Cạnh tranh đã bắt đầu được công nhận là một hiện tượng khách quan, là một trong những vấn đề cơ bản của một nền kinh tế thị trường,4 và là động lực cho sự phát triển kinh tế, giúp tăng
Trang 11
Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: sự cần thiết của việc ghi nhận vấn đề
cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh doanh
Trần Thăng Long1
TÓM TẮT
Bài viết bàn về sự cần thiết ghi nhận vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền trong sửa đổi Hiến pháp 1992 Nội dung bài viết bao gồm ba vấn đề cơ bản Trước hết là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc ghi nhận trong Hiến pháp các vấn đề này Sau đó, bài viết tìm hiểu cách tiếp cận và kinh nghiệm của một số nước có nền kinh tế chuyển đổi Cuối cùng, vấn đề ghi nhận nguyên tắc chống độc quyền trong kinh doanh trong Hiến pháp sửa đổi sẽ được thảo luận cùng với những kiến nghị cụ thể
Cạnh tranh là một hiện tượng khách quan tồn tại trong nền kinh tế thị trường (KTTT) và bao hàm cả hai khía cạnh tiêu cực và tích cực.2 Một mặt, cạnh tranh đóng vai trò là động lực cho phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, đảm bảo phát huy cao nhất khả năng của mọi thành phần kinh tế Mặt khác, nếu các hành vi cạnh tranh không được điều chỉnh đúng đắn và kịp thời, tình trạng độc quyền và những hành vi hạn chế cạnh tranh trở thành rào cản cho sự huy động một cách
có hiệu quả các nguồn lực, đồng thời tác động tiêu cực đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung thời kỳ trước Đổi mới, những khái niệm như “cạnh tranh”, “pháp luật cạnh tranh”, “độc quyền”, “chống độc quyền” hay “pháp luật chống độc quyền” là tương đối xa lạ Khái niệm “cạnh tranh” được hiểu theo nghĩa là “thi đua” và trên thực tế cũng có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhà nước Tuy nhiên cạnh tranh theo nghĩa này
1 Tiến sĩ Luật học, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh
2 Xem Nguyễn Như Phát, Báo cáo Tổng hợp đề tài “Xây dựng thể chế cạnh tranh thị trường ở Việt Nam” (2005)
trang 1; Đặng Vũ Huân, Pháp luật về Kiểm soát Độc quyền và Chống Cạnh tranh không lành mạnh ở Việt (Luận
án Tiến sĩ Luật, Đại học Luật Hà Nội, năm 2002) trang 19-20
Trang 22
không đóng vai trò là động lực cho sự phát triển.3
Kể từ sau Đổi mới, ở Việt
Nam đã bước đầu có được phát triển trong nhận thức về vai trò của cạnh tranh
và pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế Cạnh tranh đã bắt đầu được công nhận
là một hiện tượng khách quan, là một trong những vấn đề cơ bản của một nền kinh tế thị trường,4
và là động lực cho sự phát triển kinh tế, giúp tăng cường hiệu quả và tiến bộ xã hội.5
Trái lại, sự độc quyền sẽ đem lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế và môi trường kinh doanh.6
Luật cạnh tranh đã được xác định là một trong những công cụ hiệu quả cho nhà nước để bảo đảm quyền kinh doanh hợp pháp, tạo ra một môi trường công bằng và lành mạnh cho hoạt động kinh doanh.7 Vì vậy, việc thực hiện có hiệu quả của pháp luật cạnh tranh chính
là góp phần cải thiện môi trường cạnh tranh.8
Sự thay đổi quan niệm này đã được phản ánh trong một số văn kiện quan trọng của ĐCS Việt Nam sau Đổi mới.9
Đáng tiếc là, khi quyền tự do kinh doanh được đề cập trong Hiến pháp năm 1992, quy định về cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh doanh lại chưa được đề cập Điều này xuất phát từ thực tế
