Khái niệm thừa kế thế vị Thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS năm 2005: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di s
Trang 1ĐÈO THỊ LAN HƯƠNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phạm Văn Tuyết
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đèo Thị Lan Hương
Trang 3BLDS : Bộ luật Dân sự
BLHS : Bộ luật Hình sự
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 7
1.1 Khái niệm thừa kế thế vị 7
1.2 Thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng 14
1.3 Ý nghĩa của việc quy định về thừa kế thế vị 20
1.4 Khái lược quá trình phát triển của quy định pháp luật về thừa kế thế vị ………21
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005 VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 27
2.1 Các điều kiện thừa kế thế vị 27
2.1.1 Người được thế vị phải chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản 27
2.1.2 Người thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản 29
2.1.3 Người thế vị phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản 30
2.1.4 Người được thế vị và người thế vị không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 37
2.1.5 Người được thế vị và người thế vị không bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản 45
2.2 Các trường hợp thừa kế thế vị 46
2.2.1 Cháu thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông bà 46
2.2.2 Chắt thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của cụ 47
2.2.3 Thừa kế thế vị trong trường hợp có yếu tố con nuôi 48
Chương 3 NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ TRONG BLDS 2005 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐÓ 55
Trang 53.1.1 Về quy định tại Điều 677 BLDS năm 2005 55
3.1.2 Về quy định tại Điều 678 57
3.1.3 Điều 679 BLDS năm 2005 60
3.2 Kiến nghị, sửa đổi các quy định của pháp luật về Thừa kế thế vị 62
3.2.1.Về Điều 677 BLDS năm 2005 62
3.2.2.Về Điều 678 BLDS năm 2005 63
3.2.3.Về Điều 679 BLDS năm 2005 64
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong BLDS năm 2005 Chế định này góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức khi tham gia vào quan hệ thừa kế - một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Thừa kế có hai hình thức là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Thừa kế thế vị là một trường hợp pháp sinh từ thừa kế theo pháp luật BLDS năm 2005 đã có quy định về thừa kế thế vị, nhưng trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp thì vấn đề giải quyết các vụ án liên quan đến thừa kế thế vị vẫn là một vấn đề phức tạp mà không phải lúc nào Tòa án cũng có thể giải quyết được “thấu tình đạt lý” Sở
dĩ còn tồn tại những vấn đề này là do thừa kế thế vị liên quan đến nhiều mối quan hệ như: Quan hệ giữa cha mẹ với con đẻ, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, quan hệ giữa con riêng của vợ chồng với bố dượng, mẹ kế… nên việc hiểu và áp dụng những quy định này trong việc giải quyết phân chia di sản liên quan đến vấn đề thừa kế thế vị trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập về
cả lý luận và thực tiễn
Mặc dù các quy định về thừa kế thế vị của BLDS năm 2005 là một sự tiến bộ so với các quy định trước đó, nhưng các quy định này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nên trong thực tế áp dụng các quy định này thì hiện tại vẫn có nhiều Tòa án còn gặp vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến thừa kế thế vị do cách hiểu và áp dụng các quy định này chưa thống nhất, dẫn đến tình trạng nhiều vụ án bị kháng nghị và hủy án để xét xử lại với các lý do như: Xác định di sản thừa kế thế vị không đúng; Xác định người thừa kế thế vị không đầy đủ hoặc không đúng; xác định quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng không chính xác; Có những trường hợp con dâu, con rể kiện chia thừa kế của cha mẹ chồng, cha
Trang 7mẹ vợ với lý do họ là người thừa kế đương nhiên của người vợ, người chồng
đã chết Trong trường hợp này, có Tòa án đã chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của họ với tư cách là nguyên đơn, trong khi đó không đề cập đền thừa kế thế
vị của người con của người đã chết mà đặt những người con này vào tư cách
là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không chính xác…
Một vấn đề quan trọng luôn được đặt ra hàng đầu trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế là việc xác định ai là người thừa kế di sản? Để xác định được những người có quyền hưởng thừa kế phải dựa vào mối quan hệ của họ với người để lại di sản Bởi không phải tất cả những người thuộc diện hưởng
di sản đều được hưởng thừa kế cùng một lúc, mà tùy vào mối quan hệ của họ với người để lại di sản như thế nào sẽ được ưu tiên nhận di sản theo một trình
tự do pháp luật quy định Vấn đề thừa kế thế vị được quy định trong BLDS năm 2005 khá hoàn thiện nhưng không tránh khỏi những sai sót trong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế khi xảy ra tranh chấp trên thực tế
Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị
để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho ngành Tòa án trong việc giải quyết các vụ án thừa kế thế vị Từ những thực trạng trên và đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật thừa kế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc lựa chọn đề
tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thừa kế thế vị” làm luận văn thạc sĩ
để có thể nghiên cứu một cách khái quát đầy đủ về vấn đề này là một việc làm cần thiết đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lý luận cũng như trong thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta từ năm 1945 đến nay, pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội chủ nghĩa, theo đó quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của công dân được coi trọng và bảo vệ phù hợp với tình
Trang 8hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ, quyền thừa kế theo pháp luật nói chung và thừa kế thế vị nói riêng của công dân Việt Nam cũng dần được xây dựng, củng cố, bổ sung
ngày càng hoàn thiện hơn
Các công trình nghiên cứu về thừa kế của các nhà luật học trong nước khá nhiều Tuy nhiên, trong số các công trình này thì những quy định về thừa
kế thế vị chỉ được đề cập như một phần của công trình và ở một khía cạnh, góc độ nhỏ lẻ Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phùng Trung
Tập, (2002), “Thừa kế theo pháp luật của Công dân Việt Nam từ năm 1945
đến nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Phạm Văn Tuyết, (2003), “Thừa
kế theo di chúc theo quy định của BLDS”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội;
Nguyễn Minh Tuấn, (2007), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định
chung về thừa kế trong BLDS”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Trần Thị
Huệ, (2007), “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Lưu Đức Bền, (2009), “Thừa kế theo pháp luật của
cháu, chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận án thạc sĩ Luật học,
Hà Nội; Nguyễn Hồng Bắc, (1997), “Vấn đề thừa kế theo pháp luật Việt
