Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được xây dựng trên 5 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc trọng tài viên tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ LỆ MỸ
CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG
TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN CHÍ HIẾU
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phan Chí Hiếu
Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Hoàng Thị Lệ Mỹ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Ban giám hiệu và Khoa Sau đại học, đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho học viên trong quá trình học tập bậc cao học tại Nhà trường
Đồng thời, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phan Chí Hiếu, người thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tác giả cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, cổ vũ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Lệ Mỹ
Trang 4Quy tắc tố tụng trọng tài của Ủy ban pháp luật Thương mại Quốc tế Liên Hợp Quốc
Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
Trang 5
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 6 1.1 Nhận thức chung về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các
đương sự trong tố tụng trọng tài 6
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài 6 1.1.2 Vai trò của nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài 9 1.1.3 Nội dung nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong
1.3 Kinh nghiệm thế giới về cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn 19
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 19 1.3.2 Kinh nghiệm quốc tế 21
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN HÀNH CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC
ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 24 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật và Quy tắc trọng tài về tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài 24
2.1.1 Các quy định về lựa chọn hình thức trọng tài, trung tâm trọng tài và quy tắc trọng tài 24 2.1.2 Các quy định về lựa chọn trọng tài viên, thành lập Hội đồng trọng tài, ngôn ngữ trọng tài và thời gian, địa điểm trọng tài 28 2.1.3 Các quy định về hòa giải trong thủ tục giải quyết tranh chấp tại trọng tài 32 2.1.4 Các quy định về quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục giải quyết tranh chấp 35
2.2 Thực tiễn hoạt động của các thiết chế bảo đảm thi hành nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài 37
2.2.1 Thực tiễn hoạt động của Hội đồng trọng tài, Tòa án và cơ quan thi hành án liên quan đến việc bảo đảm thi hành nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự 37 2.2.2 Thực tiễn thực hiện quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng trọng tài 42
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CƠ CHẾ THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 46 3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài 46
3.1.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài 46
Trang 73.1.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự 48 3.1.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự 49
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài, Tòa án
và cơ quan thi hành án dân sự 50
3.2.1 Nâng cao hiệu quả của hoạt động trọng tài 51 3.2.2 Nâng cao hiệu quả của hoạt động tòa án, cơ quan thi hành án dân
sự 52
3.3 Các giải pháp nâng cao nhận thức của các đương sự trong tố tụng trọng tài 54 KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam
đề xướng từ Đại hội VI (12/1986) đã đem lại những thành quả to lớn về kinh
tế và xã hội Nền kinh tế nước ta sau gần ba mươi năm đổi mới đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Song cũng trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Các quan hệ này không chỉ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà còn mở rộng tới các tổ chức nước ngoài Khi tham gia các quan hệ thương mại, các tranh chấp phát sinh là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp thời
Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài Trong đó, với ưu thế giải quyết nhanh gọn, linh hoạt, phán quyết của trọng tài là chung thẩm…nên phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được các nhà kinh doanh ưu tiên lựa chọn và ngày càng trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến trên thế giới
Bất kỳ một phương thức giải quyết tranh chấp nào cũng cần dựa trên các nền tảng, nguyên tắc nhất định Bởi nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được xây dựng trên 5 nguyên tắc, trong
đó có nguyên tắc trọng tài viên tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài nếu các thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội Tuy đã được ghi nhận trong pháp luật về trọng tài, nhưng thực tiễn thực hiện nguyên tắc này trong thời gian qua đang bộc lộ nhiều bất cập như: các bên không tự nguyện, thiện chí hợp tác trong thi hành phán quyết
Trang 9của trọng tài; một bên lạm dụng quyền định đoạt của mình để gây khó dễ cho quá trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc; việc hủy phán quyết trọng tài vẫn còn nhiều vướng mắc… Vậy nguyên tắc đó đã được thể hiện như thế nào trong Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM)? Cơ chế để bảo đảm cho nguyên tắc này được thực thi hiệu quả trên thực tế ra sao? Đồng thời, từ ý nghĩa, vai trò nguyên tắc và thực trạng thực hiện pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam hiện nay cùng mong muốn trả lời các câu hỏi trên nên tác
giả chọn vấn đề “Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình
- Tác động của những quy định mới trong luật TTTM tới hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài ở Việt Nam – Luận văn thạc sỹ của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012;
- Những nguyên tắc của Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam
– Luận văn thạc sỹ của tác giả Tạ Thị Minh Loan, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, năm 2007;
- Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại –
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hiển, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa nghiên cứu sâu về cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự
Trang 10trong tố tụng trọng tài đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo thực
thi cơ chế đó có hiệu quả Vì vậy, đề tài “ Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam” mang tính mới nhất định, không bị trùng lặp về mặt nội dung
với các công trình nghiên cứu khác
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài; đánh giá thực trạng vận hành cơ chế đó trong thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến nguyên tắc này và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài, tòa án và cơ quan thi hành án dân sự
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Phân tích làm rõ bản chất nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài, nội dung của nguyên tắc và các yếu tố cấu thành cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc này; đánh giá thực trạng vận hành
cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài;
- Đánh giá thực trạng vận hành cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài, chỉ ra những vướng mắc, hạn chế, bất cập về mặt pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật, đồng thời làm rõ nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế, bất cập đó;
- Đề xuất một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trọng tài, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật để vận hành cơ chế một cách thuận lợi trên thực tế
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài và các cơ chế để bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong phạm vi các quy định pháp luật hiện hành về trọng tài thương mại (chủ yếu được ghi nhận trong Luật TTTM 2010 , Bộ luật Tố tụng dân sự) Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng có sự liên hệ với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, một số quy định về trọng tài có liên quan trong pháp luật về trọng tài một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ… hay các quy định trong Quy tắc tố tụng trọng tài của một số trung tâm trọng tài ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương án kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sự Bên cạnh đó còn dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước với hoạt động trọng tài thương mại nói riêng
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới như sau:
- Tiếp tục làm rõ một số vấn đề về lý luận liên quan đến cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam như: khái niệm, vai trò của nguyên tắc này, cũng như các yếu tố cấu thành nên cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc;
- Chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc trong khi vận hành cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng
Trang 12trọng tài theo pháp luật Việt Nam;
- Đề xuất được một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như: Tòa án nhân dân tối cao cần có bộ phận theo dõi việc hủy phán quyết trọng tài; tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích pháp luật, thuyết phục người phải thi hành phán quyết trọng tài tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình
7 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương, lần lượt tìm hiểu các vấn đề sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
Chương 2: Thực trạng vận hành cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm cơ chế thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA
CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
1.1 Nhận thức chung về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương
Trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế của Pháp lệnh trọng tài 2003, Luật TTTM đã quán triệt tinh thần bảo đảm hơn nữa quyền tự định đoạt của các bên Trong các nguyên tắc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài cũng có sự thay đổi khi đặt nguyên tắc “Trọng tài
Trang 14viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội” là nguyên tắc đầu tiên trong 5 nguyên tắc
Như vậy có thể thấy nhận thức của các nhà làm luật về việc xác định các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã có sự thay đổi quan trọng
Để làm rõ nội hàm của nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài thì cần tìm hiểu rõ thế nào là “tôn trọng”, thế nào là
“thỏa thuận”
Theo từ điển Tiếng Việt thì thỏa thuận là “ đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận” còn tôn trọng là “ tỏ thái độ đánh giá cao và cho là không được vi phạm hay xúc phạm đến” Như vậy, sự tôn trọng của các trọng tài
viên trong tố tụng trọng tài theo nguyên tắc trên được thể hiện ở việc trọng tài viên cần đánh giá cao, không được vi phạm những gì mà các bên tranh chấp
đã cùng nhau cân nhắc, thảo luận các vấn đề liên quan tới giải quyết tranh chấp Về bản chất, trọng tài là một quá trình đồng thuận trong đó cơ sở đầu tiên để xác định thẩm quyền của trọng tài là thoả thuận trọng tài giữa các bên Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên có thoả thuận trọng tài, đồng thời toà án phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp khi các bên đã
có thoả thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được [2, Điều 6] Đây là một nguyên tắc quan trọng của trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, đồng thời cũng chỉ rõ thêm tính chất tài phán tư của hình thức giải quyết tranh chấp này Điều này tạo cơ sở cho các bên được tự mình thoả thuận tranh chấp nào có thể được giải quyết bằng trọng tài Quyền tự định đoạt của các bên là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế và Luật Trọng tài nhiều nước trên thế giới
