1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh việt nam

69 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 682,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó có nghĩa là thị trường ngày càng được mở rộng, các cơ hội và rủi ro trong kinh doanh nhiều hơn, phải đối mặt với những thách thức và cạnh tranh quyết liệt hơn… Với tư cách là ngư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THANH THÚY

KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG

THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Vân Anh

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tập thể giảng viên Khoa Pháp luật kinh tế, các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Đại học

Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả có thể hoàn thành

luận văn của mình

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Vân Anh - giảng viên trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt

thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè

đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ, ủng hộ để tác giả có thể hoàn thành luận

văn một cách tốt nhất

Học viên thực hiện

Đỗ Thanh Thúy

Trang 3

1.1 Khái quát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 6

1.2 Khái quát pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

thị trường

14

1.3 Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT

NAM VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG

Trang 4

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Cạnh tranh là bản chất và là cơ chế vận hành chủ yếu có tính chất kinh điển của kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, giảm chi phí

và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội và sự lựa chọn của người

tiêu dùng Vị trí thống lĩnh thị trường được hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau và

gây ra những tổn thất, hậu quả lớn cho xã hội như kìm hãm sản xuất, hạn chế sản lượng, tăng

giá bán, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời còn ngăn cản tự do kinh doanh, cản trở

cạnh tranh…

Để phát huy những lợi ích của cạnh tranh và duy trì môi trường cạnh tranh, đồng thời kiểm soát và hạn chế các mặt tiêu cực của việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thì vai

trò của Nhà nước rất quan trọng và có tính chất quyết định Trong thời gian vừa qua, hệ

thống các chính sách triển khai thực thi ở Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo ra môi

trường cạnh tranh lành mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi và có hiệu quả, năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện Song, hệ thống các chính sách của

Chính phủ vẫn nghiêng nhiều về giảm bớt khó khăn, giảm bớt bất lợi chứ chưa tạo ra những

tác động hỗ trợ pháp lý về môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và kiểm soát hành vi

lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Mặt khác, Việt Nam đang ở trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Điều đó có nghĩa là thị trường ngày càng được mở rộng, các cơ hội và rủi ro

trong kinh doanh nhiều hơn, phải đối mặt với những thách thức và cạnh tranh quyết liệt

hơn… Với tư cách là người quản lý xã hội và điều hành nền kinh tế của đất nước, Chính phủ

cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hiện tại, nghiên cứu, hoạch định các chính sách mới

theo hướng bảo đảm tự do kinh doanh, duy trì cạnh tranh, kiểm soát những hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường nhằm góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu

quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế

Trang 5

Xuất phát từ thực trạng trên, cũng như tính cấp thiết và tính thời sự của nó, tác giả lựa

chọn đề tài: “ Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh

tranh Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được hình thành từ khá sớm trong lịch sử, và dần trở thành nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi

quốc gia Ở nước ta, từ khi có chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa, chính sách cạnh tranh về vấn đề này đã bước đầu được nghiên cứu Có thể kể đến

một số tài liệu như Nguyễn Như Phát (1997), “Xây dựng pháp luật cạnh tranh trong điều

kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Phạm Duy Nghĩa

(2000), “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam: nhu cầu, khả năng và một vài kiến nghị”, Tạp chí

Nhà nước và pháp luật; Phạm Duy Nghĩa (2003), “Độc quyền hành chính: Góp phần nhận

diện và tiếp cận từ pháp Luật cạnh tranh”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Đặng Vũ Huân

(2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,

Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu

trên mang nặng tính chất chính sách và định hướng xây dựng khung cơ chế mà chưa có bước

triển khai cụ thể Cho đến khi Luật cạnh tranh chính thức ra đời năm 2004, đã có nhiều công

trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Luật cạnh tranh: Sứ

mệnh và triển vọng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Xác định thị

trường liên quan theo Luật cạnh tranh 2004”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Phan Thị Vân

Hồng (2005), Độc quyền và pháp luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay, Luận văn

thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Kim Phượng (2007), Kiểm soát hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh của Việt nam,

Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nôi; Đào Ngọc Báu (2004), “Vấn đề độc

quyền ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Lê Nết, Nguyễn Anh Tuấn (2006), “Luật

cạnh tranh và những vấn đề về hợp đồng, phân phối, tài trợ trong thương mại”, Tạp chí

nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Phân tích và luận giải

các quy định của Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc

quyền để hạn chế cạnh tranh”

Trang 6

Đến nay, Luật cạnh tranh được thi hành gần mười năm nên trong quá trình thực thi đã bộc lộ nhiều bất cập Vì vậy, với việc nghiên cứu đề tài: Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay, tác giả mong muốn tìm ra

những bất cập, nguyên nhân của bất cập trong các quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm

soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp để

hoàn thiện cơ chế này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận của nền luật học nước ta, luận văn đặt mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Nêu thực trạng bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật cạnh

tranh hiện hành trong việc kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Từ đó

đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này Từ mục

đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến vị trí thống lĩnh thị trường, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

Trang 7

Về phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau như:

phương pháp tổng hợp và phân tích để đánh giá các quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường, qua đó đưa ra hướng hoàn thiện; phương pháp so sánh và đối chiếu ( luận văn đưa ra

quy định của một số nước về vấn đề thống lĩnh thị trường, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm

cho Việt nam); kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn ( luận văn có đưa ra những vụ việc cụ

thể, thực tế giải quyết những vụ việc đó, để đánh giá chính xác tác động, hiệu quả của các

chính sách đối với nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn) Các phương pháp được thực

hiện trên nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; quan điểm

đường lối về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Về phạm vi nghiên cứu Tác giả nghiên cứu và phân tích chính sách cạnh tranh về

kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Tác giả đã dựa vào các nội dung, sử

dụng các tiêu chí và chỉ tiêu thành phần để phân tích các quy định của pháp luật, đồng thời

phân tích và nhận diện các nhân tố tích cực thúc đẩy cạnh tranh và các nhân tố hạn chế cạnh

tranh, đặc biệt là những hạn chế phát sinh từ các quy định và thể chế của Chính phủ

- Đề tài lấy ví dụ và dẫn chứng cụ thể những vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đã xảy ra trên thực tế

- Tình hình, số liệu và thời gian nghiên cứu của đề tài chủ yếu là 4-5 năm gần đây, đặc biệt là sau Hội nhập kinh tế quốc tế và khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150

của WTO

5 Những đóng góp của luận văn

Một là, Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận về kiểm soát

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, khái niệm về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

thị trường; quan niệm chung, đặc điểm và vai trò của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị

trí thống lĩnh thị trường Nêu và phân tích kinh nghiệm một số nước để chúng ta tiếp tục

nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về vấn đề này

Hai là, Luận văn đã trình bày thực trạng, tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường ở Việt Nam Hơn hết, luận văn chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân hạn chế còn tồn

Trang 8

tại trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường

Ba là, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp cụ thể dựa trên những định hướng được

căn cứ vào các quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước; của các nguyên tắc và quy luật

thị trường; và những đòi hỏi từ thực tiễn để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường ở Việt Nam có hiệu quả

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 - Một số vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG

VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 1.1 Khái quát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (dominant market position)

