1.3.2 Cấu trúc pháp luật xác định cơ chế điều hành lãi suất 26 1.3.3 Kết quả đạt được khi xác định cơ chế điều hành lãi suất 30 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN BẢO SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Giang Thu
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Bảo Sơn
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
BLDS Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam
CSTT Chính sách tiền tệ
GDP Tổng sản phẩm nội địa
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
LSCB Lãi suất cơ bản
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTW Ngân hàng Trung ương
Nxb Nhà xuất bản
NHTM Ngân hàng thương mại
OMO Nghiệp vụ thị trường mở
Trang 4
MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Kết cấu luận văn 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ LÃI SUẤT VÀ XÁC ĐỊNH CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH
LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 7
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ YÊU CẦU ĐIỀU
CHỈNH ĐỐI VỚI CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT 7
1.1.1.1 Lãi suất theo góc độ kinh tế học 7 1.1.1.2 Lãi suất theo góc độ luật học 10 1.1.2 Khái niệm cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng trung
ương và kinh nghiệm của một số nước có thể áp dụng với
Trang 51.3.2 Cấu trúc pháp luật xác định cơ chế điều hành lãi suất 26 1.3.3 Kết quả đạt được khi xác định cơ chế điều hành lãi suất 30
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH
LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 33 2.1 CHỦ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÃI SUẤT 33
2.1.2 Tính độc lập trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và hạn chế của nó trong việc xác định cơ chế điều hành
lãi suất
35
2.2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI
SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 37 2.2.1 Thực tiễn pháp luật việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác
định cơ chế điều hành lãi suất 37 2.2.2 Các công cụ chủ yếu trong điều hành lãi suất của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam 42 2.2.3 Lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng 52 2.2.4 Lãi suất trong trường hợp thị trường tiền tệ, hoạt động ngân
hàng có diễn biến bất thường 56
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Pháp luật là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội Để phát huy vai trò trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, hệ thống pháp luật phải hoàn chỉnh
và đầy đủ cả về số lượng văn bản quy phạm pháp luật lẫn nội dung điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật đó Một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có cùng “tính chất quy phạm điều chỉnh” là phải (i) xác định rõ ranh giới (phạm vi) trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội này; và (ii) có sự kết hợp hài hòa và thống nhất giữa các văn bản pháp luật với nhau
Qua quá trình vận động, phát triển và hội nhập quốc tế, pháp luật về lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng có sự thay đổi phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam
và các thông lệ, chuẩn mực quốc tế, việc ban hành Luật NHNN 2010 và Luật Các TCTD năm 2010 là minh chứng cho điều đó Luật NHNN và Luật Các TCTD 2010 với vai trò là “luật chung” điều chỉnh các hoạt động về lĩnh vực ngân hàng, tồn tại bên cạnh các hệ thống luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp… cũng như điều chỉnh cả các quan hệ có liên quan đến vấn đề lãi suất
Khoản 1, 2 Điều 12 Luật NHNN 2010 quy định NHNN công bố lãi suất tái
cấp vốn, LSCB và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi; trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác; Khoản 2, 3 Điều 91 Luật Các TCTD quy định khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật; trong trường hợp hoạt động ngân hàng
có diễn biến bất thường, để đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, NHNN có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của TCTD Theo quy
định này, thì mục đích quy định việc NHNN công bố các loại lãi suất để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi; trong khi đó, về nguyên tắc, thì quan hệ vay mượn giữa TCTD và khách hàng thì lãi suất được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận Chính các quy định mới về lãi suất này tại Luật NHNN và Luật Các TCTD có sự bất cập, mang tính chồng chéo, mâu thuẫn và chưa rõ ràng với các luật chuyên ngành khác có
Trang 7tham chiếu đến mức LSCB do NHNN công bố, gây khó khăn cho việc áp dụng và xây dựng cơ chế chính sách lãi suất; đặc biệt là cơ chế chính sách điều chỉnh lãi suất liên quan đến LSCB Hiện nay, LSCB được quy định tại nhiều luật chuyên ngành khác như áp dụng trong các quan hệ vay tay sản theo quy định của BLDS, các trường hợp bồi thường, hoàn trả tiền lãi theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp…
Trong nền kinh tế thị trường, CSTT là bộ phận chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước, nó được đưa ra để đạt được mục tiêu của Nhà nước là nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tài chính Lãi suất và chính sách lãi suất là công cụ hữu hiệu, bộ phận CSTT tắc động đến cung - cầu vốn trên thị trường (nguồn vốn đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng)
và đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn tài chính trong một nền kinh tế để đạt được mục tiêu, cân đối kinh tế vĩ mô Theo đó, về bản chất, lãi suất có liên quan chặt chẽ đối với các hoạt động trong nền kinh tế và đóng vai trò như là “đòn bẩy” quan
trọng gắn liền với các mục tiêu điều hành
Theo số liệu tổng hợp của Tổng cục thống kê, trong những năm qua, thành công nổi bật của Việt Nam trong điều hành kinh tế vĩ mô là đã kiểm soát, duy trì được lạm phát ở mức hợp lý dưới 2 con số (ngoại trừ năm 2011 là 18,58% do tác động mạnh sau hơn một năm của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2010) [26]; ngoài ra, tại Báo cáo triển vọng Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012-
2015 của Ủy Ban Giám sát tài chính Quốc gia đã nêu trong giai đoạn này là nền kinh
tế có mức tăng trưởng khá, trung bình giai đoạn 2000-2005 là 7,38%, 2006 – 2010 là 7,02%/năm, năm 2011 là 5,89% [22] Năm 2012 tăng trưởng kinh tế tăng 5,02%, thấp hơn năm 2011; tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý) [26] Phải khẳng định, đây là thành công lớn của Nhà nước trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong đó, góp phần quan trọng trong sự thành công không thể không đề cập đến việc sử dụng hiệu quả CSTT quốc gia của Chính phủ; đặc biệt là công tác chỉ đạo, điều hành của NHNN với vai trò là thành viên Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và
Trang 8ngoại hối với mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng là ổn định giá trị đồng tiền, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD, bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của
hệ thống thanh toán quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện nhiệm vụ và đạt được các mục tiêu nêu trên, NHNN cần thiết phải sử dụng đồng bộ các công cụ điều hành, thực hiện CSTT quốc gia, trong đó chính sách lãi suất tín dụng là một công cụ hết sức quan trọng và được coi là nhạy cảm nhất trong các công cụ của CSTT Trong điều hành, cơ chế điều hành lãi suất của NHNN có tác động rất lớn tới việc điều tiết các hoạt động ngân hàng như cung ứng tiền cho nền kinh tế, phát tín hiệu thắt chặt hay nới lỏng CSTT, mở rộng hoặc thu hẹp khu vực đầu tư, khuyến khích hoặc hạn chế việc huy động vốn, tác động trực tiếp tới tình hình cung - cầu vốn của nền kinh tế, từ đó tác động tới tăng trưởng kinh
tế, giá trị đồng nội tệ (VND), hạn chế tình trạng đô la, vàng hóa nền kinh tế, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động tín dụng ngân hàng Trong điều kiện nền kinh
tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, thì vai trò của việc điều hành lãi suất càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn khẩn trương tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định mục tiêu “Thực hiện chính sách lãi suất thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường và đi tới loại bỏ quy định hành chính đối với lãi suất ngoại tệ” [37] Theo đó, tự do hóa lãi suất là mục tiêu
để bảo đảm sự vận hành cơ chế thị trường; về cơ bản, tuân theo quy luật cung – cầu, phân bổ nguồn vốn hợp lý Tuy nhiên, với thực trạng nền kinh tế nước đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cùng với những bất cập trong các diễn biến của thị trường tiền tệ, thì việc áp dụng cơ chế hành chính trong chính sách điều hành lãi suất của NHNN trong thời gian qua là cần thiết, việc thực hiện cơ chế chính sách tự
do hóa lãi suất theo mục tiêu cần phải có lộ trình và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để thực hiện
Đại hội Đảng lần thứ XI đã tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội năm 2001-2010 và quyết định xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôi năm 2011-2020 là: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Theo đó, Đảng ta xác định
Trang 9mục tiêu tổng quát là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vứng chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [38] Với các chỉ tiêu chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011-2015 là: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm từ 7 - 7,5%; năm 2015, GDP bình quân đầu người khoảng 2000 USD, cơ cấu GDP: nông nghiệp 17-18%, công nghiệp và xây dựng 41-42%, dịch vụ 41-42%; sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng GDP; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55% Vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm đạt 40% GDP; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 12%/năm ” [38] Do đó, các chỉ tiêu nêu trên có sự tác động trực tiếp đến các thức điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước, đặc biệt là chính sách tài khóa và CSTT, trong