là khi Hiến pháp 1992 được ban hành, Việt Nam mới bắt đầu xây dựng nền KTTT, khi đó vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền còn là mới mẻ, do đó cần
sự cẩn trọng và đánh xem xét chúng trong bối cảnh nền KTTT theo định hướng XHCN Ngoài ra trọng tâm của nhà nước trong thời kỳ này là xây dựng thể chế của nền kinh tế thị trường, thể hiện qua việc ban hành hàng loạt các đạo luật
3 Xem Nguyễn Như Phát, trích dẫn số 2, trang 1; Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 116-117; Nguyễn Như
Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới Xây dựng Pháp luật về Cạnh tranh và Chống Độc quyền trong Điều kiện
chuyển sang Nền Kinh tế Thị trường (NXB CNND, 2001)
4 Xem Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 19-20; Nguyễn Như Phát, trích dẫn số 2, trang 1-2
5 OECD, „Bringing Competition into Regulated Sectors in Vietnam‟ (2005)
<www.oecd.org/dataoecd/49/29/34285298.pdf>
6
Xem Nguyễn Như Phát, trích dẫn số 2, trang 11; Lê Việt Thái, Vũ Xuân Nguyệt Hồng và Trần Văn Hoa,
„Anti-trust Law and Competition Policy in Vietnam: Macroeconomic Perspective‟ in Tran Van Hoa (Ed) Competition
Policy and Global Competitiveness in Major Asian Economies (Edward Elgar Publishing, 2003) trang 139; Bài
phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tại Hội nghị đánh giá về Tổ chức và hoạt động của mô hình các tổng công ty 90 và 91 tại Hà Nội, ngày 01-02/3/1999
7
Xem Nguyễn Như Phát, trích dẫn số 2, trang 9-12; Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 34
8 Xem Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM) và Tổ chức Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Tiếp tục
Xây dựng và Hoàn thiện Thể chế Kinh tế Thị trường theo Định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam, (NXB
Khoa học và Công nghệ, năm 2006) trang 186
9 Xem Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ Tám (12/1997);
Chiến lược Ổn định và phát triển kinh tế - xã hội năm đến 2000 của Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ Tám (NXB Chính trị Quốc gia, 1996); Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX (Nghị quyết số 05-NQ-TW (24/9/01) Tiếp tục Tái cơ cấu, Cải cách, Phát triển và Nâng cao Hiệu quả của các Doanh nghiệp Nhà nước
Trang 33
khung như luật dân sự, luật về doanh nghiệp, luật đầu tư…Mặc dù vậy, một số quy định rải rác nhằm điều chỉnh một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được ban hành ra cho đến khi Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực.Tuy nhiên, các quy định này được thiết kế để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà không loại bỏ bất kỳ hành vi hạn chế cạnh tranh bởi các thực thể này Sự ra đời của Luật cạnh tranh là một bước tiến quan trọng trong việc khẳng định nỗ lực của Nhà nước trong việc đảm bảo một môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kinh doanh.10 Tuy nhiên, việc ghi nhận vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền như một quy định trong Hiến pháp rõ ràng là hết sức cần thiết
VÀ CHỐNG ĐỘC QUYỂN TRONG SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992
Tác giả lập luận vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền cần phải được quy
định cụ thể trong Hiến pháp như một nguyên tắc Hiến định Thứ nhất, đó là sự
khẳng định ý nghĩa của cạnh tranh trong nền KTTT và vai trò của pháp luật cạnh
tranh trong việc đảm bảo môi trường kinh doanh, đầu tư lành mạnh Thứ hai,
làm cơ sở quan trọng cho sự điều chỉnh hành vi thị trường của các doanh nghiệp