Do sự tập trung tư bản ở các lĩnh vực và đặc điểm kinh tế - xã hội trên các vùng lãnh thổ khác nhau nên pháp luật các nước đưa ra khái niệm nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường

cũng không giống nhau Về quan niệm vị trí thống lĩnh, pháp luật của cộng hoà Pháp đưa ra

hai cách tiếp cận khác nhau (bổ sung cho nhau) là cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách

tiếp cận mang tính thực tiễn

Dưới góc độ lý thuyết, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh, không chịu sự ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị

trường đó Quan điểm này xuất phát từ suy luận rằng hoạt động kinh doanh của một doanh

nghiệp bình thường luôn chịu sự chi phối bởi các quy luật thị trường Với vị trí thống lĩnh,

doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi sự ràng buộc đó và tự làm luật trên thị trường mà chúng

hoạt động

Dưới góc độ thực tiễn, pháp luật của Pháp có thể kết luận về sự tồn tại vị trí thống lĩnh trên một thị trường cụ thể nào đó khi trên thị trường đó xuất hiện hành vi không thể có trong

môi trường cạnh tranh thực sự Cách tiếp cận này đưa ra sự so sánh giữa thị trường cạnh

tranh giả định và một thị trường cụ thể đang xem xét Lý luận của quan điểm này là một

doanh nghiệp có hành vi lạm dụng chưa hẳn muốn lạm dụng, nhưng doanh nghiệp thực hiện

hành vi lạm dụng chắc chắn phải có khả năng lạm dụng [35]

Dù cách diễn đạt có khác nhau, song hai quan niệm trên đều mô tả vị trí thống lĩnh thị trường là khả năng thực hiện những hành vi chi phối thị trường của những doanh nghiệp cụ

thể Khả năng đó không thể là kết quả của sự suy luận chủ quan mà phải dựa trên những phân

tích từ một hành vi cụ thể có đối tượng tác động, có thể gây ra những hậu quả hạn chế cạnh

tranh trên thực tế

Trang 10

Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh 2004 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các hành vi cạnh tranh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng không đưa ra một khái niệm cụ thể

thế nào là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà đưa ra

các điều kiện để xác định vị trí thống lĩnh thị trường thông qua phương pháp định lượng , tức

là xác định qua thị phần của chúng trên thị trường liên quan ( Điều 11, Luật cạnh tranh )

Theo Điều 102 Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu (TFEU), “vị trí thống lĩnh thị trường” được định nghĩa là :“Thế mạnh kinh tế hình thành do việc thực hiện hành vi ngăn

cản cạnh tranh hiệu quả vốn được duy trì trên thị trường liên quan, thông qua đó, doanh

nghiệp có thể hành xử độc lập đáng kể trước đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là

người tiêu dùng”

“Vị trí thống lĩnh thị trường” dưới góc độ pháp luật cạnh tranh được hiểu là một

doanh nghiệp trên thị trường liên quan có khả năng tăng giá bán sản phẩm, hạn chế số lượng

sản phẩm đầu ra hoặc thậm chí hạn chế quá trình đổi mới sản phẩm và những điều này có thể

gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan [15,tr54]

1.1.2 Nguyên nhân hình thành vị trí thống lĩnh thị trường

Thị trường là sự tương tác giữa cung và cầu, qua đó xác định giá và lượng hàng hoá hoặc dịch vụ trao đổi Tính đa dạng trong hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán

hình thành nên các hình thái thị trường khác nhau Vị trí thống lĩnh thị trường có thể

được hình thành thông qua:

- Do sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp để tập trung các nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ vào một doanh nghiệp, tạo ra nhiều ưu thế hơn khi cạnh tranh, loại bỏ đối thủ, độc

chiếm và kiểm soát toàn bộ thị trường

- Liên kết và thông đồng “ngầm” giữa các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng

và vùng tiêu thụ sản phẩm, lĩnh vực sản xuất…

- Do còn tồn tại những vật cản về pháp lý, hành chính và kinh tế đối với khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng

Trang 11

- Độc quyền tự nhiên do đặc thù của công nghệ sản xuất, hoặc do đặc thù của ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh

- Vị trí thống lĩnh còn được hình thành do quyết định hành chính của cơ quan nhà nước đặc biệt là ở Việt Nam Đây là hình thức thống lĩnh để Nhà nước có thể chi phối những

lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, hoặc để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu và

bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội…Việc duy trì độc quyền Nhà

nước cũng cần phải chia thành những cấp độ nhất định và trong từng cấp độ ấy cũng phải tạo

ra áp lực cạnh tranh để nâng cao năng lực của bản thân các doanh nghiệp Nhà nước Tùy

theo lĩnh vực và ngành kinh doanh mà Nhà nước quản lý toàn diện, chặt chẽ (an ninh, quốc

phòng), hay nắm quyền kiểm soát , điều tiết và chi phối ( Ngành kinh tế công cộng, Tài chính

– Ngân hàng…)

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.3.1.Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Hiện nay, có hai xu hướng cơ bản trong pháp luật của các nước và các tổ chức quốc tế

khi mô tả về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Xu hướng thứ nhất, pháp luật đưa ra khái niệm và có những quy định cụ thể về từng

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Điển hình cho xu hướng này là các quy định

trong Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hiệp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm

1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức thương mại và phát triển Liên hiệp quốc Theo

đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh

mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị

trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh

[36, tr 52]

Xu hướng thứ hai, pháp luật không đưa ra khái niệm của hành vi mà chỉ quy định một

cách khái quát các dấu hiệu cấu thành của hành vi, đồng thời có những quy định cụ thể liệt kê

các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Ví dụ điển hình cho xu hướng này

là Pháp luật cạnh tranh của Canada Khoản 1 Điều 79 Luật cạnh tranh Canada không đưa ra

Trang 12

khái niệm mà quy định về ba dấu hiệu của hành vi này: (1) Một hoặc một nhóm doanh

nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù

trên toàn lãnh thổ Canada hay tại bất kỳ khu vực nào đó của nó; (2) Đã hoặc đang thực hiện

hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (3) Hành vi đó đã, đang hoặc

có khả năng làm cản trở hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể Bên cạnh

các dấu hiệu của hành vi được quy định trong Điều 79, Điều 78 Luật cạnh tranh Canada liệt

kê 9 nhóm hành vi phản cạnh tranh có thể bị cấm.[38]

So sánh hai xu hướng này, có thể thấy rằng sự khác biệt căn bản thể hiện ở hai điểm chính sau:(1) Khác nhau về kĩ thuật thiết kế quy phạm pháp luật Nếu như xu hướng thứ nhất

tìm cách khái quát hoá hành vi bằng một khái niệm chung thì xu hướng thứ hai tập trung vào

quy định mô tả từng hành vi cụ thể Việc liệt kê các dấu hiệu của hành vi đơn giản chỉ là

những nội dung bắt buộc phải chứng minh khi xử lý một vụ việc cụ thể về hành vi hạn chế

cạnh tranh (2) Hai xu hướng này còn khác biệt nhau ở dấu hiệu chủ quan của hành vi

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam theo xu hướng thứ hai Luật cạnh tranh năm 2004 chỉ đưa ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh mà không định nghĩa thế nào là

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi

của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm thoả thuận

hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh

tế (Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004)

Điều 13 Luật cạnh tranh 2004 liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bao gồm:

- Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

Trang 13

- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;

- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối

tượng của hợp đồng;

- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới

Như vậy, có thể hiểu “Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là những hành vi

do doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm

củng cố vị trí thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản,

kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc

nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng” [39, tr 104]

1.1.3.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Theo Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị

trí thống lĩnh thị trường trên thị trường liên quan Chế định về hành vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp đang có vị trí

thống lĩnh thị trường nhưng không chống lại vị trí của chúng trên thị trường Về mặt học

thuật, cần phải lưu ý rằng hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh trên thị trường

liên quan đã được xác lập Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xoá bỏ vị

trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh Một khi doanh nghiệp có quyền

lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thể được pháp luật

bảo vệ

Thứ hai, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đã thực hiện những hành vi mà pháp luật

quy định là hạn chế cạnh tranh trên thị trường Luật cạnh tranh năm 2004 nghiêm cấm doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện các hành vi được quy định tại Điều 13 Một hành vi của

Trang 14

doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi

nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về việc

doanh nghiệp đã thực hiện một trong số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể

quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng Dưới góc độ lý luận, hành vi lạm dụng vịt rí thống lĩnh

thị trường mang trong mình nó không chỉ những thủ đoạn lợi dụng lợi thế do sức mạnh thị

trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn là nguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt

cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường hiện tại hoặc tương lai

Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh

giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan Mỗi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ với những cách thức khác nhau

nhằm mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc bóc lột khách hàng

Trong khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh, Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh đã sử dụng hậu quả để mô tả về hành vi hạn chế cạnh tranh, theo đó hành vi hạn chế cạnh tranh là

hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Tuy

nhiên, luật không giải thích thế nào là sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh và cũng không

đưa ra những căn cứ để xác định mức độ thiệt hại gây ra Căn cứ vào quy định trên, có thể

nhận định rằng dấu hiệu về hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ được diễn tả rất khái

quát, mang tính định dạng về mặt lý luận hơn là lượng hoá bằng những căn cứ cụ thể Vì thế,

khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng buộc phải dựa vào việc phân tích từng hành vi vi phạm

để kết luận về khả năng và mức gây thiệt hại của nó đối với thị trường Theo đó, từng hành vi

có thể làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ và với những cách thức

khác nhau

1.1.4 Khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Hiểu một cách chung nhất, kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

được hiểu là: (i) tổng thể các cơ chế, thiết chế bảo đảm cho chủ thể có quyền kiểm soát hạn

chế cạnh tranh thực hiện chức năng theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện, chấp hành, tuân

thủ các quy chuẩn hành vi đạo đức và pháp luật của các chủ thể bị kiểm soát; (ii) thực hiện

Trang 15

chức năng ngăn ngừa nhằm bảo đảm cho những đối tượng này luôn nằm trong quỹ đạo của

các yêu cầu về pháp luật, các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và bảo đảm để các quy định về

cạnh tranh được thực hiện đúng và có hiểu quả; (iii) pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị

trí thống lĩnh thị trường quy định việc áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc để loại bỏ

những hoạt động sai trái và vi phạm

Bản chất của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể hiện thông qua hai góc độ hành vi và góc độ cơ chế Nhìn từ góc độ hành vi, kiểm soát sự lạm

dụng là sự tác động từ phía cơ quan, chủ thể có thẩm quyền đối với doanh nghiệp bị kiểm

soát Ở góc độ cơ chế, vấn đề này được thể hiện ở ba khía cạnh là sự phân quyền trong nội bộ

chủ thể có quyền kiểm soát; kiểm soát dựa trên sự giới hạn của chủ thể có thẩm quyền đối

với quyền tự do kinh doanh của khách thể; và kiểm soát dựa trên mối liên hệ giữa chủ thể và

khách thể kiểm soát

Về chủ thể kiểm soát, theo Luật cạnh tranh Việt nam năm 2004, Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh là hai cơ quan quản lý trực tiếp của Nhà nước về cạnh tranh

Theo kinh nghiệm xây dựng pháp luật về cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan

quản lý Nhà nước về cạnh tranh cần phải chuyên nghiệp và được tổ chức như một thực thể

độc lập tương đối với các cơ quan khác của Bộ máy Nhà nước

Về nội dung kiểm soát, hệ thống các quy định của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:

- Kiểm soát được các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cản trở cạnh tranh, loại trừ cạnh tranh

- Khuyến khích và duy trì các hoạt động cạnh tranh lành mạnh, thực hiện nguyên tắc thị trường và vận hành theo cơ chế thị trường

- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của cả cộng đồng

Trang 16

- Bảo đảm tự do kinh doanh và cạnh tranh, tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường trong khuôn khổ pháp luật để phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực với mục đích tối đa hóa lợi

- Ban hành và thực hiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thông lĩnh

Đây là biện pháp trực tiếp và cứng rắn của Nhà nước để xử lý các quan hệ, hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường gây hậu quả tiêu cực đến thị trường và xã hội

- Biện pháp điều chỉnh Để tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh và để cạnh tranh thực sự

là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển thì Nhà nước cần thiết phải đưa ra hệ thống các chính sách

điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh phù hợp với bản chất và quy luật khách quan của thị trường Đồng

thời, phải có các chế định và giải pháp chính sách cứng rắn để chống hanh vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường

Thông qua lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, có thể nhận thấy doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh luôn có động cơ để thực hiện các hành vi nhằm gia tăng lợi nhuận siêu ngạch của mình và

để củng cố vị trí thống lĩnh của mình Vị trí thống lĩnh đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh

so với các doanh nghiệp khác và đem lại khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng Những lợi

thế cạnh tranh có thể là khả năng kiểm soát các yếu tố của thị trường (như nguồn nguyên liệu, giá cả,

số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dung; khả năng tài chính; thói quen tiêu dùng của

khách hàng…) và các yếu tố tạo ra địa vị không ngang bằng trong cạnh tranh giữa doanh

nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó ( bao gồm cả đối thủ tiềm năng)

Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây khó khăn cho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc ngăn cản việc gia nhập thị trường Đối

với khách hàng, vị trí thống lĩnh đã khẳng định địa vị quan trọng của doanh nghiệp trong

cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn

Trang 17

cầu chủ yếu của thị trường Vì thế, quyền lựa chọn của khách hàng đã bị hạn chế, nhu cầu

của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Doanh nghiệp có cơ hội

để bóc lột khách hàng thông qua việc áp dụng những điều kiện giao dịch không công bằng

Chính vì những hậu quả tiềm tàng như vậy, việc điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh thị trường luôn là trọng tâm của chính sách cũng như pháp luật cạnh tranh

các nước Mục tiêu kiểm soát hành vi lam dụng vị trí thống lĩnh thị trường là bảo vệ cạnh

tranh trên thị trường, tạo ra một khuôn khổ cạnh tranh trong đó mọi doanh nghiệp đều có cơ

hội thành công hay thất bại tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh Do đó, ngay cả khi có những

doanh nghiệp phải rời bỏ thị trường do không đủ năng lực cạnh tranh, pháp luật cũng không

thể quy kết hậu quả đó cho các doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường

1.2 Khái quát pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường

Nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các quốc gia đều phải xây dựng một khung

pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Theo Giáo

sư Yves Serra, Giám đốc trung tâm nghiên cứu Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng, khoa Luật, Đại học Mortpellier, Luật cạnh tranh được hiểu là “tổng hợp các quy

phạm pháp luật áp dụng với các tác nhân kinh tế trong hoạt động cạnh tranh nhằm bảo đảm

cho cạnh tranh diễn ra một cách hợp lý, tức là không thái quá” [41] Luật cạnh tranh chính là

các biện pháp mà Nhà nước sử dụng để điều tiết, đảm bảo cho cạnh tranh không diễn ra một

cách “vô chính phủ”

Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có đặc điểm sau:

Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát hành vi thống lĩnh thị trường có tính tiếp cận từ mặt

trái Đây cũng là đặc trưng của cơ chế điều chỉnh pháp luật cạnh tranh nói chung Trong khi

các văn bản pháp luật về kinh tế khác tập trung quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ-

những việc được làm và phải làm- của chủ thể tham gia kinh doanh, thì pháp luật cạnh tranh

về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ khoanh vùng các hành vi bị

ngăn cấm trong hoạt động cạnh tranh, chứ không hướng dẫn các đối tượng điều chỉnh cần

làm những gì hoặc phải làm những gì Về mặt thực tiễn, hoạt động cạnh tranh của các doanh

Trang 18

nghiệp hết sức đa dạng và phong phú, do đó quy định đóng khung các hành vi cạnh tranh

“được phép” sẽ kìm hãm, ngăn cản sự sang tạo trong kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đên sự

phát triển của nền kinh tế Cách tiếp cận từ mặt trái của cạnh tranh phù hợp với nguyên tắc

chung của tự do trong kinh doanh, theo đó doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có thể tự do “làm

những việc mà pháp luật không cấm”

Pháp luật một số nước cũng có tính tiếp cận từ mặt trái Hiện nay, Luật cạnh tranh của

