1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ ly hôn so sánh pháp luật cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam và pháp luật cộng hòa dân chủ nhân dân lào

59 447 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 828,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tu hoặc vợ đi làm ni cô trong thời gian 3 năm trở lên mà không có sự nhất trí với nhau, một bên bị mất tích hoặc bị toà án kết tội 5 năm tù trở lên, bị bệnh nặng không thể tiếp tục sống

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

INTHAVONG SOUPHAPHONE

CĂN CỨ LY HÔN – SO SÁNH PHÁP LUẬT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ THỊ HƯỜNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác

và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Inthavong Souphaphone

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, sâu sắc nhất đến cô Ngô Thị Hường – vì sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của cô đối với em trong suốt quá trình làm luận văn

Em cũng xin cảm ơn sự chỉ bảo ân cần của các thầy cô trong Khoa pháp luật Dân sự và toàn thể các thầy cô, bạn bè dưới mái trường Đại học Luật Hà Nội

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên em trong suốt quá trình học tập ở Việt Nam

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014

Tác giả

Inthavong Souphaphone

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN VÀ CĂN CỨ LY HÔN 5

1.1 KHÁI NIỆM LY HÔN 5

1.1.1 Định nghĩa ly hôn 5

1.1.2 Các quan điểm về ly hôn 9

1.1.3 Các trường hợp ly hôn 12

1.1.3.1 Theo pháp luật Việt Nam 12

1.1.3.2 Theo pháp luật Lào 17

1.2 CĂN CỨ LY HÔN 21

1.2.1 Khái niệm căn cứ ly hôn 21

1.2.2 Phân biệt căn cứ ly hôn với lý do, nguyên nhân, động cơ ly hôn 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 27

2.1 CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 27

2.1.1 Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được 28

2.1.2 Một bên vợ hoặc chồng mất tích 31

2.2 CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 33

2.2.1 Do lỗi của vợ, chồng 35

2.2.2 Do tình trạng hôn nhân tan vỡ 36

Trang 5

2.2.3 Do sự vắng mặt lâu dài của một bên vợ hoặc chồng 37

2.2.4 Do tình trạng sức khỏe của vợ, chồng 38

2.3 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT CHXHCN VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT CHDCND LÀO 41

2.3.1 Điểm tương đồng 41

2.3.2 Điểm khác biệt 44

2.3 Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về ly hôn 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

KẾT LUẬN 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND Lào Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

CHXHCN Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam BLDS

HĐTP

Bộ luật Dân sự Hội đồng thẩm phán

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách mỗi cá nhân, chuẩn bị hành trang để con người hòa nhập vào cộng đồng xã hội Gia đình có tốt thì xã hội mới tốt Mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện chức năng cơ bản mang tính chất

xã hội của nó Gia đình ra đời tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa

vụ pháp lý giữa họ

Kết hôn là cơ sở, tiền đề xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật nhằm xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Ngược lại, ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Hậu quả pháp lý của ly hôn không chỉ làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ chồng trước pháp luật mà còn làm phát sinh hàng loạt các vấn đề

về thanh toán tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung Các vấn đề đó có tác động và ảnh hưởng không nhỏ tới lợi ích của các bên, của gia đình và sự ổn định của xã hội Vì vậy, cần phải điều chỉnh bằng pháp luật mà cụ thể là Luật hôn nhân

và gia đình đặc biệt về vấn đề về căn cứ ly hôn sao cho hợp lý Bởi mỗi quốc gia có những căn cứ ly hôn khác nhau, không những thế trong một quốc gia qua từng thời kỳ cũng có những quy định khác nhau về căn cứ ly hôn dẫn đến việc áp dụng trong thực tiễn gặp khó khăn và vướng mắc

Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Căn cứ ly hôn – So sánh pháp luật

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật CHDCND Lào” làm luận vặn tốt

nghiệp, nhằm mục đích nghiên cứu, nâng cao hiểu biết của bản thân và mọi người về căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật của hai nước và mong muốn làm sáng tỏ thêm về góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng những căn

cứ đó

Trang 8

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài “Căn cứ ly hôn – So sánh pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và pháp luật CHDCND Lào”chưa được đề cập toàn diện trong công trình

chuyên khảo nào ở Việt Nam và Lào Cũng có nhiều sách, tạp chí, các bài báo khác cũng đề cập đến vấn đề ly hôn theo pháp luật Việt Nam, theo pháp luật Lào ở góc độ này hay góc độ khác Tuy nhiên, các bài báo hay công trình đã công bố thường thiên về khuynh hướng phân tích hậu quả của

xã hội và gia đình do tình trạng vợ chồng ly hôn gây ra hoặc những nguyên nhân xã hội gây ra việc ly hôn hay vấn đề bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

và trẻ em trong thực tiễn giải quyết các vụ ly hôn Cũng có nhiều bài viết

về những vướng mắc trong việc giải quyết các vụ ly hôn do pháp luật tố tụng dân dự hiện hành nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về căn

cứ ly hôn của pháp luật hai nước trên phương diện so sánh, đánh giá

Nghiên cứu sâu và toàn diện các căn cứ ly hôn theo pháp luật của Việt Nam và Lào trong sự tương quan so sánh lần đầu tiên được giải quyết ở công trình nghiên cứu này