nhà nước (DNNN) Thứ ba, khẳng định sự cần thiết của vấn đề cạnh tranh và
chống độc quyền trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1 Một là, pháp luật cạnh tranh 11 có ý nghĩa quan trọng để tạo lập một môi trường đầu tư lành mạnh và là cần thiết để thúc đẩy quá trình hoàn thiện nền KTTT theo định hướng XHCN 12
Một nền KTTT cần cạnh tranh như là một động lực cần thiết cho phát triển kinh tế Việc sử dụng các quy định hành chính, hướng dẫn và mệnh lệnh của nhà nước để can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế là không
10 Điều 1 Luật Cạnh tranh 2004: “Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh”
11 Khái niệm Luật Cạnh tranh ở Việt Nam được hiểu bao gồm hai bộ phận: các quy định về các hành vi hạn chế cạnh tranh và những quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
12 Xem Vũ Thành Tự Anh, Competition and Privatization in Vietnam: Substitutes or Complements? (2006) 2
<http://www.grips.ac.jp/vietnam/VDFTokyo/Doc/2ndConf15Jul06/2EcoSession2VTTAnh.pdf>; CUTS,
Competition Scenario in Vietnam (2005) <http://www.cuts-ccier.org/7Up2/pdf/7Up2_Vietnam.pdf>
Trang 44
phù hợp,13
bởi vì hoạt động kinh tế, bao gồm cả cạnh tranh, cần được quy định bởi các nguyên tắc thị trường Điều đó đòi hỏi nhà nước xây dựng một khung pháp lý cùng với chính sách cạnh tranh, và với một cơ chế thực thi hiệu quả để kiểm soát và đối phó với hành vi hạn chế cạnh tranh Nhìn chung, thúc đẩy lợi ích của người tiêu dùng và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế luôn được coi là những mục tiêu cơ bản của luật cạnh tranh.14
Để đạt được mục tiêu thứ nhất, các chính phủ cần phải điều chỉnh những cấu trúc thị trường làm hạn chế cạnh tranh và những hành vi của các doanh nghiệp làm cản trở cạnh tranh, đồng thời cũng cần phải giảm thiểu hoặc loại trừ những nguy cơ làm tạo ra các rào cản cho thương mại và cạnh tranh Mục tiêu thứ hai đạt được khi các chính phủ áp dụng đúng đắn các biện pháp và chính sách kinh tế.15
Việc tạo ra và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh là một trong những chức năng của nhà nước trong nền KTTT, điều này phù hợp với quan điểm của ĐCS Việt Nam.16
Việc ra đời luật Cạnh tranh năm 2004 đã giải quyết hai vấn đề chính Trước hết đã tạo cơ sở pháp lý đảm bảo bình đẳng trong kinh doanh cho tất cả các thành phần kinh tế Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý để ngăn chặn sự lạm dụng quyền
lực kinh tế và hành chính của các DNNN.17
Không giống như ở nhiều quốc gia khác,18 Luật Cạnh tranh 2004 không có một điều khoản cụ thể nêu rõ mục tiêu của luật cạnh tranh19
mà chỉ có thể suy ra
từ Điều 4(2): “2 Việc cạnh tranh phải … không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng…” Mặc dù vậy, mục tiêu của luật cạnh tranh là không rõ ràng Ở đây,
13 Trương Quang Hoài Nam, „Competition Policy and Liberalization of Trade and Investment‟ (2006)
<www.jftc.go.jp/eacpf/06/6_01_03.pdf>
14 Xem Phillip E Areeda and Herbert Hovekamp, Antitrust Law: An Analysis of Antitrust Principles and Their
Application (Aspen, 2nd ed, 2000); WTO, The Fundamental Principles of Competition Policy (1999) 5
<http://docsonline.wto.org/imrd/directdoc.asp?DDFDocuments/t/WT/WGTCP/W127.doc>
15 WTO, trích dẫn số 14
16
Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 34-38
17 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), 'Một số vấn đề pháp lý và thể chế liên quan đến chính sách cạnh tranh và kiểm soát Độc quyền Kinh tế (2002) (Báo cáo trong khuôn khổ của Dự án VIE/97/016)