Mỹ sau khi được được bổ sung, hoàn thiện thì nội dung chủ yếu vẫn là cấm thỏa thuận hạn

chế canh tranh, cấm phân biệt đối xử về giá…Chính sách cạnh tranh của Trung Quốc, loại bỏ

các thỏa thuận, thông đồng và các hành vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là nghiêm cấm các

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Thứ hai, chế tài áp dụng đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường rất

nghiêm khắc Một điểm chung của hầu hết các cơ quan cạnh tranh trên thế giới là việc xem

phạt tiền như một hình thức răn đe hơn là biện pháp bồ thường [15, tr 61] Cụ thể, phạt tiền

không chỉ để trừng phạt hành vi vi phạm mà còn dùng để ngăn chặn việc thực hiện hành vi

phạm pháp giống và tương tự trong tương lai của những đối tượng tiềm tàng có khả năng

thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Mặc dù pháp luật mỗi quốc gia quy định khác nhau về mức phạt tiền đối với doanh nghiệp vi phạm, tuy nhiên các cơ quan cạnh tranh đều phải xem xét một số yếu tố nhất định

để tính toán mức phạt cuối cùng Trong đó, hầu hết cơ quan cạnh tranh đều nhận ra rằng tổng

số tiền phạt phụ thuộc vào mức độ vi phạm Bên cạnh những hình thức phạt truyền thống,

cũng cần lưu ý tới các cách thức khác để có thể ngăn chặn hành vi vi phạm

1.2.2 Vai trò, mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường

Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xóa bỏ vị trí thống lĩnh bằng sức mạnh Nhà nước hay bằng bất kỳ cách thức nào khác Trái lại, Nhà nước chỉ có thể áp

dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm soát vị trí thống lĩnh Bằng những thuộc tính

của mình, đặc biệt là tính quy pham và tính cưỡng chế bắt buộc, pháp luật cạnh tranh được

xem là công cụ quan trọng nhất cho việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường Tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ được kiểm soát tốt nếu như các

Trang 19

hành vi của doanh nghiệp bị kiềm tỏa bởi hệ thống các quy định của pháp luật ổn định, chặt

chẽ đi kèm những chế tài nghiêm khắc Thực tế này đã góp phần khẳng định vai trò quan

trọng của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đó

là:

Thứ nhất, góp phần duy trì tương quan thị trường trong môi trường cạnh tranh lành

mạnh Giới hạn các quyền và lợi ích của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

nhằm tránh hành vi lạm dụng Đồng thời, điều hòa lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trên

thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội Pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm

dụng vị trí thống lĩnh thị trường cho phép đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế

thị trường, ngăn chặn các tác hại của hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường

Thứ hai, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bằng con đường

cạnh tranh lành mạnh Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu cực do hành vi

lạm dụng vị trí thống lĩnh gây ra Góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế

thị trường

Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển của nguyên tắc tự do kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo

có sự quản lý và điều tiết của nhà nước Đóng góp cho việc xây dựng khung hành lang pháp

lý chống hạn chế cạnh tranh nói riêng và pháp luật kinh doanh nói riêng

Thứ tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh lành mạnh

nhưng yếu thế của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (bảo đảm quyền lợi của

các chủ thể kinh doanh khác đối với cùng một loại hàng hóa, dịch vụ ở một khu vực địa lý

nhất định) Bảo đảm quyền lợi và tăng cường sức mạnh tự bảo vệ của người tiêu dùng trước

những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp này

Pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có những mục tiêu hướng đến cụ thể Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về chính sách và pháp

luật cạnh tranh giữa các quốc gia, nhưng các quốc gia đều thống nhất về ba mục tiêu chính

của pháp luật cạnh tranh là: (1) đảm bảo một quá trình cạnh tranh hiệu quả; (2) tăng cường

phúc lợi xã hội, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng; và (3) tối đa hoá hiệu quả sản xuất,

Trang 20

kinh doanh, phân bổ các nguồn lực xã hội Vì vậy, luật cạnh tranh là công cụ để bảo vệ và

đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và người tiêu dùng[15,tr49]

Với vai trò là một bộ phận không tách rời của chính sách và pháp luật cạnh tranh, pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cũng hướng đến những

mục tiêu chung đã nêu trên Điểm quan trọng nhất cần lưu ý là mặc dù tình trạng độc quyền

của thị trường có thể dẫn đến tổn thất chung cho xã hội nhưng pháp luật cạnh tranh không

cấm các doanh nghiệp bằng sức mạnh nội tại của mình, thông qua các biện pháp cạnh tranh,

đạt được vị trí thống lĩnh Pháp luật cạnh tranh hướng tới mục tiêu hiệu quả và lợi ích người

tiêu dùng thông qua việc đảm bảo cạnh tranh trên thị trường chứ không phải bảo vệ đối thủ

cạnh tranh

Do đó, pháp luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường nhằm hạn chế, ngăn chặn việc thực hiện các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường

để loại bỏ cạnh tranh và gây thiệt hại cho người tiêu dùng Nói cách khác, việc áp dụng pháp

luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh không nhằm xoá bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp

mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để trục lợi hoặc bóp méo cạnh tranh

1.3 Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường ở Việt Nam và Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường

1.3.1 Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường ở Việt nam

1.3.1.1 Giai đoạn trước khi có Luật cạnh tranh năm 2004

Trước khi có Luật cạnh tranh năm 2004, ở Việt Nam đã có các quy định điều tiết các hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các hoạt động kinh

doanh trên thị trường nhằm tạo môi trường pháp lý cho hoạt động cạnh tranh, đảm bảo quyền

cạnh tranh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, như đã khẳng định chế độ kinh tế

Trang 21

được vận hành theo cơ chế thị trường (Điều 15), ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật

của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 22), thừa nhận nguyên tắc bảo đảm

quyền tự do kinh doanh (Điều 27)

Tiếp đó, Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định những nguyên tắc cơ bản trong giao dịch dân sự, tạo tiền đề và cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các quy định pháp luật chống

lạm dụng vị trí thống lĩnh Bộ luật dân sự năm 1995 đã khẳng định một số nguyên tắc sau:

nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp (Điều 4); nguyên tắc tự do, tự nguyện

thỏa thuận (Điều 7); nguyên tắc bình đẳng (Điều 8); nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng

nhưng không được trái pháp luật (Điều 395); nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của các chủ thể

kinh doanh khi gây thiệt hại cho các chủ thể khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của

mình (Điều 609)

Luật Thương mại năm 1997 là văn bản pháp luật đầu tiên ở nước ta quy định về nguyên tắc tự do cạnh tranh trong hoạt động thương mại “thương nhân được cạnh tranh hợp

pháp trong hoạt động thương mại” (Khoản 1 Điều 8) Tất cả các quy định nêu trên đã thể

hiện chính sách nhất quán của Nhà nước ta trong việc từng bước xây dựng một hệ thống pháp

luật cụ thể trong việc điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong hoạt động cạnh

tranh sau này

Như vậy, có thể thấy rằng, trước khi Luật cạnh tranh năm 2004 được ban hành, mặc

dù chưa có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nhưng

rải rác trong các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ở nước ta đã có những

quy định điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

1.3.1.2 Giai đoạn từ khi Luật cạnh tranh được ban hành đến nay

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

đã xuất hiện với những biểu hiện khá đa dạng và bước đầu được điều chỉnh trong khá nhiều

các văn bản pháp luật khác nhau Các văn bản pháp luật này đã góp phần tạo khung pháp lý

cần thiết cho cạnh tranh Xuất pháp từ nhu cầu thực tiễn và thực trạng pháp luật về kiểm soát

Trang 22

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, việc ban hành Luật cạnh tranh là rất cần thiết

góp phần phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường

Sau khi Luật cạnh tranh năm 2004 ra đời, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam đã ban hành một số văn bản để thực thi Luật, trong đó có văn bản quy định chi tiết thi hành

một số điều của Luật cạnh tranh, có văn bản quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

pháp luật cạnh tranh, có văn bản quy định về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của cơ quan cạnh tranh… Mặt khác, đến năm 2005, Quốc hội nước ta đã thông

qua Bộ luật dân sự mới, Luật thương mại mới, Luật doanh nghiệp mới và Luật đầu tư Những

văn bản này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

cũng là quá trình đẩy mạnh chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường

Trung Quốc ban hành Luật cạnh tranh vào năm 2007 Về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống

lĩnh thị trường, pháp luật Trung quốc cấm các doanh nghiệp đang có được vị trí thống lĩnh thị

trường: sử dụng mọi hành vi hối lộ, đút lót để có được lợi thế khi mua bán hàng hóa; nghiêm

cấm mọi hành vi bán phá giá một cách phi lý để loại trừ cạnh tranh… Trường hợp doanh nghiệp

bán phá giá hoặc hạ giá các hàng hóa tươi sống; hàng ế hoặc sắp hết hạn sử dụng; hàng hóa theo

mùa… sẽ được miễn trừ trách nhiệm Đối với các trường hợp không thuộc trường hợp miễn trừ,

các chế tài kinh tế, hành chính hoặc hình sự sẽ được áp dụng tùy theo tính chất và mức độ của

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Thanh tra Trung ương có trách nhiệm giám sát chính và có

toàn quyền xử lý các trường hợp vi phạm

Hiện nay và trong thời gian sắp tới, chính sách cạnh tranh của Trung Quốc sẽ coi trọng hơn và thực hiện kiên quyết hơn việc ngăn cấm, loại bỏ các thỏa thuận, thông đồng và các hành

vi hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường…Đồng thời, dỡ bỏ các rào

cản hành chính đối với cạnh tranh, loại bỏ độc quyền hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của

các doanh nghiệp

1.3.2.2 Mỹ

Trang 23

Chính sách cạnh tranh của Mỹ được coi là bộ phận cơ bản, đóng vai trò trung tâm của phát triển kinh tế Qua đó, có thể lý giải tại sao nước Mỹ rất tích cực trong việc xóa bỏ các kiểm

soát về giá và gia nhập thị trường Ba tiêu chuẩn trong chính sách cạnh tranh của Mỹ là: tăng

phúc lợi cho người tiêu dùng; bảo vệ quá trình cạnh tranh; tăng hiệu quả kinh tế

Theo Pháp luật Mỹ, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh như giá, sản lượng được coi là phạm pháp và phải chịu hình phạt rất nặng về tiền hoặc bỏ tù Pháp luật cạnh tranh Mỹ

được đánh giá là chặt chẽ và nghiêm khắc, có thể điều chỉnh các vấn đề phát sinh sau khi thực

hiện thay đổi thể chế trên thị trường

1.3.2.3 Canada

Pháp luật cạnh tranh Canada chủ yếu chỉ cấm đoán các hành vi có mục tiêu trừng phạt, xoá sổ hay ngăn cản đối thủ cạnh tranh và đưa đến kết quả là cạnh tranh bị ngăn cản trên thị

trường Pháp luật cạnh tranh của Canada không đưa ra khái niệm mà quy định về ba dấu hiệu của

hành vi lam dụng vị trí thống lĩnh thị trường là: (1)Một hoặc một nhóm doanh nghiệp về cơ bản

hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù trên toàn lãnh thổ

Canada hay tại bất kỳ khu vực nào đó của nó; (2) Đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh

tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (3) Hành vi đó đã, đang hoặc có khả năng làm cản trở

hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể Bên cạnh đó, Luật cạnh tranh Canada

liệt kê 9 nhóm hành vi phản cạnh tranh có thể bị cấm Tuy nhiên, cách tiếp cận này có vẻ trừu

tượng, khó xác định

Pháp luật cạnh tranh của Canada định nghĩa về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp từ quan niệm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có quyền lực thị trường Sức mạnh thị

trường là khả năng định giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng

thời gian đáng kể Với khái niệm trên, Pháp luật cạnh tranh của Canada mô tả vị trí thống lĩnh

của doanh nghiệp một cách cụ thể, được xác định từ khả năng chi phối giá của thị trường bằng

cách áp đặt và duy trì bán sản phẩm cao hơn so với giá cạnh tranh.[34]

1.3.2.4 Pháp

Việc đánh giá các yếu tố được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh của cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh Pháp có sự khác biệt với các quốc gia khác Các yếu tố bao gồm: thị phần

của doanh nghiệp; sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường, quy mô của các doanh

nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp với các tập đoàn lớn trên thị trường; xu hướng thay đổi thị

Trang 24

phần trên thị trường…Ở Pháp, cơ quan cạnh tranh cho rằng trong các tiêu chí được sử dụng,

không có tiêu chí nào có vai trò quyết định [35] Việc đánh giá tổng hợp các tiêu chí nêu trên cho

thấy doanh nghiệp có khả năng thực hiện những hành vi không thể có trong môi trường cạnh

tranh thực sự thì kết luận có vị trí thống lĩnh và ngược lại

Từ kinh nghiệm về xây dựng và điều hành chính sách kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường của một số quốc gia, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Một là, xây dựng đồng bộ và có hiệu lực hệ thống các quy định về hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường với ba tiêu chí chủ yếu là tăng phúc lợi cho người tiêu dùng, bảo vệ quá

trình cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế

Hai là, không thể có cạnh tranh khi không loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường Không có sự cạnh tranh khi khu vực kinh tế tư nhân bị chèn ép, kìm hãm và kém phát

triển

Ba là, không thể có cạnh tranh đạt hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước khi mà doanh

nghiệp nhà nước nhận được nhiều ưu đãi từ phía Nhà nước

Bốn là, điều kiện quan trọng nhất trong chính sách cạnh tranh và kiểm soát vị trí thống

lĩnh của bất kỹ một quốc gia nào là mở cửa thị trường, thực hiện đa dạng hóa và đa phương hóa,

đồng thời phải tuân thủ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, gắn chính sách cạnh tranh với

chính sách tự do hóa kinh doanh

Năm là, bộ máy quản lý Nhà nước về cạnh tranh phải chuyên nghiệp và độc lập

tương đối với bộ máy quản lý của Nhà nước Có đầy đủ nguồn lực tài chính và cán bộ để

quản lý, điều hành, phân tích, đánh giá và xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh

Ở chương một, tác giả đã khái quát và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh Việt

Nam về cơ bản có một số điểm mạnh, tương đồng với pháp luật cạnh tranh của một số nước

Bên cạnh đó, tác giả trình bày những kinh nghiệm của nước ngoài, mặc dù mỗi quốc gia có

cách làm và điều hành khác nhau, có những đặc điềm khác nhau, nhưng đều là những bài học

kinh nghiệm có giá trị và hữu ích cho các nhà quản lý hoàn thiện và hoạch định chính sách

của Việt Nam Khi vận dụng những bài học hữu ích về chính sách cạnh tranh, kiểm soát hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đòi hỏi Việt nam phải chủ động, sáng tạo và linh hoạt

để phù hợp với hoàn cảnh thực tế của hoạt động cạnh tranh trong nước

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ KIỂM

SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 2.1 Quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành về kiểm soát hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường

2.1.1 Những quy định về xác định thị trường liên quan

Xác định thị trường liên quan được xem là một bước quan trọng, mang tính quyết định đối với một vụ việc hạn chế cạnh tranh Xác định thị trường liên quan giúp đánh giá được sức

mạnh thị trường mà doanh nghiệp có được, các đối thủ cạnh tranh và tác động của hành vi do

doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thực hiện Trên thế giới, một doanh nghiệp được xem

là có vị trí thống lĩnh khi có sức mạnh thị trường đáng kể ( theo Điều 102 Hiệp ước về chức

năng của Liên minh Châu Âu)

