1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

75 584 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 617,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Bồi thường thiệt hại BTTH trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là một chế định hết sức quan trọng và được áp dụng rất sớm trong pháp luật dân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn này là trung thực Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT

1.1 Khái quát về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến vợ

chồ g

8

1.1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 8 1.1.2 Đặc điểm của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 18 1.2 Căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng nhằm

đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt

1.2.1 Căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng 22 1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản 28

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH

HỢP PHÁP CỦA VỢ CHỒNG TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT

2.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong BTTH

ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại 33 2.1.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng bị thiệt h i về tài sản 33 2.1.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại về

2.1.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường t iệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại về

2.1.4 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại về

Trang 4

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người gây thiệt hại 44 2.2.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ

bồ thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồn cùng là người gây

2.2.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi một bên vợ hoặc chồng là người

2.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi con chung là người gây thiệt hại; là

2.3.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi con chung là người gây thiệt hại 52 2.3.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi con chung là người bị thiệt hại 55

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ CHỒNG

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 57 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 59 3.2.1 Pháp luật hôn nhân và gia đình cần hoàn thiện hơn một số quy

3.2.2 Pháp luật dân sự cần hoàn thiện những quy định cụ thể các trường

Trang 5

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật HN&GĐ 2000

6 Luật hôn nhân và gia đình Luật HN&GĐ

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bồi thường thiệt hại (BTTH) trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là một chế định hết sức quan trọng và được áp dụng rất sớm trong pháp luật dân sự của các nước trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng BTTH ngoài hợp đồng được đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong những trường hợp có thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm

và uy tín của người khác, mà giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có việc giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng BTTH mang đến sự công bằng trong xã hội thông qua việc bắt buộc những người có hành vi gây thiệt hại phải bù đắp một khoản vật chất cho người bị thiệt hại tương ứng với thiệt hại mà họ đã gây ra Chế định pháp luật này không những có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn mang giá trị thực tiễn rất lớn trong việc khắc phục hành vi trái pháp luật, đảm bảo công bằng, xử phạt răn đe người có hành vi gây thiệt hại, và giáo dục ý thức pháp luật trong cộng đồng, ổn định nền pháp chế xã hội chủ nghĩa

BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là một vấn đề có ý nghĩa lớn đối với xã hội Bởi BTTH ngoài hợp đồng mà vợ chồng là chủ thể không những ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong quan hệ BTTH Quyền và lợi ích của riêng vợ, chồng là quyền lợi cá nhân nhưng nó ảnh hưởng đến đời sống chung của vợ chồng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con cái Quan hệ hôn nhân là quan hệ đặc biệt của xã hội Quan hệ này được hình thành, củng cố và duy trì bằng niềm tin, tình yêu thương, chức phận của vợ chồng đối với nhau và đối với con cái Do vậy, các quan hệ mà vợ chồng tham gia trong đó có quan hệ BTTH ngoài hợp đồng cũng có những nét đặc trưng riêng mang tính nhân văn sâu sắc Mối quan hệ mật thiết giữa

vợ chồng, sự gánh vác trách nhiệm cùng nhau một cách tự nguyện trong quan hệ hôn nhân kéo theo sự thống nhất, tự nguyện giữa vợ chồng trong việc chịu trách nhiệm với người thứ ba Điều này, trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng liên quan

Trang 7

đến vợ chồng đảm bảo rằng thiệt hại sẽ được bồi thường một cách nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ hơn so với những trường hợp BTTH khác Nhưng điều đó không

có nghĩa là quan hệ hôn nhân sẽ làm loại trừ tính độc lập của vợ, chồng trong việc

tự mình tham gia các quan hệ xã hội khác cũng như tự mình chịu trách nhiệm trong việc BTTH do chính mình gây ra Các quy định pháp luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình hiện tại chưa có các quy định riêng áp dụng cho trường hợp BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng được áp dụng thông qua các quy định về BTTH ngoài hợp đồng nói chung Vấn đề này liên quan đến các ngành luật khác nhau như: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình…Việc áp dụng pháp luật trong vấn đề này vì thế nhiều khi gặp những khó khăn và trở ngại lớn, bởi quan hệ hôn nhân không giống những quan hệ xã hội bình thường khác Để thấy rõ hơn sự khác biệt, tầm quan trọng của BTTH ngoài hợp đồng để khắc phục những vướng mắc trong quy định của pháp luật và giải quyết, hạn chế những khó khăn trong áp dụng pháp luật về vấn đề này cần thiết phải có sự nghiên cứu, rà soát, đánh giá pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện

lĩnh vực pháp luật về vấn đề này Vì vậy, tôi chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong BTTH ngoài hợp đồng” làm Luận văn thạc sĩ luật

- Đánh giá các quy định và thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng nhằm nhận diện những thành tựu, kết quả và chỉ ra các khiếm khuyết, hạn chế cũng như nguyên nhân của chúng Trên

cơ sở đó, Luận văn đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của

Trang 8

pháp luật về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong BTTH ngoài hợp đồng

3 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể khác nhau, bao gồm: Vợ, chồng, và người thứ ba khác Việc giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể thu hút sự quan tâm tìm hiểu của giới luật học nước ta Thời gian qua đã có không ít các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu không phải lúc nào và ở bất kỳ đâu cũng mang lại hiệu quả như mong muốn Các công trình đã được công bố mà tiêu biểu phải kể đến những

ấn phẩm chủ yếu sau đây:

1 TS Phùng Trung Tập, BTTH ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe, và tính mạng - Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2009

2 TS Phùng Trung Tập, Lỗi và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, Tạp chí Luật học số 10/2004

3 Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Mã số: 08-05/ĐHL, Hà Nội năm 2009

LH-4 TS Nguyễn Thị Lan, Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong quan

hệ BTTH ngoài hợp đồng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường Đại học Luật Hà Nội, Tài sản vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Hà Nội năm 2008

Liên quan đến vấn đề BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng , các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực BTTH ngoài hợp đồng này từ trước đến nay chủ yếu hoặc tập trung tìm hiểu chế định BTTH ngoài hợp đồng dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn, hoặc đi sâu nghiên cứu một số nội dung của chế định này như khái niệm và phân loại BTTH, yếu tố lỗi trong BTTH, quan hệ tài sản vợ chồng trong những trường hợp nhất định Có thể nói, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

đã được tìm hiểu sâu sắc hơn, qua đó đưa ra một số gợi mở cho quá trình hoàn thiện

Trang 9

lĩnh vực pháp luật này ở nước ta Tuy nhiên, dường như vẫn còn thiếu một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện dưới góc độ lý luận và thực tiễn của pháp luật về BTTH liên quan đến vợ chồng Bởi các công trình khoa học nêu trên chủ yếu tìm hiểu về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là một phần khi nghiên cứu về chế định BTTH và chủ yếu được đề cập một cách đơn thuần theo quy định của pháp luật dân sự mà chưa đặt trọng tâm nghiên cứu là quan

hệ BTTH ngoài hợp đồng mà chủ thể là vợ chồng Vì thế, việc xác định nghĩa vụ và lợi ích mà vợ chồng phải thực hiện cũng như được thụ hưởng trong quan hệ BTTH ngoài hợp còn khá nhiều bất cập Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng của các công trình khoa học đã được công bố, Luận văn đi sâu tìm hiểu việc bảo vệ quyền, lợi ích của

vợ chồng trong BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng thông qua việc nghiên cứu về mặt lý luận chuyên sâu từng khía cạnh, thực tiễn cũng như đặt vấn đề này trong mối quan hệ suốt chiều dài lịch sử pháp luật của nước ta và một số nước trên thế giới để từ đó gợi mở cái nhìn hệ thống hơn về vấn đề BTTH ngoài hợp đồng đặc biệt này