Nam”, Luận án thạc sĩ luật học, Hà Nội; Phan Thị Kim Chi, (2006), “Diện và hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005”, Luận văn thạc sĩ
luật học, Hà Nội; Phạm Thị Bích Phượng, (2006), “Thừa kế thế vị theo quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành”, Luận án thạc sĩ luật học, Khoa Luật
– Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Vĩnh, (1996), “Thừa kế
theo pháp luật trong BLDS Việt Nam”, Luận án thạc sĩ Luật học, Hà Nội;
Phùng Trung Tập, (2004), “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ
năm 1945 đến nay”, Sách chuyên khảo, Nxb Tư pháp; Phạm Văn Tuyết,
(2007), “Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”, Nxb
Trang 9Chính trị quốc gia; Phùng Trung Tập, (2008), “Luật thừa kế Việt Nam”, Sách chuyên khảo, Nxb Hà Nội; Nguyễn Minh Tuấn, (2009), “Pháp luật thừa kế
của Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Lao động – Xã hội
Ngoài ra còn có nhiều đề tài khoa học, bài viết khác liên quan đến thừa
kế thế vị Tuy nhiên, trong các công trình này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu chung về thừa kế còn đối với vấn đề Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về thừa kế thế vị mới chỉ dừng lại ở việc đề cập dưới dạng các
mục nhỏ trong các công trình nghiên cứu trên Thừa kế thế vị là một quan hệ pháp luật về thừa kế có tính chất nhạy cảm, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về quan hệ thừa kế này và cũng chưa có một sự phân tích từ lý luận đến thực tiễn áp dụng quy định này trong thực tiễn để rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về thừa kế thế vị để nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án về các tranh chấp liên quan đến thừa kế thế vị Như vậy, có thể xem luận văn này như một tài liệu chuyên khảo nghiên cứu một cách độc lập, hệ thống về vấn đề thừa kế thế vị
Trang 104 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế thế vị, trên cơ sở phân tích đánh giá các quy định hiện hành làm rõ các điều kiện thừa kế thế vị và các trường hợp thừa kế thế vị Trên cơ
sở nghiên cứu đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định
về thừa kế thế vị
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là xây dựng được khái niệm người thế vị, người được thế vị và khái niệm thừa kế thế vị, phân tích, lập luận để có thể xác định điều kiện thừa kế thế vị, đưa ra các trường hợp thừa kế thế vị Từ những phân tích, lập luận này đưa ra các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu có hiệu quả đề tài này, việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật và quan điểm của Đảng về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Bộ luật Dân sự
Luận văn đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử trong quá trình nghiên cứu Với phương pháp này luận văn được xem xét trong sự vận động và phát triển của các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng Để từ đó có thể tham khảo, kế thừa một cách có chọn lọc các quan điểm, nhận định của các nhà khoa học, các nhà luật học… về những quy định về thừa kế thế vị qua đó xây dựng được những cách hiểu thống nhất, khái quát về vấn đề này Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, logic… nhằm làm sáng tỏ các nội dung của luận văn
Trang 116 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, có tính hệ thống và tương đối toàn diện về thừa kế thế vị
Trong nội dung của luận văn có những điểm mới sau đây:
- Xây dựng được khái niệm người thế vị, người được thế vị, thừa kế thế vị; phân biệt được thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp; Thừa kế theo hàng
và thừa kế thế vị Luận văn đưa ra điều kiện thừa kế thế vị cũng như các trường hợp thừa kế thế vị
- Luận văn trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành về thừa kế thế
vị đã đưa ra được các kiến nghị cụ thể nhằm bổ sung và hoàn thiện các quy định về thừa kế liên quan và quy định về thừa kế thế vị Những kiến nghị mà luận văn đưa ra hoàn toàn dựa trên các cơ sở khoa học các quan điểm, đánh giá của các nhà khoa học cũng như các nhà luật học về vấn đề liên quan nhằm góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế của pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về thừa kế
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm ba chương
Chương 1: Lý luận chung về Thừa kế thế vị
Chương 2: Quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về Thừa kế thế vị
Chương 3: Những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về Thừa
kế thế vị trong BLDS 2005 và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật đó
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ
1.1 Khái niệm thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS năm 2005: “Trong
trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” Trong quy định này pháp luật chỉ liệt kê
về các trường hợp thừa kế thế vị mà chưa định nghĩa thế nào là thừa kế thế vị Vậy để hiểu như thế nào là thừa kế thế vị thì trước tiên chúng ta phải làm rõ thế vị là gì? Người thế vị và người được thế vị là gì? Theo nghĩa Hán – Việt
thì từ “thế” có nghĩa là “thay vào”, từ “vị” có nghĩa là “ngôi thứ”, “ngôi
vị”, “vị trí, từ “vị” đặt trong thừa kế thế vị được hiểu theo nghĩa thứ ba là “vị trí” Như vậy, có thể hiểu“thế vị” là “thay vào vị trí” Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất
bản Công an nhân dân xuất bản năm 1999 cũng định nghĩa “Thừa kế thế vị là
thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế”
Những người “thế vị” nhau phải là những người thuộc mối quan hệ
thừa kế thứ hai trong hàng thừa kế thứ nhất (quan hệ thừa kế giữa cha, mẹ và con), trong đó người thế vị phải là người ở đời sau (con thế vị cha, mẹ nhưng cha, mẹ không được thế vị con) Việc thế vị là mối liên hệ giữa hai bên, một bên được gọi là người được thế vị (gồm cha hoặc mẹ đẻ), một bên được gọi là người thế vị (gồm các con đẻ) Như vậy có thể định nghĩa:
Người thế vị là cháu hoặc chắt của người để lại di sản thay thế vị trí của người cha hoặc người mẹ đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với
Trang 13ông, bà hoặc các cụ để hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống
Người được thế vị là con hoặc cháu của người để lại di sản và là cha hoặc mẹ của người thế vị
Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người chết sang cho người còn sống sau khi chết Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật, không phát sinh từ thừa kế theo di chúc Thừa kế theo pháp luật là trình tự dịch chuyển di sản thừa kế của người chết để lại theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự thừa kế theo quy định của pháp luật Nghĩa là theo trình tự này thì ai được hưởng di sản của người chết để lại, hưởng như thế nào, bao nhiêu, hoàn toàn do pháp luật xác định Tuy nhiên, khi xác định phạm vi những người được hưởng di sản của người chết để lại, pháp luật về thừa kế của bất kỳ quốc gia nào cũng phải dựa trên ý chí mang tính truyền thống của người để lại di sản là nếu họ chết thì tài sản còn lại của họ (di sản thừa kế) phải được dịch chuyển cho những người thân thích của họ Tuy nhiên, mức độc gần gũi của mỗi người đối với người chết là khác nhau Theo trình tự hưởng di sản thừa kế thì người nào có mức độ gần gũi nhất với người chết sẽ được hưởng di sản mà người đó
