Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, tình trạng không quốc tịch chủ yếu xảy ra với những người mà nhà nước nơi họ có quốc tịch trước đó đã không còn tồn tại trong khi không có một nhà
Trang 1NGUYỄN THU THẢO
CÔNG ƯỚC 1954 VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH VÀ KHẢ NĂNG VIỆT NAM
GIA NHẬP CÔNG ƯỚC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Phước Hiệp
HÀ NỘI – 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THU THẢO
Trang 3Qua quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn, tác giả xin được bày tỏ long biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến thầy PGS.TS Hoàng Phước Hiệp, thầy
đã tận trình chỉ bảo và cho tác giả những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tác giả thực hiện khóa luận này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Tổ bộ môn Công pháp quốc tế - Khoa pháp luật quốc tế, Khoa Sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội đã trang bị cho tác giả kiến thức trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đồng thời, tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những đồng nghiệp, những anh, chị trong Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực – Bộ Tư pháp cùng gia đình, và những người bạn đã chỉ dẫn, cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiến và tạo điều kiện để tác giả có thể hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất
Hà Nội, tháng 5 năm 2014 Người thực hiện
NGUYỄN THU THẢO
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 6
1.1 Khái niệm về Quốc tịch và người không quốc tịch trong Luật Quốc tế 6
1.1.1 Quy định về quốc tịch và người không quốc tịch trong luật quốc tế 6
1.2.2 Nguyên nhân phát sinh tình trạng người không quốc tịch 10
1.2 Nội dung pháp lý của quy chế người không quốc tịch 14
1.2.1 Quyền con người của người không quốc tịch 14
1.2.2 Quyền của người không quốc tịch tại nước cư trú 17
1.2.3 Nghĩa vụ của người không quốc tịch đối với nước cư trú 22
1.3 Hoạt động của quốc tế về vấn đề không quốc tịch trước khi thông qua Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch 23
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC 1954 VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 28
2.1 Tổng quan về Công ước 1954 28
2.1.1 Lý do ra đời 28
2.1.2 Cấu trúc kĩ thuật 29
2.2 Nội dung cơ bản của Công ước 30
2.2.1 Những điều khoản chung 30
2.2.2 Những điều khoản liên quan đến quy chế pháp lý của người không quốc tịch……….33
Trang 52.3 Kinh nghiệm của một số nước trong tham gia Công ước 41
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THAM GIA CÔNG ƯỚC 1954 VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 45
3.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc gia nhập Công ước 45
3.2 Thuận lợi và khó khăn khi tham gia Công ước 48
3.2.1 Một số thuận lợi khi Việt Nam gia nhập Công ước 1954 49
3.2.2 Những khó khăn khi Việt Nam gia nhập Công ước 1954 50
3.3 Mức độ tương thích của nội dung Công ước với các quy định của pháp luật Việt Nam 57
3.4 Các giải pháp hoàn thiện Luật Quốc tịch Việt Nam liên quan đến người không quốc tịch 63
KẾT LUẬN CHUNG 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử, tình trạng không quốc tịch được gắn với số phận của những người nô lệ hay những người sống trong các lãnh thổ bị chiếm đóng bởi nước ngoài
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, tình trạng không quốc tịch chủ yếu xảy ra với những người mà nhà nước nơi họ có quốc tịch trước đó đã không còn tồn tại trong khi không có một nhà nước nào kế thừa, hoặc với những người bị nhà nước của họ
từ chối không công nhận là công dân hoặc tước quyền công dân vì những lý do chính trị hay tôn giáo Một dạng khác thuộc về những người sinh ra ở những lãnh thổ tranh chấp tự chối bỏ vị thế công dân của đất nước nơi họ sinh ra vì những lý do chính trị Việc không nhận được sự bảo vệ pháp lý của đất nước nơi mình sinh ra đặt những người không quốc tịch vào hoàn cảnh đặc biệt dễ bị tổn thương Chính vì vậy, Liên Hợp Quốc đã sớm có những nỗ lực để bảo vệ và giúp đỡ nhóm người này Ngay trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Liên Hợp Quốc đã đưa vào một quy định (Điều 15), trong đó khẳng định quyền của tất cả mọi người được có quốc tịch, đồng thời khẳng định rằng không ai có thể bị tùy tiện tước bỏ quốc tịch hay từ chối quyền được thay đổi quốc tịch Trong những năm 1949 và
1950, vấn đề pháp điển hóa dưới hình thức một điều ước quốc tế quyền về quốc tịch
đã được đề xuất và thảo luận bởi Ủy ban Pháp luật quốc tế và Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên Hợp Quốc
Năm 1954, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về quy chế pháp lý của người không quốc tịch Công ước này đưa ra định nghĩa người không quốc tịch, khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ, giúp đỡ những người không quốc tịch như những người tỵ nạn, đồng thời quy định những tiêu chuẩn tối thiểu trong đối xử với người không quốc tịch mà những quốc gia đang cưu mang họ phải tuân thủ, liên quan đến các vấn đề như quy chế pháp lý, các quyền về động sản và bất động sản, các quyền về sở hữu nghệ thuật và sở hữu trí tuệ, quyền lập hội, quyền tiếp cận với tòa án, quyền tiếp cận với giáo dục và với các nguồn cứu trợ, nhà cửa, việc làm, tự
do đi lại Nhìn chung, Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên đối xử với những
Trang 7người không quốc tịch tương đương với quy chế của người nước ngoài, và trong một số trường hợp, tương đương với quy chế của công dân nước mình Công ước năm 1954 chính là cơ sở để Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn UNHCR cấp những giấy tờ đi lại cho người không quốc tịch
Tiếp theo Công ước năm 1954, vào năm 1961, Liên Hợp Quốc lại thông qua một công ước quốc tế nữa về quyền của nhóm này, đó là Công ước về giảm bớt tình trạng người không quốc tịch Điều 1 Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên cấp quốc tịch cho tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ nước mình mà không phụ thuộc vào quy chế pháp lý của cha, mẹ họ Điều này cũng cho phép các quốc gia thành viên quy định những điều kiện nhất định trong pháp luật với việc cấp quốc tịch cho những đối tượng đã nêu, cụ thể như quy định giới hạn về độ tuổi được xin cấp quốc tịch; thời hạn cư trú tối thiểu và tối đa trên lãnh thổ nước mình mà người xin cấp quốc tịch phải trải qua khi nộp đơn xin cấp quốc tịch; lý lịch tư pháp của người xin cấp quốc tịch Bên cạnh đó, Công ước còn bao gồm nhiều quy định khác tạo điều kiện cho việc cấp quốc tịch, qua đó nhằm giảm bớt tình trạng người không quốc tịch
Như vậy, có thể thấy, trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền của người không quốc tịch đã được quan tâm và chú trọng Ở nước ta từ trước tới nay, Đảng
và Nhà nước luôn quân tâm tới bảo vệ và thúc đẩy sự hưởng thụ các quyền của con người nói chung cũng như quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như người không quốc tịch nói riêng Trên thực tế, quyền của nhóm người không quốc tịch đã được thể hiện trong chính sách và pháp luật của nước ta Nhóm người không quốc tịch ngày càng được tạo điều kiện thuận lợi nhất để có thể hòa nhập với cuộc sống Mặc dù vậy, về cơ bản, những quy định về người không quốc tịch trong hệ thống pháp luật nước ta còn rất hạn chế, dẫn đến việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người này chưa thực sự hiệu quả
Để khắc phục hạn chế trên, Nghị quyết 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đưa ra chủ trương quan trọng là xây dựng và hoàn thiện
Trang 8pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, theo đó, một nhiệm vụ trọng tâm là củng cố cơ sở pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Ngoài ra, với tư cách là thành viên tích cực của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, Việt Nam không nên đứng ngoài vòng những Công ước tiêu chuẩn quốc tế quy định về quyền của những nhóm người dễ bị tổn thương nói chung cũng như người không quốc tịch nói riêng