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật thực định của Việt Nam và Lào làm rõ về mặt lý luận các căn cứ ly hôn, qua đó đánh giá quy định về căn cứ ly hôn của hai nước

và đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn cho phù hợp với thực tế, nhất là trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay

Với mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về ly hôn và căn cứ ly hôn Thứ hai, nghiên cứu và phân tích các quy định về căn cứ ly hôn trong

hệ thống pháp luật của Lào và Việt Nam từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá về căn cứ ly hôn của hai nước

Trang 9

3

Thứ ba, từ những nhận định đánh giá ở trên đưa ra những khuyến nghị

về hoàn thiện pháp luật nội dung cũng như đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thủ tục tố tụng trong việc giải quyết các vụ ly hôn nhằm hướng dẫn Tòa án của hai nước trong việc áp dụng các căn cứ ly hôn đối với từng loại việc cụ thể

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật

về căn cứ ly hôn của Lào và Việt Nam Xác định và phân tích các căn cứ ly hôn ấy, trên cơ sở so sánh tìm điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định về căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật hai nước

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là căn cứ ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của Lào và Việt Nam Đánh giá và phân tích tương quan giữa các quy định đó

Đề tài còn nghiên cứu việc áp dụng quy định về căn cứ ly hôn theo pháp luật hiện hành trong công tác xét xử của hai nước

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử để phân tích cả tính khách quan, tính chủ quan và điều kiện, môi trường xã hội - lịch sử của hiện tượng ly hôn

Việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích để phân tích các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của hai nước về căn cứ ly hôn Sau đó sử dụng phương pháp so sánh, so sánh quy định của hai nước, nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện cho pháp luạt về hôn nhân và gia đình nói chung và các quy định về ly hôn nói riêng Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp tổng hợp, logic suy luận

Trang 10

4

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn

có hai chương:

Chương 1: Lý luận chung về ly hôn và căn cứ ly hôn

Chương 2: Căn cứ ly hôn theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 11

5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN VÀ CĂN CỨ LY HÔN

1.1 KHÁI NIỆM LY HÔN

1.1.1 Định nghĩa ly hôn

Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào

đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ

Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống của mỗi quốc gia là khác nhau Một số nước cấm vợ chồng ly hôn như những nước theo Đạo Thiên chúa, bởi theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa Một số nước thì hạn chế ly hôn bằng cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt Như ở Afganistan nếu người phụ nữ sau khi ly hôn chồng cũ

và lập gia đình với một người đàn ông khác thì chồng mới sẽ phải chịu một khoản phí cao gấp đôi số tiền mà cặp này bỏ ra để tổ chức đám cưới Tại đất nước Ecuador, vợ chồng nếu muốn ly hôn thì phải tuyệt thực trong ba ngày, sang đến sáng sớm ngày thứ tư, nếu cặp đôi này còn khỏe mạnh thì

sẽ cho tiến hành ly hôn Nếu tình trạng sức khỏe yếu ớt thì sẽ được tuyên

bố vĩnh viễn không bao giờ được ly hôn Tóm lại, cấm ly hôn hay hạn chế

ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân

Pháp luật của nhà nước Việt Nam và Lào đều công nhận quyền tự do

ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đưa ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ

Trang 12

6 chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền

ly hôn của mình Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được Việc gải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên

trong gia đình Theo Lênin "Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm "tan rã" những mối quan hệ gia đình mà ngược lại, nó cũng có những mối quan hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có

và vững chắc trong một xã hội văn minh" [18 Tr.335] Nhưng bên cạnh đó,

ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là chấm dứt quan hệ vợ chồng, có thể dẫn đến gia đình ly tán, con cái không được sống chung với cả cha và mẹ Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Tòa án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và mức độ mâu thuẫn giữa vợ và chồng, thực chất mối quan hệ vợ chồng và khả năng giải quyết các mâu thuẫn để có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhằm đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của Nhà nước và của xã hội

Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của

vợ hoặc chồng và có giá trị pháp lý khi được Tòa án có thẩm quyền quyết định hoặc công nhận Đây có thể coi là biện pháp cuối cùng để chấm dứt tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được

Theo định nghĩa tại Khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

của Việt Nam thì: "Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng"

Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn

Trang 13

7 thực chất mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa và không thể tiếp tục duy trì đời sống chung

