1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên

73 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 658,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Phượng

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Vũ Thị Anh Đào

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 6

1.1.1 Khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên 6

1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự 8

1.1.3 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên 12

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 14

1.2.1 Cơ sở lý luận 14

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 18

1.3.1 Ý nghĩa chính trị 18

1.3.2 Ý nghĩa pháp lý 19

1.3.3 Ý nghĩa xã hội 20

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 21

2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 21

2.1.1 Trong giai đoạn điều tra, truy tố 21

2.1.2 Trong giai đoạn xét xử những vụ án có bị cáo là người chưa thành niên 33

2.2 THỰC TIỄN THI HÀNH HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 39

2.2.1 Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với vụ án mà bị can là người chưa thành niên 39

2.2.2 Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố đối với vụ án mà bị can là người chưa thành niên 44

2.2.3 Kiểm sát các hoạt động xét xử đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 47

Trang 4

CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 51

3.1 HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 51

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 57

3.2.1 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và tổng kết rút kinh nghiệm nghiệp vụ 57

3.2.2 Nâng cao chất lượng cán bộ của ngành kiểm sát 59

3.2.3 Tăng cường về cơ sở vật chất cho ngành kiểm sát 62

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2002

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự có bị can, bị cáo là người chưa thành niên (NCTN) là thể hiện cụ thể một trong những chức năng của VKS, bảo đảm việc giải quyết vụ án có bị can, bị cáo là NCTN được chính xác, nhanh chóng, đảm bảo quyền con người của NCTN, đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước nhằm góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế

và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp

Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ " Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án

Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong công tác của mình, VKS đã thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong vụ án hình sự nói chung, cũng như vụ án có bị can, bị cáo là NCTN nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, như: Vẫn còn tình trạng bắt, tạm giam, tạm giữ NCTN chưa đáp ứng được điều kiện, yêu cầu của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); việc tạm giam NCTN còn được áp dụng tương đối phổ biến trong khi đó biện pháp giám sát tại gia đình và cộng

Trang 7

đồng thì lại ít được áp dụng trên thực tế, mặc dù đây là biện pháp tốt đối với quá trình giáo dục, cải tạo đối với NCTN; các quyền cơ bản của NCTN trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đặc biệt là quyền bào chữa của họ vẫn chưa được đảm bảo, điều này dẫn đến tình trạng oan sai, vi phạm quyền con người của NCTN đang còn xảy ra;

về đội ngũ cán bộ tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên; Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả năng giao tiếp, làm việc với NCTN Những bất cập trên vẫn còn xảy ra, và có xu hướng gia tăng, chính vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu, sửa đổi các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan để hoàn thiện hơn thủ tục tố tụng đối với người thành niên nói chung và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có NCTN nói riêng

Từ các lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên" làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý hình sự, thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã được một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau

Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục tố tụng đối với NCTN như

luận văn thạc sỹ của Nguyễn Ngọc Thương với đề tài: Thủ tục TTHS đối với những vụ

án do NCTN thực hiện - Lý luận và thực tiễn năm 2006, Luận án tiến sỹ luật học của

tác giả Đỗ Thị Phượng với đề tài Thủ tục tố tụng đối với NCTN – một số vấn đề lý luận

và thực tiễn, tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008

Về đề tài khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội của tập thể tác giả: Nguyên tắc

nhân đạo trong các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS đối với NCTN ở Việt Nam, năm 2005 Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập đến những

vấn đề lý luận chung hoặc nghiên cứu những đề tài khác nhưng có một số nội dung

liên quan đến thủ tục tố tụng đối với NCTN như cuốn: Tăng cường năng lực hệ

thống tư pháp NCTN tại Việt Nam, thông tin khoa học pháp lý của Viện nghiên cứu

khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2000; hay cuốn: Thủ tục điều tra và xét xử liên

quan đến trẻ em và NCTN: Đánh giá về các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của

Trang 8

Tòa án nhân dân (TAND); Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội với công trình: Đào

tạo kiểm sát viên làm việc với NCTN (Sách dự án Danida)

Bên cạnh đó, một số tác giả đã công bố các tác phẩm liên quan đến thủ tục tố tụng đối với NCTN như :

- Tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: Áp dụng các quy định của BLTTHS

về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3

năm 2007;

- Tác giả Mai Bộ với bài viết: Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số

6 tháng 3 năm 2007 ;

- Tác giả Phan Trung Hoài với bài viết: Vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của

NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007

Như vậy, nghiên cứu về thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã có rất nhiều người nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Riêng về vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án có NCTN nói riêng còn chưa được quan tâm nghiên cứu sâu sắc

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên" nhằm làm rõ bản chất của hoạt động này trong giải quyết vụ án có bị can, bị cáo là NCTN và những đặc trưng cơ bản của hoạt động này trong vụ án có NCTN tham gia Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án

có NCTN tham gia Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án có NCTN

Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm sáng tỏ lý luận bị can, bị cáo là NCTN; về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng có bị can, bị cáo là NCTN

- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết các vụ án hình sự có bị can, bị cáo là NCTN, từ đó thấy được những ưu điểm, tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vụ án có NCTN Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm 2008 đến nay

4 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn

Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát của VKS giải quyết các vụ án

có bị can, bị cáo là NCTN Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án có NCTN Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình

Trang 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

hoạt động tố tụng hình sự đối với bị can, bị cáo là NCTN

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về

kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân đối với bị can, bị cáo là NCTN và thực tiễn thi hành

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất

lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN

Trang 11

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT

TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1.1 Khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Người chưa thành niên là thuật ngữ được dùng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh

vực khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lí học, luật học Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam, năm 2002 đã đưa ra khái niệm về NCTN như sau: “NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” Dựa vào khái niệm này

chúng ta có thể xác định được NCTN trên hai góc độ: Thứ nhất, NCTN là người

chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm sinh lí) Điểm đặc trưng của lứa tuổi này là sự phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm sinh lí NCTN là người đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình Đối với NCTN, do tư duy của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp,

khả năng tự kiềm chế chưa cao Thứ hai, NCTN đang ở một độ tuổi nhất định và

họ chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Độ tuổi là sự phân chia ranh giới giữa NCTN và người thành niên, sự phân chia này phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khách quan của xã hội Việc xác định độ tuổi như thế nào cho phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan tới nhiều chính sách lớn của Nhà nước trong quản lý xã hội Ở Việt Nam, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công tới nay, Nhà nước Việt Nam