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Công ước 1954 về quy chế người không
quốc tịch và khả năng Việt Nam gia nhập Công ước” là cần thiết, qua đó góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với tinh thần Hiến pháp mới là đề cao quyền con người
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Vấn đề không quốc tịch không phải là vấn đề mới đối với Việt Nam cũng như trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều cuộc hội thảo, bài viết, nhiều tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này như “Hội thảo: Quan điểm về người không quốc tịch theo luật quốc tế” được tổ chức bởi tổ chức tị nạn Liên Hợp Quốc UNHCR ngày 27-28/05/2010 tại Prato, Ý; Dự án nghiên cứu về tình trạng không quốc tịch: Nghiên cứu so sánh giữa tình trạng không quốc tịch và lợi ích của quyền công dân của tác giả Brad K Blitz và Maureen Lynch, Đại học Oxford Brookes Tổ chức UNHCR xuất bản cuốn Sổ tay cho người hùng biện về Quốc tịch và tình trạng không quốc tịch Ngoài ra, còn rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề không quốc tịch và Công ước
1954 về quy chế người không quốc tịch được đăng trên website của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR)
Tuy không phải là vấn đề mới nhưng tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu về tình trạng không quốc tịch còn tương đối ít, chưa có nhiều bài viết đi sâu nghiên cứu nội dung Công ước 1954 và mối tương quan với tình trạng người không quốc tịch tại Việt Nam, mới chỉ có những bài viết tìm hiểu về người không quốc tịch dưới góc độ pháp luật Việt Nam như bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Bắc về “Quy định
Trang 9của pháp luật Việt Nam về người không quốc tịch” đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2009; hay dưới góc độ Tư pháp quốc tế như “Luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch” đăng trên Tạp chí Luật học số 7/2006 cùng tác giả Cuốn sách Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Lao động – xã hội
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Giới thiệu về Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch, về hoàn cảnh ra đời cũng như quyền và nghĩa vụ của người không quốc tịch được đề cập theo Công ước Tổng hợp tình hình về vấn đề người không quốc tịch trên phạm vi
cả nước, hệ thống hóa các văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của người không quốc tịch trong hệ thống pháp luật Việt Nam Nhận xét về những khó khăn, thuận lợi cũng như mức độ tương thích của Công ước 1954 đối với pháp luật Việt Nam
Từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện Luật Quốc tịch Việt Nam nhằm nâng cao đảm bảo tối đa quyền đối với quốc tịch của người không quốc tịch, cũng như bảo đảm hệ thống pháp luật Việt Nam hoàn thiện theo định hướng Công ước quốc tế về quy chế người không quốc tịch
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề cụ thể mà mục đích đặt ra, Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định của Công ước 1954 để làm sáng rõ những vấn đề
cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người không quốc tịch; phương pháp so sánh luật học được sử dụng xuyên suốt trong khóa luận để so sánh, đối chiếu những quy định của Công ước 1954 với pháp luật về Quốc tịch của Việt Nam để qua đó tìm ra
Trang 10những điểm tương đồng và nhất là những điểm còn chưa tương thích để qua đó, đưa
ra những kiến nghị thực hiện Luật quốc tịch Việt Nam phù hợp với bối cảnh chung của luật pháp quốc tế, cũng như khả năng Việt Nam ra nhập Công ước
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài lời nói đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 03 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quy chế pháp lý của người không quốc tịch Chương 2: Nội dung cơ bản của Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch Chương 3: Việt Nam và vấn đề tham gia Công ước 1954 về quy chế người không
quốc tịch
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 1.1 Khái niệm về Quốc tịch và người không quốc tịch trong Luật Quốc tế
1.1.1 Quy định về quốc tịch và người không quốc tịch trong luật quốc tế
Một yếu tố quan trọng góp phần cấu tạo nên quốc gia là cư dân sống trên lãnh thổ quốc gia và việc tổ chức Nhà nước có mối quan hệ qua lại với cư dân đó Mỗi quốc gia có những tập hợp dân cư khác nhau và có mối quan hệ của dân với Nhà nước cũng rất khác nhau Mối quan hệ phức tạp này trong khoa học pháp lý
được nghiên cứu dưới phạm trù quốc tịch
Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân
Khái niệm Quốc tịch ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản Khái niệm này xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản Thông thường, người nào cũng có một tổ quốc và từ khi sinh ra đều mang một quốc tịch nhất định Đây không chỉ là vấn đề tình cảm và tâm lý mà còn là mối liên
hệ giữa cá nhân đó với nhà nước Mối liên hệ này xác định địa vị pháp lý của họ Trong các xã hội khác nhau, thời kỳ lịch sử khác nhau, công dân sẽ có địa vị pháp lý khác nhau Địa vị pháp lý đó được củng cố và hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn phát triển của xã hội Bởi vậy, thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp
lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với một Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về quốc tịch, do vậy, Luật quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về
Trang 12nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó Có thể nói, quyền có quốc tịch là kim chỉ nam xuyên suốt và là cơ
sở đầu tiên cho việc thực thi các quyền công dân khác
Theo từ điển Oxford của Anh: Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào
một quốc gia nào đó Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì “quốc tịch là
sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước” Còn các chuyên gia Mỹ thì cho rằng quốc tịch là một
đặc tính phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó
Luật Quốc tịch Lào khẳng định: Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ pháp luật và
chính trị, ràng buộc một người nào đó với Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào
Ngoài quan điểm về quốc tịch của một số quốc gia đã nêu, thì trong khoa học luật quốc tế hiện nay, cũng có nhiều khái niệm về quốc tịch đã được đưa ra như:
Quốc tịch là “Sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia”1
.Tòa án Công lý quốc tế định nghĩa về quốc tịch trong Vụ án Nottebolm năm 1955
“là một sự ràng buộc pháp lý với nền tảng là một sự gắn bó xã hội, một mối liên hệ thực sự của sự tồn tại, những lợi ích và tình cảm, cùng với các quyền và nghĩa vụ hai chiều của cá nhân, được điều chỉnh trực tiếp bởi luật pháp hoặc là kết quả hành động của chính quyền ”2 Điều 1 Công ước La Hay năm 1930 về một số vấn đề cụ
thể liên quan đến xung đột Luật quốc tịch quy định “là trách nhiệm của mỗi quốc gia quyết định theo luật pháp của mình người nào là công dân của nước mình Luật này được các quốc gia khác công nhận trong giới hạn nó phù hợp với các điều ước
và tập quán quốc tế, các nguyên tắc của pháp luật về quốc tịch được công nhận chung” Sự ràng buộc về quốc tịch trao cho cá nhân các quyền và nghĩa vụ mà một
quốc gia dành cho công dân của mình
1 Giải thích Thuật ngữ về di cư – IOM 2011
2 http://www.icj-cij.org/
Trang 13Bên cạnh mối quan hệ có tính chất hai chiều giữa nhà nước và công dân đó, thì quyền con người đối với quốc tịch cũng được ghi nhận Điều 15 Tuyên ngôn
nhân quyền thế giới năm 1948 nêu rõ: “Mọi người đều có quyền có một quốc tịch Không có ai có thể bị tước bỏ quốc tịch một cách tùy tiện hoặc bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch.” Công ước Nhân quyền châu Mỹ 1969 cũng quy định: “Mọi người đều có quyền có một quốc tịch Mọi người có quyền có quốc tịch của nước