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của đề tài bao gồm:

- Các quy định pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử

- Các quy định pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

ở một số nước trên thế giới

- Các quy định hiện hành của pháp luật nước ta về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng nói riêng

- Các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng trong đó

có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

- Các vụ việc cụ thể về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

b Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng là một chế định quan trọng trong Bộ luật Dân sự BTTH ngoài hợp đồng là một trong những vấn đề pháp lý lớn và phức tạp Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong BTTH ngoài hợp đồng là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng liên quan đến nội dung của nhiều lĩnh vực pháp luật Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản Luận văn thạc sĩ luật học, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau đây:

- Luận văn không đi sâu nghiên cứu lịch sử pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng mà giới hạn ở việc tập trung tìm hiểu sơ lược lịch sử các quy định về BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng ở nước

ta và một số nước trên thế giới

- Nghiên cứu, đánh giá nội dung những quy định pháp luật hiện hành về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng , thông qua một số việc nghiên cứu một số vụ việc cụ thể

- Loại trừ việc xem xét quan hệ BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng có yếu tố nước ngoài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu Luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin

- Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

+ Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử được

sử dụng khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung và thực trạng các quy định pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

Trang 11

+ Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh luật học được sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

6 Những đóng góp của Luận văn

Luận văn có một số đóng góp cho khoa học pháp lý ở nước ta, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:

- Hệ thống hóa, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học về cơ sở lý luận của chế định BTTH ngoài hợp đồng thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

- Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực trạng áp dụng của các quy định

về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng , Luận văn không chỉ đánh giá những kết quả và những hạn chế mà còn chỉ ra một số nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong các quy định hiện hành về BTTH ngoài hợp đồng

- Đề xuất định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và các quy định về BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến

vợ chồng nói riêng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo những nội dung sau:

- Chương 1 Khái quát chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên

quan đến vợ chồng

- Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

vợ chồng trong BTTH ngoài hợp đồng

- Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

LIÊN QUAN ĐẾN VỢ CHỒNG 1.1 Khái quát về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng

1.1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong một xã hội, với bất kỳ một mối quan hệ nào thì quyền và trách nhiệm luôn gắn liền với các bên chủ thể tham gia quan hệ đó Mỗi người đều phải tôn trọng các quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của cá nhân mà xâm hại đến quyền và lợi ích của người khác Người có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác thì phải bị xử lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật Vì vậy, mỗi người đều phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây

ra bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác Trách nhiệm gánh chịu những bất lợi

về tài sản hoặc nhân thân nói trên được hiểu là BTTH Tùy vào đối tượng điều chỉnh của mỗi ngành luật mà trách nhiệm pháp lý được quy định trong một phạm vi

và có những đặc điểm khác nhau: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính Như vậy, BTTH là sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc

bù đắp tổn thất cho người khác

Pháp luật Việt Nam hiện hành không nêu rõ khái niệm BTTH mà chỉ đề cập đến căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn bồi thường… Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm pháp lý nên nó mang những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý như: được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…

Ngoài ra, trách nhiệm BTTH còn mang các đặc điểm riêng của nó để giúp phân biệt với trách nhiệm dân sự khác

Trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định:

có hành vi vi phạm, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với hậu quả xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không bắt buộc trong

Trang 13

mọi trường hợp) Vấn đề đặt ra là lỗi của người gây thiệt hại trong trách nhiệm BTTH được pháp luật quy định hay còn do suy đoán vì chỉ khi làm rõ về vấn đề lỗi của người gây thiệt hại mới có sự thống nhất trong nhận thức pháp luật để từ đó áp dụng chuẩn xác các quy định về trách nhiệm BTTH Điều 308 BLDS quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung trong đó có trách nhiệm BTTH Theo đó, lỗi

và hình thức lỗi được xác định rõ như sau: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Khoản 2 của Điều 308 BLDS 2005 cụ thể hóa lỗi, hình thức lỗi, cơ sở xác định lỗi

Cụ thể, lỗi “cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”, và lỗi “vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc

dù phải biết hoặc có thể thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được” Như vậy có

thể nhận thấy, pháp luật đã quy định khá rõ về lỗi, hình thức của lỗi, căn cứ để xác định lỗi Do đó, những quan điểm cho rằng, lỗi trong hành vi của người gây thiệt hại còn do suy đoán là không chính xác về mặt lý luận và hoàn toàn không cần thiết Để quy trách nhiệm BTTH cho người gây thiệt hại cần phải xác định chính xác yếu tố lỗi Ngoài ra cần phải phân biệt trách nhiệm dân sự của người trực tiếp

có hành vi có lỗi gây thiệt hại với trách nhiệm dân sự liên quan đến quan hệ dân sự

ra những tổn thất ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, chất lượng sống của người bị thiệt hại Vì thế, mặc dù thiệt hại mà hành vi vi phạm gây ra có thể tính

Trang 14

toán được hoặc không nhưng đều được pháp luật quy định thành một đại lượng vật chất nhất định để bù đắp cho người bị thiệt hại

Về nguyên tắc, chủ thể chịu trách nhiệm BTTH là người trực tiếp gây ra thiệt hại Tuy nhiên, trong một vài trường hợp trách nhiệm BTTH có thể áp dụng đối với người trực tiếp gây ra thiệt hại hoặc người không trực tiếp gây ra thiệt hại như: cha,

mẹ người gây thiệt hại, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây thiệt hại… Điều này đảm bảo rằng tất cả các thiệt hại đều phải được bù đắp tổn thất, nhằm khôi phục tình trạng của người bị thiệt hại, bảo đảm tính khả thi của quy phạm pháp luật

Trách nhiệm BTTH là một trong những chế định được áp dụng sớm nhất của luật dân sự Ngay từ thời La Mã (thế kỷ thứ VIII TCN đến thế kỷ thứ VII SCN), đã

có quy định “chế độ phục cừu” mang nguyên tắc trả thù ngang bằng máu trả máu,

mắt trả mắt, răng trả răng, mạng trả mạng… Những quy định của pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng xuất hiện cùng thời kỳ với chế độ tư hữu và nhà nước Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau, chế định BTTH trong đó có BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng có bản chất và những biểu hiện hoàn toàn khác nhau Vào thời của nhà nước La Mã cổ đại, theo Luật XII bảng thì biện pháp áp dụng khi có

hành vi vi phạm tư pháp (delicta và mức bồi thường có thể thỏa thuận được Theo

đó người có hành vi vi phạm tư pháp phải bồi thường những thiệt hại do mình gây

ra khi người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường) là biện pháp trừng trị vô cùng hà khắc (ví dụ: bị giết tại nơi gây thiệt hại) và mang tính chất báo thù (talio) Về sau,

các hình thức trừng phạt về thể xác được thay thế bằng biện pháp phạt tiền

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra làm môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong xuống chiều ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây, phép xử án được bằng

thằng rõ ràng cho nên mới đổi niên hiệu là Minh đạo và đúc tiền Minh Đạo” (Đại việt Sử Ký Toàn Thư - Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội , 1993, tập 1, trang