Ở Việt Nam, do truyền thống pháp luật và để thận trọng trong việc giải quyết vấn đề có tính xã hội và nhân văn sâu sắc này, chỉ có Tòa án mới được giao thẩm quyền giải quyết việc ly hôn

Ly hôn không những ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm vợ chồng, chấm dứt mọi quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, mà còn ảnh hưởng xấu tới quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong gia đình đã được pháp luật bảo vệ, đó là quyền và lợi ích của con cái, lợi ích chung của gia đình và lợi ích xã hội

Tòa án với chức năng là cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết

vợ chồng có thể được ly hôn hay không thể hiện qua việc chấp nhận hoặc bác bỏ đơn ly hôn Bằng biện pháp tư pháp đó, chúng ta có thể hạn chế hoặc ngăn ngừa hiện tượng vợ hoặc chồng lạm dụng quyền tự do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội

Theo pháp luật của Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào

thì:“Ly hôn là sự kết thúc của mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng với sự đồng ý của hai bên hoặc có sự kiếu nại đề nghị toà án để xét xử ly hôn”

Như vậy, có thể hiểu rằng, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trên cơ sở sự tự nguyện của ít nhất một bên chủ thể, và trên cơ sở tự nguyện đó, cơ quan có thẩm quyền của nhà nước sẽ xem xét giải quyết cho

vợ chồng ly hôn hay không ly hôn

Quyền ly hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật qui định và phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự về việc xác lập, thực hiện các quyền dân sự và các nguyên tắc được qui định trong Luật Hôn nhân và gia đình Hiện nay, cả nhân loại đang sống trong thời kì văn minh hiện đại, quyền ly hôn được xem là quyền tự do cá nhân, cần được thừa nhận và bảo

vệ Với quan điểm nam nữ bình đẳng trong quan hệ xã hội và gia đình, thì

Trang 14

tu hoặc vợ đi làm ni cô trong thời gian 3 năm trở lên mà không có sự nhất trí với nhau, một bên bị mất tích hoặc bị toà án kết tội 5 năm tù trở lên, bị bệnh nặng không thể tiếp tục sống với nhau được, bị điên, bị thần kinh nặng mà không thể tiếp tục sống với nhau đựơc, chồng hoặc vợ không có khả năng quan hệ tình dục được, không thể tiếp tục sống với nhau được vì các nguyên nhân khác (như không chung thủy với nhau, xúc phạm lẫn nhau…) (Điều 20 Luật Gia đình Lào).

Nếu xem kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng lại không thể thiếu khi hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp này, ly hôn được xem là giải pháp cần thiết cho cả vợ và chồng nói riêng và cho xã hội nói chung Sở dĩ như vậy là bởi ly hôn sẽ giải phóng cho vợ chồng, các con cũng như những thành viên trong gia đình được giải thoát khỏi những xung đột, mâu thuẫn và bế tắc trong cuộc sống chung Ly hôn là giải phóng cho vợ chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại Bên cạnh mặt tích cực đó, ly hôn có có mặt hạn chế nhất định Đó là việc tan vỡ đôi bên, vấn đề phân chia tài sản chung, cấp dưỡng giữa vợ chồng

và quyền lợi mọi mặt của trẻ thơ Những đứa trẻ sẽ được chăm sóc, gióa dục như thế nào, sẽ ở với ai khi gia đình ly tán do bố mẹ ly hôn Đây là một vấn đề cần giải quyết xác đáng

Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, nhằm bảo đảm quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam nữ và quyền

Trang 15

9

tự do ly hôn của vợ chồng Bên cạnh đó, việc đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng không đồng nghĩa với việc giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí nguyện vọng của vợ chồng muốn làm như thế nào cũng được mà phải tuân theo các quy định của pháp luật, bởi ly hôn không đơn thuần chỉ là giải phóng cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình tránh khỏi những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống chung mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình và xã hội Ví dụ: Trẻ em thiếu sự chăm sóc giáo dục của một bên cha hoặc mẹ, tranh chấp tài sản… Vì vậy, các quốc gia đều quy định việc ly hôn của vợ chồng cần phải tuân thủ pháp luật và đặt dưới

sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước can thiệp vào việc ly hôn không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân, của các thành viên gia đình mà còn nhằm mục đích bảo vệ trật tự xã hội, đó cũng chính là bảo vệ Nhà nước và xã hội

Từ phân tích các quy định về ly hôn của pháp luật hai nước Lào và Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như sau:

Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc công nhận trên

cơ sở những căn cứ mà pháp luật quy định khi có yêu cầu của vợ, chồng hoặc của cả vợ và chồng