Bên cạnh đó, cơ sở của nguyên tắc này phát sinh từ các quan hệ pháp luật được thiết lập trên sự thỏa thuận như quan hệ hợp đồng, tự do giao kết
Trang 15hợp đồng, tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, quan hệ góp vốn vào công ty… Sự đồng thuận này thể hiện nguyên tắc “ tự do ý chí của các bên” Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai được dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ý chí của người đó Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể
bị tuyên bố vô hiệu Đồng thời, những quan hệ pháp luật này còn được thiết lập trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể, không phụ thuộc vào giới tính, địa
vị xã hội khác; cũng như bình đẳng về các quyền và nghĩa vụ đối với nhau…Xuất phát từ việc các bên tự nguyện, bình đẳng khi tham gia quan hệ nên khi có tranh chấp xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào sự đồng thuận đầy đủ và có hiệu lực của hai bên Đồng thời, khi giải quyết tranh chấp cũng phải tôn trọng quyền được thỏa thuận, tự định đoạt của các bên
Trọng tài viên tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tuy không phải là nguyên tắc riêng có của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng nguyên tắc này được thể hiện trong tố tụng trọng tài với phạm vi rộng và đầy đủ hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án Trong giải quyết tranh chấp bằng Tòa
án, các bên có quyền thỏa thuận phạm vi giải quyết tranh chấp, rút đơn yêu cầu, hòa giải chứ không có quyền lựa chọn những vấn đề về mặt tố tụng của quá trình giải quyết tranh chấp như: địa điểm giải quyết tranh chấp, thời gian giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp… Đây là những vấn đề đã được quy định rõ ràng, cụ thể về mặt thủ tục trong Bộ luật tố tụng dân sự, không cho phép sự thỏa thuận của các bên [9] Ngược lại, trong tố tụng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, quy tắc
tố tụng, và cả những vấn đề về mặt nội dung của quá trình giải quyết tranh chấp và Luật TTTM cũng đã quy định theo hướng ưu tiên sự thỏa thuận của các bên Nhưng sự thỏa thuận đó không phải được thể hiện một cách tùy tiện
mà phải thực hiện trong khuôn khổ các quy định của pháp luật Có như vậy
Trang 16thì mới bảo đảm tính hợp pháp và hợp hiến, tạo điều kiện cho quyền của đương sự được tôn trọng, bảo đảm Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì pháp luật mới đưa ra những quy định tương ứng để điều chỉnh thủ tục giải quyết tranh chấp
Từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa về nguyên tắc này như
sau: Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài là việc các trọng tài viên và những tổ chức, cá nhân khác tham gia giải quyết tranh chấp cần có sự đánh giá cao, không vi phạm tới các vấn đề
mà các bên tham gia tranh chấp đã đồng ý trên cơ sở thảo luận, nếu các vấn
đề đó không trái với pháp luật, đạo đức xã hội
1.1.2 Vai trò của nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong
tố tụng trọng tài
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, thể hiện bản chất của trọng tài thương mại Tại Điều 4 Luật TTTM đã nêu các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài gồm:
“1 Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội
2 Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật
3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài
có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
5 Phán quyết trọng tài là chung thẩm”
Trang 17Trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp các trọng tài viên, Hội đồng trọng tài phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc trên Các nguyên tắc này
có mối liên hệ hữu cơ với nhau, làm nên nét đặc thù của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Cụ thể, nguyên tắc các bên tranh chấp bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tạo được tiền đề cho sự thỏa thuận của các bên Thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài là do các bên thỏa thuận lựa chọn, vì vậy, trọng tài viên cần phải tôn trọng sự thỏa thuận đó cũng như phải vô tư, độc lập…Trong đó, nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên có vai trò quan trọng, thể hiện dưới các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự góp phần định hướng cho toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, thể hiện bản chất của trọng tài thương mại Cùng với nguyên tắc các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, nguyên tắc này góp phần thể hiện việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là sự kết hợp của hai yếu tố tài phán và thỏa thuận Trong đó, xuất phát từ việc bình đẳng với nhau thì thỏa thuận sẽ là tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận Như vậy, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài bảo đảm tôn trọng ở mức độ cao quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp
Thứ hai, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự góp phần giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác, phù hợp với ý chí của các bên Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên thể hiện khả năng chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc Quyền được lựa chọn trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc các vấn đề đang tranh chấp Điều này sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp được chính xác, nhanh chóng, đúng pháp luật và tôn trọng sự thật khách quan Bên cạnh đó, trọng tài khi
Trang 18giải quyết các tranh chấp nhân danh ý chí của các bên, không nhân danh quyền lực tư pháp nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Thứ ba, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự đảm bảo hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp Bởi là một phương thức tài phán, dựa trên cơ sở thỏa thuận mà các bên trao cho, trọng tài được quyền đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị cưỡng chế thi hành với các bên Trọng tài có khả năng giúp các bên giải quyết triệt