Trang 15

271 -272) Qua sử sách, bộ Hình Thư nói trên được coi là bộ luật thành văn đầu tiên

của lịch sử nước ta, được ban hành vào tháng 10 năm Nhâm Ngọ, đời Lý Thái Tông, niên hiệu Cần Phù Hữ Đạo năm thứ tư (1402) Đến thời nhà Trần, nhà nước hết sức chú trọng đến pháp luật Vua Trần Thái Tông sau khi lên ngôi đã ban hành

bộ luật mới Theo sử sách ghi chép lại thì mùa Xuân, tháng 3 năm Canh Dần, niên hiệu Kiến Trung thứ 5 (1230) “Khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành

Quốc Triều Thông Chế và sửa đổi hình luật lễ nghi gồm 20 quyền…” Đến năm

1244, vua Trần Thái Tông lại ban lệnh “định các cách thức về luật hình” Tháng 8 năm Tân Tỵ niên hiệu Thiệu Phong thứ nhất (1341) Trần Dụ Tông sai người biên soạn bộ Hoàng Triều Đại Điển và khảo soạn bộ Hình Thư để ban hành Đáng tiếc, cũng như bộ Hình Thư thời nhà Lý, các bộ luật thời Trần đến nay đều bị thất truyền

và chỉ còn được nhắc trong sử sách mà thôi

Dưới thời Lê, pháp luật rất được chú trọng phát triển Trong sách Lịch Triều

Hiến Chương Loại Chí, sử gia Phan Huy Chú có nhận định: “Hình của nhà Lý thì

lỗi ở khoan rộng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc” còn luật pháp thời Lê:

“Thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân” Dưới thời Lê có thể

kể đến các sách: Quốc Triều Hình Luật (còn gọi là Lê Triều Hình Luật) gồm 6 quyển; Luật Thư gồm 6 quyển do Nguyễn Trãi soạn (1440 - 1442); Quốc Triều Luật

Lệ gồm 6 quyển do Phan Phu Tiên soạn (1440 – 1442); Quốc Triều Thư Khế Thể Thức (1468 - 1471); Sĩ Hoạn Châm Quy (1470 - 1497); Quốc Triều Chiếu Lệnh Thiện Chínnhh (1619 - 1705); Quốc Triều Điều Luật; Cảnh Hưng Điều Luật (1740

- 1786)… Trong các bộ sách nói trên Quốc Triều Hình Luật được coi là bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của triều Lê, và là bộ luật xưa nhất còn được lưu giữ đầy đủ đến nay Kế thừa và phát huy tư tưởng pháp luật của các thời đại trước, triều đại phong kiến nhà Nguyễn đã xây dựng Hoàng Việt Luật Lê (tức Bộ Luật Gia Long) do Gia Long biên soạn vào năm 1812

Trong Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật Lệ thì chế định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng còn sơ sài nhưng có những điểm tương đối rõ ràng Tuy trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chưa được phân biệt rõ ràng nhưng

cả hai bộ luật này đều đã quy định rõ hai vấn đề cơ bản của trách nhiệm dân sự là

Trang 16

yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và BTTH Điều 466 Quốc Triều Hình Luật

quy định: “Sưng, phù thì phải đền thương tích 3 tiền; chảy máu thì 1 quan; gãy một ngón tay, một răng thì đến 10 quan; đâm chém bị thương thì 15 quan; dọa thai chưa hình thành thì 30 quan, đã hình thành thì 50 quan; đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đến 100 quan; đối với người quyền quý thì xử khác” Như vậy, mức

BTTH được pháp luật ấn định trước trong các trường hợp cụ thể đã dự liệu mà không phụ thuộc vào mức độ thiệt hại trên thực tế đã xảy ra

Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật Lệ đều ghi nhận thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại vật chất là những tổn thất vật chất thực tế, xác định được bằng một khoản tiền cụ thể đã được quy định trong hầu hết các điều luật liên quan đến BTTH do có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác Điều 29 Quốc Triều Hình Luật quy định :

“Tiền đền mạng - nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đền 15.000 quan; nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan; tam phẩm, tòng tam phẩm 2.000 quan; lục phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan; thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan; bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan; thứ nhân trở xuống 150 quan” Điều 391 Hoàng Việt Luật Lệ quy định: “Các tài sản ở kinh thành hay tỉnh, các nơi cổng sảnh, thương khố, phòng xá

hư hại, cần sửa chữa thì các quan cai quản phải xin sửa sang Nếu không sửa sang làm hư hại đến tài sản đó thì bị phạt và phải bồi thường những vật bị hư hại” Thiệt

hại về tinh thần không được quy định một cách cụ thể, nhưng nội dung của quy định

có thể được hiểu rằng thiệt hại về tinh thần của người bị thiệt hại được bồi thường theo quy định ở một số điều luật Điều 31, quyển 3, chương Hộ hôn của Quốc Triều

Hình Luật quy định: “Người kết hôn mà không đủ sính lễ đền nhà cha mẹ (người con gái) nếu thấy cha mẹ chết cả, thì đem đến nhà người trưởng họ, hay nhà người trưởng làng để xin, mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm một tư

và theo lệ sang hèn, bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ (nếu cha mẹ đã chết cả thì nộp phạt cho trưởng họ hay người trưởng lang, người con gái phải phạt 50 roi)” Điều

472 Quốc Triều Hình Luật quy định, trong trường hợp người nào đánh các quan chức bị thương, thì ngoài tiền bồi thường thương tích, người gây thiệt hại cũng phải đền một khoản tiền gọi là tiền tạ Điều 473 Quốc Triều Hình Luật nêu rõ về trường

Trang 17

hợp một người lăng mạ quan chức thì ngoài khoản tiền bồi thường, người có hành

vi lăng mạ đó còn phải chịu thêm một khoản tiền phạt… Trong quan hệ hôn nhân, Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật Lệ cũng có những quy định về BTTH vật chất, tinh thần Theo đó, nếu cha mẹ cô gái đã nhận sính lễ trong việc gả con gái, sau đó lại từ chối gả con thì phải BTTH về danh dự cho gia đình người con trai

đã có sính lễ đó (Điều 315 Quốc Triều Hình Luật và Điều 94 Hoàng Việt Luật Lệ)

Một điều đáng nói là trong Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật Lệ, các quy định về BTTH mang tính giai cấp sâu sắc Điều này xuất phát từ bản chất nhà nước phong kiến đầy sự bất công giữa các tầng lớp trong xã hội Quyền lợi của giai cấp thống trị (điển hình là vua, quan) được bảo vệ tuyệt đối còn quyền lợi của người dân thường thì không được chú trọng Điều 466 của Quốc Triều Hình Luật

quy định về BTTH trong đó nêu rõ: “Đối với người quyền quý thì lại xử khác”

