1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vietnam and the world bank the infrastructure partnership

46 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 4,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG MỤC LỤC MỤC LỤC I Vị trí của Cơ sở hạ tầng trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam 1 với Ngân hàng Thế giới II

Trang 1

Public Disclosure Authorized

66927

Trang 2

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI:

QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

Trang 4

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

MỤC LỤC

MỤC LỤC

I Vị trí của Cơ sở hạ tầng trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam 1

với Ngân hàng Thế giới

II Các mục đích và mục tiêu 7

A Giảm nghèo 9

B Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua giải quyết những trở ngại về cơ sở hạ tầng 14

C Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi thành nền 16

kinh tế thị trường D Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và các tác động môi trường do tốc độ tăng trưởng 19

nhanh gây ra E Hỗ trợ các cải cách và phân cấp trong ngành 22

III Các phương hướng phát triển quan hệ hợp tác trong tương lai 25

IV Hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới từ năm 1994 đến năm 2011 33

Trang 5

iv VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG MỤC LỤC

Báo cáo này do ông Alan Coulthart, Kỹ sư trưởng về hạ tầng cơ sở của Ngân hàng Thế giới và ông Dương Đức Ưng, chuyên gia tư vấn thực hiện với sự hỗ trợ của các Điều phối viên phụ trách các ngành

hạ tầng cơ sở của Ngân hàng Thế giới tại Việt nam

Trang 6

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

LỜI NÓI ĐẦU

Ngân hàng Thế giới rất vinh dự được đóng góp một phần vào những thành tựu đáng nể của Việt Nam

về xóa đói giảm nghèo và vươn lên vị thế quốc gia có thu nhập trung bình nhờ mức tăng trưởng cao được duy trì trong suốt 35 năm qua Lợi thế so sánh của chúng tôi chính là quy mô và sự dồi dào nguồn lực Là ngân hàng phát triển đa phương duy nhất ở quy mô toàn cầu, chúng tôi có thể phổ biến các thông lệ tốt từ khắp nơi trên thế giới và giúp Việt Nam điều chỉnh các thông lệ đó để thích ứng với điều kiện cụ thể trong nước

Đã có những tiến triển lớn trong việc thực hiện các mục tiêu rất tham vọng mà chúng tôi tự đặt ra cho mình, ví dụ như mở rộng điều kiện tiếp cận cơ sở hạ tầng, xóa bỏ các trở ngại, tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, giải quyết vấn đề suy thoái môi trường, hỗ trợ cải cách và phân cấp trong ngành Đối với hầu hết các quốc gia, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn lực ngân sách Do đó, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng sự hỗ trợ của chúng tôi được sử dụng một cách khôn ngoan để tạo ra chất xúc tác thúc đẩy sự thay đổi nhằm biến các mục tiêu này thành hiện thực Chúng tôi tin tưởng rằng, mối quan hệ đối tác giữa Chính phủ với Ngân hàng đã đạt được kết quả này Cụ thể:

Ngành điện đã đạt được những kết quả hoạt động đáng ngưỡng mộ trong hai thập kỷ vừa qua, nhưng đồng thời cũng làm dấy lên một thách thức lớn, đó là phải đáp ứng được mức cầu tăng 15% mỗi năm trong một thời gian dài Chưa có quốc gia nào trên thế giới bắt kịp tốc độ phổ cập dịch vụ cấp điện cho toàn dân ở Việt Nam Năm 1976, dịch vụ cấp điện mới bao phủ 2,6% dân số; đến nay, tám mươi triệu người đã có điện Chúng tôi tự hào là một phần của quá trình này, thông qua các dự án điện khí hóa nông thôn và phân phối điện mà chúng tôi hỗ trợ ở Việt Nam Cũng phải chúc mừng Việt Nam về những bước đi cương quyết để cải cách ngành điện, xóa bỏ cơ chế độc quyền nhà nước, thiết lập cơ quan điều tiết điện và cải cách biểu giá điện nhằm khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người nghèo Chúng tôi vui mừng đã có cơ hội cung cấp cho Việt Nam những lời khuyên và kinh nghiệm từ các nước khác về lĩnh vực này

Các hệ thống giao thông vận tải và logistics hiệu quả và hiện đại là yêu cầu thiết yếu để có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước tăng trưởng theo định hướng xuất khẩu như Việt Nam Sự hỗ trợ của chúng tôi đã không ngừng phát triển trong hai thập kỷ qua, từ việc giúp đỡ sửa chữa nâng cấp Quốc lộ 1 đến cung cấp vốn xây dựng mạng lưới đường cao tốc để giảm tình trạng ùn tắc hiện nay trên Quốc lộ 1 Những đóng góp của chúng tôi trong việc mở rộng mạng lưới đường giao thông cấp xã có thể sử dụng trong mọi điều kiện thời tiết là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam Chúng tôi vui mừng vì đã có thể giúp Việt Nam duy trì giá trị của tất cả các tài sản hạ tầng mới này thông qua xây dựng năng lực nhằm tăng tính hiệu quả của hoạt động duy tu bảo dưỡng

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 7

vi VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG LỜI NÓI ĐẦU

Các đô thị chính là động lực tăng trưởng của Việt Nam Chỉ riêng hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh

đã chiếm tới 75% tổng sản lượng quốc gia Tuy nhiên, hai thành phố này đang phải chịu những áp lực rất lớn do dân số tăng nhanh, quy hoạch không gian chưa phù hợp, ô nhiễm môi trường và tắc nghẽn giao thông Những dòng người di cư từ nông thôn ra thành phố là nguyên nhân tạo ra những khu định

cư không chính thức dành cho người có thu nhập thấp Cách tiếp cận mà chúng tôi giúp Việt Nam triển khai – nâng cấp đô thị - trong đó tập trung vào nâng cấp, cải tiến các cơ sở hạ tầng cơ bản và nhà ở,

đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người nghèo trong các khu định cư nói trên Nhưng các hành động để cải thiện môi trường liên quan đến những khu vực này đã đem lại lợi ích cho toàn bộ dân cư

đô thị Chúng tôi rất vui mừng khi thấy phương pháp này đang được nhân rộng ở các thành phố khác Chúng tôi mong có dịp làm việc tiếp với Bộ Xây dựng và chính quyền các thành phố ở Việt Nam trong những năm tới để cải tiến công tác quy hoạch đô thị và giới thiệu các hệ thống giao thông công cộng hiện đại

Nước là một trong những nhu cầu cơ bản của cuộc sống Ngay từ đầu, chúng tôi đã giúp Việt Nam tăng cường điều kiện tiếp cận dịch vụ cấp nước an toàn và đáng tin cậy, trước hết là ở các thành phố lớn và sau đó là ở các vùng nông thôn Một phần quan trọng trong công việc này là hỗ trợ để dịch vụ cấp nước được cung cấp trên cơ sở thương mại nhằm duy trì các dịch vụ hiệu quả trong thời gian dài Chúng tôi tự hào về những thành tựu của các công ty công ích như Công ty Cấp nước Hải Phòng và cách làm thành công này đã được nhân rộng ở các công ty cấp nước khác trong toàn quốc

Cuối cùng, chúng tôi rất mong muốn được tiếp tục mối quan hệ hợp tác với Việt Nam trong tương lai Chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục tham gia hoạt động vào tất cả các ngành cơ sở hạ tầng ngành quan trọng của Việt Nam Chúng tôi sẽ tăng gấp đôi nỗ lực để giúp thúc đẩy các thị trường vốn, các ngân hàng thương mại và khu vực tư nhân đầu tư cho cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, để đạt được mục đích này, ngoài những điều kiện khác, Việt Nam cần thiết lập các hệ thống pháp lý và quản lý điều tiết rõ ràng hơn để bắt buộc thực thi các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các công ty nhà nước cũng như tư nhân Về cách thực hiện chương trình, chúng tôi sẽ dần dần chuyển từ cách tiếp cận đơn lẻ (nghĩa là tiếp cận theo dự án) sang cách tiếp cận tổng hợp, nói cách khác là tiếp cận theo chương trình Chúng tôi cũng muốn huy động sự tham gia của các trung gian tài chính trong nước để nâng cao năng lực cấp vốn cho cơ sở hạ tầng trong nước, đồng thời giảm chi phí giao dịch Để tăng tốc độ thực hiện, chúng tôi sẽ giới thiệu các công cụ mới để giải ngân theo đầu ra và/hoặc kết quả Để thực hiện tất

cả những thay đổi này, chúng tôi sẽ phải dựa nhiều hơn vào các hệ thống của Chính phủ để rót vốn và chúng tôi đã sẵn sàng hỗ trợ để Việt Nam có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu này

Báo cáo này được thực hiện để ghi nhận sự đóng góp to lớn của hạ tầng cơ sở vào thành tựu của Việt nam trong vài thập kỷ của quan hệ hợp tác của chúng ta Chúng tôi rất mong muốn được tiếp tục hỗ trợ Việt nam củng cố vị trí của mình trong nền kinh tế toàn cầu trong những năm tới

Hà nội, ngày 26 tháng 10 năm 2011

Giám đốc Quốc gia

Ngân hàng Thế giới tại Việt nam

Trang 8

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

MỤC LỤC 1

VỊ TRÍ

CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG

TRONG QUAN HỆ

HỢP TÁC GIỮA

VIỆT NAM VỚI

NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

CHƯƠNG I

Trang 10

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

VỊ TRÍ CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VỚI NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng luôn luôn

đóng vai trò quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam (gọi tắt là Chính phủ) và Ngân hàng Thế giới (gọi tắt là Ngân hàng) Cơ sở hạ tầng chiếm