để lại, nhiều người có cùng một mức độ gần gũi với người chết sẽ cùng được hưởng di sản của người đó Khi không có người gần gũi nhất thì những người
gần gũi tiếp theo sẽ được hưởng di sản của người chết để lại
Theo nguyên tắc chung, người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho người cháu hoặc người chắt của người để lại di sản khi con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản nên pháp luật thừa kế của nước ta đã quy định con của người đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản sẽ được thay thế vị trí của cha, mẹ để hưởng phần di sản mà cha, mẹ của con sẽ được hưởng nếu còn sống
Trang 14Trong hàng thừa kế thứ nhất bao gồm hai mối quan hệ giữa những người có quyền hưởng di sản của nhau đó là quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng và quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con Tuy nhiên, thừa kế thế vị là quá trình dịch chuyển di sản theo “dòng chảy xuôi” và là sự tiếp nối giữa các thế hệ (không còn con thì đến cháu, không còn cháu thì đến chắt) Vì vậy, việc thế vị chỉ được đặt ra trong mối quan hệ giữa cha, mẹ và con Trong đó, con là người thế vị và cha, mẹ là người được thế vị Quan hệ thừa kế giữa cha,
mẹ và con được xác định theo một trong hai căn cứ Nếu căn cứ vào quan hệ huyết thống thì đó là những người có cùng một dòng máu trực hệ trong phạm
vi hai đời liền kề nhau Trong đó, cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh
ra người đó và được pháp luật thừa nhận Vì vậy, cha, mẹ của người do mình sinh ra dù trong hay ngoài giá thú nhưng được pháp luật thừa nhận đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất để hưởng di sản theo pháp luật khi người con chết Và ngược lại, người con trong hay ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất để hưởng di sản do cha, mẹ mình để lại Nếu căn cứ vào quan hệ nuôi dưỡng thì đó là quan hệ giữa một bên là cha, mẹ nuôi và một bên là con nuôi Cha nuôi, mẹ nuôi của một người là người đã nhận người đó làm con nuôi của mình theo quy định của pháp luật
Đối với trường hợp người nhận nuôi con không đăng ký việc nuôi nhận con nuôi theo đúng quy định của pháp luật thì cha, mẹ nuôi với con nuôi chỉ
là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau khi được công nhận là nuôi con nuôi thực tế
Theo quy định của Điều 677 BLDS năm 2005 thì thừa kế thế vị chỉ được đặt ra khi thỏa mãn năm điều kiện:
Thứ nhất, những người “thế vị” nhau phải là những người thuộc mối
quan hệ thừa kế thứ hai trong hàng thừa kế thứ nhất (quan hệ thừa kế giữa cha, mẹ và con), trong đó người thế vị phải là người ở đời sau (con thế vị cha,
Trang 15mẹ nhưng cha, mẹ không được thế vị con) Như vậy, việc thế vị là mối liên hệ giữa hai bên, một bên được coi là người được thế vị (gồm cha hoặc mẹ), một bên được gọi là người thế vị (gồm các con)
Thứ hai, giữa họ phải có quan hệ huyết thống trực hệ (chỉ có con đẻ
thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ)
Thứ ba, thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi người được thế vị chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với người để lại di sản (cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà hoặc các cụ)
Thứ tư, trong mối liên hệ giữa người để lại di sản với người được thế vị
thì người để lại di sản phải là người ở đời trước, người được thế vị là người ở đời sau
Thứ năm, người thế vị phải còn sống vào thời điểm người được thế vị
chết hoặc nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm người được thế vị chết thì phải thành thai trước thời điểm người được thế vị chết
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về thừa kế thế vị như sau:
Thừa kế thế vị là việc các con thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa kế di sản của ông, bà hoặc các cụ đối với phần di sản mà nếu cha mẹ còn sống sẽ được hưởng nhưng cha, mẹ đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản
Ví dụ: Ông A chết năm 2010 có hai con là B và C Nhưng B chết trước ông A (chết năm 2007) B có hai con là M và N Như vậy M và N là cháu của ông A và được thay thế bố mình là anh B nhận ½ phần di sản thừa kế do ông
K để lại Phần di sản mà M và N nhận bằng phần di sản của C được thừa kế
Vấn đề quan trọng trong thừa kế thế vị là các đồng thừa kế nhận di sản với tư cách là người được thế vị sẽ phải phân đều nhau phần mà người
bố hay người mẹ của họ còn sống sẽ được hưởng Trong ví dụ trên: Nếu
Trang 16ông A để lại khối di sản là 100 triệu đồng thì M và N được thay thế bố mình là anh B nhận ½ tức là 50 triệu đồng và anh C được nhận 50 triệu đồng Do đó, M và N được hưởng:
M = N = 50 triệu đồng : 2 = 25 triệu đồng Thừa kế thế vị được quy định và đảm bảo thực hiện ở nước ta từ rất lâu, bắt đầu từ Thông tư 1742, Thông tư 594, Thông tư 81, đến Pháp lệnh Thừa
kế, Bộ luật Dân sự 1995 và hiện nay là Bộ luật Dân sự 2005 Các văn bản pháp luật này khi quy định về thừa kế thế vị đều tuân theo một đặc điểm chung là nếu một người không còn vào thời điểm người để lại di sản chết thì các con của người này được thay thế vị trí của họ để hưởng di sản của ông, bà hoặc của các cụ Tuy nhiên, văn bản pháp luật được ban hành phải phù hợp với tình hình thực tế của từng thời kỳ tương ứng Vì vậy, dù mang đặc điểm chung nói trên nhưng các văn bản này vẫn có sự khác nhau trong việc xác định cụ thể các trường hợp được thừa kế thế vị Trước hết, phải nói rằng quan
hệ thừa kế thế vị là quan hệ thừa kế ngành dọc theo một chuỗi thế hệ từ đời thứ nhất đến đời thứ ba (ông, bà – cháu), hoặc đến đời thứ tư (cụ - chắt) Trong chuỗi thế hệ đó có thể chỉ đơn thuần là huyết thống nhưng cũng rất nhiều trường hợp có thể đan xen cả huyết thống, cả nuôi dưỡng Chẳng hạn, đời thứ nhất (A) đối với đời thứ hai (B) là quan hệ nuôi dưỡng nhưng đời thứ hai đối với đời thứ ba (C) là quan hệ huyết thống, đời thứ ba đối với đời thứ
tư (D) lại là quan hệ nuôi dưỡng (B là con nuôi của A nhưng C lại là con đẻ của B và D là con nuôi của C) Trong khi đó việc xác định mối quan hệ thừa
kế theo huyết thống và nuôi dưỡng của các văn bản pháp luật ở mỗi một thời
kỳ luôn khác nhau nên vấn đề thừa kế thế vị cũng khác nhau ở mỗi thời kỳ
Chẳng hạn, do Thông tư 81 quy định rằng: “Người đang làm con nuôi của
người khác không được thừa kế theo luật đối với di sản của bố mẹ đẻ” nên
trong thời kỳ Thông tư 81 được áp dụng thì con của người đang làm con nuôi
Trang 17của người khác sẽ không được thừa kế thế vị để hưởng di sản của ông, bà dù cha, mẹ mình đã chết trước ông, bà
Ngoài ra, vấn đề thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS năm
2005 chỉ khác so với quy định tại Điều 680 BLDS năm 1995 (Điều 680
BLDS năm 1995 quy định: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc
mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”) ở việc bổ sung thêm trường hợp “chết cùng một thời điểm” trong khi BLDS năm 1995 không xếp cháu vào hàng thừa kế thứ hai của ông, bà còn BLDS năm 2005 lại xếp vào, nên có một vấn đề liên quan đến việc xác định các trường hợp chắt được thừa kế thế vị mà chúng tôi xét thấy cần phải bàn tới như sau: Việc thừa kế thế vị của chắt đối với di sản của