đã nhất quán xác định độ tuổi ranh giới này là 18 tuổi tròn Như vậy độ tuổi đối với một người có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân là đủ 18 tuổi Quy tắc Bắc Kinh

Trang 12

được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29 - 11 - 1985 cũng đưa ra định nghĩa: “NCTN là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật ” (phần

I - khoản 22 - mục a)1 Những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo

vệ NCTN bị tước quyền tự do thông qua ngày 14 - 12 - 1990 đã bổ sung: “NCTN là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được luật xác định ”

(phần II - khoản 11 - mục a)2 Theo quy định này thì phạm vi độ tuổi của NCTN được giới hạn từ 0 đến dưới 18 tuổi3 Trên cơ sở giới hạn độ tuổi của Hiến pháp, qua tham khảo các quy định của Liên Hợp quốc, các văn bản pháp luật Việt Nam cũng giới hạn độ tuổi cho NCTN Mặc dù đều nhằm mục đích bảo vệ quyền trẻ em nhưng

do khách thể bảo vệ trong từng ngành luật khác nhau nên độ tuổi của NCTN cũng được quy định khác nhau

Đối với NCTN có những hành vi phạm tội thì việc xác định một độ tuổi nhất định không những có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn gắn liền với trách nhiệm hình sự Điều 68 Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” Dựa trên quy định về NCTN phạm tội trong BLHS, chúng ta có thể hiểu “NCTN phạm tội là người phạm tội từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi được hưởng chính sách hình sự riêng biệt có tính giảm nhẹ”4 Quy định vấn đề NCTN phạm tội trong luật hình sự gắn liền với việc xác định chủ thể của tội phạm và tội phạm nói chung Một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì đều không phải là tội phạm Ngoài ra, quy định vấn

đề NCTN phạm tội trong luật hình sự còn có ý nghĩa thể hiện nguyên tắc cá thể hoá

1

Liên Hợp Quốc (1985), Quy tắc tối thiểu phổ biến về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc

kinh) thông qua 29/11/1985

2 Liên Hợp Quốc (1990), Những quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do

Trang 13

trách nhiệm hình sự, nguyên tắc giáo dục, giúp đỡ NCTN phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội NCTN phạm tội cũng có thể bị áp dụng hình phạt nhưng đó chỉ là biện pháp cuối cùng

Như vậy, căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên và căn cứ vào quy định của BLTTHS về khái

niệm bị can, bị cáo thì có thể hiểu: Bị can là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa

đủ 18 tuổi bị khởi tố về hình sự Bị cáo là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử

1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Năm 2013, Hiến pháp mới được ban hành Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 thì VKS nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con

người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất So với Hiến pháp năm 1992 thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát không có gì thay đổi

Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã thể chế hóa quy định của Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ của VKSND Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức VKSND thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau được quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002

- Khái niệm “Kiểm sát”:

Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia xuất bản năm 2000, thì “kiểm sát”

có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước

Còn theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên sọan, thì “kiểm sát” là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan Nhà nước

Trang 14

Theo Từ điển luật học do Viện Khoa học pháp lý - Bộ tư pháp xuất bản năm

2006, thì “kiểm sát hoạt động tư pháp” là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng

Theo cách giải thích khái niệm “kiểm sát” của các cuốn Từ điển nêu trên,

chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản - giám sát và kiểm

tra Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó Hoạt

động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của người, cơ quan bị kiểm

tra Người kiểm tra có quyền kiểm tra bất kỳ lúc nào, có quyền yêu cầu bên bị kiểm tra cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan để xác định hoạt động của đối tượng bị kiểm tra có đúng quy định của pháp luật hay không và nếu có sai phạm thì sai phạm

ở chỗ nào, theo điều khoản nào của văn bản pháp luật nào? Người thực hiện hoạt động kiểm sát, cũng như người thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát không phải là người trực tiếp hay gián tiếp thực hiện các hoạt động của người bị kiểm sát, của người bị kiểm tra, bị giám sát Người tiến hành hoạt động kiểm sát là người “đứng ngoài” hoạt động đó Ví dụ, kiểm sát điều tra cũng như các hoạt động kiểm sát khác, chẳng hạn như kiểm sát thi hành án , hoạt động điều tra, hoạt động thi hành

án là đối tượng bị kiểm sát thì VKS không phải là cơ quan thực hiện các hoạt động thi hành án, thực hiện các hoạt động điều tra Hoạt động điều tra, hoạt động thi hành án do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác tiến hành và Viện kiểm sát chỉ là người, cơ quan “đứng ngoài” kiểm sát hoạt động của các cơ quan này để bảo đảm hoạt động điều tra, thi hành án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, tuân thủ pháp luật Khi phát hiện hoạt động điều tra, hoạt động thi hành án có vi phạm pháp luật, thì VKS phải tiến hành các hoạt động: kiểm tra, xác minh để tìm chứng cứ khẳng định hoạt động điều tra, thi hành án… có vi phạm pháp luật, sau đó VKS áp dụng biện pháp phù hợp để loại trừ vi phạm, như kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để loại trừ vi

Trang 15

phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm Trong trường hợp khẩn cấp VKS có quyền tạm đình chỉ việc thực hiện quyết định, hành vi vi phạm pháp luật để chờ quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền Nếu cơ quan, người đã có hành vi vi phạm mà không loại trừ vi phạm đó thì cơ quan có thẩm quyền cấp trên của người đó, cơ quan đó phải có trách nhiệm áp dụng biện pháp khắc phục vi phạm một cách triệt để

- Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự:

Theo pháp luật TTHS Việt Nam, TTHS là toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án Nói cách khác, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia

tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật”5, các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm:

+ Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự: là hoạt động của các cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Đây là các cơ quan

có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự

+ Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm

vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự

+ Hoạt động của những người tham gia tố tụng: Bao gồm hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của người tham gia tố tụng nhằm giúp

5 Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, 2005

Trang 16

cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)

Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan,

tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, trong một chừng mực nhất định, đây cũng là các hoạt động tố tụng hình sự

Trong lý luận cũng như thực tiễn, có một vấn đề dễ gây nhầm lẫn là xác định thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp, thế nào là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hai hoạt động khác nhau, mà cụ thể là khác nhau về đối tượng Theo đó, thứ nhất, hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động chỉ do các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thực hiện một số thẩm quyền tư pháp chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện Đây là những hoạt động

có tính quyền lực nhà nước Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự hay kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tố tụng hình sự không chỉ là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự mà còn bao gồm cả những hoạt động của các cơ quan, tổ chức không phải là các cơ quan tư pháp, hoạt động của những người tham gia tố tụng, không mang tính quyền lực Nhà nước

Thứ hai, hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự bao gồm những dạng thực hiện pháp luật ở mức độ cao: áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật – do các dạng thực hiện pháp luật này gắn với chức năng, nghề nghiệp của những người tiến hành

tố tụng Trong khi đó, những hoạt động tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự bao gồm cả các dạng thực hiện pháp luật ở mức độ thấp, gắn với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của những người tham gia tố tụng (tuân thủ pháp luật – kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm, chấp hành pháp luật – thực hiện nghĩa vụ một cách tích cực)6

6 Lê Lan Chi (2007), “Phân biệt khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật và các khái niệm liền kề”, Tạp chí Nghề luật, số 5/2007

Trang 17

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi thì: Kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong tố tụng hình sự là việc kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với các hoạt động cụ thể của các cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự, của các cơ quan khác được giao một số thẩm quyền điều tra trong quá trình tố tụng hình sự, của người tham gia tố tụng hình sự hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong tố tụng hình sự

1.1.3 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, ngoài việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung như vụ án thông thường khác, VKS còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tuân theo các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp lý có liên quan nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN là bị can, bị cáo trong vụ án Tránh trường hợp bị can, bị cáo là NCTN bị áp dụng những biện pháp mà BLTTHS cấm

áp dụng hoặc hạn chế áp dụng như tạm giam, áp dụng hình phạt quá nặng

Khi thực hiện việc bảo vệ quyền con người, VKS thực hiện đồng thời hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Nếu kiểm sát việc tuân theo pháp luật được thực hiện để phát hiện nhanh chóng các vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng thì thực hành quyền công tố là chức năng để VKS buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo pháp luật Do tính chất khác nhau của từng giai đoạn mà vai trò bảo vệ NCTN biểu hiện ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là giai đoạn điều tra và truy tố, xét xử

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

hoạt động tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN là việc kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với các hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và một số

cơ quan có thẩm quyền điều tra khác trong quá trình tố tụng hình sự khi điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Trang 18

Đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án có bị can, bị cáo là người từ đủ 14 đến chưa đủ 18 tuổi bị khởi

tố về hình sự hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử…

Như vậy, từ khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN như sau:

Thứ nhất, đây chính là nội dung của chức năng kiểm sát các hoạt động tư

pháp nói chung của VKS được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản khác Đây

là một trong những chức năng cụ thể hóa của VKS, trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của mình, trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, VKS tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là quyền của NCTN

Thứ hai, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ

án có NCTN là bị can, bị cáo chính là các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp

và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng hình sự đối với NCTN Đây chính là nội dung quan trọng, có ý nghĩa phân biệt kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự nói chung và vụ án có NCTN nói riêng

Điều này nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng nói chung

và hoạt động tố tụng đối với NCTN nói riêng

Thứ ba, phạm vi của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án

có bị can, bị cáo là NCTN chính là những vụ án được khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử mà người bị khởi tố, bị đưa ra xét xử là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cho đến khi họ dưới 18 tuổi Đây là những trường hợp mà BLTTHS và các văn bản pháp luật khác quy định là lứa tuổi chưa thành niên, cần được bảo đảm về các quyền con người tối thiểu

Thứ tư, mục đích của việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị

can, bị cáo là NCTN chính là việc đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố, xét xử đối

Trang 19

với vụ án có NCTN Bên cạnh đó, mục đích của hoạt động kiểm sát này còn nhằm đảm bảo các quyền của NCTN trong vụ án được bảo đảm một cách triệt để tuân theo đầy đủ các quy định của BLTTHS, BLHS và các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.2.1 Cơ sở lý luận

Trước hết, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của NCTN nói chung và NCTN

tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự nói riêng mà hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong những vụ án có bị can, bị cáo là NCTN cần phải tiến hành khác với những vụ án có bị can bị cáo là người đã thành niên Chính vì vậy mà pháp luật TTHS

có những quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN

NCTN trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là người đang ở độ tuổi phát triển mạnh về thể chất và tinh thần Đây là thời kì chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn Bên cạnh những NCTN đang cố gắng trau dồi kiến thức, nỗ lực vươn lên tự hoàn thiện mình thì vẫn còn có một số thiếu sự rèn luyện nghiêm túc

Họ luôn có thói quen dựa dẫm, thiếu cương quyết và không có khả năng độc lập giải quyết những vấn đề đang đặt ra trước cuộc sống Do đặc điểm tâm sinh lý của NCTN như vậy nên khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã thực hiện và khả năng tự kiềm chế nói chung còn yếu Mặt khác, sự hiểu biết về pháp luật của họ rất hạn chế, đồng thời do tuổi còn trẻ nên ý thức phạm tội của NCTN nói chung chưa sâu sắc7 NCTN là người rất dễ bị kích động, lôi kéo vào con đường phạm tội nhưng cũng là người dễ uốn nắn, giáo dục nếu chúng ta kịp thời có những biện pháp đối với họ Năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội và năng lực điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của xã hội của họ có ảnh hưởng rất lớn đến việc Nhà nước cần đưa ra nguyên tắc xử lý đối với họ như thế nào cho phù hợp

