10 sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẰNG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi thực hiện, dưới sự giúp đỡ khoa học của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Văn Phương Những phần trích dẫn đã được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các thông tin, số liệu nêu trong luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo TS
Nguyễn Văn Phương Trưởng Bộ môn Luật Môi trường, Trường Đại học Luật
Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn
Luật Môi trường; các thầy giáo, cô giáo trong khoa Pháp luật kinh tế cùng với
các thầy giáo, cô giáo công tác tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình
giảng dạy, cung cấp cho em những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi
động viên giúp đỡ em để em hoàn thành luận văn
Với thời gian, kiến thức có hạn và trong phạm vi một luận văn thạc sỹ
không thể tránh khỏi những thiếu sót và còn nhiều vấn đề còn phải hoàn thiện
thêm Em xin kính mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy Cô và những ai
quan tâm đến vấn đề này Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2014 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2 BPP Beneficiary Pay Principle: Nguyên tắc “Người hưởng thụ phải trả
7 HĐND Hội đồng nhân dân
8 KCN Khu công nghiệp
9 NĐ-CP Nghị định Chính phủ
10 NQ-TW Nghị quyết Trung ương
11 OECD Organization of Economic Cooperation and Development: Tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế
12 PPP Pollution Pay Principle: Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”
13 TN&MT Tài nguyên và Môi trường
14 TTLT Thông tư liên tịch
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 7
1.1 Khái niệm phí bảo vệ môi trường 7
1.1.1 Khái niệm phí bảo vệ môi trường 7
1.1.2 Đặc điểm của phí bảo vệ môi trường 9
1.1.3 Phân loại phí bảo vệ môi trường 11
1.2 Cở sở lý luận và cơ sở chính trị pháp lý của phí bảo vệ môi trường 12 1.2.1 Cở sở lý luận của phí bảo vệ môi trường 12
1.2.2 Cơ sở chính trị pháp lý của phí bảo vệ môi trường 14
1.3 Vai trò, mục đích, ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường 17
1.3.1 Vai trò của phí bảo vệ môi trường 17
1.3.2 Mục đích của phí bảo vệ môi trường 18
1.3.3 Ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường 19
1.4 Kinh nghiệm áp dụng phí bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới 20
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước thuộc nhóm OECD 20
1.4.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển 22
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 26
2.1 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 26
2.1.1 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt 26
Trang 62.1.2 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp 32
2.2 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn 40 2.3 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản 43
2.4 Thực trạng xử lí vi phạm pháp luật về phí bảo vệ môi trường 46
2.4.1 Trách nhiệm hành chính 46
2.4.2 Trách nhiệm kỷ luật 48
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 50
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường 50
3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 52
3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường 52
3.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phí bảo vệ môi trường 60
Kết luận chương 3 64
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC SỐ 1
PHỤ LỤC SỐ 2
PHỤ LỤC SỐ 3
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, mối quan tâm của thế giới về vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) cũng được nâng cao rõ rệt Tốc độ phát triển kinh tế quá nhanh chóng và sự bùng nổ dân số thế giới đã khiến môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm nặng nề Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn
đề toàn cầu mà không phải của riêng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào
Việt Nam đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhịp độ ngày càng cao Phát triển đã mang lại những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn cho đất nước, tuy nhiên một trong những mặt trái là chất lượng môi trường ngày càng xấu đi
Để BVMT, Nhà nước có thể áp dụng nhiều công cụ khác nhau như công
cụ hành chính, công cụ thông tin, công cụ dựa vào cộng đồng, công cụ kinh tế Một trong những công cụ mà nhiều quốc gia đang áp dụng là sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Công cụ này đem lại những kết quả hết sức khả quan bởi nó được xây dựng dựa trên mục tiêu điều hòa xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT Các công cụ kinh tế tạo điều kiện cho các chủ thể chủ động lập kế hoạch BVMT thông qua việc lồng ghép chi phí BVMT và chi phí sản xuất kinh doanh vào giá thành sản phẩm Trong điều kiện của nước ta hiện nay khi mà ngân sách Nhà nước còn khó khăn, khả năng phân bổ kinh phí cho mục tiêu quản lý và BVMT còn hạn chế thì việc sử dụng các công cụ kinh tế để huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia BVMT là hướng đi đúng, vừa giúp giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, vừa đạt được các mục tiêu BVMT với
hiệu quả cao Phí BVMT là một công cụ kinh tế hữu hiệu trong BVMT, là một
bước tiến hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường ở nước ta
Cùng với Nghị quyết số 41/NQ – TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
Trang 82
7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường và Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì phí BVMT đã được quy định tương đối đầy đủ trong các văn bản như: Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ quy định về phí BVMT đối với nước thải (NĐ25/2013/NĐ-CP); Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về phí BVMT đối với chất thải rắn (NĐ174/2007/NĐ-CP); Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ quy định về phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản (NĐ74/2011/NĐ-CP) Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành các quy định về phí BVMT trong thời gian qua đã bộc lộ một
số vướng mắc, những điểm chưa thật sự phù hợp với yêu cầu của công tác quản
lý và BVMT
Do vậy tác giả mong muốn nghiên cứu các quy định về phí BVMT ở Việt Nam hiện nay nhằm đánh giá tác động của quy định về phí BVMT đối với công tác quản lý và BVMT, chỉ ra những quy định còn chưa hợp lý để từ đó kiến nghị sửa đổi các quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Vì thế tác giả chọn
đề tài “Hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam” làm luận
văn thạc sỹ cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau luận giải về những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này Có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu sau:
- Luận án Tiến sĩ: “Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013), Học
viện khoa học xã hội Việt Nam Công trình đã nghiên cứu và đưa ra thực tiễn áp dụng các công cụ kinh tế như thuế bảo vệ môi trường, ký quỹ, phí BVMT…
- Luận văn thạc sĩ:
Trang 93
+ “Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Thanh Tú (2010),Viện nhà nước và pháp luật Nghiên cứu quy định pháp luật về phí BVMT đối với nước thải, một loại phí trong hệ thống phí BVMT ở Việt Nam
+ Luận văn “Áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp tại thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thanh Thắm (2009), Đại học
Kinh tế quốc dân Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, quy định pháp luật về phí tác giả đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng phí BVMT ở Hà Nội sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, vị trí địa lý
- Khóa luận tốt nghiệp cử nhân:
+ “Nguyên tắc ai gây ô nhiễm người đó phải trả giá” của tác giả Nguyễn
Thị Hồng Ánh (2000), Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Khóa luận đi tìm hiểu và nghiên cứu nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trên thế giới hiện nay theo đó người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm ở mức có thể chấp nhận được
+ “Những vấn đề pháp lý về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải” của