cụ để lại thông thường được hiểu là trong trường hợp cụ chết nhưng ông hoặc
bà đã chết trước thì cháu sẽ thay thế vị trí của ông hoặc bà để hưởng thừa kế nhưng vì cháu cũng đã chết trước cụ nên chắt sẽ thay thế cháu (con thay thế cha hoặc mẹ) để hưởng di sản của cụ Có thể gọi trường hợp này là thế vị của thế vị Nếu cháu không thuộc người thừa kế ở hàng thứ hai của ông, bà thì việc thế vị của chắt duy nhất chỉ là trường hợp theo cách hiểu trên Tuy vậy, khi cháu được xác định là người thừa kế ở hàng thứ hai của ông, bà thì cách hiểu trên không phải là duy nhất nữa vì chắt còn có thể được thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa kế của cụ trong trường hợp khác Ví dụ: Cụ A
có một người thừa kế duy nhất ở hàng thừa kế thứ nhất là ông B (con đẻ) Ông B có con đẻ là anh C, anh C có con đẻ là D Khi cụ A chết, ông B vẫn còn sống nhưng không được quyền hưởng di sản vì có hành vi được xác định tại khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 Anh C là người thừa kế ở hàng thứ hai (cháu của cụ A) và là người được quyền hưởng di sản của cụ A vì người thừa
Trang 18kế ở hàng thừa kế thứ nhất đã bị tước quyền hưởng di sản Nhưng anh C lại chết trước cụ A Trong trường hợp này, phải xác định D là người thế vị của cha mình (anh C) để hưởng di sản của cụ A (vì anh C là người được hưởng di sản của cụ A nếu còn sống)
Trong thực tế, vào thời điểm phân chia di sản thừa kế thường có hai trường hợp xảy ra:
Một là, Người thừa kế không còn sống vào thời điểm phân chia di sản do đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản
Hai là, Người thừa kế không còn sống vào thời điểm phân chia di sản nhưng còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Tuy nhiên, trong hai trường hợp trên có hai loại thừa kế, đối với trường hợp thứ nhất chính là thừa kế thế vị theo Điều 677 BLDS năm 2005, trường hợp thứ hai là thừa kế chuyển tiếp Vậy, như thế nào là thừa kế chuyển tiếp? Thừa
kế chuyển tiếp là sự kế tiếp nhau trong thừa kế Đây là trường hợp người thừa
kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng lại không còn sống vào thời điểm phân chia di sản Ví dụ: Ông A có con đẻ là B, ông B có con đẻ là anh
C Ông A chết không để lại di chúc, di sản của ông A được chia theo pháp luật Ông B là người thừa kế ở hàng thứ nhất để hưởng di sản của ông A Tuy nhiên, vào thời điểm phân chia di sản thì ông B chết cũng không để lại di chúc Anh C sẽ được thừa kế theo pháp luật di sản của ông B Trong trường hợp này B hưởng di sản của A và C hưởng di sản của B (trong khối di sản B
để lại thì có một phần là di sản của A mà B đã được thừa kế) Do đó, di sản của A đã được chuyển tiếp cho C thông qua B Đây chính là trường hợp thừa
Trang 19chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản, còn thừa
kế chuyển tiếp thì người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng không còn sống vào thời điểm phân chia di sản
- Thừa kế thế vị chỉ có ở thừa kế theo pháp luật, còn thừa kế chuyển tiếp có thể có ở thừa kế theo pháp luật nhưng cũng có thể có ở thừa kế theo
di chúc Do đó, người được hưởng di sản theo thừa kế thế vị phải có quan
hệ huyết thống trực hệ với người để lại di sản; còn người được hưởng di sản theo thừa kế chuyển tiếp có thể không có quan hệ huyết thống với người để lại di sản
- Người hưởng thừa kế thế vị hẹp hơn người hưởng thừa kế chuyển tiếp Người hưởng thừa kế thế vị chỉ là con của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản nhưng người hưởng thừa kế chuyển tiếp thì có thể bao gồm những người khác như vợ, chồng, cha, mẹ Ngoài
ra, có thể là người ở hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba của người để lại di sản Thậm chí, có thể là người khác và các chủ thể khác nếu họ là người được hưởng thừa kế theo di chúc
1.2 Thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng
Trước hết, quan hệ thừa kế theo hàng là cơ sở để xác định các vấn đề liên quan đến thừa kế thế vị Có thể kể đến các vấn đề sau:
Một là, Hàng thừa kế là căn cứ để xác định thừa kế thế vị trong trường
hợp con của người để lại di sản là người được hưởng thừa kế theo hàng nhưng
đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản Bởi vì thừa kế thế vị là là việc các con thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa
kế di sản của ông, bà hoặc các cụ đối với phần di sản mà nếu cha mẹ còn sống
sẽ được hưởng nhưng cha, mẹ đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản
Trang 20Hai là, Hàng thừa kế là căn cứ để xác định phần di sản mà người thừa kế
thế vị được hưởng Khoản 2 Điều 676 BLDS năm 2005 quy định “Những người
thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau” Do đó, nếu cha hoặc
mẹ được hưởng thừa kế ở hàng nào mà chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì con thay thế vị trí của cha, mẹ để hưởng thừa kế thế vị phần di sản của cha, mẹ ở hàng đó Ví dụ: Ông A có con là B, C, D Anh B có con là E và F Ông A chết không để lại di chúc nên phần di sản của ông A sẽ được chia theo pháp luật Các con là B, C, D là những người thừa kế ở hàng thứ nhất của ông A nên sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau, mỗi người sẽ được hưởng một suất thừa kế bằng nhau và bằng 1/3 số di sản của ông A Do B đã chết trước ông A nên E và F sẽ thay thế cha mình là anh B để hưởng phần di sản
mà đáng lẽ B còn sống được hưởng Như vậy, E và F sẽ được hưởng chung một suất thừa kế bằng với suất thừa kế của C và D
Căn cứ vào quy định về thứ tự hàng thừa kế tại khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 và quy định về điều kiện chia di sản thừa kế theo hàng tại khoản 3 Điều 676 BLDS năm 2005, sự cần thiết phải làm rõ trong những trường hợp nào thì các cháu, các chắt được hưởng di sản của ông bà nội, ngoại và các cụ nội, ngoại theo hàng thừa kế Trong trường hợp nào thì cháu, chắt được hưởng di sản của ông bà nội, ngoại và các cụ nội, ngoại theo thừa
kế thế vị Bởi thực tiễn giải quyết các vụ án thường gặp những sai sót trong việc xác định cháu và chắt là người thừa kế theo hàng hay thừa kế thế vị, dẫn đến những vụ án tương tự nhau nhưng cách giải quyết của Tòa án lại không giống nhau
Để thấy rõ được sự khác nhau giữa thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng tác giả đặt ra hai tiêu chí để phân biệt đó là tiêu chí về điều kiện hưởng thừa
kế và tiêu chí vị trí hưởng di sản thừa kế
Trang 21Thứ nhất, Điều kiện để hưởng thừa kế Cháu hoặc chắt chỉ được hưởng
di sản của ông, bà hoặc các cụ theo thừa kế thế vị khi có đủ năm điều kiện như đã trình bày tại mục 1.1 của luận văn
Cháu hưởng di sản của ông, bà theo hàng thừa kế thứ hai khi không còn
ai ở hàng thừa kế thứ nhất ngoài cha hoặc mẹ cháu nhưng cha, mẹ cháu lại không có quyền hưởng di sản của người để lại di sản
Chắt hưởng di sản của các cụ theo hàng thừa kế thứ ba khi không còn ai
ở hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai đều không có quyền hưởng di sản của người để lại di sản