Chính từ đặc điểm phát triển tâm sinh lý không ổn định của NCTN một mặt nó làm

7 Dương Tuyết Miên (2003), Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học,

Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

Trang 20

cho NCTN rất dễ lôi kéo vào con đường phạm tội, nhưng mặt khác nó hình thành phẩm chất tâm lý tiêu cực nhưng không có tính bền vững, do vậy khả năng cải tạo NCTN phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội có thể đạt được hiệu quả cao nếu Nhà nước có những biện pháp xử lý thích hợp đối với họ Chính vì vậy, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đối với NCTN thì VKS cũng cần phải kiểm sát chặt chẽ các vấn đề mang tính thủ tục và bắt buộc đối với vụ án có NCTN này Có như vậy, mới có thể đạt tới nhiệm vụ của TTHS đặt ra trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của NCTN khi tham gia vào các hoạt động tố tụng, xác định sự thật khách quan của vụ án và giáo dục công dân tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội

Thứ hai, xuất phát từ chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với

NCTN phạm tội Chính vì vậy, nên hoạt động của VKS trong vụ án có bị can, bị cáo cần phải được thực hiện một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền của NCTN bị buộc tội, thực hiện tốt chính sách của Nhà nước đối với NCTN

Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về vấn đề giải quyết đối với NCTN phạm tội đó là: “Việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (Điều

69, khoản 1 BLHS) Điều đó cho thấy, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến NCTN dù họ là người bị buộc tội Mục đích chủ yếu của Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN là nhằm giúp đỡ, giáo dục họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội Tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã được cụ thể hoá thành những nguyên tắc cơ bản về đường lối xử lý những hành vi phạm tội của NCTN quy định tại Điều 69 BLHS Quyền lợi của NCTN trong các hoạt động tố tụng thể hiện ở chỗ: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN cần được đối xử theo cách thức phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trên tinh thần tôn trọng nhân cách, phẩm giá và các quyền tự do cơ bản của các em cũng như tăng cường lòng tôn trọng của trẻ em đối với các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của người khác nhằm mục đích giáo dục, thúc đẩy sự tái hoà nhập của NCTN trong cộng đồng, tránh làm cho các em có những ác

Trang 21

cảm, mặc cảm với mọi người, với xã hội8

Thứ ba, xuất phát chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của VKS trong tố tụng

hình sự là đảm bảo các hoạt động TTHS được thực hiện đúng các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền con người trong TTHS

Như trên đã phân tích, bị can, bị cáo là NCTN nói riêng và NCTN trong tố tụng hình sự nói chung là chủ thể đặc biệt cần được quan tâm và hỗ trợ từ các cơ quan tiến hành tố tụng VKSND là cơ quan nhà nước có chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp Trong TTHS, VKSND ngoài chức năng thực hành quyền công tố để truy tố người thực hiện hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử một cách nghiêm minh thì còn một chức năng rất quan trọng khác là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Trong TTHS chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS được thực hiện xuyên suốt từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án đã được thi hành bao gồm: hoạt động khởi tố, điều tra, xét xử, thi hành án

Với một đối tượng đặc thù, cần được quan tâm như NCTN, với chức năng hiến định của VKS do đó, cần thiết phải có các quy định cụ thể về thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN nói chung cũng như hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự đối với NCTN nói riêng Quy định này góp phần bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS cũng như thực hiện tốt hơn chức năng của VKS trong TTHS

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Thứ nhất, xuất phát từ tình hình tội phạm là NCTN ở Việt Nam

Sự tồn tại tình trạng tội phạm của NCTN cho tới ngày nay là một cơ sở chứng minh cho sự cần thiết của các quy định về hình sự và TTHS đối với họ Đồng thời việc quy định thủ tục đặc biệt đối với NCTN nói chung và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN là một trong những biện pháp để hạn chế tình trạng tội phạm ở NCTN Bởi vì, bên cạnh tác dụng giáo dục NCTN, các biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng còn có tác dụng nhất định đến việc ngăn chặn tội phạm

8

Đỗ Thị Phượng- Lê Cảm (2004), “Tư pháp hình sự đối với NCTN: Những khía cạnh pháp lý hình sự,

TTHS, tội phạm học và so sánh luật học”, Phần thứ hai, Tạp chí TAND (21), Hà Nội Trang 3

Trang 22

NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội còn hạn chế, do đó chịu tác động rất lớn từ những nguyên nhân khách quan trong quá trình hình thành và phát triển hành vi phạm tội Bên cạnh những nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu quan tâm, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội thì sự tác động tiêu cực của người thành niên đối với NCTN là nguyên nhân rất quan trọng Từ thực tiễn tình hình tội phạm NCTN như vậy luôn đặt ra cho chúng ta câu hỏi làm thế nào để hạn chế đi đến loại trừ tình hình tội phạm NCTN phạm tội ra khỏi đời sống xã hội? Khi đưa NCTN ra khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, cần phải áp dụng các thủ tục tố tụng như thế nào cho phù hợp đối với đặc điểm

về lứa tuổi, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN mà vẫn có tác dụng tích cực trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm là NCTN Muốn vậy, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi tiến hành tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN phải là những người có những hiểu biết về tình hình tội phạm của NCTN, cũng như hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của NCTN thì mới có thể đạt được các nhiệm vụ tố tụng đặt ra