1.1.2 Các quan điểm về ly hôn

Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, vấn đề ly hôn được quy định và nhìn nhận khác nhau Một số nước theo đạo Thiên Chúa quy định cấm ly hôn Tuy nhiên, trong sự phát triển chung của nhân loại, quan điểm

tự do hôn nhân ngày càng được khẳng định nên nhiều quốc gia trước đây cấm ly hôn thì nay đã bãi bỏ quy định này Chẳng hạn, Italia bãi bỏ vào năm 1975, Tây Ban Nha bãi bỏ năm 1982, Chile bãi bỏ năm 2004… Hiện tại còn một số quốc gia còn duy trì luật cấm ly hôn như: Thánh địa Vantican, Ailen, Philippin Ở những nước này việc kết hôn hôn được tiến

Trang 16

10 hành theo nghi thức và quyết định của nhà thờ Kết hôn là sự kiện luôn

được trông đợi và tôn trọng Trên quan niệm “hôn nhân thần thánh” nên

mọi người không được “mạo phạm” hôn nhân Hôn nhân không đơn thuần

là chuyện tình cảm đôi lứa, mà còn là biểu hiện của sự tiến bộ xã hội Vì vậy, ở những quốc gia này, ly hôn là điều không thể Các cặp vợ chồng dù

có chán nhau đến mấy cũng không được phép ly hôn Điều này dẫn đến tình trạng là phần lớn người dân ở những quốc gia này tỏ ra thận trọng với hôn nhân để không phải chịu cảnh hối hận trong cuộc hôn nhân mình đã lựa chọn Tại Ailen, quy định cấm ly hôn đó đã khiến người dân lựa chọn hình thức chung sống mà không đăng ký kết hôn hoặc cưới muộn khi tuổi đời đã khá cao

Một số nước lại hạn chế việc ly hôn bằng các quy định và điều kiện nghiêm ngặt Chẳng hạn như: Quy định kéo dài thời gian giải quyết ly hôn, muốn ly hôn phải bỏ tiền hoặc tài sản để “nộp phạt”, phải tuyệt thực trong một thời gian nhất định trước khi được công nhận ly hôn… Ở Afghanistan, nếu người phụ nữ sau khi ly hôn chồng cũ bà lập gia đình với một người đàn ông khác thì chồng mới sẽ phải chịu một khoản phí Theo luật nước này quy định, vị hôn phu mới sẽ phải chi trả một mức "phí" cao gấp đôi số tiền mà cặp đôi này bỏ ra để tổ chức đám cưới Còn nếu như nguyên nhân

ly hôn là do người đàn ông quyết định thì khi lấy chồng mới người phụ nữ phải hoàn lại số tiến mà gia đình chồng cũ đã chi trả trong đám cưới trước

đó Chính quy định này đã làm cho việc ly hôn trở nên khó khăn Tại đất nước Ecuador, vợ chồng nếu muốn ly hôn thì phải tuyệt thực trong vòng 3 ngày, sang đến sáng sớm ngày thứ tư, nếu cặp đôi này còn khỏe mạnh thì

sẽ cho tiến hành ly hôn Nếu tình trạng sức khỏe yếu ớt thì sẽ được tuyên

bố vĩnh viễn không bao giờ được ly hôn Đây có thể được coi là một thử thách đối với các cặp vợ chồng trước khi ly hôn

Trang 17

11 Theo quan điểm về ly hôn của các nước trên thì thấy được rằng việc cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn ở các nước này đều là đi trái với quyền tự

do dân chủ của cá nhân Tuy nhiên, quan điểm này vẫn tồn tại khá lâu trong đời sống cộng đồng Công giáo và được coi là một trong những quan điểm nền tảng của luật giáo hội về gia đình

Một số nước khác, hệ thống pháp luật quy định về vấn đề ly hôn lại khá cởi mở, với quan điểm tự do ly hôn Trái với quan điểm trên, họ chủ trương tự do ly hôn là khi cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa, một khi một trong hai người hoặc cả hai người cảm thấy cuộc sống hôn

nhân không thể duy trì, ý nghĩa của khái niệm "muốn sống chung" không

còn tồn tại thì họ có quyền tự do chấm dứt hôn nhân giống như họ được phép tự xác lập mối quan hệ hôn nhân vậy Họ có thể đồng thuận ly hôn từ hai phía hoặc chỉ cần ly hôn bằng quyết định đơn phương của mình Quyền

tự do ly hôn được công nhận ngay từ Luật La Mã thời kỳ cuối

Trong luật của các nước theo hệ thống pháp luật Common Law - như các nước Bắc Âu, tự do ly hôn theo ý chí đơn phương được thừa nhận dưới hình thức ly hôn do không hợp tính tình Có nghĩa là một trong hai người đưa ra được những khác biệt trong cuộc sống gia đình mà hai bên không thể dung hòa được, hoặc chứng minh được cuộc sống vợ chồng có sự khác biệt quá lớn trong tính cách dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt khiến cho hai người không thể chịu đựng nổi nhau thì vợ hoặc chồng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn và thẩm phán phải đứng ra để giải quyết yêu cầu đó