Như vậy, điều kiện để hưởng thừa kế theo hàng là không còn ai ở hàng thừa kế trước ngoài cha hoặc mẹ nhưng cha, mẹ lại không có quyền hưởng di sản của người để lại di sản
Thứ hai, về vị trí hưởng thừa kế Trong thừa kế thế vị, tất cả các con
thay thế vị trí của cha, mẹ hưởng thừa kế cùng với những người thừa kế ở cùng hàng thừa kế với cha, mẹ
Như vậy, việc cha hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với ông, bà nội, ông, bà ngoại thì con sẽ thay thế cha, mẹ đứng vào hàng thừa
kế thứ nhất để hưởng một suất thừa kế cùng với những người thừa kế khác ở hàng thứ nhất của người để lại di sản Ví dụ: Ông A có con là B, anh B có con
là C Nếu B chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha là ông A thì C là cháu sẽ thay thế bố là B để hưởng toàn bộ di sản của ông nội là A Trong trường hợp ông A có hai con nữa là E và F thì C là cháu sẽ được hưởng thừa
kế cùng với E và F ở hàng thừa kế thứ nhất và C được hưởng 1/3 khối di sản của ông A
Nếu cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với các cụ nội, ngoại thì con sẽ thay thế cha, mẹ đứng vào hàng thừa kế thứ hai để hưởng một suất thừa kế cùng với những người thừa kế khác ở hàng thứ hai của người để lại di sản
Trang 22Nếu ông, bà đã chết trước cụ thì cháu sẽ thay thế vị trí của ông, bà để hưởng thừa kế nhưng vì cháu cũng đã chết trước cụ nên chắt sẽ thay thế cháu (con thay thế cha hoặc mẹ) để hưởng một suất thừa kế cùng với những người thừa kế khác ở hàng thứ nhất của người để lại di sản Có thể gọi đây là thế vị của thế vị
Thừa kế theo hàng: Cháu hưởng thừa kế di sản ở hàng thứ hai của người
để lại di sản trong trường hợp không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, không có quyền hưởng di sản thì cháu được hưởng thừa kế di sản theo hàng thừa kế thứ hai Trong trường hợp những người thừa kế theo pháp luật tại hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai đều không có quyền hưởng di sản thì chắt của người để lại di sản là các cụ nội, ngoại được thừa kế theo hàng thừa
kế thứ ba
Như vậy, giữa thừa kế thế vị và quyền thừa kế của các cháu, chắt có mối quan hệ mật thiết với nhau được thể hiện như sau:
Thứ nhất, Mối quan hệ giữa thừa kế thế vị và quyền của các cháu nội,
cháu ngoại thừa kế theo pháp luật tại hàng thừa kế thứ hai của ông, bà
- Trong trường hợp con của người để lại di sản là người được hưởng thừa kế theo hàng nhưng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được “thế vị” bố hoặc mẹ để nhận di sản thừa kế của ông, bà; trường hợp này cháu không phải là người thừa kế theo hàng thứ hai
Nếu tại hàng thừa kế thứ nhất có các con của người để lại di sản và người con đó có các con (cháu của người để lại di sản), mà người con đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì những người cháu của người để lại di sản được thừa kế thế vị Trong trường hợp này, di sản vẫn được chia theo pháp luật cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất và cháu của người để lại di sản được “thế vị” bố hoặc mẹ mình nhận di sản thừa kế
Trang 23Trong trường hợp không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, do không có quyền hưởng di sản thì cháu được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ hai
Nếu ở hàng thừa kế thứ nhất còn có những người thừa kế khác ngoài cha hoặc mẹ của cháu thì mặc dù cha hoặc mẹ cháu không có quyền hưởng di sản thì cháu vẫn không được hưởng di sản vì cháu thuộc hàng thừa kế thứ hai Khi đó di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế khác có quyền hưởng thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất
Thứ hai, Mối quan hệ giữa thừa kế thế vị và quyền thừa kế của chắt
ruột thừa kế theo pháp luật tại hàng thừa kế thứ ba
Theo trình tự hưởng thừa kế theo hàng, chắt ruột được hưởng di sản của các cụ cũng theo nguyên tắc hàng, nếu cả hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai không còn ai do đã chết, do không có quyền hưởng di sản thì chắt sẽ hưởng thừa kế theo hàng thứ ba của các cụ Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai do đã chết, thì chắt nói riêng và những người thừa kế tại hàng thừa kế thứ
ba nói chung đều được thừa kế theo hàng
Nếu những người thừa kế tại hàng thừa kế thứ hai đều đã chết, mà trong số những người đã chết có bố hoặc mẹ của chắt (là cháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản) do đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được thế vị hưởng di sản của cụ nội, cụ ngoại mà không phải là người được hưởng di sản theo hàng thừa kế thứ ba, ngoài các chắt đã được hưởng thừa kế thế vị cũng không được hưởng di sản thừa kế theo hàng
Trong trường hợp những người thừa kế theo pháp luật tại hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai đều không có quyền hưởng di sản, đều bị truất quyền hưởng di sản, đều từ chối nhận di sản thì chắt của người để lại di
Trang 24sản là cụ nội, cụ ngoại được thừa kế theo hàng tại hàng thừa kế thứ ba cùng với những người thừa kế khác tại hàng thừa kế thứ ba nếu có
Điều 677 BLDS năm 2005 quy định: “Trong trường hợp con của
người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người
để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Theo quy định trên thì thừa kế thế vị được hiểu là con thay thế vị trí của bố hoặc mẹ để nhận thừa kế di sản từ ông, bà nội; ông, bà ngoại hoặc các cụ nội ngoại, nếu bố, mẹ đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với những người này Phần di sản mà người con được hưởng trong di sản của người để lại thừa kế nói trên là phần di sản mà bố hoặc mẹ của người đó được hưởng nếu còn sống
So với BLDS năm 1995, thì về cơ bản BLDS năm 2005 giữ lại quy định của BLDS năm 1995 về hàng thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, có bổ sung cháu vào hàng thừa kế thứ hai của ông bà, chắt vào hàng thừa kế thứ ba của các cụ Chúng tôi cho rằng sự bổ sung này là cần thiết trong việc bảo vệ quyền hưởng di sản của cháu đối với di sản của ông, bà và quyền hưởng di sản của chắt với di sản của các cụ trong một số trường hợp cụ thể Chẳng hạn, cha của cháu là người thừa kế theo luật duy nhất của ông, bà nhưng lại
là người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 Nếu không có bổ sung này thì trong trường hợp đó cháu sẽ không được hưởng thừa kế di sản mà ông, bà để lại vì cháu không thuộc hàng thừa kế nào của ông, bà và thừa kế thế vị chỉ được đặt ra khi cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với ông, bà và không bị tước quyền thừa kế
Trang 251.3 Ý nghĩa của việc quy định về thừa kế thế vị
Pháp luật quy định về thừa kế thế vị là nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, chắt của người để lại di sản một cách trực tiếp trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt lại chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc các cụ nội, ngoại Như vậy, quy định về thừa kế thế vị tại Điều 677 BLDS năm 2005 là phù hợp với đạo lý và thực tiễn ở nước ta hiện nay Một mặt, quy định đã bảo đảm quyền lợi của những người có quyền thừa kế thế vị, mặt khác đảm bảo sự thống nhất với nguyên tắc chung của quan hệ pháp luật dân sự trong trường hợp thừa kế thế vị Nguyên tắc chung đó được thể hiện ở chỗ, vào thời điểm
