: Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNDN và Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Những nhược điểm nói trên cần được khắc phục khi ban hành Luật thuế TNCN

Trước bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, ngày 21/11/2007 Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009 thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Luật thuế TNCN 2007 đã khắc phục được những nhược điểm của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Từ khi thực hiện, Luật thuế TNCN đã đạt được những mục tiêu đề ra như: đã bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; Đảm bảo động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với

cá nhân có thu nhập; Góp phần đảm bảo nguồn thu NSNN; Từng bước góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư

Tuy nhiên qua một thời gian thực hiện, một số điều khoản của Luật thuế TNCN đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN đã được ban hành vào ngày

Trang 22

21/12/2012, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 1/1//2014, trong đó một số điều khoản

đã có hiệu lực từ 1/7/2013 được xây dựng, ban hành nhằm tập trung sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập so với thực tế, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và có tính ổn định; việc sửa đổi đảm bảo không làm ảnh hưởng lớn đến

số thu NSNN Việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN cũng góp phần tăng tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực, các nước có điều kiện tương đồng với nước ta, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế

Như vậy, mặc dù thuế TNCN ở Việt Nam ra đời khá sớm nhưng pháp luật

về thuế TNCN vẫn còn chưa đồng bộ và hoàn thiện, dẫn đến nảy sinh nhiều bất cập trong quá trình áp dụng

1.2.3 Các nguyên tắc đánh thuế áp dụng trong pháp luật thuế TNCN

Nguyên tắc đánh thuế của nhà nước là hệ thống quan điểm chỉ đạo chi phối sâu sắc vấn đề đặt ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận hành của hệ thống pháp luật thuế Thuế TNCN cũng như các sắc thuế khác đều có sự ảnh hưởng nhất định đến Nhà nước và người nộp thuế Việc điều tiết trực tiếp thu nhập của cá nhân sẽ làm cho thuế TNCN tạo ra những tác động đa chiều đến tâm lý người nộp thuế, do đó việc tuân thủ các nguyên tắc đánh thuế là nhằm đảm bảo việc thu thuế đạt hiệu quả cao nhất kể cả về số thu, chi phí và mức độ tác động xã hội của thuế

1.2.3.1 Nguyên tắc đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế trong thuế TNCN

Nội dung của nguyên tắc bày là việc áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế; mọi đối tượng có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau Trong những trường hợp có sự khác nhau về điều kiện chịu thuế thì tính công bằng vẫn được đảm bảo Đó là nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử với nhau tương xứng

Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng còn thể hiện ở chỗ những đối tượng được hưởng các ưu đãi, giảm trừ thuế TNCN giống nhau thì phải được hưởng các chế độ về

Trang 23

thuế như nhau Những đối tượng được khuyến khích, ưu đãi khi có đủ điều kiện cũng được hưởng sự đối xử ưu đãi tương ứng [21;tr.18]

1.2.3.2 Nguyên tắc đảm bảo cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ việc đánh thuế TNCN phải đảm bảo nguồn thu cho NSNN nhưng không được để cho người nộp thuế lâm vào tình trạng khó khăn Bởi đặc trưng của thuế trực thu nói chung và thuế thu nhập trong đó

có thuế TNCN nói riêng là Nhà nước động viên trực tiếp vào thu nhập, tài sản của người nộp thuế mà chủ yếu thông qua cơ chế khấu trừ trực tiếp tại nguồn phát sinh thu nhập Nếu tổng số thuế phải trả quá lớn thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nguy cơ trốn thuế rất tiềm tàng nhưng nếu nghĩa vụ thuế quá thấp thì lại không đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Chính vì vậy việc xác định thế nào là cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế TNCN là không đơn giản Việc ban hành luật thuế TNCN phải dựa trên căn

cứ là việc tính toán số tiền thuế người dân phải trả chứ không chỉ xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ [21;tr.19]

1.2.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN

Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng luật thuế TNCN phải đơn giản, rõ rang,

dễ hiểu, minh bạch và giảm chi phí cho mọi chủ thể liên quan

Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các quy định của Luật thuế phải có tính ổn định cao, dễ tiếp cận và dễ hiểu, dễ thực hiện Mặt khác, việc tổ chức bộ máy hành thu phải được tổ chức sao chi phí quản lý thu thuế TNCN không cao hơn mức chi phí cho phép trong mục tiêu đề ra Ngoài ra, việc áp dụng luật thuế TNCN cũng phải tính tới mối tương quan giữa tổng thu dự tính đạt được và chi phí phải trả cho việc thu và quản lý thuế TNCN [21;tr.20]