Một hình thức ly hôn tồn tại song song với hai thể chế trên đó là hình thức ly hôn tự do dưới sự giám sát của nhà nước Đây được coi là mô hình tiên tiến nhất vì nó dung hòa được hai mô hình trên Ly hôn vẫn được coi là một quyền tự do của cá nhân nhưng ly hôn hợp pháp khi có sự công nhận bằng một pháp quyết của tòa án có thẩm quyền

Trang 18

12 Yêu cầu ly hôn có thể là đơn phương hoặc song phương Thẩm pháp dựa trên những quy định của pháp luật có thể quyết định công nhận hay không công nhận, cho phép hay không cho phép ly hôn nếu thuộc một trong những điểm mà pháp luật đã dự trù Xét thấy nhưng lý do ly hôn có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người kia hoặc gâu tổn hại sâu sắc tới đời sống của con cái sau khi ly hôn thì thẩm phán có quyền bác đơn yêu cầu ly hôn của đương sự

Quan điểm tự do hôn nhân dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thể hiện quyền bình đẳng và tự do dân chủ của cá nhân Công dân được quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn theo quy định của pháp luật Luật pháp không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi họ không còn tình cảm với nhau Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ chồng thoát khỏi cuộc sống chung đầy đâu khổ, giúp vợ chồng thoát khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyết được Như vậy, có thể nhận thấy rằng trong thế giới cận đại và đương đại, do

sự phát triển về nhận thức cũng như sự đề cao quyền dân chủ và tự do cá nhân nên quan điểm cề cuộc sống hôn nhân trong đó có việc ly hôn cũng được nhìn nhận ở góc độ cởi mở hơn Sự tồn tại của những điều cấm hay hạn chế ly hôn chủ yếu vì lý do tôn giáo

1.1.3 Các trường hợp ly hôn

1.1.3.1 Theo pháp luật Việt Nam

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam thì có hai trường hợp ly hôn: Thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu

- Trường hợp thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ và chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng

Điều 90 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải không thành nếu xét thấy hai bên

Trang 19

Có thể nhận thấy rằng, dù là vợ chồng cùng mong muốn ly hôn thì việc công nhận sự thuận tình đó vẫn phải được tiến hành tại Tòa án Giải quyết ly hôn trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, cần lưu ý rằng sự tự nguện của hai vợ chồng không phải là căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân mà sự tự nguyện của hai vợ chồng chỉ là cơ

sở để Tòa án xem xét quan hệ hôn nhân của họ Cho nên, dù hai vợ chồng

đã thuận tình ly hôn, việc giải quyết yêu cầu ly hôn vẫn phải theo đúng bản chất của sợ việc, tức là phải dựa tên căn cứ ly hôn theo luật định Như vậy mới đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng, con cái và lợi ích của xã hội Do đó, đối với những trường hợp vợ chồng có đơn thuận tình ly

hôn nhưng thực tế quan hệ vợ chồng chưa đến mức "tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được"

thì Tòa án không thể ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, vì trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình Bảo đảm thật sự tự nguyện ly hôn là cả hai vợ chồng đều được tự do bầy tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn của hai vợ chồng đều phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình họ, phải hợp với yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội

Cũng trong Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trong việc thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông

Trang 20

14 nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thỏa thuận được hoặc tuy

có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định

Mục 9 của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về thuận tình ly hôn đã chỉ rõ:

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và đoàn tụ với nhau Nếu hòa giải thành tức là vợ chồng rút đơn thuận tình ly hôn thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, sau 15 ngày kể từ ngày Tòa án lập biên bản hòa giải thành mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (theo Khoản 2 Điều 44 và Khoản 2 Điều 46 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự) Trong trường hợp Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hòa giải đoàn tụ không thành Trong thời hạn 15 ngày, kể

từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện kiểm sát không có phản đối sự thỏa thuận

đó, thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên Tòa khi có đủ các điều kiện sau:

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

- Sự thỏa thuận của hai bên về tài sản và con trong trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con (Mục 9 điểm a Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000)

Trang 21

15 Trường hợp hòa giải không thành, các bên thực sự tự nguyện ly hôn nhưng không thỏa mãn được về việc chia tài sản hoặc việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án lập biên bản về việc hòa giải đoàn tụ không thành và về những vấn đề hai bên không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của

vợ và con, đồng thời mở phiên Tòa xét xử theo thủ tục chung (Mục 9 điểm

b Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000)