mở thừa kế của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc các cụ nội, cụ ngoại
mà cha hoặc mẹ của cháu nội, cháu ngoại hoặc chắt nội, chắt ngoại đã chết thì cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị nhận di sản thừa kế của ông, bà hoặc các
cụ nội, ngoại phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt còn sống được hưởng; bất luận cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt đã chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với người để lại di sản Vì quan hệ thừa kế là quan hệ pháp luật dân sự, được xác lập giữa những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật (theo trình tự hàng) và thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng của những người thân thuộc nhất của người để lại di sản Nhằm bảo vệ quyền hưởng di sản của các cháu của người để lại di sản một cách trực tiếp Tránh tình trạng di sản của ông bà mà các cháu không được hưởng, lại
để cho người khác hưởng Thừa kế thế vị bảo tồn được truyền thống và đạo lý trong quan hệ giữa những người thân thuộc nhất của người để lại di sản đã và đang được thừa nhận ở Việt Nam Thừa kế thế vị có ý nghĩa rất lớn cả về mặt đạo đức, cả về mặt kinh tế xã hội
Trang 26Về mặt đạo đức: Đây là một quy định rất phù hợp với truyền thống đạo đức của người Việt Nam, việc quy định thừa kế thế vị góp phần khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là cơ sở để duy trì tình yêu thương giữa những người thân trong gia đình
Về mặt pháp lý: Quy định về thừa kế thế vị cũng góp phần cũng cố thêm những quy định quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, trong đó có quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa ông bà và các cháu, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu
Về mặt kinh tế - xã hội: Quy định về thừa kế thế vị góp phần làm giảm gánh nặng xã hội khi những người thuộc trường hợp được thừa kế thế vị mà không còn ai chăm sóc, nuôi dưỡng Đồng thời, việc quy định về thừa kế thế
vị cũng tạo cơ sở cho cháu, chắt của người chết có vốn để duy trì, mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm tăng thu nhập cho bản thân cũng như góp phần
phát triển, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
1.4 Khái lƣợc quá trình phát triển của quy định pháp luật về thừa
kế thế vị
Có thể thấy, quy định về thừa kế thế vị đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự La Mã tồn tại cách đây hơn 4000 năm cũng đã có quy định về thừa kế
thế vị: “Thừa kế thế vị còn được coi là thừa kế đại diện Trường hợp bố hoặc
mẹ chết trước ông bà thì các cháu thay thế vị trí của bố, mẹ nhận một suất thừa kế mà lẽ ra bố, mẹ chúng còn sống sẽ được hưởng thừa kế Những người thừa kế thế vị không phải là người thừa kế di sản của bố, mẹ mình chưa nhận
của ông, bà mà họ là người thừa kế của ông, bà”
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thừa kế thế vị đã xuất hiện từ rất lâu với các quy định khác nhau ở từng thời kỳ Trong đó, phải kể đến các Bộ luật như: Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long, DLBK, DLTK, Bộ dân luật Nam
Trang 27kỳ, tất cả đều có quy định về thừa kế thế vị Theo quy định của Dân luật Bắc
Kỳ và Dân luật Trung Kỳ, quyền thừa kế trước hết thuộc về các con của người
để lại di sản; nếu con không còn và có cháu thì cháu được thế vị nhận di sản của ông, bà
Điều 374 Bộ luật Hồng Đức có quy định: “Các con, các cháu là người
thừa kế của ông bà, cha mẹ Trong trường hợp ông bà, cha mẹ mà chết cả thì điền sản được chia cho các con, các cháu Do vậy, các cháu sẽ là người thế vị
cha mẹ nhận di sản của ông bà”
Điều 337 DLBK có quy định: “Trong các người con đều được thừa kế,
nếu có người nào chết rồi mà khi phai phát việc thừa kế hiện còn con cháu, thì con cháu ấy được thay mặt người thừa kế đã quá vãng để nhận lấy phần của người ấy mà chia nhau”
Điều 332 DLTK có quy định: “Trong các người con, nếu có người nào
chết trước người có tài sản mà người con đã chết sớm ấy hiện có con cháu, thời các con cháu ấy được thay mặt y để nhận lấy phần của y mà chia nhau”
Tại chương thứ ba, thiên thứ mười một Bộ dân luật Nam kỳ có quy
định: “Nếu trong số các con được thừa kế có người đã qua đời thì con cháu –
nếu có trong lúc khai phát cuộc thừa kế được thay thế mà lãnh cái phần của cha hay ông của mình”
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, trước yêu cầu cấp bách của việc xóa bỏ các tàn tích của chế độ phong kiến trong lĩnh vực dân sự, Sắc lệnh số 97/SL, ngày 22 tháng 5 năm 1950 được ban hành sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật Về thừa kế thế vị, Sắc lệnh còn quy định các con của người đó được thừa kế thế vị Mặc dù Sắc lệnh số 97/SL
đã quy định một số nguyên tắc về thừa kế nhưng trường hợp nào được thừa kế theo pháp luật thì vẫn chưa đề cập
Trang 28Nhằm khắc phục tình trạng còn thiếu văn bản pháp luật về thừa kế, dựa trên thực tiễn xét xử, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 1742 – NBC ngày
18 tháng 9 năm 1956, trong đó diện thừa kế có mở rộng nhiều hơn Tuy chưa
có quy định cụ thể về hàng thừa kế, nhưng tại Điều 4, Điều 5 của Thông tư thì thứ tự thừa kế theo pháp luật bước đầu được xác định:
-Thứ tự thứ nhất gồm có: Vợ hoặc chồng và các con của người chết (là những người được hưởng di sản trước những người thân thuộc khác của người để lại di sản)
- Thứ tự thứ hai gồm có: Cha mẹ của người để lại di sản; sau cha mẹ đến các hàng thừa kế khác
Về thừa kế thế vị: Các cháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản được thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu chết trước ông bà
Hiến pháp năm 1959 được ban hành đã chính thức ghi nhận quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân (Điều 14) nhưng lúc này vẫn chưa có pháp luật dân sự hoàn thiện Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn xét xử, ngày 27 tháng 8 năm
1968 Thông tư số 594/TT – NCLP của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế được ban hành trong đó quy định về thừa kế
thế vị như sau: “Trong hàng thừa kế thứ nhất, nếu người con lại chết trước
người để lại di sản thì con cháu của người này được thay mặt bố, mẹ mình đã chết trước” Cũng theo Thông tư số 594/TT - NCLP, con nuôi và bố mẹ nuôi
được thừa kế theo pháp luật của nhau ở hàng thừa kế thứ nhất, nhưng người đang làm con nuôi của người khác lại không có quyền thừa kế theo pháp luật của bố mẹ đẻ và của những người cùng huyết thống khác Theo đó, con của người đang là con nuôi của người khác không được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp cha mẹ nuôi thì con của người con nuôi đó được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà nhận nuôi cha hoặc mẹ họ
Trang 29Thông tư số 81/TT – TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản có quy định đầy đủ hơn những trường hợp thừa kế theo pháp luật và lần đầu tiên thừa kế thế vị của con nuôi được đề cập đến trong Thông tư này:
“Người con nào (kể cả con nuôi) chết trước người để thừa kế thì các con của người đó (tức là cháu của người để thừa kế) sẽ hưởng phần thừa kế của bố,