Thông thường, cơ quan cạnh tranh xác định thị trường liên quan căn cứ trên cả phương diện sản phẩm và phương diện địa lý Mục đích của việc xác định thị trường trên cả

hai phương diện này là nhằm xác định các đối thủ cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp thống

lĩnh cũng như khả năng các đối thủ này có thể ngăn cản doanh nghiệp thống lĩnh có những

hành động đơn phương tăng giá hoặc áp đặt giá trên mức giá cạnh tranh Mặt khác, việc xác

định thị trường liên quan sẽ hỗ trợ việc tính toán thị phần (không tính đến các yếu tố khác),

qua đó xác định được sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có liên quan đối với hành vi

hạn chế cạnh tranh

Liên quan đến việc xác định thị trường liên quan, có hai phương pháp xác định chính:

xem xét khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung Trong hầu hết các trường

hợp, thị trường thường được xác định dựa trên quan điểm của khách hàng, tức là xét từ góc

độ khả năng thay thế về cầu Trên quan điểm kinh tế học, khả năng thay thế về cầu tạo nên

sức mạnh thường xuyên, có hiệu quả và ngay tức thì cho các nhà cung cấp một loại sản phẩm

cụ thể Nếu như khách hàng có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế sẵn có

hoặc chuyển sang một nhà cung cấp ở một khu vực địa lý khác, thì một doanh nghiệp, hoặc

một nhóm doanh nghiệp không bị coi là có tác động đáng kể lên những điều kiện bán hàng

thông thường như giá bán hàng hoá, dịch vụ Về cơ bản, việc xác định thị trường bao gồm

Trang 26

xác định các nguồn cung về mặt sản phẩm và vị trí địa lý của nhà cung cấp có khả năng thay

thế hiệu quả cho khách hàng của các doanh nghiệp liên quan trên thị trường

2.1.1.1 Về thị trường sản phẩm liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế được cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Khi xác định thị trường sản phẩm

liên quan, cơ quan cạnh tranh cần xác định nhóm các sản phẩm được coi là thuộc thị trường

sản phẩm liên quan để phục vụ quá trình phân tích các tác động cạnh tranh mà hành vi gây

hạn chế cạnh tranh đang bị nghi ngờ có thể gây ra đối với những sản phẩm đó

Một số phương pháp xác định thị trường liên quan mà các cơ quan cạnh tranh trên thế giới thường sử dụng, gồm: Phân tích khả năng thay thế về cầu của sản phẩm dẫn đến hình

thành một nhóm các sản phẩm mà theo đánh giá của người tiêu dùng đó là các sản phẩm có

khả năng thay thế cho nhau; Phân tích khả năng thay thế về cung trong trường hợp ảnh

hưởng của khả năng thay thế về cung tương đương với khả năng thay thế về cầu liên quan

đến tính hiệu quả và kịp thời

2.1.1.2 Về thị trường địa lý liên quan

Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể (được đo bằng khoảng cách không gian, có thể là một quận, một thành phố, một quốc gia…) trong đó có những hàng hoá,

dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt

đáng kể so với các khu vực lân cận

Vì vậy, khi xác định thị trường địa lý liên quan, cơ quan cạnh tranh cần xác định khu vực địa lý cụ thể để phục vụ quá trình phân tích các tác động cạnh tranh mà hành vi gây hạn

chế cạnh tranh đang bị nghi ngờ có thể gây ra trong khu vực đó Một số bằng chứng mà cơ

quan cạnh tranh có thể xem xét để đưa ra kết luận về thị trường địa lý liên quan như: Bằng

chứng về sự phân chia đơn đặt hàng tới các khu vực khác nhau trong quá khứ; Các đặc tính

cơ bản của cầu; quan điểm của khách hàng và đối thủ cạnh tranh; mô hình mua sắm địa lý

hiện tại; Các rào cản gia nhập và rút khỏi thị trường…

Trang 27

Tuy nhiên, khi xác định thị trường liên quan, cơ quan điều tra gặp khá nhiều vướng mắc như: (i) trong xác định thị trường sản phẩm liên quan, mức tăng giá giả định của Việt

nam chưa phù hợp, dễ dẫn đến sự lạm dụng do không có biên độ dao động cụ thể; (ii) xác

định thị trường địa lý liên quan trong thực tế gặp rất nhiều phức tạp do các loại hàng hoá,

dịch vụ trên thị trường rất đa dạng, nhiều sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau và nhu cầu

của người tiêu dùng là khác nhau nên nên điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng khác nhau; trong

xác định các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan, khó khăn đặt ra là việc phân

biệt thay thế về cung với cạnh tranh tiềm năng

2.1.2 Những quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trường

Việc đánh giá vị trí thống lĩnh thị trường phải gắn liền trong mối quan hệ với thị trường liên quan cụ thể, không thể mang tính chất trừu tượng chung chung Tức là, bản thân

doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp thống lĩnh phải có vị trí dẫn đầu trên thị trường so

với các đối thủ cạnh tranh của mình

Cần phân biệt rõ ràng giữa khái niệm “sức mạnh thị trường” và “sức mạnh thị trường đáng kể/ hoặc vị trí thống lĩnh” Sức mạnh thị trường được hiểu là khả năng doanh nghiệp có

thể thực hiện hành vi kiểm soát giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Sức mạnh thị trường

đáng kể tồn tại khi các nỗ lực cản trở cạnh tranh bởi các đối thủ cạnh tranh hầu như không có

tác động đến doanh nghiệp đó Trong trường hợp đó, các quyết định của doanh nghiệp có vị

trí thống lĩnh về sản lượng và giá cả có thể gây ảnh hưởng đến thị trường đầu ra

Việc sở hữu vị trí thống lĩnh thị trường không vi phạm Luật cạnh tranh, nhưng việc đánh giá đóng vai trò quan trọng trong việc rà soát, xác định liệu doanh nghiệp đó có khả

năng đơn phương thực hiện hành vi phản cạnh trạnh hay không Luật Cạnh tranh Việt Nam

phân định rõ ràng giữa hành vi đơn phương gây ra bởi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

thị trường và các tác động kết hợp hình thành do một nhóm các doanh nghiệp có vị trí thống

lĩnh

2.1.2.1 Xác định vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp

Trang 28

Nhằm xác định liệu một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan hay không, cơ quan cạnh tranh thường căn cứ trên nhiều yếu tố: thị phần, các rào cản gia nhập và

mở rộng sản xuất, rào cản rút lui khỏi thị trường, sức mạnh của người mua, độ co giãn về

cầu, khả năng sinh lợi nhuận, mức chênh lệch giữa giá và chi phí…

Trong các yếu tố nêu trên, thị phần là một yếu tố quan trọng được cơ quan cạnh tranh

sử dụng để đánh giá vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp trên thị trường Khi doanh nghiệp nắm

được thị phần cao trong thời gian dài trên thị trường, không cần nhiều chứng cứ cũng có thể

giả định rằng doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh Ngược lại, với doanh nghiệp có thị phần

thấp, cơ quan cạnh tranh cần thu thập thêm nhiều chứng cứ để có thể kết luận chắc chắn về vị

trí thống lĩnh của doanh nghiệp Biến động về thị phần cho thấy cạnh tranh hiệu quả giữa các

đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Theo Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh khi thuộc một trong những trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị

phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan (Trong thực tế các doanh nghiệp có vị trí thống

lĩnh thị trường như Việt nam airline, viettel, vinaphone ) Trong trường hợp này, pháp luật

đã hoàn toàn dựa vào thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường Khoản 5 Điều 3 Luật

cạnh tranh quy định thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định

là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả

các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ

phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất

cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo

tháng, quí, năm Như vậy, căn cứ để xác định thị phần là (i) tổng doanh thu hoặc doanh số

của tất cả các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan; (ii) doanh thu hoặc doanh số

của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra Doanh thu, doanh số mua vào đối với một

loại hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về thuế,

chuẩn mực kế toán Việt Nam [Điều 9 Nghị định 116/2005/NĐ-CP]