tới 2/3 tổng vốn cho vay đầu tư của Ngân hàng

và hơn 50% tổng giá trị hỗ trợ của Ngân hàng

cho Việt Nam (bao gồm vốn cho vay đầu tư và

hỗ trợ ngân sách) Mặc dù vốn vay cho các công

trình xây dựng thông qua các khoản tín dụng, và

gần đây hơn là các khoản vay, là nét nổi bật nhất

trong quan hệ hợp tác giữa hai bên nhưng các

hoạt động bổ sung trong lĩnh vực hỗ trợ nghiên

cứu phân tích và tư vấn (AAA) và xây dựng năng

lực cũng không kém phần quan trọng Cùng với

nhiều hoạt động khác, AAA đã giúp cung cấp

thông tin và định hướng cho các cuộc thảo luận

giữa các cấp ra quyết định về những cải cách cơ

cấu quan trọng trong nhiều ngành cơ sở hạ tầng

AAA cũng góp phần quan trọng vào quá trình xây

dựng các chính sách, văn bản pháp luật và khung

quy định cần thiết để cải thiện hiệu quả, tăng tính

minh bạch, thu hút các nguồn tài chính mới cho

cơ sở hạ tầng và thúc đẩy sự tham gia của khu vực

tư nhân Đồng thời, hợp phần xây dựng năng lực

và tăng cường thể chế trong các dự án đã giúp

thúc đẩy các cải cách ngành thông qua các biện

pháp quan trọng như thành lập cơ quan điều tiết

kinh tế đầu tiên cho ngành điện lực Đây cũng

là công cụ để triển khai vận hành, duy tu và bảo

dưỡng các cơ sở hạ tầng và dịch vụ trên một nền

tảng bền vững hơn

Trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2011, Ngân

hàng đã cung cấp hơn 7 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng

Phân bổ vốn cho các ngành cơ sở hạ tầng được

tóm tắt trong Bảng 1 ở dưới (Phụ lục 1 liệt kê các

1 Trong báo cáo này, cơ sở hạ tầng bao gồm các ngành năng lượng (chủ yếu là điện) giao thông, đô thị, nước và vệ sinh, thông tin và viễn thông

dự án và chương trình được Ngân hàng hỗ trợ trong từng ngành cơ sở hạ tầng) Trong giai đoạn hợp tác nói trên, ngành điện lực được nhận nhiều vốn vay nhất, do các các công trình sản xuất và truyền tải điện cần vốn xây dựng cơ bản lớn, để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng của Chính phủ

là phổ cập dịch vụ cấp điện cho toàn dân đồng thời đáp ứng mức cầu tăng nhanh do tăng trưởng kinh tế nhanh Mặc dù nhu cầu đầu tư của ngành điện vẫn rất lớn nhưng ngành giao thông sẽ cần nhiều hỗ trợ từ phía Ngân hàng trong những năm sắp tới để hoàn thành mạng lưới đường cao tốc

và phát triển các hệ thống giao thông vận tải đa phương thức hiệu quả hơn Phát triển đô thị cũng được đầu tư nhiều trong những năm gần đây với các ưu tiên mới như giao thông đô thị và nâng cấp các khu vực có thu nhập thấp Trong suốt giai đoạn hợp tác vừa qua, Ngân hàng đã luôn luôn duy trì hỗ trợ cho ngành nước và vệ sinh Có nhiều khả năng các đầu tư, hỗ trợ cải thiện điều kiện vệ sinh sẽ tăng mạnh hơn trong tương lai do ô nhiễm nước ở đô thị ngày càng tăng

Năm 2009, Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng tăng cường tài trợ cho cơ sở hạ tầng nhằm hai mục đích – hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kích thích kinh tế

để ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu Yêu cầu này cho thấy trong tương lai gần, cơ sở hạ tầng vẫn có thể là yếu tố chủ chốt trong quan hệ hợp tác giữa Chính phủ với Ngân hàng

Những đầu tư nói trên đóng một vai trò quan trọng trong những thành tựu đặc biệt xuất sắc của Việt Nam như giảm tỷ lệ nghèo từ 58% xuống còn 16% và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân ở 7,3% từ năm 1990 đến năm 2010 Các can thiệp trực tiếp vào các ngành cơ sở hạ tầng đã

Trang 11

4 VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG VỊ TRÍ CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VỚI NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

giúp cải thiện cuộc sống của người nghèo thông

qua cung cấp khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ

bản như nước, vệ sinh, điện, và đường giao thông

để tới được các cơ sở dịch vụ xã hội và nơi làm việc

Cơ sở hạ tầng cũng đang đóng góp một phần lớn

vào việc thực hiện toàn bộ 11 Mục tiêu Phát triển

Việt Nam (VDG)2 đầy tham vọng do Chính phủ

đề ra Ví dụ như, để thực hiện các mục tiêu VDG

liên quan đến y tế, cần phải cung cấp cho người

dân điều kiện tiếp cận đáng tin cậy đến dịch vụ

nước sạch và vệ sinh nhằm ngăn chặn dịch bệnh,

và cấp điện để trữ vắc-xin và các loại thuốc dễ bị

hỏng Mục tiêu về phổ cập giáo dục tiểu học chỉ

có thể đạt được nếu có đường đi cho học sinh và

giáo viên đến trường

Người nghèo cũng được hưởng lợi ích gián tiếp

từ các đầu tư cho hạ tầng kinh tế, bao gồm mạng

lưới điện, đường bộ, đường sắt và cảng – những

đầu tư này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam

đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ tạo ra công ăn

việc làm và tái phân phối của cải vật chất thu

được từ quá trình tăng trưởng Các quốc gia như

Việt Nam và Trung Quốc đã đầu tư nhiều cho các

cơ sở hạ tầng này ngay từ các giai đoạn đầu tiên chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp hóa, và đều đạt được những thành tựu tốt

về giảm nghèo

Sự hỗ trợ của Ngân hàng có thể chia thành ba giai đoạn Giai đoạn đầu tiên tập trung vào việc sửa chữa, khôi phục các tài sản cơ sở hạ tầng chiến lược đã bị xuống cấp sau nhiều năm chiến tranh

và chia cắt Giai đoạn hai tập trung vào việc hỗ trợ chính sách của Chính phủ về tăng trưởng toàn diện và bình đẳng, và giai đoạn ba đang tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể tiếp tục đạt tốc

độ tăng trưởng nhanh đồng thời giảm thiểu các hậu quả bất lợi của sự tăng trưởng Giai đoạn 1 gần như đã hoàn thành, Giai đoạn 2 và 3 chồng lấn nhau và hiện vẫn đang trong quá trình triển khai