18
Xem Luật Chống độc quyền Trung Quốc 2009, Luật Chống độc quyền Nhật Bản 1947, Luật Điều chỉnh độc quyền và Thương mại Công bằng Hàn Quốc 1980; Luật Cạnh tranh và Người Tiêu Dùng Australia 2010
19 Điều này có thể được giải thích bởi hai lý do Thứ nhất, theo kỹ thuật lập pháp của Việt Nam, mục tiêu của luật thường được ghi nhận trong lời nói đầu hoặc được suy ra từ những điều khoản sau đó của luật Thứ hai, việc
không có một điều khoản quy định về mục tiêu của luật cạnh tranh nhằm tránh sự xung đột với quan điểm nhằm bảo vệ sự thống trí của thành phần kinh tế nhà nước
Trang 55
khái niệm “lợi ích của nhà nước” tương đối rộng, do đó chưa thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh và không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Bởi lẽ, bảo vệ “lợi ích của nhà nước” có thể hiểu theo nghĩa hẹp hơn là chỉ bảo vệ “lợi ích” của thành phần kinh tế nhà nước mà điều này rõ ràng
là đi ngược lại mục tiêu và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Như vậy, việc Hiến pháp 1992 sửa đổi ghi nhận vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền là hết sức cần thiết, phù hợp với sự phát triển tất yếu của nền kinh tế Điều này cũng sẽ thể hiện được vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
2 Hai là, xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh hành vi thị trường của các DNNN bằng pháp luật cạnh tranh trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền KTTT theo định hướng XHCN
Cho đến đầu những năm 2000, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Việt Nam kiểm soát phần lớn nguồn vốn của nền kinh tế20
và nắm giữ trong hầu hết các lĩnh vực chiến lược Điều này đã phản ánh khá rõ nét quan điểm về vai trò lãnh đạo của thành phần kinh tế nhà nước Trong Hiến pháp 1980, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên.21 Hiến pháp 1992 khẳng định kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh các thành phần kinh tế khác được thừa nhận
và tạo điều kiện phát triển.22
Trong quá trình cải cách DNNN, một số các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được thành lập, đặc biệt kể từ năm 1995 với việc hình thành các Tổng công ty Nhà nước.23
Kể từ đó, một số DNNN đã chuyển đổi một cách nhanh chóng trở thành những doanh nghiệp độc quyền nhà nước trong nhiều lĩnh vực quan trọng
20 Điều này được thể hiện tại bảng 4.3 trong CUTS, Competition Scenario in Vietnam, trích dẫn số 12
21 Điều 18 Hiến pháp 1980
22
Điều 20, 21 Hiến pháp 1992
23 Các Tổng Công ty Nhà nước đầu tiên được thành lập theo Quyết định số 90 và 91/ ngày 07/03/ 1994
Trang 66
của nền kinh tế24
trong đó bao gồm những lĩnh vực cung cấp dịch vụ thiết yếu như điện, nước, viễn thông…Chính vì vậy, độc quyền nhà nước ở Việt Nam bao
gồm các lĩnh vực độc quyền tự nhiên (natural monopoly).25
Trong khi chú trọng xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các tập đoàn nhà nước lớn, cơ chế giám sát và điều tiết các hoạt động của chúng chưa được quan tâm đúng mức.26
Do đó, khuôn khổ pháp lý cho các tổng công ty nhà nước lớn còn thiếu các quy định điều chỉnh hành vi thị trường của họ và thiếu của các tổ chức chính thức để giám sát hoạt động của họ.27
Điều này dẫn đến nhu cầu phải kiểm soát đối với hoạt động của các DNNN bởi vì việc lạm dụng vị trí độc quyền của họ đã trở nên phổ biến28