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án

có bị can, bị cáo là NCTN

Thực tế cho thấy, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có

bị can, bị cáo là NCTN ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định Tỷ lệ bắt, tạm giữ chuyển khởi tố duy trì ở tỷ lệ cao hơn trước, tình trạng bị can bỏ trốn hoặc phạm tội mới đã giảm; công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam đã có nhiều kiến nghị được chấp thuận và các vi phạm trong quá trình áp dụng đã được khắc phục đáng kể; Tòa án đã hạn chế đến mức thấp nhất việc xét xử oan và bỏ lọt tội phạm; các vụ

án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, tránh tình trạng tồn đọng án; tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa, huỷ giảm Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác điều tra, truy tố, xét xử như các cơ quan tiến hành tố tụng lạm quyền, chưa thực sự tôn trọng quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN, vẫn còn xảy ra một số trường hợp bị oan, sai

Từ những vướng mắc trong thực tế trên nên hoạt động kiểm sát việc tuân

Trang 23

theo pháp luật trong giải quyết vụ án có bị can, bị cáo là NCTN của VKS càng có một ý nghĩa quan trọng Bởi vì, ngoài các quy định về kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự nói chung thì trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, VKS còn có những vai trò, nhiệm vụ quyền hạn nhất định cần phải được quy định một cách chặt chẽ

1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, VKS đã góp phần bảo vệ pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội được ghi nhận trong BLHS và BLTTHS nước ta Qua đó, đạt được những yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đối với việc xử lý NCTN phạm tội, giúp cho họ được giáo dục, cải tạo đủ điều kiện trở lại làm người có ích cho xã hội Như vậy, trong TTHS bất kỳ hoạt động tư pháp nào đều có sự xuất hiện và có chức năng kiểm sát của VKS Trong vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành việc có VKS thực hành quyền công tố cũng như kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng có những đặc trưng cơ bản khác nhau, tạo điều kiện thực hiện tốt nhất chức năng của đơn vị mình

Khi thực hiện việc bảo vệ quyền con người nói chung và NCTN nói riêng trong

tố tụng hình sự VKS tiến hành đồng thời hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Nếu kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS

Trang 24

đối với những vụ án có bị can, bị cáo là NCTN để phát hiện nhanh chóng các vi phạm trong hoạt động tố tụng thì thực hành quyền công tố là thực hành quyền năng để VKS buộc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tuân thủ pháp luật, khắc phục những vi phạm phát sinh trong quá trình tố tụng Trong những vụ án NCTN là bị can,

bị cáo càng cần nắm chắc vai trò thực thành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bởi lẽ đây là những đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ của xã hội Quá trình

áp dụng pháp luật hình sự không chỉ nhằm trừng trị mà còn nhằm giáo dục, cải tạo yêu cầu này còn có vai trò quan trọng hơn cả mục đích trừng trị

1.3.2 Ý nghĩa pháp lý

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung là một trong những nguyên tắc

cơ bản của BLTTHS Theo quy định của Điều 23 BLTTHS năm 2003 quy định:

“Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này” Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và vụ án có NCTN tham gia nói riêng VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của mình để đảm bảo việc xử lý vụ án là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN còn tác động tích cực đến chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án Nếu không thực hiện tốt kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN thì sẽ dẫn đến nhiều vi phạm pháp luật TTHS, bởi vì nó hạn chế quyền của

họ và ảnh hưởng đến việc ra các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ và hợp pháp

Thực hiện tốt quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can,

bị cáo là NCTN sẽ tránh được đến mức thấp nhất tình trạng oan sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự VKS là cơ quan không chỉ có chức năng công tố mà bên cạnh đó

Trang 25

còn có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Do đó, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án có bị can, bị cáo là NCTN cần có sự kiểm sát của VKS

1.3.3 Ý nghĩa xã hội

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN có một ý nghĩa xã hội hết sức sâu sắc Ý nghĩa xã hội ở đây thể hiện trên các phương diện khác nhau Trước hết, nó thể hiện tính nhân đạo XHCN Việc VKS thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật sẽ giúp bảo đảm tốt hơn quyền con người của NCTN trong tố tụng hình sự Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, nếu thấy các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện không đúng các thủ tục tố tụng đối với NCTN thì VKS sẽ phát hiện và kiến nghị, yêu cầu kịp thời để các cơ quan tiến hành tố tụng sửa chữa và tuân thủ đúng quy định của luật

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, ngoài việc thể hiện tính nhân đạo XHCN còn thể hiện tính dân chủ Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN thường ở trong trạng thái bất lợi hơn so với người thành niên về thể chất cũng như sự hiểu biết về các mặt của đời sống xã hội Vì vậy, việc VKS tiến hành các kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng đối với NCTN là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo quyền tự do, dân chủ của họ trong quá trình tham gia tố tụng Ví dụ, như việc pháp luật cho phép người đại diện hợp pháp của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Sự tham gia của người đại diện hợp pháp hay của người bào chữa là để bảo vệ quyền và lợi ích cho cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN Sự dân chủ còn thể hiện ở việc các chủ thể (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN, người đại diện hợp pháp, người bào chữa) được quyền sử dụng tất cả những biện pháp gì mà pháp luật không cấm để chống lại, bác

bỏ, phủ nhận lời buộc tội của CQĐT, VKS hoặc Toà án để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án

Trang 26

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN,

BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

2.1.1 Trong giai đoạn điều tra, truy tố

2.1.1.1 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can là người chưa thành niên

Do những đặc điểm về tâm sinh lý của NCTN mà việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là NCTN phải được xem xét một cách rất thận trọng, nhất là trong những trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm đã chỉ ra rằng, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN khi chưa thực sự cần thiết có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trưởng thành của họ Chính vì vậy Điều 303 BLTTHS năm 2003 quy định:

“1 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu

có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có

đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

3 Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam.”

