Tôi xin cam đoan đề tài luận án “Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất cư và lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có người xuất cư” là công trình nghiên cứu của tôi... Có thể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HƯNG
PHẠM NGỌC HƯNG
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN XUẤT CƯ VÀ LỢI ÍCH VỀ THU NHẬP CỦA
HỘ GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI XUẤT CƯ
Chuyên ngành: Toán kinh tế
Mã số: 62310101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS NGUYỄN CAO VĂN
2 PGS.TS LƯU BÍCH NGỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và
không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tôi xin cam đoan đề tài luận án “Mô hình phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến xuất cư và lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có người xuất cư”
là công trình nghiên cứu của tôi
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Phạm Ngọc Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Cao Văn và PGS TS Lưu Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thành luận án này
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh – Chủ nhiệm Khoa Toán kinh tế - Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã có những góp ý, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô đã và đang công tác tại Khoa Toán kinh tế, các đồng nghiệp trong và ngoài Khoa Toán kinh tế với những góp ý
về chuyên môn, động viên về tinh thần để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau đại học – Trường đại học Kinh tế Quốc dân, các đồng chí trong bộ phận quản lý nghiên cứu sinh đã
đồng hành, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Trên hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đấng sinh thành, những người thân yêu trong gia đình đã luôn hy sinh vì tôi, luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Phạm Ngọc Hưng
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 13
1.1 Các khái niệm về di cư 13
1.2 Các lý thuyết về di cư và động lực di cư 19
1.2.1 Lý thuyết vĩ mô về di cư 19
1.2.2 Lý thuyết trung mô về di cư 20
1.2.3 Lý thuyết vi mô về di cư 21
1.2.4 Lý thuyết lao động di cư kinh tế mới (New Economics Labour Migration - NELM) 22
1.2.5 Thảo luận về động lực di cư 24
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về di cư và mô hình phân tích các nhân tố tác động đến quyết định di cư 25
1.3.1 Mô hình phân tích xu thế di cư 25
1.3.2 Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư 30
1.4 Tổng quan một số phân tích lợi ích về thu nhập và chi tiêu của người di cư và hộ gia đình có người di cư 40
1.5 Thực tiễn và một số phân tích về di cư ở Việt Nam 43
1.5.1 Rà soát một số chính sách và pháp luật liên quan đến di cư 43
1.5.2 Tình hình di cư và một số phân tích di cư ở Việt Nam 45
1.5.3 Di cư giữa các vùng từ số liệu được công bố trên Niên giám thống kê của TCTK các năm 2010, 2012, 2014 53
1.5.4 Di cư phân tích từ Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2014 54
1.5.5 Phân tích di cư từ bộ số liệu Điều tra Lao động việc làm năm 2014 63
1.5.6 Phân tích di cư từ Bộ số liệu Điều tra Mức sống hộ gia đình năm 2014 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 71
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 74
2.1 Mô hình phân tích quyết định di cư 74
2.1.1 Mô hình logit với số liệu mảng phân tích xác suất hộ gia đình có ít nhất một người xuất cư 74
Trang 52.1.2 Mô hình logit đa trạng thái phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết
định di cư cá nhân 86
2.1.3 Mô hình logit đa trạng thái nhiều mức phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư cá nhân 91
2.2 Mô hình đánh giá tác động của di cư đến thu nhập và mức sống của hộ có người di cư 93
2.2.1 Mô hình phân rã Blinder – Oaxaca phân tích khác biệt về thu nhập của hộ có người xuất cư với hộ không có người xuất cư 93
2.2.2 Mô hình phân tích tác động của di cư tới các mức phân vị chi tiêu của hộ 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 96
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DI CƯ 97
3.1 Kết quả ước lượng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hộ có ít nhất một người xuất cư từ Bộ số liệu VHLSS kết nối ba năm 2010-2012-2014 97
3.2 Kết quả mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư cấp độ cá nhân 103
3.2.1 Kết quả mô hình logit đa trạng thái 103
3.2.2 Kết quả mô hình logit đa trạng thái nhiều mức 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
CHƯƠNG 4: LỢI ÍCH VỀ THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI XUẤT CƯ 110
4.1 Kiểm định thống kê mức cải thiện về thu nhập của hộ có người xuất cư 110 4.2 Kiểm định thống kê mức cải thiện về chi tiêu của hộ có người xuất cư 115 4.3 Phân rã Blinder – Oaxaca và kết quả ước lượng 120
4.4 Kết quả mô hình hồi quy phân vị 121
4.4.1 Mục đích sử dụng mô hình hồi quy phân vị 121
4.4.2 Phân tích kết quả mô hình hồi quy phân vị 122
4.5 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính số liệu mảng phân tích di cư tác động đến chi tiêu hộ 124
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÁC BÀI BÁO 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC 143
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of South East Asian Nations
AEC ASEAN Economic Community
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CML Conditional maximum likelihood
LL Loga likelihood
ML Maximum likelihood
NCS Nghiên cứu sinh
Mig Migration – Di cư
NELM New Economics Labour Migration
NM Net Migration – Di cư thuần
NT – NT Nông thôn – nông thôn
NT – TT Nông thôn – thành thị
OR Odds Ratio
PML Pooled maximum likelihood
Pop Population – Dân số
RE Random Effect – Tác động ngẫu nhiên
Trang 7VHLSS Vietnam Household Living Standards Survey – Điều tra
mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng di cư ở Việt Nam 47
Bảng 1.2: Nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm tổng điều tra
và loại hình di cư 54
Bảng 1.3: Dân số 5 tuổi trở lên chia theo các dòng di cư qua các năm 55
Bảng 1.4: Số người di cư và tỷ lệ người di cư chia theo dòng di cư xét theo
khoảng cách và địa bàn nông thôn – thành thị 57
Bảng 1.5: Số lượng và cơ cấu các luồng di cư phân theo vùng, 2009-2014 58
Bảng 1.6: Tuổi trung bình và tuổi trung vị của người di cư chia theo dòng di
cư và giới tính, TĐT 1999, 2009, 2014 59
Bảng 1.7: Cơ cấu giới tính của người di cư và không di cư trong
TĐTDS 1999, 2009, 2014 60
Bảng 1.8: Tỷ lệ dân số tuổi từ 15-54 chia theo dòng di cư và trình độ
chuyên môn kỹ thuật, 2014 61
Bảng 1.9: Tỷ lệ người di cư và không di cư sống trong các hộ gia đình có
điều kiện sống khác nhau phân theo các dòng di cư, TĐTDS
2009 và 2014 62
Bảng 1.10: Số người và tỷ lệ người di cư trong mẫu điều tra 63
Bảng 1.11: Số lượng và tỷ lệ người di cư phân theo loại hình và giới tính 64
Bảng 1.12: Số lượng và tỷ lệ người di cư phân theo loại hình và theo tình
Bảng 1.17: Số lượng và phân bố (%) các hộ gia đình theo tình trạng di cư và
theo khu vực thành thị - nông thôn 68
Bảng 1.18: Số lượng và phân bố (%) các hộ gia đình theo tình trạng di cư và
tình trạng hôn nhân của chủ hộ 69
Bảng 1.19: Số lượng và phân bố (%) các hộ gia đình theo tình trạng di cư và
tình trạng hộ nghèo năm 2013 69
Bảng 1.20: Số lượng và phân bố (%) các hộ gia đình theo tình trạng di cư và
chi tiêu thực bình quân năm 2014 70
Trang 9Bảng 2.1: Nhóm nhân tố tác động tới động lực xuất cư 76Bảng 2.2: Mô tả và các giá trị của biến độc lập trong mô hình phân tích
động lực xuất cư các năm 2010, 2012, 2014 81Bảng 2.3: Mô tả và các giá trị của biến độc lập trong mô hình phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến di cư cá nhân từ Bộ số liệu LFS 2014 90Bảng 3.1: Số hộ và tỷ lệ hộ gia đình có người xuất cư trong các bộ số liệu
VHLSS 2010, 2012, 2014 97Bảng 3.2: Số hộ gia đình và tỷ lệ hộ có người xuất cư trong bộ số liệu
VHLSS nối 3 năm 2010, 2012, 2014 98Bảng 3.3: Kết quả ước lượng mô hình tác động cố định 99Bảng 3.4: Kết quả ước lượng mô hình logit đa trạng thái 103Bảng 3.5: Kết quả ước lượng phương sai và hiệp phương sai đặc trưng riêng
của các tỉnh và các vùng 105Bảng 3.6: Kết quả ước lượng mô hình logit đa trạng thái nhiều mức 106Bảng 4.1: Trung bình của thu nhập bình quân tháng của các hộ 111Bảng 4.2: Mức chênh thu nhập bình quân của các hộ giữa năm 2014 với
2012 112Bảng 4.3: Trung bình mức tăng tuyệt đối thu nhập bình quân của 2 nhóm trong
các năm 2010-2012-2014 113Bảng 4.4: Trung bình mức tăng tương đối thu nhập bình quân của 2 nhóm
các năm 2010-2012-2014 114Bảng 4.5: Thống kê trung bình chi tiêu thực bình quân năm của các hộ
