Tuy nhiên, quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở địa bàn cơ sở còn chưa được chặt chẽ, minh bạch, thậm chí là còn không ít những biểu hiện tiêu cực gây bất bình trong xã hội, ả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Động cùng quý thầy cô trong Tiểu ban, gia đình và tập thể lớp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tác giả
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Bùi Hữu Võ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG TUYỂN
1.1.1 Tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ với thực hiện nghĩa vụ
1.1.2 Quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ 9
1.3 Công bằng và điều kiện đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và
1.3.1 Công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam 20 1.3.2 Điều kiện đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG
TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công
2.2 Nguyên nhân của thực trạng đảm bảo công bằng trong tuyển
chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam hiện nay 43 2.3 Giải pháp đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hàng năm, vào dịp đầu xuân hay đầu tháng tám, các địa phương trong cả nước lại tổ chức thực hiện công tác khám tuyển nghĩa vụ quân sự để lựa chọn những thanh niên đủ tiêu chuẩn lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.Đây
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quân sự, quốc phòng của đất nước Thực hiện tốt công tác này không chỉ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội chủ lực mà còn là tiền
đề để xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên lâu dài cho địa phương Tuy nhiên, quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở địa bàn
cơ sở còn chưa được chặt chẽ, minh bạch, thậm chí là còn không ít những biểu hiện tiêu cực gây bất bình trong xã hội, ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân
Trong một xã hội đang ngày càng biến động như hiện nay, bên cạnh các giá trị dân chủ, văn minh, nhân đạo, quyền con người thì công bằng cũng luôn được nhìn nhận như một giá trị phổ cập, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” [20], đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lúc nhân
dân ta đang tiến hành sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Ngày nay, công bằng là một trong năm mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là xây dựng một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Đảng ta cũng luôn nhấn mạnh đi đôi với
phát triển kinh tế phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, coi đây là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nước.Thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng đang đặt ra yêu cầu hết sức bức thiết của việc thực hiện
Trang 6nguyên tắc công bằng trong mọi mặt của đời sống xã hội, mà nòng cốt chính
là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân
Từng là một quân nhân trong quân đội nhân dân Việt Nam, từng tham gia vào quy trình tuyển quân, nên ở một phương diện nhất định, tôi nhận thức được những hạn chế, bất bình đẳng trong công tác tuyển chọn và gọi công dân
nhập ngũ hiện nay Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.Trong khi
đó, thực hiện nghĩa vụ quân sự vừa là một nghĩa vụ thiêng liêng, vừa là niềm
tự hào của hàng triệu thanh niên thì lại chưa thực sự công bằng Vì vậy, tôi
quyết định chọn vấn đề “Đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ, gắn với
bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, công bằng luôn là một vấn đề được nhiều nhà khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình tiếp cận vấn đề này từ nhiều góc độ triết học, luật học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học với những phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau như tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội, công bằng xã hội với chính sách xã hội
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Báo cáo phát triển thế giới
2006 – Công bằng và phát triển của Ngân hàng thế giới; Thúc đẩy công cuộc phát triển nông thôn ở Việt Nam: Tăng trưởng, công bằng và đa dạng hóa, của Ngân hàng thế giới (Hà Nội, tháng 2 năm 2006);Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng của GS.TS.Phạm Xuân Nam (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2001); Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của GS.VS.Nguyễn Duy Qúy (Tạp chí Triết học, số 03 năm 2008); Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người của PGS.TS Nguyễn
Trang 7Quốc Phẩm (Nxb.Lí luận chính trị, Hà Nội, năm 2006); Công bằng xã hội và phát triển con người bền vững, Phạm Thành Nghị (Tạp chí Nghiên cứu con
Tùng (Tạp chí Kiểm sát, số 17 năm 2008) Nhìn chung, các công trình và các bài viết trên đã phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm của công bằng và vai trò của nó đối với nhà nước, pháp luật cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn
đề công bằng và đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự, một vấn đề rất gần dân, thu hút được sự quan tâm trực tiếp của nhân dân thì gần như lại chưa có
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của nam thanh niên Tuy nhiên đây là vấn đề lớn, phức tạp, vì vậy trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản
Trang 8Việt Nam về nhà nước và pháp luật Ngoài ra,trong Luận văn cósử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như so sánh, phân tích, tổng hợpvà thống kê
5 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo công bằng trong công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam thời gian tới.Để đạt được mục đích trên, tác giả phân tích làm rõ cơ
sở lý luận và thực trạng đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũở nước ta hiện nay, từ đótìm ra các giải pháp để tiếp tục đảm bảo công bằng cho công tác này trong thời gian tới
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
có kết cấu 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi
công dân nhập ngũ ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng và giải pháp đảm bảo công bằng trong tuyển
chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG TUYỂNCHỌN VÀ
GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ
1.1.1 Tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ với thực hiện nghĩa vụ
quân sự
Nghĩa vụ quân sự có phạm vị rộng, không đơn giản, bó hẹp như nhiều người vẫn thường nghĩ đó chỉ là việc nhập ngũ hàng năm của công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ Điều 2, Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 2005
đưa ra khái niệm về nghĩa vụ quân sự: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam” Cũng tại Điều này quy định: “Làm nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và trong ngạch dự bị của quân đội Công dân phục vụ tại ngũ gọi là quân nhân tại ngũ Công dân phục vụ trong ngạch dự bị gọi là quân nhân dự bị” Tiếp theo, Điều 6 quy định: “Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị gồm có sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ Chế độ phục vụ của sĩ quan
do Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định” Tại Chương V của
Luật còn quy định về việc phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, theo đó, hạ
sĩ quan và binh sĩ dự bị được chia thành quân nhân dự bị hạng một và quân nhân dự bị hạng hai với hạn tuổi phục vụ là đến hết 45 tuổi đối với nam và
đến hết 40 tuổi đối với nữ
Như vậy, có thể thấy thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ bao gồm việc phục vụ tại ngũ của công dân nam trong độ tuổi từ 18 đến 25 mà còn gồm cả công dân nam, nữ phục vụ trong ngạch dự bị, và chế độ phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, sĩ quan trong quân đội Do đó, nghĩa vụ quân sự sẽ bao gồm nhiều mảng, phạm vi khác nhau Trong khi đó, tuyển chọn và gọi công
Trang 10dân nhập ngũ là giai đoạn đầu chuẩn bị cho việc phục vụ tại ngũ của công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ Có thể nói, theo cách hiểu và quan tâm của
dư luận hiện nay thì đây chính là phần quan trọng nhất của việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, và đảm bảo được công bằng trong giai đoạn này chính là đảm bảo được công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự của nam thanh niên nói chung
Hoạt động tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ được quy định chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể, đó là Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 sửa đổi năm 2005 quy định việc phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ (Chương II), việc chuẩn bị cho thanh niên phục vụ tại ngũ (Chương III); việc gọi nhập ngũ, Hội đồng nghĩa vụ quân sự, việc hoãn gọi nhập ngũ, việc miễn làm nghĩa vụ quân sự (Chương IV) Thông tư 167/2010/TT–BQP quy định đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn đối với công dân nhập ngũ; trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, đơn vị, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ (tuyển quân) hàng năm Thông tư liên tịch số 175/2011/TTLT-BQP-BGĐT, Thông tư 13/2013/TTLT-BQP-BGDĐT hướng dẫn Nghị định 38/2007/NĐ-CP về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ
do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư liên tịch số 76/2006/TTLT-BQP-BCA ngày 03/5/2006 của Bộ Quốc phòng - Bộ Công an về hướng dẫn tiêu chuẩn chính trị, nguyên tắc thủ tục tuyển chọn công dân vào phục vụ trong quân đội Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT BQP-BYT hướng dẫn việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự
Theo đó, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ thực chất là hai bước của quá trình tuyển quân, đây chính là hoạt động thường niên được thực hiện bởi các cơ quan chức năng nhằm mục đích là lựa chọn những thanh niên đủ tiêu
Trang 11chuẩn về sức khỏe, văn hóa, chính trị lên đường thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc một cách công bằng, hiệu quả, an toàn và tiết kiệm; qua đó góp phần
nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và góp phần xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương, đặc biệt là các địa phương vùng sâu, vùng xa, địa bàn trọng yếu
Đối tượng được tuyển chọn và gọi nhập ngũ là nam thanh niên từ đủ 18 đến hết 25 tuổi (gọi từ lứa tuổi thấp đến lứa tuổi cao) và căn cứ vào một số tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn chính trị, đạo đức: Thực hiện theo hướng dẫn của liên Bộ Quốc phòng - Bộ Công an về tiêu chuẩn chính trị, nguyên tắc, thủ tục tuyển chọn công dân vào phục vụ trong quân đội Những cơ quan, đơn vị trọng yếu, tuyển chọn theo quy định của Bộ Quốc phòng về nguyên tắc tuyển chọn, điều động người vào làm việc ở cơ quan; đơn vị trọng yếu, cơ mật Những công dân xăm da (bằng kim) có hình mang tính kinh dị, kỳ quái, kích động, bạo lực gây phản cảm ở những vị trí lộ diện như mặt, cổ, tay (từ 1/3 dưới cánh tay trở xuống); chân (1/3 từ dưới đùi trở xuống), không gọi nhập ngũ vào quân đội
- Tiêu chuẩn sức khỏe: Tuyển những công dân có sức khỏe loại 1, 2, 3 (rất tốt, tốt, khá) theo tiêu chuẩn sức khỏe quy định của liên Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng về việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự Các đơn vị đặc thù thực hiện tuyển chọn theocác tiêu chuẩn riêng theo quy định của Bộ Những công dân mắc các tật khúc xạ về mắt (cận thị, viễn thị), nghiện ma túy, nhiễm HIV, AIDS, không gọi nhập ngũ vào quân đội
- Tiêu chuẩn học vấn: Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ học vấn lớp 8 trở lên Những địa phương thực sự khó khăn, không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì được tuyển chọn số có trình độ học vấn lớp
7 Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, các xã biên giới được tuyển từ 20-25% có trình độ học vấn cấp tiểu học, còn lại là trung học
Trang 12cơ sở trở lên, nếu vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu có thể tuyển một số thanh niên không biết chữ để vừa huấn luyện, vừa học tập để nâng cao trình độ học vấn nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở cho địa phương sau khi xuất ngũ Tích cực tuyển chọn, gọi nhập ngũ những công dân đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề để giảm bớt lưu lượng đào tạo trong quân đội, góp phần thực hiện công bằng xã hội và nâng cao chất lượng xây dựng quân đội
1.1.2 Quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ
Việc tuyển quân sẽ được thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm và giao cho Tổng Tham mưu trưởng quyết định Cấp tỉnh và cấp sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn sẽ tiến hành tuyển quân 2 đợt/năm, mỗi đợt tuyển 50% so với chỉ tiêu cả
năm; cấp huyện và cấp tiểu đoàn tuyển quân một đợt/năm Sau khi các địa
phương được giao chỉ tiêu tuyển quân thìquy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ diễn ra theo các bước sau:
- Bước 1: Sơ tuyển tại cơ sở:Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, phường, thị
trấn tổ chức xét duyệt tiêu chuẩn chính trị và sơ tuyển sức khỏe ngay tại địa phương mình Đầu tiên, Ban chỉ huy quân sự xã phối hợp với Ban công an xã cùng với thôn (bản, ấp, làng, khu phố) rà soát, lập danh danh sách nam thanh niên trong độ tuổi gọi nhập ngũ Sau đó, Hội đồng nghĩa phụ quân sự xã sẽ tiến hành xét duyệt tiêu chuẩn chính trị, đạo đức của các công dân này theo Thông tư số 167/2010/TTBQP và Thông tư 76/2006/TTLT-BQP-BCA
Những công dân nào không đảm bảo về tiêu chuẩn chính trị, đạo đức như phạm tội, đang bị điều tra, xét xử hoặc có những hình xăm phản cảm sẽ
bị loại ra khỏi danh sách công dân thuộc diện gọi nhập ngũ Tiếp theo, chủ tịch Hội đồng nghĩa vụ quân sự của xã (chủ tịch xã) phát giấy gọi sơ tuyển sức khỏe đối với những công dân thuộc diện gọi nhập ngũ, sau đó Ban chỉ
Trang 13huy quân sự xã phối hợp với Trạm y tế xã tổ chức sơ tuyển sức khỏe cho các công dân này Việc sơ tuyển sức khỏe được tiến hành theo thông tư số 36/2011/TTLT-BQP-BYT nhằmkiểm tra, đánh giá sơ bộ sức khỏe đối với những đối tượng trên, phát hiện kịp thời những trường hợp không đủ sức khoẻ
về thể lực, dị tật, dị dạng, mắc bệnh mãn tính, các bệnh thuộc danh mục bệnh được miễn làm nghĩa vụ quân sự Sau khi sơ tuyển, lập danh sách công dân đủ tiêu chuẩn sức khỏe làm nghĩa vụ quân sự và những công dân mắc các bệnh thuộc diện miễn làm nghĩa vụ quân sự thông qua Hội đồng nghĩa vụ quân sự
xã Cuối cùng, Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã tổng hợp, lập và đề nghị Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện danh sách các công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình
Bước 2: Khám tuyển và chốt danh sách gọi nhập ngũ: Trên cơ sở danh
sách đề nghị của Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện (quận, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh) lập và duyệt danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trên địa bàn huyện, danh sách được niêm yết công khai tại trụ sở ủy ban nhân dân các xã Sau đó, chỉ huy trưởng quân sự huyện phát lệnh gọi khám sức khỏe tới các công dân được gọi nhập ngũ (đã qua vòng sơ tuyển) Tiếp theo, Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện phối hợp với Phòng y tế huyện, Bệnh viện đa khoa huyện lập kế hoạch và tổ chức khám sức khỏe cho công dân thuộc diện được gọi làm nghĩa vụ quân sự để phân loại sức khỏe, xét nhiệm ma túy và HIV đối với các trường hợp này Cuối cùng, Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện phối hợp với đơn vị nhận quân chốt danh sách công dân nhập ngũ theo thứ tự kết hợp ưu tiên về độ tuổi, sức khỏe, học vấn
Bước 3: Phát lệnh gọi nhập ngũ, tổ chức bàn giao quân số: Theo quyết
định của Uỷ ban nhân dân huyện, chỉ huy trưởng quân sự huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) phát lệnh gọi từng công dân nhập ngũ Lệnh gọi
Trang 14nhập ngũ phải được đưa trước 15 ngàỳ Ban chỉ huy quân sự huyện hoàn chỉnh đầy đủ thủ tục hồ sơ (kể cả hồ sơ đảng viên và đoàn viên) của công dân được gọi nhập ngũ để giao cho đơn vị nhận quân Nắm chắc cỡ số quân trang của các công dân được gọi nhập ngũ để cung cấp cho đơn vị nhận quân cấp phát quân trang cho phù hợp Phối hợp với đơn vị nhận quân tổ chức lễ giao nhận quân theo Hướng dẫn số 2280/HD-QP ngày 16 tháng 8 năm 2000 của
Bộ Quốc phòng
Trong quá trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, nếu có khiếu nại,
tố cáo liên quan đến các trường hợp công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự thì Hội đồng nghĩa vụ quân sự tỉnh tổ chức giải quyết các khiếu nại, tố cáo trên theo hạn định; trường hợp khiếu nại, tố cáo liên đến sức khỏe của công dân được gọi nhập ngũ thì Hội đồng y khoa tỉnh tổ chức giám định sức khỏe nghĩa vụ quân sự và đưa ra kết luận cuối cùng Trường hợp sau khi nhận quân, đơn vị nhận quân tổ chức phúc tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo quy định; nếu phát hiện công dân không đủ tiêu chuẩn phải trả về địa phương thì thông báo cho cơ quan quân sự cấp huyện đến nhận công dân về và chịu trách nhiệm đưa công dân khác đủ tiêu chuẩn đến bù đổi tại đơn vị Thời gian bù đổi trong 10 ngày, kể từ ngày nhận quân
Như vậy, có thể thấy quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ là một quy trình phức tạp, được tiến hành và phối hợp bởi nhiều cơ quan chức năng khác nhau như quân đội, công an, y tế cùng với ủy ban nhân dân các cấp
và cơ sở thôn, khu phố Về mặt pháp lý, các quy định tuyển quân là khá chặt chẽ và đầy đủ, nếu các quy định này được tuân thủ nghiêm ngặt thì công tác tuyển quân của nước ta ở một chừng mực nào đó sẽ đảm bảo được hiệu quả cũng như đảm bảo được các yếu tố công bằng, khách quan
Trang 151.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG BẰNG
1.2.1 Khái niệmcông bằng
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, công bằng luôn là vấn đề được quan tâm, gắn liền với những cuộc đấu tranh vì hòa bình, vì sự phát triển và tiến bộ của con người Nó tồn tại, xuất phát từ nhu cầu tâm lý thỏa mãn khách quan của con người, và khi không được thỏa mãn nhu cầu tâm lý tự nhiên này, con người hay cộng đồng trong mối quan hệ ấy sẽ cảm thấy bị kìm kẹp, ức chế, dễ đi đến đấu tranh Thực tế lịch sử đã chứng minh, ở đâu có áp bức, có bất công, bóc lột thì tất yếu ở đó sẽ xuất hiện những cuộc đấu tranh đòi lại sự công bằng, thậm chí đã có không ít những cuộc đấu tranh diễn ra và được thực hiện bằng sinh mệnh của hàng triệu người, tiếp nối qua nhiều thế hệ
Tư tưởng về công bằng là cả một quá trình phát triển Nó bắt đầu từ những khái niệm sơ khai, đơn giản, dần dần nó được mở rộng ra gắn liền với lợi ích giai cấp, với nhà nước và pháp luật và được quy định bởi các điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, bao hàm cả sự giao thoa giữa tính thời đại với bản sắc văn hóa của từng dân tộc Do đó, công bằng luôn là một khái niệm đa diện, phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt, công bằng có nghĩa là “Theo đúng lẽ phải, không thiên vị” [36, tr.200]; còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì cho rằng, công bằng: “Là khái niệm nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa người với người Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền với nghĩa vụ Không có sự tương xứng trong quan hệ ấy là bất công” [17, tr.580–581]
Trang 16Trong Báo cáo phát triển thế giới năm 2006 - Công bằng và phát triển, Ngân hàng thế giới đã đúc kết: “Kể từ những năm 1970, nhiều nhà tư tưởng
có ảnh hưởng lớn như Jhon Rawls, Amartye Sen, Ronald Dworkin và John Roemer đã có những đóng góp quan trọng cho cách nghĩ về sự công bằng Rawls cho rằng, công bằng xã hội đòi hỏi phải thỏa mãn hai nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc thứ nhất yêu cầu phải mở rộng sự tự do tối đa cho mỗi người, nhất quán với sự tự do tương tự của người khác Nguyên tắc thứ hai yêu cầu cơ hội phải được mở rộng cho tất cả các thành viên trong xã hội và phải tối đa hóa được cơ hội cho những nhóm thiệt thòi nhất Sen bổ sung, những cơ hội mà Rawls đề cập, đó là tập hợp các hành động và các trạng thái người đó đánh giá cao hoặc thụ hưởng Còn Dworkin thì cho rằng, công bằng đòi hỏi các cá nhân phải được đền bù cho những khía cạnh thuộc về hoàn cảnh của họ mà không có khả năng kiểm soát hoặc họ không chịu trách nhiệm về nó.Đối với Roemer, công bằng đòi hỏi phải có chính sách cơ hội bình đẳng Nhìn chung quan niệm của bốn nhà tư tưởng đều thống nhất với nhau ở chỗ: Chuyển trọng tâm của công bằng từ kết cục sang cơ hội” [21,
tr.111–113]
Ở Việt Nam, thời gian gần đây cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề công bằng dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong đó có thể kể đến một số cách tiếp cận sau:
Cách tiếp cận thứ nhất tập trung đến đối tượng được thụ hưởng, lấy sự tương xứng làm cơ sở để đánh giá sự công bằng Cụ thể, trong luận án phó
tiến sĩ Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, tác giả Võ Khánh Vinh định nghĩa: “Công bằng là sự đánh giá tương xứng giữa giá trị thực tế của những cá nhân khác nhau (các nhóm xã hội, các giai cấp) và địa vị xã hội của họ, giữa lao động và trả công, giữa hành vi và sự đền đáp, giữa công lao
và việc thừa nhận nó, giữa phẩm giá của con người và sự thừa nhận của xã
Trang 17hội đối với những phẩm giá đó, giữa quyền và nghĩa vụ, giữa vi phạm pháp luật và trách nhiệm ” [35, tr 16-17] Trong luận án tiến sĩ Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, tác giả Vũ Anh Tuấn định nghĩa: “Công bằng xã hội là khái niệm chỉ sự tương xứng giữa vai trò và vị thế của các thành viên trong xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội), giữa cái mà họ tạo ra được cho xã hội với cái mà họ được nhận lại từ xã hội (cái tạo ra và cái được nhận lại có thể là điều tốt lành hoặc ngược lại) như cống hiến và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và nghĩa vụ, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý Không có sự tương xứng nói trên là bất công xã hội” [31, tr 25]
Cách tiếp cận thứ hai quan tâm đến sự hài hòa xã hội, nghĩa là đối tượng được thụ hưởng phải phù hợp với các nhóm xã hội, khả năng, hiện thực, và
những điều kiện nhất định.Cụ thể, trong tác phẩm Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, GS.TS Phạm Xuân Nam định nghĩa: “Công bằng xã hội là một giá trị định hướng để con người thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong mối quan
hệ phân phối sản phẩm xã hội tương đối hợp lý giữa các cá nhân và nhóm xã hội, phù hợp với sự cống hiến của mỗi người và khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” [15, tr.14]
Còn theo TS Nguyễn Minh Tuấn, trong bài viết Luận bàn về sự công bằng trên Tạp chí Tia sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, tác giả có một lối
tiếp cận vừa tương đồng lại vừa mới mẻ Ông cho rằng trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: Công bằng xã hội theo chiều ngang nghĩa là đối xử như nhau đối với những người
có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc theo nghĩa là đối
xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau Chẳng hạn trong việc xây dựng
Trang 18chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc)[32]
Tuy nhiên, GS.TS.Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết học, số 01 năm 2008) lại
bày tỏ quan điểm không tán thành Ông cho rằng, nếu nội hàm của khái niệm công bằng xã hội theo chiều ngang ở trên là rõ thì nội hàm của khái niệm công bằng xã hội theo chiều dọc lại không được rõ như vậy, vì đối xử khác nhau với những người có các điều kiện sống khác nhau thì mức khác nhau như thế nào sẽ được coi là công bằng? Thêm nữa, cùng một cách giải quyết
cụ thể trong một trường hợp cụ thể nếu xét theo chiều ngang là công bằng, nhưng xét theo chiều dọc lại là không công bằng, và ngược lại Việc phân định và kết hợp công bằng như vậy sẽ thủ tiêu luôn vấn đề công bằng, khiến cho vấn đề ấy không còn cần phải xem xét nữa, vì ở khắp nơi, tất cả đều là công bằng hoặc là không công bằng tuỳ thuộc vào các góc độ xem xét khác
nhau Vì vậy, khó có thể tán thành với ý kiến cho rằng việc phân định và kết hợp công bằng theo chiều dọc và chiều ngang sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự
Theo một cách tiếp cận khác thì công bằng xã hội là “Sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong mọi quan hệ xã hội và thiết chế xã hội; mà cốt lõi là sự bình đẳng về thông tin, kinh tế, chính trị và pháp luật”
[14, tr 288] Công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về mọi phương diện, cũng không phải về một phương diện bất kỳ,
mà chỉ về một phương diện đã hoàn toàn xác định: Phương diện giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.Công bằng xã hội được xem là một dạng, một biểu hiện của bình
đẳng xã hội, là sự hiện thực hóa của bình đẳng xã hội trong cuộc sống.Thực
Trang 19hiện công bằng xã hội chính là thực hiện bình đẳng xã hội từng phần để hướng tới bình đẳng xã hội ngày càng cao hơn và là tiền đề, điều kiện để thực
hiện bình đẳng xã hội Câu châm ngôn của Luật Công bằng “Equality is
equity” (bình đẳng là công bằng) được hiểu với ý nghĩa đó [15, tr.16]
Vậy, khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp như ở Việt Nam hiện nay thì chúng ta có thể thực hiện được công bằng xã hội hay không? Như
đã đề cập, công bằng theo nghĩa là cống hiến ngang nhau sẽ hưởng thụ ngang nhau thì không nhất thiết phải giàu có mới thực hiện được công bằng, hơn thế
nữa, càng chưa giàu có, càng nghèo khó lại càng phải thực hiện công bằng
nếu muốn tạo ra sự ổn định cho xã hội “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [20], đó là lời căn dặn của
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay khi cuộc sống của nhân dân ta còn hết sức thiếu thốn, gian khổ trong những năm tháng chiến tranh
1.2.2 Đặc điểm của công bằng
Dưới góc độ pháp lý quốc tế, nguyên tắc công bằng như là nền tảng của nhà nước pháp quyền hiện đại và là một nguyên tắc quan trọng của nhiều bản Hiến pháp dân chủ.Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, tài sản hay các điều kiện khác Kế thừa tư tưởng của triết gia người Anh John Locke, Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 đã khẳng
định:“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.Tại Điều 1,
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự
Trang 20do và bình đẳng về quyền lợi Sự phân biệt xã hội chỉ được phép thành lập trên cơ sở nó đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng”.Ngay cả Luật Công
bình, ra đời trước vào thế kỷ XVI cũng được xây dựng dựa trên đặc trưng là các nguyên lý xây dựng và áp dụng luật được dựa trên lẽ phải, công lý là chính.Đến nay, nó vẫn là một trong hai bộ phận chính của hệ thống pháp luật Anh
Ở Việt Nam, công bằng là một trong năm thành tố của mục tiêu chung
mà chúng ta đang phấn đấu để đạt tới trên con đường xây dựng một nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Rõ ràng,
công bằng đã và đang đặt ra yêu cầu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; vì vậy, bên cạnh sự cần thiết phải làm sáng rõ nội hàm của khái niệm công bằng thì chúng ta cũng phải tìm ra các đặc trưng của nó để vận dụng vào thực tiễn công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta một cách hiệu quả Theo một số nhà nghiên cứuthì công bằng có những đặc điểm cơ bản sau:
a) Công bằng là một giá trị xã hội lớn lao, được nhận thức và thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau với những nội dung yêu cầu khác nhau Đặc biệt, dưới góc độ giai cấp, tính lịch sử, bản sắc dân tộc và điều kiện kinh tế -
xã hội thì điều đó lại càng phức tạp hơn Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề công bằng, phải đặt khái niệm này trong một phạm vi, yêu cầu nghiên cứu cụ thể thì mới làm rõ được những nội dung yêu cầu của nó
b) Trong bất kỳ thời đại nào, công bằng luôn là khái niệm chứa đựng bản sắc dân tộc hòa quyện với những giá trị chung của nhân loại Một nền văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng mang đậm bản sắc, tính cách của dân tộc đó
nhưng lại hầu như không có một nền văn hóa nào chỉ đứng một mình, mà bao giờ nó cũng liên kết với một hay nhiều nền văn hóa khác Vì vậy, chuẩn mực
Trang 21của công bằng bao giờ cũng đồng thời chịu sự chi phối của bản sắc dân tộc lẫn những giá trị công bằng chung của nhân loại qua các thế hệ
c) Trong xã hội có giai cấp, bản thân công bằng cũng vừa mang tính giai cấp, lại vừa mang tính xã hội Được quy định bởi địa vị, lợi ích trong xã hội nên mỗi giai cấp, mỗi thành phần xã hội sẽ có những quan niệm khác nhau về các chuẩn mực công bằng và cách thức thực hiện nó Song, các quan niệm đó cũng phải đặt trong một giới hạn độ nhất định, nghĩa là nó phải được đặt trong một tổng thể dung hòa ý chí, lợi ích với các giai cấp, các thành phần khác trong tổng thể xã hội đó Vì chỉ có như vậy, các chuẩn mực công bằng mới tạm chấp nhận được và có điều kiện để tiếp tục tồn tại
d) Công bằng là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, do đó công bằng cũng mang tính lịch sử cụ thể Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định sẽ có một kiểu quan niệm công bằng đặc trưng cho hình thái kinh tế xã hội đó; và ngay trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội thì quan niệm về công bằng cũng thay đổi qua từng giai đoạn.Ví dụ, trong thời kỳ công xã nguyên thủy thì công bằng được quan niệm là cào bằng, nghĩa là các sản phẩm từ săn bắt hái lượm được chia đều cho các thành viên.Sang đến thời kỳ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ phong kiến thì công bằng lại được quan niệm trong sự bất công bằng về phân phối sản phẩm về quyền và nghĩa vụ giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Còn ngày nay, quan niệm về công bằng lại mang ý nghĩa tích cực, tiến bộ và khoa học hơn, đó là công bằng theo hướng thụ hưởng như nhau về quyền và nghĩa vụ, thụ hưởng thành quả lao đông theo năng lực, hay theo cách tiếp cận bình đẳng các cơ hội
e) Công bằng chỉ là một khái niệm mang tính tương đối, bởi lẽ, các chủ thể trong cùng một xã hội là rất khác nhau, đa dạng về mối quan hệ, đặc điểm, vai trò, khả năng, các giá trị cũng như vị thế Vì vậy, mức độ thụ hưởng của
Trang 22họ về lợi ích, tài nguyên, quyền lợi, nghĩa vụ, cơ hội đương nhiên cũng không thể giống nhau hoàn toàn
g) Công bằng luôn có quan hệ chặt chẽ với chân lý, các giá trị dân chủ, nhân đạo, văn minh Trên thực tế, để đánh giá một hoạt động nào đó có công bằng hay không thì tất nhiên không thể không dựa vào chân lý, đó là những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan đã được kiểm chứng qua thực tiễn, cho nên sẽ không công bằng khi chúng ta đánh giá hay phán xét một hiện tượng nào đó có công bằng hoặc bất công mà lại chỉ dựa vào những tín hiệu tôn giáo hay những luận cứ thiếu khoa học Ở phương diện chung, nhân đạo, dân chủ, văn minh là các giá trị mà mọi xã hội đều hướng tới, ở đó quyền con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi vấn đề xã hội, điều đó hoàn toàn phù hợp với mục đích tự thân của công bằng khi bản thân nó luôn hướng tới
sự thỏa mãn tốt đẹp của con người Có thể nói dân chủ, công bằng, văn minh chính là cơ sở, là điều kiện cần thiết để xây dựng và đảm bảo một xã hội công bằng, đến lượt mình công bằng sẽ thúc đẩy, củng cố xã hội đạt đến mức độ dân chủ, văn minh và nhân đạo hơn Thật vậy, không thể hình dung về một xã hội dân chủ mà lại thiếu công bằng, chỉ trong một xã hội dân chủ bài bản, đúng nghĩa mới có những tiền đề, khả năng cho sự tồn tại của những chuẩn mực công bằng đích thực
Tóm lại, những đặc trưng trên cho thấy công bằng là một khái niệm đa diện, phức tạp không chỉ trong lý luận mà còn cả trong thực tiễn.Để tránh sự phức tạp ngay trong bản thân nội hàm của khái niệm công bằng nên trong Luận văn của mình, tác giả chủ yếu sử dụng khái niệm công bằng theo nghĩa
của Từ điển Tiếng Việt là “Theo đúng lẽ phải, không thiên vị”.Đây không chỉ
là một khái niệm gần gũi, dễ hiểu, mà thực tế còn phù hợp với cách hiểu chung của xã hội và cũng rất phù hợp với mục đích tiếp cận vấn đề của Luận văn.Ở cách tiếp cận này, trongmột phạm vi nhất định, công bằng được hiểu là
Trang 23đồng nghĩa với bình đẳng Bình đẳng là sự ngang nhau về một giá trị, phương diện nào đó bất chấp các chủ thể có sự khác nhau về đặc điểm, địa vị, vai trò, khả năng thực tế chẳng hạn bình đẳng về quyền con người, bình đẳng giới, bình đẳng trước pháp luật Và xét trong mối quan hệ bình đẳng, công bằng được thể hiện qua sự đối xử không thiên vị giữa các bên chủ thể, tức là theo đúng lẽ phải, không thiên về bên nào
1.3 CÔNG BẰNG VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở Việt Nam
Đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ chính là
cơ sở để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự Không lâu sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với những cuộc chiến tranh khốc liệt để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Đó là một trong những lý do để nghĩa vụ quân sự luôn được đề cao trong các bản hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ
Hiến Pháp 1946 quy định: “Mỗi công dân Việt Nam phải bảo vệ Tổ quốc” (Điều 4) “Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính”(Điều 5) Hiến Pháp năm 1959quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý nhất của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.Công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc” (Điều 42) Hiến pháp năm 1980:
“Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chăm lo công nghiệp quốc phòng, huy động nhân lực, vật lực nhằm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.Tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ
Trang 24quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định” (Điều 52).Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2013) khẳng định: “ Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” (Điều 45).“Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh”(Điều 6)
[26]
Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2005 quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa
vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam” (Điều 2) “Công dân nam, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam” (Điều 3) “Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ, độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi” (Điều 12)[27]
Như vậy, theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam đối với nam thanh niên là nghĩa vụ bắt buộc, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú Các hành vi vi phạm phải bị xử lý về hành chính hoặc hình
sự hoặc theo Điều lệnh của quân đội Quy định này là sự kế thừa các bản Hiến pháp, Luật Nghĩa vụ quân sự trước đây, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Xuất phát từ ý nghĩa, đặc điểm của khái niệm công bằng và xuất phát từ
cơ sở lý luận, pháp lý nêu trên, công bằng trong công tác tuyển chọn và gọi
Trang 25công dân nhập ngũ được hiểu rằng không có sự thiên vị trong hoạt động tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ của các cơ quan chức năng; dù cho những nam thanh niên trong hạn tuổi nhập ngũ ở cùng một địa bàn cơ sở có sự khác biệt về kinh tế, dân tộc, tôn giáo, thành phần gia đình hay trình độ văn hóa Nghĩa là công tác này phải được thực hiện một cách khách quan để đảm bảo rằng những thanh niên ưu tú nhất theo quy định của pháp luật sẽ phải lên đường làm nghĩa vụ đối với tổ quốc Trên cơ sở đó, tính công bằng còn có thể được mở rộng ra trên bình diện cả nước giữa các địa phương ở các vùng miền khác nhau dựa trên bình quân tương đối về quy mô dân số Ví dụ, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có dân số đông thì số lượng nam thanh niên nhập ngũ cũng phải lớn tương ứng với số dân, dù cho ở những thành phố này nảy sinh những khó khăn đặc thù như không gian đô thị chật hẹp nên tỉ lệ thanh niên bị cận thị cao, hay học vấn cao không muốn cho con đi lính Tuy nhiên, những
lý do kiểu này là không thuyết phục
Bên cạnh đó, Luận văn cũng đặt ra vấn đề tính công bằng có cần thiết phải được mở rộng ra giữa những thanh niên được lựa chọn lên đường nhập ngũ với những thanh niên không phải nhập ngũ; hay giữa những gia đình có con em đi lính trong khi những gia đình còn lại thì con em của họ có điều kiện tiếp tục lao động, học tập khi mà bảo vệ Tổ quốc lại là nghĩa vụ chung Vì vậy, nên chăng những gia đình này phải có những đóng góp vật chất ở một mức độ nhất định nào đó cho công tác quốc phòng của đất nước nói chung, đồng thời góp phần đảm bảo tính công bằng của việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ nói riêng Với ý nghĩa đó, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ đang được cả xã hội mong đợi ở sự công bằng, công tâm, nghiêm minh, khách quan và hợp tình, hợp lý
Trang 26Trên cơ sở tính công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, đòi hỏi các chủ thể tham gia hoạt động tuyển quân phải đáp ứng được một số yêu cầu sau để góp phần đảm bảo được sự công bằng của công tác này:
Một là, phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật về tuyển chọn
và gọi công dân nhập ngũ Vì bản thân quy trình tuyển chọn được tiến hành bởi rất nhiều các cơ quan khác nhau như quân đội, công an, y tế và ủy ban nhân dân các cấp Do đó, nếu một cơ quan thực hiện pháp luật không nghiêm thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả chung của quy trình này Chẳng hạn sau khi giao quân, đơn vị nhận quân phát hiện một trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khỏe thì trường hợp này sẽ bị trả về cho địa phương.Như vậy, địa phương phải có trách nhiệm bù đổi, điều này sẽ vừa làm tốn kém cho ngân sách, lại vừa không đảm bảo được yếu tố công bằng ngay trong lần giao quân đầu tiên (vì trường hợp đó đáng lẽ đã được miễn hoặc tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ vì lý do sức khỏe)
Ngoài ra, các địa phương giao quân cần phải chịu trách nhiệm với Bộ Quốc phòng về chất lượng giao quân; phân định rõ trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân Người đứng đầu các tổ chức phải ký chịu trách nhiệm trước Hội đồng nghĩa vụ quân sự về chất lượng tân binh do nghành mình đảm nhiệm, cụ thể cơ quan công an chịu trách nhiệm về chính trị, đạo đức; cơ quan
y tế chịu trách nhiệm về chất lượng sức khỏe, người đứng đầu ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về các trường hợp miễn hoặc tạm hoãn thực hiện nghĩa
vụ quân sự của địa phương
Hai là, chủ động quản lý nguồn ở địa phương một cách chặt chẽ.Để đảm
bảo được yếu tố công bằng cả về sức khỏe, trình độ học vấn cũng như thành phần gia đình thì công tác này cần phải được thực hiện hiệu quả ngay từ khâu đầu tiên là quản lý, đăng ký nguồn Để thực hiện tốt yêu cầu này, đòi hỏi Ban chỉ huy quân sự xã cần phải chủ động phối hợp với Ban công an và cơ sở
Trang 27thôn, khu phố tiến hành rà soát, nắm chắc số lượng thanh niên trong độ tuổi gọi nhập ngũ trên địa bàn mình quản lý; trong đó, chú trọng đến các trường hợp vắng mặt tại địa phương do học tập hoặc đi làm ăn kinh tế, đặc biệt là các trường hợp đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học nhưng đã hết thời hạn tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự
Thực hiện tốt công tác quản lý nguồn sẽ giúp cho các cơ quan tuyển quân không bỏ xót nguồn tuyển của địa phương mình, điều này sẽ góp phần đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự giữa những công dân trên cùng một địa bàn với nhau.Ngoài ra, việc chủ động quản lý nguồn cũng sẽ giúp cho địa phương chủ động trong việc tuyên truyền, vận động, cũng như trong việc xử lý những trường hợp có biểu hiện cố tình trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Ba là, các cơ quan tham gia tuyển quân mà trước hết là Hội đồng nghĩa
vụ quân sự của xã cần đảm bảo quá trình xét duyệt, bình cử được diễn ra một cách công khai, dân chủ Ở giai đoạn sơ tuyển đầu tiên này, việc xét duyệt đối tượng miễn, tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự, cũng như những trường hợp gọi khám tuyển phải được tiến hành từ cấp cơ sở và có sự tham gia rộng rãi của người dân để tránh tiêu cực Kết quả xét duyệt phải được thông báo thường xuyên trên phương tiện truyền thanh của xã và được niêm yết công khai tại bảng tin của thôn, khu phố, trụ sở ủy ban nhân dân xã Cơ quan quân
sự của xã cần phải nâng cao năng lực tham mưu cho Hội đồng nghĩa vụ quân
sự xã, đặc biệt là các quy định của pháp luật về những trường hợp miễn hay tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự để Hội đồng lập danh sách.Bên cạnh đó, Hội đồng nghĩa vụ quân sự cũng như các thành viên của Hội đồng phải thực hiện tròn khâu thâm nhập “3 gặp, 4 biết” (gặp cơ sở, gặp gia đình và gặp công dân; biết về trình độ văn hóa, lai lịch chính trị, tình hình sức khỏe và hoàn cảnh gia đình) để làm cơ sở chính xác cho kết quả xét duyệt, bình cử
Trang 28Bốn là, các cơ quan y tế của địa phương cần tiến hành quy trình sơ -
khám tuyển sức khỏe một cách chặt chẽ, theo đúng trình tự Đầu tiên là quy trình sơ tuyển sức khỏe ở cơ sở, mục đích là nhằm kiểm tra, đánh giá sơ bộ sức khỏe của những thanh niên trong diện được gọi nhập ngũ và phát hiện kịp thời những trường hợp không đủ sức khỏe do thể lực hay dị tật để đưa vào danh sách miễn, tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự Vì vậy, bên cạnh các trang thiết bị y tế cần thiết, các trạm y tế cần phải có đủ số y, bác sỹ có chuyên môn, đạo đức để nâng cao chất lượng sơ tuyển, hạn chế những hành vi
cố tình làm sai lệch kết quả để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
Đối với quy trình khám tuyển ở huyện, việc thành lập Hội đồng khám tuyển phải theo đúng thủ tục, gồm đầy đủ các phòng khoa và đảm bảo đầy đủ
cơ cấu các y, bác sĩ đúng chuyên khoa, có trách nhiệm và năng lực chuyên môn Tổ chức khám chặt chẽ, chu đáo và kết luận chính xác, khách quan về sức khỏe của từng thanh niên theo đúng quy định của Thông tư 167 ngày 19/11/2010 và Thông tư liên tịch số 36 ngày 17/10/2011của liên bộ Y tế - Quốc phòng Do số lượng khám tuyển ở huyện là tương đối lớn nên địa điểm,
cơ sở vật chất phục vụ khám tuyển cũng phải được chuẩn bị chu đáo và quy trình khám tuyển cũng cần được sắp xếp khoa học để tránh làm sai lệch kết quả
Năm là, bên cạnh sự giám sát của nhân dân, cần phải thực hiện tốt cơ chế
giám sát nội bộ đối với hoạt động tuyển quân của các cơ quan tham gia vào quy trình này Trước hết, các cơ quan, tổ chức tham gia vào quy trình tuyển quân phải ý thức được công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ là nhiệm vụ chung, không phải khoán trắng cho cơ quan quân sự của địa phương Do đó, cần phải thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ theo cả chiều dọc và chiều ngang, tránh buông lỏng trong quản lý
Trang 29Về chiều ngang, Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã và huyện phải đôn đốc, kiểm tra ngay từ quá trình xét duyệt, bình cử cho đến quá trình sơ - khám tuyển của cấp mình để tránh tiêu cực và đảm bảo công bằng xã hội Cụ thể, Hội đồng và chủ tịch Hội đồng kiểm tra Ban công an, cơ quan y tế và Ban quân sự cũng như các thành viên của Hội đồng đã được phân công nhiệm vụ, địa bàn phụ trách mà không bị động, ỷ lại vào sự tham mưu của các cơ quan nói trên Về chiều học, cần thường xuyên tiến hành việc thanh - kiểm tra theo hướng từ trên xuống dưới (Hội đồng nghĩa vụ quân sự tỉnh kiểm tra Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện, Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện kiểm tra Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã; Bộ chỉ huy quân sự, cơ quan công an và y tế của tỉnh hỗ trợ, kiểm tra các cơ quan tuyến dưới của mình) để đảm bảo quy trình tuyển quân được thực hiện nghiêm túc, đúng luật
1.3.2.Điều kiện đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũở Việt Nam
- Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tuyển quân
Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật không chỉ là cơ sở, nền tảng hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn là cơ sở cho hành vi ứng xử của người dân Trong lĩnh vực tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, hệ thống quy phạm pháp luật là phương tiện đầu tiên và quan trọng nhất để đảm bảo tính công bằng của công tác này Bởi vì, trước hết hệ thống quy phạm pháp luật phải chứa đựng các yếu tố công bằng thì hoạt động thực hiện pháp luật sau đó của các cơ quan hữu quan tham gia vào quy trình tuyển quân mới có tiền đề, cơ sở
để duy trì sự công bằng ấy.Chính vì vậy, trong hoạt động xây dựng pháp luật
về tuyển quân cần quan tâm, tạo điều kiện cho sự tồn tại cũng như phát huy hết các giá trị công bằng
Ngoài ra, cần phải chú ý đến những quy định nhằm đảm bảo việc tổ chức quy trình tuyển quân được diễn ra chặt chẽ, minh bạch, hạn chế những kẽ hở
Trang 30pháp lý.Đồng thời cũng cần có những quy định về sự kiểm tra, giám sát của nhân dân và các quy định về chế độ khen thưởng, kỷ luật, xử phạt nghiêm minh nhằm khuyến khích, đảm bảo được các giá trị công bằng
- Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng
đối với quân đội
Chế độ chính trị - xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bản chất là một chế độ tốt đẹp mà những biểu hiện của nó được thể hiện tập trung và chủ yếu ở bản chất của Nhà nước, đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, vì mục tiêu xây dựng một xã hội ổn định, phồn vinh, giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi mọi áp bức bóc lột và bất công Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng khẳng định: “Quân sự phục tùng chính trị, quân sự mà không
có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” [13] Chính vì vậy, sự
lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sự trưởng thành
và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam Do đó cần phải lấy việc xây dựng về chính trị, thường xuyên tăng cường công tác Đảng – công tác chính trị làm cơ sở để xây dựng quân đội trong đó bao gồm cả lĩnh vực tuyển gọi công dân nhập ngũ
Kết luận số 20-KL/TW ngày 25-5-2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và những nội dung cơ bản về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề cập đến vấn đề bảo đảm công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân Việc thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu hết sức cần thiết, là một trong những căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết để sửa đổi, cụ thể
Trang 31hóa trong Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành, dự kiến sẽ trình Quốc hội Khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8 năm 2014
- Trình độ chuyên môn và đạo đức của cán bộ tham gia tuyểnquân
Trình độ chuyên môn của các cán bộ quân đội, y tế và cấp chính quyền
cơ sở trực tiếp tham gia vào quy trình tuyển quân đóng một vai trò rất quan trọng Họ là những người trực tiếp thực hiện pháp luật trong lĩnh vực tuyển quân, do đó các chủ thể này phải nắm vững các quy định của pháp luật và có
sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực mà mình phụ trách.Bên cạnh trình độ chuyên môn thì vấn đề đạo đức cũng rất quan trọng Thực tế cho thấy những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở cấp
cơ sở, có không ít trường hợp là xuất phát từ đạo đức nghề nghiệp của các cán
bộ thực hiện pháp luật Do đó, để đảm bảo quy trình được diễn ra một cách khách quan, công bằng, tránh những tiêu cực nảy sinh thì đòi hỏi các chủ thể này phải tuân thủ chặt chẽ các quy chế đạo đức nghề nghiệp, bởi vì nghĩa vụ quân sự là một nghĩa vụ hết sức thiêng liêng nên các chủ thể tham gia đều phải tuyệt đối tôn trọng
- Dân chủ ở cơ sở và sự giám sát chặt chẽ của nhân dân
Trong điều kiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì một trong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật Tăng cường dân chủ cũng có nghĩa là mở rộng sự tham gia của người dân vào các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước Do đó, ngay từ giai đoạn đầu tiên, quy trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ cần phải được công khai, minh bạch để nhân dân địa
phương có điều kiện giám sát Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dễ trăm lần dân không cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.Vì vậy, cần phải có
cơ chế hữu hiệu để nhân dân tham gia giám sát, từ đó phát hiện và phản ánh
Trang 32kịp thời những tiêu cực nảy sinh Nếu không phát huy được dân chủ ở cơ sở
và sự tham gia giám sát của nhân dân thì công tác tuyển quân sẽ khó mà đảm bảo được yếu tố công bằng cũng như hiệu quả mong đợi
- Công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự
Trong công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ thì hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về nghĩa vụ quân sự là hết sức quan trọng, góp phần làm cho người dân nhận thức được ý nghĩa của việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, từ đó tự nguyện chấp hành các quy định của pháp luật về tuyển quân, đồng thời tạo được niềm tin vào pháp luật, niềm tin vào sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự Khi đã có niềm tin, người dân sẽ biết tự điều chỉnh hành vi của mình theo đúng các quy định của pháp luật Không những thế, họ còn có ý thức phê phán, lên án, tố cáo những hành vi vi phạm, đi ngược lại với các quy định của pháp luật về sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ của công dân, trực tiếp bảo vệ tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng này Trên thực tế, do công tác tuyên truyền ở một số nơi còn chưa hiệu quả (đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa) nên một bộ phận không nhỏ thanh niên và các gia đình có con em trong độ tuổi gọi nhập ngũđã vi phạm quy định của nhà nước về thực hiện nghĩa vụ quân sự Vì vậy, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự
để hạn chếnhững vi phạm không đáng có này
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ là giai đoạn đầu tiên và chủ yếu để chuẩn bị cho quá trình phục vụ tại ngũ của công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ, hay nói cách khác đây chính là phần quan trọng nhất của quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự của những công dân này Vì vậy, quá trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ có đảm bảo được công bằng thì việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của nam thanh niên mới thực sự được công bằng
Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh thế thị trường
đã tác động không nhỏ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả việc thực hiện nghĩa vụ quân sự hàng năm của công dân Trong điều kiện Nhà nước ta chưa đảm bảo được về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị để gọi tất cả số công dân nam của cả nước trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự
từ 18 đến hết 25 tuổi (trừ đối tượng tạm hoãn, miễn) vào phục vụ trong lực lượng vũ trang như ở một số nước, thì yêu cầu đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụbảo vệ Tổ quốc là một đòi hỏi bức thiết
Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ đang ngày càng thu hút được sự quan tâm, theo dõi của đông đảo dư luận và một dấu hỏi được đặt ra
là trên thực tế công tác này có thực sự đảm bảo được công bằng hay không? Điều kiện của sự công bằng ở đây là những đảm bảo cần thiết để công tác này được tổ chức, thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, không
có sự thiên vị giữa những nam thanh niên trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự và giữa các địa phương giao quân với nhau Bởi lẽ, nghĩa vụ quân sự
là một nghĩa vụ thiêng liêng đã được Hiến pháp ghi nhận nên không cho phép tồn tại sự bất công, bất bình đẳng xã hội trong quá trình thực hiện nghĩa vụ cao quý này
Trang 34Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự đã đạt được những kết quả nhất định Chất lượng tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ được cải thiện.…đã góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.Tuy nhiên,trong Chương 2 của Luận văn, tác giả khôngđi vào những ưu điểm, thành tựu của công tác này trong vấn đề đảm bảo
công bằng;mà trực tiếp đi thẳng vào thực tế: Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở nước ta đã đảm bảo được công bằng hay chưa, nếu chưa thì nó được thể hiện trên những phương diện nào?như Báo cáo số 145/BC-
UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội đã đề cập
Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội về kết quả giám sát việc thi hành pháp luật về nghĩa vụ quân sự và
công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân nêu rõ: “Trong quá trình thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự và Điều 7 Luật Công an nhân dân về công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân đã xuất hiện nhiều vấn đề bất cập nhưng chưa có giải pháp xử lý như: Bảo đảm công bằng xã hội giữa công dân phục vụ tại ngũ và công dân không phục vụ tại ngũ, giữa công dân phục vụ tại ngũ và công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân; con em nông dân phục vụ tại ngũ ngày càng tăng, con em các thành phần khác trong xã hội phục
vụ tại ngũ ngày càng giảm; tỷ lệ công dân có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm khoảng 0,64% tổng số thanh niên nhập ngũ hằng năm trong khi tổng số
Trang 35sinh viên trung bình các năm gần đây thường trên 1 triệu người (chiếm 50% tổng số công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự)
Công tác đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự còn nhiều khó khăn Một bộ phận công dân đã có việc làm, có trình độ học vấn cao,
có chuyên môn kỹ thuật và con em cán bộ, công chức, các gia đình có điều kiện kinh tế thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ chưa nhiều (chỉ chiếm 4,94%) và có
xu hướng giảm; con em nông dân, người chưa có việc làm chiếm số đông (hơn 80%) và có xu hướng tăng; tỷ lệ con em là người dân tộc thiểu số còn thấp (khoảng 14%) Trong điều kiện số công dân nhập ngũ hằng năm chỉ chiếm 0,12% tổng dân số và 5,87% tổng số công dân nam trong độ tuổi 18-25 nhưng vẫn có địa phương cho phép điều chuyển từ nơi này sang nơi khác để bù cho đủ chỉ tiêu được giao Nhiều địa phương có số lượng thanh niên được tạm hoãn NVQS lên đến 40% Có địa phương, trong 5 năm liền không cán bộ, công chức
từ cấp xã trở lên nào thực hiện NVQS” [34]
Như vậy, Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã khái quát phần nào về thực trạng đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự ở nước ta hiện nay Như đã trình bày ở Chương 1, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ là giai đoạn đầu chuẩn bị cho việc phục vụ tại ngũ của công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ Theo cách hiểu cũng như quan tâm của dư luận thì đây chính là phần quan trọng nhất của việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, và đảm bảo được công bằng trong giai đoạn này thì mới đảm bảo được công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự của nam thanh niên nói
chung Qua Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13, chúng ta có thể khẳng định công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ của nước ta hiện nay là chưa đảm bảo được công bằng xã hội Sự không công bằng đó được thể hiện rõ nét ở kết quả
thực hiện nghĩa vụ quân sự hàng năm của công dân như báo cáo đã đề cập Kết hợp với quá trình thực tiễn thu thập số liệu của bản thân, tác giả phân tích, làm
Trang 36rõ thực trạng đảm bảo công bằng trong tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở nước ta hiện nay trên một số khía cạnh về trình độ văn hóa, sức khỏe, thành phần gia đình của công dân nhập ngũ; và đề cập đến vấn đề nghĩa vụ quân sự thay thế, một vấn đề đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận cả nước
2.1.1 Về trình độ văn hóa của công dân đƣợc gọi nhập ngũ
Theo Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hộithì số công dân nhập ngũ hằng năm chỉ chiếm 0,12% tổng dân số, tức là mỗi năm số công dân nhập ngũ vào khoảng 108.000 người (0,12% x 90.000.000) Trong khi đó, tổng số sinh viên trung bình các năm gần đây thường trên 1 triệu người, gấp hơn 10 lần số thanh niên nhập ngũ Tuy nhiên, tỷ lệ công dân có trình độ cao đẳng, đại học được tuyển chọn và gọi nhập ngũ lại chỉ chiếm khoảng 0,64% tổng số thanh niên được gọi nhập ngũ hàng năm Một con số quá nhỏ bé, không đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đặt ra là nâng cao trình độ văn hóa của quân nhân, tiến tới tri thức hóa quân đội
Một trong những nguyên tắc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ đã được luật hóa, cụ thể trong Điểm c, Khoản 4, Điều 4, Thông tư 167/2010/TT-BQP là:
“Tích cực tuyển chọn, gọi nhập ngũ những công dân đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề để giảm bớt lưu lượng đào tạo trong Quân đội, góp phần thực hiện công bằng xã hội và nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội” Như vậy, có thể thấy công tác tuyển chọn
và gọi công dân nhập ngũ đã không tôn trọng quy định này Điều đó cho thấy số nam công dân có trình độ học vấn không cao lên đường nhập ngũ hàng năm vẫn chiếm đa số, nghĩa là công tác tuyển quân đã không đảm bảo được sự công bằng về trình độ học vấn
Ở phạm vi địa phương thì yếu tố công bằng về trình độ học vấn cũng không được đảm bảo và mức độ đảm bảo giữa các địa phương cũng có sự khác nhau
Ví dụ, Báo cáo chất lượng giao quân của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thái Bình
Trang 37năm 2012 và 2013 cho thấy trong tổng số 3.100 chỉ tiêu giao quân thì năm 2012 không có trường hợp nào đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng Trong khi đó số có trình độ văn hóa cấp 2 là 37,7%, cấp 3 là 62,3% Đến năm 2013, cũng chỉ có 1,5% trường hợp đã tốt nghiệp TCCN, cao đẳng, đại học; số cótrình độ cấp 2 là 33,5%, cấp 3 là 65%
Ở Quảng Ninh, theo Báo cáo chất lượng giao quân của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh thì số thanh niên có trình độ TCCN, cao đẳng, đại học được gọi nhập ngũ cũng rất thấp, chỉ là2%năm 2012 và 0,1% năm 2013 Ở Hà Nội, nơi có trình độ dân trí cao nhất nước nhưng tỉ lệ thanh niên có học vấn cao được gọi nhập ngũ cũng không đáng kể Cụ thể, Báo cáo chất lượng giao quân của Phòng Quân lực cho thấy trong tổng số 4.600 chỉ tiêu của năm 2012 chỉ có khoảng 2% trường hợp là có trình độ TCCN, cao đẳng và đại học Sang năm 2013 con số này chỉ là 8%, còn lại 25% trường hợp có trình độ văn hóa cấp 2 và67% có trình độ văn hóa cấp 3
Khác với chất lượng giao quân của các địa phương phía Bắc là Hà Nội, Thái Bình và Quảng Ninh, tỉ lệ thanh có trình độ học vấn cao được gọi nhập ngũ của các địa phương phía Nam lại có phần đảm bảo hơn Theo Phụ lục 05,06 - Báo cáo chất lượng giao quân của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương cho thấy, trong tổng số 1.700 chỉ tiêu thì số thanh niên có trình độ học vấn từ bậc TCCN trở lên chiếm 10% vào năm 2012 và tỉ lệ này lên tới 19% vào năm 2013.Ở Đồng Nai, cũng tương tự là trên 14% năm 2012 và gần 15,5% năm
2013 Tuy nhiên, số thanh niên đã tốt nghiệp cấp 3 nhập ngũ trên địa bàn tỉnh lại khá thấp (24,5% năm 2012 và 29% năm 2013), còn lại là chưa tốt nghiệp và có trình độ cấp 2 chiếm đa số (trên 70% năm 2012 và trên 64% năm 2013)
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, theo Báo cáo chất lượng giao quân Bộ Tư lệnh các năm 2012 và 2013 thì tỉ lệ công dân có trình độ học vấn từ TCCN trở lên là khá cao, lần lượt là22% và 12,7% Song, cũng giống như các tỉnh Bình Dương
Trang 38và Đồng Nai, số thanh niên nhập ngũ của TP Hồ Chí Minh có trình độ cấp 3 là không cao như một số tỉnh thành phía Bắc: 29% năm 2012 và 38,5% năm 2013 Điều đó đồng nghĩa với tỉ lệ thanh niên có trình độ học vấn thấp (cấp 2 và chưa tốt nghiệp cấp 3) vẫn chiếm một tỉ lệ không nhỏ (xấp xỉ 50%)
Mặc dù độ tin cậy của các bản báo cáo chất lượng giao quân của sáu tỉnh thành trên về trình độ học vấn là không hẳn đã tuyệt đối (vì chúng được tổng hợp dựa trên số liệu của các quận huyện mà các số liệu đó lại không qua kiểm duyệt nên không loại trừ bệnh thành tích) Song, kết hợp với Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội thì chúng ta đã thấy rõ công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ của nước ta hiện nay đã không đảm bảo được sự công bằng về trình độ học vấn Hay nói
cách khác, những thanh niên có trình độ học vấn cao thì lại ít được gọi phục vụ quân đội còn những thanh niên có trình độ học vấn cấp 3 và cấp 2 chiếm đa số
Đặc biệt là tỉnh miền núi như Quảng Ninh, số thanh niên được gọi nhập ngũ có trình độ TCCN, cao đẳng chỉ chiếm 2% năm 2012 và 0,1% năm 2013 Còn ở Thái Bình một địa phương có truyền thống hiếu học thì tỉ lệ này cũng rất thấp: 0% năm 2012 và 1,5% năm 2013 Đến cả Hà Nội, nơi có trình độ dân trí cao nhất nước thì con số này cũng chỉ dừng lại ở 8% năm 2013 và 2% năm 2012 Ngược lại, tỉ lệ thanh niên có trình độ học vấn từ TCCN trở lên được gọi nhập ngũ của các tỉnh thành phía Nam là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương
và Đồng Nai lại cao hơn hẳn so với các địa phương ở miền Bắc (đều từ 10% đến
22%) Như vậy,có thể thấy công tác tuyển quân của các địa phương này đã đảm bảo công bằng hơn về trình độ văn hóa so với các địa phương phía Bắc Song,
một điều đáng tiếc nữa là ở tất cả sáu địa phương đều có tỉ lệ nam thanh niên có trình độ học vấn thấp (cấp 2) vẫn rất cao, đều chiếm trên 25% Điều đó cho thấy công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ở các địa phương này đã “ưu tiên” lựa chọn các công dân có trình độ học vấn thấp thay vì những thanh niên
Trang 39có trình độ học vấn cao như quy định tại Điểm c, Khoản 4, Điều 4 Thông tư 167/2010/TT-BQP
2.1.2 Về sức khỏe của công dân đƣợc gọi nhập ngũ
Nghĩa vụ quân sự không chỉ là một nghĩa vụ thiêng liêng, mà còn là quyền cao quý của công dân Vì vậy, những công dân được vinh dự thực hiện nghĩa vụ này không chỉ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chính trị, trình độ học vấn mà còn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về sức khỏe Bởi lẽ đối với nam thanh niên, thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là thực hiện một loại hình lao động đặc biệt, xét cả về tính chất lẫn cường độ Do đó, phải ưu tiên lựa chọn những thanh niên có thể trạng sức khỏe đảm bảo, vì sức khỏe của những quân nhân tương lai này sẽ trực tiếp ảnh hưởng, tác động tới sức chiến đấu của quân đội, tới tiềm lực quốc phòng của đất nước
Nước ta hiện nay có một dân số đông, lại trẻ trong khi số công dân được gọi nhập ngũ hàng năm chỉ chiếm 0,12% dân số và 5% tổng số thanh niên trong
độ tuổi gọi nhập ngũ Vì vậy, có thể nói công tác tuyển quân của chúng ta là hết sức thuận lợi, cho phép chúng ta có điều kiện lựa chọn những thanh niên có thể trạng sức khỏe tốt nhất lên đường làm nhiệm vụ với Tổ quốc
Việc phân loại sức khỏe của công dân trong diện gọi nhập ngũ được quy định chặt chẽ tại Phụ lục I (phân loại sức khỏe theo thể lực và bệnh tật) của Thông tư số 36/2011/TTLT-BYT- BQP ngày 17 tháng 10 năm 2011 của liên Bộ
Y tế - Bộ Quốc phòng Theo Thông tư thì sức khỏe nghĩa vụ quân sự được chia làm sáu loại theo mức thang điểm từ 1 đến 6 tương ứng với mức thang điểm từ rất tốt, tốt, khá, trung bình cho đến rất kém (dựa trên 8 tiêu chí về thể lực, mắt, tai - mũi- họng, răng - hàm- mặt, da liệu, nội khoa, ngoại khoa, thần kinh) Trong các thang điểm về sức khỏe thì loại 1(rất tốt) được phục vụ hầu hết ở các quân binh chủng, loại 2 (tốt) được phục vụ phần lớn ở các quân binh chủng, loại 3(khá) có thể phục vụ ở một số quân binh chủng
Trang 40Trên thực tế, các địa phương giao quân và các đơn vị nhận quân thường chỉ chú trọng hiệp đồng tuyển chọn theo thứ tự ưu tiên các công dân có sức khỏe từ loại 1 cho đến loại 3, không nhận các trường hợp còn lại Tuy nhiên, vấn đề đáng nói là trong Báo cáo chất lượng giao quân năm 2013của không ít địa phương thì tỉ lệ sức khỏe loại 1 (rất tốt) lại chiếm tỉ lệ thấp nhất Cụ thể, ở Hà Nội trong số 4.600 công dân gọi nhập ngũ thì tỉ lệ đạt sức khỏe loại 1 chỉ chiếm 16,7%, còn lại là loại 2 (55,2%) và loại 3 (28,1%); tại thái Bình, tỉ lệ sức khỏe loại 1là 18,9%, loại 2 là 45,6%, loại 3 là 35,5%; Quảng Ninh có tỉ lệ sức khỏe loại 1 chiếm 28,1%, loại 2 chiếm 59,9%, loại 3 chiếm 12% So với các tỉnh thành phía Bắc thì tỉ lệ công dân nhập ngũ đạt sức khỏe loại 1 của các địa phương phía Nam còn thấp hơn rất nhiều, trong khi đó tỉ lệ sức khỏe loại 3của các đơn vị này lại khá cao Chẳng hạn, Thành phố Hồ Chí Minh có tỉ lệ sức khỏe loại 1 chiếm 14,5%, loại 2 là 47%, loại 3 là 38,5%; Đồng Nai, sức khỏe loại 1 là 6,13%, loại 2 là 38,87%, loại 3 là 55%; còn Bình Dương, tỉ lệ công dân đạt sức khỏe loại 1 cũng không mấy khả quan, chiếm 12,7% còn lại là loại 2 ( 48,8%) và loại 3 (38,5%)
Như vậy, qua Báo cáo chất lượng giao quân của sáu địa phương trên đã cho
thấy tỉ lệ công dân được gọi nhập ngũ đạt sức khỏe loại 1 là rất thấp, chỉ từ 6,13% đến 28,1%, tức là những thanh niên có sức khỏe loại 1vốn ưu tiên được gọi nhập ngũ thì lại được tuyển chọn và gọi nhập ngũ không nhiều Song, yếu tố
công bằng ở đây không chỉ dừng lại ở sự tương quan giữa tỉ lệ sức khỏe loại 1
với loại 2 và loại 3 mà một vấn đề lý luận khác được đặt ra, đó là: Tại sao số công dân nhập ngũ có sức khỏe loại 1 lại rất thấp trong khi nguồn cung lại hết sức dồi dào Bình quân cả nước cứ 20 nam thanh niên trong độ tuổi thực hiện
nghĩa vụ quân sự mới có một người được gọi nhập ngũ Giả sử bình quân này được áp dụng chung cho sáu địa phương đã qua khảo sát vốn có tỉ lệ sức khỏe loại 1 đạt từ 6,13% đến 28,1% thì ở các địa phương này, bình quân cứ hơn 71