Ngoài ra trong trường hợp hai vợ chồng xin thuận tình ly hôn, sau khi điều tra, hòa giải, Tòa án xét thấy một bên vợ, chồng không tự nguyện ly hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối ly hôn, hoặc do sĩ diện, tự ái dẫn đến xin thuận tình ly hôn thì Tòa án cần xử bác đơn xin thuận tình ly hôn mà không giải quyết theo thủ tục một bên vợ, chồng có yêu cầu ly hôn

- Trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu

Ly hôn theo yêu cầu của một bên (của vợ hoặc của chồng) là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân

Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình năm 200 quy định: "Khi một bên

vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa

án xem xét, giải quyết ly hôn"

Về nguyên tắc, Tòa án chỉ xét xử ly hôn nếu xét thấy quan hệ vợ chồng đã ở vào "tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được" Như vậy, giải quyết ly hôn trong

cả hai trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc một bên chồng yêu cầu ly hôn đều giống nhau về bản chất Bản án và quyết định ly hôn của Tòa án đều là việc Tòa án xác nhận một cuộc hôn nhân đã chết, không thể tồn tại được nữa Trong trường hợp một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn thì chỉ có một bên vợ, chồng tự nguyện và nhận thức được quan

hệ hôn nhân đã tan vỡ, còn bên kia - người chông, vợ không muốn ly hôn thì không nhận thức được mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng hoặc có thể nhận thức được nhưng lại xin đoàn tụ vì động cơ nào đó

Trang 22

16

Về trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng thì Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại mục 10 như sau:

Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án phải tiến hành hòa giải Nếu hòa giải đoàn tụ không thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án áp dụng điểm 2 Điều 46 - Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện kiểm sát không phản đối thì Tòa án quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm (Mục 10 điểm

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 89: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho

ly hôn

Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

Trang 23

17

- Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn Trong trường hợp này, nếu Tòa án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn, nếu Tòa án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người

đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng

- Người vợ hoặc người chồng đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Sau khi bản án của Tòa án tuyên

bố người vợ hoặc người chồng mất tích có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó Trong trường hợp này, Tòa án giải quyết cho ly hôn

- Khi Tòa án giải quyết cho ly hôn với người bị tuyên bố mất tích thì cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo quy định tại Điều 79 Bộ luật dân sự 2005

Trong các trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu mà Tòa án các địa phương đã thụ lý và giải quyết thì tỉ lệ đơn của vợ và chồng là ngang nhau

1.1.3.2 Theo pháp luật Lào

Theo Điều 21 Luật Gia đình của Lào năm 1990 sửa đổi, bổ sung năm

2008 thì cũng có hai trường hợp ly hôn: Tự nguyện ly hôn và ly hôn theo xét xử của Tòa án

- Trường hợp tự nguyện ly hôn:

Tự nguyện ly hôn là trường hợp cả vợ và chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân Tự nguyện ly hôn, do tính chất của việc hai bên đã thỏa thuận được về việc ly hôn nên thường đã có thỏa thuận trước về chia tài sản

và người chăm sóc con cái Khi đã có thỏa thuận của hai bên, Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về chia tài sản, con cái Nếu không có thỏa thuận thì có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản và giải quyết người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng… Cũng giống như quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về thuận tình ly hôn,

Trang 24

18 trường hợp tự nguyện ly hôn của vợ chồng theo Luật Gia đình Lào quy định tại Điều 21 phải thỏa mãn các điều kiện:

Một là, đôi vợ chồng có sự đồng ý với nhau Sự đồng ý ở đây được

hiểu là sự tự nguyện thực sự của vợ chồng Đây cùng là yếu tố cần thiết phải có, nếu thiếu sự đồng ý của một trong hai bên hoặc cả hai bên thì Tòa

án không thể công nhận là tự nguyện ly hôn

Hai là, đôi vợ chồng không có tranh chấp về vấn đề con cái đặc biệt là

việc chăm nuôi con cái

Ba là, đôi vợ chồng không tranh chấp về việc chia tài sản chung

Bốn là, đôi vợ chồng không tranh chấp nhau về nợ

Có thể thấy, nếu như Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án thì theo pháp luật của Lào, trường hợp này thẩm quyền giải quyết thuộc cơ quan quản lý gia đình dân số Do vậy, tại Việt Nam, Tòa án phải tiến hành hòa giải, với mục đích để vợ chồng rút đơn yêu cầu

ly hôn và đoàn tụ với nhau thì với Luật Gia đình Lào, việc hòa giải vợ chồng được giao cho Trưởng thôn tiến hành Bên cạnh đó, với Việt Nam, việc tự nguyện ly hôn là việc của hai vợ chồng, thể hiện ý chí, mong muốn của vợ chồng thì với Lào, việc thể hiện ý chí tự nguyện ly hôn đó của vợ chồng phải có sự làm chứng của bố mẹ, gia quyến của hai bên cùng với ít nhất là ba người làm chứng trở lên Có lẽ việc quy định như vậy là nhằm đảm bảo cho việc hạn chế ly hôn cũng như những hậu quả đáng tiếc của ly hôn gây ra Cụ thể:

Đôi vợ chồng mà mong muốn tự nguyện ly hôn và đã đủ các điều kiện

về tự nguyện ly hôn theo quy định tại Điều 21, phải có đơn xin ly hôn với

sự có mặt của bố mẹ, gia quyến của hai bên cùng với người làm chứng ít nhất là ba người trở lên Sau đó vợ chồng đó trình đơn xin ly hôn với Trưởng thôn nơi đôi vợ chồng đang sinh sống Sau khi Trưởng thôn nhận

Trang 25

19 được đơn xin ly hôn, Trưởng thôn phải làm công tác hòa giải giữa vợ chồng, nếu các đương sự không đồng ý rút đơn ly hôn, Trưởng thôn cũng phải cho thời thời gian là 03 tháng cho họ về xem xét lại Sau khi vợ chồng xem xét nhưng vẫn không đồng ý tiếp tục sống với nhau nữa, Trưởng thôn phải làm biên bản ghi nhận rồi gửi cho cơ quan quản lý gia đình - dân số của huyện, thành phố để đăng ký cấp phép ly hôn cho vợ chồng để làm bằng chứng

- Trường hợp ly hôn theo xét xử của Tòa án:

Theo Điều 21/3 Luật Gia đình Lào năm 1990 sửa đổi, bổ sung năm

2008, thì việc xét xử ly hôn sẽ được tiến hành tại phiên tòa khi có các chi tiết sau:

Thứ nhất, vợ hoặc chồng có đơn kiện xin ly hôn nhưng có một bên

không đồng ý

Thứ hai, có sự tranh chấp về một số vấn đề như việc nuôi dưỡng con

cái hoặc nợ của đôi vợ chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách Có thể nói, đằng sau bản án ly hôn là số phận của mỗi con người Mặc dù trên thực tế mỗi trường hợp ly hôn mức thu nhập, điều kiện cụ thể và hoàn cảnh sống của mỗi người khác nhau; nhưng để đảm bảo các "nhu cầu thiết yếu" trong cuộc sống để những đứa trẻ sau khi ly hôn "phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần" và để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em thì việc xét xử ly hôn

sẽ được tiến hành tại phiên tòa khi có tranh chấp về nuôi dưỡng con cái trong việc vợ chồng ly hôn có ý nghĩa rất lớn Bởi phán quyết của tòa án sẽ

ấn định mức cấp dưỡng, đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống để những đứa trẻ sau khi ly hôn Dù người phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không phải là người làm công ăn lương đi chăng nữa thì con cái họ cũng cần phải được đảm bảo mức sống tối thiểu Khi có sự thay đổi về mức

Trang 26

20 lương thì căn cứ vào đó cơ quan thi hành án áp dụng vào từng thời điểm thi hành án thì mới có thể bảo đảm quyền lợi cho người được cấp dưỡng và tránh thiệt thòi cho người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì vậy, khi có tranh chấp về một số vấn đề như việc nuôi dưỡng con cái trong khi ly hôn thì việc xét xử ly hôn sẽ được tiến hành tại phiên tòa là quy định đúng đắn

Thứ ba, việc ly hôn của vợ chồng xuất phát từ một trong các căn cứ

được quy định tại Điều 20 Luật Gia đình Lào năm 1990 sửa đổi, bổ sung năm 2008

Sau khi Toà án nhận được đơn xin ly hôn của vợ hoặc chồng xuất phát

từ một trong các căn cứ được quy định tại Điều 20 Luật Gia đình Lào năm

1990 sửa đổi, bổ sung năm 2008 Thì Toà án phải làm công tác hoà giải để cho vợ chồng quay lại với nhau Nếu vợ chồng chưa đồng ý ngay, Toà án

đề nghị vợ chồng về xem xét lại trong thời gian 03 tháng

Sau khi vợ chồng về xem xét lại hết thời hạn 03 tháng và vẫn không đồng ý quay lại với nhau thì Tòa án sẽ xét xử cho vợ chồng ly hôn.Và căn

cứ ly hôn của vợ chồng sẽxuất phát từ một trong các căn cứ được quy định tại Điều 20 Luật Gia đình Lào năm 1990 sửa đổi, bổ sung năm 2008