trong các năm 2010, 2012, 2014 116Bảng 4.6: Thống kê mức chênh thu nhập các hộ thuộc nhóm 0_0_0 và
nhóm 0_0_1 năm 2014 so với năm 2012 117Bảng 4.7: So sánh trung bình mức tăng chi tiêu của 2 nhóm ở 2 giai đoạn
2010-2012 và 2012-2014 118Bảng 4.8: So sánh trung bình mức tăng tương đối chi tiêu của 2 nhóm ở 2
giai đoạn 2010-2012 và 2012-2014 118Bảng 4.9: Kết quả phân rã Blinder – Oaxaca 120Bảng 4.10: Kết quả mô hình hồi quy phân vị 123Bảng 4.11: Kết quả mô hình phân tích chi tiêu hộ với số liệu kết nối các năm
2010, 2012, 2014 124
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất cư và
lợi ích sau xuất cư 7Hình 1.1: Sơ đồ phân tích di cư bao hàm phân tích quyết định di cư 25Hình 1.2: Tỷ lệ người di cư trong dân số theo các dòng di cư, 1989 - 2014 56
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Ngày nay, hộ gia đình nông thôn ở các nước nghèo ngày càng sử dụng các chiến lược di cư để bảo đảm sinh kế của họ và để thích ứng với một môi trường tự nhiên và xã hội thay đổi nhanh chóng Thu nhập của người di cư gửi
về các gia đình đã giúp tăng chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản và từ đó nâng cao mức sống của họ, nếu có tích lũy họ sẽ có chiến lược để phát triển hơn Những người di cư ra nước ngoài họ mang ngoại tệ có giá trị vào trong nước giúp nâng cao khả năng phát triển đất nước, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần giảm thiểu tác động của các cú sốc bất lợi và giảm nghèo (IMF, 2005)
Di cư là yếu tố quan trọng, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao
động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Chính phủ các nước Kinh tế phát triển, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế diễn ra nhanh chóng cùng với chính sách mở cửa, hội nhập dẫn đến việc di cư nội địa và di cư quốc tế tăng lên
Tuy nhiên, trong dòng di cư nói chung, hầu hết lao động di cư là nhóm người dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng mạnh từ các sự kiện trong đời sống kinh tế - xã hội Với bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới, việc tiếp cận thị trường thế giới tác động tới các ngành công nghiệp mới và tạo việc làm cho hàng triệu người Sự tập trung vốn đầu tư vào các vùng kinh tế, sự khác biệt về điều kiện kinh tế giữa các vùng miền dẫn đến di cư của một bộ phận dân số là điều tất yếu
Quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “đẩy” và yếu tố “kéo” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa vùng đi và vùng
đến Những nhân tố “đẩy” như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị,
Trang 12văn hóa ở nơi đi, ví dụ: do điều kiện sống khó khăn, thiếu việc làm, thiếu đất
đai Cùng với nó, các nhân tố “kéo” ở nơi đến như những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… và sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội có thu nhập và mức sống cao ở nơi đến, đây là yếu tố “kéo”
Sự kết hợp giữa yếu tố “đẩy” và yếu tố “kéo” đã thúc đẩy quá trình di cư diễn
ra (Lee, 1966)
Di cư vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của quá trình phát triển Di cư đã
và đang trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện mức sống và tạo
cơ hội làm ăn cho mình, và nó trở thành một cấu phần không thể thiếu được của quá trình phát triển, nó còn là đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa các vùng miền cũng như các lãnh thổ quốc gia
Trong cuộc Tổng điều tra Dân số ở Việt Nam năm 2009, “di cư được định nghĩa là sự di chuyển nơi sinh sống thường xuyên của con người từ một đơn
vị lãnh thổ hành chính này đến một đơn vị lãnh thổ hành chính khác, đó là chuyển đến một xã khác, huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh khác để sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định” (TCTK, 2010)
Sau Đổi Mới, chế độ bao cấp dựa trên đăng ký cư trú theo hộ khẩu được xoá bỏ, kinh tế thị trường được hình thành và phát triển đã khiến cho di cư trong nước của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ Hiện nay, di cư trong nước vẫn đang tiếp tục gia tăng, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu rộng cùng các nước trong khu vực và trên thế giới Việc tham gia cộng đồng kinh tế các quốc gia ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) vào tháng 12 năm 2015 cũng
đem lại nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách thức đối với người lao động Việt Nam Khả năng di chuyển để có việc làm, có thu nhập đòi hỏi người di cư phải có những “nguồn vốn” đi kèm Đó là vốn con người, vốn tài chính, vốn xã hội… Các đặc trưng nhân khẩu học của người di cư cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng di chuyển khi mà di cư mang bản chất là một quá trình “chọn lọc”
Trang 13Di cư trong nước mang lại cả những tác động tích cực lẫn ảnh hưởng tiêu cực Một số nghiên cứu đến nay đã cho thấy di cư giúp giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động dư thừa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, bổ sung và trẻ hóa lực lượng lao
động ở thành thị, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các đô thị (Nguyễn
Nữ Đoàn Vy, 2015) Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hiện tượng
di cư nông thôn ra thành thị dẫn đến thiếu hụt lao động trình độ cao ở khu vực nông thôn, người lao động từ nông thôn ra thành thị làm phát sinh thêm những vấn đề phức tạp ở đô thị như gia tăng các tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, lô đề, trộm cướp, …), gây thêm sức ép về quản lý trật tự xã hội cho các cấp chính quyền thành phố Người di cư đến các thành phố đã tạo sức ép lên việc cung cấp các dịch vụ xã hội như nhà ở, nước sạch, y tế, cơ sở
hạ tầng, giao thông, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng (Lưu Bích Ngọc và cộng sự, 2015)
Bên cạnh những đánh giá về tác động tích cực cũng như tiêu cực của các dòng di cư trong nước, các yếu tố tác động đến khả năng hay quyết định di cư của cá nhân người lao động, lực hút của những địa phương đang thu hút người di cư đến lẫn lực đẩy của những vùng xuất cư cũng cần được cập nhật theo tiến trình phát triển chung của xã hội Những nghiên cứu các yếu tố tác
động đến khả năng hay quyết định di cư của cá nhân người lao động đã được thực sự quan tâm trong 10 năm trở lại đây Một số mô hình nghiên cứu về di
cư trong nước đã được thực hiện như mô hình di cư nông thôn – đô thị (Đặng Nguyên Anh và cộng sự, 2007), mô hình di cư tạm thời đến Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Lưu Bích Ngọc và cộng sự, 2015) hay mô hình di cư đến vùng đô thị hoá, công nghiệp hoá nhanh (Lưu Bích Ngọc và cộng sự, 2015)
Có thể thấy các mô hình này mới chỉ xem xét quyết định di cư đến một vùng
địa lý nhất định và ở cấp độ cá nhân (vi mô) chứ chưa phân tích được các yếu
tố tác động đến quyết định di cư của cá nhân ở cấp độ hộ gia đình (trung mô)
Trang 14và những ảnh hưởng tới quyết định di cư từ những biến số phát triển trên
phạm vi quốc gia (vĩ mô) Đề tài “Mô hình phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến xuất cư và lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có người xuất
cư” được thực hiện trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ mang tính cấp thiết, nhằm bù đắp “khoảng trống” thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết
định di cư cá nhân với những phân tích trên phạm vi toàn quốc và các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng hộ gia đình có ít nhất một thành viên xuất cư
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm các mục tiêu cụ thể như sau:
- Phân tích các nhân tố tác động đến quyết định xuất cư của các cá nhân trong các hộ gia đình trên toàn quốc ở một số năm dựa trên số liệu điều tra VHLSS bằng thử nghiệm mô hình số liệu mảng có trễ phân phối nhằm lượng hoá tác động của một số nhân tố ở thời kỳ trước tới quyết định di cư ở thời kỳ sau;
- Đo lường tác động của mức sống của hộ gia đình ở thời kỳ trước đến xác suất đưa ra quyết định di cư của một cá nhân trong hộ gia đình ở thời
kỳ sau;
- Phân tích và đo lường tác động của một số biến cấp tỉnh tác động tới hành vi di cư của một thành viên trong hộ gia đình, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho chính quyền cấp tỉnh xây dựng những chính sách thích hợp
điều tiết di cư giúp tăng trưởng kinh tế;
- Phân tích, so sánh bằng nhiều phương pháp khác nhau về thu nhập và chi tiêu của hộ có người di cư so với hộ không có người di cư để xác định mức độ cải thiện về thu nhập và chi tiêu khi có hiện tượng xuất cư
Những câu hỏi nghiên cứu chính cần được trả lời trong Luận án này gồm:
Câu hỏi nghiên cứu 1:
Mức sống thấp của hộ gia đình ở thời kỳ trước có làm tăng xác suất di
cư của ít nhất một thành viên trong hộ gia đình ở thời kỳ sau hay không?