mà trên lãnh thổ của nước đó người đó được sinh ra, nếu người này không có quyền có bất cứ quốc tịch nào khác Không ai có thể bị tước quốc tịch một cách tùy tiện hoặc bị tước quyền thay đổi quốc tịch”
Quốc tịch hoặc quyền công dân đã được miêu tả như những quyền cơ bản của một con người, trên thực tế là quyền có những quyền khác Khi xem xét từ góc
độ này, hai khía cạnh của quyền công dân sẽ trở nên rõ ràng, thứ nhất, quyền công dân là một quyền, thứ hai, việc thực hiện quyền này là tiền đề cần thiết để thực hiện các quyền khác Quốc tịch tạo dựng mối liên hệ pháp lý giữa một cá nhân với một quốc gia là cơ sở cho một số quyền cụ thể, bao gồm quyền được Nhà nước cung cấp
sự bảo hộ và đại diện ngoại giao cho cá nhân ở cấp độ quốc tế Hơn nữa, việc thực hiện quốc tịch hiệu quả là một nhân tố tạo ổn định và gắn bó, làm giảm nguy cơ di dân hoặc tình trạng chuyển đổi dân cư Nghị quyết số 50/152 của Đại hội đồng Liên
Hợp Quốc ngày 09/2/1996 kêu gọi các nước “thông qua luật pháp về quốc tịch mới mục đích làm giảm tình trạng không quốc tịch, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế”3 Khi mà một số quyền thường gắn với quốc tịch được mở rộng, như quyền bầu cử, việc làm, quyền cư trú, sở hữu tài sản… Quốc tịch và khả năng thực hiện những quyền gắn liền với quốc tịch đóng vai trò như các nhân tố tạo
ổn định và trợ giúp trong việc phòng ngừa sự di cư ngoài ý muốn của các nước
Trái ngược với việc có quốc tịch và được hưởng các quyền lợi cơ bản của công dân, được nhà nước bảo hộ là tình trạng không quốc tịch Tình trạng không quốc tịch được coi là việc một cá nhân không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào Tình trạng không quốc tịch là một vấn đề lớn, theo thống kê của Cao ủy
3 http://www.un.org
Trang 14Liên Hợp Quốc về Người tị nạn UNHCR tính đến năm 2011 có ảnh hưởng đến khoảng 12 triệu người không quốc tịch trên toàn thế giới.4
Tình trạng này không những không giảm đi mà ngày càng có khả năng lan rộng Tình trạng không quốc tịch cũng không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề con người Hậu quả pháp lý của tình trạng không quốc tịch là người không quốc tịch không được hưởng các quyền cơ bản của con người như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền được làm việc, mua nhà hoặc thuê nhà, học hành, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm xã hội, hưu trí, hoặc thậm chí mở tài khoản ngân hàng, kết hôn hợp pháp, không thể di chuyển
tự do giữa các quốc gia… Đáng lo ngại hơn, những người cha, người mẹ không quốc tịch sẽ không thể đăng ký khai sinh cho con cái của họ, phải đối diện với nguy
cơ bị giam giữ kéo dài hoặc vô thời hạn hoặc bị đẩy chuyển giữa các quốc gia do không chứng minh được nguồn gốc, nhân thân của mình Hậu quả của tình trạng không quốc tịch này thậm chí có thể dẫn tới sự tuyệt vọng và có thể trở nên căng thẳng dễ dẫn tới xung đột, bạo động, di cư cưỡng bức và bất ổn an ninh
Theo ông Antonio Guterres, Cao ủy viên Liên Hợp Quốc về Người tị nạn,
“những người không quốc tịch đang tuyệt vọng trông chờ sự hỗ trợ bởi họ đang sống trong cơn ác mộng của tình trạng lấp lửng, mơ hồ pháp lý Điều này biến những người không quốc tịch thành những người xa lạ nhất trên thế giới” 5
Một người không quốc tịch Campuchia sau 35 năm cư trú ổn định tại Việt
Nam và đã được cho nhập quốc tịch Việt Nam vào tháng 7/2012 đã nói: “Tôi chỉ có một mong muốn đơn giản đó là khi tôi chết, tôi có thể có được giấy chứng tử, để chứng minh rằng minh đã từng tồn tại”.(ibid) Một người Kibera, Kenya cũng nhận thức được rằng: “Không quốc tịch có thể là điều tồi tệ nhất xảy ra với nhân loại Nghĩa là bạn không phải là một thực thể, bạn không tồn tại, bạn không được chu cấp gì hết, bạn chẳng được coi là gì.” 6
Trang 151.2.2 Nguyên nhân phát sinh tình trạng người không quốc tịch
Pháp luật của mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về quốc tịch Việc xét quốc tịch hầu hết dựa trên quy định của nước nơi một người được sinh ra, hoặc nước mà cha mẹ của người này là công dân vào thời điểm sinh ra họ Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đương nhiên được hưởng quốc tịch của một quốc gia theo nội luật của quốc gia đó, điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều người không được quốc gia nào thừa nhận là công dân của mình theo pháp luật của nước đó
Khái niệm về người không quốc tịch được quy định tại Điều 1 Công ước năm 1954 về Quy chế người không quốc tịch: Theo mục đích của Công ước này, thuật ngữ “người không quốc tịch” dùng để chỉ một người không được xem là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo quy định của pháp luật quốc gia đó
Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng không quốc tịch:
Tình trạng không quốc tịch có thể là hệ quả của một loạt các nguyên nhân bao gồm:
- Sự tan rã của quốc gia: Khi giành được độc lập, nhà nước mới phải xác định
số công dân của mình Trước đây, tiêu chuẩn về quốc tịch thường dựa vào sắc tộc, điều này dẫn đến tình trạng nhiều người bị loại trừ Say này, pháp luật thường dựa vào quốc tịch quốc, vì vậy, những đứa trẻ sinh ra cũng đều không có quốc tịch như cha mẹ
Trong những năm 1990 của thế kỷ trước, hơn một nửa số người không quốc tịch trên thế giới đã mất quốc tịch của mình do sự tan rã của quốc gia mẹ đẻ Sự giải thể không kiểm soát được của Liên bang Xô-viết và Liên bang Nam Tư đã tạo nên luồng di cư trong và ngoài nước, đã để lại hậu quả hàng trăm ngàn người không quốc tịch ở Đông Âu và Trung Á Hai mươi năm sau, ở khu vực này vẫn tồn tại hàng chục nghìn người không quốc tịch hoặc có nguy cơ trở thành người không quốc tịch
Kyrgyzstan đã thông qua những cải cách có ý nghĩa vào năm 2007, cho phép hàng ngàn người có quốc tịch Kyrgyzstan Trong hai thập kỷ sau khi Kyrgyzstan độc
Trang 16lập, có khoảng 25.000 người vẫn còn trong tình không quốc tịch, bao gồm cả nhiều dân tộc thiểu số đã di cư đến nước này khi còn là một phần lãnh thổ Liên Xô, bởi vì
họ không có quốc tịch Kyrgyzstan theo Luật quốc tịch đầu tiên của nước này.7
- Chuyển giao lãnh thổ (gồm cả việc thành lập, giải thể, thừa kế của một chính phủ/nhà nước) Trong những năm 1990, một phần hai tổng số người không quốc tịch trên toàn thế giới đã bị mất quốc tịch do sự tan rã của các nhà nước Liên bang Xô-viết tan rã, sự giải thể Liên bang Nam Tư cũng góp phần tạo ra hàng ngàn người không quốc tịch ở Đông Âu và Trung Á Hai mươi năm sau giai đoạn trên, vẫn còn hàng chục nghìn người phải chịu và có nguy cơ không quốc tịch tại khu vực này
Vấn đề không quốc tịch cũng xuất hiện trong tình huống kế thừa quốc gia như trường hợp của Liên bang Tiệp Khắc trước đây khi chia thành hai nước, Séc và Slovakia Nếu người dân không xuất trình được chứng cứ cho thấy họ sẽ kế thừa quốc tịch nước nào, người đó sẽ trở thành người không quốc tịch Hoặc như trường hợp ra đời của nước Nam Sudan mới đây, người dân vẫn chưa biết rằng luật quốc tịch được thực hiện như thế nào ở cả miền Bắc và Nam Sudan8
;
- Hậu thuộc địa: Năm 1997, lãnh thổ Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc Thời gian đầu, nhiều người dân vẫn còn nghi ngại nên rất ít người nhận hộ chiếu Hồng Kông (quốc tịch Trung Quốc) Trong khi nước Anh cũng không muốn số người còn lại trở thành công dân Anh, nhưng lại không muốn để họ trở thành người không quốc tịch, vì vậy, người Anh đã nghĩ ra loại hộ chiếu cấp cho họ là “công dân Anh hải ngoại” (British National Overseas – BNO) Những người mang BNO không được tự do trở về Anh cư trú, không được quyền bầu cử, ứng cử ở Anh, nhiều nước không công nhận loại hộ chiếu BNO, không cấp visa nhập cảnh cho loại hộ chiếu này Vì vậy, sau một thời gian, những người mang BNO nhận ra rằng họ không có quyền công dân của nước nào, chẳng khác gì người không quốc tịch, và
7 http://www.unhcr.org
8 http://www.unhcr.org
Trang 17họ bắt đầu chuyển sang đăng ký nhận quốc tịch Trung Quốc để được cấp hộ chiếu Hồng Kông