tác giả Nguyễn Thị Lan Hướng (2011), Trường Đại học Luật Hà Nội Nghiên cứu các quy định pháp luật về phí BVMT đối với nước thải theo quy định tại NĐ 67/2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
- Trên các tạp chí, báo cũng đăng tải các bài viết như:
+ “Kinh nghiệm quốc tế về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp và đề xuất định hướng cho Việt Nam” của tiến sĩ Đỗ Nam Thắng (Tạp
chí môi trường số 7/2010) Giới thiệu kinh nghiệm thực tiễn áp dụng phí BVMT của một số quốc gia trên thế giới Từ đó gợi mở cho quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam
+ “Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
Trang 104
số tháng 4/2010) Bài viết bàn về pháp luật về phí BVMT đối với nước thải chỉ
ra bất cập, hạn chế và đưa ra một số kiến nghị nhằm sửa đổi quy định về vấn đề phí BVMT đối với nước thải
- Sách “Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2011, PGS.TS Phạm Văn Lợi chủ
biên Cuốn sách nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn thi hành một số công
cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam Phân tích ưu điểm, hạn chế của các công cụ này, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Qua những tài liệu đã nêu trên cho thấy, phí BVMT là một vấn đề khá quan trọng, và được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên ở mỗi công trình lại nghiên cứu, đánh giá pháp luật về phí ở những khía cạnh khác nhau và về mỗi loại phí khác nhau và chủ yếu về phí BVMT đối với nước thải Chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về tất cả các loại phí BVMT đang áp dụng tại Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật về phí BVMT là vấn đề khá phức tạp, theo quy định tại Nghị định số 57/2002/NĐ–CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí (NĐ57/2002/NĐ–CP) có quy định 6 loại: phí BVMT đối với nước thải; phí BVMT đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và các nguyên liệu khác; phí BVMT với chất thải rắn (CTR); phí BVMT tiếng ồn; phí BVMT đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí BVMT với việc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản khác Tuy nhiên trong phạm vi luận văn tác giả chỉ tập trung vào 3 loại phí BVMT đã được quy định cụ thể đó là: phí BVMT đối với nước thải; phí BVMT đối với CTR; phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản
Hơn nữa, tác giả cũng không đề cập hết tất cả các khía cạnh, tất cả các quy định của vấn đề này mà chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực
Trang 115 trạng pháp luật và những tác động của phí BVMT đối với công tác quản lý và BVMT Thông qua đánh giá thực trạng pháp luật về phí BVMT để có cơ sở kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phí BVMT với mục đích nâng cao hiệu quả BVMT trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra; trong quá trình
nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
- Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử…được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận chung về phí BVMT
- Phương pháp so sánh luật học, phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu thực trạng, phân tích những ưu điểm và hạn chế các quy định về phí BVMT Từ đó đánh giá những tác động của các quy định này đối với công tác quản lý và BVMT hiện nay
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về định hướng và đưa ra giải pháp hoàn thiện các
quy định của pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam hiện nay
5 Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phí BVMT ở Việt Nam hiện nay qua đó đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu BVMT thực tế đang đặt ra trong tiến trình phát triển bền vững, hội nhập kinh
tế quốc tế của đất nước
Trang 126
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận chung về phí BVMT: phân tích cơ sở lý luận; cơ sở pháp lý chính trị của phí BVMT, nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn áp dụng phí BVMT của một số quốc gia trên thế giới
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về phí BVMT để tìm ra những tồn tại, vướng mắc để làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về phí BVMT Ngoài ra luận văn còn tìm hiểu những tác động của các quy định của phí BVMT đối với công tác quản lý và BVMT
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục luận văn được kết cấu với ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về phí bảo vệ môi trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về phí bảo vệ môi trường
Trang 137
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái niệm phí bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm phí bảo vệ môi trường
Theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì “phí là
khoản tiền mà t chức cá nhân phải trả khi đư c một t chức cá nhân khác cung cấp dịch vụ theo quy định trong danh mục phí đư c ban hành k m theo Pháp lệnh” Như vậy, việc đóng phí của các tổ chức, cá nhân chỉ phải thực hiện
khi họ nhận được sự cung ứng một dịch vụ từ một chủ thể khác Tiền phí s
tương ứng với tính chất, mức độ của dịch vụ được cung ứng
Theo Giáo trình Luật tài chính (ĐH Luật Hà Nội), phí là “khoản thu của
Ngân sách Nhà nước nhằm bù đắp một phần khoản chi đầu tư bảo dưỡng các
công trình công cộng và duy trì các hoạt động của Nhà nước” [42, tr.58]
Phí là khoản đóng góp bắt buộc là vì Nhà nước chi ngân sách vào các công trình công cộng, dịch vụ công cộng… nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân,
do vậy nhân dân phải đóng góp cho Nhà nước để bù đắp lại một phần chi phí mà Nhà nước đã chi ra, và cũng là để bổ sung cho nguồn ngân sách Nhà nước để tiếp tục đầu tư vào các công trình khác Mức thu phí do Nhà nước quy định, tuỳ thuộc vào chính sách động viên, đóng góp với từng khoản thu, không căn cứ trên nguyên tắc hoạch toán kinh phí
Trước tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay thì yêu cầu về quản lí và BVMT càng trở nên bức thiết, cần có những công cụ hiệu quả
để tăng cường quản lí và BVMT Ở nước ta hiện nay, phí BVMT được coi là một trong các công cụ kinh tế hữu hiệu và là một bước tiến hết sức quan trọng
trong công tác quản lí và BVMT Điều 113 Luật BVMT năm 2005 quy định “T
chức cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí BVMT Mức phí BVMT đư c quy định trên cơ sở sau đây:a) Khối lư ng chất thải ra môi trường quy mô ảnh hưởng tác
Trang 14từ phía Nhà nước, đó là những hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi họ xả thải mà đáng l ra những hoạt động này phải do chính các chủ thể xả thải phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra thực hiện thay cho họ
Thứ hai, đối tượng chịu phí BVMT là các chất thải như nước thải, CTR,
hoặc là các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của các hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường như các loại khoáng sản kim loại, dầu thô, khí thiên nhiên…trong hoạt động khai thác khoáng sản
Thứ ba, mức thu phí BVMT phải dựa trên các yếu tố sau đây:
- Khối lượng chất thải, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường khác nhau cho nên mức thu phí phải có sự phân hóa giữa chủ thể xả thải số lượng khác nhau Bởi l trên thực tế ta dễ dàng nhận thấy khối lượng chất thải càng nhiều thì nguy cơ gây ra tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường càng lớn Hơn nữa, khối lượng chất thải lớn thì chi phí xử lý có thể tăng theo Trong quy định về mức thu phí BVMT đối với CTR là dựa trên khối lượng đơn vị tấn, mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp dựa trên tổng lưu lượng nước thải
và hàm lượng các chất gây ô nhiễm Việc thu phí BVMT dựa trên khối lượng xả thải buộc các tổ chức, cá nhân xả thải phải tìm biện pháp giảm tổng khối lượng
xả thải, giảm các tác nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường
- Mức thu phí BVMT phải dựa trên mức độ độc hại; mức độ gây hại tới môi trường: nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng nộp phí và buộc các chủ thể xả thải phải áp dụng công nghệ để xử lý, giảm thiểu độ độc hại có trong
Trang 159 chất thải Thực tiễn cho thấy các nhà máy, cơ sở sản xuất ở các lĩnh vực đặc thù, ngành nghề khác nhau thì thải chất thải ra môi trường s có tính chất, mức độ độc hại khác nhau Ví dụ khi quy định về phí BVMT đối với nước thải thì nước thải chứa các chất ô nhiễm nồng độ càng lớn thì mức phí áp dụng càng cao Để thực hiện nguyên tắc trên việc thu phí BVMT phải đảm bảo số tiền phí mà chủ thể xả thải phải trả phải tương ứng với mức độ tác động xấu đến môi trường, số phí này cũng phải đủ sức tác động tới lợi ích cũng như hành vi của các chủ thể,
để các chủ thể này hạn chế việc xả thải Nếu mức phí quá thấp s không tạo ra động lực thay đổi hành vi, nếu mức phí quá cao có thể làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm, lợi ích DN bị giảm đi, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
- Ngoài ra, mức thu phí BVMT cũng dựa trên cơ sở sức chịu tải của môi trường hay dựa vào môi trường tiếp nhận các chất gây ô nhiễm Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các
chất gây ô nhiễm.[14, Khoản 1 Điều 3] Trong quy định về phí BVMT đối với
nước thải áp dụng đối với môi trường là các khu vực nội thành, nội thị của các đô thị loại đặc biệt loại I, II, III thì mức phí s cao hơn khi thải ra các môi trường tiếp nhận là đô thị loại IV, V, rồi đến khu vực ngoại thành, vùng sâu, vùng sa Bởi vì ở các đô thị loại đặc biệt thì dân cư đông đúc hơn rất nhiều so với khu vực khác, đồng thời cũng là trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của cả nước nên việc gây ô nhiễm môi trường ở những đô thị này nguy hiểm hơn những vùng khác Vì vậy sức chịu tải môi trường khác nhau thì s có mức thu phí BVMT khác nhau
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về phí BVMT như sau: “Phí
BVMT là khoản tiền mà t chức hộ gia đình xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đầu tư lại vào hoạt động BVMT ”
1.1.2 Đặc điểm của phí bảo vệ môi trường
- Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế trong quản lí và BVMT:
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính
Trang 1610 sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các
cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các
tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường [10, tr.284-285]
Phí BVMT được coi là công cụ kinh tế hữu hiệu trong kiểm soát ô nhiễm
vì nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của người xả thải: người xả thải phải chi trả một khoản tiền nhất định cho mỗi đơn vị chất gây ô nhiễm, nồng độ càng cao thì
số phí phải nộp càng lớn Ngược lại, nếu chủ thể xả thải giảm lượng chất thải cũng như hàm lượng chất gây ô nhiễm trong chất thải khi xả ra môi trường thì số phí phải nộp s ít đi Như vậy, mục đích của việc áp dụng phí BVMT là khuyến khích giảm các tác nhân gây ô nhiễm, giảm thiểu lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước để sử dụng cho việc khôi phục cải thiện chất lượng môi trường
- Phí BVMT đƣ c thu dựa trên 2 nguyên tắc chính là: Nguyên tắc người
gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle viết tắt là PPP) và Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (Benefit Pays Principle viết tắt là BPP) Hai nguyên tắc này tác giả xin phân tích kỹ hơn ở phần 1.2.1 cơ sở lý luận của việc thu phí BVMT
- Phí BVMT góp phần làm giảm ô nhiễm và tạo nguồn thu để tái đầu tƣ
vào cho công tác BVMT
Việc thu phí BVMT tạo ra tác động tới hành vi của DN, bởi vì DN càng
xả nhiều chất độc hại ra môi trường càng phải nộp phí nhiều, để không phải nộp nhiều phí, DN phải cắt giảm lượng thải xả trực tiếp ra môi trường Điều này cho thấy phí BVMT góp phần làm giảm ô nhiễm, đồng thời số phí thu được s được dùng cho các hoạt động xử lí, khắc phục thiệt hại từ chất thải và các hoạt động BVMT khác Việc thu phí BVMT có thể bù đắp một phần chi phí thường xuyên
và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cải thiện các thành phần môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái và các chi phí khác về tổ chức và quản lí
Trang 1711 phục vụ cho vấn đề BVMT Khoản 4 Điều 113 Luật BVMT 2005 quy định toàn
bộ nguồn thu từ phí BVMT được sử dụng đầu tư trực tiếp cho việc BVMT
1.1.3 Phân loại phí bảo vệ môi trường
Trên thực tế phí BVMT được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau, tùy
thuộc vào mục tiêu và đối tượng gây ô nhiễm Hiện nay trên thế giới đa số các nước chia thành các loại phí sau đây: phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm; phí đánh
vào sản phẩm; phí đánh vào người sử dụng [46]
+ Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm là phí phải trả cho việc thải các chất
thải gây ô nhiễm vào trong môi trường (nước, không khí, đất…) người xả thải phải trả tiền cho mỗi đơn vị xả thải, nghĩa là đánh trên hàm lượng hay nồng độ các chất gây ô nhiễm và khối lượng xả thải Như vậy để tránh phải đóng loại phí này chủ thể xả thải s hạn chế việc xả thải các chất thải ra môi trường; hướng tới hành vi thân thiện với môi trường Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm có thể áp dụng trong các trường hợp sau:
- Nguồn thải gây ô nhiễm là tĩnh tại;
- Các tác nhân gây ô nhiễm có các chi phí giảm ô nhiễm cận biên khác;
- Có khả năng hình thành và duy trì hệ thống kiểm soát gây ô nhiễm;
- Có các tác động làm các tác nhân gây ô nhiễm giảm mức ô nhiễm hoặc thay đổi hành vi gây ô nhiễm của mình Loại phí này được sử dụng khá rộng rãi đối với chất thải gây ô nhiễm nước, nhưng lại khó kiểm soát đối với các chất thải gây ô nhiễm không khí
+ Phí đánh vào người sử dụng: là khoản tiền phải trả cho dịch vụ thu gom
và xử lý chất thải có quốc gia gọi nó là thuế môi trường, có quốc gia gọi là phí đánh vào người sử dụng Loại phí này sử dụng chủ yếu cho các loại chất thải có thể kiểm soát Có hai cách thu chủ yếu là dựa vào số lượng và chất lượng chất thải hoặc thu theo mức cố định đối với các tổ chức cá nhân hiện nay ở Việt Nam
gọi là lệ phí vệ sinh
Trang 1812
+ Phí đánh vào sản phẩm: là khoản tiền phải trả khi hàng hóa được sử
dụng có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường Thông thường với hàng hóa nhập khẩu người ta sử dụng thuế môi trường còn với hàng hóa sử dụng trong nước người ta sử dụng hình thức phí đánh vào sản phẩm Mức thu phí s tùy thuộc vào mục tiêu đối với loại phí này là gì? Đối với mục đích tăng thu ngân sách mức phí
s được xác định dựa vào tổng mức thu dự định hàng năm và số sản phẩm s được tiêu thụ Còn để khuyến khích giảm ô nhiễm thì mức thu phí được xác định dựa vào các tác nhân như: độ co giãn về giá cả đường cầu của sản phẩm bị đánh phí, khả năng tồn tại sản phẩm thay thế ít gây ô nhiễm hơn và mục tiêu muốn giảm ô nhiễm Phí đánh vào sản phẩm chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi trên thị trường
có sản phẩm thay thế và ít ảnh hưởng tới môi trường Chỉ khi nào có sản phẩm thay thế thì người tiêu dùng mới có cơ hội lựa chọn sản phẩm ít có hại cho môi
trường [45]
Ở Việt Nam hiện nay phí BVMT là loại phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được tính theo lượng phát thải ra môi trường và thiệt hại gây ra cho môi trường (phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với CTR…) hoặc từ sản lượng quy
ra chất thải gây ô nhiễm (phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản) đây là điểm khá đặc thù của pháp luật về phí BVMT ở nước ta Còn phí đánh vào người sử dụng nước ta quy định dưới dạng là thuế BVMT
Tuy nhiên việc phân loại phí BVMT ở nước ta hiện nay vừa dựa vào tiêu chí loại chất thải nên có phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với CTR vừa dựa vào tiêu chí lĩnh vực hoạt động làm phát sinh chất thải là phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản vì vậy s dẫn đến sự chồng chéo, và có thể dẫn tới hiện tượng phí trùng phí
1.2 Cở sở lý luận và cơ sở chính trị pháp lý của phí bảo vệ môi trường
1.2.1 Cở sở lý luận của phí bảo vệ môi trường
Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng
ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường và đã được áp dụng từ khá lâu ở nhiều nước phát triển, chẳng hạn, từ năm 1961 ở
Trang 1913
Phần Lan, từ năm 1970 ở Thụy Điển, từ năm 1980 ở Đức… và đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm do chất thải gây ra ở
các nước này [46] Đây là công cụ kinh tế trực tiếp đưa chi phí môi trường
vào giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở lý luận là hai nguyên tắc được thế giới thừa nhận rộng rãi sau đây:
1.2.1.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic Cooperation and Development
- OECD) soạn thảo năm 1972 Nguyên tắc này ra đời chính dựa trên cơ sở xem môi trường là một loại hàng hoá Theo nguyên tắc PPP thì người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho môi trường ở trong trạng thái
có thể chấp nhận được
Nguyên tắc PPP xuất phát từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúc lợi Trong đó, nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể
cả các chi phí môi trường (bao gồm các chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên cũng như những dạng ảnh hưởng khác của môi trường) Giá cả phải “nói lên sự thật” về những chi phí sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Nếu không, s dẫn đến việc sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên, làm cho ô nhiễm trở nên trầm trọng hơn so với mức tối ưu đối với xã hội Việc buộc những người gây ô nhiễm trả tiền là một trong những cách tốt nhất để làm giảm bớt các tác
động của ngoại ứng gây ra làm thất bại thị trường [9, tr.16-17]
1.2.1.2 Nguyên tắc người hưởng l i phải trả tiền
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là người hưởng thụ các thành phần môi trường thì phải trả tiền cho việc hưởng thụ cũng như các tác động tiêu cực đến môi trường do việc hưởng thụ các thành phần môi trường đó gây ra Các công cụ kinh tế được áp dụng phải căn cứ vào nguyên tắc này bởi dưới tác động
Trang 2014 của nhiều yếu tố khác nhau dù là nhỏ nhất cũng có thể gây hại cho môi trường,
từ đó làm cho môi trường bị ô nhiễm Thêm nữa, quá trình cải thiện môi trường tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc và sức lực nên người hưởng thụ một môi trường trong lành - một môi trường đã được cải thiện thì phải trả tiền là một điều
dễ hiểu
Nguyên tắc này đưa ra giải pháp BVMT với một cách nhìn nhận khá mới
mẻ, chú trọng tới việc phòng ngừa và cải thiện môi trường Tuy nhiên, hiệu quả của nó lại phụ thuộc chủ yếu vào việc xác định chính xác và hợp lý các khoản phí cũng như việc sử dụng chúng cho các mục đích BVMT Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường Đối nghịch với việc người trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản phí Thực hiện nguyên tắc BPP cũng s tạo ra một khoản thu nhập đáng kể Mức phí tính theo đầu người càng cao và càng có nhiều người nộp phí, thì số thu được càng nhiều Số tiền thu được theo nguyên tắc BPP có thể do các cá nhân muốn BVMT, hoặc do những
cá nhân không phải trả tiền cho việc thải ra các chất gây ô nhiễm trong giá thành sản phẩm nộp Tuy nhiên, vì tiền không phải do các công ty gây ô nhiễm trực tiếp trả, nên nguyên tắc BPP không tạo ra một sự khuyến khích nào đối với việc BVMT trực tiếp
Về thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như là một định hướng
hỗ trợ nhằm đạt được các mục tiêu BVMT, cho dù đó là mục tiêu bảo vệ hay là phục hồi môi trường Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục tiêu môi trường, thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả
về môi trường Đích hướng tới của BPP là nhằm BVMT, nên có thể coi là nó
được công chúng ủng hộ rộng rãi [10, tr.20]
1.2.2 Cơ sở chính trị pháp lý của phí bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường luôn được xác định là một chủ trương, chính sách lớn,
nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Điều 29 Hiến pháp năm 1992 qui định: “Các cơ quan Nhà
Trang 2115
nước các đơn vị thuộc lực lư ng vũ trang các đoàn thể xã hội và tất cả các cá nhân phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về việc sử dụng h p lý các tài sản thiên nhiên và bảo vệ môi trường” Như vậy, Hiến pháp khẳng định bảo vệ
môi trường là nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng để nước ta xây dựng Luật bảo vệ môi trường 2005 trong đó có quy
định về phí BVMT
Ngoài ra Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ–TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước khẳng định “BVMT là một trong những vấn đề sống còn của
nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lư ng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, n định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế ”
Trong tình hình thực tiễn có nhiều đòi hỏi và yêu cầu mới Đảng và Nhà
nước tiếp tục nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa đặc biệt của công tác BVMT
Điều 43 Hiến pháp 2014 quy định “Mọi người có quyền đư c sống trong
môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT” Khoản 2 Điều 63 lần nữa khẳng
định: “Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động BVMT phát triển sử dụng năng
lư ng mới năng lư ng tái tạo” Hiến pháp là cơ sở pháp lý chính trị quan trọng
nhất để nhà nước tiếp tục thể chế hóa các quy định về BVMT trong hệ thống pháp luật
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (Khóa XI) ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT tiếp tục khẳng định vai trò sống còn
của việc BVMT
Tiếp tục Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/2013/NQ-CP ngày 18 tháng 03 năm 2013 về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực môi trường nhấn
mạnh: “Tỷ lệ thu gom và xử lý CTR, chất thải y tế nước thải sinh hoạt và công
nghiệp đúng quy chuẩn còn thấp; khí thải, bụi phát sinh từ hoạt động giao thông
Trang 2216
vận tải, xây dựng cơ sở sản xuất không đư c kiểm soát chặt chẽ đã và đang gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các thành phố lớn và các lưu vực sông Chất thải từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn không đư c thu gom, xử lý đúng quy cách h p vệ sinh; tình trạng sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tràn lan dẫn đến ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng gia tăng một số nơi rất nghiêm trọng ” Và đưa ra nhiều biện
pháp cần giải quyết ngay trong đó nhấn mạnh “Xây dựng và ban hành cơ chế
khuyến khích các t chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ công tác BVMT, tập trung nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, sản xuất sạch, tiết kiệm năng lư ng, thân thiện môi trường, các mô hình phát triển kinh tế xanh ”
Những văn bản pháp lý trên đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để Nhà nước ban hành, sửa đổi, hoàn thiện những văn bản pháp luật nhằm thực hiện thu phí
BVMT để đảm bảo phát triển bền vững
Luật BVMT năm 2005 ngày 29/11/2005 là cơ sở pháp lý quy định cụ thể
về việc thu phí BVMT Tại Điều 113 có quy định: “T chức cá nhân xả thải ra
môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí BVMT.”
Đây là quy định mang tính chất nguyên tắc có tác dụng chi phối và quyết định đến các quy định pháp luật về thu phí BVMT cụ thể
Hiện nay, Nhà nước đã ban hành các quy định về phí BVMT trong các trường hợp sau đây:
- Phí BVMT đối với nước thải: Được quy định tại Nghị định số
25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước thải, có hiệu lực từ ngày 1/7/2013
- Phí BVMT đối với CTR: Nghị định số 174/2007/NĐ-CP của chính phủ
ngày 29/11/2007 về phí BVMT đối với CTR quy định đối tượng chịu phí BVMT đối với CTR là CTR thông thường và CTR nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác (trừ CTR thông thường phát thải trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình)
Trang 2317
- Phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản: Hoạt động khai thác
khoáng sản vừa tác động trực tiếp đến nguồn tài nguyên khoáng sản vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng trực tiếp đến đất, nước, môi sinh, môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản Hiện nay việc thu phí BVMT đối với hoạt động khoáng sản được thực hiện theo Nghị định số 74/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản
Bên cạnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT còn có một số văn bản pháp luật có những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề tài chính trong BVMT như: Luật Thuế thu nhập DN năm 2008; Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Luật Thuế tài nguyên 2009, Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001, Nghị định
số 57/2002/NĐ – CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí 2001 Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm
2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí
1.3 Vai trò, mục đích, ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường
1.3.1 Vai trò của phí bảo vệ môi trường
Là một công cụ kinh tế trong hoạt động BVMT phí BVMT có những vai trò sau đây:
- Thứ nhất, điều chỉnh hành vi môi trường một cách tự động Phí BVMT
là phí đánh vào chất gây ô nhiễm Điều này có nghĩa là, lượng chất thải ra của
DN càng chứa nhiều chất gây ô nhiễm, nồng độ càng cao thì số tiền DN phải bỏ
ra để nộp phí BVMT càng lớn Vì thế DN buộc phải điều chỉnh hành vi của mình, hạn chế xả thải, hạn chế hàm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường; đồng thời sử dụng các máy móc, phương tiện hiện đại nhằm hạn chế khả năng gây ảnh hưởng xấu tới môi trường
Trang 2418
- Thứ hai, khuyến khích hành vi BVMT do phí BVMT không chỉ có tác
dụng trực tiếp và lâu dài đối với các hành vi gây ảnh hưởng tới môi trường của
DN mà còn có tác dụng khuyến khích quá trình nghiên cứu, triển khai, thay đổi
và phát triển kĩ thuật, công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường
- Thứ ba, giúp tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên bởi nó tác động
trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của các cá nhân và DN nên khi tiến hành sản xuất
- kinh doanh cũng như tiêu dùng, các chủ thể phải tính đến việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào là tiết kiệm và hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng tới lợi nhuận thông qua việc thường xuyên cải tiến công nghệ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm Khuyến khích sự năng động, sáng tạo trong nghiên cứu và ứng dụng những quy trình công nghệ phù hợp nhất để giảm thiểu chất thải phát sinh, qua
đó tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh Nguồn tài nguyên được sử dụng hợp lý s đem lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho các chủ thể
1.3.2 Mục đích của phí bảo vệ môi trường
Nhà nước thực hiện thu phí BVMT với những mục đích cơ bản sau:
- Thứ nhất, làm thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm: khuyến khích
các tác nhân gây ô nhiễm giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường, hướng tới hành vi thân thiện, BVMT của các DN, hộ gia đình, cá nhân…
Trong cơ chế thị trường, các DN phải cạnh tranh nhau để tìm kiếm lợi nhuận, và cũng phải không ngừng BVMT Ngày nay khi mức sống và ý thức BVMT của con người đang được nâng lên từng bước, họ có xu hướng gắn bó với thiên nhiên và môi trường hơn thể hiện cụ thể nhất ở việc họ thường lựa chọn những sản phẩm sạch hay các sản phẩm thân thiện với môi trường
Có thể thấy ý thức về sản phẩm sạch của người tiêu dùng càng ngày càng cao nên các DN có hành vi gây ô nhiễm môi trường thì s dần dần khiến cho người tiêu dùng bài trừ sản phẩm của họ, DN có thể vì thế s mất chỗ đứng trên thị trường Như vậy, DN s phải tìm cách hạn chế việc xả thải, tránh gây ô nhiễm môi trường
Trang 2519
- Thứ hai, tạo ra nguồn kinh phí để đầu tư trở lại cho các hoạt động
BVMT Đối với số phí BVMT thu được, các cơ quan có thẩm quyền phải sử dụng một cách hợp lí, chỉ được chi dùng cho hoạt động BVMT theo quy định của pháp luật Cụ thể là: trích một tỷ lệ % nhất định để trang trải chi phí cho việc thu phí; phần còn lại s được sử dụng cho hoạt động BVMT như đầu tư mới, nạo vét cỗng rãnh, duy tu bảo dưỡng hệ thống thoát nước tại địa phương, phòng ngừa
và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường…
1.3.3 Ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường
- Thứ nhất, phí BVMT thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến lĩnh vực
môi trường, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới: Nhà nước đã xây dựng các quy định về phí BVMT đối với từng loại hình như: phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với CTR, phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản…những quy định này đã tạo điều kiện cho môi trường nước ta được quan tâm, được giữ gìn, được bảo vệ tốt hơn thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với công tác BVMT
- Thứ hai, phí BVMT thể hiện sự liên kết chặt ch giữa môi trường với
phát triển: Phát triển bền vững là phạm trù được hình thành do nhu cầu của quá trình BVMT; thực chất là quá trình kết hợp chặt ch giữa phát triển với việc duy trì và BVMT Phí BVMT là một trong những biểu hiện rõ nét của phạm trù phát triển bền vững, sự kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế đi đôi với lợi ích môi trường
- Thứ ba, phí BVMT góp phần giáo dục, nâng cao ý thức của người dân
và DN về BVMT: môi trường ảnh hưởng tới bất cứ cá nhân nào vì vậy việc BVMT không chỉ là việc của quốc gia, cộng đồng mà phải được coi là công việc của từng cá nhân cụ thể Việc quy định phí BVMT không chỉ ảnh hưởng tới kinh
tế của các đối tượng nộp phí mà còn tác động đến tâm lí và nhận thức của họ, giúp họ hiểu được tác hại của việc xả thải ra môi trường từ đó có ý thức hơn trong việc xả thải cũng như BVMT Ngoài ra nó còn có tác động trực tiếp và mạnh m tới quá trình hạch toán kinh tế nhằm làm giảm giá thành của sản phẩm
Trang 2620
và dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ Việc phải đưa các chi phí BVMT vào hạch toán kinh tế s buộc các nhà sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phải luôn luôn đẩy mạnh thực hiện cách tiếp cận
“sản xuất sạch hơn”, tức là phải luôn tìm cách sử dụng tiết kiệm và tối ưu các đầu vào của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng…), tối ưu hóa quy trình công nghệ quản lí, cải tiến máy móc, lắp đặt các thiết bị xử lí nước thải tiên tiến, đảm bảo chất lượng…để làm sao cho ra nhiều sản phẩm nhất và ít chất thải nhất, làm sao tái sử dụng một cách tối đa các chất thải bắt buộc tạo ra do hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Kết quả là
s giảm thiểu được các tác động tiêu cực tới môi trường
1.4 Kinh nghiệm áp dụng phí bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị cũng như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, lịch sử và tình hình môi trường mà ở mỗi nước có hệ thống pháp luật môi trường có tính đặc thù riêng Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế được nhiều quốc gia áp dụng nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước thuộc nhóm OECD
Ở Mỹ, theo Luật làm sạch nước năm 1972 và đạo luật “Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước”, Mỹ thu phí ô nhiễm đối với tất cả các thành phần ô nhiễm và quy định ngưỡng ô nhiễm cho các chất riêng biệt Phí ô nhiễm được áp dụng tại tất cả các bang trên nước Mỹ, nhưng mỗi bang lại có cách thu phí và
mức phí khác nhau [34]
Ở Đức, hệ thống phí nước thải được áp dụng kết hợp với các quy định và thủ tục cấp giấy phép, các DN thuộc nhóm đối tượng nộp phí trước hết phải có giấy phép xả thải do chính quyền bang cấp, trong giấy phép này, tất cả những thông tin cần thiết để tính toán phí nước thải đều phải được ghi rõ, giấy phép cũng quy định rõ lượng nước thải tối đa cho phép hàng năm, gọi là giới hạn xả thải cho phép, các bang chịu trách nhiệm thu phí, còn quy tắc tính phí, mức phí
Trang 27lệ phí phải nộp s được giảm đi Đức là nước có hệ thống lệ phí ô nhiễm môi
trường nước có tác dụng khuyến khích làm giảm ô nhiễm rõ ràng nhất [27, tr.32, 33]
Nhật là một quốc gia có nhiều thành công trong quản lý ô nhiễm môi trường, kinh nghiệm của họ được đánh giá cao ở các nước Đông Á Thực tế cho thấy, những giải pháp mà người Nhật Bản thực thi để BVMT đã mang lại rất nhiều thành công Ở Nhật Bản cơ sở pháp lý cao nhất và duy nhất của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường là các đạo luật Trong vòng 50 năm (kể từ 1968), Quốc hội Nhật Bản đã ban hành 47 đạo luật Đây là các đạo luật có đối tượng điều chỉnh là các vấn đề môi trường, nhờ đó công tác quản lý môi trường được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc Điều lưu ý là ở Nhật Bản cũng như ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, dưới luật không có các văn bản hướng dẫn hoặc các nghị định quy định dưới luật; chỉ có các đạo luật được quốc hội, cơ quan lập pháp ban hành mới có giá trị pháp lý Chính phủ Nhật Bản khuyến khích các bộ và các cơ quan liên quan xúc tiến các chương trình nghiên cứu, đánh giá tác động, nhất là định lượng hóa các tác động đến môi trường đối với các loại sản phẩm gắn với chu kỳ sống của chúng (sản xuất – phân phối – tiêu dùng – thải hồi) dựa trên tiêu chí của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), khuyến khích việc phổ biến gắn nhãn hiệu môi trường cho DN và người tiêu dùng, hỗ trợ mạng lưới tiêu dùng xanh, xúc tiến mua các loại sản phẩm thân thiện với môi trường, ủng hộ và khuyến khích hợp tác BVMT giữa các nhóm công dân và DN việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp cũng dựa
trên hệ thống các đạo luật này [29]
Trang 2822
1.4.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển
Tại Phillipin phí nước thải được áp dụng cho các DN thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm từ 4 tấn BOD trở lên
Từ năm 1998, hệ thống phí được mở rộng, bao gồm tất cả các DN thuộc địa phận hành chính của vùng hồ Laguna và có thải nước thải vào hồ Các DN này bao gồm các DN sản xuất, thương mại, các DN công nông nghiệp, các cụm dân
cư và các hộ gia đình Phí gồm 2 phần: phí cố định và phí biến đổi Phí cố định phụ thuộc vào lượng nước thải và số lượng mẫu cần lấy để quan trắc hiện trạng môi trường của DN Các DN càng thải nhiều nước thải thì số lượng mẫu cần lấy
để quan trắc càng nhiều và mức phí cố định phải nộp càng cao [32]
Tại Trung Quốc, hình thức thu phí và lệ phí chủ yếu được sử dụng đối với các chất gây ô nhiễm cho nguồn nước, khí thải và CTR
Phí nước thải được quy định trong Điều 18 Luật BVMT 1979 Trong những năm 1979 - 1981, phí ô nhiễm được áp dụng trên cơ sở thử nghiệm ở 27 tỉnh/thành phố, dưới sự giám sát trực tiếp của Chính phủ Từ năm 1982 việc thực hiện được áp dụng trên toàn quốc Ở giai đoạn trước năm 2003, tất cả các thông
số ô nhiễm trong nước thải đều được đo kiểm Sau đó, các thông số ô nhiễm được xếp theo thứ tự từ mức ô nhiễm cao nhất đến thấp nhất Việc tính phí dựa trên thông số có mức ô nhiễm cao nhất Với thông số có mức ô nhiễm cao nhất này, phí được tính dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn Giai đoạn sau năm 2003, việc tính phí nói trên đã bộc lộ một số bất cập Thứ nhất, việc chỉ dựa vào nồng độ đã khiến các DN đối phó bằng cách pha loãng nước thải Thứ hai, việc chỉ tính phí dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cũng khiến DN chỉ đối phó sao cho nồng độ chất ô nhiễm đạt tiêu chuẩn chứ không khuyến khích
DN đầu tư xử lý để hạn chế ô nhiễm trong điều kiện tối đa có thể được Hơn nữa, việc chỉ tính phí đối với thông số ô nhiễm có mức vượt tiêu chuẩn cao nhất không tạo động lực để DN hạn chế ô nhiễm với các thông số khác Để khắc phục những bất cập này, năm 2003, hệ thống tính phí nước thải của Trung Quốc đã có
Trang 2923 một số thay đổi: việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ không chỉ dựa trên nồng độ; Phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị trên và dưới tiêu chuẩn cho phép); Phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi tùy thuộc vào từng ngành công nghiệp và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm Ngoài ra, các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt ch hơn tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường quy định Kết quả là đã làm giảm tới 60,4% tổng lượng chất gây ô nhiễm thải ra Mức phí được qui định theo nguyên tắc sau: phí cao hơn một chút so với chi phí vận hành thiết bị; phí thay đổi theo số lượng, nồng độ và loai chất gây ô nhiễm được thải ra; phí ô nhiễm áp dụng cho việc xả thải nước thải công nghiệp đối với chất gây ô nhiễm nhất định nào đó được tính bằng cách nhân với lượng nồng độ chất gây ô nhiễm
vượt quá tiêu chuẩn [6]
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng phí BVMT của một số nước trên thế giới chúng ta nhận thấy rằng: phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế đã được áp dụng khá rộng rãi và phổ biến nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia
mà sử dụng công cụ phí BVMT với mục tiêu khác nhau, nhưng nhìn chung phí BVMT có hai mục tiêu chính sau: thứ nhất tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để chi cho các hoạt động BVMT Thứ hai để khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường Tuy nhiên, kinh nghiệm thu phí của các nước trên thế giới cho thấy không phải chương trình thu phí nào cũng đạt được cả hai mục tiêu trên với vị trí ngang nhau Việc đặt ra mục tiêu của phí là rất quan trọng bởi nó quyết định về định lượng mục tiêu dự kiến s đạt được trong chương trình thu phí và góp phần quyết định cách thu phí
Trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về phí BVMT Việt Nam
đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội môi trường trong giai đoạn hiện nay:
Trang 3024 + Mức phí phải dựa trên những cơ sở mang tính phương pháp nhất định; đặc biệt phải được điều chỉnh theo các yêu cầu cụ thể của vùng ô nhiễm, đặc tính của loại hình sản xuất Mức phí BVMT phải ở mức có thể chấp nhận được, nếu quá thấp s phản tác dụng không làm cho các chủ thể gây ô nhiễm thay đổi hành
vi theo hướng có lợi cho môi trường ngược lại nếu quá cao có thể làm cho tính cạnh tranh của sản phẩm giảm đi và lợi nhuận của DN bị suy giảm, vấp phải sự chống đối của các đối tượng gây ô nhiễm
+ Phí BVMT chỉ thực sự có tác dụng khi có sự ổn định kinh tế vĩ mô và khi có môi trường cạnh tranh thực sự Môi trường kinh doanh cạnh tranh s là cơ chế tự động buộc những đối tượng gây ô nhiễm phải giảm chi phí, tối ưu hóa chi phí và hợp lý hóa kinh doanh còn DN giữ độc quyền thì thường s tìm cách tăng giá hàng hóa để đối phó Và như vậy người tiêu dùng phải gánh chịu phí BVMT chứ không phải là DN
+ Phí BVMT chỉ phát huy tác dụng nếu có bộ máy hành chính tốt và hiệu quả, một hệ thống giám sát môi trường hữu hiệu để thực hiện Những hiện tượng như trốn phí, tham nhũng s khiến tác dụng của phí bị vô hiệu Việc xác định phí
ô nhiễm đòi hỏi phải có hệ thống giám sát ô nhiễm môi trường tốt, cơ bản để giám sát được lượng chất thải, mức độ ô nhiễm, có như vậy mới có cơ sở thực tế
để xác định được một cách đúng đắn phí ô nhiễm môi trường [46]
Trang 31- Phí BVMT là khoản tiền mà tổ chức, hộ gia đình xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đầu tư lại vào hoạt động BVMT
- Phí BVMT là một trong những công cụ kinh tế trong quản lí và BVMT; được thu dựa trên 2 nguyên tắc chính là: nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền Đây là vấn đề được Đảng và nhà nước quan tâm đặc biệt cơ sở pháp lý chính trị quan trọng phải kể đến là Hiến pháp 2014; Nghị quyết số 41/NQ – TW của Bộ Chính trị về chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT và Luật BVMT 2005 cùng với hệ thống văn bản pháp luật quy định về phí tương đối đầy đủ
- Nhiều quốc gia trên thế giới như: Đức; Mỹ; Nhật Bản; Trung quốc; Phillipin đã áp dụng quy định thu phí BVMT từ khá lâu và mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm gây ra ở các quốc gia này
Quá trình nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm phí BVMT; cơ sở lý luận;
cơ sở chính trị pháp lý và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong chương 1 là cơ sở để tác giả nghiên cứu về nội dung cơ bản ở chương 2 của đề tài “Hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam”
Trang 3226
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
2.1.1 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt
Hiện nay các quy định pháp luật về phí BVMT đối với nước thải được thực hiện theo NĐ 25/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2013 và hai văn bản hướng dẫn đó là: Thông tư liên tịch số 63/TTLT-BTC-BTNMT của BTC và BTNMT ngày 15/5/2013 hướng dẫn thực hiện NĐ25/2013/NĐ-CP (TTLT63/2013/BTC-BTNMT)
và Thông tư số 6/2013/TT-BTNMT ngày 7/5/2013 của Bộ TN&MT ban hành Danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng phục vụ tính phí BVMT đối với nước thải( TT6/2013/TT-BTNMT)
- Quy định về đối tư ng chịu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt:
Theo quy định tại Điều 2 NĐ 25/2013/NĐ-CP và khoản 2 Điều 1 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT thì đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt
là nước thải ra môi trường từ: hộ gia đình, tổ chức, cơ quan nhà nước; đơn vị vũ trang nhân dân (trừ các cơ sở sản xuất, chế biến thuộc đơn vị vũ trang nhân dân); trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân không gắn liền với địa điểm sản xuất, chế biến là đối tượng phát sinh nước thải sinh hoạt, TTLT63/2013/BTC-BTNMT còn quy định cụ thể một số nhóm đối tượng kinh doanh, dịch vụ khác có nước thải được xếp vào nhóm nước thải sinh hoạt như: cơ
sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy; bệnh viện; phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở đào tạo, nghiên cứu; cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác
Điểm mới của NĐ 25/2013/NĐ-CP là quy định cụ thể, chi tiết các nhóm đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt nhằm tránh nhầm lẫn với
Trang 3327 các đối tượng phải nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và giúp khắc phục được tình trạng nhầm lẫn trong quá trình thực hiện và thu trùng phí Trên thực tế có khá nhiều DN mặc dù nằm trong khu công nghiệp nhưng chỉ là các trụ
sở điều hành, chi nhánh, văn phòng không có hoạt động sản xuất thuộc đối tượng nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt nhưng không được phân loại và quy định rõ ràng nên gây khó khăn và lúng túng cho cả phía cơ quan thu phí và người nộp phí
Tuy nhiên, trong những đối tượng phải chịu phí nước thải sinh hoạt ở trên thì nước thải thải ra từ các bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, nhà hàng, khách sạn…thường có hàm lượng chất gây ô nhiễm cao hơn nước thải được thải ra từ các đối tượng cùng nhóm như nước thải ở các hộ gia đình…nhưng mức phí áp dụng cho các đối tượng này lại như nhau, theo tác giả đã tạo ra sự không công bằng và hợp lí trong việc thu phí nước thải sinh hoạt
Về các đối tượng không phải nộp phí BVMT đối với nước thải được quy định tại Điều 4 NĐ 25/2013/NĐ trong đó có điểm mới so với NĐ 67/2003/NĐ-
CP về nhóm đối tượng “nước làm mát thiết bị máy móc không trực tiếp tiếp xúc
với các chất gây ô nhiễm có đường thoát riêng với các nguồn nước khác và nước mưa tự nhiên chảy tràn” quy định mới này là hợp lý bởi l đa số các trường
hợp nước này không tiếp xúc với chất gây ô nhiễm và khi xả ra môi trường được thiết kế đường thoát riêng cho nên không gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, còn có trường hợp nhiều đơn vị còn xử lý nước trước khi sử dụng làm mát để không gây hại cho máy móc, thiết bị, đặc biệt là trường hợp các DN phải dùng nước sông để làm mát thiết bị
- Quy định về mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt
Theo quy định tại Điều 5 NĐ 25/2013/NĐ và khoản 1 Điều 4 TTLT
63/2013/BTC-BTNMT thì “Mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt đư c
tính theo tỉ lệ % trên giá bán của 1m 3
nước sạch nhưng tối đa không quá 10% của giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng”(GTGT)
Trang 3428 Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng (trừ hộ gia đình quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều 2 TTLT63/2013/BTC-BTNMT) thì mức thu được xác định theo từng người sử dụng nước, căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường nơi khai thác và giá bán 1m3
nước sạch trung bình tại xã, phường, thị trấn Căn cứ quy định về mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt tại khoản 1 Điều 5 NĐ 25/2013/NĐ-CP và tình hình kinh tế - xã hội, đời sống, thu nhập của nhân dân ở địa phương, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (TW) xây dựng mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt áp dụng cho từng địa bàn, từng loại đối tượng cụ thể tại địa phương để trình hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định
Như vậy, hiện nay mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt căn cứ vào tổng khối lượng nước sinh hoạt thải ra chứ không căn cứ vào hàm lượng các chất gây ô nhiễm, cho nên mới chỉ có tác dụng khuyến khích chủ thể xả thải giảm lượng nước tiêu thụ chứ chưa có tác dụng khuyến khích chủ thể xả thải giảm hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải Mặt khác với tình hình kinh tế xã hội hiện nay thì mức phí như hiện tại không còn phù hợp nữa bởi việc thu phí nước thải sinh hoạt tối đa không quá 10% so với giá nước sạch chưa bao gồm thuế GTGT là quá thấp s không đủ để chi phí cho việc vận hành, bảo dưỡng các trang thiết bị xử lí nước thải, chưa kể việc còn phải hoàn lại chi phí ban đầu đã bỏ ra để mua sắm thiết bị
Sở dĩ nước ta vẫn áp dụng cách thu phí này là bởi l cơ quan quản lý nhà nước chưa có căn cứ và không đủ năng lực để xác định hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải của các đối tượng nộp phí BVMT theo quy định Hơn nữa cách thu này dễ thu và tiết kiệm chi phí hành chính để tiến hành thu phí
- Quy định về xác định số phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt
Mức thu phí được quy định tại khoản 1 Điều 5 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT
Về cơ bản quy định pháp luật đã quy định khá cụ thể các mức thu phí BVMT đối với nước thải:
Trang 35) x Tỷ lệ thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt theo
quyết định của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc TW (%)
+ Trường h p mức thu phí đư c quy định bằng một số tiền nhất định:
Số phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt phải nộp (đồng) = Số lượng nước sạch
sử dụng của người nộp phí (m3
) x Mức thu phí BVMT đối với nước thải sinh
hoạt theo quyết định của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc TW (đồng/m3
nước sạch
Trường hợp tự khai thác nước thì số lượng nước sạch sử dụng được xác định căn cứ vào số người theo sổ hộ khẩu gia đình (đối với hộ gia đình) hoặc bảng chấm công, bảng lương, hợp đồng lao động (đối với tổ chức không sản xuất, chế biến) và lượng nước sạch sử dụng bình quân theo đầu người trong xã, phường, thị trấn Đối với các cơ sở kinh doanh, dịch vụ tự khai thác nước để sử dụng thì số lượng nước sạch sử dụng được xác định căn cứ vào quy mô hoạt động kinh doanh, dịch vụ do cơ sở tự kê khai và thẩm định của UBND xã, phường, thị trấn
Theo quy định trên đối với những đối tượng nộp phí chưa lắp được đồng
hồ đo lượng nước sạch tiêu thụ áp dụng theo định mức khoán lượng nước sạch tiêu thụ đối với từng loại đối tượng sử dụng nước sạch do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định thì việc xác định mức phí, số phí phải nộp s không được chính xác, xảy ra hiện tượng đối tượng phải nộp phí nhiều hơn hoặc ít hơn
Trang 3630
số thực tế phải nộp Tương tự như vậy, trường hợp tự khai thác nước thì lượng nước sạch được sử dụng được xác định căn cứ vào số người theo hộ khẩu gia đình hoặc bảng chấm công, bảng lương, hợp đồng lao động và lượng nước sạch
sử dụng bình quân đầu người trong xã, phường cũng thiếu chính xác dẫn tới việc thu phí không đúng với thực tế
Căn cứ để xác định lượng nước sạch được sử dụng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tự khai thác nước có thể khiến cho các cơ sở này kê khai thấp hơn mức sử dụng để giảm bớt số phí phải nộp, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước, tạo ra sự thiếu công bằng giữa các cơ sở sử dụng nước trong việc nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt
- Quy định về quản lý và sử dụng số phí BVMT đối với nước thải thu đư c
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT thì số tiền phí thu được s để lại tối đa không quá 10% trên tổng số tiền phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt thu được cho đơn vị cung cấp nước sạch; tối đa không quá 15% trên tổng số phí thu được cho UBND xã, phường, thị trấn để trang trải chi phí cho việc thu phí Mức cụ thể do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định Phần còn lại (sau khi trừ đi số phí trích để lại cho đơn vị cung cấp nước sạch, UBND xã, phường, thị trấn) được nộp vào ngân sách địa phương và
sử dụng theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 7 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT
* Thực tiễn thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt
Thực tiễn thực hiện thu phí theo Nghị định 67/2003 ngày 13/6/2003 về phí BVMT đối với nước thải (NĐ67/2003/NĐ-CP) Theo Tổng công ty cấp nước Sài Gòn, từ khi áp dụng thu phí nước thải sinh hoạt năm 2004 đến 2011, công ty
đã thu, nộp ngân sách gần 560 tỷ đồng, trong đó gần 100% số hộ dân sử dụng nước đóng tiền đầy đủ, góp phần cải thiện môi trường nước Theo đó mức thu phí nước thải sinh hoạt hàng năm s điều chỉnh tăng từ đầu năm tới mức thu năm
2008 tăng cao hơn Cụ thể mức thu phí tính theo mỗi m3
thứ tự theo các năm
2008 – 2009 - 2010 là: đối với hộ gia đình sử dụng nước sinh hoạt trong định
Trang 3731 mức 4m3/ người/ tháng đóng phí 300 – 350 – 400 đồng Vượt định mức 600 –
700 – 800 đồng; nước phục vụ sản xuất đóng phí 700 – 800 – 900 đồng Từ năm
2009 – 2010, áp dụng mức thu 650đ/m3 nước sử dụng đối với đối tượng hộ gia đình sử dụng nước sinh hoạt trong định mức; thu 950đ/m3
nước sử dụng đối với nước sinh hoạt sử dụng vượt định mức và đối tượng khác Theo tính toán của UBND TP Hồ Chí Minh, nếu áp dụng mức thu phí như đề xuất, tổng thu phí nước hộ gia đình sử dụng sinh hoạt trong năm 2008 là 107,3 tỉ đồng (tổng mức thu tất cả các đối tượng năm 2007 là 97,07 tỉ đồng), năm 2009 là 140,28 tỉ đồng
và năm 2010 là 166,29 tỉ đồng Tương ứng các năm 2008 – 2009 – 2010, tổng thu phí nước phục vụ sản xuất là 45,28 – 57,99 – 67,66 tỉ đồng; tổng thu phí nước kinh doanh dịch vụ là 21,69 – 38,38 – 53,07 tỉ đồng và tổng thu phí nước phục vụ các cơ quan hành chính sự nghiệp là 15,98 – 20,89 – 24,77 tỉ đồng Áp dụng mức phí mới, tổng số phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt thu được từ Tổng công ty cấp nước Sài gòn và Trung tâm nước sinh hoạt vệ sinh môi trường nông thôn trong năm 2011 là 228.354.003.241 VND và từ 1/08/2004 đến năm
2011 là 997.108.440.122 VND [31]
Ở một số tỉnh, thành phố khác như tỉnh Phú Thọ tình hình thu nộp phí nước thải sinh hoạt cũng có những chuyển biến tích cực Hàng tháng, đơn vị cung cấp nước sạch trực tiếp thu phí BVMT đối với nước thải của các tổ chức,
cá nhân đồng thời với việc thu tiền sử dụng nước sạch Nhờ đó từ năm 2006 đến năm 2008, tổng số phí nước thải sinh hoạt thu được là 3.218 triệu đồng, cụ thể trong năm 2006 thu được 706 triệu đồng, năm 2007 thu được 1.149 triệu đồng,
năm 2008 thu được 1.363 triệu đồng [Xem thêm phụ lục số 2]
Qua số liệu trên chúng ta thấy rằng tỷ lệ đạt thu đối với phí nước thải sinh hoạt khá cao, đặc biệt là các thành phố lớn trong cả nước, tỷ lệ đạt trên 85%
[40] Quy định về cách thu phí đã phát huy hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tiến hành thu phí, dựa trên hóa đơn tiền nước thì tỷ lệ đạt gần như 100% Tuy nhiên như phân tích ở trên cách thu như hiện nay chưa tạo ra được
Trang 3832 động lực giảm hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải của các đối tượng chịu phí, chưa tạo ra được sự công bằng giữa những đối tượng phải chịu phí nước thải sinh hoạt thải ra từ các bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, nhà hàng, khách sạn…thường có hàm lượng chất gây ô nhiễm cao hơn nước thải được thải ra từ các đối tượng cùng nhóm như nước thải ở các hộ gia đình nhưng lại chịu chung một mức phí Do vậy, việc thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt mới chỉ đạt được mục tiêu là tăng thu nhập để chi cho các hoạt động BVMT
và giảm tổng số lượng nước tiêu thụ
2.1.2 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 có khoảng 70% trong số hơn một triệu m3
nước thải/ngày từ các khu công nghiệp (KCN) được xả thẳng
ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường Có đến 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Đây là những con số báo động về thực trạng môi trường tại các KCN Việt Nam Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả ra môi trường đều
có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy định Do vậy các quy định pháp luật về thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trong giai đoạn hiện nay là công cụ hữu hiệu để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; khuyến khích các chủ thể gây ô nhiễm giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường, hướng tới hành vi thân thiện, BVMT của các DN
- Quy định về đối tư ng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
Những đối tượng chịu phí được quy định khá đầy đủ tại Điều 1 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện NĐ 25/2013/NĐ-CP Đó là nước thải của 15 nhóm ngành nghề cơ bản có phát sinh nhiều nước thải: nuôi trồng thủy sản; sản xuất, chế biến thực phẩm, rượu bia, giải khát; sản xuất, chế biến nông, lâm sản, thủy sản; chăn nuôi, giết mổ (gia súc, gia cầm tập trung); sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; khai thác, chế biến khoáng sản; thuộc da,
Trang 3933 tái chế da; sản xuất (giấy, bột giấy, nhựa, cao su); sản xuất phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng; sản xuất linh kiện, thiết bị điện, điện tử; sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu; nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp, khu đô thị (trừ các trường hợp được miễn phí BVMT theo quy định của pháp luật) Một số loại hình có nước thải chứa kim loại nặng điển hình được quy định
cụ thể tại TT6/2013/TT-BTNMT
Thông tư 6/2013/TT- BTNMT giúp khắc phục khó khăn của việc xác định đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp do số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh quá nhiều và các chủ thể này hoạt động đa ngành nghề, các
cơ quan chức năng không thể thống kê đầy đủ các lĩnh vực hoạt động của họ, bên cạnh đó còn tồn tại những cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh lén lút mà các cơ quan chức năng không thể biết để thống kê, từ đó dẫn đến việc các chủ thể này hàng ngày vẫn thải ra môi trường lượng nước thải chứa các chất gây ô nhiễm nhưng không bị thu phí BVMT đối với nước thải
Bằng việc quy định cụ thể danh mục như văn bản mới hiện nay tạo điều kiện thuận lợi hơn giúp cơ quan nhà nước thực hiện thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp hiệu quả hơn, tránh bỏ sót đối tượng chịu phí khắc phục vướng mắc của NĐ 67/2003/NĐ-CP
- Quy định về mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
+ Phí BVMT đối với nước thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến không thuộc danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 4 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT được tính theo công thức:
F = f + C, trong đó:
Trong đó: - F là số phí phải nộp;
- f là phí cố định: 1.500.000 đồng/năm;
Trang 4034
- C là phí biến đổi, tính theo: tổng lượng nước thải ra; hàm lượng hai chất gây ô nhiễm là nhu cầu ô xy hoá học (COD) mức thu là 1000 đồng/kg và chất rắn lơ lửng (TSS) mức thu là 1200 đồng/kg
+ Phí BVMT đối với nước thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 4 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT được tính theo công thức F = (f x K) + C trong đó K là hệ số từ 2 đến 21 tùy thuộc tổng lưu
lượng nước thải [Xem thêm phụ lục số 1]
- Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc danh mục, nếu đã xử lý các kim loại nặng trong nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt phù hợp với mục đích sử dụng của nguồn tiếp nhận thì được áp dụng hệ số
K bằng 1 Không áp dụng phí biến đổi đối với cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 30 m3/ngày đêm (C = 0)
- Quy định về xác định số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
* Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến không thuộc danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng do Bộ TN&MT ban hànhđược quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT như sau:
+ Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 30m3/ngày đêm, chỉ phải nộp phí theo mức cố định f = 1.500.000 đồng/năm;
+ Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí từ 30m3/ngày đêm trở lên, ngoài việc phải nộp phí cố định f = 1.500.000 đồng/năm, hàng quý phải nộp phí biến đổi (Cq) được tính theo công thức sau:
Cq(đồng) = Tổng lượng nước thải ra(m3
) x Hàm lượng COD trong nước thải(mg/l) x mức thu đối với COD(đồng/kg) + Hàm lượng TSS trong nước thải(mg/l) x mức thu đối với TSS(đồng/kg) x 10-3
* Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng do Bộ TN&MT ban hành được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 5 TTLT 63/2013/BTC-BTNMT