Điều 472 và Điều 473 Quốc Triều Hình Luật chỉ quy định về việc bồi thường một khoản tiền tạ cho quan chức bị lăng mạ, nhưng lại không hề đề cập đến việc áp dụng khoản tiền này đối với người bị lăng mạ là thường dân

Như vậy, pháp luật dưới thời phong kiến Việt Nam, trải qua các triều đại nhà nước dù không được chi tiết nhưng BTTH đã được ghi nhận trong các bộ luật Đáng lưu ý là việc xác định thiệt hại bao gồm cả việc xác định thiệt hại vật chất và xác định thiệt hại tinh thần Tuy nhiên, do hạn chế về bản chất giai cấp nên các quy định

về BTTH cũng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng của tính giai cấp, thể hiện rõ nét sự bất công của xã hội phong kiến

Năm 1884, thực dân Pháp chính thức hoàn tất xâm chiếm nước ta Trong thời thực dân Pháp đô hộ, dưới sự ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Napoleon 1804, một số

Bộ luật Dân sự Việt Nam đã được ban hành:

- Bộ luật Dân sự giản yếu của Nam Kỳ được ban hành năm 1884 (Precis de legislation civile) Bộ luật này gồm có 11 thiên quy định về các vấn đề nhân thân,

hộ tịch, giá thú, ly hôn, phụ hệ, con nuôi, giám hộ

- Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ được ban hành năm 1931 Bộ luật này còn được gọi

là Bộ luật Morché (Thống sứ Bắc Kỳ) Bộ luật này được chuẩn bị khá công phu, tuy

nhiên hoàn toàn theo tinh thần của người Pháp

Trang 18

- Bộ luật Dân sự Trung Kỳ được ban hành năm 1936 (còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật 1936) Bộ luật này gồm 5 Quyển, 1709 Điều (nhiều hơn Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 254 Điều) Các quy định về hợp đồng được xây dựng giống với luật

La Mã và được quy định khá chi tiết Đó là các nguyên tắc cơ bản về hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng thuê nhân công, hợp đồng công nghệ, hợp đồng vận tải Ngoài một

số quy định mang tính đặc thù như phần khế ước được quy định chi tiết và chặt chẽ hơn các Bộ luật Dân sự Nam Kỳ và Bắc Kỳ, về cơ bản, Bộ luật này giống Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931

Giáo sư Vũ Văn Mẫu đã nhận xét rằng, các bộ luật này thiên về tính cách cá nhân, trong khi truyền thống của người Việt trọng về gia đình Bộ luật này chỉ chú trọng các vấn đề cá nhân, kết hôn, ly hôn…, trong khi đó các vấn đề quan trọng như hợp đồng, chế độ tài sản của vợ chồng, thừa kế lại không được quy định Vì các bộ luật này có nhiều thiếu sót, nên khi cần thiết thường phải áp dụng các quy định của

Bộ luật Gia Long và Hồng Đức Trách nhiệm dân sự đã được Bộ Dân Luật Bắc Kỳ

và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật quy định, đã tách bạch khỏi trách nhiệm hình sự, nhưng trách nhiệm dân sự vẫn chỉ được tiếp nhận một cách chung, khái quát, chưa được phân định thành trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hay ngoài khế ước, hợp đồng Điều 712 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và Điều 761 Hoàng Việt Trung Kỳ

Hộ Luật quy định: Người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải BTTH BTTH trong đó có BTTH ngoài hợp đồng do vợ chồng gây ra không được quy định thành chế định pháp luật riêng mà áp dụng các quy định về BTTH của Bộ Luật Gia Long và Bộ Luật Hồng Đức Do vậy, ở giai đọan này, pháp luật không có điểm mới đáng kể nào trong các quy định về BTTH

Phải đến khi thông tư 173 - Ủy ban Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/03/1972 hướng dẫn xét xử về BTTH ngoài hợp đồng ra đời thì mới đánh dấu một bước phát triển trong lập pháp về BTTH Chế định BTTH được giải thích một cách cụ thể và rõ ràng Bước phát triển rõ ràng nhất của thông tư 173 là việc ghi nhận trách nhiệm liên đới BTTH Theo đó, những người cùng chung gây thiệt hại thì phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH khi giữa họ có sự thống nhất ý chí Việc thống nhất ý chí được hiểu là thống nhất với nhau về hành vi lẫn hậu quả, hoặc

Trang 19

cùng nhau gây thiệt hại mà chỉ thống nhất ý chí về hành vi hoặc chỉ thống nhất về hậu quả Báo cáo tổng kết hội nghị toàn ngành tòa án năm 1967 nêu rõ: đối với trách nhiệm liên đới BTTH trong các vụ săn bắn vô ý làm chết hoặc bị thương người khác, có thể thấy không thể dựa vào tập tục lợi cùng hưởng của các phường

săn bắn để bắt chịu trách nhiệm liên đới được Như vậy, theo giải thích của báo cáo

này thì việc xác định trách nhiệm liên đới BTTH trong trường hợp chỉ có sự thống nhất ý chí về hậu quả cần phải xét đến phong tục tập quán nơi hành vi thiệt hại xảy

ra cũng như những người có liên quan Toà án khi xác định trách nhiệm liên đới BTTH căn cứ vào thiệt hại xảy ra và mức độ lỗi của mỗi người để ấn định mức bồi thường và phần bồi thường Đến đây, vấn đề BTTH nói chung trong đó có BTTH ngoài hợp đồng đã được nhìn nhận một cách biện chứng và thực tiễn hơn cả về mặt

lý luận cũng như cách thức áp dụng khi xem xét mức độ lỗi, mức độ bồi thường căn

cứ vào thiệt hại thực tế chứ không phải do pháp luật ấn định, phần bồi thường của mỗi người có trách nhiệm liên đới BTTH…

Ngày 05/04/1983, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành thông tư số

03 - TATC hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về BTTH trong tai nạn ô tô Sỡ dĩ

có thông tư 03 này bởi trong thông tư 173 không thừa nhận việc áp dụng trách nhiệm liên đới BTTH trong trường hợp nếu nhiều người cùng gây thiệt hại nhưng không có sự thống nhất ý chí Trong khi đó, xã hội phát triển, phát sinh các quan hệ

xã hội cần điều chỉnh trong đó có tai nạn ô tô như: hai người lái ô tô cùng phòng nhanh, cùng có lỗi nên va chạm với nhau gây thiệt hại cho người thứ ba đi đường Thông tư 03 hướng dẫn: nếu lỗi của người thứ ba và lỗi của phía ô tô đều là nguyên nhân gây tai nạn, thì người thứ ba và phía ô tô phải liên đới bồi thường Như vậy, thông tư 03 đã khắc phục thiếu sót của thông tư 173 ở chỗ quy định trong trường hợp nhiều người gây thiệt hại nhưng giữa họ không có sự thống nhất ý chí về hành

vi cũng như hậu quả thì họ phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại

Ngày 28/10/1995 Bộ luật Dân sự của nhà nước thống nhất được ban hành và

có hiệu lực từ ngày1/7/1996 Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được chương V

phần thứ ba tại Điều 609 của Bộ luật quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các

Trang 20

quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Theo quy

định này, người có hành vi trái pháp luật dù cố ý hay vô ý gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín của ngời khác thì phải bồi thường theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 605 của Bộ luật này như sau:

“1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường néu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”

Sau 10 năm có hiệu lực, nhiều quy định của Bộ luật này cần được bổ sung và sửa đổi Vì vậy Quốc hội khoá XI, tại Kỳ họp thứ VII, ngày 14/6/2005 đã thông qua

Bộ luật Dân sự mới Bộ luật Dân sự 2005 cũng có kết cấu gồm 7 phần như Bộ luật Dân sự 1995, tuy nhiên số lượng các điều được giảm bớt cho gọn nhẹ hơn, chỉ còn

777 Điều (Bộ luật Dân sự 1995 có 838 Điều) Bộ luật Dân sự 2005 được xây dựng trên tinh thần hội nhập quốc tế, tiếp thu nhiều tư tưởng pháp luật lục địa châu Âu (Pháp, Đức) nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống của đời sống dân sự Việt Nam BLDS 2005 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH tại Điều 604

và quy định nguyên tắc BTTH tại Điều 605 Hai quy định này tương tự như những quy định của BLDS 1995 Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH khi một người có lỗi dù vô ý hay cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường BLDS 2005 còn dành riêng một chương để quy định về các trường hợp cụ thể về BTTH ngoài hợp đồng Điều đáng nói là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong BLDS 2005 được áp dụng ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi Đây là điểm mới so với BLDS 1995, vì BLDS 1995 không có điều luật nào quy

Trang 21

định về mức độ lỗi mà chỉ quy định tại Điều 309 về hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô

ý Đó là trách nhiệm trong trường hợp do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trách nhiệm của chủ sở hữu súc vật phải BTTH do tài sản của mình gây ra, trách nhiệm bồi thường của người gây ô nhiễm môi trường mà không có lỗi…

Như vậy, BLDS 2005 đã khắc phục những nhược điểm của BLDS 1995 về BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa đưa ra khái niệm

cụ thể về BTTH ngoài hợp đồng mà chỉ xem xét nó dưới dạng một phần của BTTH nói chung Mặc dù vậy, BLDS 2005 lại dành toàn bộ chương XXI để quy định về BTTH ngoài hợp đồng Như vậy, trong quy định của Bộ luật đã có sự phân biệt rõ ràng giữa trách nhiệm dân sự (TNDS) do vi phạm hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng Việc phân biệt này căn cứ vào nguồn gốc phát sinh của trách nhiệm BTTH

Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm của mình gây ra Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là trách nhiệm phát sinh khi có hành vi

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng) Cơ sở để phát sinh trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là hợp đồng có trước giữa các bên chủ thể (người gây thiệt hại và người người được hưởng bồi thường) Hợp đồng có giữa các bên chủ thể nêu trên phải đảm bảo về mặt thời gian

là được xác lập trước khi có thiệt hại xảy ra Không có hợp đồng giao kết trước giữa các bên thì không có trách nhiệm BTTH trong hợp đồng Trên thực tế trong nhiều trường hợp, giữa các bên chủ thể dù có giao kết hợp đồng trước khi có thiệt hại xảy

ra nhưng trách nhiệm bồi thường cũng không phải là trách nhiệm BTTH trong hợp đồng Trường hợp giữa các bên có ký kết hợp đồng trước khi thiệt hại xảy ra nhưng hợp đồng lại bị vô hiệu, bị hủy bỏ thì hợp đồng đã ký giữa các bên coi như chưa được xác lập Do vậy, những thiệt hại (nếu có) phát sinh trong những trường hợp này là thiệt hại ngoài hợp đồng và người có hành vi vi phạm không chịu trách

nhiệm BTTH trong hợp đồng Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín,

Trang 22

tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Theo đó, cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do pháp luật quy định, không phải là thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Khác với trách nhiệm BTTH trong hợp đồng chỉ áp dụng đối với các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không những áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật mà còn áp dụng với người khác như: người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân của người làm việc cho pháp nhân… Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng được xây dựng nên bởi các quy phạm điểu chỉnh chế định hợp đồng Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng chỉ tồn tại trong quan hệ hợp đồng, và phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây ra thiệt hại, còn trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự gây thiệt hại cho người khác, và hành vi vi phạm không phải là hành vi vi phạm hợp đồng có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại

Như vậy, BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm pháp luật ngoài hợp đồng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín… của người khác thì phải BTTH do hành vi của mình gây ra

1.1.2 Đặc điểm của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BTTH ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý, nên BTTH ngoài hợp đồng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…

BTTH ngoài hợp đồng là một dạng của BTTH nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm BTTH nói chung Cụ thể như sau:

Trang 23

- Cơ sở pháp lý: BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự, chịu

sự điều chỉnh của pháp luật Dân Sự Các quy định tại BLDS 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS 2005 được áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến BTTH ngoài hợp đồng

- Điều kiện phát sinh: BTTH ngoài hợp đồng cũng chỉ được đặt ra khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH nói chung bao gồm:

+ Có thiệt hại xảy ra: Đây là tiền đề cơ bản nhất để xác định trách nhiệm BTTH vì mục đích của BTTH là khôi phục tình trạng của người bị thiệt hại, nếu không có thiệt hại xảy ra thì không cần thiết đặt ra vấn đề BTTH Thiệt hại theo quy định tại Điều 604 BLDS bao gồm: thiệt hại về tài sản (biểu hiện cụ thể là mất, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản); thiệt hại về tính mạng, sức khỏe (bao gồm: chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe); thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại (bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại); và tổn thất tinh thần (bao gồm nhiều vấn đề không thể định lượng như: đau thương, mất mất, mồ côi, góa bụa, sự mặc cảm…) Thiệt hại có thể nhìn thấy được, tính toán được hoặc không nhìn thấy, không định lượng được nhưng đều được quy định thành một đại lượng vật chất nhất định để bồi thường

+ Có hành vi gây thiệt hại: Hành vi này là hành vi trái pháp luật, được biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Thông thường hành vi gây thiệt hại là hành vi được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện hành vi đó)

+ Có lỗi của người gây ra thiệt hại: Lỗi là thái độ tâm lý của người có hành

vi gây ra thiệt hại, được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Điều 604 BLDS khẳng định trách nhiệm BTTH được đặt ra ngay cả trong trường hợp không có lỗi Lỗi trong trách nhiệm BTTH là lỗi được pháp luật quy định chứ không phải do suy đoán Trường hợp người không có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi, không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm

Trang 24

BTTH đối với thiệt hại đã gây ra Trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện… phải chịu trách nhiệm bồi thường là do có lỗi trong quản lý, chăm sóc, giáo dục người gây thiệt hại chứ không phải được suy đoán là có lỗi đối với hành vi gây thiệt hại

+ Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Theo đó, thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật Nói cách khác, hành

vi trái pháp luật là nguyên nhân dẫn đến có thiệt hại xảy ra Việc xác định mối quan

hệ nhân quả nhiều khi rất khó khăn Khi xem xét mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra cần xác định được về mặt thời gian đảm bảo hành

vi trái pháp luật phải xảy ra trước khi có thiệt hại

- Về hậu quả: BTTH luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sản cho người bị áp dụng

- Chủ thể áp dụng: BTTH không chỉ áp dụng đối với người trực tiếp có hành

vi gây thiệt hại mà còn áp dụng với: cha, mẹ của người chưa thành niên, pháp nhân đối với người của pháp nhân, người giám hộ của người được giám hộ…