- Tự động mất quốc tịch theo quy định của pháp luật (ví dụ sau một nghị định năm 1980 của chính quyền Iraq dưới thời Tổng thống Suddam Hussein, người Faili Kurds đã tự động không còn được coi là công dân của Iraq trong khi đó họ không
có quốc tịch nào khác)
- Xung đột pháp luật (ví dụ trường hợp pháp luật của nước nơi đứa trẻ sinh ra cấp quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống Jus sanguinis, trong khi đó cha mẹ của đứa trẻ lại mang quốc tịch của nước cấp quốc tịch theo nơi sinh Jus soli, do vậy mà trẻ sinh ra có thể rơi vào trình trạng không quốc tịch
Tại Brazil, luật cũ về quốc tịch của Brazil quy định trẻ em là con của công dân Brazil sống ở nước ngoài phải cư trú tại Brazil mới có quốc tịch Brazil Quy định này
đã tạo ra tình trạng không quốc tịch cho trẻ em được sinh ra ở những nước cấp quốc tịch theo nguyên tắc nơi sinh (jus soli) Năm 2007, Brazil đã sửa đổi Hiến pháp cho phép trẻ em là công của công dân Brazil ở nước ngoài được có quốc tịch Brazil Luật
áp dụng hồi tố và đã giải quyết được 200.000 trường hợp không quốc tịch.9
- Ở nhiều nước, pháp luật chỉ công nhận một quốc tịch, nên người nước ngoài sống trên lãnh thổ nước này, muốn nhập quốc tịch sở tại sẽ phải tuyên bố từ bỏ quốc tịch hoặc xin phép nước mà người đó mang quốc tịch được thôi quốc tịch, như là một điều kiện tiên quyết để có quốc tịch mới Trong khi đã mất quốc tịch gốc, chờ làm thủ tục để nhập quốc tịch mới, do vi phạm pháp luật hoặc không còn đáp ứng đủ điều kiện nhập quốc tịch nước đang cư trú nữa, cũng tạo ra nguy cơ không quốc tịch
- Luật pháp về hôn nhân hoặc sự phân biệt đối xử Trên thế giới hiện vẫn còn khoảng 3010 nước quy định chỉ nam giới mới có quyền chuyển quốc tịch cho con cái Do đó, con riêng của những phụ nữ nước này sẽ không nhận được quốc tịch của nước mà người phụ nữ đó mang quốc tịch
9 http://www.unhcr.org
10 http://www.unhcr.org
Trang 18- Bị tước quốc tịch theo các quyết định hành chính hoặc từ bỏ quốc tịch (từ chối sự bảo hộ của nước mà người đó mang quốc tịch)
- Thủ tục hành chính, thiếu đăng ký khai sinh;
- Là người dân tộc thiểu số;
- Lánh nạn do chiến tranh, thiên tai, biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường
Người không quốc tịch de jure và de facto
Người không quốc tịch thường được phân ra thành người không quốc tịch
theo luật pháp (de jure) và người không quốc tịch trên thực tế (de facto)
- Người không quốc tịch theo luật pháp (de jure) như Công ước 1954 về quy chế pháp lý người không quốc tịch đã định nghĩa là những người đương nhiên không được hưởng quốc tịch theo quy định của luật pháp bất cứ quốc gia nào, (người không quốc tịch de jure còn được gọi là người không quốc tịch trên danh nghĩa hoặc người không quốc tịch theo pháp luật hiện hành)
- Người không quốc tịch trên thực tế (de facto) là những người có thể có một quốc tịch trên danh nghĩa, những người này ở ngoài quốc gia mà họ mang quốc tịch, và quốc tịch này không hiệu quả bởi họ không được nhà nước bảo đảm các quyền cơ bản của công dân Xét dưới một khía cạnh khác, người không quốc tịch trên thực tế là nạn nhân của sự đàn áp của Nhà nước Trong khi đó, người không quốc tịch de jure chỉ là kết quả của lỗ hổng pháp luật của các nhà lập pháp để lại mà
họ rơi vào Nên trên thực tế, vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa những người không quốc tịch de facto và de jure
Cuối những năm 90 của Thế kỷ trước, nhiều người từ Thái Lan nhập cảnh trái phép vào Nhật Bản, tuy nhiên những người này lại không có quốc tịch Thái Lan bởi cha mẹ họ là những “người tị nạn Đông Dương” lánh nạn sang Thái Lan để tránh cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất giai đoạn 1946 – 1954 Hầu hết cha mẹ của những người này có nguồn gốc là người Đông Dương Những người này có thể có quốc tịch của một nước Đông Dương theo huyết thống (jus
Trang 19sanguinis) Nhưng do chiến tranh kéo dài, phần nhiều cha mẹ của những người này
đã chết tại Thái Lan và cũng không kịp cho con cái mình những thông tin chi tiết về nơi sinh của họ, hoặc thậm chí không còn tìm lại được người thân tại quê hương Chính vì vây, con cái của những người này gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là không thể tìm lại nguồn gốc, nơi sinh của cha mẹ để có thể cố gắng tìm kiếm lại cái giấy tờ pháp lý có liên quan về thân thế của họ Thêm vào đó, nhiều giấy tờ hành chính đã bị thất lạc trong thời hậu chiến nên cũng không có biên bản hoặc giấy tờ chính thức hoặc giấy khai sinh nào được lưu giữ lại để chứng minh cho sự tồn tại của con csi họ Trong trường hợp này, con cái của những người tị nạn Đông Dương
dù có cung cấp thông tin bố mẹ là người của một nước Đông Dương nào đó, nhưng
vô cùng khó khăn, thậm chí là không thể tìm lại được bằng chứng chứng minh mối liên hệ với quốc gia nơi cha mẹ họ sinh ra hoặc đã có quốc tịch Những người từ Thái Lan đến Nhật Bản này được gọi là người không quốc tịch de facto.11
1.2 Nội dung pháp lý của quy chế người không quốc tịch
1.2.1 Quyền con người của người không quốc tịch
Quan điểm chung của cộng đồng quốc tế ngày nay về quyền con người thể hiện trên một số vấn đề cơ bản như tầm quan trọng của quyền con người đối với mỗi cá nhân, quốc gia, dân tộc; thống nhất về những giá trị phổ biến của quyền con người; không phân biệt đối xử trong thực thi chính sách quốc gia về quyền con người v.v…
Cùng với sự ra đời của Hiến chương Liên Hợp Quốc, quyền con người đã và đang trở thành một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong đời sống chính trị của cộng đồng quốc tế Cùng với Hiến chương Liên Hợp Quốc, cho đến nay cộng đồng quốc tế đã thông qua hơn 50 Công ước về quyền con người12 Bên cạnh tổ chức nhân quyền của Liên Hợp Quốc, ở các châu lục đã hình thành tổ chức nhân quyền khu vực Nhân quyền đã là chủ đề của nhiều hội nghị quốc tế quan
11 http://www.unhcr.org
12 http://www.un.org
Trang 20trọng, bao gồm cả hội nghị thượng đỉnh Ở đa số các quốc gia hiện nay đã có tổ chức nhân quyền
Vấn đề nhân quyền đặt ra đối với tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, giàu nghèo, quốc tịch… chính vì vậy, những quyền đối với người không quốc tịch cũng được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội mà người đó tham gia Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quyền con người trên lĩnh vực dân sự, chính trị: Theo quy định của
Công ước nhân quyền năm 1966, thì con người – không phân biệt nguồn gốc, tôn giáo, quốc tịch… đều được hưởng các quyền và tự do cơ bản sau đây:
- Tất cả mọi người đều có quyền được sống (trừ án tử hình theo pháp luật)
- Tất cả mọi người kể cả những người bị tước tự do đều có quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng các hình phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình
- Tất cả mọi người đều có quyền được đối xử bình đẳn, không bị phân biệt đối
xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội
- Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
- Tất cả mọi người đều có quyền không bị xâm phạm vô cớ về chỗ ở, bí mật thư tín và đời tư
- Việc hạn chế các quyền tự do bất khả xâm phạm và bí mật đời tư phải được pháp luật quy định và chỉ nhằm tôn trọng các quyền và uy tín của người khác nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức
- Ngoài những quyền cá nhân, cộng đồng quốc tế còn quan tâm đặc biệt tới quyền của các nhóm xác hội dễ bị tổn thương và thiệt thòi như quyền của những người khuyết tât, thiểu số, người nhập cư, đặc biệt là quyền của trẻ em và phụ nữ
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định nhà nước và xã hội phải bảm đảm tốt nhất lợi ích cho trẻ em
Trang 21- Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ quy định nguyên tắc bình đẳng nam – nữ phải được Hiến chương ghi nhận và bảo đảm trong thực tế
Thứ hai, quyền của người không quốc tịch trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội được cộng đồng quốc tế thống nhất như sau:
- Mọi người đều có quyền làm việc Nhà nước phải có các biện pháp thích hợp
để bảo đảm quyền này