Vấn đề mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác quan tâm là sự bất lợi trong cạnh tranh với những DNNN độc quyền và trên những lĩnh vực độc quyền Ngoài ra, việc luật cạnh tranh có những quy định cụ thể về hoạt động của các DNNN/lĩnh vực độc quyền nhà nước là rất quan trọng để khuyến khích sự tham gia của các công ty tư nhân trong các lĩnh vực mà trước đây là lĩnh vực “bất khả xâm phạm” của khu vực kinh tế nhà nước Khi hành vi thị trường của các DNNN được quy định đúng cách sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khu vực tư nhân và do đó một môi trường cạnh tranh thực tế có thể đạt được.29
Trên thực tế, đã có một số các vụ việc các DNNN độc quyền lạm dụng vị trí độc quyền/vị trí thống lĩnh để thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh Tranh chấp giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước trong viễn thông (VNPT) và một liên doanh trong lĩnh vực này vào năm 2003 là trường hợp đầu tiên dẫn đến yêu cầu thông qua luật cạnh tranh để đối phó với hành vi độc quyền bởi các công ty
24 Chẳng hạn như VNPT về Viễn thông, EVN về sản xuất, truyền tải và cung ứng điện năng, Vietnam Airlines trong lĩnh vực hàng không dân dụng, PetroVietnam về dầu khí, VINACOMIN về khoáng sản…
25
Về bản chất, các doanh nghiệp độc quyền ở Việt Nam chính là những DNNN đang hoạt động trong những lĩnh vực độc quyền Xem Trần Thăng Long and Gordon Walker, „Abuse of Market Dominance by State Monopolies
in Vietnam‟ trong Houston Journal of International Law, 2012 vol 34(2) trang 191-192
26
Nguyễn Như Phát, „Pháp luật Cạnh tranh ở Việt Nam Hiện nay‟, Tài liệu các khóa học đào tạo về Luật Cạnh tranh được tổ chức bởi Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (2008) 21
27 Xem Lê Việt Thái, Vũ Xuân Nguyệt Hồng và Trần Văn Hoa, trích dẫn số 6, trang 155
28 Xem Lê Hoàng Oanh, „To Build Competition Law in the context of the Transition to Market Economy in Vietnam‟ (2002) <http://www.jftc.go.jp/eacpf/05/APECTrainingProgram2002/Vietnam1.pdf>, trang 13
29 CIEM và SIDA, trích dẫn số 8
Trang 77
độc quyền nhà nước.30
Ngay cả sau khi Luật Cạnh tranh đã được ban hành, các hành vi hạn chế cạnh tranh do các DNNN độc quyền vẫn tiếp diễn và đa dạng.31
Việc Hiến pháp sửa đổi sẽ tiếp tục xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước thể hiện đặc trưng của nền KTTT Việt Nam là “theo định hướng XHCN” Trong bối cảnh đó, sự khẳng định nguyên tắc chống sự độc quyền và các hành vi hạn chế cạnh tranh trong Hiến pháp là rất cần thiết.32
Đây
sẽ là tuyên bố chính thức của nhà nước Việt Nam khẳng định đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, lành mạnh và đặt các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nói chung và DNNN độc quyền nói riêng trong sự kiểm soát của pháp luật mà cụ thể là Luật cạnh tranh 2004 Điều này không tạo ra mâu thuẫn trong Hiến pháp giữa việc tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước và việc đảm bảo cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế ở Việt Nam Ngoài ra, điều này cũng sẽ giúp cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài dẹp bỏ dần sự e ngại về vai trò chi phối nền kinh tế của các DNNN,
từ đó có thể yên tâm đầu tư và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam Nếu việc ghi nhận vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền đã chưa thể thực hiện được khi ban hành Hiến pháp 1992 lúc Việt Nam bắt đầu chuyển đổi sang nền KTTT theo định hướng XHCN thì nay chính là thời điểm thích hợp
3 Ba là, sự cần thiết tất yếu của việc chống độc quyền và các hành
vi hạn chế cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chủ động hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới được coi là một động lực cần thiết để thúc đẩy việc chuyển đổi sang nền KTTT và góp phần vào chiến
30 Vảo năm 2003 S-Fone, một liên doanh giữa Tổng công ty Saigon Postel và SK Telecom Hàn Quốc, muốn kết nối với hệ thống VNPT để triển khai dịch vụ nhắn tin của mình nhưng đề xuất của S-Fone đã bị trì hoãn nhiều lần do VNPT đã đưa ra lý do nằm ở vấn đề kỹ thuật Giải thích này đã bị từ chối bởi S-Fone
31 Tiêu biểu trong số đó là các vụ việc như tranh chấp về kết nối giữa VNPT và Viettel và VNPT với EVN Telecom trong các năm 2005-2006; vụ tranh chấp giữa Vietnam Airlines và các hãng hàng không về cung cấp dịch vụ mặt đất năm 2008, vụ lạm dụng vị trí thống lĩnh của Công ty xăng dầu Hàng không VINAPCO, vụ thỏa thuận giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm thuộc Hiệp hội các doanh nghiệp Bảo hiểm Việt Nam (AVI) về ấn định giá bảo hiểm ô tô năm 2008 Xem Trần Thăng Long và Gordon Walker, trích dẫn số 25 Các
vụ việc tập trung kinh tế do các DNNN tiến hành gần đây như vụ Viettel tiếp quản EVN Telecom và đề án sáp nhập VinaPhone và Mobiphone Xem VNExpress, VNPT xin sáp nhập Mobifone - VinaPhone
< http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/03/vnpt-xin-sap-nhap-mobifone-vinaphone/ >
32 Xem Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI
< http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=9&leader_topi c=990&id=BT1851232521 >
Trang 88
lược của ĐCS Việt Nam về phát triển kinh tế.33
Trong bối cảnh đó, cạnh tranh
và chống độc quyền có ý nghĩa quan trọng và tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh là bắt buộc đối với Việt Nam nhằm tiếp tục
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới34
và để hoàn tất các công
cụ pháp lý cần thiết cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.35
Đồng thời, việc thông qua luật cạnh tranh là một trong các nghĩa vụ thành viên của các tổ chức quốc tế, chẳng hạn như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như nhằm thực thi các cam kết quốc tế đa phương.36
Trước hết, áp dụng luật cạnh tranh là
một trong những phương tiện để thực hiện các điều ước quốc tế đa phương.37
Hai là, theo quy định của WTO, các quy định liên quan đến tự do hóa thương
mại phải đi song song với quy định bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.38
Ba là, một
số tổ chức quốc tế quan trọng như OECD và UNCTAD đã có những nỗ lực để thiết kế một mô hình chung của luật cạnh tranh, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước và thiết lập các thỏa thuận đa phương nhằm đối phó với các vấn đề phát sinh qua biên giới giữa các quốc gia.39
Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu phải kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh
có thể xảy ra khi thị trường nội địa đã được mở cửa.40
Tự do hóa thương mại và
33 Việc gia nhập WTO trong năm 2007 là một minh chứng về điều này Xem Vladimir Mazyrin, 'Vietnam's International Commitments upon Entry into the WTO: Limits to its Sovereignty?' in Stepanie Balme and Mark
Sidel (eds), Vietnam's New Order: International Perspectives on the State and Reform in Vietnam (Palgrave
Macmillan, 2006); Ministry of Trade, 'Overall Report on Some Issues Have to be Dealt with in Implementation Commitments of Vietnam - US Bilateral Trade Agreement and Vietnam‟s Process of Accession to the WTO' (2004); Joint Donor Report to the Vietnam Consultative Group Meeting, „Aiming High – Vietnam Development Report‟ (2006) 49 <http://siteresources.worldbank.org/INTVIETNAM/Resources/aiminghigh_english.pdf>
34 Như trên, CUTS, trích dẫn số 12
35 Xem Lê Danh Vĩnh, „Building Competition Law in Vietnam to Meet the Need of Regulating Market Economy and in the light of Trade Liberalization and International Economic Integration‟ (2003)
<http://www.jftc.go.jp/eacpf/04/vietnam_p.pdf>
36 Ví dụ có nhiều những quy định trong khuôn khổ WTO liên quan đến cạnh tranh Chẳng hạn, Điều 8, Điều 40
(1) của Hiệp định TRIPS; Điều XVII của; Điều VIII của GATS Phụ lục của GATS về viễn thông (phần 5); (Điều 11.1 (b) và 11.3), Hiệp định về Tự vệ (Safeguard)
37
Ví dụ Điều 10bis của Công ước Paris 1883 về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp
38 Xem Nguyễn Thanh Tú, „Pháp luật Cạnh tranh trong WTO và Kinh nghiệm cho Việt Nam‟ <http://www nclp.org.vn / nha_nuoc_va_phap_luat / phap-luat-canh-tranh-t rong-wto-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam
39
Xem OECD, Directorate for Financial and Enterprise Affair <http://www.oecd.org/department/0, 3355, en_2649_34685_1_1_1_1_1, 00.htm > Xem Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 50-51
40 Sự mở cửa thị trường có thể kéo theo các hậu quả có hại nhất định, chẳng hạn như sự hạn chế hoạt động kinh doanh, lạm dụng vị trí thống lĩnh và cạnh tranh không lành mạnh Xem Lê Danh Vĩnh, trích dẫn số 35; Trương Quang Hoài Nam, trích dẫn số 13; Alice Phạm, „The Development of Competition Law in Vietnam in the Face
of Economic Reforms and Global Integration‟ (2006) 26 Northwestern Journal of International Law and
Trang 99
mở cửa thị trường mang lại nhiều cơ hội hơn cho các công ty nước ngoài khi cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành các hành vi làm sai lệch thị trường như ấn định giá
và bán phá giá và do đó có thể cản trở sự cạnh tranh công bằng trên thị trường Cũng từ những năm 1990, xuất hiện mối quan ngại ngày càng lớn hơn
về khả năng xảy ra các vụ tập trung kinh tế (sáp nhập và mua lại – M&A) thực hiện bởi các tập đoàn nước ngoài để đạt được vị trí thống trị trên thị trường của Việt Nam, tạo điều kiện cho họ để ấn định và thao túng về giá mua bán.41
Do đó, luật cạnh tranh có vai trò quan trọng để kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế cũng như duy trì các lĩnh vực lợi ích quốc gia đối với việc mua lại của các công
ty nước ngoài.42
Cuối cùng, đảm bảo cạnh tranh công bằng chính là nhu cầu bảo vệ các doanh nghiệp trong nước từ những áp lực của sự mở cửa của thị trường Kể từ khi mở cửa thị trường đến nay, các hành vi hạn chế cạnh tranh do các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện trên thị trường Việt Nam ngày càng phổ biến dưới dạng các thoả thuận nhằm hạn chế cạnh tranh, lạm dụng sự thống trị thị trường và tập trung kinh tế.43
Các hành vi hạn chế cạnh tranh này làm bóp méo cạnh tranh và cuối cùng ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường và tác động tiêu cực đến những lợi ích của toàn xã hội, từ đó triệt hạ các doanh nghiệp trong nước.44
Những hành vi nhằm đạt được sự thống lĩnh thị trường thông qua chiếm lĩnh thị phần đã được tiến hành bởi các tập đoàn xuyên quốc gia, thông thường là bằng các chiến dịch tiếp thị quảng cáo và bán phá giá, chẳng hạn như trường hợp của Coca Cola và
Business, trang 550-551, Nguyễn Như Phát, „Pháp Luật Cạnh tranh của Việt Nam Hiện nay‟ trong Giáo trinh Luật Thương Mại – Tập 1 (Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND, 2007)
41 Ví dụ, việc mua lại của Việt Nam liên doanh của Coca-Cola năm 2001 Xem Việt Báo, Sáp nhập Ba Doanh Nghiệp Coca-Cola Việt Nam < http://vietbao.vn/Kinh-te/Sap-nhap-3-doanh- nghiep-Cocacola-Viet-Nam/10725308/87 / >
42 Chẳng hạn, quy định của luật cạnh tranh về tập trung kinh tế là cần thiết để kiểm soát sự hình thành của các công ty lớn có thể chiếm lĩnh thị trường và cho phép nhà nước để giám sát hoạt động tập trung kinh tế Xem Lê
Danh Vĩnh, trích dẫn số 35; Cục Quản lý Cạnh tranh (VCAD), Báo cáo về tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện
trạng và Dự báo (2009) <http://www.vca gov.vn/Modules/CMS/Upload/31/2009_3_20/bao% 20cao% 20tap% 20trung% 20kinh% 20te.pdf >
43
Xem Đặng Vũ Huân, trích dẫn số 2, trang 34-38
44 Xem Nguyễn Như Phát, trích dẫn số 2
Trang 1010
Pepsi với Sài Gòn Tribeco.45
Đáng chú ý, sau khi đạt được sự thống trị trên thị trường, các công ty này đã tăng giá bán để bù đắp chi phí trước đó và khai thác
ưu thế của họ, đồng thời hạn chế việc áp dụng công nghệ mới, ấn định số lượng sản xuất, đầu cơ và duy trì giá cả của một số hàng hóa quan trọng như dược phẩm, vật liệu xây dựng và các sản phẩm nông nghiệp.46
Một số hành vi hạn chế cạnh tranh trước đây không quy định trong luật cũng xuất hiện như độc quyền bán hoặc mua với giá cao hơn hoặc thấp hơn so với chi phí sản xuất và áp đặt các điều kiện bất hợp lý trong các giao dịch kinh doanh.47
Bên cạnh đó, các tập đoàn xuyên quốc gia, thông qua chiến lược sáp nhập và mua lại của các doanh nghiệp địa phương bằng cách hình thành liên doanh hoặc mua cổ phần, của các công ty Việt Nam, sau đó chiếm lĩnh thị trường và loại các đối thủ khỏi thị trường
Như vậy, nếu Luật Cạnh tranh 2004 đã đáp ứng yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì việc khẳng định vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền trong Hiến pháp sửa đổi là rất cần thiết Điều này đảm bảo sự nhất quán của chính sách và pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam với đặc điểm là chúng đã được xác định bằng một đạo luật, vì vậy việc cần phải làm là bổ sung vào Hiến pháp để khẳng định giá trị pháp lý cao nhất của vấn đề.48
III VẤN ĐỀ CẠNH TRANH VÀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN TRONG HIẾN PHÁP –KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
1 Quy định vấn đề cạnh tranh và độc quyền trong Hiến pháp của một số nước
Trong phần này, tác giả tìm hiểu việc quy định vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền trong Hiến pháp của một số nước và giới hạn ở Hiến pháp của một số
45 Xem Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và Luận giải các Quy định của Luật Cạnh tranh về
Hành vi Lạm dụng Vị trí Thống lĩnh/Độc quyền để Hạn chế Cạnh tranh (NXB Tư pháp, 2006); Cục Quản lý
Cạnh tranh, trích dẫn số 42
46 Xem Đoàn Văn Trường, Phá giá và Biện pháp, Chính sách Bán Phá giá (NXB Thống kê, 1998) trang 117-121; CUTS, Competition in Vietnam: A Toolkit (CUTS International, 2007) trang 67
47 Chẳng hạn như các vụ tranh chấp về kết nối giữa VNPT và S-Fone và giữa VNPT và Viettel
48
Như vậy có thể thấy ở Việt Nam sẽ tạo ra một quy trình ngược, nghĩa là một vấn đề được quy định bởi một đạo luật, sau đó là bổ sung nội dung này vào Hiến pháp để đảm bảo tính nhất quán và xuyên suốt của vấn đề