đó có sự tác động gián tiếp tới chính sách pháp luật điều hành lãi suất của NHNN
Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá hệ thống, cách thức điều hành các loại lãi suất của Việt Nam là mối quan tâm của nhiều chuyên gia, nhà quản lý kinh tế trong nước, ngoài nước và các tầng lớp dân cư Xuất phát từ những lý do trên đây, tác
giả đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” cho luận văn cao học chuyên ngành Luật Kinh tế
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có một vài nghiên cứu về việc điều hành lãi suất của NHNN, nhưng chỉ dừng lại ở góc độ phân tích, đánh giá những mặt được, chưa được của việc điều hành lãi suất của NHNN trong từng giai đoạn, hoặc hoàn cảnh cụ thể nào đó để
từ đó có đề xuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoặc các nghiên cứu lĩnh vực kinh tế học liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng, phân tích theo hướng sử dụng công cụ lãi suất để phục vụ cho việc điều hành của cơ quan quản lý, tác động tới việc vận hành các lý thuyết kinh tế, trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, đặc biệt là quá trình đòi hỏi của việc tự do hóa lãi suất, cụ thể như:
(1) Luận án tiến sĩ Chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của TS Nguyễn Ngọc Bảo - Vụ trưởng Vụ CSTT, NHNN; hiện là Chủ tịch Hội đồng
Trang 10thành viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Năm 2004)
(6) Chuyên đề “Đôi điều suy ngẫm về cơ chế điều hành lãi suất Việt Nam hiện nay” của Ths Nguyễn Thị Thu Hiếu đăng trên [8]
Có thể khẳng định rằng cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu các cơ chế chính sách lãi suất của Việt Nam theo góc độ luật học, để từ
đó có những phân tích, đánh giá cụ thể cơ sở ban hành, xây dựng các cơ chế, chính sách lãi suất của NHNN; từ đó, có một hình ảnh tổng quan về quá trình xây dựng pháp luật liên quan đến cơ chế điều hành công cụ lãi suất của NHNN và việc ảnh hưởng của nó tới công tác xây dựng cơ chế, chính sách
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích tiếp cận về mặt pháp luật tới cơ chế điều hành lãi suất
và phân tích tổng hợp thực trạng các quy định của pháp luật về lãi suất qua từng giai đoạn cụ thể của Việt Nam trong việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách lãi suất của NHNN để điều chỉnh các quan hệ pháp luật về dân sự, kinh tế và các quan hệ khác
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn có nhiệm vụ hệ thống hóa các nội dung quy định của pháp luật trong hoạt động xây dựng, ban hành và thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến lãi suất của NHNN Ngoài ra, luận văn cũng làm rõ việc ảnh hưởng và những mâu thuẫn của các quy định của pháp luật, mục tiêu của nền kinh tế tác động đến công tác điều hành công cụ lãi suất…, từ đó, có những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để việc xây dựng, ban hành cơ chế điều hành lãi suất của NHNN phù hợp với tình hình thực tế, diễn biến
Trang 11kinh tế vĩ mô, nâng cao được hiệu quả hoạt động ngân hàng Việt Nam và đạt được mục tiêu của nền kinh tế trong từng giai đoạn và các quan hệ pháp luật cụ thể trong
xã hội
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các loại lãi suất được quy định tại Luật NHNN, Luật Các TCTD năm 2010 và có đề cập đến các quy định của một số pháp luật chuyên ngành đặc trưng như pháp luật dân sự, hình sự và kinh tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các kết quả nghiên cứu tài liệu trong nước và ngoài nước được tiến hành theo phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
từ đó đưa ra các ý kiến nhận định mang tính cá nhân
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lãi suất và pháp luật xác định cơ chế điều
hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam;
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lãi suất của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ PHÁP LUẬT XÁC ĐỊNH CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
1.1.1 Khái niệm lãi suất
1.1.1.1 Lãi suất theo góc độ kinh tế học:
Trên góc độ nghiên cứu kinh tế, lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, có liên quan
chặt chẽ và đóng vai trò “đòn bẩy” quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế Lãi
suất là công cụ điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần giữ vững các cân đối kinh tế chủ yếu; một chính sách lãi suất hợp lý có tác dụng khuyến khích tiết kiệm và hướng luồng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có hiệu quả cao, điều tiết khối lượng tiền tệ, thúc đẩy cho thị trường tài chính - tiền tệ phát triển có chiều sâu và bền vững
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất bởi nó quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của từng người trong xã hội Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi tiêu hay tiết kiệm
đề đầu tư Sự thay đổi lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi quyết định của mỗi doanh nghiệp: vay vốn để mở rộng sản xuất hay cho vay tiền để hưởng lãi suất, hoặc đầu tư vào đâu thì có lợi nhất Thông qua những quyết định của các cá nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hưởng đến mức độ phát triển cũng như cơ cấu của nền kinh tế đất nước Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một các chặt chẽ nhất trong nền kinh tế thị trường, là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa phức tạp
* Qua quá trình nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa tư bản, Mác (Karl Heinrich Marx) đã vạch ra rằng quy luật giá trị thặng dư tức giá trị lao động của công nhân làm thuê tạo ra là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc của mọi lãi suất đều xuất phát từ giá trị thặng dư Theo Mác, khi xã hội phát triển thì tư bản tài sản tách rời tư bản chức năng, tức là quyền sở hữu tư bản tách rời quyền sử dụng
tư bản nhưng mục đích của tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư thì không thay đổi [24, Tr.176] Vì vậy, trong xã hội phát sinh quan hệ cho vay và đi vay, đã là tư bản thì sau một thời gian giao cho nhà tư bản đi vay sử dụng, tư bản cho vay được
Trang 13hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một giá trị tăng thêm gọi là lợi tức (lãi suất)
Về thực chất, lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay phải cho nhà tư bản vay Trên thực tế nó là một bộ phận của lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản công thương nghiệp đi vay phải chia cho các nhà tư bản cho vay Do
đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng trong lĩnh vực phân phối và giơí hạn tối đa của lợi tức là lnh bình quân, còn giới hạn tối thiểu thì không có, nhưng luôn lớn hơn không Vì vậy, sau khi phân tích công thức chung của
tư bản và hình thái vận động đầy đủ của tư bản Mác đã kết luận: “Lãi suất là phần
giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị nhà tư bản– chủ ngân hàng chiếm đoạt” (Học thuyết về giá trị thặng dư, Quyển I Bộ tư bản) [24, tr
178]
* Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất của lãi suất trong nền kinh tế
XHCN: Các nhà kinh tế học Mác xít nhìn nhận trong nền kinh tế XHCN cùng với tín
dụng, sự tồn tại của lãi suất và tác động của nó do mục đích khác quyết định, đó là mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội Lãi suất không chỉ là động lực của tín dụng mà tác dụng của nó đối với nền kinh tế là phải bám sát các mục tiêu kinh tế Trong XHCN không còn phạm trù tư bản và chế
độ người bóc lột người song điều đó không có nghĩa là ta không thể xác định bản
chất của lãi suất Bản chất của lãi suất trong xã hội chủ nghĩa là “giá cả của vốn cho
vay mà nhà nước sử dụng với tư cách là công cụ điều hoà hoạt động hạch toán kinh
tế ” [24, tr.188]
Qua những lý luận trên ta thấy các nhà kinh tế học Mác xít đã chỉ rõ nguồn gốc và bản chất lãi suất Tuy nhiên quan điểm của họ không thể hiện được vai trò của lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác
* Lý thuyết của J.M KEYNES (1833-1946) nhà kinh tế học nổi tiếng người
Anh cho rằng, lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu vì khi tích trữ tiền mặt người ta không nhận được một khoản trả công nào, ngay
cả khi trường hợp tích trữ rất nhiều tiền trong một khoảng thời gian nhất định nào đó
Vì vậy, “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho sở thích
chi tiêu tư bản”; lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải,
tiền tệ [24, tr.207]
Trang 14Nhà kinh tế Marshall (1980) trong tác phẩm Principles of Economics cho rằng, lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị trường bất kỳ, lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị trường nào đó, với lãi
suất đó bằng tổng được cung ứng trên thị trường đó [24, tr.220]
Như vậy, cho dù lãi suất xuất hiện trong quan hệ vay vốn giữa các chủ thể với mục đích dùng cho đầu tư, kinh doanh, tiêu dùng; hoặc trong quan hệ vay vốn lẫn nhau giữa NHTM với NHTW (NHNN) với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô của CSTT, thì khái niệm được thừa nhận có tính phổ biến phù hợp với đặc trưng của nó
là: Lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, được đo bằng tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số
tiền gốc mà người đi vay (người mua, sử dụng vốn vay) phải trả cho người cho vay (người bán, người ứng vốn) được sử dụng trong một thời hạn nhất định, mà thông thường được tính theo tỷ lệ %/năm, %/tháng, %/ngày
Tùy theo loại tiền tệ thực hiện trong giao dịch tín dụng, người ta phân biệt lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ:
- Lãi suất nội tệ là loại lãi suất được áp dụng trong khuôn khổ cho vay và đi vay
bằng đồng tiền trong nước trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng của một quốc gia Lãi suất nội tệ được tính theo năm, tháng, tuần, và không kỳ hạn
- Lãi suất ngoại tệ là loại lãi suất được tính khi thực hiện hoạt động vay hoặc