BTTH ngoài hợp đồng mà vợ chồng là chủ thể hiện nay cũng được xem xét dưới một dạng của BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân và gia đình

mà đặc biệt là quan hệ vợ chồng là một loại quan hệ xã hội đặc biệt nên khi xem xét BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp này vì thế cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây: (Nghị quyết số 03/2006/HĐTP - TANDTC ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về BTTH):

+ Cần phải xác định trách nhiệm BTTH phát sinh là trách nhiệm BTTH trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Để xác định vấn đề này cần căn cứ vào nguồn gốc phát sinh của trách nhiệm BTTH là có hay không quan hệ hợp đồng mà vợ chồng là một bên chủ thể tham gia vì BTTH ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi hành vi gây thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng Tuy nhiên, cần lưu ý trách nhiệm BTTH phát sinh trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, bị huỷ bỏ, bị chấm dứt đề nghị giao kết hoặc trong trường hợp hành vi gây thiệt hại không phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng thì vẫn được coi là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

Trang 25

+ Cần phải xác định tài sản của vợ chồng trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng (tài sản bị thiệt hại hoặc tài sản gây thiệt hại) là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng Điều này hết sức quan trọng vì nó giúp xác định ai là người có trách nhiệm BTTH khi vợ chồng có tài sản gây thiệt hại (một bên vợ, một bên chồng hoặc

cả hai vợ chồng); xác định tài sản được BTTH sẽ thuộc quyền sở hữu của ai khi vợ chồng là người có tài sản bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của người khác (tài sản riêng của vợ, tài sản riêng của chồng hoặc tài sản chung của vợ chồng) Điều 163 BDS quy định, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Vì thế, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (HN&GĐ 2000), tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng, được xác định căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản và dấu hiệu pháp lý của thời kỳ hôn nhân Theo đó, tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung chứ không nhất thiết phải do hai vợ chồng cùng tạo ra

(Điều 27 Luật HN&GĐ 2000) Tài sản riêng của vợ, chồng là “tài sản mà mỗi bên

có từ trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời

kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều

29 và Điều 30 của luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân…” (Điều 32 Luật HN&GĐ

2000) Như vậy, việc xác định tài sản là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng cũng như bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại (trong trường hợp vợ chồng là người gây thiệt hại)

+ Cần xác định tài sản gây thiệt hại (trong trường hợp vợ chồng là người gây thiệt hại) là tài sản nào Việc làm này hết sức quan trọng bởi BLDS 2005 đã quy định các trường hợp BTTH ngoài hợp đồng cụ thể tại Chương XXI của bộ luật này như: BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, BTTH do súc vật gây ra, BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra; BTTH do cây cối gây ra…

Trang 26

+ Cần xác định xem hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại ra sao, đó là thiệt hại về tài sản, thiệt hại sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín hay tổn thất tinh thần Điều này giúp chúng ta xác định được thiệt hại thực tế đã xảy ra, định lượng thiệt hại, do đó xác định được mức bồi thường Dự liệu cho vấn đề này, BLDS đã dành những điều luật khác nhau trong chương XXI để quy định về BTTH trong các trường hợp cụ thể

Theo nguyên tắc, trách nhiệm BTTH khi được xác định là của một bên vợ hoặc một bên chồng thì người đó có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ bồi thường của mình Việc người vợ, người chồng dùng tài sản riêng hay tài sản chung để thực hiện trách nhiệm BTTH trong nhiều trường hợp chỉ mang tính chất tương đối Nói vậy bởi quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng được xác lập và củng cố bằng tình yêu thương nhằm duy trì cuộc sống chung hạnh phúc Việc người vợ, chồng thỏa thuận với nhau dùng tài sản chung để thực hiện trách nhiệm BTTH của một bên vợ, chồng hay việc một bên vợ, chồng tự nguyện dùng tài sản riêng của mình để thực hiện trách nhiệm BTTH của người còn lại là điều tất yếu xảy ra trong đời sống hôn nhân Điều này hoàn toàn hợp lý bởi nó đảm bảo thiệt hại được bồi thường kịp thời, mặt khác còn thể hiện nét nhân văn trong quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng Tương tự như thế, tài sản được người khác bồi thường (trong trường hợp vợ chồng là người bị thiệt hại) sẽ được xác định là tài sản chung vợ chồng hay tài sản riêng của một bên

vợ, chồng nhưng người đó tự nguyện gia nhập vào khối tài sản chung vợ chồng cũng là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được, miễn sao bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng khi bị gây thiệt hại

1.2 Căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.2.1 Căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng

Điều 163 BLDS năm 2005 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản Theo đó, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền, giấy tờ

có giá và các quyền tài sản Những tài sản đó có thể là động sản hoặc bất động sản

Trang 27

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, tài sản của chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng

Ngoài tình yêu thương, chức phận vợ, chồng thì mỗi người khi kết hôn đều không ngoài mục đích nương tựa vào nhau, cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc Việc chung sức, chung lòng tạo dựng tài sản của vợ chồng sẽ đương nhiên hình thành tài sản chung của vợ chồng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung vợ chồng tại Điều 27 Theo đó, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà

vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Xét về bản chất, tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất Mặc dù hôn nhân mang tính chất “cộng đồng”, nhưng tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải là tài sản do hai vợ chồng cùng tạo ra, mà chỉ cần một trong hai bên tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng được coi là tài sản chung

vợ chồng Tính chất này của tài sản chung vợ chồng cho thấy việc ghi nhận sự bình đẳng của vợ chồng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm “tài sản mà mỗi bên có từ trước khi kết hôn , tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của

Luật này; đồ dùng tư trang cá nhân” (Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000) Quy định về tài sản riêng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là một điều tất yếu cả về mặt lý luận và thực tiễn Xét về lý luận, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân Vợ, chồng khi tham gia các quan hệ đều được pháp luật xem xét là một chủ thể với tư cách công dân Với tư cách công dân của mình, quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ Theo đó, quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 thực ra là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992

Hôn nhân mang tính chất “cộng đồng”, nhưng hôn nhân không phải là sự bó buộc, tước đoạt quyền tự do và cuộc sống riêng của cá nhân vợ, chồng Vợ, chồng

Trang 28

ngoài mục đích chung sức chăm lo cuộc sống chung vợ chồng vẫn còn có nhiều mối quan tâm khác rất riêng tư như: bố mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, quan hệ đầu tư sản xuất kinh doanh… Vì thế, về mặt thực tiễn, việc quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng là điều tất yếu Khi đời sống vợ chồng hạnh phúc, êm ả thì việc sử dụng tài sản riêng hay tài sản chung khi giải quyết các nhu cầu riêng, nghĩa

vụ riêng của vợ hoặc chồng là điều bình thường Nhưng khi “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” thì việc sử dụng tài sản chung không phải là việc dễ vì thường không nhận được sự đồng thuận của cả vợ và chồng Vô hình chung, điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người thứ ba Mặt khác, pháp luật quy định

về tài sản riêng vợ, chồng không những đảm bảo được quyền lợi công dân của vợ, chồng, của người thứ ba, không hạn chế quyền sở hữu tài sản chung mà còn góp phần quan trọng trong việc củng cố vững chắc hạnh phúc gia đình Sở dĩ nói như thế vì quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng không phải là tuyệt đối Vợ, chồng hoàn toàn tự do quyết định sử dụng tài sản riêng của mình để thực hiện nghĩa vụ chung hoặc nghĩa vụ riêng, tự do định đoạt có hay không gia nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung vợ chồng