1.2.3.4 Nguyên tắc tránh đánh thuế hai lần

Nội dung nguyên tắc này đòi hỏi việc đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần

Trang 24

Tình trạng đánh thuế trùng chủ yếu xảy ra đối với thuế thu nhập, phát sinh từ việc các quốc gia trên thế giới áp dụng đồng thời quyền thu thuế theo yếu tố lãnh thổ

và quyền thu thuế theo yếu tố quốc tịch

Để giải quyết tình trạng đánh thuế trùng, nguyên tắc này đòi hỏi hệ thống pháp luật thuế của một quốc gia phải bóc tách những phần của đối tượng tính thuế đã nằm trong diện chịu loại thuế đó ở giai đoạn trước Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thuế giữa các quốc gia cũng phải tính tới khả năng các nhà đầu tư, công dân của quốc gia này nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác Do đó việc các nước tham gia

kí kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là điều rất cần thiết

Trang 25

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN

2.1.1 Quy định về phạm vi áp dụng thuế TNCN

2.1.1.1 Đối tượng nộp thuế

Việc quy định đối tượng nộp thuế của Luật thuế TNCN hiện hành so với quy định trước đây của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đảm bảo tính hợp lý hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế Điều đó biểu hiện ở các khía cạnh sau:

- Quy định về phạm vi chịu thuế

Trước đây, nguyên tắc đánh thuế thu nhập đối với cá nhân dựa trên tiêu chí phân biệt công dân Việt Nam và người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau Cách xác định phạm vi chịu thuế này thể hiện sự phân biệt không cần thiết giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữa người nước ngoài cư trú không thời hạn và có thời hạn ở Việt Nam gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Nhà nước

Chính vì vậy, pháp luật thuế hiện hành đã có sự thay đổi khi xác định phạm

vi chịu thuế Nhà nước chỉ dựa trên tiêu chí là yếu tố cư trú của đối tượng nộp thuế

Cụ thể tại Điều 2 Luật thuế TNCN quy định: “Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.”

Việc quy định như vậy đã tạo sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, đồng thời cũng tránh được sự phức tạp trong việc xác định đối tượng chịu thuế Hơn nữa, nó còn thể hiện thiện chí của nước ta trong việc nỗ lực thực hiện chế độ đãi ngộ quốc gia, tạo môi trường mở và tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư, người nước ngoài khi vào làm việc và sinh sống tại Việt Nam

Trang 26

- Quy định về căn cứ xác định yếu tố cư trú

Luật thuế TNCN xác định đối tượng nộp thuế dựa trên tiêu chí “cư trú”, đâu

là điểm mới và cũng là ưu điểm so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Trước đây, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao dựa vào ba tiêu chí là quốc tịch, lãnh thổ và cư trú để xác định đối tượng nộp thuế Quy định này tương đối khác biệt với pháp luật của các nước khác do đó làm gia tăng khả năng đánh thuế trùng giữa các quốc gia, gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam Luật thuế TNCN đã khắc phục hạn chế này khi quy định căn cứ để xác định một cá nhân là cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú là việc thỏa mãn hay không một trong hai điều kiện, đó là nơi ở và thời gian có mặt tại Việt Nam

Đối với cá nhân cư trú, theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN

2007 thì “Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:(1) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;(2) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn

Điều kiện “có mặt tại Việt Nam” được hiểu là sự hiện diện của cá nhân đó

trên lãnh thổ Việt Nam và phải từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam So với quy

định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao “có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam” thì rõ

ràng quy định của Luật thuế TNCN 2007 đã thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt hơn và

đã bao quát được những cá nhân có mặt ở Việt Nam trên 183 ngày nhưng ở những tháng gián đoạn, không liên tục

Đối với quy định về điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở” pháp luật thuế TNCN đã có sự sửa đổi tăng thời hạn thuê

nhà để ở theo hợp đồng thuê từ 90 ngày lên 183 ngày Việc xác định số ngày thuê nhà căn cứ vào các hợp đồng thuê kể cả trường hợp hợp đồng thuê nhà được ký

Trang 27

trước 01/7/2013 Sửa đổi này đã giảm thủ tục hành chính, phiền phức cho người nộp thuế, đơn giản trong quản lý thu thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế

Đối với cá nhân không cư trú, Luật thuế TNCN 2007 quy định tại Khoản 3

Điều 2 “Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này” Như vậy, cá nhân không cư trú là chủ thể không đáp ứng đồng

thời cả hai điều kiện về thời gian có mặt cũng như có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam Cách quy định như trên của pháp luật hiện hành thể hiện sự đơn giản hóa cho quá trình xây dựng quy phạm pháp luật, tuy nhiên lại không rõ ràng bởi cá nhân không cư trú có mặt ở Việt Nam 01 ngày khác với trường hợp trường hợp ở Việt Nam 182 ngày Do đó, cần quy định rõ hơn về cá nhân không cư trú để việc xác định số thuế TNCN của cá nhân cư trú chính xác và thuận tiện

So sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho thấy, cách xác định đối tượng nộp thuế của các nước cũng không giống nhau

Theo pháp luật thuế TNCN của Pháp thì một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi hành nghề chính hay có trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt tại Pháp trên 6 tháng trong một năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập

Ở Nhật Bản quy định cụ thể 3 trường hợp: cư trú thường xuyên (là người định cư thường xuyên ở Nhật bị đánh thuế đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên); cư trú không thường xuyên (là người không

có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có thường trí ở Nhật từ 1 – 5 năm sẽ đánh thuế vào nguồn thu nhập phát sinh tại Nhật) và đối tượng không cư trú (là người không có định cư hoặc sống ở Nhật dưới 1 năm và có hợp đồng lao động, giấy tờ khác chứng minh thì không phải nộp thuế thu nhập )

Ở Hoa Kỳ thì xác định cá nhân cư trú là công dân Mỹ và những người sinh sống tại Mỹ tối thiểu 330 ngày.[2; tr.5]

Việc đặt ra tiêu chí yếu tố cư trú để làm căn cứ xác định đối tượng nộp thuế TNCN nhằm đảm bảo xác định tối đa đối tượng cư trú cần điều tiết thu nhập để tạo

Trang 28

công bằng xã hội, đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho cơ quan quản lý thuế trong việc xác đinh đối tượng thuộc diện chịu thuế TNCN

2.1.1.2 Thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế

- Đối với thu nhập chịu thuế TNCN

Trước đây theo quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập chịu thuế được chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên nhưng không đưa ra khái niệm về từng loại thu nhập gây khó khăn cho việc xác định thuế

Do thu nhập của cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nên việc xác định thu nhập chịu thuế để đảm bảo được tính công bằng, bình đẳng mà vẫn khuyến khích được người dân lao động, sản xuất tạo thu nhập là việc làm cần thiết khi xây dựng các quy định về thu nhập chịu thuế TNCN Luật thuế TNCN hiện hành đã liệt kê hầu hết các loại thu nhập có thể phát sinh và áp dụng thống nhất điều chỉnh các loại thu nhập của cá nhân trong một văn bản tránh tình trạng khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Theo đó hiện nay có 10 loại thu nhập chịu thuế TNCN được quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN 2007 bao gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; Thu nhập từ tiền lương, tiền công; Thu nhập từ đầu tư vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật; Thu nhập từ bản quyền; Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; Thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng và Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng So với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì các quy định về thu nhập chịu thuế của Luật thuế TNCN 2007 có những điểm mới sau:

- Đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: Pháp lệnh thuế thu

nhập đối với người có thu nhập cao trước đây xác định thu nhập từ kinh doanh là

Trang 29

đối tượng chịu thuế TNDN bất kể chủ thể kinh doanh là cá nhân hay là tổ chức Quy định trên xuất phát từ bối cảnh Luật thuế TNDN 1997, sửa đổi, bổ sung năm

2004 đã điều chỉnh thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh của tất cả các chủ thể kinh doanh trong xã hội Mặc dù trong giai đoạn này đã xuất hiện các cá nhân kinh doanh và hành nghề độc lập nhưng số lượng vẫn còn ít, thêm vào đó thì Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chỉ điều chỉnh chủ yếu vào thu nhập từ tiền lương và tiền công của người lao động nên thu nhập từ kinh doanh của

cá nhân chịu sự điều chỉnh của Luật thuế TNDN Tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật đã cho thấy quy định trên là không hợp lý bởi cá nhân kinh doanh thường hoạt động với quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp và không phải là doanh nghiệp Do đó nếu áp dụng thuế TNDN đối với đối tượng này thì sẽ không đảm bảo nguyên tắc công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Ngoài ra, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định thu nhập của cá nhân từ kinh doanh đều thuộc diện điều chỉnh của thuế TNCN Do đó, việc chuyển thu nhập từ kinh doanh của cá nhân chịu sự điều chỉnh của Luật thuế TNCN vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa góp phần động viên thuế TNCN một cách bình đẳng và hợp lý Chính vì vậy, Luật thuế TNCN