cho vay bằng những đồng tiền của nước ngoài, chủ yếu là các đồng tiền mạnh, tự do chuyển đổi như USD, JPY, EURO, Frăng Thụy Sỹ, Đô la Singgapore… Lãi suất ngoại tệ thường được tính theo năm
- Ngoài ra, trong trường hợp các ngân hàng dư thừa vốn khả dụng so với nhu cầu, thì có thể gửi qua đêm lại NHTW (NHNN) và được hưởng mức lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lãi suất mục tiêu hay còn gọi là lãi suất thị trường Sau đó, NHTW sẽ
sử dụng loại cho vay qua đêm đối với các ngân hàng thiếu vốn khả dụng với mức lãi suất ấn định cao hơn mức lãi suất mục tiêu Với cơ chế này, NHTW sẽ kiểm soát được lãi suất mục tiêu trong một biên độ cần thiết theo mục tiêu điều hành chính sách
Trang 15lãi suất cho vay qua đêm cũng có thể dự báo được mục tiêu điều hành CSTT của Nhà nước, để từ đó có những phương án hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn
1.1.1.2 Lãi suất theo góc độ luật học
Theo quy định tại Điều 10 Luật NHNN, thì Thống đốc NHNN quyết định việc
sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỉ giá hối
đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ Điều 12 Luật NHNN quy định “1 NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, LSCB và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi; 2 Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, NHNN quy định
cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác” [11] Như vậy, việc điều hành, sử dụng công
cụ lãi suất có tầm quan trọng lớn trong công tác điều hành CSTT quốc gia của Chính phủ và NHNN; ngoài ra, để đạt được mục tiêu điều hành CSTT “nới lỏng – thắt chặt”, nó có tính chất gián tiếp quyết định tới các công cụ điều hành khác như tái cấp vốn, tái chiết khấu (có lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu), dự trữ bắt buộc (tiền lãi đối với tiền dự trữ bắt buộc), nghiệp vụ thị trường mở (lãi suất nghiệp vụ thị trường mở “OMO”), LSCB…
Nhìn từ góc độ pháp lý, thì chính sách về lãi suất thay đổi theo thời gian và rất
khác nhau từ xã hội này sang xã hội khác Vào triều đại nhà Lê, Bộ luật Hồng Đức
được coi là bộ luật quan trọng nhất Thời kỳ này, các khế ước vay nợ đã trở nên rất
phổ biến; tại các Điều 587, 588 quy định “Cho vay nợ hay cầm đồ vật mỗi tháng
được lấy tiền lãi mỗi quan là 15 đồng kẽm, dù lâu bao nhiêu năm cũng không được tính quá một giá, một lãi, trái luật thì xử biếm một tư, mà mất tiền lãi Nếu tính gồm lãi vào làm gốc rồi bắt làm văn tự khác thì xử tội nặng hơn một bậc; trường hợp quá hạn mà khong trả thì bị tội trượng Nếu cố tình không chịu trả nợ thì xử tội biếm hai
tư và bồi thường gấp đôi” [4] Đến triều đại nhà Nguyễn (1802-1858), tại Bộ luật Gia
Long Điều 134 quy định “lãi là 3% một tháng, chủ nợ chỉ có thể đòi tiền vốn và một
số tiền lãi ngáng với tiền vốn” [18]
Trong quá khứ, quan điểm của một số nước – nhất là những nước tôn giáo - nghiêm cấm vay có lãi Quan điểm truyền thống của Luật Tôn giáo phản đối mọi sự
tự do và hiện đại hóa tại các nước theo đạo hồi như nghiêm cấm cho và nhận lãi suất vay hay đầu tư [57] Như vậy, để tuân theo luật Hồi giáo, các ngân hàng không thể
Trang 16thực hiện việc cho vay lấy lãi như thông lệ mà phải thu lợi nhuận bằng cách tính lệ phí hành chính hoặc mức lợi nhuận hợp lý dự án tài chính mà họ đầu tư cấp vốn; nhiều ngân hàng phương tây như CitiBank, JP Morgan, Deutsche Bank có các chi nhánh ở các nước hồi giáo phải tuân thủ Luật Shariah Theo đó, các quốc gia hồi giáo
đã ban hành trái phiếu Hồi giáo cho hưởng lợi tức từ tài sản thay vì trả lãi suất [57, tr.88]
Ngày nay, hầu như các nước đều chấp nhận vay có lãi và thuật ngữ “lãi suất” không xa lạ trong pháp luật cũng như khoa học pháp lý Việt Nam Tuy nhiên, theo các quy định của pháp luật hiện hành, không có một định nghĩa hoặc khái niệm chính xác như thế nào là lãi suất Xét trên góc độ khoa học pháp lý, các quy định về lãi suất xuất hiện tản mạn ở các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau như dân sự, kinh tế, hình sự, hành chính…Theo một cách hiểu chung nhất,
tại Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra một khái niệm: Lãi suất hiểu theo một
nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu [1]
Ngoài ra, có một cách hiểu ngắn gọn hơn theo nội dung giải thích tại Từ điển
Tiếng Việt năm 1996, thì lãi suất là tỷ lệ % giữa lãi so với vốn/ hoặc là khoản tiền
người vay trả nợ phải trả thêm cho người chủ nợ ngoài số tiền đã vay [27, Tr.517)]
Như đã nêu ở trên, tại Điều 10 và 12 Luật NHNN, lãi suất được đề cập đến nhưng không được định nghĩa thế nào là lãi suất Tương tự như vậy, lãi suất được quy định tại các điều, khoản cụ thể của BLDS, nhưng cũng không được BLDS định nghĩa cụ thể về lãi suất Tuy nhiên, khi người cho vay chuyển số tiền thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sử dụng có nghĩa là người cho vay đã hy sinh quyền sở hữu về tài sản là tiền (Điều 163 BLDS 2005) của mình để chuyển giao cho người khác sở hữu trong một thời gian nhất định với hy vọng có được giá trị tăng thêm của tài sản là lãi suất; từ đó, làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của người đi vay là việc trả tiền khi đến hạn bao gồm cả tiền gốc và lãi khi thời hạn thỏa thuận đã hết Theo quy định tại khoản 2 Điều 290 BLDS thì nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc,
Trang 17trừ trường hợp có thỏa thuận khác Theo đó, có thể nhận thấy rằng lãi suất xuất hiện chủ yếu trong các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế và thương mại… đặc biệt là cụm
từ “LSCB của NHNN” Trong quá trình nghiên cứu, theo học viên rà soát; hiện nay,
ngoài Luật NHNN VN, Luật Các TCTD (với tư cách là Luật chuyên ngành) và BLDS, thì các quy định của pháp luật có liên quan điều chỉnh các quan hệ xã hội có
áp dụng cho quy định của pháp luật khác có liên quan đến LSCB do NHNN công bố như cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật Hình sự; xử lý các trường hợp bồi thường, hoàn trả tiền lãi theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp
Theo quy định về Phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của NHNN và các TCTD ban hành theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của
Thống đốc NHNN thì “lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoặc bên
thuê trả cho bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất” Theo đó, số lãi mà bên vay phải trả phụ
thuộc vào các yếu tố: (i) Tiền gốc, số lãi sẽ có tỷ lệ thuận với số tiền cho vay; (ii) Lãi suất do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá 150% của LSCB do NHNN quy định đối với loại cho vay tương ứng (Điều 476 BLDS 2005); (iii) Thời gian sử dụng vốn vay, thời gian cũng tỷ lệ thuận với số vốn vay và mức lãi suất thỏa thuận
Tại Từ điển Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999 đề cập cách giải thích lãi suất, thì lãi suất cho vay là giá cả của tiền vay thể hiện dưới hình thức tỷ
lệ % trên số tiền vay theo khoảng thời gian xác định (tháng, năm); lãi suất do TCTD
và bên vay thỏa thuận phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng [28, tr.253] Theo nội dung Giáo trình Lý thuyết tiền
tệ, ngân hàng, thì lãi suất được hiểu là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn [30, Tr.63]
Như vậy, đặc trưng cơ bản của lãi suất thể hiện nó là một công cụ để tính lợi nhuận, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của cả bên cho vay và bên đi vay, thể hiện tập trung ở một số nội dung sau:
Trang 18- Thứ nhất, thông thường lãi suất được phát sinh chủ yếu thông qua các hợp
đồng vay tài sản: Qua nghiên cứu, có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp
đồng đầu tư, cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở để tính lãi phải trả Tuy nhiên, lãi suất chủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay, bởi lẽ trong hợp đồng vay, bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhất định do đó phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn vay Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở để tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợp đồng vay thì cơ sở
để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định
- Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, mà nó chỉ phát
sinh khi có sự thỏa thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số tiền vay gốc;
khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tiền gốc và tiền lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác về việc trả lãi Theo đó, bản chất của lãi suất
là một tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định Sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu như không tồn tại số tiền gốc mà các bên thoả thuận được trong hợp đồng vay tài sản
- Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vốn vay gốc và thời hạn vay Như
đã đề cập ở phần trên, lãi suất tỉ lệ thuận với số vốn gốc và thời hạn vay Theo đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp
Từ những lập luận phân tích, đánh giá trên đây, để có khái niệm chung nhất về
lãi suất, tại luận văn này, học viên mạnh dạn đưa ra một định nghĩa như sau: Lãi suất
là giá cả vốn tín dụng, khi sử dụng bất kỳ một khoản tín dụng nào, người sử dụng vốn không thuộc sở hữu của mình có nghĩa vụ phải trả thêm vào số tiền đã vay một khoản tiền nhất định theo thỏa thuận (nếu có) được tính theo tỷ lệ %, số tiền tăng thêm được xác định theo khoảng thời gian trên số vốn gốc đã vay
1.1.2 Khái niệm cơ chế điều hành lãi suất của NHTW và kinh nghiệm của một số nước có thể áp dụng với Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm cơ chế điều hành lãi suất
Để điều hành lãi suất, NHTW các quốc gia thường điều hành thông qua việc xác định nội dung chính sách lãi suất Dưới góc độ kinh tế, chính sách lãi suất là tổng hợp các chủ trương, quy định và kế hoạch thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu
Trang 19trong quản lý nhà nước về tiền tệ và phát triển kinh tế - xã hội Chính sách lãi suất