mẹ mình (thừa kế thế vị)” So với các văn bản trước thì Thông tư số 81/TT –
TANDTC có quy định về thừa kế thế vị có sự khác biệt cơ bản là chỉ quy định cháu được thừa kế thế vị
Pháp lệnh thừa kế được ban hành ngày 30 tháng 8 năm 1990 là văn bản pháp luật điều chỉnh riêng về lĩnh vực thừa kế ở nước ta Quyền thừa kế thế vị được ghi nhận trong một điều luật riêng và được củng cố, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế hơn nhưng văn bản quy định về thừa kế thế vị trước đó
Điều 26 Pháp lệnh thừa kế quy định: “Trong trường hợp con của người để lại
di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha, mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt được hưởng nếu còn sống”
Từ giai đoạn 1945 đến nay, các quy định về thừa kế nói chung, thừa kế thế vị nói riêng cũng luôn được hoàn thiện và phát triển Trước khi có Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 cũng đã có quy định về thừa kế thế vị tại
Điều 26: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để
lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Để phù hợp với sự đổi mới mọi mặt của đất nước và đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội trong thời kỳ đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế,
Trang 30Hiến pháp 1992 đã được ban hành Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, những nguyên tắc về thừa kế di sản và những quy định về quyền thừa kế của công dân đã được pháp điển hóa một cách cụ thể trong BLDS đầu tiên của nước ta được ban hành năm 1995 Chế định thừa kế trong BLDS năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế, tuy nhiên trong từng điều khoản cụ thể đã có sự chỉnh lý và bổ sung nhằm đưa các quy định của pháp luật về thừa kế vào cuộc sống một cách hữu hiệu hơn Theo đó, vấn đề về
thừa kế thế vị được quy định tại Điều 680 BLDS năm 1995: “Trong trường
hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Qua 10 năm thi hành BLDS năm 1995, thực tiễn xét xử cho thấy những quy định pháp luật về thừa kế đã đi vào cuộc sống Tuy nhiên, trong suất quá trình 10 năm đó, có rất nhiều các văn bản pháp luật có liên quan được ban hành, như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Đất đai năm 2003… dẫn đến những bất cập nhất định, đó là những quan hệ liên quan đến tài sản, quyền
sử dụng đất và những quan hệ khác có liên quan đến thừa kế Vì vậy, BLDS
2005 ra đời đã bổ sung, chỉnh sửa một số quy định của BLDS năm 1995 cho phù hợp với thực tế và có tính áp dụng trong đời sống cao hơn Quy định về thừa kế thế vị cũng được sửa đổi bổ sung cho phù hợp, theo đó pháp luật bổ sung trường
hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt “chết cùng một thời điểm” với người để lại
di sản chứ không chỉ quy định trường hợp “chết trước” mới có quyền hưởng
thừa kế thế vị như quy định của BLDS năm 1995
Điều 677 BLDS năm 2005 có quy định: “Trong trường hợp con của
người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu
Trang 31còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, quy định về thừa kế thế vị trong BLDS năm 1995 kế thừa toàn bộ quy định về thừa kế thế vị trong Pháp lệnh thừa kế năm 1990 Tuy nhiên, quy định về thừa kế thế vị trong BLDS năm 2005 có sự khác biệt giữa hai văn bản trước đó, nếu trong hai văn bản trước đó chỉ quy định thừa kế thế vị trong trường hợp chết trước thì trong BLDS năm 2005 lại còn quy định cả trường hợp chết cùng cũng phát sinh
thừa kế thế vị
Trang 32Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005 VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ
2.1 Các điều kiện thừa kế thế vị
2.1.1 Người được thế vị phải chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản
Đây là điều kiện đầu tiên để xem xét có việc thừa kế thế vị hay không, bởi vì thừa kế thế vị được hiểu là con thay thế vị trí của bố mẹ để hưởng phần
di sản mà bố mẹ được hưởng của ông, bà nội; ông, bà ngoại hoặc các cụ nội,
cụ ngoại Do đó, nếu bố mẹ còn sống hoặc chết sau ông, bà nội; ông, bà ngoại hoặc các cụ nội, cụ ngoại thì bố, mẹ là người hưởng thừa kế theo hàng của ông bà, khi đó sẽ không có thừa kế thế vị nữa
Sự kiện những người có quyền thừa kế của nhau nhưng cùng chết vào một thời điểm đều đã được quy định trong các văn bản pháp luật thời thực dân phong kiến ở nước ta trước đây và trong chế độ mới ở nước ta kể từ năm 1945, thừa kế thế vị được quy định trong Thông tư số 1742 – BNC ngày 18 tháng 9 năm 1956 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 594 – NCPL (Thông tư 594) ngày 27 tháng 8 năm 1968 của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư 81 – TANDTC (Thông tư 81) ngày 24 tháng 7 năm 1981 của Tòa án nhân dân tối cao, Pháp
lệnh thừa kế năm 1990 đều có nội dung tương tự nhau: “Con của người để lại
di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha
hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống”
Điều 680 BLDS năm 1995 quy định: “Trong trường hợp con của người
để lại di sản chết trước người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản
mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Trang 33Những quy định của các văn bản pháp luật này quy định thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, nhưng không quy định trong trường hợp cha con, mẹ con chết vào cùng một thời điểm, cháu có được thừa kế thế vị nhận di sản của ông, bà không? Tuy rằng Thông tư số 594, Thông tư số 81, Pháp lệnh thừa kế năm
1990 và BLDS năm 1995 (Điều 644 BLDS năm 1995 quy định: “Trong
trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chết trong cùng một thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng”) đều có
quy định về sự kiện những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết trong cùng một thời điểm nhưng lại không quy định cho cháu được thừa kế thế vị trong trường hợp này Do pháp luật không quy định cho cháu được thừa
kế thế vị phát sinh trong trường hợp đặc biệt này, nên lợi ích của các cháu không phải bao giờ cũng được đảm bảo Đặc biệt hơn nữa, bố hoặc mẹ của cháu là con độc nhất của ông bà nội, ngoại mà cùng chết vào một thời điểm với ông, bà nội, ngoại
Khi BLDS năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 thì thừa kế thế vị đã được quy định có những điểm mới so với những văn bản trước đây Điều 677
BLDS quy định về thừa kế thế vị: “Trong trường hợp con của người để lại
di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Trang 34Quy định về thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS năm 2005 nói trên có sự khác biệt so với quy định về thừa kế thế vị tại Điều 680 BLDS năm 1995 là việc cháu hoặc chắt có được thừa kế thế vị hay không được thừa
kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt chết cùng một thời điểm với ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại Về vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã bàn nhiều và khi chưa có quy định cụ thể như tại Điều 677 BLDS năm 2005, trong một số công trình khoa học, dựa trên cơ sở khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu vẫn xác định cháu được thừa kế thế vị cả trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu chết cùng một thời điểm với ông, bà nội; ông, bà ngoại Tuy nhiên, tại thời điểm khi mà pháp luật chưa có quy định rõ nên đã không thể tránh khỏi những quan điểm khác nhau về vấn đề này