2007 đã quy định “Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật trừ thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản đủ điều kiện được miễn thuế và thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật” là thu nhập chịu thuế TNCN

- Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công: Luật thuế TNCN đã quy định cụ

thể và chi tiết hơn so với Pháp lệnh thuế thu nhập đồi với người có thu nhập cao, theo đó thu nhập từ tiền lương, tiền công được hiểu là thu nhập mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản

có tính chất tiền lương, tiền công nhận được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền

Các khoản phụ cấp, trợ cấp mà cá nhân được hưởng cũng được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau: phụ cấp, trợ

Trang 30

cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về BHXH; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội

và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Ngoài ra, thu nhập từ tiền lương, tiền công còn bao gồm thu nhập từ tiền thù lao; Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp, và các tổ chức khác;

các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng theo quy định của pháp luật và các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán, trừ các khoản tiền thưởng mà pháp luật quy định

Có thể thấy việc Luật thuế TNCN quy định cụ thể, rõ ràng đối với thu nhập

từ tiền lương, tiền công có ý nghĩa quan trọng bởi đây là thu nhập mang tính thường xuyên của người nộp thuế và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của thuế TNCN Ngoài ra, các thu nhập mang tính chất tiền công, tiền lương tồn tại dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng nên cần quy định chi tiết để xác định đúng loại thu nhập chịu thuế, từ đó áp dụng căn cứ tính thuế phù hợp

- Đối với các thu nhập khác: Luật thuế TNCN 2007 đã mở rộng diện điều

tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế mới Các khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) đã được quy định trong Luật thuế TNCN 2007 bao gồm: Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; Thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong

Trang 31

các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc sử dụng; Thu nhập từ trúng thưởng (trước đây chỉ áp dụng đối với trúng thưởng xổ số

và khuyến mại) Những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập trên 10 triệu đồng cho từng lần phát sinh thu nhập

Ngoài ra, một số khoản thu nhập trước đây Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm chuyển nhượng chứng khoán được xác định là thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế TNCN 2007

Có thể thấy việc mở rộng diện điều tiết đối với thu nhập của cá nhân trong

xã hội sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa

vụ nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, với quy định mới này Luật thuế TNCN đã góp phần tăng thu cho NSNN một cách hợp lý trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế

Nhìn chung, quy định về thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế TNCN hiện hành theo xu hướng phân loại thu nhập đã tạo nền tảng cho việc tính thuế phù hợp với thông lệ quốc tế Việc phân loại thu nhập chịu thuế cũng tạo

cơ sở cho việc áp dụng thuế suất, đó là áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công và áp dụng biểu thuế toàn phần với các khoản thu nhập còn lại

Nhằm hoàn thiện pháp luật về thu nhập chịu thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2013 đã có những điều chỉnh và bổ sung thêm các quy định phù hợp hơn đối với thu nhập chịu thuế, cụ thể như sau:

- Sửa đổi quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công: Để đảm bảo nguyên tắc chỉ các khoản trợ cấp

mang tính bù đắp những rủi ro, giải quyết khó khăn tạm thời cho người lao động, hoặc các khoản phụ cấp, trợ cấp mang tính chất bảo trợ, an sinh xã hội mới được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, Luật thuế TNCN sửa đổi đã xóa bỏ các khoản trợ cấp, phụ cấp không còn được áp dụng; đồng thời bổ sung thêm quy định đánh thuế đối

Trang 32

với “trợ cấp mang tính bảo trợ xã hội và các khoản trợ cấp, phụ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ” Với quy định

này Luật thuế TNCN sẽ bao quát hết các khoản trợ cấp, phụ cấp thuộc diện chịu thuế mà người lao động được hưởng, kể cả khi phát sinh các khoản phụ cấp mới

trong tương lai

- Về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2013 quy định thêm “Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức” để đảm bảo bao quát hết

các trường hợp thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng bất động sản Theo đó các trường hợp người có bất động sản làm hợp đồng uỷ quyền mà người được uỷ quyền có cả quyền cho, tặng, chuyển nhượng bất động sản phát sinh thu nhập đều được coi là thu nhập chịu thuế

Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2013 đã điều chỉnh và bổ sung nhằm hợp lý hơn các quy định về thu nhập chịu thuế nhưng pháp luật thuế TNCN hiện hành vẫn còn tồn tại một số hạn chế về thu nhập chịu thuế cần được khắc phục như sau:

Thứ nhất, về thu nhập từ tiền lương, tiền công: quy định thu nhập chịu thuế

từ tiền lương, tiền công còn bất cập ở việc xem xét thu nhập của cá nhân sống bằng lương trong bộ máy nhà nước mà thu nhập đó được thể hiện bằng các chế độ như

xe cộ, nhà ở,…Nghị định 65/2013/NĐ-CP đã quy định không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đối với các chế độ xe cộ và nhà công vụ, tuy nhiên nếu quy đổi các chế độ này ra thu nhập thì có giá trị không nhỏ tạo ra sự chênh lệch và bất bình đẳng với những người làm công ăn lương khác Ngoài ra từ quy định này cũng có thể phát sinh tình trạng đối với cá nhân được phân nhà ở công vụ nhưng đã

về hưu vẫn còn tiếp tục sử dụng, thậm chí cho thuê nhà công v nhưng thu nhập phát sinh lại không chịu thuế Do đó pháp luật cần có sự quy định cụ thể nhằm kiểm soát tốt hơn thu nhập cá nhân để đánh thuế hợp lý đối với trường hợp này

Thứ hai, quy định đánh thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn vẫn còn

bất cập Trước hết, quy định đánh thuế đối với lợi tức cổ phần chưa bình đẳng với

Trang 33

thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng bởi về bản chất cả hai thu nhập trên đều

có được từ hoạt động đầu tư vốn Trong khi việc đầu tư vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng do phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của tổ chức kinh tế mà cá nhân góp vốn thì nhà đầu tư có lợi tức phải nộp thuế TNCN với mức thuế suất 5% còn cá nhân có lãi tiền gửi lại được miễn thuế Hơn nữa với thực trạng kinh tế ở nước ta hiện nay thì các hình thức đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp cần được ưu đãi hơn nữa để khuyến khích xã hội dồn nguồn vốn đầu tư cho khu vực sản xuất trực tiếp Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, các loại thu nhập từ cổ tức, lãi tiền gửi, lãi trái phiếu đều bị đánh thuế và được khấu trừ tại nguồn Như vậy cả nhà đầu tư chứng khoán và người gửi tiền đều bình đẳng về nghĩa vụ thuế Do đó, quy định đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là cần được sửa đổi để đảm bảo công bằng với lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng

Ngoài ra, ở góc độ khác cho thấy nếu đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn thì sẽ xảy ra tình trạng đánh thuế hai lần trên một thu nhập Bởi nếu nhìn vào dòng tiền sẽ thấy khoản thu nhập của doanh nghiệp và khoản thu nhập từ cổ tức của cổ đông thực chất là một Như vậy, cùng khoản thu nhập đó nhưng trước tiên

bị đánh thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp, tiếp đó thu nhập sau thuế (lợi nhuận) chia cho cổ đông tiếp tục chịu thuế TNCN Từ đó cho thấy quy định về thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn cần được điều chỉnh để vừa đảm bảo cho lợi ích cho nhà đầu tư, vừa tránh đánh thuế nhiều lần và khuyến khích đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh

Thứ ba, về thu nhập chịu thuế đối với chứng khoán cũng còn hạn chế Xét về

mặt tâm lí, nhà đầu tư trong giai đoạn hiện nay hoàn toàn không “tâm phục, khẩu phục” khi nộp thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng khoán Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là thị trường chứng khoán

ở Việt Nam hiện nay trong thời kì xây dựng và phát triển, số lượng người dân tham gia chưa nhiều và chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Trên thực tế, thị trường chứng khoán cũng chỉ thực sự sôi động vào năm 2006 còn tại thời điểm hiện nay thì thị trường chứng khoán lên xuống thất thường và chứa đựng nhiều rủi ro Hơn