Như vậy, việc phân định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng là dựa vào nguồn gốc hình thành tài sản và dấu hiệu pháp lý về thời kỳ hôn nhân Việc phân định tài sản của vợ chồng thành tài sản chung hay tài sản riêng có ý nghĩa vô cùng to to lớn khi giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản và trách nhiệm của vợ chồng Thời kỳ hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại trước pháp luật Thời

kỳ hôn nhân được tính từ khi vợ chồng đăng ký kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trong các trường hợp pháp luật quy định Về nguyên tắc, tài sản mà vợ, chồng

có trước khi kết hôn là tài sản riêng của một bên vợ, chồng còn những tài sản mà vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung vợ chồng Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 đã cụ thể hóa bằng cách liệt kê các căn cứ pháp lý xác định tài sản được coi là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

* Căn cứ pháp lý xác lập tài sản chung vợ chồng

- Do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp của vợ chồng

Trang 29

Trong thời kỳ hôn nhân, một bên hoặc cả hai bên vợ chồng trực tiếp bỏ ra công sức để tạo ra tài sản hoặc cùng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra thu nhập thì thu nhập đó được xác định là tài sản chung vợ chồng Xuất phát

từ nghề nghiệp của vợ, chồng mà tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong trường hợp này có thể là: tư liệu sinh hoạt trong gia đình, tư liệu sản xuất, tiền lương, tiền công lao động, lợi nhuận kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ của vợ chồng, thu nhập từ chăn nuôi, trồng trọt… Do căn cứ xác lập quyền sở hữu rất đa dạng nên việc xác định chính xác các khoản thu nhập nói trên cũng là khác nhau Đối với tiền lương, tiền công lao động thông thường được xác định dựa theo bảng lương của vợ, chồng khi tham gia quan hệ lao động Đối với thu nhập từ sản xuất nông lâm ngư nghiệp thì được xác định trên cơ sở thu nhập thực tế Với khoản thu nhập là lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh thì được xác định dựa trên thuế giá trị gia tăng mà người sản xuất kinh doanh phải nộp

- Do vợ chồng được tặng cho hoặc được thừa kế chung

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung hoặc thừa kế chung được coi là tài sản chung vợ chồng Việc xác định tài sản chung trong trường hợp này quan trọng là phải xác định tính hợp pháp của giao dịch chuyển quyền sở hữu Việc xác định giao dịch chuyển quyền sở hữu hợp pháp hay không được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự năm

2005 Theo đó, nếu tài sản được thừa kế chung thì căn cứ pháp lý xác lập quyền sở hữu của vợ chồng đối với phần di sản được nhận theo nội dung di chúc

Nếu tài sản được tặng cho chung là bất động sản thì hợp đồng tặng cho phải lập thành văn bản được công chứng, chứng thực Quyền sở hữu của vợ chồng đối với bất động sản phải đăng ký được xác lập từ thời điểm đăng ký Nếu tài sản được tặng cho chung là động sản thì quyền sở hữu của vợ chồng được xác lập từ thời điểm đăng ký (đối với động sản bắt buộc phải đăng ký) hoặc từ thời điểm bên nhận tặng cho nhận tài sản (đối với động sản không phải đăng ký)

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản của vợ chồng

Hoa lợi, lợi tức là các sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại hoặc các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung

Trang 30

hoặc tài sản riêng vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung

về BTTH ngoài hợp đồng (đối với BTTH ngoài hợp đồng do tài sản riêng bị xâm phạm thì chỉ phần BTTH về lợi ích gắn liền với việc sử dụng khai thác tài sản được xác định là tài sản chung vợ chồng); tiền bảo hiểm mà vợ, chồng được hưởng trong thời kỳ hôn nhân

- Do vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung vợ chồng

Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ chồng (Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Vì vậy nếu vợ, chồng nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì tài sản đó được coi là tài sản chung vợ chồng Vấn đề là việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ chồng như thế nào mới được coi là hợp pháp Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định: vợ hoặc chồng nhập tài sản riêng là nhà ở, quyền sử dụng đất, và các tài sản khác có giá trị lớn vào khối tài sản chung của vợ chồng phải thực hiện bằng văn bản có chữ ký của vợ chồng Do đó, văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ, chồng được coi là căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với tài sản đó

* Căn cứ pháp lý xác lập tài sản riêng vợ, chồng

- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp của vợ hoặc chồng trước khi kết hôn

Theo quy định của Hiến pháp, cá nhân có quyền sở hữu đối với thu nhập hợp pháp của mình, trong đó có thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 31

Tuy nhiên, khi cá nhân tham gia vào quan hệ hôn nhân, các lợi ích về nhân thân và

về tài sản của cá nhân đó bị chi phối bởi quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành, những thu nhập hợp pháp của

cá nhân vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung hợp nhất

vợ chồng Chỉ những thu nhập hợp pháp của mỗi bên từ trước khi kết hôn mới được xác định là tài sản riêng của họ Như vậy, việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng một mặt phải dựa vào nguồn gốc tài sản, mặt khác phải căn cứ vào thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân Vợ, chồng chỉ được sở hữu riêng đối với những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình

từ trước thời điểm kết hôn

- Vợ, chồng được tặng cho, thừa kế riêng hoặc được thừa kế, tặng cho trước khi kết hôn

Tài sản mà vợ, chồng được tặng cho, thừa kế trước khi kết hôn được xác định là tài sản riêng của vợ chồng Điều này hoàn toàn hợp lý bởi trong hợp đồng tặng cho tài sản hoặc di chúc đã xác định đích danh chủ thể được chuyển quyền sở hữu tài sản

Tài sản vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng trong trường hợp này gặp không ít khó khăn Văn bản tặng cho (hợp đồng tặng cho) và di chúc là căn cứ pháp lý xác lập tài sản riêng của người được nhận tặng cho, nhận thừa kế trong trường hợp này Đối với tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng là bất động sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm đăng ký là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu Nếu tài sản tặng cho riêng, thừa kế riêng là động sản không bắt buộc phải đăng ký thì thời điểm người được tặng cho, người được thừa kế nhận tài sản chính là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu Trong trường hợp này, việc xác định tài sản đó là tài sản của một bên là rất khó nếu không được người vợ hoặc người chồng của họ công nhận

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân

Trang 32

Theo quy định của pháp luật, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ, chồng

có thỏa thuận khác (Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều

8 Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân, nếu

vợ chồng không có thỏa thuận chia tài sản chung thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên vẫn được xác định là tài sản chung của vợ, chồng Nếu việc thỏa thuận chia tài sản chung xảy ra trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia được xác định là tài sản riêng của mỗi bên trừ trường hợp

vợ chồng có thỏa thuận khác

- Theo quy định của pháp luật

Khoản 1 Điều 32 và khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản vợ chồng được chia trong trong thời kỳ hôn nhân từ khối tài sản chung vợ chồng được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng Khi quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định 70/NĐ-CP của Chính phủ nêu rõ: khi vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có thỏa thuận khác thì thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng

Do vậy, trong trường hợp này, căn cứ phát sinh quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng là sự kiện chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản

* Đối với tài sản chung

Hôn nhân hợp pháp kéo theo việc xác lập quyền sở hữu tài sản chung hợp nhất giữa vợ chồng Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nêu rõ:

“1 Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

2 Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng

Trang 33

3 Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.”