là một phần trong tổng thể hệ thống chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, từng chính sách quản lý kinh tế vĩ mô đều phải có mục tiêu cụ thể của mình
Mục tiêu chung và cuối cùng của chính sách lãi suất là đạt được các mức lãi suất hợp lý trong nền kinh tế, tạo cơ sở pháp lý cho các quan hệ pháp luật để nền kinh
tế chung phát triển hài hòa và vững chắc Mục tiêu cụ thể của chính sách lãi suất không cố định, mà thay đổi cùng sự biến đổi các điều kiện kinh tế - xã hội
Dưới góc độ pháp lý, để thực hiện chính sách lãi suất, cơ quan điều hành lãi suất sẽ cần thiết phải đề ra lộ trình và các biện pháp thực hiện cụ thể cho từng loại lãi suất bằng các quy định của pháp luật; từ đó, xác định một cơ chế phù hợp trong việc hoạch định và điều hành lãi suất Những biện pháp này tạo nên cơ chế điều hành lãi suất trong nền kinh tế theo mục tiêu của chính sách lãi suất, đồng thời chúng thể hiện mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể, khách thể trong điều hành thực thi lãi suất -
đó là cơ chế điều hành lãi suất Hay nói một cách đầy đủ và chung nhất, đó là cơ chế điều hành lãi suất thể hiện bằng việc cơ quan quản lý nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi của các đối tượng trong quan hệ vay mượn lẫn nhau trong xã hội theo một quy chuẩn mà chủ thể quản lý nhà nước đã xác định trước
Vì vậy, mỗi quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào từng diễn biến khác nhau của nền kinh tế trong từng thời kỳ và mô hình quản lý nhà nước của NHTW đối với quốc gia đó, sẽ dẫn tới những khả năng quyết định việc điều chỉnh áp dụng thay đổi hoặc giữ nguyên mức lãi suất điều hành cũng như các công cụ điều hành CSTT khác để phù hợp với các mục tiêu vĩ mô nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển của quốc gia
đó
Theo tài liệu của IMF và nghiên cứu cơ chế điều hành lãi suất của một số nước phát triển và đang phát triển (các Website của NHTW các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…) cho thấy: (i) Từ những năm 70s của thế kỷ XX, NHTW các nước thực hiện việc chuyển đổi cơ chế điều hành lãi suất từ kiểm soát trực tiếp bằng biện pháp hành chính sang kiểm soát gián tiếp bằng việc công bố các lãi suất chủ đạo (prime interest rate); (ii) Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW các
Trang 20nước có sự khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ phát triển và cơ cấu của nền kinh tế, hệ thống tài chính nhưng mục đích đều nhằm đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất chủ đạo của NHTW với lãi suất thị trường Mặt khác, cơ chế điều hành lãi suất trong trường hợp nào cũng luôn có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời với cơ chế lãi
suất thị trường trong từng thời kỳ nhằm đạt được các mục tiêu, cụ thể là: (i) khuyến
khích việc tiết kiệm và sự phát triển của các trung gian tài chính và phát triển chiều
sâu thị trường tài chính; (ii) hướng các nguồn lực tài chính vào các hoạt động thị trường có tỷ suất lợi nhuận cao, tức là các lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao nhất; (iii)
mang lại mức chênh lệch đủ để các định chế tài chính trang trải các chi phí hoạt động, chi phí vốn, chi phí chấp nhận rủi ro và lợi nhuận trên vốn tự có
Từ điển Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999 giải thích lãi suất:
“Giới hạn lãi suất cho vay tối đa và lãi suất huy động vốn tối thiểu do NHNN quy
định áp dụng đối với hoạt động tín dụng của TCTD; lãi suất cho vay tối đa gọi là lãi suất trần, lãi suất huy động vốn tối thiểu gọi là lãi suất sàn; quy định khung lãi suất
là biện pháp thực hiện CSTT theo phương thức hành chính, xu hướng chung của các nước là thay thế phương thức hành chính bằng phương thức khác trong thực hiện CSTT quốc gia.” [28, Tr.252]
Theo đó, có thể hiểu rằng cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể các
chủ trương, chính sách và các giải pháp cụ thể của NHNN VN, bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật thông qua việc kiểm soát và điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp các loại lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong từng thời kỳ hoặc giai đoạn nhất định
Như vậy, cơ chế điều hành lãi suất không cố định mà có thể thay đổi theo từng thời kỳ Ở nền kinh tế chậm phát triển thì cơ chế điều hành lãi suất mang nặng ý chí chủ quan của Nhà nước, và nhiều khi không tuân theo quy luật và xu hướng vận động của nền kinh tế Trong bối cảnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước thường phải đưa
ra các biện pháp mang tính mệnh lệnh hành chính trực tiếp như quy định về các mức lãi suất cụ thể đối với từng loại đối tượng áp dụng và được phân biệt không chỉ về thời gian sử dụng vốn, mà còn theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh tế và nhiều hình thức khác
Theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế, đồng thời với sự đổi mới trong nhận thức, mục tiêu đặt ra trong pháp luật điều hành về cơ chế chính sách lãi suất dần phù
Trang 21hợp hơn với các quy luật kinh tế Sự điều tiết, quản lý của Nhà nước cũng cần được điều chỉnh phù hợp; vì vậy, trong từng thời kỳ, NHTW có thể sử dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành lãi suất, các công cụ này gián tiếp tác động đến lãi suất như việc thông qua việc làm thay đổi lượng tiền (tổng phương tiện thanh toán) trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ cụ thể
1.1.2.2 Cơ chế điều hành lãi suất của một số nước trên thế giới
Qua tìm hiểu, nghiên cứu các quy định (khung quy định) của một số nước phát triển và đang phát triển liên quan đến cơ chế điều hành lãi suất thông qua việc tổng hợp, phân tích một số nội dung chính liên quan trên các website NHTW các nước có thể thấy cơ chế điều hành lãi suất của một số quốc gia như sau:
(1) Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) [40]
Thẩm quyền điều hành CSTT được quy định tại Luật Cục Dự trữ liên bang
năm 1913 [40], nó phụ thuộc rất nhiều vào chức năng, nhiệm vụ của FED “thực thi
những CSTT quốc gia để duy trì việc làm, giá cả ổn định và lãi suất hợp lý” Theo
đó, với tư cách là NHTW , từ tháng 6/1970, Fed bắt đầu thực hiện lộ trình từ kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng các quy định hành chính chuyển sang kiểm soát gián tiếp; đến tháng 3/1986, thực hiện tự do hoá lãi suất mà theo đó, các NHTM được
áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận trong kinh doanh Quá trình này được bắt đầu là tự
do hoá lãi suất cho vay, sau đó đối với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn, rồi đến tiền gửi không kỳ hạn Trong khoảng thời gian này, kinh tế vĩ mô ổn định, thị trường chứng khoán và trái phiếu phát triển, hệ thống NHTM quản trị theo các thông lệ quốc tế Từ năm 1986 đến nay, Fed sử dụng kết hợp lãi suất định hướng liên ngân hàng (Fed Funds Rate) với lãi suất chiết khấu (Discount Rate) để điều tiết lãi suất thị trường Đây là lãi suất mục tiêu được thay đổi tùy theo mục tiêu CSTT của FED trong ngắn hạn Lãi suất định hướng liên ngân hàng và lãi suất chiết khấu của Fed thấp hơn khoảng 3 - 6%/năm so với lãi suất cho vay của các NHTM đối với doanh nghiệp
(2) NHTW Châu Âu (ECB) [41]
Mục đích hàng đầu của hệ thống các NHTW Châu Âu (Eurosystem) trong đó ECB là cơ quan trung ương cùng với các NHTW của các quốc gia tham gia khối đồng tiền chung Châu Âu là ổn định giá cả, đựoc quy định tại Khoản 1 Điều 127 Hiệp ước về Chức năng của Liên minh Châu Âu (TFEU) CSTT của ECB được quyết
Trang 22định dựa trên hệ thống quyết định tập thể (Điều 129 và Điều 132, TFEU) trong đó có ECB có 2 cơ quan ra quyết định và điều hành CSTT (quy định tại Khoản 1 Điều 129 TFEU) là Hội đồng Quản trị (Governing Council) và Ban Điều hành (EXecutive Board) [41]
Lãi suất điều hành của ECB là lãi suất tái cấp vốn trên thị trường mở ECB tham gia vào thị trường tiền tệ để khống chế thanh khoản của hệ thống NHTM thông qua các công cụ như cho vay có bảo đảm, hợp đồng repo hoặc mua/bán hẳn; phát hành chứng chỉ nợ, nhận tiền gửi có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ
(3) NHTW Anh (BOE) [42]
Luật NHTW Anh năm 1998 quy định BOE độc lập trong điều hành lãi suất và chịu trách nhiệm trước Quốc hội và nhân dân BOE điều hành CSTT theo cơ chế lạm phát mục tiêu với mức lạm phát (đo bằng chỉ số CPI hàng năm) mục tiêu là 2% Khi lạm phát tăng trên 3% hoặc giảm xuống dưới 1%, BOE phải giải trình với Bộ Tài chính và đề xuất biện pháp khắc phục; BOE sẽ điều hành các công cụ CSTT để đạt được mục tiêu lạm phát này
Luật này cũng quy định trong trường hợp đặc biệt vì quyền lợi quốc gia, Chính phủ có quyền chỉ đạo BOE về lãi suất trong một giai đoạn nhất định Theo đó, luật quy định Ủy ban CSTT quốc gia do Thống đốc NHTW làm chủ tịch gồm 9 thành viên trong đó có 5 của NHTW Anh họp hàng tháng để đưa ra quyết định về lãi suất điều hành theo cơ chế bỏ phiếu (mỗi thành viên 1 phiếu) Lãi suất điều hành của BOE là lãi suất ấn định cho các NHTM và các tổ chức tài chính vay qua đêm có bảo đảm bằng trái phiếu Chính phủ; lãi suất này có vai trò dẫn đắt các loại lãi suất thị trường Theo đó, BOE chọn lãi suất chính thức (Official bank rate) để điều hành lãi suất thị trường Đây chính là mức lãi suất BOE trả cho các khoản tiền dự trữ mà các NHTM để tại BOE Như vậy, về bản chất, lãi suất chính thức mà BOE công bố là lãi suất mục tiêu chứ không phải là lãi suất mang tính ấn định cụ thể; và BOE sẽ bảo vệ lãi suất chính thức công bố thông qua nghiệp vụ thị trường mở
Bên cạnh lãi suất chính thức, BOE có cơ chế để duy trì sự ổn định của lãi suất thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các NHTM quản lý thanh khoản thông qua việc thiết lập một hành lang gồm lãi suất cao nhất (trần) và lãi suất thấp nhất (sàn)
(4) NHTW Nhật Bản (BOJ) [43]
Trang 23Theo Luật NHTW Nhật năm 1997, trách nhiệm duy nhất của BOJ là ổn định giá cả Lãi suất mục tiêu của BOJ là lãi suất cho vay qua đêm trên của các NHTM cho vay lẫn nhau (không có bảo đảm) trên thị trường liên ngân hàng LS mục tiêu này được quyết định theo đa số tại các phiên họp CSTT của Ủy ban Chính sách gồm 9 thành viên
Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban Chính sách, BOJ tiến hành các hoạt động trên thị trường tiền tệ để kiểm soát khối lượng tiền trên thị trường tiền tệ thông qua kênh cho vay có bảo đảm hoặc phát hành và bán tín phiếu cho các NHTM để bơm hoặc hút tiền trên thị trường tiền tệ qua đó đưa lãi suất liên ngân hàng về mức mục tiêu Việc điều hành CSTT của BOJ sẽ dẫn dắt các lãi suất trên thị trường
Do suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, BOJ đã bắt đầu thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ toàn diện và chưa từng có trong lịch sử thông qua chính sách lãi suất 0% nhằm đảm bảo lãi suất thực dương (do lạm phát của Nhật Bản âm) đồng thời lãi suất 0% nhằm mục đích phục hồi kinh tế Từ năm 2000, nhờ những dấu hiệu tích cực về tăng trưởng kinh tế, BOJ đã điều chỉnh lãi suất cho vay qua đêm lên 0,25-0,3%, chấm dứt chính sách lãi suất 0% sau 18 tháng thực hiện; mục đích tăng lãi suất lần này để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế Từ đó, lãi suất tăng còn buộc các công ty phải cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, chống sự ỷ lại vào nguồn vốn rẻ và các khoản chi kích thích kinh tế khổng lồ của Chính phủ
(5) NHTW Malaysia [58]
Đây là quốc gia có nền kinh tế và hệ thống ngân hàng phát triển trong khối ASEAN NHTW Malaysia thực hiện chuyển dần dần từ cơ chế quản lý kiểm soát trực tiếp lãi suất kinh doanh của NHTM sang cơ chế lãi suất thoả thuận (tự do hoá lãi suất) trong khoảng 20 năm (1971 – 1991), bắt đầu là bỏ trần lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sau đó đến lãi suất cho vay
Sở dĩ quá trình tự do hoá lãi suất kéo dài là do trong giai đoạn này, kinh tế vĩ
mô chưa ổn định, lạm phát khá cao (năm 1973 là 10%/năm), quản lý nhà nước về ngân hàng còn nhiều hạn chế, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp, hệ thống ngân hàng trong thời kỳ phát triển và cơ cấu lại Hiện nay, cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất thị trường tiền tệ chủ yếu bằng lãi suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở
(6) NHTW Thái Lan (BOT) [44]
Trang 24Luật NHTW Thái Lan 1942 quy định NHTW được phép quy định lãi suất của người cho vay cuối cùng, mua bán trái phiếu và ngoại hối để cung cấp tín dụng cho các TCTD Áp dụng khuôn khổ điều hành CSTT theo lạm phát mục tiêu, Lãi suất điều hành của BOT là lãi suất 1 ngày cầm cố (repo) kỳ hạn 1 ngày Ủy ban CSTT (7 người do Thống đốc làm chủ tịch) sẽ công bố lãi suất điều hành , sau đó BOT sẽ sử dụng các công cụ CSTT để thực hiện quyết định về lãi suất của BOT BOT thực hiện cho vay cầm cố bằng trái phiếu đối với các NHTM sơ cấp (một nhóm NHTM do BOT chỉ định) để bơm (qua repo) hoặc hút tiền (qua reverse repo) vào hệ thống BOT
cố định lãi suất đối với cho vay cầm cố (bằng mức lãi suất điều hành đã công bố) kỳ hạn 1 ngày) và đấu thầu lãi suất linh hoạt đối với các kỳ hạn dài hơn Hiện nay, BOT hoạch định và điều hành CSTT theo một mục tiêu chủ yếu là kiểm soát lạm phát, BOT công bố các mức lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ
(8) NHTW Hàn Quốc (BOK) [59]
BOK bắt đầu thực hiện lộ trình tự do hoá lãi suất từ tháng 6/1981 bằng việc cho phép các NHTM phát hành giấy tờ có giá theo lãi suất thoả thuận; từ tháng 01/1989, điều kiện kinh tế xấu đi nhanh chóng, lạm phát cao (trên 10%), xuất khẩu bị đình đốn, các cuộc bãi công lan rộng, lãi suất thị trường tăng đột biến, BOK phải tạm dừng kế hoạch tự do hoá lãi suất Cho đến cuối năm 1991, BOK thực hiện trở lại kế hoạch tự do hoá lãi suất, bắt đầu thực hiện tự do hoá đối với lãi suất cho vay và đầu năm 1997, thực hiện tự do hoá lãi suất đối với lãi suất tiền gửi
Hiện nay, BOK hoạch định và điều hành CSTT theo mục tiêu chủ yếu là kiểm soát lạm phát, việc điều tiết lãi suất thị trường thông qua lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu và các công cụ khác của CSTT BOK xem chính sách lãi suất như là công
cụ chủ yếu để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, BOK đã đạt được mục tiêu trong việc ổn định lãi suất lâu dài Điều này làm cho các NHTM cũng như các doanh nghiệp có thể tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh ổn định và lâu dài
về lãi suất BOK hiện nay, đang điều hành trần lãi suất cho vay tối đa mà các NHTM cho khách hàng vay
(9) Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC) [45]
Mục tiêu của CSTT là ổn định giá trị đồng tiền để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Điều 12 Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc 1995 quy định PBC thành lập Ủy
Trang 25ban CSTT do Chính phủ và Quốc hội phê chuẩn để thực hiện điều hành CSTT Công
cụ CSTT gồm dự trữ bắt buộc, LSCB, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay của NHTW, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ chính sách khác theo quy định của Chính phủ
PBC đang thực hiện quá trình tự do hoá lãi suất một cách thận trọng, theo trình tự là tự do hoá lãi suất dài hạn và ngoại tệ trước, rồi đến lãi suất ngắn hạn và nội
tệ Cho đến nay, PBC chưa cho phép các NHTM thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, tức là chưa tự do hoá lãi suất như các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển khác Từ tháng 1/1987, PBC quy định lãi suất cho vay của NHTM không vượt quá 20% LSCB và quy định các mức trần lãi suất tiền gửi có kỳ hạn; tháng 5/1996, giảm biên độ từ 20% xuống 10%; tháng 10/1999, tăng biên độ lên 30% so với LSCB đối với lãi suất cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông thôn Tháng 10/2004, PBC công bố LSCB và trần lãi suất tiền gửi, nhưng bỏ quy định trần lãi suất cho vay, chuyển sang áp dụng sàn lãi suất cho vay và tiếp tục áp dụng trần lãi suất tiền gửi có
kỳ hạn để hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường tiền tệ Bên cạnh
đó, công bố các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu khi cho vay đối với các NHTM để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ Như thế, cho đến hiện nay, PBC điều hành lãi suất bằng cả hai biện pháp kiểm soát trực tiếp và gián tiếp lãi suất thị trường tiền tệ
Đối với Trung Quốc, việc xây dựng hệ thống lãi suất NHTW, cải thiện cơ chế hoạt động của chính sách lãi suất và tăng cường định hướng lãi suất thị trường của lãi suất NHTW là điều kiện tiên quyết
Qua nội dung các quy định của NHTW các nước, có thể thấy là NHTW mỗi nước lựa chọn và sử dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu CSTT của mình và điều kiện thị trường tiền tệ
Thứ nhất, thông thường ở các nước phát triển, NHTW sử dụng lãi suất chính
thức là lãi suất cho vay qua đêm hoặc lãi suất định hướng liên ngân hàng được xác lập chủ yếu trên OMO; còn các nước đang phát triển sử dụng lãi suất cho vay ngắn hạn (tái cấp vốn) kết hợp lãi suất chiết khấu Ngoài ra, xu hướng chung của NHTW các nước là chuyển dần từ cơ chế kiểm soát trực tiếp sang kiểm soát gián tiếp lãi suất thị trường hay nói cách khác là chuyển từ việc NHTW ấn định các lãi suất kinh doanh sang cho phép các TCTD tự quyết định các mức lãi suất kinh doanh của mình
Trang 26NHTW các nước thường xây dựng lộ trình chuyển đổi từ kiểm soát trực tiếp sang gián tiếp lãi suất thị trường theo mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, khả năng điều hành và kiểm soát rủi ro của các TCTD và khả năng sử dụng các công cụ gián tiếp của NHTW
Thứ hai, tại các nước sử dụng các công cụ gián tiếp để điều hành lãi suất thị
trường, thị trường tài chính tiền tệ phát triển, hình thành các mức lãi suất chuẩn trên thị trường các tín phiếu, trái phiếu chính phủ, từ đó hình thành đường cong lãi suất trên thị trường, tỷ giá được thả nổi theo quan hệ cung cầu, thì mục tiêu hàng đầu của NHTW là kiểm soát lạm phát, ổn định tài chính và đảm bảo hệ thống thanh toán cho nền kinh tế, trong đó CSTT có mục tiêu cuối cùng là kiểm soát lạm phát; khi lạm phát tăng cao thì điều chỉnh tăng lãi suất chủ đạo
Thứ ba, sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu của
CSTT và diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụng của NHTM; Lãi suất chính thức cần phải phản ánh vai trò của NHTW là người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng
Thứ tư, việc công bố lãi suất chủ đạo của NHTW sẽ tác động nhiều mặt đến
nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau; Trong đó, có việc gây nên xáo trộn về lãi suất
và giá tài sản tài chính trên thị trường vốn và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính kinh doanh thuận lợi, có hiệu quả
Trên thực tế tại Việt Nam, do độ mở của nền kinh tế tương đối nhanh và rộng nên trong các chính sách và cơ chế điều hành lãi suất cũng có những khó khăn nhất định, sự tác động 2 chiều (Việt Nam – Thế giới – Việt Nam) đã thể hiện tương đối rõ nét Điều đó thể hiện trong thời gian qua, trước những khó khăn do ảnh hưởng của việc suy thoái kinh tế thế giới bắt nguồn từ nền kinh tế Mỹ năm 2008, Chính phủ và NHNN liên tiếp có những thay đổi trong cách thức điều hành chính sách lãi suất để giải quyết những khó khăn chung của nền kinh tế và chính điều đó đã thể hiện rõ hơn vai trò của cơ chế điều hành lãi suất của NHNN tác động tới nền kinh tế Việt Nam
1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
1.2.1 Nhân tố khách quan
a Mức độ điều tiết của Chính phủ
Sự can thiệp của Chính phủ được thể hiện thông qua việc khống chế mức lãi suất trần tín dụng, quy định hạn mức tín dụng hoặc cung cấp các khoản tín dụng ưu
Trang 27đãi cho các đối tượng được lựa chọn và các mục tiêu về chính sách tài khóa Những can thiệp này thường phổ biến ở các quốc gia có thị trường tài chính kém phát triển