để tranh chấp đã phát sinh Đồng thời, cùng với nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai thì các bên sẽ giữ được
uy tín, bí mật kinh doanh không bị ảnh hưởng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
1.1.3 Nội dung nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
Như chúng ta đã biết, tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài phát sinh từ những quan hệ xã hội được thiết lập trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận của các bên tham gia Đây cũng là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Nguyên tắc này được biểu hiện qua nhiều nội dung khác nhau như:
- Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu các bên có thỏa thuận trọng tài Điều này thể hiện thực chất sự hình thành trọng tài là do ý chí
tự nguyện của các bên tranh chấp dựa trên nguyên tắc “ không có thỏa thuận thì không có trọng tài” Thỏa thuận trọng tài về cơ bản là cơ sở để xác định thẩm quyền của trọng tài Chính vì vậy, có thể thấy thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài là do các bên trao cho
- Các bên được quyền thỏa thuận với nhau về lựa chọn hình thức trọng tài ( quy chế hay vụ việc) để giải quyết tranh chấp Quyền lựa chọn này không
Trang 19lệ thuộc vào nơi các bên tranh chấp có trụ sở, nơi có tài sản hay nơi phát sinh tranh chấp Chính sự linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức trọng tài như trên
để giải quyết tranh chấp được đánh giá là ưu điểm của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với tòa án
- Các bên được chọn Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì số lượng trọng tài viên do các bên lựa chọn, trong trường hợp không thỏa thuận thì số lượng trọng tài viên bao gồm 03 trọng tài viên [2, Điều 39]
- Các bên tự quyết định về phạm vi yêu cầu đề nghị trọng tài giải quyết, được quyền rút lại, thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu Do bản chất của quan hệ tranh chấp xuất phát từ các giao dịch dân sự đề cao sự bình đẳng, thỏa thuận của các bên Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, thì việc đề cao sự thỏa thuận này vẫn được đặt ra và ưu tiên hàng đầu Khi các bên đã thỏa thuận phạm vi giải quyết tranh chấp, rút lại hay thay đổi, bổ sung yêu cầu giải quyết tranh chấp thì Trọng tài viên có trách nhiệm tôn trọng sự thỏa thuận hoàn toàn hợp pháp đó
- Các bên được tự thỏa thuận hòa giải với nhau trong bất cứ giai đoạn
nào của quá trình tố tụng trọng tài Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận “ kể từ thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình thương lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp”[2, Điều 38] Đặc biệt,
ngay cả trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp Trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về phương án giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài phải
ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó của các bên
- Các bên có thể thỏa thuận rút ngắn hoặc kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, có thể thỏa thuận để lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài phù hợp Đây là một trong những mặt thể hiện vấn đề trọng tài viên tôn trọng sự
Trang 20thỏa thuận của các bên Theo đó, việc xác định thời điểm bắt đầu giải quyết tranh chấp, kéo dài hay rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp đều ưu tiên quyền tự thỏa thuận của các bên Đồng thời, để đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình giải quyết, các bên có thể lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài phù hợp, thuận tiện với nhu cầu của các bên
Tóm lại, chỉ có trong tố tụng trọng tài, hình thức giải quyết tranh chấp
do các bên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy Nội dung chi tiết về các quy định của pháp luật thể hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài sẽ được tác giả đề cập chi tiết trong chương 2 của luận văn
1.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
Như chúng ta đã biết, để cùng tham gia hoạt động bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài thì giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội cần phải có một cơ chế bảo đảm phối hợp chặt chẽ Vậy cơ chế đó được hiểu như thế nào? Theo Đại từ điển Tiếng
Việt định nghĩa cơ chế là “cách thức sắp xếp, tổ chức để làm đường hướng,
cơ sở theo đó mà thực hiện” [25, tr.353] Hay dưới góc độ khoa học pháp lý,
cơ chế lại được hiểu như sau “ là tổng thể các bảo đảm về vật chất, chính trị,
tư tưởng, pháp lý, tổ chức, nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó”[21, tr.25] Theo đó, có thể hiểu cơ chế bảo đảm chính
là cách thức hoạt động theo sắp xếp, đường lối của nhà nước cùng các thiết chế chính trị xã hội đối với nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài được tôn trọng và thực thi hiệu quả trong thực tế Vấn
đề này được thể hiện qua các nội dung như quy định của pháp luật và quy tắc
tố tụng trọng tài cùng các thiết chế bảo đảm để vận hành cơ chế được hiệu quả
Trang 211.2.1 Các quy định của pháp luật và quy tắc tố tụng trọng tài
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã từng bước hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự Trong đó bao gồm một số nội dung liên quan đến tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên đương sự Về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân
sự của mình và các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự phải được thực hiện với vai trò tích cực và kiểm soát
từ phía Nhà nước (mà cụ thể là các cơ quan Toà án và Viện kiểm sát) Điều này thể hiện qua nguyên tắc “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội” [1, Điều 5]