- Mọi người đều được trả lương/thù lao như nhau cho những công việc như nhau
- Mọi người đều có quyền thành lập và gia nhập công đoàn
- Mọi người đều được hưởng điều kiện an sinh – xã hội và bảo hiểm xã hội
- Mọi người đều có quyền hưởng một mức sống thỏa đáng (về ăn, mặc và nhà ở) cho bản thân và gia đình
- Mọi người đều có quyền đạt tới một tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể được
Về quyền được hưởng một nền giáo dục tiến bộ, cộng đồng quốc tế thỏa thuận rằng, giáo dục phải hướng vào việc phát triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân phẩm, tăng cường sự tôn trọng các quyền con người và những quyền tự do cơ bản Giáo dục tiểu học là bắt buộc, phổ cập và không mất tiền đối với tất cả mọi người
Về quyền của mọi người được tham gia và hưởng thụ các thành quả phát triển văn hóa, khoa học, cộng đồng quốc tế thống nhất: mọi người đều có quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, được hưởng các lợi ích của sự tiến bộ khoa học, được tự do nghiên cứu và sang tạo khoa học, nghệ thuật
Khác với việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không đòi hỏi phải bảo đảm ngay lập tức và chỉ bằng các
Trang 22biện pháp pháp luật, mà còn cần phải sử dụng nhiều biện pháp, bao gồm cả biện pháp kinh tế, khoa học kỹ thuật
Nói tóm lại, xét về khía cạnh quyền con người của người không quốc tịch, thì người không quốc tịch được cộng đồng quốc tế thừa nhận các quyền cơ bản như đối với những người có quốc tịch là công dân của một nước bất kỳ
1.2.2 Quyền của người không quốc tịch tại nước cư trú
Việc mỗi nước ghi nhận và có biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện quyền của người không quốc tịch là khác nhau dựa vào điều kiện và tình hình thực tế tại mỗi nước Trong đó, quyền dành cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp khác
so với người không quốc tịch cư trú bất hợp pháp; quyền dành cho người không quốc tịch cư trú tại nước thành viên của các Công ước quốc tế về người không quốc tịch khác quyền cho những người này tại nước không phải là thành viên công ước Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, chỉ đề cập đến quyền dành cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của quốc gia thành viên các Công ước quốc
tế về người không quốc tịch Theo đó, trên cơ sở Công ước về quyền dân sự và chính trị năm 1966, đặc biệt là Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch,
có thể khái quát người không quốc tịch được hưởng các quyền cơ bản sau tại nước người đó cư trú:
a Quyền được đối xử ngang bằng với những người nước ngoài khác
Hiện nay, nhiều quốc gia dành cho người không quốc tịch một quy chế pháp lý phù hợp với địa vị của họ Chế độ tối huệ quốc là chế độ pháp lý thường được các quốc gia áp dụng đối với người không quốc tịch Nghĩa là, quốc gia dành
sự đối xử với người nước ngoài như thế nào, thì áp dụng như thế đối với người không quốc tịch
Pháp luật của một số nước như Liên bang Nga, Belorus, Hungary, Ba Lan đều quy định rõ địa vị pháp lý của người không quốc tịch Thực tế, do hoàn cảnh chiến tranh, nên sau thế chiến thứ hai, ở nhiều quốc gia xuất hiện tình trạng người không quốc tịch Để bảo đảm quyền sống và các quyền tự do khác cho họ, pháp luật
Trang 23của nhiều nước coi họ như “người nước ngoài” để phân biệt với công dân của mình
và từ đó xác định cho họ một quy chế pháp lý tương ứng (nghĩa là người không có quốc tịch của quốc gia nơi họ cư trú – đây cũng là quan điểm của Việt Nam trong chính sách quốc tịch nói chung)
b Quyền hôn nhân gia đình được tôn trọng
Theo pháp luật quốc tế, người không quốc tịch được hưởng quyền tự do hôn nhân, gia đình và quyền này phải được các quốc gia tôn trọng Theo đó, trong trường hợp này đã được hưởng các quyền về hôn nhân và gia đình trước khi trở thành người không quốc tịch, thì các quyền này vẫn được duy trì với các lợi ích mà người đó được hưởng theo pháp luật của quốc gia đã phát sinh quan hệ hôn nhân gia đình đó Ví dụ, một người không quốc tịch, trước khi vào sinh sống tại Việt Nam thì người đó có quan hệ hôn nhân gia đình tại Lào, theo pháp luật của Lào Thì sau khi người đó trở thành người không quốc tịch và vào Việt Nam sinh sống, thì các quyền hôn nhân gia đình đó vẫn được công nhận, được tôn trọng và tiếp tục tồn tại
Thực tế hiện nay cũng cho thấy, một số trường hợp công dân Việt Nam xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài Họ đã được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng vì lý do nào đó họ chưa được nước ngoài cho nhập quốc tich, như vậy, họ trở thành người không quốc tịch Nhưng người này trước đây đã có vợ, con tại Việt Nam, thì hiện nay mặc dù họ không còn là công dân Việt Nam, nhưng các quan hệ hôn nhân gia đình của họ tại Việt Nam vẫn tồn tại, nghĩa là họ vẫn duy trì quan hệ vợ/chồng, cha/mẹ con đối với công dân Việt Nam ở trong nước
c Quyền sở hữu tài sản (động sản và bất động sản)
Thực tiễn tư pháp quốc tế cho thấy, do duy trì các chế độ khác nhau về sở hữu và nền kinh tế, nên ở nhiều nước dẫn đến xung đột pháp luật liên quan đến quyền
sở hữu của cá nhân Nhiều nước công nhận quyền sở hữu tài sản (động sản, bất động sản) của người nước ngoài, cũng có những nước không công nhận quyền này Do vậy, Công ước 1954 khuyến cáo rằng, các quốc gia thành viên nên dành cho người không
Trang 24quốc tịch sự đối xử càng thuận lợi càng tốt và trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không kém thuận lợi hơn sự đối xử được dành cho người nước ngoài nói chung trong hoàn cảnh như nhau, liên quan đến quyền sở hữu tài sản (động sản, bất động sản) và các quyền khác gắn liền với tài sản, cũng như quyền giao kết hợp đồng liên quan dến tài sản đó Đây thực chất cũng là chế độ tối huệ quốc mà cộng đồng quốc tế khuyến cáo các quốc gia thành viên nên áp dụng đối với người không quốc tịch
Hẳn rằng, những quyền sở hữu tài sản của người không quốc tịch có thể ở mức độ thấp hơn so với công dân của quốc gia sở tại Nhưng sự thấp hơn này cũng không bị coi là phân biệt đối xử Bởi chế độ pháp lý tối huệ quốc mà quốc gia dành cho người nước ngoài nói chung cũng đã được áp dụng với người không quốc tịch trong quan hệ sở hữu tài sản (động sản, bất động sản)
Liên hệ với thực tiễn này ở một số nước cho thấy, pháp luật các nước thường không phân biệt công dân nước ngoài hay người không quốc tịch trong mối tương quan với quyền sở hữu tài sản Nghĩa là, ở đó, người nước ngoài (công dân nước ngoài) và người không quốc tịch được hưởng ngang nhau quyền sở hữu tài sản, cũng như quyền giao kết hợp đồng liên quan đến tài sản đó Luật của Liên bang Nga, Belorus, Hungary đều quy định theo hướng bảo đảm cho người không quốc tịch có quyền sở hữu tài sản ngang bằng với công dân nước ngoài
d Quyền tiếp cận tòa án
Đây là một trong những quyền hết sức quan trọng của người không quốc tịch Thực tiễn cho thấy, không phải bao giờ và ở đâu người không quốc tịch cũng có thể được bảo đảm quyền này Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do bảo đảm trật tự công cộng, nhiều nước có những quy định hạn chế hơn quyền tiếp cận tòa án đối với người nước ngoài nói chung, người không quốc tịch nói riêng, tại tòa án nước đó Biểu hiện rõ nhất là quy định về việc đặt cọc thi hành án hoặc cược án phí
Nhằm bảo đảm quyền tiếp cận tòa án của người không quốc tịch, luật pháp quốc tế khuyến cáo các quốc gia thành viên nên dành sự quan tâm, tôn trọng quyền
tự do tiếp cận tòa án của người không quốc tịch Quyền tiếp cận tòa án của người
Trang 25không quốc tịch phải được mọi quốc gia thành viên công nhận và dành sự đối xử thuận lợi như nhau
Yêu cầu tối thiểu đối với quyền tiếp cận tòa án là người không quốc tịch phải được hưởng trên lãnh thổ quốc gia thành viên nơi người đó thường trú sự đối xử tương tự như công dân của nước đó, kể cả sự trợ giúp pháp lý, miễn tiền cược hoặc tiền đặt cọc thi hành án Đây là những bảo đảm quan trọng để người không quốc tịch có thể tự do liên hệ với tòa án, bảo vệ các quyền và lợi ích của mình mỗi khi bị xâm hại