Trang 15Di cư đòi hỏi phải có “vốn” Đó là vốn vật chất, vốn con người và vốn
xã hội Với những hộ gia đình có mức sống thấp, các nguồn vốn của họ hạn chế hơn so với những hộ gia đình có mức sống trung bình trở lên xét về tất cả các loại vốn Điều này có thể ảnh hưởng đến quyết định di cư và quá trình di
cư của các cá nhân là thành viên của hộ gia đình nói trên
Câu hỏi nghiên cứu 2:
Một số nhân tố liên quan đến tạo việc làm cấp tỉnh được cải thiện có tác
động làm giảm xác suất xuất cư xét ở cấp độ hộ gia đình hay không?
Liên quan đến quyết định di cư cá nhân, theo Harris và Todaro (1970), cần phải đánh giá xem những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định di cư mà thuộc vào nhóm yếu tố “lực hút”, và những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết
định di cư nhưng lại thuộc vào nhóm yếu tố “lực đẩy” Các nhân tố lực hút và lực đẩy này tồn tại ở cả địa phương đầu đi lẫn địa phương đầu đến Thiếu việc làm trên thị trường lao động tại địa phương đầu đi là một trong những nhân tố
“lực đẩy” tác động đến quyết định di cư của các cá nhân Tại địa phương đầu
đi, khả năng tạo việc làm tăng lên, ngược lại, sẽ là nhân tố “lực hút” giữ chân các cá nhân ở lại, không đưa ra quyết định di cư Tuy nhiên, một người trong quá trình xem xét, lựa chọn hành vi di cư sẽ còn tính đến các yếu tố mà Lee trong lý thuyết của mình gọi là các “chi phí” và “lợi ích” của việc di cư này Quyết định di cư được thực hiện dựa trên phân tích của mỗi cá nhân cho rằng
“lợi ích” từ việc di cư sẽ lớn hơn “chi phí” cho việc di cư
Câu hỏi nghiên cứu 3:
Thu nhập của hộ gia đình có thành viên di cư đã được cải thiện như thế nào?
Khi một thành viên trong hộ gia đình di cư, sức ép về lao động và việc làm lên phương tiện sản xuất (đất đai, nhà xưởng…) cũng như chi tiêu của hộ gia đình có thể giảm đi Theo quy luật, người di cư ra đi với mục tiêu tìm
Trang 16kiếm thêm thu nhập và việc làm mới tốt hơn ở nơi gốc Họ thường cố gắng tích luỹ và gửi tiền về cho gia đình ở quê để chi tiêu, tiết kiệm hay cải thiện
điều kiện nhà cửa… Một số nghiên cứu định tính đã phát hiện ra vấn đề này, tuy nhiên, mức độ cải thiện về thu nhập cụ thể của hộ gia đình sau khi có người di cư cần được lượng hoá và chỉ ra sự khác biệt trong mức độ cải thiện
về thu nhập giữa những hộ gia đình có người di cư và hộ gia đình không có người di cư
Để xây dựng mô hình phân tích, một số giả thuyết được nêu ra Các giả thuyết này cần được kiểm nghiệm bằng các luận chứng trong quá trình thực hiện Luận án Cụ thể:
Giả thuyết 1: Hộ có mức sống thấp hơn mức trung bình ở thời kỳ trước
sẽ làm tăng xác suất xuất cư của thành viên trong hộ ở thời kỳ sau
Giả thuyết 2: Vốn đầu tư thực hiện trễ một thời kỳ, số lao động được tạo việc làm trễ một thời kỳ, và chỉ số PCI được cải thiện sẽ làm giảm xác suất xuất cư
Xuất phát từ thực tế là những tỉnh có vốn đầu tư thực hiện và chỉ số PCI tăng thì dẫn đến cơ sở hạ tầng cũng như chính sách điều hành cấp tỉnh đối với các doanh nghiệp được cải thiện, hai chỉ số này tăng gợi ý cho tác giả đưa ra giả thuyết là tỉnh đó sẽ tạo việc làm tốt và giữ được người lao động ở lại tỉnh nên khả năng người lao động xuất cư giảm
Giả thuyết số 3: Hộ gia đình có thành viên di cư đã cải thiện được mức sống hơn so với hộ không có thành viên di cư
Các giả thuyết trên được mô tả khái quát trong khung phân tích dưới đây với 3 nhóm nhân tố tác động tới quyết định di cư của mỗi cá nhân gồm nhóm nhân tố cá nhân (các biến số cấp độ vi mô), nhóm nhân tố hộ gia đình (các biến số cấp độ trung mô) và nhóm nhân tố cấp tỉnh (các biến số cấp độ vĩ mô) (Hình 1)
Trang 17Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Hình 1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất cư và
lợi ích sau xuất cư
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có hai đối tượng nghiên cứu chính, gồm:
+) Mối quan hệ giữa các nhân tố (biến số) cấp hộ gia đình và một số nhân tố (biến số) cấp tỉnh với xác suất xuất cư của người dân là thành viên trong hộ gia đình có ít nhất một người xuất cư
+) Lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có ít nhất một người xuất cư
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở sử dụng các thông tin sẵn có
từ bộ dữ liệu VHLSS năm 2010, 2012, 2014 Các bộ dữ liệu cho phép xác
định được HỘ GIA ĐÌNH có người xuất cư hay không xuất cư Các bộ dữ liệu được kết nối thành một panel dữ liệu cho phép phân tích trong thời khoảng 2010-2014
Trang 18Theo Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005, HỘ GIA ĐÌNH bao gồm các
thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này
Hộ gia đình được phân loại như sau:
• Hộ một người (01 nhân khẩu): Là hộ chỉ có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn
• Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ
có 1 - 2 thế hệ cùng chung sống) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con
đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ
• Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan
hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ
và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác
• Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng, nó bao gồm nhiều thành viên có cùng hoặc không cùng huyết thống, ở nhiều thế hệ khác nhau, cùng chung sống với nhau
Theo Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2014, thành viên
trong hộ là những người ăn chung, ở chung từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và chung quỹ thu, chi
Về nội dung, Luận án này giới hạn trong phạm vi:
Xác định các nhân tố tác động tới xác suất xuất cư của ít nhất một thành viên trong hộ gia đình Có nghĩa đây là những yếu tố ảnh hưởng tới di
cư được phân tích ở “đầu đi” mà không phải phân tích tại “đầu đến” Do hạn chế của bộ số liệu, việc phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới di cư tại
“đầu đến” đã không thực hiện được
Trang 19Lợi ích về thu nhập của hộ gia đình có người xuất cư được giả thuyết rằng hộ gia đình có người xuất cư thì thu nhập của hộ được cải thiện do người
di cư có tiền gửi về cho hộ gia đình, từ đó tổng thu nhập thực và chi tiêu thực của hộ tăng lên
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận tư duy
Các phân tích và luận điểm được đưa ra trong luận án đều dựa trên phương pháp luận tư duy duy vật biện chứng và tư duy duy vật lịch sử Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định di cư được dựa trên cơ sở tư duy duy vật lịch
sử, kế thừa các lý thuyết về “lực hút” và “lực đẩy” trong di cư hay “chi phí” và
“lợi ích” do di cư mang lại Các nhân tố tác động tới quyết định di cư hay những lợi ích thu nhập do di cư mang lại đều có “độ trễ” về mặt thời gian Cụ thể, những đặc trưng của hộ gia đình tại thời điểm này có thể tạo nên quyết
định di cư vào thời điểm sau hay di cư diễn ra năm nay song lợi ích thu nhập chỉ thu được trong những năm tiếp theo Điều này cho thấy việc áp dụng mô hình “có yếu tố trễ” trong phân tích các mối quan hệ nhân quả liên quan đến hành vi di cư của các thành viên trong một hộ gia đình ở nghiên cứu này mang tính biện chứng và có tính giá trị cũng như độ tin cậy cao hơn so với các nghiên cứu di cư áp dụng mô hình “tĩnh” trước đây Các dữ liệu thực chứng thu được trong các bộ dữ liệu điều tra quốc gia có độ tin cậy cao được sử dụng để tìm
các luận chứng chứng minh cho các luận điểm được nêu ra
4.2 Phương pháp tiếp cận phân tích
Qua tổng quan tài liệu, nghiên cứu này thực hiện tiếp cận theo lý thuyết lao động di cư kinh tế mới (New Economics Labour Migration - NELM) vì đề tài luận án nghiên cứu mục đích di cư của thành viên trong