và CSTT được điều tiết bởi các công cụ trực tiếp hoặc bằng các mệnh lệnh hành chính Nhìn nhận một cách khách quan, trong bối cảnh khó khăn của Việt Nam trong những năm qua thể hiện rõ nét những điểm này; trong năm 2008 quy định mức trần lãi suất cho vay của TCTD không vượt quá 150% của LSCB do NHNN công bố hoặc việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn để thực hiện sản xuất kinh doanh, đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh doanh kết cấu hạ tầng trong năm 2009, 2010 của Chính phủ Chính những điều đó làm cho cơ chế điều hành lãi suất của NHTW đối với các quan hệ thị trường bị hạn chế, bởi các tác động của quan hệ cung - cầu trên thị trường bị triệt tiêu Ngoài ra, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thị trường theo cấu trúc kỳ hạn của lãi suất nhằm chuyển tải tác động của công cụ chính sách đến các đối tượng tham gia bị ngăn cản hoặc sai lệch Hoạt động can thiệp này cũng làm vô hiệu hóa cơ chế điều hành lãi suất do sự tách rời giữa khối lượng tín dụng cung ứng với giá vốn
b Mức độ cạnh tranh và sự đa dạng hóa của thị trường tài chính
Khả năng và tốc độ ảnh hưởng của mức lãi suất ngắn hạn do NHTW chi phối đến mặt bằng lãi suất được coi là yếu tố điều kiện trong hệ thống ngân hàng, cơ cấu nguồn vốn của khu vực doanh nghiệp và sự tích cực của các bộ phận thị trường tài chính Trước hết, mức độ cạnh tranh cao trong hệ thống ngân hàng sẽ làm cho các mức lãi suất tiền gửi, tiền vay phản ứng nhanh chóng với lãi suất điều hành của NHTW Thứ hai là mức độ phản ứng của lãi suất tiền gửi và tiền vay có thể còn phụ thuộc vào mức độ quan trọng của nguồn vốn vay ngân hàng trong cơ cấu nguồn vốn của các chủ thể kinh tế, mức độ hòa nhập và sự phát triển của các bộ phận thị trường vốn
Về nguyên tắc, sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ chuyển tải tác động của chính sách lãi suất đến các chủ thể kinh tế nhanh chóng hơn qua hệ thống ngân hàng Hơn nữa, nếu thị trường chứng khoán có sự hòa nhập chặt chẽ thì sự phản ứng của mặt bằng lãi suất đối với những thay đổi của lãi suất mục tiêu trở nên khẩn trương hơn Cuối cùng, mức độ tin cậy trong các dự đoán xu hướng biến động của lãi suất phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của thị trường tài chính Trong điều kiện thị trường không hiệu quả, sự biến động lãi suất là rất khó dự đoán Điều này làm cho
Trang 28các ngân hàng ngần ngại trong việc điều chỉnh lãi suất của mình đối với những thay đổi trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Trên thực tế, thị trường chứng khoán rất nhạy bén với tình hình sức khỏe của nền kinh tế, ngoài sự biến động của khối lượng tiền (M2), diễn biến của chỉ số lạm phát, thì diễn biến của thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng rất nhiều vào diễn biến của các loại lãi suất thị trường Mức lãi suất lên hay xuống đều tác động tới tâm
lý của nhà đầu tư trên thị trường
c Nguồn vốn nước ngoài và tình trạng đô la hóa
Trong điều kiện các chủ thể kinh tế có thể tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài càng dễ dàng thì khả năng tác động của cơ chế điều hành lãi suất phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá và mức độ thay thế tài sản tài chính trong nước và tài sản tài chính nước ngoài
Trước tình hình hội nhập, độ mở của nền kinh tế của Việt Nam khá cao trong những năm vừa qua (kể từ năm 2007, khi Việt Nam tham gia WTO) và trong điều kiện nền kinh tế luôn trong tình trạng nhập siêu cao và tình trạng đô la hóa, thì việc chịu sự ảnh hưởng của giá ngoại tệ ảnh hưởng đến chính sách điều hành trong đó có lãi suất là không tránh khỏi Bởi vậy, hiệu quả tác động của cơ chế lãi suất còn phụ thuộc vào mức độ thay thế giữa tài sản nội tệ và tài sản ngoại tệ thay thế cho nhau hoàn toàn thì hiệu quả tác động của lãi suất trong nền kinh tế đô la hóa tương tự như trường hợp nền kinh tế không đô la hóa ngoại trừ khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại
Ngoài ra, các công cụ của CSTT và nghiệp vụ NHTW đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau cuối cùng cũng có ảnh hưởng tới lãi suất thị trường Song tác động trực tiếp thì có các công cụ và nghiệp vụ sau:
Trang 29- Dự trữ bắt buộc: Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao thì lãi suất cho vay cũng cao
và ngược lại nếu tỷ lệ DTBB thấp thì lãi suất cho vay của các TCTD thấp
- Nghiệp vụ thị trường mở: Nếu NHTW tung tiền mua các giấy tờ có giá hoặc
trái phiếu sẽ khiến lãi suất hạ Nếu NHTW bán các GTCG ngắn hạn hoặc trái phiếu
để thu tiền về thì lãi suất sẽ cao
- Tỷ giá hối đoái: Nếu tỷ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng nội tệ bị mất
giá khiến cho lạm phát cao nên lãi suất tăng Ngược lại, tỷ giá hối đoái thấp làm cho lãi suất hạ
- Tái chiết khấu: Khi NHTW mở rộng cánh cửa tái chiết khấu làm cho lãi suất
hạ Ngược lại, NHTW hạn chế việc tái chiết khấu sẽ khiến cho lãi suất tăng lên
b Khả năng dự báo chỉ số lạm phát
Theo góc độ lý thuyết kinh tế học và thực tiễn quan hệ giữa lãi suất huy động, lãi suất cho vay với lạm phát được xác định theo nguyên tắc là: Lãi suất cho vay > lãi suất huy động > tỷ lệ lạm phát, hay lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát Trong một nền kinh tế, lãi suất đã được tự do hoá hay có sự kiểm soát, thì chính sách lãi suất tích cực là phải đảm bảo thực dương theo nguyên tắc này Trong một khoảng thời gian nhất định, nếu tỷ lệ lạm phát cao hoặc vừa phải, cả người gửi tiền
và người cho vay thường muốn một mức lãi suất cao hơn lạm phát để bảo toàn vốn
và có lãi thực Tuy nhiên, trong thời gian qua sự kết hợp giữa các bộ ngành với NHNN trong việc tính toán, cung cấp các số liệu thống kê không nhất quán không kịp thời dẫn đến các dự báo tiền tệ còn nhiều sai lệch gây khó khăn trong điều hành CSTT nói chung và chính sách lãi suất nói riêng
c Chính sách pháp luật về quản lý ngoại hối và tỷ giá
Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa: giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan
và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Để không bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các quốc gia đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế
Trang 30chung đó và tăng cường sức cạnh tranh kinh tế Trong bối cảnh đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước không thể được quyết định một cách biệt lập và các mô hình kinh tế vĩ mô chỉ thực sựcó ý nghĩa để mô tả các nền kinh tế thực và cung cấp cơ sở cho việc hoạch định và đánh giá tác động của các chính sách kinh tế một khi có tính đến các khía cạnh quốc tế của một nền kinh tế Điều này, hàm ý nền kinh tế cần được xem xét với tư cách là nền kinh tế mở, tức nền kinh tế có tương tác với các nền kinh
tế khác trên thế giới [39, tr.1] Theo đó, trong một nền kinh tế mở, chính sách pháp luật về quản lý ngoại hối và tỷ giá tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán, lượng ngoại tệ ròng của NHTW, NHTW thực hiện việc “bơm tiền” hay “hút tiền” từ lưu thông về thông qua hành động mua, bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến cung tiền và lãi suất Tỷ giá đóng vai trò là đại lượng “cân bằng động” giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ Sự ổn định của tỷ giá là một trong các yếu tố quan trọng làm ổn định lãi suất nội tệ Nếu tỷ giá giữa nội tệ so với ngoại
tệ biến động lớn có thể gia tăng sức ép lên lãi suất nội tệ để bảo vệ giá trị nội tệ và tránh sự suy giảm vốn huy động bằng nội tệ tại các TCTD Vì vậy, pháp luật về điều hành chính sách tỷ giá đóng vai trò hết sức quan trọng trọng việc tác động tới cơ chế
điều hành lãi suất của NHTW
1.3 KẾT CẤU PHÁP LUẬT XÁC ĐỊNH CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
1.3.1 Yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động điều hành lãi suất
Lãi suất có liên quan chặt chẽ đối với các hoạt động trong nền kinh tế và đóng vai trò như là “đòn bẩy” quan trọng, cụ thể tập trung một số nội dung sau:
Thứ nhất: Lãi suất là một công cụ điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần định
hướng, mở rộng hoặc thu hẹp đầu tư đối với các ngành, vùng kinh tế, cũng như giữ vững các cân đối kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế Như thế, lãi suất không thể đóng vai trò thụ động, mà có tính chủ động cao Một sự thay đổi về mức lãi suất chung sẽ tác động mạnh đến quy mô đầu tư và các cân đối khác của nền kinh tế trên phạm vi tổng thể Lãi suất thực ở mức cao sẽ làm tăng chi phí vốn, tăng giá cả sản xuất và giá bán lẻ, giảm nhu cầu đầu tư và thu hẹp thị trường tiêu thụ do người dân sẽ có xu hướng giảm mua những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu (như phương tiện đi lại, nghe nhìn, nhà ở…) Điều này làm giảm quy mô sản xuất của ngành công nghiệp, có tác động trực tiếp đến triển vọng công ăn việc làm Việc hạ thấp lãi suất thực có tác động ngược lại
Trang 31Thứ hai: Lãi suất được thừa nhận là một “động lực” khuyến khích tiết kiệm và
phát triển chiều sâu thị trường tài chính Khối lượng vốn tiết kiệm trong nền kinh tế phụ thuộc vào độ lớn thu nhập của hộ gia đình, cá nhân; nếu nền kinh tế ổn định và lãi suất thực ở mức hợp lý, thì mới kích thích người dân gửi tiết kiệm Nếu lãi suất thị trường thấp hơn chỉ số lạm phát, thì xuất hiện khuynh hướng tăng tiêu dùng cá nhân hoặc tìm kiếm các hình thức đầu tư tài sản khác an toàn hơn như bất động sản, ngoại
tệ, vàng và có thể tích trữ cả hàng hóa Đồng thời, lãi suất tạo nên khả năng và điều kiện cho việc phân bổ có hiệu quả các nguồn lực tài chính, có lợi cho đầu tư và phát triển, hướng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao
Thứ ba: Đối với hoạt động điều hành của nhà nước, lãi suất là công cụ của
CSTT do NHTW điều hành, đóng vai trò hướng dẫn lãi suất trong nền kinh tế, điều tiết khối lượng tiền tệ, từ đó làm ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng
Thứ tư: Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, với tư cách là giá cả vốn
tiền tệ, lãi suất tiền gửi là “giá mua”, lãi suất cho vay là “giá bán”, NHTM sử dụng lãi suất là một công cụ cạnh tranh nhằm mở rộng kinh doanh, tối ưu hóa lợi ích của mình