Thực tiễn tư pháp ở một số quốc gia cho thấy, tiền đặt cược đối với việc thi hành án hoặc cược án phí thường rất cao và chủ yếu áp dụng đối với người nước ngoài Trong nhiều trường hợp, người nước ngoài khó có thể đáp ứng được yêu cầu
đó Cho nên khả năng tiếp cận với tòa án là rất khó khăn
e Các quyền lao động, an sinh, phúc lợi xã hội
Quyền lao động được trả lương là nhu cầu tối thiểu của con người Công ước
1954 (Điều 17) khuyến cáo quốc gia thành viên tạo sự đối xử càng thuận lợi càng tốt đối với người không quốc tịch, trên cơ sở ngang bằng hoặc sự đối xử dành cho những người nước ngoài khác trong lĩnh vực lao động được trả lương Tất nhiên, nếu pháp luật quốc gia sở tại đưa ra một số hạn chế liên quan đến một số ngành nghề vì lý do an ninh quốc phòng hoặc trật tự công cộng, thì hạn chế này cũng được
áp dụng đối với người nước ngoài nói chung
Cùng với việc được bảo đảm quyền lao động có trả lương, người không quốc tịch cũng được khuyến cáo bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia các ngành nghề sản xuất, kinh doanh hợp pháp khác Có thể nói, đây là sự thừa nhận ở mức độ cao quyền làm việc, lao động, tự do kinh doanh của người không quốc tịch, trên cơ sở ngang bằng như với những người nước ngoài khác trên lãnh thổ quốc gia sở tại Chúng ta đều biết, do tình trạng lao động dư thừa, không bố trí được việc làm, khả năng phát triển ngành nghề hạn chế , nên nhiều
quốc gia coi vấn đề có việc làm là “độc quyền” của công dân/tổ chức trong nước
Trang 26Từ đó, đưa ra những hạn chế nhất định đối với người nước ngoài nói chung, người không quốc tịch nói riêng
Tuy nhiên hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, nhu cầu tranh thủ lao động tại chỗ, nhất là lao động có tay nghề cao, để giảm thiểu chi phí (so với lao động nhập khẩu) luôn là vấn đề được các quốc gia quan tâm Vì thế, trường hợp người không quốc tịch được đào tạo, có tay nghề cao và trình độ phù hợp, thì luôn có cơ hội được bảo đảm việc làm tại quốc gia sở tại Ở mức độ nào đó, quyền này của người không quốc tịch được bảo đảm ngang bằng với công dân quốc gia sở tại (trong việc hưởng lương như nhau, ưu đãi như nhau )
f Quyền được cấp các giấy tờ cá nhân
Một trong những hạn chế lớn nhất của người không quốc tịch là ở chỗ, do không là công dân của bất kỳ quốc gia nào, cho nên người đó hầu như không có bất
kỳ giấy tờ cá nhân nào có giá trị pháp lý để chứng minh về thân phận của mình Do
đó, yêu cầu bức thiết đặt ra là khi đã chấp nhận cho cư trú trên lãnh thổ của mình, thì quốc gia cần nhanh chóng cấp cho họ giấy tờ chứng minh phù hợp Giấy tờ chứng minh sẽ giúp họ thuận lợi trong các quan hệ, giao dịch tại nơi cư trú, tạo tiền
đề để họ thực hiện các quyền và lợi ích của mình theo pháp luật nước sở tại
Bên cạnh đó, người không quốc tịch cũng là một con người, có nhu cầu đi lại, xuất nhập cảnh thông thường bao người khác Do đó, họ cần có giấy tờ thông hành để xuất nhập cảnh Quốc gia nơi họ cư trú cần tạo thuận lợi cho họ, cấp giấy tờ thông hành để giúp họ thực hiện quyền tự do đi lại (ra nước ngoài và trở về nước nơi họ cư trú)
g Quyền được nhập quốc tịch
Có thể nói, đây là quyền thiêng liêng, tối cao đối với người không quốc tịch sau khoảng thời gian cư trú lâu dài, ổn định tại quốc gia sở tại Để được nhập quốc tịch, đương nhiên người không quốc tịch cũng phải đáp ứng một số điều kiện nhất định Nhưng đa số các quốc gia hiện nay đều giảm nhẹ các điều kiện nhập quốc tịch đối với những người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại quốc gia mình Liên hệ
Trang 27pháp luật Việt Nam cho thấy, theo quy định tại Điều 22 của Luật quốc tịch Việt Nam
2008, người không quốc tịch cư trú ổn định, liên tục tại Việt Nam từ 20 năm trở lên, không vi phạm pháp luật Việt Nam, thì được nhập quốc tịch Việt Nam và được miễn mọi điều kiện theo quy định của pháp luật Có thể nói, đây là quy định mang tính nhân văn sâu sắc, giúp cho hàng ngàn người không quốc tịch trong những năm qua được nhập quốc tịch Việt Nam, trở thành công dân Việt Nam, tạo tiền đề cho các thế
hệ con, cháu họ cũng được nhập quốc tịch Việt Nam một cách dễ dàng
Để tạo thuận lợi tối đa cho người không quốc tịch, cộng đồng quốc tế cũng khuyến cáo các quốc gia nên hạn chế hoặc miễn các khoản lệ phí, chi phí đối với người không quốc tịch khi làm thủ tục nhập quốc tịch của quốc gia sở tại Thực hiện được như vậy sẽ giúp cho người không quốc tịch đỡ được khoản chi phí có khi là không nhỏ để trở thành công dân của quốc gia sở tại
Những quyền dành cho người không quốc tịch trên đây là những quyền cơ bản được đúc kết trên cơ sở đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới
1.2.3 Nghĩa vụ của người không quốc tịch đối với nước cư trú
Xét về bản chất pháp lý, người không quốc tịch không là công dân của bất kỳ quốc gia nào Nhưng người không quốc tịch cư trú ổn định trên lãnh thổ của quốc gia nào thì chịu sự ràng buộc của hệ thống pháp luật quốc gia đó Nói cách khác, người không quốc tịch có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nơi người
đó cư trú Chính sự tuân thủ pháp luật đã là một điều kiện để người không quốc tịch được hưởng các quyền và tự do cơ bản do pháp luật nước đó đem lại
Một số quan điểm cho rằng, việc không quốc tịch mang lại lợi ích pháp lý rõ ràng đó là người không quốc tịch không có nghĩa vụ gì đối với quốc gia Tuy nhiên, đây là một quan điểm chưa chính xác: việc nhập cảnh cư trú vào lãnh thổ các quốc gia đã tạo ra sự ràng buộc đầu tiên, nhất định về nghĩa vụ đối với người không quốc tịch Người không quốc tịch có thể không có nghĩa vụ đối với quốc gia trong nhiều lĩnh vực luật pháp tuy nhiên việc người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó là việc người không quốc tịch đã đặt mình vào xã hội dân sự nội tại của quốc gia đó, đồng thời chịu sự quản lý tất yếu của quốc gia có chủ quyền
Trang 28Vì thế có thể nói rằng, dù ở bất cứ quốc gia nào, việc tạm trú và tiến tới thường trú của người không quốc tịch đều có sự ràng buộc và làm phát sinh nghĩa
vụ của người đó với pháp luật quốc gia mà người đó tạm trú, thường trú Việc đặt chân lên lãnh thổ quốc gia là đồng ý nằm dưới sự giám sát của pháp luật quốc gia
đó, người không quốc tịch đương nhiên không được phép làm những hành vi mà pháp luật sở tại cấm, không được làm ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội, không được chống phá về mặt quân sự cũng như kích động lật đổ chính quyền, người không quốc tịch có nghĩa vụ bảo vệ môi trường sống, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích của những người khác, có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật quốc gia nơi cư trú
1.3 Hoạt động của quốc tế về vấn đề không quốc tịch trước khi thông
qua Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch
Trong những năm 1920, không có sự khác nhau giữa người không quốc tịch
và người tị nạn, cả hai đối tượng trên đều không có sự bảo hộ từ Chính phủ của bất
cứ quốc gia nào Những vấn đề về quốc tịch như nhiều quốc tịch, mất quốc tịch thông qua kết hôn, không quốc tịch mà không phải người tị nạn là vấn đề mà nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm và tìm cách giải quyết
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề người không quốc tịch được đề cập tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban nhân quyền quốc tế (7/1947) Theo đó, có một điều khoản đã nêu rằng mọi người đều có quyền có quốc tịch và đây là nhiệm vụ của Liên Hợp Quốc và các nước thành viên để ngăn chặn tình trạng không quốc tịch (tình trạng này được xem là không phù hợp với nhân quyền và lợi ích của cộng đồng nhân loại)
Tại kỳ họp thứ 2 năm 1947, thông qua nghị quyết của mình, Ủy ban nhân quyền thế giới mong muốn Liên Hợp Quốc đưa ra những biện pháp để giải quyết tình trạng pháp lý của những người “không muốn nhận sự bảo hộ của bất kỳ quốc gia nào.”