Luật TTTM của Việt Nam đã thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của Trọng tài đã được áp dụng rộng rãi ở các nước và đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh như bí mật, linh hoạt, nhanh gọn Luật TTTM thể hiện được các nội dung cơ bản về các vấn đề: Phạm vi trọng tài, quy định về thoả thuận trọng tài, Trọng tài viên, thủ tục trọng tài, quyết định trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài…Trong nội dung các quy định đã thể hiện được một cơ
Trang 22chế giải quyết tranh chấp thuận lợi, linh hoạt, công bằng và hiệu quả cao Các đặc điểm ưu việt của hình thức tố tụng trọng tài được quán triệt, nhất quán xuyên suốt trong các quy định về tố tụng trọng tài như: bảo đảm nguyên tắc tự
do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên, bảo đảm quyền tham gia giám sát mọi giai đoạn của quy trình tố tụng trọng tài… Các quy định về Tố tụng Trọng tài bảo đảm sự thống nhất, tương hỗ với các quy định tố tụng tại Toà án trong giải quyết tranh chấp cùng loại
Luật TTTM cũng quy định có hai hình thức trọng tài thương mại là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế Lựa chọn hình thức nào là do các bên tranh chấp tự quyết định căn cứ vào mối quan hệ giữa các bên, tính chất của tranh chấp và các điều kiện cụ thể khác Trong đó, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, bởi chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Tuy vậy, trọng tài vụ việc không nhất thiết hoàn toàn tách rời trọng tài quy chế, các bên tranh chấp có thể lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm có uy tín
ở trong nước và quốc tế để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp Với việc lựa chọn hình thức trọng tài quy chế thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hành tại Trung tâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài Luật TTTM cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp [2, Điều 28, khoản 1] Chỉ khi nào các bên không có thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, lúc đó, mới áp dụng quy định hướng dẫn của Luật Như vậy, Luật TTTM đã mở rộng, bổ sung những quy định mới nhằm đảm bảo sự tự do thỏa thuận của các bên cũng như Quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài được phát huy những lợi thế của mình trong
Trang 23quá trình giải quyết tranh chấp Tóm lại, với sự ra đời của các văn bản pháp luật này, khung pháp lý cho trọng tài thương mại ở nước ta đã được hoàn thiện thêm một bước, là cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp bằng phương thức này, bảo đảm tôn trọng tối đa sự thỏa thuận của các bên tranh chấp
1.2.2 Các thiết chế bảo đảm thực thi nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự
1.2.2.1 Hội đồng trọng tài
Như chúng ta đã biết, bản chất chủ yếu của Trọng tài là ở chỗ Hội đồng trọng tài chỉ tồn tại khi có ý chí của các bên tranh chấp Luật TTTM xác định các thẩm quyền mà Hội đồng có được do các bên tranh chấp trao trực tiếp cho Hội đồng Đó là các thẩm quyền được biểu đạt theo cách: “Nếu các bên không có thỏa thuận khác”, “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Theo đó, ý chí của các bên mặc nhiên được chuyển thành thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Đó là những trường hợp liên quan đến địa điểm giải quyết tranh chấp (Điều 11), gửi thông báo và trình tự gửi thông báo (Điều 12), Luật
áp dụng trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài (Điều 14, khoản 2); thẩm quyền tìm hiểu sự việc từ người thứ ba với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên biết (Điều 45), quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ tranh chấp, quyền trưng cầu giám định, tham vấn ý kiến chuyên gia, định giá tài sản trong vụ tranh chấp để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp (Điều 46), triệu tập người làm chứng (Điều 47) [20, tr.271]
Điểm rất mới của Luật TTTM là quy định về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời [2, Điều 51] Những quy định này phù hợp với thực tế, đặc biệt để bảo vệ quyền tự do thỏa thuận của các bên trong trường hợp có
Trang 24một bên gây khó khăn, cố tình kéo dài thời gian giải quyết
1.2.2.2 Tòa án
Luật TTTM đã mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với việc hỗ trợ tố tụng trọng tài, bảo đảm cho việc thỏa thuận của các bên trong tố tụng trọng tài được tiện lợi hơn Điều này thể hiện trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền thì một hoặc các bên đương sự có quyền khiếu nại quyết định này ra Toà án Đồng thời, khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng
cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế, Luật TTTM đã dự liệu và phân định phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa Hội đồng trọng tài và Tòa án nhằm tránh tình trạng xung đột về thẩm quyền, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vấn đề hủy phán quyết trọng tài thì Toà án nơi Hội đồng trọng tài
đã ra phán quyết có thẩm quyền xem xét để huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại khoản 2 Ðiều 68 của Luật TTTM khi có một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu Với chức năng, thẩm quyền là cơ quan tài phán nhân danh Nhà nước, Tòa án sẽ có sự phối kết hợp cùng các Trung tâm trọng tài thương mại đảm bảo giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo thẩm quyền mà
pháp luật quy định
1.2.2.3 Cơ quan thi hành án dân sự
Trong tố tụng trọng tài, cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành pháp quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài là cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết hoặc nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng [2, Điều 8] Như vậy, về bản chất, hoạt động hỗ trợ của cơ quan thi hành án với Trọng tài thương mại là hoạt động hỗ trợ trọng tài thương mại
Trang 25trong việc thi hành pháp quyết trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài
Việc hỗ trợ hoạt động đối với trọng tài thương mại của cơ quan Thi hành án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài Bởi vì phán quyết của trọng tài có khách quan, công bằng đến đâu nhưng nếu đương sự không thi hành thì quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không được bảo vệ, điều này còn ảnh hưởng tới uy tín của trọng tài Vì vậy, sự hỗ trợ này được quy định trong Luật TTTM là chính xác và cần thiết
1.2.2.4 Vai trò của các bên đương sự trong việc thực hiện nguyên tắc thỏa thuận
Đương sự là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận ngành luật tố tụng Việc xác định đúng tư cách đương sự sẽ xác định đúng đắn quyền và nghĩa vụ tố tụng cũng như bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận trong tố
tụng trọng tài Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết” [26] hay từ điển từ và ngữ Hán Việt ghi nhận đương sự “là người có liên quan trực tiếp đến một việc” Hay
theo như Bryan A.Garner trong cuốn từ điển pháp lý xuất bản năm 2001 thì
khái niệm đương sự được hiểu là “ người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” [7] Trong tố tụng trọng tài là quá trình hai bên trong một tranh
chấp đồng ý đưa tranh chấp tới một bên thứ ba, gọi là trọng tài viên và trao cho trọng tài viên thẩm quyền xem xét chứng cứ và ra quyết định
Theo quy định tại khoản 3, Điều 3 Luật TTTM 2010 thì “ Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài tham gia
tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn” Như đã trình bày ở phần
trước, phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở
tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, các bên phải có thỏa
Trang 26thuận trọng tài Như vậy có thể nói, để đảm bảo cho tố tụng trọng tài được diễn ra hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên, không có thỏa thuận trọng tài thì cũng sẽ không có tố tụng trọng tài Qua đó, có thể thấy rằng vai trò của các bên đương sự trong tố tụng trọng tài rất quan trọng Đặc biệt, để bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận giữa các bên tranh chấp thì không thể bỏ qua sự tự do ý chí cũng như thiện chí của các bên trong tố tụng trọng tài Bởi lẽ, kinh nghiệm cho thấy có không ít trường hợp một bên thiếu tinh thần hợp tác, thiếu ý thức về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cố tình trì hoãn, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp… Những hành vi như vậy sẽ phần nào ảnh hưởng tới nguyên tắc tự do ý chí, thỏa thuận nhằm giải quyết tranh chấp của các bên với nhau Chính vì vậy, mỗi bên đương sự tham gia giải quyết tranh chấp cần đảm bảo thực hiện đúng và đủ quyền cũng như nghĩa vụ tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của phía bên kia trong quá trình tiến hành tố tụng trọng tài
1.3 Kinh nghiệm thế giới về cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Nghiên cứu pháp luật trọng tài thương mại các nước cho thấy một thực
tế là tuyệt đại đa số các nước đã ban hành một Luật riêng để điều chỉnh việc
tổ chức và hoạt động của trọng tài thương mại Các đạo luật này là cơ sở pháp
lý đầy đủ và có giá trị pháp lý cao để các Trung tâm Trọng tài tự xây dựng cho mình quy chế hoạt động, quy tắc tố tụng
1.3.1.1 Nhật Bản
Luật trọng tài của Nhật Bản được ban hành năm 2003 dựa trên Luật mẫu về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Các tranh chấp thương mại quốc tế và trong nước được giải
Trang 27quyết bởi Hiệp hội trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) và Hội đồng trọng tài Hàng hải Tôkyô
Nhìn chung, pháp luật về trọng tài của Nhật Bản đã phản ánh đầy đủ,
bảo đảm về nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp Thủ tục
tố tụng trọng tài được tiến hành theo Luật trọng tài và Quy tắc tố tụng của JCAA Một vụ việc trọng tài thường được bắt đầu bằng việc nguyên đơn nộp đơn yêu cầu đến JCAA Đơn phải bao gồm yêu cầu giải quyết bằng trọng tài theo quy tắc tố tụng của JCAA, có viện dẫn đến thỏa thuận trọng tài của các bên, tóm tắt nội dung vụ tranh chấp, yêu cầu của nguyên đơn và các bằng chứng chứng minh Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chỉ định một hoặc nhiều trọng tài viên, hoặc quyết định phương thức lựa chọn trọng tài Nếu các bên không thỏa thuận được hoặc thông báo cho JCAA quyết định của họ, JCAA sẽ chỉ định một trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp [4, Điều 25, 26] Các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ việc dựa trên các tài liệu mà các bên cung cấp cho trọng tài Như vậy, những quy định trên đã thể hiện sự tôn trọng tối đa các thỏa thuận hợp pháp của các đương sự trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại của trọng tài viên
1.3.1.2 Một số nước tại khu vực Bắc Mỹ ( Hoa Kỳ, Canada)
Ở Hòa Kỳ, đạo luật liên quan đến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
đã được thông qua ở cả cấp liên bang và cấp tiểu bang Đạo luật trọng tài liên bang (FAA – Federal Arbitraion Act) là nền tảng pháp lý của việc điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Còn ở Canada, hầu hết các tỉnh theo hệ thống “ common law” đã thông qua một đạo luật thống nhất do Hội đồng Luật thống nhất Canada (CUAA) soạn thảo Nhìn chung, những nguyên tắc chính về tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài thể hiện rõ nét trong quy định về thủ tục trọng tài Các
Trang 28bên được tự do thỏa thuận về thủ tục trọng tài cần áp dụng Trên thực tế, các bên thường chọn một trong các bộ quy tắc trọng tài đã được các cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua như Quy tắc tố tụng trọng tài thương mại của Hiệp hội Trọng tài Mỹ, Quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL hoặc Quy tắc tố tụng trọng tài quốc gia của Viện ADR của Canada [11, tr.216] Tóm lại, các quy định về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại của các nước Bắc Mỹ đều bảo đảm tối đa sự tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp
1.3.2 Kinh nghiệm quốc tế
Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế Trong tố tụng trọng tài thì quyền tự định đoạt của các bên cũng được coi là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL, công ước New York năm 1958…
1.3.2.1 Công ước New York 1958
Có thể nói, Công ước New York 1958 là Công ước quốc tế có tầm quan trọng bậc nhất đối với hoạt động trọng tài thương mại trên toàn cầu Giá trị của Công ước này ở chỗ cho phép một phán quyết trọng tài được tuyên phán một cách hợp lệ và hợp pháp tại một quốc gia nào đó sẽ được thi hành tại bất
kỳ nơi nào trên thế giới
Công ước New York 1958, mô phỏng những nguyên tắc đã có sẵn trong Công ước Geneva 1927, xác quyết những nguyên tắc chính yếu sau:
- Các quốc gia ký kết Công ước thừa nhận giá trị hiệu lực của một thỏa ước trọng tài đồng thời bảo đảm các toà án tư pháp của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện trong trường hợp các bên tranh chấp đã có một thỏa ước trọng tài;
- Các quốc gia ký kết bảo đảm việc thừa nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của mình một phán quyết trọng tài đã được tuyên phán từ một quốc gia ký kết khác
Trang 29Tóm lại, Công ước New York 1958 là một văn kiện quốc tế có ảnh hưởng lên toàn bộ việc công nhận và thi hành án các quyết định trọng tài nước ngoài Tính đến nay đã có 148 quốc gia ký kết và phê chuẩn Bất kỳ một quốc gia mong muốn các doanh nhân của nước mình tham gia vào thương mại toàn cầu đều phải tham gia vào Công ước này Việt Nam cũng tham gia Công ước New York và qua đó giúp tạo thuận lợi cho việc thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
1.3.2.2 Luật Mẫu của UNCITRAL
Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế ( gọi tắt là Luật mẫu) đã được Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1958 tại kỳ họp thứ 18 Ngày 7 tháng 7 năm 2006, tại kỳ họp thứ 39 của UNCITRAL, Ủy ban đã thông qua sửa đổi, bổ sung Luật mẫu Luật mẫu là một nền tảng vững chắc nhằm hướng tới mục tiêu hài hòa hóa và hoàn thiện các hệ thống pháp luật quốc gia, đồng thời thể hiện sự đồng thuận trên phạm vi toàn thế giới về những nguyên tắc và các nội dung quan trọng của phương thức trọng tài quốc tế [12, tr.41] Những nguyên tắc và giải pháp quy định trong luật mẫu đã đáp ứng được mong đợi của các bên tranh chấp như được lựa chọn một quy tắc tố tụng trọng tài hoặc lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài…Có thể kể tới như quy định tại Điều 19 cho phép các bên tự do thỏa thuận về thủ tục tố tụng mà Hội đồng trọng tài phải tiến hành, trên cơ sở đảm bảo tuân thủ một số quy định bắt buộc của pháp luật tố tụng Nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này thì Hội đồng trọng tài được phép tiến hành theo cách thức mà Hội đồng trọng tài cho
là thích hợp Bên cạnh quy định tại Điều 19, Luật mẫu còn có một số quy định tại Điều 20 về địa điểm tiến hành trọng tài và Điều 22 về ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt với trọng tài quốc tế Theo
đó, các bên được tự do thỏa thuận nơi tiến hành trọng tài và ngôn ngữ hoặc
Trang 30các ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng trọng tài Nếu các bên không có thỏa thuận thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định căn cứ vào tình tiết vụ việc, có tính đến sự thuận tiện cho các bên Như vậy, quyền tự do của các bên trong xác định quy tắc tố tụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trọng tài quốc
tế vì nó cho phép các bên lựa chọn hoặc điều chỉnh các quy tắc tố tụng tùy theo mong muốn và nhu cầu cụ thể của mình mà không bị hạn chế theo khuôn mẫu mang tính truyền thống trong pháp luật quốc gia
1.3.2.3 Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL
Quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL được Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc ban hành vào năm 1976, trên cơ sở có tham khảo ý kiến sâu rộng của nhiều tổ chức trọng tài và chuyên gia trong lĩnh vực này Đây là bộ quy tắc đầy đủ quy định về thành lập Hội đồng trọng tài tiến hành tố tụng trọng tài và ban hành quyết định trọng tài Nội dung của Quy tắc này luôn coi trọng vấn đề các bên được đối xử bình đẳng và bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, mỗi bên có được cơ hội đầy đủ để trình bày lý lẽ, bảo vệ quyền lợi của mình Những vấn đề cơ bản như thỏa thuận trọng tài, chỉ định trọng tài viên, địa điểm tiến hành trọng tài, ngôn ngữ trọng tài…đều được quy định theo hướng tôn trọng sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết nếu các bên không có thỏa thuận Hội đồng trọng tài phải áp dụng luật mà các bên lựa chọn cho nội dung tranh chấp, nếu không lựa chọn thì Hội đồng trọng tài sẽ áp dụng luật được xác định theo quy phạm xung đột pháp luật mà Hội đồng cho là được áp dụng trong trường hợp đó Quy định cụ thể về việc Hội đồng trọng tài chỉ tiến hành giải quyết tranh chấp theo lương tâm và lẽ phải, nếu được các bên cho phép
và nếu luật áp dụng cho tố tụng trọng tài cho phép áp dụng phương thức này
đã thể hiện cụ thể hóa hơn quyền tự do thỏa thuận cũng như tôn trọng tối đa ý
chí các bên trong tố tụng trọng tài [14, Điều 33, khoản 3]
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN HÀNH CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG THỎA THUẬN CỦA
CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật và Quy tắc trọng tài về tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài
2.1.1 Các quy định về lựa chọn hình thức trọng tài, trung tâm trọng tài và quy tắc trọng tài
Trong phương thức trọng tài thì thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất Bản chất của thỏa thuận thể hiện sự thống nhất ý chí, sự tự nguyện
và đồng thuận của các bên tham gia tranh chấp Điều cơ bản làm nên một thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên khi cùng nhau đưa tranh chấp ra giải quyết tại một tổ chức trọng tài nhất định Nội dung của thỏa thuận chính là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp, bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Có thể nói không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Để đảm bảo nhu cầu nếu các bên tranh chấp lựa chọn trung tâm trọng tài để giải quyết tranh chấp, một số trung tâm trọng tài đưa ra thỏa thuận trọng tài mẫu để các bên có thể
sử dụng Ví dụ như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) khuyến nghị các doanh
nghiệp đưa điều khoản trọng tài mẫu của VIAC vào hợp đồng như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết chung thẩm tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”
Tuy nhiên, không phải bất kỳ tranh chấp nào cũng thuộc thẩm quyền
Trang 32giải quyết của trọng tài Theo quy định của pháp luật nước ta thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài không theo phương thức loại trừ như nhiều nước trên thế giới mà được giới hạn trong phạm vi nhất định Theo Điều 2 Luật TTTM 2010, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Tuy vậy, với quy định như trên thì việc xác định thẩm quyền của trọng tài vẫn gây những khó khăn nhất định Bởi Luật TTTM không hề có quy định nào giải thích khái niệm “hoạt động thương mại” Vì vậy, khi vận dụng luật, nhiều ý kiến căn cứ vào quy định pháp luật có quan hệ gần nhất là Luật Thương mại năm 2005, luật này quy định “hoạt động thương mại” gồm các
“hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[ 3, Điều 3, khoản 1] Như vậy, có thể thấy phạm vi của hoạt động
thương mại rất rộng Nhưng vấn đề đặt ra là khái niệm trên chỉ được hiểu trong khuôn khổ Luật Thương mại năm 2005 Bên cạnh đó, Luật TTTM cũng không giải thích rõ khái niệm “bên có hoạt động thương mại” là thế nào và liệu bên đó phải thực hiện hoạt động thương mại một cách thường xuyên hay chỉ cần thực hiện hoạt động thương mại trong giao dịch xảy ra tranh chấp Ngoài ra, “tranh chấp khác” được Luật quy định giải quyết theo thủ tục trọng tài rất khó xác định trong pháp luật hiện hành của Việt Nam Các tranh chấp công ty có thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại hay không, thuộc loại tranh chấp hoạt động thương mại hay ít nhất một bên có hoạt động thương mại? Theo quy định tại Điều 2 Luật TTTM thì các thành viên/cổ đông này
Trang 33không phải là thương nhân, tuy họ cũng tham gia vào công việc đầu tư, quản
lý công ty nhưng bản thân họ không đăng ký kinh doanh Nếu hiểu hoạt động thương mại theo Luật thương mại 2005 thì việc góp vốn, mua cổ phần là hoạt động đầu tư, nhằm mục đích sinh lời [8, tr.11] Thiết nghĩ, Luật TTTM cần có văn bản hướng dẫn về Điều 2 của Luật để hiểu rõ và chi tiết hơn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Việt Nam cũng như hầu hết các nước đều yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có thể dễ dàng xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và quy tắc tố tụng nhất định Các bên được quyền thỏa thuận với nhau để lựa chọn hình thức trọng tài ( trọng tài quy chế hay trọng tài vụ việc) để giải quyết tranh chấp Nếu lựa chọn hình thức trọng tài vụ việc, các bên cần nêu rõ những yếu tố cơ bản của việc tiến hành trọng tài: thành lập Hội đồng trọng tài, thủ tục giải quyết tranh chấp…Nếu lựa chọn hình thức trọng tài quy chế, điều khoản trọng tài phải nêu rõ tên của tổ chức trọng tài có thẩm quyền hoặc quy tắc tố tụng trọng tài sẽ được áp dụng Quyền lựa chọn này không lệ thuộc vào nơi các bên tranh chấp có trụ sở, nơi có tài sản hay nơi phát sinh tranh chấp
Một trong những điểm mới của Luật TTTM 2010 là đã bỏ một trường
hợp thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi “không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung”[5, Điều 10,
khoản 4] Nếu ở trong trường hợp này thì Luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp Trong trường hợp không thỏa thuận được thì nguyên đơn có quyền được tự do lựa chọn tổ chức trọng tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình [2, Điều 43, khoản 5] Bên cạnh đó, nếu các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một trung
Trang 34tâm trọng tài cụ thể nhưng trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn trung tâm trọng tài khác; nếu không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện ra tòa án để giải quyết Như vậy, việc giảm bớt các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thay bằng giải pháp tháo gỡ đã giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, góp phần giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp cũng như thể hiện sự tôn trọng tối đa thỏa thuận của các bên tranh chấp Tuy nhiên, Luật TTTM còn chưa tính đến các trường hợp khó xác định thẩm quyền khác xảy ra khá nhiều trong thực tế như: Trường hợp các bên có thỏa thuận trung tâm trọng tài cụ thể nhưng lĩnh vực tranh chấp đó không thuộc phạm vi giải quyết quy định trong quy chế của trung tâm trọng tài đó; thỏa thuận trọng tài chỉ định một trung tâm trọng tài nhưng lại chọn quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài khác mà trung tâm trọng tài được chỉ định từ chối áp dụng giải quyết; các bên chọn cách thức giải quyết bằng cả tòa án lẫn trọng tài hoặc chỉ rõ nhiều trung tâm trọng tài và cách thức giải quyết trọng tài trong cùng một thỏa thuận trọng tài…[8, tr.12]
Bên cạnh đó, liên quan đến thỏa thuận trọng tài, lần đầu tiên pháp luật
về trọng tài thương mại ở nước ta đề cập đến lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng Theo Điều 17 Luật TTTM 2010, đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn có quyền lựa chọn trọng tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp Như vậy, quy định của Việt Nam cùng xu thế với các quốc gia ở chỗ bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bằng cách trao cho họ lựa chọn phương thức giải quyết ngay cả khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Nhà cung cấp hàng