Trang 29

Như vậy, thị phần phản ánh tỷ trọng phần cung (phần cầu) của một doanh nghiệp trên tổng nguồn cung (tổng nguồn cầu) của toàn bộ thị trường liên quan Dựa vào thị phần, chúng

ta có thể xác định được khả năng của doanh nghiệp trong việc chi phối quan hệ cung cầu, từ

đó chi phối giá của sản phẩm trên thị trường Việc sử dụng một cơ sở duy nhất cho thấy pháp

luật cạnh tranh đã dùng phương pháp suy đoán mặc nhiên trong việc xác định vị trí thống

lĩnh thị trường của doanh nghiệp Theo đó, một doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên

thị trường liên quan mặc nhiên là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Cơ quan có

thẩm quyền không cần chứng minh về khả năng chi phối giá hay khả năng thực hiện các hành

vi chi phối thị trường trên thực tế của doanh nghiệp

Tuy nhiên, khi áp dụng căn cứ thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường, cơ quan điều tra gặp phải một số vướng mắc sau: (i) Thị phần luôn thay đổi theo thời gian và

theo nhu cầu của thị trường Mọi diễn biến trên thị trường hoặc những yếu tố khách quan

khác đều có thể ảnh hưởng đến cấu trúc thị phần của thị trường liên quan đó; (ii) doanh thu,

doanh số của doanh nghiệp có thể được hình thành từ nhiều thị trường liên quan Việc kiểm

tra chứng từ, sổ sách kế toán, tài chính chưa thể đem lại kết luận cần thiết và việc bóc tách số

liệu sẽ không đơn giản do cần phải biết được phân khúc thị trường để xác định thị phần; (iii)

nếu theo nguyên tắc tính thị phần, cơ quan điều tra phải cộng dồn doanh thu, doanh số của tất

cả các chủ thể trên phân khúc thị trường liên quan Tuy nhiên, trên một trục dọc các hàng

hóa, dịch vụ bị cộng dồn, doanh thu của một số doanh nghiệp đã bị cộng chồng, trong khi

lượng hàng hóa, dịch vụ luân chuyển trong các doanh nghiệp này là như nhau Để xử lý vấn

đề này, cơ quan điều tra phải tốn kém thời gian bóc tách số doanh thu của các doanh nghiệp

là đối thủ cạnh tranh với nhau, sau đó mới xác định thị phần của từng doanh nghiệp; (iv) việc

ấn định mức thị phần tương ứng với doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp không đủ để chứng

minh các doanh nghiệp này có vị trí thống lĩnh thị trường Thị phần chỉ là một trong những

chỉ tiêu đánh giá sức mạnh thị trường, nhưng cần khẳng định rằng thị phần đóng vai trò là

yếu tố quyết định

Trường hợp thứ hai: doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường có khả

năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy

định các căn cứ để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể bao gồm:

Trang 30

Năng lực tài chính của doanh nghiệp; Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân thành lập

doanh nghiệp; Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt

động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp; Năng lực

tài chính của công ty mẹ; Năng lực công nghệ; Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở

hữu công nghiệp; Quy mô của mạng lưới phân phối; Các căn cứ khác mà cơ quan quản lý

cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh cho là phù hợp

Pháp luật cho phép cơ quan có thẩm quyền được quyền sử dụng một, một số hoặc tất

cả các căn cứ trên; có quyền đánh giá về mức độ của từng căn cứ để kết luận một doanh

nghiệp cụ thể có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hay không trong từng vụ

việc cụ thể

Trường hợp này được xem là trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường trong chế định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh theo Luật

cạnh tranh 2004 Theo đó, trường hợp này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp có thị phần

thấp hơn 30% trên thị trường liên quan Những doanh nghiệp có thị phần thấp hơn 30% trên

thị trường liên quan không được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường theo tiêu chuẩn của

trường hợp thứ nhất Do đó, pháp luật sẽ mặc nhiên xem chúng không có vị trí thống lĩnh thị

trường Chỉ trong trường hợp đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền sử dụng các căn cứ trên để

xem xét về vị trí thống lĩnh thị trường Mặt khác, pháp luật không thể sử dụng phương pháp

suy đoán mặc nhiên trong trường hợp này Các căn cứ trên cho thấy doanh nghiệp bị kết luận

có vị trí thống lĩnh thị trường phải có năng lực thực tế để thực hiện một hành vi gây ra hậu

quả hạn chế cạnh tranh đáng kể trên thị trường Năng lực đó được chứng minh bằng năng lực

tài chính của doanh nghiệp, của nhà đầu tư, của công ty mẹ, của những người kiểm soát

doanh nghiệp; khả năng chi phối mạng lưới phân phối, khả năng chi phối thị trường bằng

trình độ công nghệ…Nói cách khác, khả năng gây hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp phải

thực tế mà không thể là suy đoán Quy định về vị trí thống lĩnh trong trường hợp này đã mở

rộng phạm vi của khái niệm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với những doanh

nghiệp dù chưa tích luỹ đủ thị phần theo yêu cầu nhưng do những sức mạnh khác từ bên

ngoài hay tiềm tàng bên trong đã giúp cho doanh nghiệp có thể thao túng thị trường

Trang 31

Có thể nói phương thức này đã khắc phục cho những hạn chế đã được nói ở trên của phương thức xác định qua thị phần; góp phần đấu tranh phòng và chống các hành vi lạm

dụng sức mạnh tài chính, công nghệ từ giai đoạn đầu; bảo đảm sự phát triển lành mạnh của

thị trường và sự ổn định của môi trường kinh doanh Mặc dù vậy, các quy định về xác định

khả năng gây hạn chế đáng kể mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các tiêu chí cần được xem xét

và trao quyền lựa chọn căn cứ áp dụng cho cơ quan quản lý cạnh tranh, mà không đưa ra một

con số định lượng cụ thể như mức tài chính của công ty mẹ, của những người có quyền kiểm

soát là bao nhiêu… Điều đó dễ dẫn đến sự chủ quan, tùy tiện trong khi áp dụng, cũng như

không đảm bảo việc xử lý được công bằng và hợp lý

2.1.2.2 Xác định vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp

Bên cạnh sự tồn tại của vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp, còn có thống lĩnh thị trường kết hợp của nhóm doanh nghiệp Theo Khoản 2 Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004,

nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi thoả mãn đủ hai điều kiện sau:

- Các doanh nghiệp đã hoặc đang thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh;

- Tổng thị phần của nhóm doanh nghiệp đạt các mức sau: hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở

lên trên thị trường liên quan; bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị

trường liên quan

Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế năm 2012 được Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) công bố cho thấy, nhiều lĩnh vực đang có sự tập trung

thị trường lớn và có tới 7 lĩnh vực đang tồn tại độc quyền nhóm Trong 5 lĩnh vực sản xuất

trong báo cáo, có tới 4 ngành: ngành ô tô tải, kính xây dựng, bột giặt và dầu thực vật được

coi là có độc quyền nhóm khi bột giặt có mức độ tập trung độc quyền nhóm cao nhất với 3

doanh nghiệp đã nắm giữ trên 98% thị phần; ngành dầu thực vật có 3 doanh nghiệp nắm

80,44% thị phần; ôtô tải cũng có 3 doanh nghiệp nắm giữ trên 65%

Ở khối dịch vụ, bảo hiểm phi nhân thọ có 3 doanh nghiệp dẫn đầu nắm giữ thị phần là 76,7%, lĩnh vực truyền hình trả tiền có 3 doanh nghiệp nắm giữ thị phần 65% Riêng ở lĩnh

Trang 32

vực vận tải biển, mảng kinh doanh cảng biển có mức độ tập trung khá cao khi có 3 doanh

nghiệp lớn nhất đã nắm trên 65% thị phần “Thị trường bột giặt mang tính tập trung cao nhất,

một doanh nghiệp thống lĩnh khoảng 2/3 thị phần (Uniliver), doanh nghiệp thứ 2 chiếm 1/4

thị phần (Tide), 2 doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 10% thị

phần còn lại dành cho doanh nghiệp trong nước”, báo cáo chỉ rõ Ở lĩnh vực sản xuất dầu

thực vật, Công ty Dầu thực vật Cái Lân - liên doanh với nước ngoài chiếm 41,5% thị phần,

tiếp đó là Công ty cổ phần Dầu thực vật Tường An chiếm 22,17% (doanh nghiệp cổ phần và