Thứ năm: Đối với các quan hệ dân sự, lãi suất chủ yếu phát sinh trong các
quan hệ vay tài sản theo quy định của BLDS, khi đó lãi suất là công cụ để nhà nước điều chỉnh các hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ đó Theo đó, BLDS đã thiết lập được hành lang pháp lý tương đối an toàn cho các quyền dân sự của cá nhân, tổ chức và thúc đẩy các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại, góp phần quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; trong đó, có quy định về lãi suất đối với các quan hệ vay tài sản
Tóm lại, lãi suất và biện pháp kiểm soát lãi suất bằng các quy định của pháp luật là vấn đề trọng tâm trong việc kiểm soát sự vận hành của nền kinh tế và các quan
hệ pháp luật Để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và điều chỉnh các quan hệ đó cùng những lợi ích mang lại đối với các chủ thể trong các quan hệ dân sự, thì vấn đề lãi suất cần phải được kiểm soát trong khuôn khổ pháp luật
1.3.2 Cấu trúc pháp luật xác định cơ chế điều hành lãi suất
Khi đề cập tới cấu trúc của pháp luật về cơ chế điều hành lãi suất, chúng ta xem xét cấu trúc này trên hai phương diện: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy
Trang 32định về cơ chế điều hành (cấu trúc hình thức) và những nội dung cụ thể của cơ chế điều hành trong văn bản quy phạm pháp luật (cấu trúc nội dung)
a Cấu trúc hình thức pháp luật xác định cơ chế điều hành lãi suất
Pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau, tùy vào tình hình điều kiện thực tế nền kinh tế trong và ngoài nước, sẽ có những chủ trương, giải pháp điều hành CSTT khác nhau Từ đó, sẽ ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật xác định cơ chế điều hành lãi suất khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Đối với hệ thống pháp luật về lãi suất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, liên quan đến luật chuyên ngành gồm Luật NHNN và Luật Các TCTD Theo đó, NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, LSCB và các loại lãi suất khác để thực hiện điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi; trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác (Điều 12 Luật NHNN); TCTD và khách hàng
có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật; trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, NHNN có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của TCTD (khoản 2, 3 Điều 91 Luật Các TCTD)
Như vậy, về nguyên tắc, trong bối cảnh trên thị trường tín dụng, hoạt động ngân hàng hoạt động ổn định, không có sự bất ổn và diễn biến xấu của nền kinh tế hoặc tác động xấu của kinh tế thế giới, thì các TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất (cơ chế lãi suất thỏa thuận) Tuy nhiên, để triển khai các quy định phù hợp với chủ trương điều hành CSTT và thực tế hoạt động ngân hàng trong từng thời kỳ, NHNN VN sẽ có những quy định cụ thể về cơ chế điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD Theo đó, căn
cứ các quy định tại Luật NHNN và Luật Các TCTD, NHNN đã có những thay đổi cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể
Ngoài ra, BLDS tại khoản 2 Điều 305, khoản 2 Điều 436, khoản 4,5 Điều 474, khoản 1, 2 Điều 476, khoản 2 Điều 576 và Điều 709 đều có quy định về việc áp dụng LSCB do NHNN công bố tương ứng với từng loại thời hạn BLDS là một văn bản luật như là xương sống liên quan đến việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế và
là cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý căn cứ theo các quy định có viện dẫn vào LSCB do
Trang 33NHNN công bố Tại khoản 1 Điều 476 BLDS quy định “Lãi suất do các bên thỏa
thuận nhưng không được vượt quá 150% của LSCB do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng” [3] Theo đó, căn cứ trên mức LSCB do NHNN công bố để xác
định mức lãi suất cho vay cao nhất trong giao dịch dân sự và đây cũng là cơ sở pháp
lý quan trọng điều chỉnh đối với các quan hệ pháp luật khác như cho vay nặng lãi của
Bộ luật Hình sự và áp dụng cho quy định của pháp luật khác có liên quan đến LSCB
do NHNN công bố (như xử lý các trường hợp bồi thường, hoàn trả tiền lãi theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp…)
b Cấu trúc nội dung pháp luật của cơ chế điều hành lãi suất
Cấu trúc nội dung của cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là những vấn đề cụ thể về cơ chế điều hành lãi suất và mục tiêu đạt được Khi xây dựng khung pháp luật cho việc điều chỉnh các hành vi của các chủ thể, pháp luật của mỗi quốc gia đều xác định các nhóm hành vi được xác định bằng các giới hạn cụ thể cùng những hậu quả pháp lý đối với các hành vi vi phạm Kết cấu nội dung pháp luật bao gồm những bộ
phận pháp luật điều chỉnh những đối tượng, hành vi cụ thể trong việc: (1) Xác định chủ thể điều hành chính sách lãi suất; (2) Quy định nội dung điều chỉnh; (3) Phương
thức điều chỉnh thông qua cac biện pháp hành chính hay theo tính chất của thị trường Tùy từng điều kiện, mục tiêu điều hành CSTT trong từng thời kỳ, chủ thể quản lý có thể có những thay đổi trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh khác nhau nhằm mục đích đạt được các mục tiêu đó
Để làm rõ vấn đề này và xem xét các nội dung cụ thể của cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ tại Việt Nam, chúng ta cần xem xét theo từng giai đoạn, cụ thể:
- Giai đoạn tháng 8/2000-5/2002: Điều 9, 18 Luật NHNN 1997 quy định
“NHNN xác định và công bố LSCB và lãi suất tái cấp vốn” và “LSCB là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh.” Theo đó, NHNN ban hành Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN ngày
02/8/2000 quy định TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở LSCB do NHNN công bố, LSCB được xác định trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các TCTD được lựa chọn theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ
Trang 34- Giai đoạn từ tháng 6/2002 - 4/2008: Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001-2010, NHNN bỏ cơ chế điều hành LSCB, nhưng vẫn công bố LSCB để định hướng lãi suất thị trường; các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh theo cơ chế thoả thuận theo quy định tại Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 của NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VND của TCTD đối với khách hàng; TCTD xác định lãi suất cho vay bằng VND trên cơ sở cung cầu vốn thị trường
và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay Trong giai đoạn này, LSCB thấp hơn lãi suất cho vay, nhưng chưa được điều hành linh hoạt; lãi suất cho vay tối đa theo quy định của BLDS và lãi suất cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật Hình sự đều cao hơn lãi suất cho vay bình quân thực tế của TCTD
- Giai đoạn từ tháng 5/2008 đến tháng 3/2011: (1) Từ tháng 5/2008-
13/4/2010, NHNN áp dụng cơ chế LSCB theo quy định định của Điều 476 BLDS và Điều 9, 8 Luật NHNN 1997 mà theo đó NHNN ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 quy định cơ chế điều hành LSCB bằng đồng Việt Nam, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay) bằng VND đối với khách hàng không vượt quá 150% của LSCB do NHNN công bố áp
dụng trong từng thời kỳ (2) Từ ngày 14/4/2010, căn cứ Nghị quyết số
23/2008/NQ-QH12 ngày 06 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 của Quốc hội, Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2010 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn TCTD cho vay bằng VND đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, đồng thời tiếp tục công bố LSCB để định hướng lãi suất thị trường
- Giai đoạn từ tháng 03/2011 cho đến nay: Tỷ lệ lạm phát lại tăng cao với sự
gia tăng mạnh giá cả nhiên liệu, năng lượng và các hàng hóa khác [19] Với mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định nền kinh tế, NHNN VN đã phải thực thi CSTT thắt chặt, điều này đã tác động làm tăng lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM Nhằm ngăn chặn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng, NHNN
đã ban hành Thông tư 02/2011/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy định về mức lãi suất
Trang 35trần huy động tiền gửi là 14% cho các NHTM Ưu tiên hàng đầu của NHNN hiện nay
là giảm lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp bằng cách kiểm soát chặt chẽ mức lãi suất huy động đầu vào của các ngân hàng Trong tháng 9/2011, NHNN đã có những biện pháp quyết liệt nhằm tăng cường kiểm soát đối với chính sách trần lãi suất huy động, chẳng hạn như sẽ “sa thải” lãnh đạo ngân hàng trong trường hợp phát hiện những thủ thuật hay gian lận của ngân hàng trong huy động tiền gửi Tuy nhiên, các NHTM nhỏ của Việt Nam, với áp lực rủi ro thanh khoản, vẫn tìm mọi cách để
“lách” quy định của NHNN Trước những nguy cơ rủi ro cao khi một số NHTM chấp nhận huy động lãi suất 14%/năm với cả những kỳ hạn rất ngắn (24 giờ, 2 ngày, 1 tuần, 2 tuần ) [9], NHNN đã phải bổ sung Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức,
cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cụ thể: lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 6%/năm [49]
Trong năm 2012, thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm
2012 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 và Nghị quyết số 13/NQ-
CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của Chính phủ, NHNN đã liên tiếp ban hành các Thông tư số 05/2012/TT-NHNN ngày 12/3/2012; Thông tư số 08/2012/TT-NHNN ngày 10/4/2012; Thông tư số 19/2012/TT-NHNN ngày 08/6/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; và Thông tư số 33/2012/TT-NHNN 21/12/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế
1.3.3 Kết quả đạt đƣợc khi xác định cơ chế điều hành lãi suất
Có thể thấy khi xác định cơ chế điều hành lãi suất đã đạt được một số kết quả như sau:
- NHNN đã thực hiện thành công chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa với bước đi và giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện kinh tế, tiền tệ của Việt Nam