Trong việc cung cấp hỗ trợ cơ sở hạ tầng chủ yếu, lợi thế so sánh chủ yếu của Ngân hàng là kiến thức và khả năng quy tụ ở cấp độ toàn cầu Ngân

2 VDG dựa trên các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG)

Bảng 1: Cho vay theo ngành cơ sở hạ tầng, 1994 – 2001

Trang 12

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

VỊ TRÍ CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VỚI NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

hàng là ngân hàng phát triển đa phương duy

nhất có hoạt động bao phủ toàn cầu, do đó có

khả năng tổng hợp và phổ biến các thông lệ tốt từ

khắp các khu vực trên thế giới Ví dụ như, những

kinh nghiệm thành công khi xây dựng hệ thống

xe buýt trung chuyển nhanh BRT ở Cô-lôm-bia và

Bra-xin đang được áp dụng để hướng dẫn việc xây

dựng các hệ thống tương tự cho Hà Nội, thành

phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng Uy tín quốc tế nổi bật cũng giúp Ngân hàng có một sức mạnh triệu tập đáng nể Cùng với nhiều thế mạnh khác, điều này đã giúp Ngân hàng đóng vai trò đi đầu trong việc thúc đẩy và điều phối vốn viện trợ hiệu quả hơn thông qua các quan hệ đối tác/hợp tác giữa Chính phủ và các nhà tài trợ trong ngành

cơ sở hạ tầng

Trang 14

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

MỤC LỤC 7

CÁC MỤC ĐÍCH

VÀ MỤC TIÊU

CHƯƠNG 2

Trang 16

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

Trong thập kỷ vừa qua, Ngân hàng đã

lồng ghép Chiến lược Đối tác Quốc gia

của mình (CPS) với các mục tiêu của Kế

hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm của

Chính phủ (SEDP) Mục tiêu chung trong 5 năm

qua là “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao để

đạt được vị thế quốc gia có thu nhập trung bình,

đồng thời tăng cường các thành tựu xã hội, duy trì

sự gắn kết xã hội và gìn giữ cơ sở tài nguyên thiên

nhiên” Theo đó, Ngân hàng đã đặt ra những mục

tiêu dưới đây cho chương trình cơ sở hạ tầng tại

c) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách hỗ

trợ Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị

trường;

d) Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và các tác

động môi trường bắt nguồn từ tăng trưởng

nhanh; và

Một mục tiêu quan trọng khác của Ngân hàng là

biến sự hỗ trợ cho ngành cơ sở hạ tầng thành một

chất xúc tác và một yếu tố có tính đổi mới Nói

cách khác, cần phải đi xa hơn việc chỉ cung cấp

vốn tài chính cho các cơ sở hạ tầng có nhu cầu,

để gây ảnh hưởng đến cách triển khai đầu tư của

Chính phủ và các chủ thể khác Chiến lược này

gồm có giới thiệu và chứng minh các chính sách

và ý tưởng mới có thể được điều chỉnh và mở rộng

theo các nhu cầu và bối cảnh cụ thể ở Việt Nam

Các phần dưới đây sẽ tóm tắt những thành tựu

mà các quan hệ hợp tác/đối tác đã đạt được

liên quan đến từng mục tiêu nói trên, và nhấn

mạnh các sáng kiến có tính đổi mới, xúc tác và

đã thành công

A Giảm nghèo

Đây là sự hỗ trợ trực tiếp đối với chính sách tăng trưởng toàn diện và bình đẳng đã được Chính phủ công bố rõ ràng Tất cả các dự án cơ sở hạ tầng đều góp phần giảm nghèo Trong trường hợp đầu

tư cho các cơ sở hạ tầng kinh tế như các trạm điện lớn, hệ thống điện quốc gia (truyền tải và phân phối) và mạng lưới điện quốc gia và mạng lưới đường cao tốc, tác động của đầu tư cơ sở hạ tầng đối với giảm nghèo là tác động gián tiếp, một hệ quả của sự tăng trưởng kinh tế mà đầu tư cơ sở hạ tầng góp phần thúc đẩy Đầu tư cho các cơ sở hạ tầng xã hội, ví dụ như mở rộng khả năng tiếp cận năng lượng nông thôn, giao thông nông thôn, và dịch vụ nước và vệ sinh ở thành thị và nông thôn, còn tạo ra tác động gián tiếp hơn nữa đối với giảm nghèo Vì đại đa số người nghèo ở Việt Nam sống tại nông thôn, không những thế, những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất lại sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh nhất của đất nước, nên những hỗ trợ của Ngân hàng chú trọng đến việc mở rộng khả năng tiếp cận năng lượng và giao thông nông thôn Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng do sự di cư của lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm và tiền

đồ tốt hơn cũng tạo ra nhiều thách thức cho các thành phố, thị xã và thị trấn ở Việt Nam Chính quyền các tỉnh thành gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng sự gia tăng nhu cầu cung cấp các hạ tầng đô thị cơ bản, nhất là nước và vệ sinh, và đảm bảo chỗ ở phù hợp cho tất cả dân chúng Những lĩnh vực này cũng đã trở thành ưu tiên hỗ trợ của Ngân hàng

Hai Dự án Năng lượng nông thôn do Ngân hàng

hỗ trợ đã góp phần dẫn đến những thành tựu nổi

Trang 17

10 VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

bật của Việt Nam trong việc nâng cao tỷ lệ dân số

được cấp điện từ 2,5% năm 1976 lên xấp xỉ 100%

vào năm 2011 Hơn 80 triệu người đã được kết

nối với lưới điện trong thời kỳ này và nhờ đó, chất

lượng cuộc sống của họ đã có những biến chuyển

đáng kể (xem Hộp 1) Đây là mức cao nhất ở bất

kỳ quốc gia nào đang trải qua cùng một giai đoạn

phát triển như Việt Nam Trong ngành giao thông,

mục tiêu hỗ trợ chính của Ngân hàng thông qua

ba Dự án Giao thông nông thôn là cải thiện điều

kiện tiếp cận với các dịch vụ của Chính phủ (như

giáo dục, y tế, khuyến nông, v.v), chợ búa và nơi làm việc Chính phủ sắp đạt được mục tiêu tạo điều kiện tiếp cận với các dịch vụ cơ bản cho tất

cả các xã và 90% số đường giao thông nông thôn

có thể sử dụng quanh năm Các nghiên cứu tiến hành từ năm 2000 cho thấy, những đầu tư để cải thiện điều kiện tiếp cận cho khu vực nông thôn

đã tạo ra những tác động lớn đến công cuộc giảm nghèo, tăng cường sự tham gia xã hội, tỷ lệ trẻ em đến trường và các dịch vụ y tế

Hộp 1: Các tác động của điện khí hóa nông thôn đối với các hộ gia đình

Điện khí hóa nông thôn đã cải thiện chất lượng cuộc sống của nhiều gia đình nông thôn Điện khí hóa làm giảm nhẹ gánh nặng tài chính của các gia đình nông thôn do giảm bớt sự lệ thuộc của họ vào dầu hỏa, vốn là loại nhiên liệu được sử dụng rộng rãi để chiếu sáng, và giảm sự lệ thuộc vào pin, vốn được

sử dụng để chạy các loại thiết bị thông tin liên lạc Từ khi có điện, các gia đình chuyển dần sang sử dụng các loại thiết bị và đồ dùng gia dụng giúp họ tiết kiệm thời gian làm việc nhà, như vậy, họ có nhiều thời gian rảnh rỗi để đọc sách, giao tiếp xã hội, giải trí hoặc tham gia các hoạt động sản xuất khác Hơn nữa, việc có điện đã góp phần làm tăng tỷ lệ đi học của trẻ em nông thôn, giúp tăng năng suất nông nghiệp

và tăng thu nhập cho hộ gia đình

Tại các khu vực thành thị, sự hỗ trợ của Ngân hàng

trong lĩnh vực sửa chữa nâng cấp và mở rộng các

công trình cấp nước đô thị đã giúp 2,4 triệu người

được cải thiện điều kiện cấp nước Vài triệu người nữa sắp được hưởng lợi từ các dự án khác đang trong quá trình triển khai Đây là sự đóng góp

Trang 18

quan trọng đối với Mục tiêu Phát triển Việt Nam

số 7 Việt Nam là một trong số ít các nước đang

phát triển đã đạt được chỉ tiêu của Mục tiêu Phát

triển Thiên niên kỷ về cấp nước

Dự án Cấp nước đô thị - xây dựng bể chứa nước ở thành phố

Bắc Ninh

các cộng đồng và tạo điều kiện cải tiến dần dần toàn bộ các khu vực phụ cận thông qua cải tiến các dịch vụ và điều kiện tiếp cận Dự án Nâng cấp

Đô thị Việt Nam được mô tả trong Hộp 2 ở dưới Cách tiếp cận ‘nâng cấp’ để cải thiện cuộc sống cho người nghèo thành thị đã được công nhận là chiến lược quốc gia của Việt Nam và là một phần nội dung của luật mới về quy hoạch đô thị Hiện tại, Việt Nam đang nỗ lực nhân rộng phương pháp này cho 9 thành phố khác trong nước

Ngân hàng luôn chú trọng đến việc duy trì lợi ích

từ các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng lớn thông qua tăng cường năng lực cho các công ty và tổ chức chịu trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng Trong một số trường hợp, để đạt mục tiêu này, Ngân hàng đã hỗ trợ Chính phủ thiết lập các cơ cấu thể chế hiệu quả hơn Điều quan trọng là phải nuôi dưỡng văn hóa dịch vụ trong các công ty chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hạ tầng, điều chưa từng tồn tại trước khi Việt Nam tiến hành các cải cách Đổi Mới Một phần thiết yếu trong nỗ lực này là giới thiệu các phương pháp có sự tham gia theo nhu cầu để người hưởng lợi có tiếng nói về mức độ dịch vụ mà họ muốn nhận, và quan trọng hơn là mức độ dịch vụ mà họ sẵn sàng trả tiền để mua

Còn tiếp

Để đối phó với sự xuất hiện ngày càng nhiều của

các khu định cư chật chội dành cho những người

thu nhập thấp tại các thành phố, thị trấn và thị

xã, Ngân hàng đã thảo luận với Chính phủ để giới

thiệu khái niệm cải tiến nâng cấp, nói cách khác

là nâng cấp đô thị cho những khu vực này Thay

vì phá dỡ các khu định cư không chính thức, cách

tiếp cận mới này sẽ giúp duy trì cấu trúc xã hội của

Trang 19

12 VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

Kết quả

Hơn 200.000 người có thu nhập thấp đã được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động nâng cấp, cải tiến cơ

sở hạ tầng cơ bản và các công trình hạ tầng xã hội, bao gồm trạm xá, nhà trẻ, các trung tâm cộng đồng

Giá trị tài sản tại các cộng đồng thu nhập thấp tham gia dự án đã tăng từ 2 đến 4 lần

Giai đoạn 2 đang được triển khai và sẽ nâng cấp các vùng có thu nhập thấp, đem lại lợi ích cho hơn 600.000 người nữa; ngoài ra còn có một số đầu tư lớn nhằm mục đích tiêu thoát và phòng chống

lũ, thu gom nước thải, nâng cấp kênh mương và mạng lưới đường giao thông

Ước tính sẽ có tổng cộng khoảng 1.865.000 người được hưởng lợi trực tiếp và 1.070.000 người khác được hưởng lợi gián tiếp từ dự án

Đóng góp của Ngân hàng

Ngân hàng đóng góp 382,47 triệu USD

Trước khi thực hiện dự án Sau khi thực hiện dự án

Dự án Nâng cấp đô thị - Quận 6, TP HCM

Trang 20

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

Ngân hàng luôn chú trọng đến việc duy trì lợi ích từ

các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng lớn thông qua tăng

cường năng lực cho các công ty và tổ chức chịu

trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng Trong một số

trường hợp, để đạt mục tiêu này, Ngân hàng đã hỗ

trợ Chính phủ thiết lập các cơ cấu thể chế hiệu quả

hơn Điều quan trọng là phải nuôi dưỡng văn hóa

dịch vụ trong các công ty chịu trách nhiệm cung

cấp các dịch vụ hạ tầng, điều chưa từng tồn tại

trước khi Việt Nam tiến hành các cải cách Đổi Mới

Một phần thiết yếu trong nỗ lực này là giới thiệu

các phương pháp có sự tham gia theo nhu cầu để

người hưởng lợi có tiếng nói về mức độ dịch vụ mà

họ muốn nhận, và quan trọng hơn là mức độ dịch

ty không còn khả năng thực thi các nghĩa vụ quy định thành một trong những công ty cấp nước công ích hoạt động hiệu quả nhất tại các nước đang phát triển (xem Hộp 3 ở dưới) Điều này đã đem lại hiệu ứng đổi mới trong cả nước khi nhiều công ty cấp nước khác nhân rộng sáng kiến thành công của Hải Phòng Dự án Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn Đồng Bằng Sông Hồng cũng thúc đẩy

Hộp 3: Cải thiện dịch vụ cấp nước ở Hải Phòng – Mô hình “Phường”

Mùa hè năm 1993, tại thành phố Hải Phòng diễn ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng Tình hình xấu đến mức tạo ra bạo động xã hội Chính quyền thành phố ứng phó bằng cách thay đổi ban giám đốc của Công ty Cấp nước và cho phép giám đốc mới toàn quyền hành động để cải thiện tình hình Vị giám đốc mới đã làm việc rất vất vả để thay đổi văn hóa doanh nghiệp và chú trọng vào những điểm cần ưu tiên nhất như cung cấp dịch vụ và trách nhiệm giải trình Hoạt động đào tạo cho các cán bộ nhân viên của công ty trong khuôn khổ dự án Cấp nước do Ngân hàng cùng đồng tài trợ với Chính phủ Phần Lan đã đóng góp một phần quan trọng cho quá trình thay đổi này

Sự thay đổi căn bản nhất là phân cấp phần lớn trách nhiệm cung cấp nước và chăm sóc khách hàng cho

“phường”, nghĩa là cấp đơn vị hành chính nhỏ nhất trong thành phố Phân cấp đi cùng với việc cải tiến

hệ thống phân phối nước tại từng phường nhờ nguồn vốn từ Dự án Cấp nước để sửa chữa những đoạn

rò rỉ và tổ chức để đo khối lượng nước cấp cho phường một cách chính xác Công ty đã cử nhân viên đến làm việc tại phường để giải quyết nhanh những phàn nàn hay khiếu nại của khách hàng Các thỏa thuận

đã được thiết lập với chính quyền phường để thu tiền nước theo một hệ thống mới có tính khuyến khích khách hàng Ban đầu, mô hình này được thử nghiệm ở một phường, và sau khi đạt kết quả tốt, mô hình dần dần được nhân rộng ra tất cả các phường còn lại trong thành phố Đồng thời, công ty cũng đã xây dựng các quy trình làm việc và hệ thống nội bộ để liên kết hiệu quả hoạt động của công ty với các chỉ số

đo lường được và các cán bộ, nhân viên được thưởng theo kết quả công việc của họ Ngay sau khi mô hình “phường” đạt thành công và sự tự tin quay trở lại với ban giám đốc công ty, đề xuất tăng phí cấp nước cũng được phê duyệt và Công ty cấp nước được trao quyền tự chủ lớn hơn Trong vòng 10 năm, Công ty Cấp nước Hải Phòng đã trở thành công ty cấp nước hiệu quả nhất ở Việt Nam và được đánh giá

là một trong những công ty công ích hoạt động tốt nhất ở các nước đang phát triển trong ấn phẩm của Ngân hàng với tiêu đề “Các đặc điểm của các công ty cấp nước công ích đạt hiệu quả hoạt động tốt”

Trang 21

14 VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

sự đổi mới quan trọng trong lĩnh vực cấp nước

nông thôn bằng cách lần đầu tiên thí điểm ở Việt

Nam một mô hình “doanh nghiệp” mới để quản lý

các công trình cấp nước nông thôn theo thông lệ

thương mại Mô hình này hoàn toàn có thể nhân

rộng cho các tỉnh thành khác trong cả nước

B Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng

cách xóa bỏ các trở ngại và hạn chế

về cơ sở hạ tầng

Ngân hàng góp phần đem lại mức tăng trưởng

kinh tế cao ở Việt Nam, chủ yếu là thông qua xóa

bỏ các trở ngại và hạn chế trong ngành năng

lượng và giao thông Không thể sản xuất hàng

hóa và chế biến lương thực, thực phẩm nếu không

có năng lượng Điều kiện giao thông và các dịch

vụ hậu cần hiệu quả và đáng tin cậy là những yếu

tố thiết yếu để cung cấp đầu vào, cũng có nghĩa

là đem lại đầu ra từ các hoạt động sản xuất Việt

Nam đã phải vượt qua nhiều thách thức lớn mới

có thể đạt được vị thế hiện tại trong một nền kinh

tế toàn cầu có tính cạnh tranh cao Trong các giai

đoạn ban đầu, Việt Nam phải nhanh chóng nâng

cấp và khôi phục tình trạng hoạt động của các tài

sản hạ tầng cũ, đồng thời tiếp tục mở rộng năng

lực cơ sở hạ tầng đã xuống cấp để theo kịp nhu

cầu gia tăng nhanh chóng của các ngành công

nghiệp và thương mại Tốc độ tăng trưởng, nhất

là nhu cầu sử dụng điện, đã tạo ra một sức ép lớn

đối với Chính phủ và các thể chế của Chính phủ,

về phương diện huy động tài chính cũng như

cung cấp các công trình hạ tầng cần thiết trước

khi cầu bỏ xa cung

Khi Ngân hàng và Chính phủ bắt đầu quan hệ

hợp tác, phần lớn cơ sở hạ tầng ngành điện đã

cũ kỹ, quá tải và hoạt động thiếu hiệu quả Ngân

hàng đã hỗ trợ hơn 1 tỷ USD thông qua các dự

án như Nâng cấp ngành điện, Phát triển Điện, dự

án Phân phối và Truyền tải điện 1 và 2, sau đó là

Dự án Phân phối điện Nông thôn, để xóa bỏ các trở ngại thông qua các hoạt động sửa chữa, củng

cố và nâng cấp Sự hỗ trợ này bao quát tất cả các thành phần trong mạng lưới điện, từ sản xuất điện đến phân phối điện hạ thế Các dự án đầu

tư đã giúp đảm bảo cung cấp điện một cách hiệu quả và đáng tin cậy hơn đến những nơi có nhu cầu nhất Ví dụ như, nhờ hoàn thành đường dây truyền tải điện 500 KV có tính huyết mạch chạy từ Bắc vào Nam, điện được sản xuất với chi phí tương đối thấp từ các nhà máy thủy điện ở miền Bắc và miền Trung đã được truyền tải đến các cụm trung tâm công nghiệp và thương mại ở miền Nam

Trong ngành giao thông, các dự án Sửa chữa nâng cấp đường quốc lộ 1 và 2 được phê duyệt lần lượt vào năm 1993 và 1996 đã giúp sửa chữa, nâng cấp các đoạn quan trọng trên Quốc lộ 1 (với tổng chiều dài sửa chữa là 720 km) ở phía nam Hà Nội và TP HCM Hai thành phố này và khu vực phụ cận là những trung tâm sản xuất và công nghiệp;

do đó, việc khôi phục chức năng và hiệu quả hoạt động của Quốc lộ 1 là một động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Hiện tại, Ngân hàng đang tham gia giai đoạn tiếp

Dự án Nâng cấp Quốc lộ

Trang 22

VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

theo trong công cuộc hiện đại hóa hệ thống giao

thông ở Việt Nam bằng cách hỗ trợ xây dựng một

mạng lưới đường cao tốc quốc gia Ưu tiên hiện

nay là tuyến đường cao tốc Bắc – Nam, chạy song

song với Quốc lộ 1 để giảm tải cho Quốc lộ 1 sau

khi sửa chữa, nâng cấp

Một thành phần quan trọng trong quá trình tiến

triển không ngừng của Việt Nam để trở thành

quốc gia có thu nhập trung bình, đó là việc cung

cấp các dịch vụ logistics hiện đại để tạo điều kiện

tăng trưởng theo hướng phát triển thương mại và

phân phối hiệu quả Để đạt được mục tiêu này, ngoài việc hỗ trợ tăng năng lực cho mạng lưới đường quốc lộ, Ngân hàng còn hỗ trợ 3 dự án nhằm tạo điều kiện chuyển đổi một cách thuận lợi và hiệu quả từ vận tải hàng hóa bằng đường

bộ sang đường sông và đường biển: cụ thể, đó là các dự án Giao thông thủy nội địa, Cơ sở hạ tầng giao thông Đồng Bằng Sông Cửu Long, và Phát triển Giao thông Đồng Bằng Bắc Bộ Những dự án này thúc đẩy vận tải đa phương thức để tận dụng chi phí thấp của giao thông thủy, đặc biệt là khi vận chuyển hàng rời với số lượng lớn

Tắc nghẽn giao thông là một trong những vấn

đề nguy hại nhất khi tốc độ tăng trưởng kinh tế

cao kết hợp với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng

Tắc nghẽn giao thông làm tăng chi phí hoạt động

kinh doanh tại các trung tâm buôn bán và thương

mại chính của đất nước, do đó làm suy yếu khả

năng cạnh tranh của Việt Nam Ngân hàng đang

giúp giải quyết vấn đề này thông qua các dự án

Giao thông đô thị ở Hà Nội và Hải phòng, và các

dự án mới đang được xây dựng cho TP HCM và Đà

Nẵng Quy hoạch đô thị tốt là một phần không

thể thiếu để phát triển giao thông vận tải hiệu

quả, đặc biệt là vào thời kỳ đô thị hóa đang diễn

ra với tốc độ nhanh chóng Ngân hàng đang tư

vấn cho Bộ Xây dựng và chính quyền các thành phố về nội dung này, thông qua hỗ trợ kỹ thuật trong các dự án đầu tư và các hoạt động nghiên cứu, phân tích và tư vấn (AAA) độc lập (xem thêm

ở đoạn dưới)

Trong nhiều năm hoạt động ở Việt Nam, Ngân hàng đã luôn luôn cố gắng phát triển và thúc đẩy văn hóa duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng Điều này nhằm mục đích đảm bảo duy trì giá trị đầy

đủ của các khoản đầu tư lớn trong suốt vòng đời thiết kế của công trình Với dự án Cải tiến Mạng lưới Đường bộ, các mục tiêu chính gồm có trình diễn các cách thức mới và hiệu quả hơn để thực

Trang 23

16 VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

hiện duy tu bảo dưỡng, và tăng cường năng lực

của các cơ quan quản lý đường bộ trong việc lập

kế hoạch và quản lý công tác duy tu bảo dưỡng

C Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng

cách hỗ trợ chuyển đổi sang nền

kinh tế dựa vào thị trường

Để phát triển cơ sở hạ tầng, Việt Nam cần huy

động nhiều vốn hơn nữa từ các nguồn phi ngân

sách, bao gồm các thị trường vốn trong nước

và quốc tế và các ngân hàng thương mại Kinh

nghiệm từ những nơi khác trên thế giới cho thấy,

sự tham gia của khu vực tư nhân trong cấp vốn,

thiết kế, xây dựng và vận hành cơ sở hạ tầng có

thể giúp tăng cường hiệu quả chi phí Sự tham

gia của khu vực tư nhân cũng khuyến khích sự đổi

mới, sáng tạo và giúp tăng cường mức độ cung

cấp dịch vụ Để đạt được mục đích này, bên cạnh

những yếu tố khác thì Việt Nam phải có một hệ

thống pháp lý và xét xử minh bạch và độc lập để

giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp một cách

công bằng Các công ty tư nhân phải có khả năng

dự đoán chi phí và doanh thu ở một mức độ chính

xác hợp lý, và cũng phải có khả năng cạnh tranh

với các doanh nghiệp nhà nước trên một sân chơi

bình đẳng Nếu thiếu một số hoặc tất cả những

yêu cầu đó, các tập đoàn quốc tế lớn hoặc sẽ phải

tự hạ thấp để được tham gia hoặc có thể yêu cầu

bảo hiểm rủi ro cao Việt Nam đã đạt được một số

tiến bộ trong lĩnh vực này, nhưng vẫn còn nhiều

việc khác phải làm để thu hút lượng vốn lớn hơn

và thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn

– đây là những yếu tố Việt Nam cần có để duy trì

khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

Theo quan điểm của khu vực tư nhân, những điểm

hạn chế chính hiện nay gồm có: (a) thiếu dấu hiệu

rõ ràng từ phía Chính phủ về vai trò của khu vực

tư nhân (ngành điện đã có tiến bộ nhất định khi các doanh nghiệp tư nhân địa phương tham gia một số dự án xây dựng nhà máy điện vừa và nhỏ; tuy nhiên, các dự án nhà máy điện quy mô lớn vẫn được giao cho các doanh nghiệp nhà nước, thay

vì đấu thầu cạnh tranh – xem thêm ở dưới); (b) các doanh nghiệp lớn của nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ vai trò chi phối, và chính sách chuyển đổi các doanh nghiệp này thành doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo nguyên tắc thương mại (thông qua cổ phần hóa) còn chậm trễ và chưa

rõ ràng; và (c) trong nhiều trường hợp, biểu phí cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng đang được quy định thấp hơn so với mức chi phí sản xuất đầy đủ

Theo quan điểm của Chính phủ, các vấn đề quan ngại chính liên quan đến việc tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân gồm có: (a) lo ngại mất kiểm soát trong những vấn đề quan tâm có tầm chiến lược quan trọng; (b) dự phòng nợ vì các nhà đầu tư quốc tế thường yêu cầu bảo lãnh của Chính phủ; và (c) thiếu kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp khi đàm phán với các tập đoàn quốc tế lớn Ngân hàng đã nhiều lần thảo luận với Chính phủ về chương trình cải cách ngành điện để giải quyết những vấn đề nói trên theo quan điểm tăng cường an ninh nguồn cung điện và đảm bảo tính cạnh tranh trong biểu giá điện Điều này có thể thực hiện được bằng cách thu hút thêm nhiều bên tham gia đầu tư và hiện đại hóa công tác quản lý vận hành trong ngành điện; và bằng cách chuyển đổi sang một biểu giá điện có tính khuyến khích đầu tư ở phía cung, và định giá điện theo cách phù hợp để khuyến khích sử dụng điện hiệu quả hơn từ phía cầu Một thành công thu được từ quá trình cải cách này, đó là 30% số công trình sản xuất điện hiện nay không còn thuộc sở hữu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sau khi một số chủ thể bị tái phân phối tài sản và một số chủ thể mới gia nhập thị trường Tuy nhiên, trong nhiều

Ngày đăng: 28/03/2018, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w