Một điểm lưu ý trong việc xét xử ly hôn là Tòa án phải có biện pháp bảo vệ lợi ích của trẻ em mà chưa đến tuổi trưởng thành và lợi ích của vợ hoặc chồng mà không đủ khả năng lao động để tự nuôi sống mình được Như vậy, có thể nhận thấy rằng pháp luật của CHDCND Lào và của CHXHCN Việt Nam đều quy định hai trường hợp ly hôn là ly hôn do một bên yêu cầu và ly hôn theo yêu cầu của cả vợ và chồng Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định cả hai trường hợp ly hôn đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Trong khi đó, pháp luật của Lào quy định chỉ trường hợp ly hôn do yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án Trường hợp vợ chồng cùng tự nguyện ly hôn thì do cơ quan quản lý gia đình - dân số giải quyết

Trang 27

21

1.2 CĂN CỨ LY HÔN

1.2.1 Khái niệm căn cứ ly hôn

Một trong những nguyên tắc quan trọng khi kết hôn là phải có sự tự nguyện của hai bên nam nữ Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ thực sự mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương chân chính giữa họ nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc Sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững

Hôn nhân tự nguyện cũng đồng thời phải đảm bảo tự do ly hôn Nếu như không thể bắt buộc người ta kết hôn thì cũng không thể buộc họ tiếp tục cuộc sống vợ chồng khi cuộc sống đó hoàn toàn không có sự tự nguyên

và xã hội Vì vậy, thông qua pháp luật, Nhà nước chỉ giải quyết ly hôn khi

có những căn cứ theo quy định của pháp luật

Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân phải phù hợp với ý chí của Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định trong những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới cho phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước

Trang 28

22 Nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản quy định giải quyết ly hôn là dựa vào lỗi của vợ, chồng Nhà nước tư sản coi hôn nhân như là hợp đồng nên chấm dứt hôn nhân cũng như chấm dứt hợp đồng và dựa bào lỗi của các bên Việc giải quyết vấn đề ly hôn của những nước này dựa vào hình thức của quan hệ hôn nhân, do vậy, việc xét xử của Tòa án là việc làm hết sức rập khuôn, máy móc

Quan điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là giải quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan Giải quyết "ly hôn" chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Tuy nhiên không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của

sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc bào thực chất của vấn đề, chứ không phải vảo nguyện vọng của những bên hữu quan Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam quy định căn cứ ly hôn vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể Điều 89 quy định:

"1 Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn"

Khác với quy định về căn cứ ly hôn vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể như ở Việt Nam Theo Điều 20 Luật Gia đình Lào năm

1990 sửa đổi, bổ sung năm 2008 lại liệt kê ra những căn cứ ly hôn cụ thể như sau:

a Ngoại tình

b Sử dụng bạo lực hoặc lời nói không lịch sự, mắng chửi lẫn nhau hoặc bố mẹ và họ hàng hoặc có các hành vi không phù hợp như: Nghiện rượu, nghiện ma tuý rất nặng hoặc chơi cờ bạc nặng, ăn chơi

Trang 29

23

c Bỏ trốn và không liên hệ lại hoặc không thông báo cho biết tin tức hoặc không gửi tiền hay tài sản nào về cho gia đình trong thời gian 3 năm trở lên

d Chồng đi tu hoặc vợ đi làm ni cô trong thời gian 3 năm trở lên mà không có sự nhất trí với nhau

e Là người bị mất tích theo lời kết án của toà án trong trường hợp chồng hoặc vợ chạy trốn mà không biết địa chỉ liên lạc và không biết tin tức trong thời gian 2 năm hoặc trong trường hợp bị tai nạn nếu không biết tin tức trong thời gian 6 tháng

f Bị toà án xét xử phạm tội vào tù 5 năm trở lên

g Bị bệnh nặng không thể tiếp tục sống với nhau được

h Bị điên, thần kinh nặng mà không thể tiếp tục sống với nhau đựơc

i Chồng hoặc vợ không có khả năng quan hệ tình dục được

k Không thể tiếp tục sống với nhau được vì các nguyên nhân khác như: Không chung thủy với nhau, xúc phạm lẫn nhau

Trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam và của Lào, có thể

hiểu: Căn cứ ly hôn là những điều kiện cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong pháp luật về tình trạng tan vỡ thực sự về tình cảm, đời sống vợ chồng, mục đích của hôn nhân, dựa trên các điều kiện đó thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng

1.2.2 Phân biệt căn cứ ly hôn với lý do, nguyên nhân, động cơ ly hôn

Trong quá trình giải quyết ly hôn cần phải có sự phân biệt giữa căn cứ

ly hôn với nguyên nhân, lý do và động cơ xin ly hôn của đương sự

Nguyên nhân ly hôn là những hiện tượng, sự kiện tác động đến hôn nhân và làm cho hôn nhân tan vỡ

Nguyên nhân ly hôn rất đa dạng và phong phú Mỗi cặp vợ chồng có đơn xin ly hôn đều xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau Có thể họ

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w