Tháng 3 năm 1948 Hội đồng kinh tế xã hội kêu gọi các nước cần hợp tác với nhau cũng như với Liên Hợp Quốc để “bảo đảm mọi người đều có quyền đối với
Trang 29quốc tịch” Hội đồng đã yêu cầu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thực hiện nghiên cứu
về việc bảo hộ đối với người không quốc tịch và khuyến nghị với Hội đồng về việc soạn thảo một Công ước chuyên biệt để điều chỉnh đối với người không quốc tịch
Nghiên cứu được công bố năm 1949, trong nghiên cứu tập trung đề cập đến những người không được bảo hộ bởi quốc gia mà người đó là công dân trong khi ít nhắc tới người không quốc tịch không phải người tị nạn Nghiên cứu này đề nghị phân biệt rõ giữa người tị nạn và người không quốc tịch không phải người tị nạn
Cũng trong năm 1949, Hội đồng kinh tế - xã hội đã thông qua hai nghị quyết
về người tị nạn và tình trạng không quốc tịch Theo đó, một nghị quyết hướng tới một thỏa thuận có thể đạt được dựa trên sự chấm dứt hoạt động của Tổ chức quốc tế
về người tị nạn; một nghị quyết là Bản ghi nhận về nghiên cứu về tình trạng người không quốc tịch và những khuyến nghị của nó và quyết định bổ nhiệm một Ủy ban đặc biệt (Ad hoc) cân nhắc sự khác biệt giữa người lánh nạn, người tị nạn và người không quốc tịch để:
- Xem xét việc soạn thảo “một công ước sửa đổi và hợp nhất về vị thế quốc tế của người tị nạn và người không quốc tịch”
- Xem xét làm cách nào để loại bỏ tình trạng không quốc tịch, gồm cả việc yêu cầu ủy ban pháp luật quốc tế tiếp nhận vấn đề
Năm 1950, Ủy ban Ad học về tình trạng không quốc tịch và các vấn đề liên quan đã họp 2 lần tại New York Ngay từ đầu, đại diện của Pháp đã tiếp cận hai vấn
đề một cách riêng biệt, đây nhanh chóng trở thành quan điểm chủ đạo: một là tình trạng của người tị nạn và mặt khác là những vấn đề liên quan tới tư cách pháp lý của người không quốc tịch Một bản dự thảo về vấn đề trên được yêu cầu khẩn cấp,
nhưng việc loại bỏ tình trạng không quốc tịch về cơ bản lại khác: “nó giống như một mối quan tâm thường trực của cộng đồng thế giới hơn là một tình thế cấp bách đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục ngay lập tức” Với cách tiếp cận này, có hai
loại người không quốc tịch là những người đồng thời là người tị nạn và những người không phải người tị nạn Hầu như tất cả những người tị nạn đang cần giúp đỡ,
Trang 30do hoàn cảnh khó khăn cấp bách của họ, còn những người không quốc tịch mà không phải là người tị nạn thì không như vậy Đại diện của Hoa Kỳ đồng ý và nhấn mạnh việc xử lý tách biệt hai vấn đề trên, công ước dự thảo chỉ nên nhằm vào vấn
đề người tị nạn và “không nên dựa trên sự nhầm lẫn giữa vấn đề nhân đạo của người tị nạn với các vấn đề chủ yếu thuộc về pháp lý của người không quốc tịch”
Vấn đề người không có quốc tịch nhưng không phải là người tị nạn nên được gác sang một bên, “đặc biệt vì có những người không hề cần đến sự bảo hộ của Liên Hợp Quốc”…
Trong cuộc họp này, Ủy ban Ad hoc đã quyết định tập trung vào vấn đề người tị nạn, có thể nói việc này đã phản ánh được sự đánh giá của các thành viên
về tính cấp bách của vấn đề Trong báo cáo gửi tới Hội đồng Kinh tế và xã hội, Ủy ban Ad-hoc cung cấp dự thảo công ước về người tị nạn, nhưng chỉ đề xuất một Nghị định thư bổ sung về người không quốc tịch
Năm 1950, trong phiên họp Hội đồng Kinh tế - xã hội thông qua một loạt các nghị quyết: bao gồm dự thảo Điều lệ của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR); báo cáo của Ủy ban Ad-hoc và Dự thảo Công ước liên quan đến tình trạng của người tị nạn; giải quyết cụ thể các vấn đề của tình trạng không quốc tịch
Tháng 12/1950, Đại hội đồng triệu tập một Hội nghị của đại diện toàn quyền
để hoàn chỉnh Công ước dự thảo liên quan đến tình trạng của người tị nạn và Nghị định thư dự thảo về người không quốc tịch Tháng 7/1951, tại Geneva, Hội nghị đã thông qua Công ước liên quan đến tình trạng của người tị nạn và để ngỏ chờ ký, nhưng Hội nghị cũng đã thống nhất không đi đến quyết định nào về dự thảo Nghị định thư, giao lại cho các cơ quan của Liên Hợp Quốc để nghiên cứu sâu hơn
Tại kỳ họp thứ 7 (11/1952), Đại hội đồng yêu cầu Tổng thư ký gửi Dự thảo Nghị định thư tới các nước để lấy ý kiến, đặc biệt về những điều khoản của Công ước 1951 về người tị nạn mà họ đã chuẩn bị để áp dụng với người không quốc tịch
Trang 31Hai năm sau, Hội nghị Liên Hợp Quốc đã được triệu tập tại New York, với
sự tham gia của 27 quốc gia thành viên và 5 quốc gia dự thính, Hội nghị đã thông qua Công ước về quy chế người không quốc tịch, một công ước độc lập thay cho Nghị định thư dự thảo ban đầu được đề xuất bởi Ủy ban Ad-hoc năm 1950.13
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Theo pháp luật quốc tế, tình trạng không quốc tịch mô tả những người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào Theo ước tính của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn, hiện nay có khoảng 12 triệu người không quốc tịch trên thế giới Sự tồn tại của tình trạng không quốc tịch là thách thức một số các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Tuyên ngôn nhân quyền thế giới đã tồn tại và phát triển hơn sáu mươi năm qua Quan trọng nhất là tình trạng người không quốc tịch đã mâu thuẫn với quyền quốc tịch được ghi nhận rõ ràng trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới Tại Điều 15 Tuyên ngôn này mặc nhiên thừa nhận nguyên tắc quốc tịch, theo
đó quốc tịch của một cá nhân có liên quan đến danh tính của người đó, và không ai được tự ý tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch của người khác Một thực tế không thể chối cãi rằng việc từ chối và tước quyền công dân và tạo ra tình trạng không quốc tịch, làm suy yếu thúc đẩy an ninh con người hiểu theo nghĩa rộng theo đó, không chỉ là mối đe dọa bạo lực cho các cá nhân mà còn gây ra nghèo đói,
và các hình thức khác nhau của sự bất bình đẳng kinh tế - xã hội và chính trị
Tình trạng không quốc tịch có nguyên nhân từ sự từ chối và tước quyền công dân của nhà nước hoặc bởi sự rút lui của công dân (đó tương ứng với định nghĩa người không quốc tịch theo pháp luật và người không quốc tịch trên thực tế) Ngoài
ra, những nguyên nhân khách quan cụ thể khác có thể kể đến bao gồm tái cơ cấu chính trị, phân biệt đối xử giới tính mà phụ nữ không có quyền để con cái của họ theo quốc tịch của mình, và các rào cản hành chính khác Tình trạng không quốc tịch không dẫn đến việc người không được coi là công dân của bất cứ quốc gia nào
13 http://www.un.org
Trang 32bị tước hết quyền con người Luật pháp quốc tế cũng dành cho những người không quốc tịch các quyền cơ bản trên các lĩnh vực dân sự, kinh tế, chính trị nhất định, tuy nhiên, những quyền này được thể hiện tại các quốc gia cũng khác nhau, do vậy, quyền của những người không quốc tịch cư trú tại các quốc gia khác nhau có thể cũng khác nhau Tuy nhiên, khi cư trú tại bất cứ quốc gia nào, người không quốc tịch đều có nghĩa vụ tuân theo pháp luật quốc gia đó
Trang 33CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC 1954 VỀ QUY CHẾ
NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 2.1 Tổng quan về Công ước 1954
2.1.1 Lý do ra đời
Như Chương 1 đã nêu qua các hoạt động của quốc tế trước khi Công ước
1954 được thông qua, có thể thấy trước giai đoạn 1950, không có sự phân biệt giữa những người không quốc tịch và người tị nạn và họ không nhận được sự bảo trợ từ quốc gia gốc cũng như quốc gia mà họ tới cư trú sinh sống Cả hai đối tượng này đều nhận được sự bảo trợ quốc tế từ các tổ chức tị nạn quốc tế, đặc biệt là UNHCR Sau năm 1951, với sự ra đời của Công ước 1951 về Quy chế người tị nạn, khái niệm người tị nạn đã được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật quốc tế và người tị nạn đã nhận được nhiều sự bảo hộ quốc tế hơn như đã được quy định trong Công ước 1951 Tuy nhiên sau chiến tranh Thế giới thứ II, hàng nghìn người đã phải rời
bỏ nhà cửa, đi lánh nạn tại các nước khác và vì nhiều lý do đã không chứng minh được mối liên hệ với nước gốc của mình Người không quốc tịch và quy chế dành cho người không quốc tịch chỉ được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật quốc