2.1.2 Người thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản
Đây là một điều kiện chung đối với những người thừa kế là cá nhân, không phân biệt người đó hưởng di sản theo di chúc, theo pháp luật hay hưởng thừa kế thế vị
Điều 635 BLDS năm 2005 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế…” Theo quy định của Điều luật,
người thừa kế nói chung và người thế vị nói riêng phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Với đặc trưng cơ bản của thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa người còn sống với người đã chết nên người tiếp nhận di sản phải là người còn sống Nếu tài sản được dịch chuyển từ một người chết này sang một người chết khác thì sẽ không còn ý nghĩa với bản chất của thừa kế đó là sự dịch chuyển di sản từ một người đã chết sang người còn sống nữa Thuật ngữ
“còn sống” phải được hiểu dưới nhiều góc độ bởi có thể có một người đã chết
trên thực tế nhưng vẫn được coi là “còn sống vào thời điểm mở thừa kế”
Trang 35Người thế vị còn sống vào thời điểm mở thừa kế, cho dù chỉ cần sống trong một khoảng thời gian ngắn sau khi người để lại di sản chết là đủ tư cách thừa
kế Một người “còn sống vào thời điểm mở thừa kế” nhưng đến thời điểm
phân chia di sản lại chết (hoặc bị Tòa án tuyên bố chết) thì người đó vẫn được hưởng di sản, phần di sản được hưởng đó được coi là di sản của người đó và lại được chia cho những người thừa kế của họ
Con của người chết trước người để lại di sản không thể là người thế vị
nếu sinh ra nhưng không còn sống Mặc dù vậy, như thế nào là “sinh ra và
còn sống” là một vấn đề khá nhạy cảm Nếu một người sinh ra và còn sống
bình thường thì việc hưởng thừa kế của họ sẽ được xác định bình thường như những người khác Tuy nhiên, đối với một người sinh ra và chết thì việc xác định là còn sống hay đã chết đối với một đứa trẻ được sinh ra rồi chết là một vấn đề phức tạp, điều này chưa được ghi nhận rõ trong BLDS, liệu một đứa trẻ sau khi sinh ra sống được năm phút, mười phút, một giờ, hai giờ, một ngày, một tháng, một năm… mới được coi là sinh ra và còn sống, hiện tại, chúng ta chỉ có thể áp dụng vấn đề này tại một số văn bản pháp quy Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 158/NĐ – CP của Chính phủ ngày 27 tháng
12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: “Trẻ em sinh
ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng
ký khai tử Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai
tử Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi
rõ “Trẻ chết sơ sinh””; như vậy, có thể gián tiếp hiểu rằng một đứa trẻ sinh
ra sống được từ 24 giờ trở lên thì được coi là “sinh ra và còn sống”, và nếu
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì sẽ được hưởng di sản
2.1.3 Người thế vị phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản
Luật không quy định người thế vị phải thành thai trước khi người để lại
Trang 36di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế của người để lại
di sản mới được hưởng thừa kế thế vị nhưng xét điều kiện chung của người thừa kế theo pháp luật thì người thế vị phải thành thai trước khi người cha chết và cũng chính là thành thai trước khi người để lại di sản chết vì thừa kế
thế vị là việc con thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng thừa kế di sản của
ông, bà hoặc các cụ đối với phần di sản mà nếu cha mẹ còn sống sẽ được hưởng nhưng cha, mẹ đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người
để lại di sản Do vậy, người con phải thành thai trước khi người cha chết thì mới có thể thay thế vị trí của cha mình để hưởng thừa kế thế vị của ông, bà hoặc các cụ Đây cũng là một vấn đề chưa được đề cập trong thừa kế thế vị Theo tác giả thì người thế vị phải thành thai trước khi người để lại di sản chết nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản cũng
là một điều kiện để hưởng thừa kế thế vị
Điều kiện về người thế vị “phải thành thai trước khi người để lại di sản
chết” chủ yếu để xác định mối quan hệ huyết thống giữa người thừa kế theo
pháp luật với người để lại di sản, người sinh ra còn sống và đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế mặc nhiên được coi là có quan hệ huyết thống với người để lại di sản Pháp luật Việt Nam trước đây đều áp dụng sự phỏng đoán: trẻ em sinh ra trong thời hạn 300 ngày sau thời điểm mở thừa kế thì được coi là thành thai và có thể hưởng di sản, quy định tương tự ở Pháp là thời gian tối đa
300 ngày, ở Đức 302 ngày còn ở Hà Lan là 306 ngày – thông thường nhiều hơn
so với quan niệm 9 tháng 10 ngày Theo đó, Điều 63 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc con do
người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng…” và khoản 2
Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ – CP của Chính phủ ngày 03 tháng 10 năm
2001 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã xác định theo phương pháp suy đoán một thai nhi tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời
Trang 37điểm mở thừa kế, nếu trong khoảng thời gian này, đứa trẻ sinh ra thì mặc nhiên
sẽ được coi là thành thai trước thời điểm mở thừa kế, là người thừa kế của người để lại di sản Trên thực tế, đứa trẻ sinh ra sau thời hạn này, nếu có chứng
cứ chứng minh là con đẻ của người đã chết thì vẫn được quyền hưởng di sản (thông qua việc xét nghiệm AND để xác định quan hệ huyết thống giữa cha,
mẹ và con )
Trong Điều 635 BLDS năm 2005 có một vấn đề chưa được văn bản dưới luật giải thích cụ thể nên hiện nay đang có nhiều tranh cãi Đó là việc
xác định điều kiện “phải thành thai trước khi người để lại di sản chết” chỉ
đòi hỏi đối với cá nhân là người thừa kế theo luật hay đòi hỏi đối với cả cá nhân là người thừa kế theo di chúc?
Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng đối với những cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì họ chỉ được hưởng thừa kế theo luật cũng như chỉ được hưởng thừa kế theo di chúc nếu như họ đã thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết Nghĩa là, điều kiện trên đòi hỏi đối với cá nhân trong cả hai trường hợp: thừa kế theo luật và thừa kế theo di chúc Những người có quan điểm này dựa vào kết cấu của Bộ luật Dân sự và cho rằng, điều kiện trên quy định chung cho người thừa kế, trong khi người thừa
kế được quy định bằng một điều luật nằm trong phần những quy định chung của chế định thừa kế nên phải được áp dụng chung cho cả thừa kế theo di chúc và cả thừa kế theo pháp luật
Trái ngược với quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Mục đích của việc
quy định “phải thành thai trước khi người để lại di sản chết” là nhằm xác
định tính huyết thống giữa người sinh ra sau thời điểm mở thừa kế với người
đã chết, theo đó để xác định đứa trẻ sinh ra sau thời điểm người để lại di sản chết có phải là con của họ hay không? Nếu sinh ra sau và thành thai sau thời điểm người để lại di sản chết thì giữa họ không có quan hệ huyết thống nên