Trang 27

Do đó, trong quá trình kiểm sát việc bắt giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn trong vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, VKS cần tiến hành kiểm sát chặt chẽ trình tự thủ tục này Khâu công tác này là yêu cầu bắt buộc đối với quá trình tiến hành tố tụng đối với NCTN

Hướng dẫn cụ thể Điều 303 BLTTHS năm 2003, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 7 năm

2011 thì khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với NCTN phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS Đối với NCTN đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do đối với họ

Khi bắt giữ NCTN phạm tội, trong trường hợp cần thiết phải sử dụng vũ lực thì việc sử dụng vũ lực phải theo đúng quy định của pháp luật và chỉ ở mức độ đủ để kiểm soát NCTN phạm tội Đồng thời, khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với NCTN phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam Trong quá trình áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam NCTN phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên

Khi xét thấy NCTN phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì CQĐT yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN phạm tội phải thông báo bằng văn bản cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Khoản 3 Điều 303 BLTTHS

Trang 28

Như vậy, các quy định cụ thể của Điều 303 và Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH cần phải được tuân thủ một cách triệt để khi áp dụng

Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

là NCTN thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định tại Điều 303 BLTTHS các cơ quan có thẩm quyền còn phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các quy định chung nhưng không được trái với các quy định tại Điều 303 BLTTHS Nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN là không cần thiết, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN cho cha mẹ, người giám hộ của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng

Cũng theo Thông tư liên tịch số BTP-BLĐTBXH thì CQĐT, VKS, Tòa án có thể quyết định giao NCTN phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của NCTN phạm tội khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Đối với NCTN phạm tội không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì cơ quan điều tra cần tìm mọi biện pháp để xác định lý lịch cũng như gia đình của họ Trong trường hợp không xác định được thì Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ ở nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử cán bộ giám sát NCTN phạm tội

01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-Tuy nhiên, giữa quy định về thủ tục chung và thủ tục đặc biệt trong việc áp dụng những biện pháp ngăn chặn đối với NCTN còn nhiều vướng mắc, bất cập dẫn đến sự lúng túng hoặc vi phạm trong khi áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền

Thứ nhất, về việc áp dụng thủ tục bắt quả tang Điều 82 BLTTHS năm 2003

quy định về việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Để nhằm ngăn chặn ngay người đang thực hiện tội phạm, nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh phòng chống tội phạm, bất kì người nào cũng có quyền bắt quả tang khi thấy người đó đang thực hiện tội phạm, hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi

Trang 29

bắt Nhưng đối với việc bắt quả tang NCTN phạm tội thì ngoài các căn cứ quy định ở Điều 303 BLTTHS còn phải đảm bảo các căn cứ tại Điều 82 với điều kiện các quy định ở Điều 82 không được trái với các quy định tại Điều 303: Chỉ được bắt người phạm tội quả tang khi người đó từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Chỉ được bắt người phạm tội quả tang khi người đó từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi mà phạm tội nghiêm trọng do cố

ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Việc xác định được người đó phạm tội do lỗi cố ý hay vô ý, phạm tội nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và phải qua một thời gian điều tra, truy tố, xét xử mới có thể khẳng định được Không những thế việc xác định người đó đang ở độ tuổi nào, đã

đủ 18 tuổi hay chưa cũng không thể xác định ngay được Vì vậy quy định của Điều

303 BLTTHS năm 2003 về việc bắt quả tang đối với NCTN phạm tội là thiếu tính chính xác

Thứ hai, về thủ tục tạm giữ, tạm giam đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

là NCTN Đề cập tới thủ tục này, Liên hợp quốc đã chỉ rõ: “NCTN bị giam giữ do

bị bắt giữ hoặc tạm giam chờ xét xử được coi là vô tội và phải được đối xử như là người vô tội Phải tránh việc giam giữ trước khi xét xử tới mức có thể và phải giới hạn tới những điều kiện có thể chấp nhận được Vì vậy, phải có tất cả những nỗ lực

áp dụng những biện pháp thay thế Khi áp dụng biện pháp giam giữ để ngăn chặn thì Tòa án và CQĐT phải có những ưu tiên cao nhất cho quá trình xử lý khẩn trương những vụ án này để đảm bảo thời gian giam giữ có thể ở mức độ thấp nhất”9

Theo quy định của Điều 303 BLTTHS năm 2003, NCTN cũng được áp dụng những thủ tục đặc biệt khi có quyết định tạm giữ, tạm giam của cơ quan có thẩm quyền Dựa vào tính chất, mức độ, hậu quả gây ra cho xã hội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện sinh sống và giáo dục, đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh gia đình, xã hội và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội

9 Liên Hợp Quốc (1990), Những quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do

(14/12/1990) tr.17

Trang 30

phạm mà BLTTHS quy định thủ tục tạm giữ, tạm giam đối với NCTN Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc áp dụng thời hạn tạm giữ, tạm giam NCTN giống như đối với người thành niên là không thích hợp và không đảm bảo được các quy định của LHQ (như trên đã trích dẫn), do đó cần rút ngắn hơn thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với NCTN để những vụ án mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN được xét

xử nhanh chóng hơn

Thứ ba, về chế độ tạm giữ, tạm giam Trong các văn bản pháp luật của quốc

tế đặc biệt quan tâm đến chế độ tạm giữ, tạm giam đối với NCTN Theo quy tắc Bắc Kinh, các quốc gia có thể áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam nhưng khuyến khích tìm ra những biện pháp mới, có tính đổi mới để tránh việc giam giữ vì phúc lợi của NCTN "NCTN trong thời gian bị tạm giam chờ xét xử phải được hưởng tất

cả các quyền và đảm bảo của những quy tắc tối thiểu phổ biến về việc đối xử với tù nhân do LHQ thông qua”10 Và “trong khi bị giam giữ, trẻ em phải được bảo vệ chăm sóc và nhận tất cả những sự giúp đỡ riêng cần thiết về mặt xã hội, giáo dục dạy nghề, tâm lý, y tế và vật chất”11 Pháp luật TTHS Việt Nam cũng đã chú trọng đến các quy định về chế độ tạm giữ, tạm giam đối với NCTN như được tạm giữ, tạm giam tại những khu vực riêng, buồng riêng, chế độ học văn hoá, chế độ thăm nuôi, sự có mặt của người bào chữa của đại diện gia đình và các tổ chức xã hội Tất cả các quy định này đã đảm bảo cho NCTN có những điều kiện sinh hoạt và chế độ tốt nhất trong thời gian bị giam giữ Trong điều kiện như vậy, NCTN sẽ không thấy mặc cảm, có thể nhận biết được hành vi sai trái của mình, thấy được tính nhân đạo của Nhà nước trong từng biện pháp áp dụng đối với họ Đây là những tiền đề thuận lợi cho sự cảm hoá, giáo dục họ sau này

Nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN là không cần thiết, CQĐT, VKS, Tòa án có thể quyết định giao bị can, bị cáo là NCTN cho cha mẹ, người giám hộ của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi

10

Liên Hợp Quốc (1985), Quy tắc tối thiểu phổ biến về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc

kinh) thông qua 29/11/1985 13.3

11 Liên Hợp Quốc (1985), Quy tắc tối thiểu phổ biến về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc

kinh) thông qua 29/11/198513.4

Trang 31

có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ NCTN, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo

dục người đó Điều 304 BLTTHS năm 2003 quy định:

“CQĐT, VKS và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là NCTN cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi

có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.”

Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ NCTN, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó

Hiện nay có quan điểm cho rằng, khi được yêu cầu, cha, mẹ, người giám hộ

có quyền từ chối nếu thực sự thấy rằng họ không thể kiểm soát được hành vi của bị can, bị cáo, không thể đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập

Vì vậy biện pháp này chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ NCTN12 Xét về thực tiễn thì quan điểm này có phần hợp lý Hiện nay có không ít NCTN phạm tội mà có nhân cách hư hỏng, gia đình không thể kiểm soát được hành vi của họ cho nên nếu thực sự gia đình thấy rằng việc thực hiện nghĩa vụ giám sát là khó khăn thì họ có quyền từ chối Song về mặt lý luận, không có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn về việc cha mẹ, người giám hộ có quyền từ chối

Bên cạnh đó, Điều 304 BLTTHS năm 2003 quy định thủ tục dành cho NCTN và khác với Điều 92 BLTTHS là biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo là người thành niên Thủ tục bảo lĩnh chỉ được đặt ra đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, và phải có cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh Còn

ở Điều 304, CQĐT, VKS, TA có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là NCTN cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của họ giám sát Quy định ở Điều 304 không những là quyền chỉ có ở bị can, bị cáo là NCTN, mà còn là nghĩa vụ đối với cha, mẹ, người giám hộ của họ Hơn nữa, nếu trao quyền từ chối cho gia đình NCTN thì sẽ dẫn đến hiện tượng cha mẹ, người giám hộ dù có điều kiện nhưng vì sĩ diện, vì danh dự bản thân, muốn chối bỏ trách nhiệm giáo dục, giám sát con cái, muốn phó mặc cho pháp

12 Đỗ Thị Phượng, Thủ tục tố tụng đối với NCTN – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ luật

học, tr.83

Trang 32

luật về việc xử lý NCTN Chúng ta thấy, về góc độ tâm sinh lý NCTN, họ rất cần được sự quan tâm của gia đình, nhà trường, xã hội Khi phạm tội, với mặc cảm tội lỗi nếu được quan tâm, chăm sóc đầy đủ có thể họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo tốt khi phải chấp hành án Do đó, ngoài nghĩa

vụ giám sát chặt chẽ NCTN, cha mẹ, người giám hộ của họ phải có nghĩa vụ "theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó" Đó cũng là mục đích của biện pháp giám sát này

Trong quá trình kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN, ngoài các quy định chung của BLTTHS năm 2003 thì VKS còn có cần tiến hành kiểm sát chặt chẽ thủ tục tiến hành áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN theo tinh thần của Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH nhằm đảm bảo tốt nhất quyền của NCTN trong quá trình áp dụng này Ví dụ, nếu nhận thấy tuy có các căn cứ để có thể bắt, tạm giữ nhưng không cần thiết phải bắt, tạm giữ hoặc tạm giam, thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện không phê chuẩn việc bắt hoặc tạm giữ Kiểm sát viên còn phải bảo đảm để việc bắt, tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn

Khi NCTN bị tạm giam, Kiểm sát viên chú ý kiểm sát tính cần thiết, tính có căn cứ

và tính hợp pháp của việc tạm giam, thường xuyên kiểm tra tính cần thiết của việc tạm giam để nếu thấy không cần thiết nữa thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát để xem xét, trả tự do cho người bị giam, giữ13

2.1.1.2 Kiểm sát việc tiến hành hoạt động khởi tố bị can và hoạt động điều tra đối với vụ án có bị can là người chưa thành niên

Hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố trong những vụ án mà bị can là NCTN cũng được tiến hành theo thủ tục chung mà BLTTHS năm 2003 đã quy định nhưng

khi tiến hành các hoạt động tố tụng nói trên cần phải chú ý những điểm sau đây: thứ

nhất, chỉ ra quyết định khởi tố bị can khi người đó đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự theo Điều 12 BLHS; thứ hai, trong trường hợp đã có quyết định khởi tố bị can là

NCTN thì khi áp dụng các biện pháp điều tra đối với họ nên có mặt đại diện gia

13

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Hà Nội, tr 23

Trang 33

đình bị can, bị cáo, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác

Việc xác định độ tuổi của NCTN trước khi có ban hành văn bản hướng dẫn liên ngành còn gặp rất nhiều khó khăn Nhiều nơi áp dụng không chính xác, cũng như cùng một trường hợp nhưng nơi áp dụng thế này nơi áp dụng thế khác không đảm bảo tính thống nhất Do đó, ngày 12 tháng 7 năm 2011 liên ngành tư pháp trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH Hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia

tố tụng là NCTN trong đó có quy định cụ thể về cách xác định độ tuổi đối với NCTN

Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cụ thể như sau:

“Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là NCTN do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau:

1 Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo

2 Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;

3 Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;

4 Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh của bị can, bị cáo thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo

5 Trường hợp không xác định được năm sinh của bị can, bị cáo là NCTN thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ”