Trang 34

nữa, việc tìm kiếm thu nhập hay việc làm giàu ở thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không dễ dàng, bởi nhiều lý do khác nhau, trong đó yếu tố công bằng, minh bạch, công khai của thị trường vẫn chưa được đảm bảo đúng nghĩa Vì vậy, những nhà đầu tư chứng khoán có khả năng phân tích và am hiểu thị trường không nhiều, phần lớn vẫn theo cách đầu tư theo số đông hoặc các nhà đầu tư nhỏ lẻ bị dẫn dắt bởi các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay khó có thể đánh thuế thu nhập từ các giao dịch chứng khoán trao tay và chủ yếu bằng tiền mặt trên thị trường tự do, bởi lẽ rất khó kiểm soát Có thể nói việc đánh thuế vào chứng khoán sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của thị trường chứng khoán, dẫn đến việc các nhà đầu tư có thể sẽ không tham gia thị trường giao dịch tập trung, làm cho thị trường bị suy thoái Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, cần xem xét lại mức điều tiết bởi lẽ tại thời điểm này, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa phát triển ổn định, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, việc đầu tư còn mang tâm lý số đông, lướt sóng, lợi nhuận thu được chỉ là may, rủi, không thường xuyên, vì vậy đánh thuế vào thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán có thể coi là rào cản, không thúc đẩy sự phát triển thị trường này Trong khi

đó, thu nhập từ lãi tiền vay ngân hàng mang tính chất thường xuyên, nhưng vẫn thuộc diện thu nhập miễn thuế

2.1.2.2 Thu nhập được miễn thuế

Điểm mới của Luật thuế TNCN là sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” thay thế cho “thu nhập không chịu thuế” được quy định tại Pháp lệnh thuế

thu nhập đối với người có thu nhập cao Miễn thuế khác với không chịu thuế ở chỗ

ở trường hợp miễn thuế thì giữa chủ thể nộp thuế với Nhà nước vẫn phát sịnh quan

hệ pháp luật thuế, khác với trường hợp không chịu thuế không phát sinh quan hệ

pháp luật thuế Việc sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” là phù hợp bởi

các nguồn thu nhập thường rất đa dạng, phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng thời kỳ nên trong các giai đoạn khác nhau, quan niệm của pháp luật về thu nhập được miễn thuế TNCN cũng sẽ khác nhau Quy định như trên sẽ tạo điều kiện

Trang 35

thuận lợi trong việc áp dụng chính sách thuế TNCN bởi người có thu nhập được miễn thuế cũng phải thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế với Nhà nước

Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN 2007 đã bổ sung một số thu nhập vào diện thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4, theo

đó có 14 loại thu nhập được miễn thuế TNCN

Ngoài ra, do hiện nay đã hình thành và sẽ phát triển mạnh mô hình quỹ đầu

tư là quỹ hưu trí tự nguyện, góp phần phát triển thị trường vốn, hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội Để đảm bảo công bằng giữa người có lương hưu do Quỹ BHXH chi trả đang được miễn thuế TNCN với người có lương hưu do quỹ hưu trí

tự nguyện chi trả, đồng thời khuyến khích cá nhân tham gia vào quỹ hưu trí tự nguyện, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN 2013 đã bổ sung

quy định miễn thuế TNCN tại khoản 10 Điều 4 Luật thuế TNCN 2007 đối với “tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng” đồng thời bổ sung quy

định không tính vào thu nhập tính thuế đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện Chính phủ quy định mức tối đa được trừ đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện là quy định mới nhằm tránh tình trạng lợi dụng chính sách để trốn thuế

Có thể nói rằng, việc bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế tại Luật thuế TNCN 2007 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN

2013 đã thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp đặc biệt, đồng thời cũng thể hiện chính sách khuyến khích các hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng cường lao động sản xuất Tuy nhiên, từ thực tế thực hiện cho thấy một số quy định về thu nhập được miễn thuế TNCN còn bộc lộ những điểm chưa phù hợp cần được tiếp tục sửa đổi như sau:

Tại khoản 1 và khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN 2007 quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ

Trang 36

chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau Tuy nhiên, Luật không quy định miễn thuế đối với việc chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; anh rể với em ruột của vợ; chị dâu với em ruột của chồng Đây là điểm bất hợp lý vì nhà ở, quyền

sử dụng đất đai ở là tài sản chung của cả hai vợ chồng, cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà Để lách thuế vợ chồng chuyển nhượng phần bất động sản của mình cho nhau sau đó mới chuyển nhượng cho con

và em làm tăng thủ tục hành chính mà Nhà nước vẫn thất thu thuế Do đó, để tránh việc thất thu thuế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, cần bổ sung quy định việc chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; anh rể với em ruột của vợ; chị dâu với em ruột của chồng cũng được miễn thuế