Vợ chồng đến với hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, cùng nhau bỏ công sức để tạo lập tài sản Vì vậy việc vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là điều tất yếu Việc sử dụng tài sản chung phải có sự thống nhất về mặt ý chí của vợ, chồng Điều này xuất phát từ bản chất của tài sản chung cũng như thực tiễn đời sống gia đình, thể hiện rõ sự bình đẳng giữa vợ, chồng trong đời sống và pháp luật Tài sản chung vợ chồng hình thành khi hôn nhân được xác lập và chấm dứt theo quy định của pháp luật

Một trong những căn cứ làm chấm dứt sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

là việc pháp luật quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 là một quy định mới và đặc biệt mà trước đó Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 không có Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng Theo đó, vợ chồng có thể chia toàn bộ khối chỉ thỏa thuận chia hoặc yêu cầu Tòa án chia một phần tài sản hoặc một nhóm tài sản nhất định mà không thỏa thuận hoặc yêu cầu chia tất cả khối tài sản chung Trong một chừng mực nhất định, điều này phù hợp với thực tế có thể diễn ra trong thời kinh tế thị trường hiện nay, là vợ chồng có thể cùng kinh doanh hoặc hoặc vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng để tạo điều kiện cho người vợ hoặc người chồng kinh doanh bằng vốn, tài sản riêng của mình

* Đối với tài sản riêng

Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc vợ chồng có quyền có tài sản riêng như sau:

“1 Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng

Trang 34

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân

2 Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.”

Ngoài ra, khoản 1 điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy

định: “Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 điều này”

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ, chồng có toàn quyền sở hữu đối với tài sản riêng, không phụ thuộc vào ý chí của người chồng, vợ của họ Trường hợp vì lí do công tác hoặc bệnh tật mà vợ, chồng không thể trực tiếp quản lí được tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lí, thì người kia có quyền quản lí tài sản đó (khoản 2 điều 33) Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng như Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đều có quy định vợ, chồng có quyền

“nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” Do vậy việc quy định

vợ, chồng có tài sản riêng không làm ảnh hưởng tới tính chất của quan hệ hôn nhân

và cũng không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Trong thực tế, khi vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc thì họ có thể thỏa thuận để người có tài sản riêng nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng Việc vợ chồng nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có chữ kí của cả vợ và chồng Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Quy định này của pháp luật là phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn khi giải quyết vấn đề tranh chấp tài sản giữa vợ, chồng khi li hôn và cũng là để ngăn chặn những mục đích không lành mạnh của vợ, chồng khi nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng, cũng là để bảo dảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan Khoản 2 điều 13 Nghi định số 70/2001/NĐ-CP còn quy định: “Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài

Trang 35

sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu theo quy định tại điều 11 của nghị định này”

Theo khoản 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó Nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng (còn gọi là nợ riêng của vợ, chồng) phát sinh từ các khoản nợ mà

vợ, chồng vay của người khác, sử dụng vào mục đích cá nhân, mà không vì lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ BTTH do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác do luật định (nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con mà vợ, chồng phải thực hiện) Các quy định về nghĩa vụ của vợ chồng được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được dự liệu cụ thể hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trước đây Những quy định này là cơ sở pháp lí cho việc xác định nghĩa vụ của vợ, chồng được thực hiện bằng tài sản riêng do thỏa thuận trong thực tiễn

Ngoài việc quy định về quyền quản lý, quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng, khoản 5 điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đã quy định một vấn

đề mới, đó là hạn chế quyền sở hữu của vợ chồng với tài sản riêng vì lợi ích chung của gia đình: “Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào

sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng” Trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bên vợ, chồng có tài sản riêng phải đóng góp, sử dụng tài sản riêng vì các nhu cầu thiết yếu đó Mặt khác, tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đã được đưa vào sử dụng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó thì việc đinh đoạt tài sản riêng

đó phải được sự đồng ý, thỏa thuận của cả hai vợ chồng Quy định này dựa trên truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, luôn có sự đoàn kết, yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình Mặc dù theo luật định, vợ chồng có quyền có tài sản riêng, nhưng trên thực tế cuộc sống chung của vợ chồng thường không phân biệt các tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng Tài sản

Trang 36

riêng của vợ, chồng nếu đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải có sự thỏa thuận, thống nhất giữa hai vợ chồng nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống chung của vợ, chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ, chồng, nghĩa

vụ nuôi dưỡng, giáo dục các con Như vậy cũng là bảo đảm lợi ích chung của toàn

bộ xã hội, vì gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Sự tồn tại bền vững của gia đình là cơ sở tạo cho xã hội ổn định, phát triển

Như vậy, xuất phát từ đặc thù của quan hệ BTTH ngoài hợp đồng và quan hệ

vợ chồng mà BTTH ngoài hợp đồng liên quan đến vợ chồng có những bản chất và biểu hiện khác với các quan hệ BTTH khác BTTH ngoài hợp đồng trong đó vợ, chồng là chủ thể không những ảnh hưởng đến quyền của người bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của vợ, chồng, con cái Do vậy, việc tìm hiểu

cơ sở pháp lý, khái niệm, đặc điểm của BTTH ngoài hợp đồng trong đó có BTTH ngoài hợp đồng mà vợ chồng là chủ thể là một yêu cầu bức thiết, tạo tiền đề cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan hệ này

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VỢ CHỒNG TRONG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại

Trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng, vợ chồng là người có thể bị thiệt hại

về tài sản, về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín Xuất phát từ đặc điểm quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản vợ chồng và trách nhiệm nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau về mặt nhân thân mà BTTH ngoài hợp đồng trong các trường hợp nêu trên cũng có những nét riêng khác biệt về mức bồi thường, cách thức bồi thường, mối quan hệ về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng… Pháp luật hiện hành đã dự liệu tất cả các trường hợp trên và quy định thành những điều luật riêng Tìm hiểu các quy định này giúp chúng ta thấy được thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành đối với vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong quan

hệ BTTH ngoài hợp đồng mà vợ chồng là người bị thiệt hại

2.1.1 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi vợ chồng là người bị thiệt hại về tài sản

Điều 608 BLDS 2005 quy định như sau: “Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1 Tài sản bị mất;

2 Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

3 Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4 Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”

Điều luật này quy định các thiệt hại tài sản được bồi thường Theo đó, thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

- Thiệt hại trực tiếp được bồi thường nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản ban đầu Thiệt hại trực tiếp bao gồm: Tài sản bị mất (phải lưu ý đến tình trạng tài sản bị mất, giá thị trường tại thời điểm bị mất); tài sản bị hủy hoại (là những tài sản không

Ngày đăng: 28/03/2018, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w