tế vào năm 1954 sau khi Công ước 1954 về Quy chế người không quốc tịch được ký chính thức tại New York (trên thực tế, Công ước 1954 ban đầu được dự thảo là Nghị định thư của Công ước 1951 về Quy chế người tị nạn và nhằm mục đích thể hiện mối liên hệ giữa người tị nạn và người không quốc tịch) Trong thời gian này, do nhu cầu bức bách ổn định xã hội, bảo đảm an ninh công cộng và tái thiết sau Chiến tranh thế giới thứ II cũng như sự tan rã trong Tổ chức Quốc tế về Người tị nạn (tiền thân của UNHCR), vấn đề người tị nạn và người lánh nạn được ưu tiên giải quyết
Sự ra đời của Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong Luật quốc tế về việc bảo đảm quyền và lợi ích của người không quốc tịch, một nhóm đối tượng được xem là dễ bị tổn thương theo pháp luật quốc tế ghi nhận
Trang 34Tính đến ngày 15-03-2014 ngoài 23 nước là thành viên sáng lập, hiện có thêm 57 nước gia nhập Trong số 23 nước là thành viên sáng lập chỉ có 08 nước phê chuẩn công ước này là Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Isarel, Italia, Hà Lan, Nauy và khối liên hiệp Anh và Bắc Ai Len (từ năm 1954 đến 1964); một số nước phê chuẩn muộn hơn là: Thụy Sĩ, Thụy Điển, Đức, Ecuador, Costarica (từ năm 1965 đến 1976); Liechtenstein (năm 2009); Philippine (năm 2011), Honduras (năm 2012) và có 04 quốc gia và vùng lãnh thổ chưa phê chuẩn công ước là: Brazil, Columbia, Elsavador, Holy See
Có 15 nước được thụ hưởng từ các quy định của Công ước này là Antigua và Barbuda, Barbados, Bosnia và Herzegovina, Botsoana, Croatia, Fiji, Kiribati, Lesotho, Montenegro, Slovenia, quần đảo St Vincent and the Grenadines, Cộng hòa Macedonia, Trinida và Tobago, Zambia và Zinbubue
Tại Châu Á: Tính đến năm 2012 có 04 nước và vùng lãnh thổ tham gia Công ước là Philippin, Hàn Quốc, Hồng Kông Và Singapore, trong đó:
- Philippine tham gia ký kết công ước ngày 22/6/1966 và phê chuẩn ngày 22/9/2011
- Hàn Quốc: gia nhập Công ước ngày 22/8/1962
- Hồng Kông: ngày 19/3/1962, với tư cách là vùng lãnh thổ thuộc khối Liên hiệp Anh và Bắc Ailen, Hồng Kông đã tham gia Công ước này
- Singapore với tư cách là vùng lãnh thổ thuộc khối Liên hiệp Anh và Bắc Ailen cũng tham gia Công ước ngày 19/3/1962
2.1.2 Cấu trúc kĩ thuật
Công ước 1954 được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 28/9/1954, có hiệu lực
từ ngày 6/6/1960 theo Điều 39 của Công ước Công ước ra đời nhằm nâng cao vị thế của những người không quốc tịch, bảo vệ quyền con người trên cơ sở Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 theo đó khẳng định nguyên tắc mọi người được hưởng các quyền và tự do cơ bản mà không bị phân biệt đối xử
Trang 35Công ước gồm Lời nói đầu và 6 chương với 42 điều và kèm theo 01 phụ lục Chương I: gồm những điều khoản chung quy định về khái niệm người không quốc tịch và các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước; nghĩa vụ chung đối với người không quốc tịch; nguyên tắc đối xử đối với người không quốc tịch; các quy định đối xử với thủy thủ không có quốc tịch
Chương II: quy định về địa vị pháp lý của người không quốc tịch, gồm các quy định về: vị thế cá nhân; quyền đối với động sản và bất động sản; những quyền
về nghệ thuật và sở hữu công nghiệp; quyền lập hội; quyền tiếp cận tòa án
Chương III: về lao động quy định quyền về lao động được hưởng lương; quyền lao động tự làm chủ; quyền hành nghề tự do
Chương IV: quy định về các chính sách của Nhà nước dành cho người không quốc tịch, bao gồm các quy định về chính sách phân phối hàng hóa; chính sách nhà ở; chính sách giáo dục công; trợ cấp nhà nước và pháp luật lao động và an sinh xã hội
Chương V: “các biện pháp hành chính” quy định về các biện pháp trợ giúp về mặt hành chính dành cho người không quốc tịch; vấn đề tự do đi lại; vấn đề cấp giấy chứng minh nhân dân; giấy thông hành cho người không quốc tịch; vấn đề di chuyển tài sản ra ngoài lãnh thổ; trục xuất; tạo điều kiện để nhập quốc tịch
Chương VI: gồm những điều khoản cuối cùng quy định một số nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc cung cấp thông tin về pháp luật quốc gia có liên quan; giải quyết tranh chấp; ký, phê duyệt và gia nhập Công ước; điều khoản về áp dụng Công ước theo lãnh thổ; điều khoản về bảo lưu; hiệu lực của công ước
2.2 Nội dung cơ bản của Công ƣớc
2.2.1 Những điều khoản chung
Định nghĩa về người không quốc tịch (Điều 1)
Trong công ước này, thuật ngữ “Người không quốc tịch” được hiểu là một
người mà không được bất cứ quốc gia nào coi là công dân theo pháp luật của nước đó
Trang 36Đây là một định nghĩa pháp lý chặt chẽ Nó không nói về đặc trưng của quốc tịch, về cách mà quốc tịch được cấp hoặc về quyền được nhận quốc tịch Định nghĩa chỉ là một thực tế pháp lý đơn giản, một hậu quả pháp luật mà theo đó luật pháp về quốc tịch của các nước định nghĩa theo pháp luật hiện hành (exlege) hoặc một cách đương nhiên ai là người có quốc tịch Tuy nhiên, cũng có những nguyên tắc liên quan đến việc xin, cho, mất và từ chối quốc tịch, những nguyên tắc quan trọng trong việc xác định ai nên được vào quốc tịch nếu áp dụng luật
Với định nghĩa này, không quốc tịch được xác định khi một người chứng minh được rằng người đó không có một giấy tờ có giá trị pháp lý nào thể hiện mối liên quan với bất kỳ quốc gia nào Trong việc cố gắng thiết lập bằng chứng về tình trạng không quốc tịch, các quốc gia nên xem xét lại luật quốc tịch của các quốc gia
mà các cá nhân có liên quan trước đó (chẳng hạn như thông qua nơi sinh, nơi thường trú trước đây, quốc gia trong đó vợ hoặc chồng hoặc con cái của họ là công dân, các quốc gia trong đó cha, mẹ, ông bà của họ là công dân) tham khảo ý kiến của những quốc gia đó và yêu cầu cung cấp các thông tin khi cần thiết Các quốc gia nên yêu cầu sự hợp tác đầy đủ từ các cá nhân liên quan trong việc cung cấp tất cả các sự kiện và thông tin liên quan
Theo cách phân loại người không quốc tịch theo pháp luật quốc tế thì đây là đối tượng người không quốc tịch theo luật
Những người không được Công ước 1954 điều chỉnh:
Với lời nói đầu, công ước tái khẳng định một lần nữa, những đối tượng người tị nạn không quốc tịch là đối tượng điều chỉnh tại Công ước 1951 liên quan đến tình trạng của người tị nạn, do đó, không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước này
Điều 1 Công ước cũng xác định những cá nhân không thuộc đối tượng điều
chỉnh của Công ước này mặc dù họ là người không quốc tịch với những lý do đặc biệt hoặc vì họ không cần đến sự bảo hộ của Công ước này do đã được hưởng sự bảo hộ cao hơn từ những Công ước khác hoặc họ là những đối tượng không xứng đáng với sự bảo hộ vì mục đích nhân đạo của Công ước, cụ thể:
Trang 37a Những người mà vào thời điểm Công ước có hiệu lực đang nhận sự giúp đỡ của các cơ quan của Liên Hợp Quốc trừ Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn;
Tổ chức cứu trợ người tị nạn ở Cận Đông Palestin là cơ quan duy nhất của Liên Hợp Quốc có liên quan đến điều khoản này
b Những người đã có những quyền và nghĩa vụ gắn với việc có quốc tịch ở nước mà họ cư trú Nói một cách khác, khi cá nhân đã có được quy chế pháp lý tối
đa có thể (quy chế tương đương với quy chế của công dân), việc tham gia Công ước của nước đó với những quy định kém rộng rãi hơn so với quy định người không quốc tịch được hưởng theo luật quốc gia, sẽ không làm hỏng các quyền này Tuy nhiên, phải nhận thức tầm quan trọng của chính quốc tịch;
Điều này có nghĩa rằng nếu một người không quốc tịch đã cư trú hợp pháp được một Nhà nước bảo đảm dành quyền kinh tế, xã hội đặc biệt đầy đủ tương đương với công dân của quốc gia đó, được bảo vệ chống lại lệnh trục xuất và trục xuất thì không áp dụng những quy định của Công ước này
c Những người mà đối với họ có lý do thực sự cho rằng:
- Họ đã phạm tội ác chống lại hòa bình, tội ác chiến tranh hoặc tội ác chống nhân loại;
- Họ đã phạm tội nghiêm trọng phi chính trị bên ngoài nước mà họ đang cư trú trước khi họ vào cư trú ở nước này;
- Họ đã có những hành vi sai trái đi ngược lại mục đích và các nguyên tắc của Liên Hợp Quốc
Những người đủ tư cách được nhận sự bảo hộ từ Công ước
Việc quyết định xem liệu một người có được hưởng lợi ích của Công ước này hay không do mỗi quốc gia thành viên định đoạt phù hợp với các thủ tục quy định của riêng họ và có thể được đưa ra tùy thuộc vào việc cho phép cư trú hợp pháp Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn, nếu được yêu cầu, sẵn sàng đóng vai trò tư vấn trong những thủ tục này, dựa trên kinh nghiệm của Văn phòng Cao ủy về những vấn đề liên quan đến không quốc tịch và quốc tịch