Trang 34

Như vậy, trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ án có bị can, bị cáo là NCTN, trước khi khởi tố bị can áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thì VKS cần tiến hành kiểm sát chặt chẽ việc xác định tuổi của bị can

Nếu bị can có giấy khai sinh rõ ràng thì cần thể hiện vấn đề này trong hồ sơ vụ án bằng giấy khai sinh, nếu bị can không có giấy khai sinh cần tiến hành xác định tuổi của bị can theo trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH mới đáp ứng được quy định của luật

Về thủ tục khởi tố bị can đối với NCTN thì BLTTHS năm 2003 cũng như Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH không có quy định cụ thể, do đó, khi tiến hành việc khởi tố bị can các cơ quan vẫn tiến hành như thủ tục đối với vụ án thông thường Căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn của VKS trong khởi tố bị can Điều 126 BLTTHS năm 2003 quy định: Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT Như vậy, VKS có quyền tiến hành hoạt động kiểm sát việc với khởi tố bị can của CQĐT và các cơ quan khác được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong các vụ án hình sự nói chung cũng như kiểm sát việc tiến hành khởi tố bị can đối với NCTN nói riêng

Tuy nhiên, khi kiểm sát việc khởi tố bị can, VKS cần thiết phải yêu cầu CQĐT tiến hành khởi tố có xác minh tuổi của người bị khởi tố Điều này sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can là NCTN trong trường hợp họ thuộc độ tuổi chưa thành niên Đồng thời, qua quá trình này tất cả các biện pháp tiếp theo như áp dụng biện pháp ngăn chặn, điều tra, truy tố, xét xử đối với họ được tiến hành theo quy định của BLTTHS năm 2003 và Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH đối với NCTN phạm tội

Trong quá trình này cần chú ý một số điểm cơ bản như sau: Khi xem xét đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, chú ý kiểm tra các điều kiện để NCTN có

Trang 35

thể là chủ thể của tội phạm: tuổi, trình độ nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Sau khi báo cáo lãnh đạo Viện phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên cần vào

sổ theo dõi riêng về tội phạm chưa thành niên để lưu ý quá trình kiểm sát sau đó

Kiểm sát viên khi kiểm sát việc khởi tố bị can cần lưu ý quyết định đó có ghi

rõ thời gian, địa điểm ra quyết định (tránh trường hợp quyết định khi khởi tố bị can lại có trước ngày khởi tố vụ án hình sự…); họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình bị can; bị can bị khởi tố

về tội gì, theo điều khoản nào của BLHS; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm Nếu bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau, thì trong quyết định khởi tố bị can, phải ghi rõ từng tội danh và điều khoản của BLHS được

áp dụng Điều này để tránh nhầm lẫn đáng tiếc, đồng thời để bị can biết được mình

bị khởi tố về tội gì để thực hiện quyền bào chữa

Về thủ tục tiến hành hoạt động điều tra đối với vụ án có bị can là NCTN cần được tiến hành theo đúng Khoản 2, Điều 306 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, việc hỏi cung bị can tại CQĐT phải có mặt đại diện gia đình bị can” Hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can Đối với bị can chưa thành niên thì hoạt động điều tra này đòi hỏi Điều tra viên, Kiểm sát viên phải là người có những hiểu biết cần thiết về đặc điểm tâm sinh lý của các em Là người gần gũi với bị can, hiểu được tâm lý, thái độ xử sự của

họ nên sự có mặt của đại diện gia đình bị can sẽ giúp đỡ cán bộ điều tra tạo được mối quan hệ tin cậy, gần gũi, tín nhiệm đối với bị can, làm cho bị can không còn cảm thấy lo sợ, hoảng hốt và có thể khai báo những tình tiết có liên quan đến vụ án

Bên cạnh đó, thông qua đại diện gia đình, cán bộ hỏi cung sẽ nắm bắt được điều kiện sinh sống, giáo dục; nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị can là NCTN Từ

đó có những biện pháp điều tra thích hợp

Có thể nhận thấy BLTTHS năm 2003 quy định còn quá chung chung về căn

cứ để thực hiện biện pháp này: “Trong trường hợp cần thiết” Cho đến nay vẫn chưa

có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể như thế nào là trong trường hợp cần thiết mà

Trang 36

“trường hợp cần thiết” hiện nay phụ thuộc vào đánh giá của CQĐT Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà, nếu theo đánh giá của Tòa án thì trường hợp

đó có thể được coi là trường hợp cần thiết, nhưng việc hỏi cung bị can tại CQĐT không có mặt đại diện của gia đình bị can (do CQĐT đánh giá trường hợp này không phải là trường hợp cần thiết) thì Tòa án được trả hồ sơ để điều tra bổ sung với lí do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”14 Do quy định chung chung như vậy cho nên CQĐT rất lúng túng không biết nên hay không nên mời hoặc chấp nhận yêu cầu của đại diện gia đình bị can Mặt khác, có nhiều trường hợp CQĐT thường lấy lí do "để giữ gìn bí mật đảm bảo cho việc phát hiện điều tra tội phạm" nên rất ít khi để gia đình

bị can có mặt tham gia trong buổi hỏi cung tại giai đoạn điều tra

Hướng dẫn cụ thể điều này, Thông tư liên tịch số TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cụ thể việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là NCTN có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi

01/2011/TTLT-VKSTC-ở của người đó Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách chức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi của NCTN Trong quá trình điều tra, truy

tố, các cơ quan tiến hành tố tụng cần hạn chế đến mức thấp nhất số lần lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là NCTN Đồng thời, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là NCTN phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ Thời gian lấy lời khai, hỏi cung cần được xác định dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe cũng như khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của NCTN và yêu cầu điều tra, Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải được tạm dừng ngay khi NCTN có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ

Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là NCTN, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ

về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung Trường hợp cần thiết hoặc khi NCTN có

14 TANDTC (2002), Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10- 06- 2002 của TANDTC về việc giải đáp một

số vấn đề nghiệp vụ

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm