1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu hiệu thi hành công vụ trong bộ luật hình sự việt nam

73 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 862,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, quan điểm về “công vụ” theo nghĩa hẹp: Theo Giáo trình Hành chính công 2006 của Học viên hành chính quốc gia: “Công vụ là một hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý được thực

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ THANH NHUNG

DẤU HIỆU THI HÀNH CÔNG VỤ

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN NGỌC HÒA

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Sau thời gian học tập, nghiên cứu, nhận được sự hướng dẫn, giảng dạy tận tình của các thầy giáo, cô giáo; sự quan tâm, tạo điều kiện của nhà trường và sự động viên, hỗ trợ của gia đình, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc

sỹ Luật học của mình

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy giáo, Cô giáo đang công tác tại Khoa pháp luật hình sự nói riêng, Trường Đại học Luật Hà Nội nói chung đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cũng như giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và công tác tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS NGUYỄN NGỌC HÒA, người thầy đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Cuối cùng, con xin tỏ lòng biết ơn tới ba mẹ, những người luôn bên con, là nguồn động lực lớn lao nhất để con hoàn thành luận văn này!

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện Nội dung luận văn là do bản thân phân tích từ những quy định của pháp luật, có tiếp thu và sử dụng những ý tưởng khoa học của các tác giả khác, được trích dẫn rõ ràng, trung thực

Tác giả luận văn

Mai Thị Thanh Nhung

Trang 4

BLHS TANDTC UBND

: : :

Bộ luật hình sự Tòa án nhân dân tối cao

Ủy ban nhân dân

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU HIỆU THI HÀNH CÔNG VỤ 6

1.1 Những quan điểm khác nhau về dấu hiệu thi hành công vụ 6

1.1.1 Các quan điểm về “công vụ” 6

1.1.2 Các quan điểm về người thi hành công vụ 12

1.2 Quan điểm cá nhân về dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam 15

1.2.1 Quan điểm về “công vụ” và “người thi hành công vụ” 15

1.2.2 Quan điểm về “thi hành công vụ” 18

1.2.3 Khái quát về dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam 20 1.3 Lịch sử quy định dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam 21

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 21

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 22

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi BLHS 1985 có hiệu lực 25

1.3.4 Giai đoạn từ khi BLHS 1985 có hiệu lực đến trước khi BLHS 1999 có hiệu lực 27

1.3.5 Giai đoạn từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực đến nay 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUY ĐỊNH DẤU HIỆU THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN DẤU HIỆU THI HÀNH CÔNG VỤ 34

Trang 6

Nam hiện hành 34

2.1.1 Dấu hiệu “người thi hành công vụ” 34

2.1.2 Dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” 39

2.1.3 Dấu hiệu “vì lí do công vụ” 41

2.1.4 Dấu hiệu “làm trái công vụ” 44

2.2 Một số vấn đề hoàn thiện quy định BLHS có liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ 48

2.2.1 Một số hạn chế từ thực tiễn quy định đến nhận thức và áp dụng các quy định BLHS có liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ 48

2.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định BLHS có liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

KẾT LUẬN 62

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu BLHS cho thấy, dấu hiệu “thi hành công vụ” là dấu hiệu được qui định trong nhiều điều luật, dưới những biểu hiện cụ thể khác nhau Dấu hiệu này liên quan đến khái niệm “công vụ” là khái niệm cơ bản của ngành luật hành chính cũng như của khoa học về quản lý nhà nước Tuy nhiên, việc nghiên cứu khái niêm “công vụ” cũng như dấu hiệu “thi hành công vụ” trong BLHS đến nay chưa được nhiều Trong khi nhận thức cũng như áp dụng dấu hiệu này đang có sự không thống nhất Dấu hiệu “thi hành công vụ” đã được thể hiện khá sớm trong các quy định pháp luật hình sự nhưng đến nay, BLHS vẫn chưa có điều luật về định nghĩa khái niệm công

vụ Điều này dẫn đến những trở ngại cho việc nhận thức, áp dụng các quy định của BLHS có dấu hiệu “thi hành công vụ”

Trong khi đó, các tội danh liên quan đến dấu hiệu này là những tội thuộc các chương xảy ra tương đối phổ biến và phức tạp Việc đấu tranh chống và phòng ngừa các tội phạm này đặt ra yêu cầu có tính cấp thiết là cần sớm hoàn thiện các quy định của BLHS có liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ

Những vấn đề nêu trên đã nói lên tính cấp thiết của đề tài “Dấu hiệu thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự Việt Nam” và do vậy, tác giả lựa chọn đề

tài này là đề tài viết luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ trong thời gian gần đây bao gồm các bài báo, các sách bình luận và các luận văn thạc sỹ Cụ thể:

- Luận văn thạc sỹ (1996) của tác giả Hoàng Yến với đề tài Tội chống người thi hành công vụ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.; Luận văn thạc

Trang 8

sĩ (2006) của tác giả Vũ Văn Kiệm với đề tài Tội chống người thi hành công vụ trong Luật Hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

Hai luận văn này đều nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học Trong đó, có phần đề cập đến khái niệm người thi hành công vụ

- Luận văn thạc sỹ (2012) của tác giả Nguyễn Anh Thu với đề tài Dấu hiệu chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam Đây là đề tài

có tên khá gần với tên đề tài của tác giả Tuy nhiên, về nội dung, luận văn này khác với luận văn của tác giả Cụ thể: Luận văn của Nguyễn Anh Thu nghiên cứu dưới 2 góc độ là luật hình sự và tội phạm học, trong khi luận văn của tác giả chỉ nghiên cứu về luật hình sự Dưới góc độ luật hình sự, luận văn của Nguyễn Anh Thu tập trung làm rõ dấu hiệu “chống” để qua đó phân tích sự khác nhau giữa Tội chống người thi hành công vụ (Điều 257 BLHS) với các tội phạm khác có dấu hiệu này, trong khi luận văn của tác giả nghiên cứu dấu hiệu thi hành công vụ và khái niệm công vụ trong BLHS nói chung mà không nghiên cứu cụ thể về Tội chống người thi hành công vụ trong sự so sánh với các tội phạm khác

- Trong tuyển tập sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm, nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Đinh Văn Quế có Tập 1 – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (2002); Tập 5 – Các tội phạm về chức vụ (2006); Tập 8 – Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (2005), trong đó có nội dung bình luận

một số điều luật liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ nhưng chỉ mang tính chất giải thích đơn giản, phục vụ cho việc bình luận các cấu thành tội phạm

- Bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ của tác giả Nguyễn Duy Giảng trong

Tạp chí Kiểm sát số 11, tháng 11//2006 đề cập đến nội dung “làm trái công

Trang 9

vụ” trong hành vi khách quan của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS) nhưng chủ yếu để phân biệt với hành vi làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế của Tội làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS)

- Bài viết Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự để xử lý hành vi chống người thi hành công vụ của tác gia Trần Vi

Dân, Đào Anh Tới trong Tạp chí Kiểm sát số 14, tháng 7/2011 đề cập đến dấu hiệu “chống người thi hành công vụ” Tuy nhiên, nội dung chủ yếu là vấn đề định tội đối với hành vi chống người thi hành công vụ

- Bài viết Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân của tác giả Mai Bộ trong Tạp chí Tòa án

nhân dân số 12 năm 2012 tập trung vào hành vi “chống” người thi hành công

vụ trong các tội danh để phân biệt giữa các trường hợp phạm tội với nhau

Trong các bài viết, tác giả đặc biệt quan tâm bài viết Vấn đề thi hành công vụ và chế định phòng vệ chính đáng trong BLHS Việt Nam của GS TS Nguyễn Ngọc Hòa trong tạp chí Luật học số 2 năm 2012 Một trong hai nội

dung của bài viết là trình bày một cách trực tiếp dấu hiệu “thi hành công vụ” trên cơ sở phân tích nội dung của khái niệm “công vụ

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã được thực hiện chủ yếu viết về tội phạm cụ thể có dấu hiệu liên quan đến khái niệm công vụ chứ không trực tiếp viết

về dấu hiệu thi hành công vụ Đến thời điểm này chưa có luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ nghiên cứu về “dấu hiệu thi hành công vụ trong BLHS Việt Nam”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu mà luận văn hướng tới là góp phần hoàn thiện cơ

sở pháp luật cho việc nhận thức cũng như áp dụng các quy định của BLHS có nội dung liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ cũng như khái niệm công vụ

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những nội dung sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những quan điểm khác nhau về dấu hiệu thi hành

công vụ, từ đó, đưa ra quan điểm cá nhân về dấu hiệu này Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu khái quát về lịch sử các qui định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay có liên quan đến dấu hiệu này

Thứ hai, nghiên cứu đánh giá các qui định có nội dung liên quan đến

khái niệm công vụ cũng như dấu hiệu thi hành công vụ trong BLHS và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định này

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn nghiên cứu các qui định pháp luật hình sự Việt Nam (bao gồm các văn bản luật và dưới luật) từ năm 1945 đến nay và một số quy định của ngành luật khác có nội dung liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ Luận văn cũng nghiên cứu một số vụ án điển hình trong thực tiễn áp dụng các quy định BLHS Việt Nam hiện hành có nội dung liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1 Phương pháp luận

Luân văn được tác giả thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, …

6 Cơ cấu đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương như sau:

Trang 11

Chương 1: Những vấn đề chung về dấu hiệu thi hành công vụ

Chương 2: Thực tiễn quy định dấu hiệu thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và một số vấn đề hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU HIỆU

THI HÀNH CÔNG VỤ

1.1 Những quan điểm khác nhau về dấu hiệu thi hành công vụ

Dấu hiệu “thi hành công vụ” nói chung thể hiện qua hai nội dung của hai khái niệm “công vụ” và “người thi hành công vụ” Tuy nhiên, xung quanh hai khái niệm này còn rất nhiều quan điểm khác nhau Việc hiểu thống nhất và rõ ràng về công vụ và người thi hành công vụ là điều kiện cần thiết để áp dụng đúng và thống nhất dấu hiệu này trong thực tiễn các ngành luật khác nhau

1.1.1 Các quan điểm về “công vụ”

Trước hết, theo cách giải thích trong Từ điển “Từ và ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân, “công vụ” là một từ Hán - Việt, theo đó, công là chung;

vụ là việc Công vụ là việc chung Việc chung có thể diễn ra trong các tổ chức

có tính chất và phạm vi hoạt động khác nhau [11, tr427]

Trong tiếng Anh, từ “công vụ” được gọi là “public service” “Public service” được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng của “public service” hoạt động phục vụ lợi ích công; nghĩa hẹp hơn, “public service” được hiểu hẹp hơn là công vụ nhà nước [10, tr11-12]

Như vậy, về từ ngữ, công vụ có thể là dịch vụ công, cũng có thể là hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức với những phạm vi và lĩnh vực nhất định

Để hiểu rõ hơn khái niệm “công vụ”, tác giả sẽ trình bày các quan điểm trong khoa học cũng như trong các văn bản pháp luật về khái niệm “công vụ”

Trong khoa học, quan niệm “công vụ” chưa đạt được sự thống nhất

chung và chia thành những cấp độ khác nhau

Thứ nhất, các quan điểm về “công vụ” theo nghĩa rộng:

Từ góc nhìn của khoa học Luật hành chính, “công vụ nhà nước là công việc hay hoạt động nhà nước mang tính tổ chức quyền lực – pháp lý nhằm

Trang 13

thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước”[8, tr147] Điều đáng chú ý

là các tác giả sử dụng khái niệm “công vụ nhà nước” Trong quan niệm, các tác giả đã khẳng định tính quyền lực của hoạt động cộng vụ, coi hoạt động công vụ là hoạt động gắn với việc thực hiện các chức năng của nhà nước Theo quan niệm này, việc thực hiện mọi hoạt động nhà nước, không giới hạn

về chủ thể của hoạt động và về lĩnh vực hoạt động Mọi hoạt động trong các lĩnh vực hành pháp, lập pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng của nhà nước đều là hoạt động công vụ

Tác giả Phạm Hồng Thái cũng đưa ra quan điểm về công vụ nhà nước

đó là “các hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, mọi cán bộ, công chức, viên chức, những người làm hợp đồng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, kể cả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (bệnh viên, trường học, viên nghiên cứu của nhà nước, cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình…) và các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân, các cơ quan, đơn vị công an nhân dân” Điều này

có nghĩa hoạt động của mọi thiết chế, tổ chức nhà nước từ những tổ chức quyền lực đến tổ chức sự nghiệp, tổ chức kinh tế của nhà nước đều là thực hiện công vụ [13, tr37]

Đây là cách hiểu rất rộng và gần giống với quan niệm về “dịch vụ công” của các nước khu vực Anh – Mỹ, theo đó, cả hoạt động lập pháp, hoạt động an ninh quốc phòng cũng là dịch vụ công Những quan niệm này cũng

có yếu tố hợp lý khi xem xét từ bản chất xã hội của nhà nước, mọi hoạt động nhà nước trong một chừng mực nhất định đều mang tính chất phục vụ nhân dân Tuy nhiên, quan niệm như vậy sẽ dẫn đến sự đồng nhất những hoạt động nhà nước gắn với quyền lực và những hoạt động có tính phục vụ có thể do nhà nước cung ứng hoặc cá nhân cũng có thể cung ứng Trong khi đó, hoạt động gắn với quyền lực công được gọi là “công vụ”, còn những hoạt động của

Trang 14

các tổ chức sự nghiệp của Nhà nước như y tế, giáo dục và các tổ chức kinh tế của nhà nước được thành lập không vì tìm kiếm lợi nhuận mà nhằm mục đích phục vụ công cộng thì gọi là “dịch vụ công” [6, tr17]

Theo quan điểm của TS Nguyễn Cửu Việt thì “khái niệm công vụ cần được hiểu là hoạt động của mọi người “làm việc công”; nghĩa là hoạt động của mọi cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong mọi tổ chức cấu thành của hệ thống chính trị nước ta phục vụ các công việc chung của xã hội” “Ở nước ta, hoạt động do các cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và nhiều tổ chức xã hội khác thực chất đều là hoạt động phục vụ lợi ích công, đa phần số đó đều có tính chuyên nghiệp, thường xuyên và được đảm bảo bằng ngân sách nhà nước” [4, tr195] Với

cách hiểu này, khái niệm “công vụ” có phạm vi rộng hơn khái niệm “công vụ nhà nước” Quan điểm này cho rằng công vụ không bị rằng buộc bởi tính chất pháp lý của nhà nước; công vụ cũng có thể là công việc chung của xã hội Nhưng việc đồng nhất công vụ với hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức là không chính xác Mặc dù công vụ chủ yếu do công chức thực hiện, nhưng ngoài ra công vụ có thể do cả những người ngoài công chức nhà nước thực hiện theo sự ủy nhiệm của nhà nước bằng quyết định hành chính hoặc hình thức giao kết hợp đồng hành chính

Ngoài ra, công vụ còn được hiểu là hoạt động của cán bộ, công chức, những người làm hợp đồng trong mọi cơ quan, đơn vị của nhà nước và tất cả các sỹ quan, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị quân đội, các sỹ quan, hạ sỹ quan trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân Đây là cách hiểu khá đầy đủ về phạm vi chủ thể của công vụ dưới góc độ nhà nước và pháp luật trong cả lĩnh vực luật hành chính và luật hình sự ở nước ta hiện nay nhưng quan điểm này chưa nhận thấy các đặc thù của từng loại hoạt động nhà

Trang 15

nước: hoạt động lập pháp – hoạt động có tính chính trị của các cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động hành chính – hoạt động có tính chất quản lý và phục

vụ của các cơ quan hành chính, hoạt động tư pháp – hoạt động bảo đảm công

lý cho xã hội, hoạt động có tính vũ lực nhằm bảo vệ chế độ chính trị xã hội, lực lượng vũ trang và hoạt động có tính nghề nghiệp của những người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp [13, tr38]

Thứ hai, quan điểm về “công vụ” theo nghĩa hẹp:

Theo Giáo trình Hành chính công (2006) của Học viên hành chính quốc

gia: “Công vụ là một hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội” [9, tr247] Theo đó,

công vụ được hiểu là hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà nước và do chủ thể là đội ngũ công chức thực hiện

Đồng quan điểm trên về chủ thể thực hiện công vụ, Điều 2 Dự thảo

Luật công vụ năm 2008 có đề xuất qui định: “Công vụ ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bao gồm các hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội; hoạt động của bộ máy lãnh đạo, quản lý tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, được thực hiện bởi đội ngũ công chức nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội”

Các nhà nghiên cứu của Đại học Michigan - Hoa Kỳ quan niệm công

vụ là một khái niệm chung miêu tả về các nhân viên do Chính phủ tuyển dụng, những người cấu thành nên công vụ theo chức nghiệp Tiến sĩ Jeanne- Mariecol của Hoa kỳ cũng cho rằng, nói tới công vụ là nói tới công chức, những người làm việc theo chức nghiệp và do luật hay các quy định về công chức điều chỉnh.[37]

Trang 16

Nhìn chung, các quan niệm về công vụ theo nghĩa hẹp đều cho rằng công vụ là hoạt động do công chức thực hiện nhân danh quyền lực nhà nước Theo đó, chỉ công chức mới là chủ thể thực hiện công vụ

Trong các văn bản pháp luật Việt Nam, công vụ cũng chưa được

hiểu thống nhất

Thứ nhất, quan điểm về “công vụ” theo nghĩa hẹp:

Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan.”(Điều 2)

Theo đó, công vụ về bản chất là hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và cá nhân [14, tr215] Quy định trên đã xác định đặc điểm quan trọng nhất của “công vụ” đó là đúng pháp luật Hoạt động công vụ của những chủ thể nhất định phải theo quy định của pháp luật Cách xác định hoạt động công vụ theo trên đã giới hạn phạm vi chủ thể được giao công vụ chỉ trong phạm vi đối tượng là cán bộ, công chức

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, tuy không có quy định trực tiếp về khái niệm “công vụ” nhưng có nội dung xác định khái niệm

“người thi hành công vụ” Theo đó “Người thi hành công vụ là người được bầu

cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.”

Từ quy định trên, GS.TS.Nguyễn Ngọc Hòa có đưa ra cách hiểu về

công vụ như sau:“Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao

Trang 17

gồm quản lí hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”[7, tr26] So sánh với cách

hiểu về khái niệm công vụ tại Điều 2 Luật cán bộ công chức 2008 thì cách hiểu này đặt ra hai vấn đề:

Một là, về phạm vi của chủ thể của công vụ: Theo quy định của Luật

Trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009 thì chủ thể của công vụ là những

người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong

cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ… hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ… Trong khi đó, theo Luật cán bộ, công

chức 2008 thì chủ thể của công vụ là cán bộ, công chức nhà nước Như vậy,

về phạm vi chủ thể được giao công vụ đã có sự khác biệt giữa hai văn bản

Hai là, về phạm vi lĩnh vực công vụ: Theo Luật Trách nhiệm bồi thường

Nhà nước 2009 thì phạm vi lĩnh vực công vụ giới hạn trong hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án Trong khi đó, Luật cán bộ công chức 2008 không giới hạn ở lĩnh vực cụ thể nào

Như vậy, ngoài đặc điểm chung của công vụ là tính đúng pháp luật, cách hiểu về công vụ theo hai quy định trên, đều được giới hạn trong phạm vi nhất định, có thể là sự giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ hoặc giới hạn

về phạm vi lĩnh vực công vụ

Thứ hai, quy định về “công vụ” theo nghĩa rộng:

Theo Nghị quyết số 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANHDTC ngày 29/11/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội

phạm của BLHS năm 1985 thì: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện.”

Có thể nói rằng, đây là quan niệm về “công vụ” rộng nhất trong các quan niệm đã trình bày Cách giải thích công vụ như vậy không có sự giới hạn

về mặt nội dung hay nói cách khác về đặc điểm của công vụ; không giới hạn phạm vi lĩnh vực công vụ; không giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ

Trang 18

Hiện nay, do BLHS chưa có quy định định nghĩa về “công vụ” Việc áp dụng những qui định gắn với khái niệm này vẫn dựa trên giải thích của Nghị quyết số 04/HĐTP Với nội dung định nghĩa như vậy, việc nhận thức và áp dụng các qui định gắn với khái niệm công vụ có thể theo nhiều hướng rất khác nhau

1.1.2 Các quan điểm về người thi hành công vụ

Với những quan niệm về công vụ khác nhau như đã phân tích tại mục

1.1.1., tương ứng với đó sẽ có những quan niệm khác nhau về người thi hành

công vụ Tuy nhiên, khái niệm “người thi hành công vụ” khác với “công vụ”

đã được định nghĩa tại một số văn bản pháp luật mặc dù chưa có sự thống nhất Vì vậy, trong phần này, tác giả tập trung vào các quan điểm khác nhau thể hiện qua các quy định định nghĩa về “người thi hành công vụ” trong các văn bản pháp luật

- Nghị quyết số 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANHDTC ngày 29/11/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985 đã giải

thích: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như : tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội”

- Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.”(Điều 3 khoản 1)

Trang 19

- Nghị định số 208/2013/NĐ-CP quy định các biện pháp phòng ngừa,

ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ xác định: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội.”(Điều 3 khoản 1)

Từ các định nghĩa về người thi hành công vụ tại các văn bản pháp luật nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy một đặc điểm chung của người thi hành công vụ là đều được phân thành hai nhóm:

- Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009 xác định hai nhóm người thi hành công vụ đó là:

+ Người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh

vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án Ví dụ: cán bộ, công chức trong

UBND các cấp, thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên… ; hoặc

+ Người tuy không được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm

vào làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng được các cơ quan nhà nước hay người có chức vụ quyền hạn giao thực hiện một nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án nhất định như: tuần tra, bảo vệ an ninh xã, phường, giữ trật tự công cộng, hướng dẫn giao thông,…

- Nghị định số 208/2013/NĐ-CP quy định vấn đề này cụ thể hơn so với Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước; theo đó, người thi hành công vụ là:

+ Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng

vũ trang nhân dân; hoặc

Trang 20

+ “Người khác” (ngoài các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức,

sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân) nhưng được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, phạm vi người thi hành công vụ theo Nghị định số 208/2013/NĐ-CP rộng hơn so với Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009

do không có sự giới hạn về phạm vi lĩnh vực công vụ và chủ thể có thẩm quyền giao công vụ cũng được mở rộng hơn bao gồm cả các tổ chức xã hội

- Nghị quyết số 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANHDTC ngày 29/11/1986 cũng định nghĩa người thi hành công vụ khác so với hai văn bản trên Nghị quyết xác định người thi hành công vụ có thể là:

+ Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức

xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Và “người có chức vụ”

được định nghĩa là người do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ;

+ Những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền

Theo cách giải thích của Nghị quyết số 04/HĐTP, phạm vi người thi hành công vụ gần giống như phạm vi người thi hành công vụ theo Nghi định

số 208/2013/NĐ-CP do không giới hạn phạm vi lĩnh vực công vụ cũng như không có sự giới hạn về phạm vi chủ thể có thẩm quyền giao công vụ Do đó, cách hiểu “người thi hành công vụ” theo Nghị quyết số 04/HĐTP cũng rộng hơn so với cách định nghĩa tại Luật cán bộ công chức 2008 và Luật Trách

nhiệm bồi thường Nhà nước 2009

Trang 21

1.2 Quan điểm cá nhân về dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Quan điểm về “công vụ” và “người thi hành công vụ”

Nghiên cứu về dấu hiệu “thi hành công vụ” bao giờ cũng bắt đầu từ quan niệm về “công vụ” Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với quan

điểm về “công vụ” của GS TS Nguyễn Ngọc Hòa Theo đó, công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lí hành chính, tố tụng hoặc thi hành án” bởi:

Thứ nhất, công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và đúng pháp

luật Như vậy, công vụ phải là những hoạt động thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước khác với dịch vụ công cũng như những công việc chung trong xã hội Hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực bao giờ cũng dựa trên cơ

sở quy định của pháp luật, có nghĩa phải đảm bảo tính đúng pháp luật

Thứ hai, về phạm vi lĩnh vực của hoạt động công vụ, tác giả cho rằng

việc giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là phù hợp Hoạt động quản lý nhà nước trong những lĩnh vực này hầu hết thông qua các quyết định cá biệt, có tính chất mệnh lệnh – phục tùng và tác động tới từng cá nhân cụ thể Cũng chính vì vậy, chủ thể của các hoạt động này dễ bị các cá nhân bị tác động của công vụ chống lại, gây thiệt hại Từ đó, yêu cầu được đặt ra là phải qui định dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự để tạo điều kiện cho việc thi hành công vụ, cụ thể để bảo vệ người thi hành công

vụ khỏi sự xâm hại của tội phạm Đồng thời, việc qui định này cũng nhằm đảm bảo chính sách xử lý đối với những trường hợp phạm tội trong khi thi hành công vụ

Thứ ba, chủ thể của công vụ chỉ nên giới hạn là người thuộc các cơ

quan nhà nước hoặc được cơ quan nhà nước giao vì đây là hoạt động quản lý

Trang 22

nhà nước Tổ chức xã hội chỉ tham gia hoạt động quản lý nhà nước nhưng không phải chủ thể của quản lý nhà nước Do đó, thành viên của tổ chức xã hội không thể là chủ thể của công vụ

Từ việc đồng tình với quan niệm về công vụ như vậy, tác giả đồng tình

với hướng xây dựng định nghĩa người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước hoặc người khác đang tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án theo đúng pháp luật và đúng thẩm quyền do cơ quan nhà nước giao

Theo đó, người thi hành công vụ là người có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, người thi hành công vụ có thẩm quyền thực hiện công vụ

nhất định, họ là người có tư cách pháp lý và có quyền hạn nhất định trong việc thực hiện công vụ

Một là, về tư cách pháp lý hay nói cách khác là điều kiện tiên quyết để

cá nhân trở thành người thi hành công vụ:

+Người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh

vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án Theo đó, đây là nhóm người

thường xuyên thực hiện các hoạt động công vụ có tính quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, chức năng xét xử của Tòa án, chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân, các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hay hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án [18, tr55]; hoặc

+ Người tuy không được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm

vào làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng được các cơ quan nhà nước hay người có chức vụ quyền hạn giao thực hiện một nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án nhất định

Trang 23

Hai là, về quyền hạn của người thi hành công vụ:

Quyền hạn là cơ sở, điều kiện để thực hiện công vụ nhất định Quyền hạn được hiểu là quyền trong một phạm vi nhất định Nói cách khác, đó là quyền đã được xác định về nội dung và mức độ

Quyền hạn này có thể phát sinh từ vị trí công tác thường xuyên của người thi hành công vụ và trên cơ sở phù hợp với công vụ cụ thể được giao thực hiện Đó là trường hợp người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước… Quyền hạn này cũng có thể phát sinh từ việc được giao thực hiện công vụ nhất định Đó là trường hợp “người khác” được cơ quan nhà nước giao thực hiện công vụ nhất đinh

Thứ hai, người thi hành công vụ phải đang thực hiện một công vụ

nhất định

Một người được xác định là người thi hành công vụ không chỉ vì người đó có thẩm quyền trong việc thực hiện công vụ nhất định Nội dung này chỉ khẳng định một người có thể là người thi hành công vụ vì họ có vị trí công tác có thẩm quyền tiến hành công vụ Họ chỉ thực sự là người thi hành công vụ khi đang thực hiện công vụ (hoạt động đúng pháp luật) theo đúng thẩm quyền [7, tr27] Nội dung thứ hai này thường bị bỏ qua ngay cả trong các quy định của các văn bản pháp luật nêu trên

“Đang thực hiện công vụ” được hiểu là người có thẩm quyền đã bắt đầu thực hiện công vụ nhưng chưa kết thúc Nếu việc thực hiện công vụ chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì không còn là “đang thực hiện công vụ” Như vậy, người thi hành công vụ luôn gắn liền với công vụ cụ thể; việc xác định người thi hành công vụ đặt ra yêu cầu cần xác định sự tồn tại của một công vụ thực

tế và công vụ đó đang được thực hiện một cách đúng pháp luật bởi một chủ thể theo đúng thẩm quyền được giao

Trang 24

Thứ ba, việc thực hiện công vụ của cá nhân phải đúng pháp luật Đặc

điểm đúng pháp luật này xuất phát từ bản chất của công vụ Người thi hành công vụ theo đúng nghĩa phải là người thực hiện hoạt động đúng pháp luật cả

về nội dung, hình thức và thẩm quyền Vấn đề này, tác giả sẽ trình bày rõ hơn

trong mục 1.2.2

1.2.2 Quan điểm về “thi hành công vụ”

Dựa trên những nội dung đã trình bày về khái niệm công vụ, có thể thấy rằng, việc hiểu thống nhất và rõ ràng vấn đề “công vụ” là điều kiện tiên quyết và cần thiết để hiểu về “thi hành công vụ”

“Thi hành công vụ” theo cách hiểu đơn giản nhất là làm đúng công vụ Bắt đầu từ đặc điểm quan trọng nhất của công vụ là đúng pháp luật, một hoạt động để được xem là công vụ phải tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật [14,

tr 215] Những hoạt động không đúng pháp luật thì không phải là công vụ Do

đó, về bản chất “thi hành công vụ” cũng phải là hoạt động đúng pháp luật

Đặc điểm đúng pháp luật của công vụ phải được hiểu theo nghĩa: Nội dung hoạt động phải đúng pháp luật; trình tự, thủ tục thực hiện phải đúng pháp luật và người thực hiện phải có thẩm quyền theo đúng pháp luật Theo

đó, “thi hành công vụ” đúng nghĩa phải đảm bảo chủ thể thực hiện đúng nội dung công vụ (hoạt động đúng pháp luật); trình tự, thủ tục đúng pháp luật và theo đúng thẩm quyền được giao

Như vậy, về nguyên tắc đặc điểm đúng pháp luật của “công vụ” và “thi hành công vụ” là sự tổng hợp của một chuỗi các yếu tố đúng pháp luật Vấn

đề thực tế đặt ra là không phải ở bất cứ trường hợp nào, tất cả những yếu tố nói trên đều đồng thời đảm bảo được tính đúng pháp luật Vậy, những trường hợp đó có được xem là “thi hành công vụ” không?

Thứ nhất, nếu công vụ được giao là đúng pháp luật nhưng chủ thể thực

hiện đã không tiến hành đúng trình tự, thủ tục của pháp luật; hoặc chủ thể

Trang 25

không phải là người được giao nhiệm vụ thực hiện công vụ đó (tức không có thẩm quyền thực hiện công vụ) thì đều không được coi là thi hành công vụ theo đúng nghĩa

Thứ hai, nếu hoạt động được giao là không đúng pháp luật (thực hiện

một quyết định không đúng pháp luật) và chủ thể được giao thực hiện hoạt động này (có thể nhận thức được tính trái pháp luật của hoạt động đó hoặc có thể không biết hoặc hiểu nhầm là hoạt động đúng pháp luật) đã tiến hành theo đúng các trình tự, thủ tục và thẩm quyền được giao thì trường hợp này cũng không được coi là “thi hành công vụ” theo đúng nghĩa

Hoạt động công vụ có thể là hoạt động ban hành quyết định áp dụng quy phạm pháp luật (quyết định cá biệt); hoạt động thi hành quyết định cá biệt hoặc hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật không cần ban hành văn bản Đối với trường hợp thi hành quyết định cá biệt, đặc điểm đúng pháp luật đòi hỏi trước hết quyết định đã được ban hành phải đúng pháp luật và tiếp theo,

quyết định đó phải được thực hiện đúng “Quyết định trái pháp luật không thể

là cơ sở pháp lí cho hoạt động đúng pháp luật hay nói cách khác công vụ không thể dựa trên quyết định trái pháp luật và bản thân việc ra quyết định trái pháp luật cũng không phải là công vụ mà là làm trái công vụ” [7, tr 27]

Như vậy, việc thi hành tuy đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền nhưng

do quyết định được thi hành lại trái pháp luật nên việc thi hành này không phải là thi hành công vụ Nói theo cách khác, trường hợp này là trường hợp thi hành công vụ “trái pháp luật”

Vấn đề phân định rõ sự khác nhau giữa các trường hợp thi hành công

vụ, làm trái công vụ và thi hành công vụ “trái pháp luật” có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định đúng dấu hiệu thi hành công vụ và việc xác định TNHS đối với người có hành vi chống lại việc thi hành công vụ “trái pháp luật” hoặc làm trái công vụ

Trang 26

1.2.3 Khái quát về dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam

Dấu hiệu “thi hành công vụ” có thể là dấu hiệu định tội hoặc là dấu hiệu định khung hình phạt Tuy nhiên, thể hiện cụ thể của dấu hiệu này có sự khác nhau giữa các điều luật Tác giả đồng tình với quan điểm của GS TS Nguyễn Ngọc Hòa về việc khái quát các thể hiện của dấu hiệu thi hành công

vụ bao gồm: dấu hiệu “người thi hành công vụ”; dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ”; dấu hiệu “vì lý do công vụ” [7, tr25]

Thứ nhất, dấu hiệu “người thi hành công vụ” là dấu hiệu định tội

hoặc định khung tăng nặng trong các điều luật cụ thể phản ánh đối tượng tác động của tội phạm phải là người thi hành công vụ Điều này xuất phát

từ yêu cầu duy trì hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, do đó, người thi hành công vụ được xem xét là đối tượng cần được bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm

Thứ hai, dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” là dấu hiệu định tội

trong các tôi danh cụ thể phản ánh chủ thể của tội phạm cũng như hoàn cảnh phạm tội: Người thi hành công vụ đã thực hiện hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ Tuy nhiên, hành vi phạm tội của người thi hành công vụ trong những trường hợp này xuất phát từ sự cần thiết để đảm bảo việc thi hành công

vụ Do đó, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong trường hợp này được đánh giá thấp hơn trường hợp thông thường Vì vậy, dấu hiệu

“trong khi thi hành công vụ” có ý nghĩa định tội giảm nhẹ

Thứ ba, dấu hiệu “vì lý do công vụ” là dấu hiệu định khung hình phạt

tăng nặng trong các tội danh cụ thể phản ánh động cơ phạm tội Động cơ “vì

lí do công vụ” phản ánh tính chất chống đối xã hội nghiêm trọng hơn trường hợp bình thường Trường hợp này cần phải xử lý nghiêm khắc hơn Chính vì vậy, “vì lí do công vụ” được qui định là dấu hiệu định khung hình phạt tặng

Trang 27

nặng vì động cơ này thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tăng lên đáng kể so với những trường hợp bình thường

Bên cạnh đó, để ngăn ngừa sự lạm dụng cũng như lợi dụng công vụ, luật hình sự còn có thể qui định dấu hiệu “làm trái công vụ” là dấu hiệu định tội trong một số tội danh cụ thể, phản ánh hành vi khách quan của tội phạm Đây cũng có thể được coi là một biểu hiện gián tiếp của dấu hiệu thi hành

công vụ Làm trái công vụ được hiểu là “không làm trong trường hợp phải làm và có điều kiện để làm hoặc làm nhưng không đầy đủ hoặc làm ngược lại qui định, yêu cầu của công vụ” [16, tr378] Hành vi làm trái công vụ không

chỉ xâm phạm tới hoạt động hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, sự thiệt hại cho lợi ích xã hội và tự do của con người mà còn kéo theo hệ quả to lớn là sự giảm sút niềm tin của người dân đối với Nhà nước Vì vậy, những hành vi này cần được xử lý nghiêm khắc

1.3 Lịch sử quy định dấu hiệu thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam

Dấu hiệu thi hành công vụ đã được đưa vào trong các quy định pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng từ thời phong kiến Tuy nhiên, trong mục này, tác giả chỉ khái quát lịch sử quy định dấu hiệu thi hành công

vụ trong luật hình sự Việt Nam kể từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

ra đời đến nay

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Trong giai đoạn này, Việt Nam chưa có BLHS mà chỉ có các văn bản pháp luật riêng biệt quy định các vấn đề về lĩnh vực hình sự Do hoàn cảnh kháng chiến nên các văn bản pháp luật nói chung cũng như các văn bản về pháp luật hình sự nói riêng được ban hành trong khoảng thời gian này không nhiều Tuy nhiên, trong số ít các văn bản đã ban hành cũng đã có văn bản ghi nhận về nội dung liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ Đó là dấu hiệu

Trang 28

“người phụ trách một công vụ” được quy định là dấu hiệu định tội trong một

số tội như tội công chức nhận hối lộ, hoặc phù lạm, hoặc biển thủ công quỹ hay của công dân tại Sắc lệnh số 223 ngày 27 tháng 11 năm 1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc ấn định hình phạt tội đưa

và nhận hối lộ Cụ thể: Điều thứ 3 của Sắc lệnh quy định: “Đối với các tội trên, công chức còn gồm nhân viên trong Chính phủ, trong các Uỷ ban Hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả các người phụ trách một công vụ.” Như vậy, khái niệm “công vụ” đã được sử

dụng nhưng có thể có một số nhận xét sau về vấn đề này:

Thứ nhất, khái niệm “công vụ” tuy đã được ghi nhận trong văn bản

pháp luật nhưng chưa được định nghĩa cụ thể;

Thứ hai, dấu hiệu “người phụ trách một công vụ” phản ánh dấu hiệu

chủ thể của tội phạm có thể là công chức, nhân viên trong Chính phủ, trong các Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu, trong bộ đội hoặc người khác phụ trách công vụ Họ là người được giao đảm nhiệm công

vụ nhất định Dấu hiệu “người phụ trách một công vụ” có nội dung thiên về chức năng của chủ thể (phụ trách)

Tóm lại, trong giai đoạn này đã có các qui định liên quan đến dấu hiệu

“thi hành công vụ” Tuy nhiên, sự biểu hiện dấu hiệu này vẫn còn đơn giản và chưa rõ ràng

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

So với giai đoạn trước, các văn bản pháp luật hình sự hình sự trong giai đoạn này đã được ban hành nhiều hơn Các quy định có dấu hiệu thi hành công vụ cũng đã có sự biểu hiện rõ ràng hơn qua dấu hiệu “người thi hành nhiệm vụ” và dấu hiệu “trong khi thi hành nhiệm vụ”

Thứ nhất, dấu hiệu “người thi hành nhiệm vụ” được qui định là dấu

hiệu định tội của Tội phá rối an ninh trong Pháp lệnh trừng trị các tội phản

Trang 29

cách mạng năm 1967 Cụ thể, Điều 14 của Pháp lệnh quy định: “1 Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người nhằm phá rối trật tự, an ninh, ngăn trở cán bộ, nhân viên nhà nước, bộ đội, công an thi hành nhiệm vụ thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm…” Theo đó, người thi hành nhiệm vụ là đối tượng của hành vi phạm tội này gồm cán bộ, nhân viên

nhà nước, bộ đội, công an

Thứ hai, dấu hiệu “trong khi thi hành nhiệm vụ” được mô tả là dấu hiệu

định tội trong Tội dùng súng bắn chết người trong khi thi hành nhiệm vụ, ngoài trường hợp pháp luật cho phép sử dụng vũ khí Dấu hiệu này được xác định trong Bản Tổng kết số 452 – HS2 ngày 10-6-1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực hiện xét xử loại tội giết người Trong đó có đoạn mô tả:

“(trường hợp phạm tội thường thấy nhất là) “các dân quân, công an, tự vệ bắn chết người trong khi làm nhiệm vụ, bắt bạc, bắt trộm, khám hàng lậu…

để đối phó lại các trường hợp bỏ chạy”, „thực tiễn của ta thường xét xử dưới tội danh “dùng súng bắn chết người trong khi thi hành nhiệm vụ, ngoài trường hợp luật pháp cho phép sử dụng vũ khí”

Như vậy, dấu hiệu “trong khi làm nhiệm vụ” hay “trong khi thi hành nhiệm vụ” đều được nêu trong Bản tổng kết số 452 Theo văn bản này thì chủ thể làm hay thi hành nhiệm vụ có thể là dân quân, công an, tự vệ đang làm nhiệm vụ Phạm vi nhiệm vụ ở đây được xác định qua liệt kê có tính ví dụ: bắt bạc, bắt trộm, khám hàng lậu …

Sau này, trường hợp dùng súng bắn chết người trong khi thi hành nhiệm vụ, ngoài trường hợp pháp luật cho phép sử dụng vũ khí được đánh giá

là một trường hợp giết người do vượt quá phạm vi phòng vệ cần thiết Chủ thể của trường hợp này được xác định là người đương thi hành nhiệm vụ Họ

có thể là “…các dân quân, công an, tự vệ, bộ đội … khi làm nhiệm vụ canh gác, khám, bắt (và cũng có thể là) những cán bộ khác (ví dụ: cán bộ thuế quan, lâm nghiệp… khi làm nhiệm vụ khám, bắt hàng lậu) (hay) công dân

Trang 30

thường khi làm nhiệm vụ bắt những trường hợp phạm pháp quả tang.” Tóm

lại, người đương thi hành nhiệm vụ được xác định là dân quân, công an, tự vệ,

bộ đội, cán bộ khác hoặc người công dân thường khi làm nhiệm vụ nhất định

Qua trình bày trên, chúng ta thấy, cả hai dấu hiệu “người thi hành nhiệm vụ” và dấu hiệu “trong khi thi hành nhiệm vụ” đều xoay quanh hai khái niệm “nhiệm vụ” và “người thi hành nhiệm vụ”

- “Nhiệm vụ” theo nghĩa rộng là công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định Nhưng theo cách quy định trên, “nhiệm vụ” được hiểu trong phạm vi hẹp là nhiệm vụ cụ thể được giao xuất phát từ vị trí công tác của chủ thể hoặc từ chính nội dung nhiệm vụ đó Nhiệm vụ này được thi hành nhằm bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, xã hội và lợi ích chính đáng của cá nhân

- “Người thi hành nhiệm vụ” được hiểu gần với người thi hành công vụ hiện nay Tuy nhiên, phạm vi đối tượng được xem là người thi hành nhiệm vụ được xác định hẹp hơn người thi hành công vụ hiện nay Người thi hành công

vụ hiện nay còn bao gồm cả đối tượng là những “người khác” ngoài cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang mà được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giao và đang thực tế thi hành công vụ nhất định

Nội dung trình bày trên còn nhắc đến khái niệm “người đương thi hành nhiệm vụ” Người thi hành nhiệm vụ và người đương thi hành nhiệm vụ theo luật pháp bấy giờ được hiểu như nhau Tuy nhiên, để nhấn mạnh nội dung

“trong khi thi hành nhiệm vụ”, nhà lập pháp đã sử dụng khái niệm “người

đương thi hành nhiệm vụ”

Như vậy, trong giai đoạn này, các dấu hiệu có nội dung liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ đã rõ ràng hơn trước Tuy nhiên, việc sử dụng các khái niệm liên qan vẫn chưa được chính xác so với nội dung được phản ánh

Trang 31

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi BLHS 1985 có hiệu lực

Trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện hơn Trong lĩnh vực hình sự, các văn bản pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt tiếp tục được ban hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong khi chưa có BLHS Trong các quy định mới được ban hành trong giai đoạn này có các quy định liên quan đến dấu hiệu thi hành công vụ Cụ thể:

Thứ nhất, dấu hiệu “nhân viên nhà nước khi làm nhiệm vụ” được quy

định là dấu hiệu định tội của Tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân trong Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15-3-

1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cụ thể, Điều 9 Sắc lệnh

quy định: “…Tụ tập đông người nhằm gây náo động trong dân chúng và khuấy rối trật tự ngoài đường phố hoặc ở các nơi công cộng, chống lại nhân viên nhà nước khi làm nhiệm vụ.” Trong điều luật này, dấu hiệu “nhân viên

nhà nước khi làm nhiệm vụ” dùng để chỉ một nhóm đối tượng thuộc phạm vi

“người thi hành nhiệm vụ” như cách giải thích mà tác giả đã trình bày tại mục trước

Thứ hai, dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” được quy định là dấu

hiệu định tội của Tội xâm hại tính mạng của người khác trong khi thi hành công vụ và Tội xâm hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ Dấu hiệu này được xác định trong Chị thị số 07/TANDTC/CT của Tòa án nhân dân tối cao ngày 22 tháng 12 năm 1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ

chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ Cụ thể Chỉ thị có mô tả: “Đối với những hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ, thì tuỳ trường hợp mà định tội là “Tội xâm hại tính mạng của người khác trong khi thi hành công vụ” (nếu là chết người) hay “tội xâm hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ” (nếu gây thương tích)”

Trang 32

Theo đó, trường hợp phạm Tội xâm hại tính mạng của người khác trong khi thi hành công vụ hoặc Tội xâm hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là các trường hợp làm chết người hay gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác do sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép Đối với các tội phạm này, Chỉ

thị mô tả người phạm tội: “là nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội được giao vũ khí để làm công vụ cụ thể, rõ ràng; (cũng có thể là) người công dân thường, hoặc nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội cũng được coi như làm công vụ khi tham gia đấu tranh chống tội phạm quả tang hoặc chống hành vi bị nghi một cách hợp lý là phạm tội quả tang.” Theo đó, chủ

thể của các tội phạm trên được xác định là nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội hoặc công dân thường làm công vụ được giao hoặc tham gia chống tội phạm quả tang Nói một cách ngắn gọn, chủ thể của tội phạm là những “người làm công vụ”

Như vậy, những quy định trên xoay quanh hai khái niệm “công vụ” và

“người làm công vụ”

- Khái niệm “công vụ” đã được nêu trong các quy định nhưng vẫn chưa được định nghĩa Tuy nhiên, qua những quy định đó, chúng ta có thể hiểu công vụ là việc được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho cá nhân thực hiện (dựa trên vị trí công tác hoặc nghĩa vụ của công dân) để bảo vệ trật

tự xã hội, lợi ích nhà nước, cá nhân Nội dung “để bảo vệ trật tự xã hội, lợi ích

nhà nước và cá nhân” được thể hiện qua quy định: “Nếu khi thi hành công vụ

mà sử dụng vũ khí vì động cơ tư thù, vụ lợi, ghen tức, v.v… thì không được

coi là thi hành công vụ”

- “Người làm công vụ” có thể là người làm đúng hoặc làm sai công vụ Khái niệm này khác với người thi hành công vụ theo nghĩa là người làm đúng công vụ (hoạt động đúng pháp luật) Như vậy, “người làm công vụ” là một

Trang 33

khái niệm rộng hơn khái niệm “người thi hành công vụ” rất nhiều, mặc dù, quy định trên cho thấy, phạm vi đối tượng người làm công vụ và phạm vi đối tượng người thi hành công vụ là gần như nhau

Qua những nội dung này, chúng ta có thể thấy rằng, giai đoạn này pháp luật đã có sự thay đổi đáng kể trong việc quy định dấu hiệu thi hành công vụ, đặc biệt là dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” Tuy nhiên, việc sử dụng những khái niệm có liên quan vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lí

1.3.4 Giai đoạn từ khi BLHS 1985 có hiệu lực đến trước khi BLHS

BLHS 1985 đã thể hiện dấu hiệu thi hành công vụ qua các dấu hiệu

“người thi hành công vụ”, “trong khi thi hành công vụ” và “vì lý do công vụ”

- Dấu hiệu “người thi hành công vụ” được quy định là dấu hiệu định tội của các tội danh: Tội phá rối an ninh (Điều 83) và Tội chống người thi hành công vụ (Điều 205 BLHS); là dấu hiệu định khung hình phạt trong Tội giết người (Điều 101) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 109 BLHS)

Dấu hiệu “người thi hành công vụ” của các tội danh trên phản ánh đặc điểm của đối tượng của hành vi phạm tội Ví dụ:

+ Điều 205 Tội chống người thi hành công vụ quy định: “Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109, thì bị phạt…”;

Trang 34

+ Điều 109 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác tại khoản 1 điểm b quy định: “Để cản trở người thi hành công vụ …”

- Dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” được quy định là dấu hiệu định tội của Tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi

hành công vụ (Điều 103) Cụ thể, khoản 1 Điều 103 quy định: “Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”…Theo đó, chủ thể của tội phạm “người nào” được hiểu là người thi

hành công vụ

- Dấu hiệu “vì lý do công vụ” được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tặng nặng ở các tội danh: Tội giết người (Điều 101); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 109) Cụ thể:

+ Điều 101 khoản 1 điểm c qui định: “Giết người đang thi hành công

vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”;

+ Điều 109 khoản 1 điểm b qui định: “Để cản trở người thi hành công

vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”

Ngoài những thể hiện cụ thể trên, BLHS còn qui định dấu hiệu “làm trái với công vụ” là dấu hiệu liên quan với dấu hiệu “thi hành công vụ” Dấu hiệu này được qui định trong Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221 BLHS) Điều 221 qui định như

sau: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn làm trái với công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc lợi ích hợp pháp của công dân…”

Theo đó, dấu hiệu này mô tả yếu tố trong hành vi khách quan của tội phạm là làm trái với công vụ

Trang 35

Những dấu hiệu nêu trên đều vẫn xoay quanh khái niệm “công vụ” và

“người thi hành công vụ” Hai khái niệm này đã được giải thích tại Nghị quyết số 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 29 tháng 11 năm

1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS như sau:

- “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện.”

- “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình

và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội.”

Đây là định nghĩa đầu tiên về khái niệm “công vụ” và “người thi hành công vụ” trong một văn bản pháp luật hình sự; và cho tới hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật thuộc ngành luật hình sự định nghĩa lại hai khái niệm này Định nghĩa trên đây cũng thể hiện một trong những quan điểm hiện nay

về “công vụ” và “người thi hành công vụ” Những vấn đề này đã được tác giả

phân tích tại phần 1.1

Qua đây chúng ta có thể thấy rằng, sự ra đời của BLHS năm 1985 đã tạo một bước tiến mới cho pháp luật hình sự, thể hiện tính hệ thống hóa ở mức cao nhất các quy phạm pháp luật hình sự, trong đó có các quy định liên quan đến dấu hiệu “thi hành công vụ”

1.3.5 Giai đoạn từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực đến nay

BLHS 1999 đã sửa đổi, bổ sung một số tội danh so với BLHS 1985 Nhìn chung, dấu hiệu thi hành công vụ vẫn được thể hiện qua các dấu hiệu

“người thi hành công vụ”, “trong khi thi hành công vụ”, “vì lí do công vụ” và một dấu hiệu có liên quan là “làm trái công vụ”

Trang 36

Thứ nhất, dấu hiệu “người thi hành công vụ” tiếp tục được quy định là

dấu hiệu định tội của Tội phá rối an ninh (Điều 89) và Tội chống người thi hành công vụ (Điều 257 BLHS 1999); là dấu hiệu định khung của Tội giết người (Điều 93), Tội đe dọa giết người (Điều 103), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104), Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117), Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118), Tội làm nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122) và Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123 BLHS 1999) Như vậy, BLHS 1999

đã bổ sung thêm 6 tội danh có dấu hiệu “người thi hành công vụ” với ý nghĩa

là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng

Thứ hai, dấu hiệu “trong khi thi hành công vụ” được quy định là dấu

hiệu định tội của Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97) và Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107 BLHS 1999) Thực tế, hai tội danh này được tách

từ Tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 103 BLHS 1985)

Thứ ba, dấu hiệu “vì lý do công vụ” được quy định là dấu hiệu định

khung hình phạt của một số tội danh như đã quy định trong BLHS 1985 là Tội giết người (Điều 93), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 104); và của một số tội danh mới là Tội đe dọa giết người (Điều 103), Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117), Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118), Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS 1999)

Ngoài ra, dấu hiệu có liên quan với dấu hiệu “thi hành công vụ” là “làm trái công vụ” tiếp tục được BLHS ghi nhận ở hai tội danh mới là Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281) và Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282 BLHS 1999) Đây là hai tội danh được

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w