hộ là để làm kinh tế cho hộ (mục 1B bảng hỏi của Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2014)
Dựa trên tổng quan các mô hình nghiên cứu của các tác giả Mendola
Trang 20(2005), Mahinchai (2010) và Syafitri (2012), mô hình nghiên cứu của luận án
được quyết định dựa trên tham khảo mô hình nghiên cứu của Mendola (2005)
4.3 Nguồn số liệu
Bộ số liệu VHLSS được Tổng cục Thống kê cung cấp và cho phép sử dụng đã được kết nối 3 năm 2010, 2012 và 2014 Trong panel số liệu này, số
hộ được quan sát sau khi kết nối 3 năm dữ liệu điều tra là 1.914 hộ
4.3.1 Mô tả sơ bộ số liệu
Bộ số liệu VHLSS năm 2010 có 9.402 hộ được điều tra trên toàn quốc
Có 5 mục tương ứng với 5 nhóm biến
• Mục 1A: Danh sách thành viên hộ có 11 biến mô tả đặc trưng các thành viên trong hộ;
• Mục 1B: Danh sách những người giúp việc và người đi làm ăn xa nhà có 11 biến mô tả đặc điểm của người giúp việc và người đi làm ăn xa nhà;
• Mục 2: Giáo dục có 16 biến mô tả giáo dục và đào tạo của các thành viên trong hộ;
• Mục 3: Y tế và chăm sóc sức khỏe có 15 biến mô tả điều kiện y
tế và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong hộ;
• Mục 4: Thu nhập có 156 biến mô tả chi tiết các khoản thu của hộ;
• Mục 5: Chi tiêu có 38 biến mô tả chi tiết mức chi tiêu của hộ
Bộ số liệu năm 2012 có 9.399 hộ được điều tra, các mục 1A, 1B, mục
2, 3, 4, 5 đều tương tự như các mục trong Bộ số liệu năm 2010 Tuy nhiên Bộ số liệu năm 2012 có thêm mục 1C: Các thành viên của hộ trong khảo sát mức sống 2010, mục này có 11 biến dùng để nối số liệu năm 2010 với 2012
Bộ số liệu năm 2014 có 9.392 hộ được điều tra, các mục 1A, 1B, mục
2, 3, 4, 5 đều tương tự như trong Bộ số liệu năm 2010 Tuy nhiên, Bộ
số liệu năm 2014 cũng có thêm mục 1C: các thành viên của hộ trong
Trang 21khảo sát mức sống 2012, mục này có 11 biến dùng để kết nối với Bộ số liệu năm 2012 với 2014
Bộ số liệu Điều tra lao động việc làm năm 2014 (số liệu tháng 12 năm 2014) có 62.025 cá nhân được điều tra Câu số 9 trong bảng hỏi được lựa chọn để xác định trạng thái không di cư (không di chuyển), di cư ngắn hạn (di chuyển trong vòng 12 tháng) và di cư dài hạn (di chuyển trên 12 tháng)
4.3.2 Ưu điểm và hạn chế của bộ số liệu
Ưu điểm: Bộ số liệu VHLSS được điều tra trên phạm vi toàn quốc với những chỉ tiêu mô tả khá chi tiết mức sống hộ gia đình Việt Nam Mục 1B cho biết hộ có thành viên đi làm ăn xa nhà (hay có thành viên di cư) với mục
đích làm kinh tế cho hộ Mục 1C của bộ dữ liệu năm 2012 và 2014 cho phép nối số liệu 3 năm 2010, 2012, 2014
Hạn chế: Mục 1B chỉ cung cấp mã hiệu của người di cư, không biết
được những người di cư thuộc hộ nào nên không phân tích được đặc điểm của
cá nhân người di cư tác động đến xác suất hộ có ít nhất một người di cư
Do hạn chế của bộ số liệu VHLSS là không nối được thông tin của người
di cư với hộ của họ, do vậy tác giả đã phân tích một số nhân tố tác động tới quyết
định di cư cá nhân từ bộ số liệu Điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống
kê năm 2014 (bộ số liệu LFS năm 2014) để mang tính chất tham chiếu
5 Những đóng góp mới của luận án
Nghiên cứu di cư tiếp cận theo hướng từ hộ gia đình là thích hợp bởi vì
hộ gia đình ở Việt Nam, nhất là ở nông thôn, các thành viên trong hộ gắn kết
và quan hệ chặt chẽ với nhau Di cư dù là của một thành viên nào đó nhưng lại được quyết định mang tính tập thể hộ gia đình và vai trò của chủ hộ lại có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến các quyết định của hộ gia đình Trong khi các nghiên cứu trước chỉ thực hiện trên các dữ liệu đơn lẻ, việc nối thông tin hộ các năm 2010, 2012 và 2014 trong các Bộ số liệu VHLSS cho phép quan sát
được động thái di cư (với ít nhất một thành viên) của hộ và do đó xem xét
Trang 22được nhiều khía cạnh của mối quan hệ như hộ có mức sống thấp ở năm trước thì có là nguyên nhân để ít nhất một thành viên của hộ năm sau di cư hay không hay việc ít nhất một thành viên di cư thì có giúp cải thiện mức sống của hộ hay không và nếu có cải thiện thì ở mức nào?
Việc nối thông tin hộ có nhược điểm là làm giảm tính đại diện của mẫu, nhưng lại có những ưu điểm mà chưa có nghiên cứu nào về di cư ở Việt Nam có được từ trước đến nay, đó là:
Cho phép nghiên cứu di cư bằng mô hình số liệu mảng có yếu tố trễ (một dạng của mô hình động), mô hình này rất phù hợp khi phân tích tác động nhân quả trong nghiên cứu di cư, như đánh giá xem mức sống thấp ở thời kỳ trước có làm tăng khả năng xuất cư ở thời kỳ sau hay không?
Cho phép so sánh trực tiếp thu nhập và chi tiêu của các hộ có thành viên di cư với hộ không có thành viên di cư, từ kết quả so sánh có thể đưa ra các phân tích hay đánh giá về quyết định di cư của các thành viên hộ gia đình
Các nghiên cứu của Nguyễn Thu Phương và cộng sự (2008), Ian Coxhead và cộng sự (2016) đã phân tích một số nhân tố địa bàn cư trú cấp xã tác động đến di cư Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về di cư ở Việt Nam đã nghiên cứu một số nhân tố cấp tỉnh tác động đến di cư của các
hộ gia đình bằng mô hình số liệu mảng có yếu tố trễ Xuất phát từ thực tế là những tỉnh có vốn đầu tư thực hiện và chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tăng thì dẫn đến cơ sở hạ tầng cũng như chính sách điều hành cấp tỉnh đối với các doanh nghiệp được cải thiện, tỉnh đó sẽ tạo được việc làm tốt và giữ được người lao động ở lại tỉnh Điều này có nghĩa là xác suất xuất cư giảm đi Trong luận án này, với biện giải cho rằng các tác động của một số nhân tố cấp
độ vĩ mô tới di cư không thể ngay tức thì (đồng thời cùng năm) mà nó cần có
“độ trễ” về mặt thời gian, tác giả đã đưa các biến vốn đầu tư thực hiện của tỉnh cũng như số lao động được tạo việc làm trễ một thời kỳ vào mô hình để phân tích xác suất di cư của ít nhất một thành viên hộ gia đình Kết quả nghiên cứu đã khẳng định khi các biến này tăng thì xác suất di cư giảm Kết
Trang 23quả nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các nhà lãnh
đạo cấp tỉnh đưa ra các chính sách phù hợp để điều tiết di cư giúp tăng trưởng kinh tế cho tỉnh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày các khái niệm về di cư, lý thuyết về di cư Tổng quan các mô hình phân tích xu thế di cư và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết
định di cư trên thế giới Mô hình phân rã Blinder – Oaxaca phân tích sự khác
biệt thu nhập của nhóm hộ có người di cư và nhóm hộ không có người di cư
Rà soát một số nghiên cứu về di cư ở Việt Nam
1.1 Các khái niệm về di cư
Di cư là khái niệm được các nhà nghiên cứu định nghĩa chưa thống nhất
Có nhà nghiên cứu coi đó là sự “thay đổi nơi cư trú cố định” (Lee, 1966), có nhà nghiên cứu lại coi “sự thoát ly hay tách khỏi cộng đồng sống” là nội dung chính trong nội hàm khái niệm di cư (Mangalam và Morgan, 1968) Có nhà nghiên cứu cho rằng “giá trị hệ thống dựa trên đó con người hay cộng đồng người lựa chọn nơi cư trú” là tiêu chí chủ yếu nhận dạng quá trình di cư (Paul Shaw, 1975) Như vậy, di cư có thể hiểu là sự di chuyển của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Nói cách khác, di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình dịch chuyển dân số theo không gian hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định Di cư
có thể liên quan đến sự di chuyển của một cá nhân, một gia đình, thậm chí cả
một cộng đồng
Cùng với khái niệm “di cư” có một số khái niệm liên quan như “người di
Trang 24cư”, “di cư tổng”, “di cư thuần”, “nơi nhập cư”, “nơi xuất cư”, “chênh lệch di