và kinh nghiệm quốc tế; chính điều đó đã thúc đẩy thị trường tài chính tiền tệ phát
Trang 36triển theo hướng chiều sâu và tạo điều kiện cho việc điều tiết tiền tệ bằng các công cụ gián tiếp, góp phần dần từng bước nâng cao vị thế của NHNN
- Nhìn chung, các chính sách lãi suất được hoạch định và điều hành phù hợp với điều kiện, mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn chuyển đổi của đất nước, góp phần quan trọng đối với việc thực hiện CSTT quốc gia là kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Cơ chế điều hành lãi suất tác động hoàn thiện các công cụ khác của CSTT như chính sách quản lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá, tạo điều kiện thu hút ngoại tệ trong xã hội vào hệ thống ngân hàng, mở rộng cho vay các dự án của đất nước, đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc tế, tác động tích cực đến xuất nhập khẩu và
dự trữ ngoại tệ của đất nước
- Trong quá trình điều hành lãi suất, NHNN đã nghiên cứu và áp dụng có chọn lọc các kinh nghiệm về chính sách lãi suất, mô hình cơ chế điều hành của NHTW các nước để áp dụng phù hợp với điều kiện nền kinh tế Chính vì thế, việc thay đổi hoặc điều chỉnh lãi suất trong giai đoạn vừa qua đều đạt kết quả và mục tiêu đề ra
- Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN đã góp phần ngăn chặn được tình trạng xáo trộn thị trường tiền tệ và nguy cơ mất khả năng thanh toán của các NHTM, nhất
là các NHTM cổ phần nhỏ chuyển đổi từ nông thôn lên, an toàn hệ thống được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng, thị trường tiền tệ, tín dụng dần đi vào ổn định, mặt bằng lãi suất huy động
và cho vay ở mức hợp lý, phù hợp với cung-cầu vốn thị trường và các yếu tố kinh tế
vĩ mô, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất tiếp cận vốn vay ngân hàng, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới
- LSCB vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành CSTT của NHNN là “thắt chặt” hay “nới lỏng” tiền tệ đã và đang trở thành một chỉ số quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được người dân, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các TCTD quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng, khi NHNN điều chỉnh LSCB
- Lãi suất ngoại tệ về cơ bản đã được tự do hóa Cơ chế điều hành lãi suất nội
tệ cũng tăng theo xu hướng tiến dần theo hướng đó Thị trường tiền tệ nước ta ngày càng hội nhập hơn với khu vực và quốc tế Khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài
Trang 37tăng cao, việc cho vay trong nước khó khăn, các TCTD huy động vốn ngoại tệ gửi ở nước ngoài, đem lại lợi ích cho cả người gửi tiền, cho đất nước và cho bản thân TCTD Ngược lại, khi lãi suất xuống thấp, tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài được rút về
để đầu tư trong nước
- Tạo sự bình đẳng hơn trong quan hệ giao dịch giữa khách hàng, người dân với các TCTD, mang tính thỏa thuận theo lộ trình về lãi suất gửi tiền và lãi suất vay vốn phù hợp với điều kiện nền kinh tế Mặt khác, tạo quyền tự chủ, năng động và linh hoạt hơn cho các TCTD trong việc quyết định các mức lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình với khách hàng trên cơ sở diễn biến thị trường và các công cụ, nghiệp vụ tác động của NHNN
- Thúc đẩy chu chuyển vốn trong nền kinh tế và luân chuyển vốn giữa các vùng, các lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở khuyến khích thu hút vốn vào hệ thống ngân hàng, đầu tư có hiệu quả hơn cho các nhu cầu khách hàng Lãi suất đang thực
sự tác động đến các quyết định và các quan hệ: tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm-đầu tư,…của các chủ thể trong xã hội
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1 CHỦ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÃI SUẤT
2.1.1 Vị trí pháp lý
Khi nói đến vị trí pháp lý của bất kỳ một chủ thể nào trong xã hội là đề cập đến chỗ đứng, vị thế, vai trò của chủ thể đó trong xã hội được thể chế hoá bằng pháp luật Đối với NHTW, vị trí pháp lý được xác định trong mối quan hệ với các thiết chế khác như Chính phủ, Quốc hội Trên thế giới hiện nay có hai mô hình NHTW chủ yếu là NHTW độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội và NHTW trực thuộc Chính phủ Tại Việt Nam theo mô hình thứ hai
Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch, thì NHTW chính là trái tim của nền kinh tế Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh kho có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những khó khăn, cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào NHTW cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu đổi mới từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Việt Nam Theo đó, hệ thống ngân hàng 2 cấp bắt đầu được hình thành, NHNN thực hiện chức năng của NHTW và chức năng quản lý nhà nước, chức năng kinh doanh chuyền cho các ngân hàng chuyên doanh thực hiện Tại Pháp lệnh số 37/HĐNN ngày 23/5/1990
của Hội đồng Nhà nước về NHNN quy định “NHNN VN là NHNN, là cơ quan của
Hội đồng bộ trưởng, có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong cả nước, nhằm ổn định giá trị đồng tiền; là cơ quan duy nhất phát hành tiền của Nước CHXHCN Việt Nam; thực hiện vai trò ngân hàng đối với các TCTD” Theo mô hình này, đã tạo được mối quan hệ đặc biệt giữa NHTW với các
NHTM, đó là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể chịu sự quản lý Trong mối quan hệ này, NHTW đóng vai trò là người quản lý vĩ mô đồng thời là tác nhân kinh tế có chức năng hậu thuẫn đối với các NHTM Ngoài ra, việc kết hợp quản lý bằng một hệ thống pháp chế, chính sách với việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ thông qua cơ chế thị trường, NHTW thực hiện chức năng là ngân hàng của các ngân
Trang 39hàng nhằm điều khiển bằng pháp luật đối với hệ thống TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả
Vị trí pháp lý của NHTW bị chi phối bởi vai trò của nó đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế của cả nước Ở nước ta, từ khi thành lập cho đến nay, NHNN VN luôn là một cơ quan của Chính phủ: tổ chức, hoạt động của nó chịu sự điều chỉnh rất lớn của Chính phủ Điều đó phần nào làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện CSTT quốc gia Trong khi đó, CSTT quốc gia tác động tới mọi chủ thể trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng – lĩnh vực quản lý của NHTW là lĩnh vực nhạy cảm, nếu có sự can thiệp mạnh từ Chính phủ sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý
Theo quy định tại Luật NHNN 1997 thì “NHNN Việt Nam là cơ quan của
Chính phủ và là NHTW của nước CHXHCN Việt Nam; Chính phủ xây dựng dự án CSTT quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm trình Quốc hội quyết định; tổ chức thực hiện CSTT quốc gia; quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội; quyết định các chính sách cụ thể khác và các giải pháp thực hiện.” [12]
Tại Điều 2 Luật NHNN 2010 quy định: “ 1 NHNN là cơ quan ngang bộ của
Chính phủ, là NHTW của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2 Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội 3 NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.” [13]
Tại Khoản 4, Điều 3 Luật NHNN quy định “Thống đốc NHNN quyết định việc
sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ” Điều 10 trong Luật NHNN cũng nêu rõ: “Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công
cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ”
Như vậy, so với Luật NHNN 1997, Luật NHNN 2010 đã có nhiều điểm đột phá về tính độc lập của NHNN trong việc thực thi chính sách tiên tệ quốc gia Mặc
dù định hướng định hướng chiến lược của NHNN vẫn là NHTW độc lập trong điều hành chính sách và độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu tiền tệ, NHNN hiện tại vẫn
Trang 40chưa thực sự đạt được mức độ độc lập theo cả hai tiêu chuẩn này Về mặt chính sách, Chính phủ hàng năm quy định khá cụ thể, chi tiết cho NHNN, từ tổng phương tiện thanh toán đến tăng trưởng tín dụng và xu hướng quản lý tỷ giá Do chưa đạt được tính dẫn dắt thị trường, nên doanh nghiệp và người dân thường nhìn vào quan điểm của Chính phủ và của Quốc hội về lạm phát và tăng trưởng để điều chỉnh hành vi của mình hơn là nhìn vào NHNN
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, theo quy định của Luật NHNN 2010, thì tính độc lập của NHNN đang dần được cải thiện như việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước của NHNN và Thống đốc NHNN được quyết định trong việc sử dụng công
cụ thực hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ Trong kinh tế học vĩ mô, CSTT được coi là một công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô do NHTW thực hiện CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của NHTW (trong đó có công cụ lãi suất), nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua việc chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền Cùng với chính sách tài khóa, CSTT thường được sử dụng trước hết để tác động đến khu vực kinh tế trong nước và sau đó sẽ ảnh hưởng đến khu vực kinh tế đối ngoại
2.1.2 Tính độc lập trong hoạt động của NHNN Việt Nam và hạn chế của nó trong việc xác định cơ chế điều hành chính sách lãi suất
Trong bài viết “Tính độc lập trong hoạt động của NHTW” của TS Phạm Thị Giang Thu đăng trên bài Tạp chí Luật học số 12/2007 có đề cấp đến bốn mức độ để
xem xét các NHTW có sự độc lập như thế nào, cụ thể: (i) NHTW có trách nhiệm
quyết định CSTT quốc gia và chế độ tỷ giá nếu chế độ tỷ giá không được thả nổi; (ii) NHTW có trách nhiệm quyết định CSTT và chế độ tỷ giá, nhưng việc quyết định này dựa trên mục tiêu chủ yếu đã được xác định trong luật; (iii) NHTW có trách nhiệm hoàn thành các chỉ tiêu CSTT Các chỉ tiêu CSTT được Quốc hội hoặc Chính phủ quyết định; (iv) NHTW không có quyền quyết định CSTT quốc gia, chế độ tỷ giá, không được quyền lựa chọn các công cụ thực hiện CSTT Căn cứ theo bốn mức độ,
tác giả cho rằng NHNN là loại NHTW có tính độc lập thấp nhất [31]