Cũng tại Khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN 2007 quy định thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị,

em ruột với nhau là thu nhập thuộc diện miễn thuế TNCN Quy định này không hợp lí bởi lẽ cùng là thu nhập từ thừa kế nhưng nếu phát sinh giữa các đối tượng nêu trên lại được miễn thuế Trong khi đó, Luật thuế TNCN nhiều nước đều có quy định khoản thu nhập trên phải chịu thuế và tương ứng từng trường hợp có các cách tính thuế khác nhau Mức thuế ở đây dựa vào giá trị tài sản thừa kế (khi nó vượt quá giới hạn nhất định) và người thừa kế – người nộp thuế thuộc hàng thừa kế nào

(ví dụ, theo luật của Nga, Đức) Ở Đức (khi đồng EURO chưa lưu hành), nếu giá

trị tài sản từ 50.000 DM, mức thuế phải nộp là 3% trên giá trị tài sản đó, nếu tài sản lớn hơn 100 triệu DM thì người thừa kế nộp 35% giá trị tài sản.Có thể thấy rằng quy định như trên làm cho Luật thuế TNCN khó đảm bảo tính công bằng Ngoài ra, cũng tạo tâm lí ỷ lại, sống “nhờ” vào người khác bởi vì các tài sản thừa

Trang 37

kế nhiều khi có giá trị không nhỏ Thêm vào đó cũng có thể tạo kẽ hở cho việc

“lách luật” và trốn thuế của những người chuyển nhượng khi họ sở hữu nhiều bất động sản và là điều kiện cho việc nảy sinh hiện tượng rửa tiền ở Việt Nam [27]

Tại Khoản 2 Điều 4 Luật thuế TNCN 2007 quy định thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất là thu nhập được miễn thuế TNCN Điều này cho thấy tính nhân đạo của Luật tuy nhiên về hậu quả thực thi có thể rất nặng nề vì đây là cơ sở để các cá nhân “lách luật”, trốn thuế thông qua việc

kê khai một nhà ở duy nhất nhưng trên thực tế lại không phải như vậy Các cơ quan quản lý nhà nước cũng không xác định được nhà ở, đất ở mà cá nhân chuyển nhượng là duy nhất mà chủ yếu là dựa vào tờ khai thuế và cam kết của cá nhân chuyển nhượng nhà ở, đất ở nên không tránh khỏi việc lợi dụng trốn thuế Cũng cần nhấn mạnh rằng hệ thống công nghệ thông tin để theo dõi vấn đề sở hữu nhà đất, sổ đỏ ở Việt Nam cũng chưa phải là tiên tiến, vấn đề minh bạch hoá tài sản cá nhân lại không được công khai và phức tạp, do vậy việc thực thi điều luật trên dễ dẫn đến hiện tượng tiêu tực, làm thất thu NSNN [27]

2.1.3 Quy định về kỳ tính thuế

Kỳ tính thuế là khoảng thời gian để xác định số tiền thuế phải nộp cho NSNN theo quy định của pháp luật Đối với thuế TNCN, pháp luật hiện hành quy định khác nhau về kỳ tính thuế của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

Theo đó, kỳ tính thuế đối với cá nhân cư trú bao gồm:

- Kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ

183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch

Trang 38

- Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng;

- Kỳ tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thu nhập

từ chuyển nhượng chứng khoán Luật thuế TNCN 2007 còn quy định thêm điều kiện đối với cá nhân áp dụng kỳ tính thuế theo nằm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế Theo quy định tại Điều 13, khoản 2 Điều 23 Luật thuế TNCN, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo 02 phương pháp: (1) áp dụng mức thuế suất 20% trên chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá mua và chi phí liên quan; và (2) nộp thuế khấu trừ tại nguồn theo tỷ lệ 0,1% trên giá bán của mỗi lần chuyển nhượng Tại tiểu mục 2.2 Mục II Thông tư 84/2008/TT-BTC quy định

cá nhân nộp thuế theo phương pháp thứ nhất phải thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ và phải đăng ký nộp thuế chậm nhất ngày 31/12 của năm trước; Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo phương pháp thứ hai không phải quyết toán thuế khi kết thúc năm Do luật quy định phải đăng ký phương pháp tính thuế từ đầu năm nên trong trường hợp thị trường sụt giảm, nhà đầu tư chuyển nhượng chứng khoán bị lỗ nhưng vẫn phải nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng (mức thuế suất khấu trừ tại nguồn) Rất ít các nhà đầu tư chứng khoán là cá nhân thực hiện việc quyết toán và áp dụng mức thuế suất 20% trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua Vì phải thực hiện chế độ kế toán; hoá đơn chứng từ; đăng ký nộp thuế trước ngày 31/12 của năm trước và rất khó xác định giá bán bình quân mỗi mã chứng khoán bán ra khi quyết toán thuế

Để khắc phục tình trạng này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế

TNCN 2013 đã bỏ cụm từ “trường hợp cá nhân áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế” Quy định trên đã tạo thuận lợi cho nhà

đầu tư chứng khoán được lựa chọn phương pháp tính thuế khi xác định thuế TNCN

Trang 39

phải nộp, theo đó, nhà đầu tư có thể lựa chọn kỳ tính thuế theo năm mà không bắt buộc phải đăng ký trước với cơ quan thuế

Đối với cá nhân không cư trú, pháp luật quy định kỳ tính thuế TNCN được tính theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với tất cả các loại thu nhập chịu

thuế Quy định trên xuất phát từ lý do thời gian cư trú tại Việt Nam của cá nhân

không cư trú không đáp ứng đủ kỳ tính thuế theo năm

2.1.4 Quy định về căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú

Điểm mới trong Luật thuế TNCN là xác định rõ thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế Thu nhập tính thuế áp dụng vào biểu thuế sẽ tính được số thuế phải nộp Trong 10 loại thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú thì thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần sau khi đã tính các khoản được giảm trừ, đối với 8 loại thu nhập còn lại được áp dụng biểu thuế toàn phần và không áp dụng các khoản được giảm trừ Sở dĩ có sự khác biệt trong quy định về căn cứ tính thuế như trên là do thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công là thu nhập có tính chất thường xuyên, ổn định có chức năng bảo đảm cuộc sống của người nộp thuế trong khi các khoản thu nhập còn lại là những thu nhập mang tính đột xuất, không thường xuyên

2.1.4.1 Đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công

Căn cứ tính thuế gồm Thu nhập tính thuế và thuế suất lũy tiến từng phần

-

Các khoản đóng góp bảo hiểm (2)

-

Khoản giảm trừ gia cảnh (3)

-

Khoản đóng góp

từ thiện, nhân đạo (4) Trong đó:

Trang 40

(1) Thu nhập chịu thuế:

Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh: được xác định bằng doanh thu trừ các khoản

chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế Doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế được xác định dựa vào sổ sách kế toán theo nguyên tắc tương tự như thuế TNDN Theo đó, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền

Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế là các khoản chi phí thực tế phát sinh, có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và có hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật

Theo thông lệ ở các nước và cũng là hợp lí khi xác định các khoản được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế bao gồm cả: chi phí nghề nghiệp, hoàn cảnh bản thân (có nhà ở, gia đình hay chưa, chi phí y tế, giáo dục… Tuy nhiên, Luật thuế TNCN của Việt Nam không có quy định như vậy Điều này là bất cập bởi lẽ muốn đóng góp thuế cho Nhà nước thì người dân phải có thu nhập nhưng để tạo ra thu nhập và đóng góp một phần chi NSNN thì bản thân họ phải khoẻ mạnh, nghề nghiệp, nơi ở phải đàng hoàng, khang trang… Thế nhưng trong trường hợp ốm đau, bệnh tật thì những khoản chi phí để chữa bệnh, điều trị lại không được khấu trừ

Ngoài ra, do đặc thù nghề nghiệp ví dụ đối với ca sĩ, cầu thủ bóng đá… thường có tuổi thọ nghề nghiệp ngắn, hay gặp rủi ro, những người làm nghề này phải tự bỏ ra những khoản chi phí nhất định để nâng cao tay nghề, để học hỏi kinh nghiệm, duy trì sự tồn tại và phát triển, thậm chí để hạn chế rủi ro do nghề nghiệp gây ra Nên chăng cần có những hướng dẫn bổ sung về vần đề này để tạo sự động viên, khích

lệ người dân yêu nghề, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước [27]

Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công:

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w