cư”… “Người di cư” là người trong một thời gian nhất định, có ít nhất một
lần thay đổi nơi cư trú của mình từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành
chính khác, từ khu vực lãnh thổ này sang khu vực lãnh thổ khác “Di cư tổng”
là tổng cộng số người đến và đi trên cùng một vùng, là chỉ số đo lường toàn
bộ dân số đến và đi trong một cộng đồng dân cư trên cùng một địa bàn sống
“Di cư thuần” là khái niệm chỉ sự chênh lệch giữa tổng số người di chuyển
đến và tổng số người di chuyển đi khỏi một vùng lãnh thổ nhất định do sự
chuyển dịch nơi cư trú của người dân “Nơi nhập cư” là thuật ngữ chỉ địa bàn
mà người di cư tìm đến với mục đích xác lập nơi cư trú mới “Xuất cư” là sự
di chuyển hoặc rời bỏ nơi cư trú của người di cư để xác lập địa bàn cư trú
mới “Chênh lệch di cư” chỉ khoảng cách giữa các nhóm di cư khác nhau về
yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, yếu tố văn hoá, kinh tế… Điều đó có nghĩa là đối với những luồng di cư khác nhau sẽ có sự khác nhau trong cơ cấu
thành phần, trong đặc điểm nhận diện, trong tính chất di chuyển
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia di cư thành các loại
hình khác nhau Theo tiêu chí thời gian, di cư bao gồm di cư lâu dài, di
cư tạm thời và di cư mùa vụ “Di cư lâu dài" chỉ người hay nhóm người di cư
di chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở
lại nơi đến lâu dài “Di cư tạm thời” là sự xác lập nơi cư trú của người hay
nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định
cư tại nơi đó hay không “Di cư mùa vụ” là hình thức di cư đặc biệt của di cư
tạm thời, nó không chỉ ám chỉ khoảng thời gian di cư trùng với thời gian “nông nhàn” sau khi thu hoạch mùa vụ canh tác, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch…), có nghĩa là người di cư di chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, không có ý
định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư, sẽ quay trở lại nơi xuất cư nếu có nhu
cầu lao động hoặc công việc gia đình
Trang 25Theo tiêu chí về hướng di cư, có di cư nội địa và di cư quốc tế Sự di chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia hoặc vượt ra ngoài biên giới
quốc gia tới quốc gia khác
Căn cứ theo tiêu chí trình độ phát triển giữa địa bàn đi – đến, di cư có bốn loại hình: Nông thôn – nông thôn; Nông thôn – thành thị; Thành thị – thành thị; Thành thị – nông thôn
Căn cứ theo tính pháp lý của di cư, có hai hình thức: Di cư có tổ chức và
tự do; trong đó, di cư có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các
chương trình của Nhà nước, theo đó người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định
đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, tạo việc
làm, còn di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương
trình di cư của Chính phủ, do người di cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư, đến trang trải mọi chi phí di chuyển, tìm việc làm…
Một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên về di cư hiện đại là Ravenstein, vào những năm 1880, Ravenstein đã nghiên cứu "quy luật di cư" dựa trên dữ liệu di cư thực nghiệm, bộ dữ liệu thực nghiệm này cho thấy một
số quy luật, ví dụ thực tế là hầu hết người di cư chỉ di chuyển trong khoảng cách ngắn Mô hình di cư của Zipf (1946) sử dụng một khái niệm trong vật lý
đó là khái niệm trọng lực để giải thích di cư, Zipf cho rằng di cư là một hàm
của khoảng cách từ vùng đi và vùng đến của người di cư, tác giả đã dự đoán
di cư tỷ lệ nghịch với khoảng cách
Trong những năm 1950, lý thuyết di cư ra đời từ mô hình cơ học để khái quát hóa mô hình di cư Lý thuyết luồng di cư đầu tiên xuất hiện trong mô hình hai khu vực của Lewis những năm 1950-1960, trong đó di cư xảy ra như
là kết quả của sự khác biệt trong cung và cầu lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị Harris – Todaro những năm 1970 – 1980 đề xuất một số mô hình dựa vào quan sát thực nghiệm để định dạng cho một số mô hình cụ thể
Trang 26về di cư
Trong quá trình phân tích, khi nhìn vào số liệu tổng hợp thì thường thấy
di cư như cơ chế cân bằng, từ những năm 1980 nhiều tác giả đã nghiên cứu di
cư dựa trên các mô hình kinh tế vi mô Ngoài những mô hình phân tích những
động lực cá nhân để di chuyển, một số tác giả còn xem xét các yếu tố ở cấp
độ cộng đồng Phương pháp tiếp cận hiện đại hơn liên kết các cấp độ vi mô và
vĩ mô Đóng góp của các nghiên cứu gần đây là sự phân biệt giữa nguyên nhân di cư và tồn tại của di cư Lý thuyết kinh tế mới của lao động di cư do Hagen – Zanker, J ( 2008) phát triển trong những năm 1980 cho thấy di cư liên quan đến quyết định của hộ gia đình và có nhiều lý giải cho việc di cư
Lý thuyết này được thảo luận rộng rãi và được đưa ra từ các lý thuyết cổ điển
về di cư, trong đó các tác giả cố gắng mô hình hóa các quá trình ra quyết định
di cư một cách thực tế hơn bằng cách đưa ra một loạt các yếu tố tác động đến quyết định di cư
Quyết định di cư cá nhân có thể được hình thành dựa trên các nhân tố
“hút” và “đẩy” phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi cá nhân cũng như bối cảnh kinh tế - xã hội nói chung (các cơ hội hay áp lực về lao động và việc làm, khoảng cách về thu nhập và sự phát triển của các dịch vụ xã hội giữa các khu vực, v.v.) Quyết định nhập cư căn cứ vào việc phân tích chênh lệch giữa “chi phí” và “lợi ích” của quá trình nhập cư và nó không giống nhau đối với tất cả mọi người dân di cư Các nghiên cứu quy luật nhập cư đã chỉ ra rằng các khu vực công nghiệp hóa, đô thị hoá nhanh có sức hấp dẫn lớn đối với nhập cư
Điều này được chỉ ra thông qua thực tế là các khu vực công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh thường đòi hỏi nhiều lao động hơn để vận hành luồng công việc và
đáp ứng được các yêu cầu về năng suất Hơn nữa, các khu vực phát triển nhanh này cũng đem lại thu nhập cao hơn cho các lao động và vì vậy thu hút
được ngày càng nhiều người nhập cư vào nhằm kiếm được nhiều tiền hơn và
Trang 27có được mức sống cao hơn
Có nhiều yếu tố tác động dẫn đến sự di chuyển của dân cư song có thể chia thành bốn nhóm chính:
Nhóm 1: Các yếu tố về kinh tế như mức sống, cơ hội việc làm, sự thay
Những thuận lợi hay khó khăn của các yếu tố này ở các vùng sẽ tạo nên
“lực hút” hay “lực đẩy” của mỗi vùng mà có ảnh hưởng tới sự chuyển đến
hay ra đi của dân cư Lực hút bao gồm những điều kiện thuận lợi cho việc sinh sống, làm việc, học tập và phát triển ở nơi đến Lực đẩy bao gồm những
trở ngại hay hạn chế cho việc sinh sống, làm việc, học tập và phát triển
Bất kỳ một vùng lãnh thổ nào cũng đều có những thuận lợi hay khó khăn nhất định Nói cách khác, các yếu tố tác động đến hút và đẩy của một vùng luôn tồn tại song song Những lý thuyết nghiên cứu về lực hút và lực đẩy đã
đưa ra quy luật chung của di cư là dân cư sẽ di chuyển từ nơi có đời sống thấp
đến nơi có đời sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến vùng có điều kiện thuận lợi hơn Di cư ngày càng diễn ra mạnh mẽ theo sự tiến
bộ ngày càng cao của xã hội Chính sự thay đổi về tiến bộ khoa học, kỹ thuật dẫn đến sự hình thành các vùng trung tâm phát triển với các khu công nghiệp, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp… sẽ thu hút các dòng di dân đến
Vùng nông thôn xa xôi thường là nơi ra đi của lực lượng lao động trẻ, vì
ở đó thường không có hoặc thiếu các cơ hội phát triển kinh tế, lối sống buồn
Trang 28tẻ, ít có cơ hội phát triển Ngược lại, các trung tâm công nghiệp, đô thị hay thành phố lớn thường là những nơi có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trẻ vùng nông thôn vì có nhiều cơ hội việc làm, học tập, tiện nghi sinh hoạt và những triển vọng tương lai đầy tươi sáng Từ đó hình thành và bùng phát luồng di chuyển đặc trưng nông thôn – thành thị và dòng di chuyển này ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở các vùng đang phát triển
Tại các đô thị, nguyên nhân khiến cho nhập cư gia tăng có thể bao gồm hai nhóm chính cơ bản gồm:
Nguyên nhân kinh tế: hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học
đều nhất trí rằng hiện tượng nhập cư vào thành thị có thể được giải thích chủ yếu bằng nguyên nhân kinh tế Những nhân tố này bao gồm không chỉ bởi những lực đẩy quen thuộc từ nơi xuất cư như thiếu đất canh tác, thiếu việc làm, thu nhập thấp,… mà còn bởi những lực hút từ những nơi nhập cư như cơ hội việc làm có tính ổn định, thu nhập cao hơn so với nơi ở cũ… Các nghiên cứu đều cho thấy tiền lương, thu nhập, việc làm, mức độ thất nghiệp… đều
ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định di cư của người dân
Nguyên nhân phi kinh tế: Vấn đề chất lượng cuộc sống, những người di dân muốn có cuộc sống tốt hơn cho bản thân và cho gia đình thông qua cuộc sống ở thành thị, nơi có thể gọi là “chốn phồn hoa đô hội”, các phương tiện giao thông tấp nập, phương tiện thông tin đại chúng rộng khắp, cơ sở hạ tầng ở thành thị được hiện đại hóa, nơi có hệ thống giáo dục, y tế, dịch vụ phát triển Vấn đề
về phong tục tập quán và các nhân tố xã hội cũng tác động sâu sắc tới quá trình
di dân từ nông thôn ra thành thị, ví dụ như những người di dân muốn thoát khỏi những ràng buộc truyền thống, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu ở nông thôn Vấn đề đi học của con cái, đoàn tụ gia đình cũng là những lực hút của dòng
di dân từ nông thôn ra thành thị (Lưu Bích Ngọc, 2016)
Trong Luận án này, khái niệm về người di cư và hộ gia đình có người di cư
Trang 29được căn cứ theo khái niệm mà Tổng cục Thống kê đã áp dụng cho các điều tra quốc gia trong đó có Điều tra Mức sống dân cư Cụ thể, “người di cư” ở đây là
“những người đã chuyển tới chung sống trong hộ gia đình từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và những thành viên trong hộ đã rời khởi hộ gia đình để làm kinh tế cho hộ, kể cả đi xuất khẩu lao động” (Câu hỏi 1 – Mục 1B) Căn cứ vào
định nghĩa này, trường hợp những “người xuất cư” là những thành viên trong hộ
đã rời khởi hộ gia đình để làm kinh tế cho hộ được lựa chọn nghiên cứu “Hộ có người xuất cư” là hộ gia đình trong Điều tra có ít nhất một người xuất cư trong
12 tháng qua như đã đề cập ở trên1
1.2 Các lý thuyết về di cư và động lực di cư
1.2.1 Lý thuyết vĩ mô về di cư
Các lý thuyết vĩ mô về di cư quan tâm phân tích các luồng hay dòng di
cư và xu thế di cư trong một quốc gia Khởi đầu các lý thuyết di cư vĩ mô tân
cổ điển giải thích di cư như là một phần của sự phát triển kinh tế Di cư trong nước xảy ra do sự khác biệt về cung và cầu lao động giữa các vùng địa kinh
tế, chủ yếu là giữa khu vực nông nghiệp ở nông thôn và các ngành công nghiệp sản xuất ở các đô thị Các mô hình cơ bản đã phát triển các lý thuyết
mô hình hai khu vực, giả định thị trường lao động cân bằng thì một lượng dư thừa lao động trong ngành nông nghiệp truyền thống được hấp thụ bởi các khu công nghiệp Các khu công nghiệp phát triển thu hút người lao động từ khu vực nông nghiệp Lao động nông thôn bị thu hút bởi sự khác biệt tiền
“Trong hộ [Ông/Bà] có người giúp việc ăn chung, ở chung cùng hộ từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có ai trong hộ đi xa nhà trên 6 tháng không?”
Nếu câu trả lời là KHÔNG thì hộ đó không có người giúp việc và cũng không có người đi khỏi hộ, còn nếu câu trả lời là CÓ thì căn cứ vào câu hỏi số 4 mục 1B để xác định hộ có người giúp việc hay có người đi khỏi hộ.
Nếu câu trả lời ở câu số 4 mục 1B là số 1 thì hộ đó có người giúp việc, còn nếu câu trả lời là số 2 thì hộ đó có người đi xa nhà để làm kinh tế
Từ thông tin câu số 1 và câu số 4 mục 1B xác định được hộ có người đi xa nhà để làm kinh tế cho hộ và được gọi là hộ có ít nhất người xuất cư.
Trang 30lương, tiền lương ở khu vực thành thị luôn cao hơn ở khu vực nông thôn và
đây là động lực chủ yếu khiến người lao động ở nông thôn di chuyển đến các khu vực đô thị (Lewis, 1954)
Todaro và Harris (Todaro, 1969; Harris & Todaro, 1970) tiếp tục nghiên cứu mô hình này để giải thích cho vấn đề thất nghiệp đô thị ở nhiều nước kém phát triển Di cư không phải là hoàn toàn không có rủi ro, vì người di cư không biết trước có thể tìm được việc làm tại nơi đến mới hay không Di cư
từ nông thôn ra thành thị tiếp tục xảy ra nếu mức thu nhập thực tế ở thành thị còn cao hơn ở khu vực nông thôn, thậm chí di cư còn gia tăng hơn nếu tiền công trả cho người lao động tại các đô thị cao hơn vượt bậc so với tiền công trả cho người lao động ở nông thôn Một nhân tố khác cũng tác động mạnh
đến động lực di cư nông thôn – thành thị đó là cơ hội tìm được việc làm ở các khu đô thị cao hơn nhiều so với tìm được việc ở khu vực nông thôn
Lý thuyết thị trường lao động kép thường bỏ qua các quyết định ở cấp vi
mô như phân tích chi phí và lợi ích của một cá nhân di cư, thay vào đó, các nhà nghiên cứu lý thuyết này tập trung phân tích nhập cư như một "hệ quả tự nhiên của toàn cầu hóa kinh tế và thâm nhập thị trường qua các biên giới quốc gia" (Massey và cộng sự, 1994:432) Lý thuyết này không nghiên cứu những vấn đề liên quan tới các quyết định di chuyển cá nhân nhưng tập trung vào nhóm người di cư Lý thuyết thị trường lao động kép còn giải thích di cư như
là kết quả của yếu tố kéo tạm thời, nhu cầu lao động cụ thể có sự phân biệt rõ
ở các nước phát triển (Piore, 1979) Theo cách tiếp cận này, di cư chịu ảnh hưởng mạnh bởi sự phát triển và mức lương cũng như tính chất công việc của khu vực chính thức và khu vực phi chính thức
1.2.2 Lý thuyết trung mô về di cư
Mô hình cấp trung mô cũng giải thích di cư của những thành viên hộ gia
đình từ nông thôn ra thành thị ở các nước kém phát triển, chẳng hạn mô hình
Trang 31di cư của Mabogunje (1970), mô hình này được xem như là một mô hình hệ thống, trong đó ông giải thích di cư là một quá trình không gian động Dòng
di cư được mô hình hóa bằng cách bắt đầu với một nhóm người di cư tiềm năng ở nông thôn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau trong các quyết định
di cư Việc kiểm soát ở nông thôn chính là kiểm soát luồng đi (ví dụ như thông qua gia đình hoặc cộng đồng làng, xã,…), kiểm soát ở đô thị chính là kiểm soát luồng đến (ví dụ như thông qua các cơ quan tuyển dụng), thông tin phản hồi sẽ được chuyển lại cho người di cư tiềm năng Những thông tin này cùng với môi trường nền (điều kiện kinh tế, chính sách, vận tải, truyền thông,
cơ sở hạ tầng…) sẽ ảnh hưởng đến luồng di cư
1.2.3 Lý thuyết vi mô về di cư
Lý thuyết vi mô về di cư phân tích những yếu tố tác động đến quyết định
di chuyển của các cá nhân, đó là các nhân tố động lực di cư cá nhân Lee (1966) là người đầu tiên nghiên cứu di cư theo cách tiếp cận các yếu tố tác
động đến lực hút (nhập cư) và các yếu tố tác động đến lực đẩy (xuất cư) trên mức độ cá nhân từ cả hai phía cung và cầu của di cư Cách tiếp cận “vốn con người” là lý thuyết di cư ở cấp vi mô tân cổ điển Dựa trên nghiên cứu của Sjaastad (1962) di cư được coi là một quyết định đầu tư cá nhân để tăng năng suất của vốn con người Cá nhân thực hiện việc tính toán chi phí-lợi ích, nếu lợi nhuận kỳ vọng không được cải thiện thì di cư dự kiến sẽ giảm theo các khoảng thời gian trong tương lai, họ chỉ di cư khi lợi nhuận kỳ vọng được cải thiện Các lý thuyết nhấn mạnh rằng di cư có thể dẫn đến việc nâng cao tay nghề Tuổi của người di cư rõ ràng đóng một yếu tố quan trọng, do đó lợi ích
kỳ vọng giảm khi tuổi của người di cư tăng lên Mô hình này có thể dự báo
được người di cư còn trẻ và được đào tạo Tuy nhiên, mô hình này bị chỉ trích
vì dựa trên các giả định lý thuyết (giả định không thực tế) Do đó Fischer và cộng sự (1997) đã đề xuất một phương pháp cải tiến mô hình này trong
Trang 32trường hợp không có rủi ro và giả định các thông tin bất đối xứng giảm Với mô hình giá trị kỳ vọng (hay giá trị mong đợi) của Crawford (1973), ông cho rằng người di cư tin tưởng nơi mà họ đến có giá trị kỳ vọng cao hơn nơi ở cũ (ví dụ như được hưởng lợi từ sự thịnh vượng sẵn có của nơi mà họ
đến, được tự quyết hay được tôn trọng) Giá trị và kỳ vọng phụ thuộc vào đặc
điểm cá nhân và hộ gia đình (ví dụ như trình độ học vấn) và chuẩn mực xã hội Những giá trị này không nhất thiết phải là kinh tế mà có khi là yếu tố phi kinh tế (ví dụ như an ninh được đảm bảo) Mô hình này một lần nữa nó cho thấy sự lựa chọn di cư là do chủ quan Ngoài ra, còn có các mô hình cá nhân
ra quyết định tương tự dựa trên hành vi của người di cư, ví dụ: nghiên cứu của Jong & Fawcett (1981) hay phương pháp tiếp cận tạo động lực của Ritchey (1976) Các phương pháp tiếp cận hành vi di cư cũng xem xét đến yếu tố phi kinh tế và ảnh hưởng xã hội nhưng nó không rõ ràng và ra quyết định vẫn chỉ dựa trên giả định hợp lý
1.2.4 Lý thuyết lao động di cư kinh tế mới (New Economics Labour Migration - NELM)
Lý thuyết lao động di cư kinh tế mới tập trung nghiên cứu cá nhân đưa ra quyết định di cư dựa trên đặc điểm của hộ gia đình Nghiên cứu của Harbison (1981) có tên "cấu trúc gia đình và chiến lược ra quyết định di cư" chỉ ra rằng gia
đình có thể ảnh hưởng đến quyết định di cư của cá nhân thông qua cơ cấu nhân khẩu học Sandell (1977) và Mincer (1978) lại xem di cư là một quyết định của
cả gia đình và cả gia đình di cư cùng nhau Các gia đình di cư nếu lợi ích ròng của họ là tích cực, thực chất là tổng hợp lợi ích từ di cư của các cá nhân Bigsten (1988) thì lại cho rằng các gia đình không nhất thiết mọi thành viên di cư cùng nhau mà các gia đình nên phân bổ thành viên đến khu vực thành thị hoặc nông thôn phụ thuộc vào tiền lương của các sản phẩm cận biên cộng lại
Một số nghiên cứu tiếp cận theo lý thuyết lao động di cư kinh tế mới
Trang 33(NELM) còn cho rằng di cư như là kết quả logic của một "chiến lược có tính toán" được xác định ở cấp độ hộ gia đình của người di cư Theo Stark (1991:145) thì trong cuộc sống thực quyết định di cư còn bị ảnh hưởng bởi việc xem xét thu nhập tuyệt đối và tương đối Thu nhập tương đối có thể được xem như là "tình trạng" xã hội, được đánh giá so với các nhóm tham khảo của các hộ gia đình Các nhóm tham khảo có thể là cộng đồng địa phương, làng, thị trấn, v.v… Tình trạng này không chỉ có giá trị nội tại, nhưng nó cũng có thể chuyển thành lợi ích tiền tệ, chẳng hạn như đối với các nước kém phát triển thì người có tài sản thế chấp là đất ở khu vực thành thị được vay tiền nhiều hơn người ở nông thôn
Quyết định di cư được thực hiện phối hợp của người di cư và gia đình của họ do đó phân tích di cư như một quyết định trong gia đình chứ không phải là một quyết định cá nhân Họ chia sẻ chi phí di cư và lợi nhuận nhận
được từ một thành viên di cư thì cả gia đình cùng hưởng (Stark và Blomm, 1985) McDebitt và Gadalla (1984) cũng khẳng định rằng quyết định di cư có liên quan đến các đặc tính hôn nhân của người di cư (có vợ/chồng hay không có) Quyết định di cư của các hộ gia đình có liên quan đến việc phân bổ lao động hiện tại của một quốc gia, việc biến động lao động giữa các địa phương cũng ảnh hưởng đến sản xuất dài hạn của một quốc gia (Taylor et al., 2003) Di cư ở cấp
độ hộ gia đình nhằm mục đích đa dạng hóa thu nhập để giảm thiểu những rủi ro như thất nghiệp, mất thu nhập hoặc mất mùa, và loại bỏ những hạn chế mà có thể gây ra thất bại thị trường trong nước (Arango, 2000) Stark khẳng định rằng quyết định di cư có thể được hiểu như là xuất phát từ sở thích của gia đình đối với mức thu nhập ổn định, đạt được thông qua một danh mục đầu tư đa dạng của người lao động, và sự cần thiết phải phối hợp đảm bảo an sinh của gia đình Demir & Shearer (2003) nhấn mạnh rằng để giảm thiểu rủi ro khi xin việc, các gia đình lựa chọn đào tạo cho mỗi thành viên trong gia đình một ngành nghề khác nhau để đảm bảo rằng thành viên này khó xin việc thì có thành viên
Trang 34khác
1.2.5 Thảo luận về động lực di cư
Còn đang có những tranh luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
di cư và các yếu tố cấu thành động lực di cư Có ý kiến cho rằng động lực di
cư là yếu tố sâu xa, bên trong mỗi con người Vì vậy để thấy rõ động lực di cư thì cần có điều tra sâu để phát hiện nội hàm khái niệm “động lực di cư” Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư hay các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi di cư chính là động lực di cư
Theo kết quả Điều tra di cư nội địa năm 2015 của Tổng cục thống kê thì các vấn đề kinh tế vẫn là lý do hàng đầu dẫn đến quyết định di cư Kết quả
điều tra cho thấy, có gần 30% người di cư được hỏi cho biết họ di chuyển là
do “tìm được việc làm ở nơi mới”; 11,5% di cư để có “điều kiện làm việc tốt hơn”; 11,9% di cư để “thuận tiện cho công việc”; 12,6% di cư để “cải thiện
đời sống” Vậy các yếu tố “tìm được việc làm ở nơi mới”, “điều kiện làm việc tốt hơn”, “thuận tiện cho công việc”, “cải thiện đời sống”,… được gọi là “một
số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư” Tuy nhiên các yếu tố này có được coi là “động lực di cư” hay không thì cần bàn luận thêm
Sau khi nghiên cứu tổng quan các lý thuyết về di cư và một số mô hình phân tích di cư, tác giả rút ra được kết quả là có hai nhóm mô hình phân tích
di cư Nhóm mô hình thứ nhất là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến di cư với biến phụ thuộc là số người di cư hoặc tỷ lệ người di cư, nhóm mô hình thứ hai
là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư cá nhân hay hành vi di
cư cá nhân
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích di cư bao hàm phân tích quyết định di cư dưới
đây cho biết mô hình phân tích quyết định di cư cá nhân là một bộ phận của
mô hình phân tích di cư Nếu mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến di
cư có thể là phân tích các nhân tố tác động tới luồng di cư hay dòng di cư (chẳng hạn, phân tích các nhân tố tác động tới số người di cư từ các tỉnh miền
Trang 35Bắc vào các tỉnh miền Nam, từ nông thôn ra thành thị,…), còn mô hình phân tích các nhân tố tác động tới quyết định di cư là phân tích các nhân tố tác
động đến việc lựa chọn có di cư hay không di cư của mỗi cá nhân ở cấp độ mỗi người đơn lẻ hoặc của mỗi cá nhân trong một hộ gia đình
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích di cư bao hàm phân tích quyết định di cư 1.3 Tổng quan các nghiên cứu về di cư và mô hình phân tích các nhân tố tác động đến quyết định di cư
1.3.1 Mô hình phân tích xu thế di cư
Lowry (1966) đã áp dụng hệ thức Newton (1687)về định luật vạn vật
hấp dẫn và Lowry cho rằng số người di chuyển từ vùng i đến vùng j tỉ lệ
thuận với dân số ở 2 vùng đó và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa 2 vùng đó Lowry đưa ra hệ thức sau:
Trang 36Các tham số β0, β1, β2, β3, β4, β5 cần ước lượng,
Fan (2005) đã áp dụng mô hình trọng lực để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến di cư liên vùng ở Trung Quốc giai đoạn 1985-2000, có dạng:
đã thêm biến này vào mô hình (A) và ước lượng mô hình sau:
ln = + ln() + "ln + #ln + %ln(&) + 'ln& (()
Trong đó: Gi, Gj lần lượt là GDP bình quân đầu người tỉnh i và j, tham số
a4 được kỳ vọng mang dấu âm còn a5 được kỳ vọng mang dấu dương Kết quả
ước lượng cho thấy di cư liên tỉnh gần như tăng lên gấp ba lần sau 15 năm, biến khoảng cách tác động yếu dần theo thời gian trong khi chênh lệch về GDP bình quân đầu người giữa các tỉnh tác động rất mạnh đến di cư
Trang 37Lợi thế của mô hình này là phân tích các nhân tố dân số (như mật độ dân số), khoảng cách di cư (khoảng cách giữa hai địa phương nơi đi và nơi đến), thu nhập bình quân đầu người ở địa phương nơi đi và nơi đến ảnh hưởng đến
số người di cư từ địa phương i đến địa phương j, nên khả năng áp dụng mô
hình này để phân tích khá phù hợp với nhiều quốc gia trên thế giới Hầu hết các quốc gia đều có sẵn số liệu của các nhân tố trong mô hình này, các nhân
tố trong mô hình tác động đến di cư đều là các nhân tố tác động trực tiếp đến
di cư và có thể nhận thấy ngay nó phù hợp trong thực tế
Tuy nhiên qua tổng quan và tìm hiểu các bộ số liệu quốc gia về di cư thì
mô hình này không áp dụng được để phân tích di cư ở Việt Nam vì những lý
do sau đây:
(+) Cho đến nay Việt Nam vẫn quản lý nhân khẩu thông qua hộ khẩu nên khái niệm di cư thông qua chuyển đăng ký hộ khẩu có độ tin cậy chưa cao vì thực tế đã có người di cư nhưng không thực hiện các khai báo và không đăng ký hộ khẩu
(+) Nghiên cứu này cho thấy khoảng cách từ tỉnh i đến tỉnh j có tác động
đến số người từ tỉnh i di cư đến tỉnh j Tuy nhiên khoảng cách từ tỉnh i đến tỉnh j có ảnh hưởng đến quyết định di cư cá nhân hay không thì mô hình này
chưa có câu trả lời
(+) Do phát triển kinh tế có tính đặc thù của địa phương nên chiều di cư cũng có thể được xác định từ những tỉnh thuần nông, lực lượng lao động dồi dào do mức sinh cao trong quá khứ, diện tích đất canh tác bình quân đầu người giảm mạnh, lao động thiếu việc làm trầm trọng (như Thái Bình, Nam
Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,…) đến các khu công nghiệp, đô thị và thành phó lớn
Puhani (1999) trong bài viết về di chuyển lao động – hiệu chỉnh cơ
cấu lao động trong liên minh Châu Âu, tác giả đã chỉ định mô hình sauđể
Trang 38phân tích và kiểm chứng thực nghiệm xu thế di cư với 3 nước là Tây Đức, Pháp, Italy:
mig: (net migration) di dân thuần tuý – dân số tăng lên trong năm do di
cư; pop: (population) dân số;
u : (unemployment rate) tỷ lệ thất nghiệp; y: (income/GDP) thu nhập Các chỉ số i, n, t tương ứng là vùng trong một quốc gia, quốc gia đó và năm Mục
tiêu của nghiên cứu này là đánh giá, phân tích các nhân tố thất nghiệp và thu nhập ảnh hưởng tới di chuyển lao động của các quốc gia Tây Đức, Pháp, Italy
để từ đó đề xuất chính sách hiệu chỉnh cơ cấu lao động của các quốc gia này cho phù hợp Từ kết quả ước lượng tác giả thu được kết quả là: tỷ lệ thất nghiệp năm trước ở Tây Đức ảnh hưởng tới di cư năm sau là cao nhất (29,6%), tiếp theo là đến Pháp (8,4%) và cuối cùng là Italy (3,7%)
Mô hình này rất phù hợp cho phân tích di cư, vì đây là mô hình động với
số liệu mảng Hiện tượng di cư là một quá trình động và quan hệ nhân quả thể hiện khá rõ trong phân tích di cư, cụ thể là phân tích nhân quả, “thất nghiệp”
và “thu nhập thấp” là nhân tố “đẩy” hay nguyên nhân để người ta đi nơi khác còn “có việc làm” và “thu nhập cao” là nhân tố “kéo” hay nguyên nhân kéo người ta đến hay giữ người ta ở lại nơi ở mới Chẳng hạn năm trước, một cá nhân bị thất nghiệp thì đó là nguyên nhân để năm sau cá nhân đó di cư để tìm
Trang 39việc, suy rộng ra trong phạm vi một tỉnh mà năm trước có tỷ lệ thất nghiệp cao so với cả nước thì đó là nguyên nhân để năm sau người dân tỉnh này xuất
cư đến tỉnh khác để tìm việc
Mặc dù mô hình này rất phù hợp cho phân tích luồng di cư, tuy nhiên nó lại không thể áp dụng vào phân tích di cư ở Việt Nam cũng vì ở Việt Nam không có số liệu về thất nghiệp cấp tỉnh Một hạn chế khác khi áp dụng mô hình động với số liệu mảng là số liệu dọc theo thời gian cần khá dài (khoảng trên 10 năm như số liệu phân tích với mô hình của nhóm tác giả này) Tại thời
điểm hiện tại, đây là một hạn chế căn bản ở Việt Nam
Bentivogli và Pagano (1999) khi nghiên cứu di chuyển lao động và sự
khác biệt vùng trên thế giới, các tác giả đã chọn mô hình sauđể phân tích di chuyển lao động của Mỹ và Châu Âu:
6=7<
+ = >+ >45(0+) + >"45(?+) + >#45@+" + >%A+ + B+
Trong đó: i là chỉ số các vùng (51 với Mỹ, 44 với Euro - 11); t là chỉ số các năm; (NM/Pop): số di cư thuần tuý hàng năm tính trên 1000 người dân của
địa phương trong năm (đơn vị ‰);
u là tỷ lệ thất nghiệp; w là tiền lương (được xác định bởi GDP đầu người); σ2 là đại diện những yếu tố không quan sát được nhưng có ảnh hưởng
đến biến phụ thuộc (chẳng hạn sự biến động của GDP đầu người theo thời gian, chúng ta sẽ lấy chuỗi trung bình trượt 3 năm liên tếp của GDP đầu
người để thay thế); C là vectơ các biến điều khiển (control variables) Kết quả
ước lượng mô hình các tác giả đã nhận được một số kết quả sau:
+) Sự khác biệt vùng có ảnh hưởng (tương đối nhạy) tới mức độ di chuyển; +) Mức chênh lệch về thu nhập ảnh hưởng tới di trú ở Mỹ cao hơn Châu
Âu cả trong ngắn hạn và dài hạn;
+) Thất nghiệp và di cư thực ở các vùng của Mỹ có quan hệ ngược chiều
Trang 40nhau, còn ở các vùng của Châu Âu thì thất nghiệp không ảnh hưởng đến mức
độ di cư
1.3.2 Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư
Mô hình phân tích động lực di cư có thể hiểu là mô hình phân tích các nhân tố có tác động tới quyết định có di cư của người dân Mô hình phân tích
động lực di cư đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu, Ruyssen và cộng sự (2012) nghiên cứu động lực di cư của 19 nước OECD từ năm 1998 đến năm 2007 cho thấy động lực chủ yếu của di cư là cơ hội thu nhập tốt hơn và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn ở nơi mà người di cư đến
Cơ hội việc làm và phúc lợi cũng là các nhân tố làm gia tăng động lực di cư
Lý thuyết về các quyết định di cư có thể được tìm thấy trong Greenwood (1997), Borjas (1999), Chiswick (1999) và Bauer & Zimmermann (1999) Theo một số lý thuyết, dòng di cư phần lớn là do sự khác biệt về mức sống chênh lệch giữa các khu vực (Harris và Todaro, 1970) Do đó, sự khác biệt về thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp, chi phí sinh hoạt, hàng hóa công cộng và chuyển giao công nghệ cũng là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định di cư Quyết định di chuyển bị ảnh hưởng bởi các chi phí, bao gồm cả những chi phí hữu hình như chi phí đi lại, mất thu nhập ở nơi cũ… lẫn các chi phí vô hình như: tâm lý phát sinh từ việc tách khỏi gia đình và bạn bè Khả năng di cư sẽ giảm theo tuổi tác Những người có trình độ học vấn, bằng cấp cao có khả năng di cư cao hơn, bởi vì người có trình độ cao sẽ giảm rủi ro khi di cư vì có khả năng sẽ tìm được việc và có thu thập cao, đồng thời những người có trình
độ cao xử lý thông tin tốt hơn để tránh rủi ro ở nơi đến Khoảng cách giữa nơi
đi và nơi đến, còn gọi là độ dài di cư cũng ảnh hưởng tới quyết định di cư Hoàn cảnh sống của gia đình cũng đóng một vai trò quan trọng đối với quyết
định di cư (Mincer, 1978) Nhìn chung, người di cư có thể lựa chọn di cư hoặc không di cư còn tùy thuộc vào các đặc trưng cá nhân của họ (Borjas, 1987; Chiswick, 1999) Trên thế giới, một số nghiên cứu khẳng định rằng