Nhà nước giữ 51% vốn) Ngành công nghiệp ô tô, sức mạnh thị trường đang tập trung ở 2

doanh nghiệp lớn, Công ty ô tô Trường Hải đang dẫn đầu về số lượng xe tiêu thụ và chiếm

28,9% thị phần, Công ty Toyota Việt Nam lùi xuống thứ 2 chỉ còn 27,08% thị phần Tiếp đến

là Vinamotor chiếm giữ 18,85% thị phần [17]

Các quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường được đặt ra từ thực tế của thị trường Theo đó, trên thị trường xuất hiện hiện tượng nhiều doanh nghiệp thực

hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng giữa chúng không có thoả thuận hoặc

không đủ bằng chứng để kết luận giữa chúng có thoả thuận Cơ quan có thẩm quyền không

thể sử dụng các quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh để xử lý các doanh nghiệp vì

khuyết điều kiện có sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu không xử lý

thì hành vi của các doanh nghiệp sẽ gây ra những hậu quả hạn chế cạnh tranh khó khắc phục

được Trong tình huống này, nhà nước bị đặt vào tình trạng xung đột giữa căn cứ xử lý hành

vi và bảo vệ thị trường cạnh tranh Do không đủ căn cứ để khẳng định các doanh nghiệp đã

tham gia vào một thoả thuận hạn chế cạnh tranh nên nhà nước không thể xử lý họ Vì vậy,

pháp luật cạnh tranh đã đưa ra khái niệm nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

để giải quyết vấn đề trên Như vậy, quy định về nhóm doanh nghiệp thống lĩnh được đặt ra để

giải quyết tình trạng một số doanh nghiệp đã hoặc đang thực hiện một hành vi hạn chế cạnh

tranh nhưng không có căn cứ để kết luận giữa họ có sự thoả thuận

Điều kiện về việc thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh là cơ sở để gom các doanh nghiệp độc lập thành một nhóm doanh nghiệp Theo đó, khi các doanh nghiệp chưa có

hành vi hạn chế cạnh tranh thì chúng vẫn còn tồn tại độc lập với tư cách là đối thủ cạnh tranh

của nhau trên thị trường liên quan Chúng ta không thể chỉ định một sô doanh nghiệp nào đó

Trang 33

có tổng thị phần 50%, 65%, hoặc 75% trên thị trường và khẳng định chúng là nhóm doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh khi chưa thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh Việc chúng cùng

thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh mà không có thoả thuận là điều kiện cần để hình thành

một nhóm doanh nghiệp theo quan điểm của Luật cạnh tranh

Điều kiện đủ để hình thành nhóm doanh nghiệp thống lĩnh là tổng thị phần của nhóm doanh nghiệp đó Điều kiện này phải được hiểu là khi có hai doanh nghiệp cùng thực hiện

hành vi hạn chế cạnh tranh , hai doanh nghiệp đó sẽ là nhóm doanh nghiệp thống lĩnh khi

tổng thị phần ở mức ít nhất là 50% trên thị trường Điều kiện này được hiểu tương tự với

nhóm 3 hoặc 4 doanh nghiệp Trong những trường hợp trên, hành vi của hai, ba hoặc bốn

doanh nghiệp đã bị Luật cạnh tranh gọi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và bị

xử lý theo quy định của pháp luật Như vậy, có thể thấy rằng, đã có sự khác biệt trong việc

xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh của một số doanh nghiệp khi có thoả thuận và khi không có

(hoặc không xác định được) thoả thuận (1) Trong trường hợp hành vi hạn chế cạnh tranh là

kết quả của một thoả thuận (cho dù chưa được thực hiện trên thực tế) của các doanh nghiệp

(không hạn chế số lượng) thì Luật cạnh tranh sẽ xử lý khi tổng thị phần của chúng ở mức ít

nhất 30% trên thị trường liên quan (đối với các thoả thuận quy định tại khoản 1,2,3,4,5 Điều

8 Luật cạnh tranh), hoặc không cần điều kiện về thị phần (đối với các thoả thuận theo khoản

6,7,8 Điều 8 Luật cạnh tranh) Trong những trường hợp này, nhà nước đã xác định được ý chí

thực sự của các doanh nghiệp thực hiện hành vi thông qua sự thoả thuận của họ (2) Trong

trường hợp không có hoặc không xác định được giữa các doanh nghiệp có thoả thuận thì

hành vi hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp chỉ bị xử lý khi số lượng doanh nghiệp thực

hiện hành vi tối đa là 04 với các mức thị phần tương ứng để xử lý Trong trường hợp này,

điều kiện để xử lý hành vi được quy định khắt khe hơn so với trường hợp có thoả thuận Theo

đó, hành vi hạn chế cạnh tranh phải đã hoặc đang thực hiện trên thực tế; các mức thị phần để

có thể xử lý luôn cao hơn (vì vậy nếu hai doanh nghiệp thực hiện hành vi mà không có thoả

thuận thì mức thị phần từ 30% đến tiệm cận 50% sẽ không bị xử lý; tương ứng với các mức

từ 30% đến tiệm cận 65% dành cho 3 doanh nghiệp…); trong trường hợp có từ 5 doanh

nghiệp trở lên thực hiện cùng một hành vi hạn chế cạnh tranh mà không có thoả thuận thì

pháp luật sẽ không quy kết là nhóm thống lĩnh Dưới góc độ kinh tế, khi thị trường có một số

Trang 34

lượng doanh nghiệp đáng kể (từ 5 trở lên) cùng tham gia một sản xuất kinh doanh một loại

hàng hoá, dịch vụ thì đã đủ hình thành cơ cấu thị trường có tính cạnh tranh [38]

Quy định về nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là giải pháp pháp lý để đối phó với những hành vi hạn chế cạnh tranh do một nhóm không đáng kể doanh nghiệp thực hiện

trên thực tế mà nhà nước và pháp luật không thể xử lý theo các quy định về thoả thuận hạn

chế cạnh tranh Trong trường hợp này, việc gom các doanh nghiệp thành nhóm và khẳng định

chúng có vị trí thống lĩnh thị trường hoàn toàn do ý chí của nhà nước áp đặt từ việc các

doanh nghiệp thực hiện cùng một hành vi gây ra hạn chế cạnh tranh trên thị trường

2.1.3 Những quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê sáu nhóm hành vi được coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP từ Điều

23 đến Điều 31 Mặc dù pháp luật cạnh tranh không phân loại hành vi, nhưng căn cứ vào tính

chất và mục đích của chủ thể thực hiện có thể phân chia hành vi lạm dụng thành hai nhóm:

Lạm dụng mang tính trục lợi, bóc lột; và lạm dụng mang tính loại bỏ đối thủ Dù ở nhóm nào,

hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đều gây hậu quả lớn đến

nền kinh tế và môi trường kinh doanh Bởi lẽ đó, Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cấm tuyệt

đối các hành vi này mà không có chính sách miễn trừ

2.1.3.1 Hành vi lạm dụng mang tính loại bỏ đối thủ

Hành vi lạm dụng mang tính loại bỏ đối thủ là hành vi có tác động ngăn cản cạnh tranh trên thị trường liên quan bằng cách loại bỏ hoặc cản trở các đối thủ cạnh tranh hiện tại

và/hoặc tăng các rào cản gia nhập thị trường đối với các đối thủ tiềm năng Hành vi lạm dụng

mang tính loại bỏ đối thủ bao gồm:

Thứ nhất, hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định trừ những trường

hợp đặc biệt, bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc

bán hàng với mức giá thấp hơn tổng các chi phí sau đây:

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm