Cuối cùng, chúng em xin cảm ơn 30 du khách tại Làng bưởi Tân Triều đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong việc hoàn thành bài khảo sát thực tế về các vấn đề có liên đến sản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để nhóm nghiên cứu có thể thực hiện bài nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh và đầy đủ thì không thể thiếu sự giúp đỡ và hỗ trợ của các cá nhân và tổ chức trong
suốt quá trình thực hiện đề tài
Đầu tiên chúng em xin gửi lời cảm ơn đến cô TS Ngô Thanh Loan – Trưởng
Bộ môn Du lịch – người đã trực tiếp giảng dạy môn học và trực tiếp tư vấn, hướng
dẫn chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Chúng em cũng xin cảm ơn Ban quản lí và đội ngũ nhân viên Làng bưởi Năm Huệ đã có sự hợp tác và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhóm nghiên cứu trong suốt
quá trình đi thực tế tại Làng bưởi
Cuối cùng, chúng em xin cảm ơn 30 du khách tại Làng bưởi Tân Triều đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong việc hoàn thành bài khảo sát thực
tế về các vấn đề có liên đến sản phẩm du lịch tại Làng bưởi Năm Huệ
Đề tài tuy đã hoàn thành nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Nhóm nghiên cứu chúng em rất mong nhận được những đánh giá, nhận xét và góp ý để đề tài có thể trở nên hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm
ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 06 năm 2016
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lí do chọn đề tài 9
2 Mục tiêu đề tài 10
2.1 Mục tiêu tổng quát 10
2.2 Mục tiêu cụ thể 10
3 Nội dung nghiên cứu 11
4 Đối tượng nghiên cứu 11
5 Phạm vi nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 12
6.1 Phương pháp điều tra thực địa: 12
6.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập số liệu: 13
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: 13
6.4 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp dữ liệu: 13
7 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14
8 Ý nghĩa 15
8.1 Về học thuật: 15
8.2 Về thực tiễn: 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 16
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH 16
1.1.1 Ngành du lịch 16
1.1.2 Du lịch 16
1.1.3 Khách du lịch 17
Trang 41.1.4 Tài nguyên du lịch 18
1.1.5 Sản phẩm du lịch 19
1.2 THÔNG TIN CHUNG VỀ CÂY BƯỞI 20
1.2.1 Nguồn gốc cây bưởi: 20
1.2.2 Phân loại bưởi: 21
1.2.3 Nghiên cứu về giống bưởi: 22
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY BƯỞI 34
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên: 34
1.3.2 Nhu cầu sinh thái cây: 34
1.3.3 Thời vụ trồng cây bưởi: 34
1.3.4 Trồng cây chắn gió và che mát cho cây bưởi: 35
1.3.5 Yêu cầu sinh thái của cây bưởi: 35
1.4 TÁC DỤNG CỦA BƯỞI 35
1.4.1 Tác dụng chữa bệnh: 35
1.4.2 Những tác dụng khác: 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ TIỀM NĂNG XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH TỪ CÂY BƯỞI TẠI LÀNG BƯỞI TÂN TRIỀU, TỈNH ĐỒNG NAI 38
2.1 BƯỞI TÂN TRIỀU VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU 38 2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BAN ĐẦU VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG BƯỞI TÂN TRIỀU 40 2.2.1 Khách du lịch: 40
2.2.2 Nguồn thông tin về làng bưởi Tân Triều: 41
2.2.3 Sản phẩm du lịch từ bưởi: 42
2.2.4 Mức dộ quan tâm của khách du lịch 43
2.2.5 Mức dộ hài lòng của khách du lịch: 45
2.3 TIỀM NĂNG XÂY DỰNG CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH TỪ CÂY BƯỞI TẠI LÀNG BƯỞI TÂN TRIỀU 47
2.3.1 Tiềm năng tự nhiên và con người 47
2.3.2 Các sản phẩm du lịch từ cây bưởi 51
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH CỤ THỂ TỪ CÂY BƯỞI TẠI LÀNG BƯỞI TÂN TRIỀU, TỈNH ĐỒNG NAI 58 3.1 PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM ĐẶC THÙ- YẾU TỐ QUAN TRỌNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 58 3.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐỀ RA CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH TỪ CÂY BƯỞI TẠI LÀNG BƯỞI TÂN TRIỀU 60 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 61 PHẦN KẾT LUẬN I DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO III PHỤ LỤC a
1 Bảng hỏi: a
2 Lược đồ chỉ dẫn đường di chuyển đến làng bưởi Năm Huệ e
3 Một số hình ảnh về làng bưởi Năm Huệ f
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu của cây có múi tại Việt Nam (2001 - 2008) 33 Bảng 2: Bảng cơ cấu nhóm tuổi của khách đến với làng bưởi Tân Triều 40 Bảng 3: Các kênh thông tin để du khách biết đến làng bưởi Tân Triều 41 Bảng 4: Bảng đánh giá mức độ quan tâm của du khách về các sản phẩm du lịch tại làng bưởi Tân Triều 43 Bảng 5: Bảng đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với các dịch vụ, giá cả ở làng bưởi Tân Triều 45
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Bưởi Tân Triều và quá trình thu hoạch 38
Hình 2 Con đường vào Làng bưởi Năm Huệ 39
Hình 3 Biểu đồ về mức độ quan tâm của khách du lịch đối với các SPDL tại làng bưởi Tân Triều 44
Hình 4 Rượu bưởi Năm Huệ 53
Hình 5 Các món ăn chế biến từ bưởi 55
Hình 6 Du khách học gói bánh tét tại làng bưởi Năm Huệ 56 Hình 7 Lược đồ chỉ dẫn đường di chuyển đến làng bưởi Năm Huệ f Hình 8 Cổng chào làng bưởi Năm Huệ g Hình 9 Bưởi Tân Triều g Hình 10 Một số sản phẩm du lịch từ bưởi h Hình 11 .Ẩm thực từ bưởi h
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như lượng khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Nam ngày càng được vươn xa hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa điểm yêu thích của du khách Du lịch đang ngày càng nhận
được sự quan tâm của toàn cộng đồng xã hội
Việt Nam là một nước có kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Khí hậu phân hoá sâu sắc theo mùa đặc biệt có mùa đông lạnh ở miền Bắc và phân hóa theo chiều cao nên Việt Nam vừa có tiềm năng để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới, phát triển hệ thống cây trồng ưa nóng đồng thời lại đồng thời phù hợp với trồng các cây cận nhiệt đới và ôn đới như các dược liệu quý và nhiều loại cây ăn quả cận nhiệt
và ôn đới Các loại cây này cho giá trị rất lớn về mặt kinh tế
Du lịch gắn với một loại cây trồng không phải là một hình thức mới ở các nước trên thế giới và cả ở Việt Nam Từ khi người dân có tư duy làm du lịch, họ đã khai thác các chuyến tham quan tại các vườn cây của gia đình nhằm mục đích phục
vụ cho du khách và tăng thêm thu nhập cho gia đình Tại Việt Nam điển hình có trồng cây dược liệu gắn với du lịch ở hai huyện Mộc Châu và Vân Hồ của tỉnh Sơn
La, tham quan tại các vườn dâu ở Đà Lạt, du lịch gắn với cây dừa tại Bến Tre, cam
sành Hàm Yên, Tuyên Quang, nho Ninh Thuận…
Bưởi là một loại trái quen thuộc với người dân Việt Nam, thuộc chi cam chanh Có rất nhiều vùng của đất nước phát triển việc trồng loại cây này, đặc biệt có
ở vùng Tân Triều, Đồng Nai nổi tiếng với giống bưởi Tân Triều gắn liền những câu thơ đi vào lòng người:
“Tân Triều tên gọi thân thương
Cù lao xứ bưởi vấn vương bạn bè
Trang 10Nhủ lòng chẳng dám nói sai
Mời anh hãy đến vùng quê Tân Triều
Làng tôi sông rạch bao quanh
Đất bồi màu mỡ bạc màu phù sa
Vang danh khắp chợ Biên Hòa
Là làng bưởi nhỏ Tân Triều quê tôi ”
(Xứ bưởi Tân Triều – Ngô Văn Sơn, ngẫu hứng)
Bưởi là một loại trái cây có nhiều giá trị về dinh dưỡng cũng như mang lại một nguồn lợi kinh tế lớn Ngoài ra, việc xây dựng cây bưởi gắn liền với du lịch cũng đã được thực hiện khá thành công ở Đoan Hùng, Phú Thọ Xuất phát từ các
định hướng nghiên cứu đã nêu, đề tài “Xây dựng các sản phẩm du lịch từ cây bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện với mong
muốn phát triển cây bưởi gắn liền với du lịch, trong đó chú trọng đến việc sử dụng các sản phẩm từ bưởi để khai thác phục vụ phát triển du lịch, tạo thêm nguồn thu cho người dân vùng Tân Triều Thông qua hoạt động du lịch, giúp giới thiệu một loại cây với nhiều giá trị bổ ích đến du khách, trong nước và đặc biệt là ngoài nước,
để đem lại sự hiểu biết toàn diện đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của người
dân với việc bảo vệ môi trường DLST
Trang 11 Tìm hiểu những thông tin cụ thể về cây bưởi ( nguồn gốc, đặc điểm,điều kiện sống, công dụng…)
Tiềm năng xây dựng các SPDL từ bưởi khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
Hiện trạng khai thác các SPDL từ bưởi khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
Đề xuất giải pháp xây dựng và phát triển một số SPDL từ bưởi cụ thể khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng khai thác của làng bưởi Tân Triều, phân tích sự tương xứng giữa tiềm năng của vùng và việc khai thác du lịch hiện nay
Nghiên cứu tiềm năng xây dựng các sản phẩm du lịch từ bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
Đề ra một số giải pháp xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch từ cây bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
Nội dung nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Hiện trạng khai thác và tiềm năng xây dựng các SPDL từ bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Một số giải pháp xây dựng và phát triển các SPDL cụ thể từ bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai
4 Đối tượng nghiên cứu
Các giá trị về kinh tế, đặc biệt là du lịch của cây bưởi Tân Triều
Các hoạt động du lịch và SPDL đang được khai thác phục vụ phát triển
du lịch tại làng bưởi Tân Triều
Các dịch vụ bổ sung được triển khai để phục vụ khách du lịch
Trang 125 Phạm vi nghiên cứu
Mốc thời gian: từ năm 1995 đến hiện nay, năm 1995 là năm mà khu du lịch Năm Huệ - khu du lịch đi đầu trong việc phát triển du lịch gắn liền với cây bưởi Đặc biệt chú ý từ giai đoạn 2006 đến hiện nay, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển giá trị thương hiệu bưởi Tân Triều, góp phần nâng cao giá trị cạnh tranh cho loại nông sản này trên thị trường trong và ngoài nước Trong đó, năm 2013, Sở VHTTDL Đồng Nai và Bình Dương đã ký kết hợp tác phát triển tuyến du lịch sông Đồng Nai, nhằm khai thác tối
đa tiềm năng, lợi thế du lịch trên tuyến sông này đang mở ra cơ hội cho hoạt động
du lịch tại làng bưởi Tân Triều So với hệ thống tài nguyên du lịch hai bên sông Đồng Nai, chủ yếu là những công trình kiến trúc lịch sử tôn giáo thì làng bưởi như một điểm nhấn thú vị Tuyến du lịch này có đủ thế mạnh phát triển loại hình du lịch
sông nước kết hợp với du lịch làng nghề, tạo nên SPDL đặc trưng của địa phương
Tập trung nghiên cứu tại xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và
các xã, huyện, thành phố lân cận có gắn liền với sông Đồng Nai
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điều tra thực địa:
Đây là phương pháp thiết thực cần thiết để người nghiên cứu nắm rõ tình hình, thực trạng đang diễn ra của hoạt động khai thác giá trị cây bưởi phục vụ du lịch Hoặc có thấy được tiềm năng để khai thác nếu như nơi đó chưa khai thác hoặc làm tối đa hóa giá trị khai thác ở nơi đó Khảo sát thực địa là cách cho người nghiên cứu có thể tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất hướng khắc phục hoặc phát triển cao hơn lại hình này Nhằm thu hút khách du lịch và thu lại lợi nhuận kinh tế cho các nhà đầu tư hoạc các đơn vị tổ chức Có thể nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện về vấn đề nghiên cứu Các hoạt động chính trong phương pháp này
Trang 13là điều tra, ghi chép, chụp ảnh, quay phim, gặp gỡ chính quyền địa phương, các cơ quan ban nghành sở tại có liên quan
Thời gian khảo sát địa bàn làng bưởi và khu du lịch Năm Huệ của nhóm là ngày 07/5/2016
6.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập số liệu:
Nhóm nghiên cứu 2 nguồn tài liệu
Một nguồn tài liệu từ sách vở, các tạp chí, internet, thông tin của ban ngành liên quan như sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, các tài liệu nghiên cứu trước đó, các báo cáo chuyên ngành để thống kê các số liệu thu thập được về lượng khách, doanh thu, chỉ tiêu kinh tế… Nhằm khai thác từ các nguồn khác nhau đem vào xử lí để so sánh đối chiếu phân tích được thuận lơi và khó khăn đưa ra những kết luận, đánh giá chung nhất có giá trị thực tiễn cao để bài viết được cụ thể, rõ ràng và thuyết phục về mặt thông số
Nguồn tài liệu còn lại nhóm tác giả có được thông qua thông tin phỏng vấn
từ người dân địa phương, khách du lịch, quản lý của khu du lịch Năm Huệ và thông qua quá trình khảo sát làng bưởi Tân Triều và khu du lịch Năm Huệ
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Đây là phương pháp nhằm khảo sát ý kiến của du khách khi đến với vườn bưởi Tân Triều, Đồng Nai Chọn ngẫu nhiên 30 khách du lịch tại khu du lịch Năm Huệ nhằm tìm hiểu ý kiến của du khách cũng như các nhu cầu của khách du lịch khi đến với khu du lịch
6.4 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp dữ liệu:
Tiến hành xử xử, phân loại, chọn lọc các dữ liệu sau khi thu thập sao cho phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu Các số liệu thống kê được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ nghiên cứu đề tài
Trang 147 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam, đã có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch gắn với cây trồng như:
(1) Luận văn tốt nghiệp đại học “Khả năng khai thác giá trị của cây dừa vào trong phát triển du lịch tỉnh Bến Tre” – Sinh viên Huỳnh Thị Kim Xuyến – Ngành
Du lịch - Bộ môn Lịch sử - Địa lý – Du lịch - Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Cần Thơ
(2) Luận văn Thạc sĩ Du lịch “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái miệt vườn tỉnh Bến Tre” – Đỗ Thu Nga – Chuyên ngành Du lịch học – Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.Hà Nội
Về mô hình du lịch gắn với việc khai thác giá trị cây bưởi, có thể kể đến mô hình khai thác giá trị cây bưởi để phát triển du lịch tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đã được triển khai từ sớm
và được khai thác rất thành công, thu hút được nhiều khách du lịch
Về địa bàn mà nhóm tác giả thực hiện – Khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai – đã có khu du lịch để phục vụ du khách mà đi đầu là ông Năm Huệ, đã thu hút được đông đảo khách du lịch trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, trên địa bàn mới chỉ có duy nhất một đề tài nghiên cứu về “ Phát triển làng bưởi Tân Triều gắn với hoạt động du lịch” do nhóm sinh viên K04 - Bộ môn Du lịch, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thực hiện vào năm 2015, nhưng bài nghiên cứu vẫn chưa chú trọng vào việc khai thác giá trị của cây bưởi để làm du lịch mà chỉ đánh trọng tâm vào những mảng khác, bên cạnh đó cũng có những bài báo nhưng chỉ giới thiệu về khu du lịch Tân Triều, về những món ăn được làm từ bưởi…
Đề tài “Xây dựng các sản phẩm du lịch từ cây bưởi tại khu vực làng bưởi Tân Triều, tỉnh Đồng Nai” ban đầu sẽ đi vào phân tích tiềm năng cũng như
hiện trạng phát triển du lịch của làng bưởi Tân Triều, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Đề tài chú trọng vào việc khai thác giá trị của bưởi để tạo ra những sản phẩm
Trang 15nhằm thúc đẩy du lịch vùng dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có Đề tài còn đặt ra vấn
đề về việc du lịch gắn liền với môi trường sinh thái của địa phương
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH
1.1.1 Ngành du lịch
Ngành du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2 Du lịch
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới thì “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động
của một cá nhân đi đến là lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ
và mục đích khác”
“Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không
phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” (Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada tháng 6/1991)
Luật du lịch Việt Nam ban hành vào năm 2005 tại điều 4, chương I định
nghĩa rằng: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Trang 17du lịch này được áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước
và áp dụng cho cả khách đi du lịch trong ngày và đi du lịch dài ngày có nghỉ qua đêm, bao gồm:
Khách du lịch quốc tế (International Tourist ):
Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia
Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài
Khách du lịch trong nước (Internal Tourist):
Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist): gồm khách du lịch trong nướcvà khách du lịch quốc tế đến
Khách du lịch quốc gia (National Tourist): gồm khách du lịch trong nướcvà khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Trang 18Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Theo đó, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch (Khoản 1, Điều 13, Chương II, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005)
Tài nguyên du lịch nhân văn:
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch (Khoản 2, Điều 13, Chương II, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005)
Trang 191.1.5 Sản phẩm du lịch
Khái niệm:
Hiểu một cách chung nhất thì sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
Luật Du lịch định nghĩa “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết
để thõa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Những đặc trưng của sản phẩm du lịch:
Tính vô hình:
Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể “sờ mó” sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng Khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận
Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá
Tính không tách rời:
Quá trình cung cấp SPDL và tiêu dùng SPDL xảy ra đồng thời Người cung cấp SPDL và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng SPDL tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên Đối với một số các SPDL, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp
Tính không đồng nhất:
Trang 20Mỗi khách hàng có sở thích, thói quen không giống nhau do sự khác nhau về khu vực địa lý, sự ảnh hưởng của các nền văn hoá khác nhau tới lối sống, sự khác nhau về tâm sinh lý, kinh nghiệm trải qua việc sử dụng nhiều lần….nên họ có những yêu cầu, đánh giá về chất lượng dịch vụ khác nhau Từ đó ta có thể thấy được rằng thật khó có thể đưa ra tiêu chuẩn chung cho một SPDL.Điều này buộc người làm dịch vụ phải đưa ra cách phục vụ thích hợp với từng đối tượng khách
nhằm đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu của khách hàng
Chất lượng SPDL thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng SPDL trước
khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm
SPDL do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau Khách mua SPDL ít trung thành với công ty bán sản phẩm Việc tiêu dùng SPDL mang tính thời vụ
Tính không dự trữ, tồn kho:
SPDL chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp Do vậy, SPDL không thể được sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem
ra bán
1.2 THÔNG TIN CHUNG VỀ CÂY BƯỞI
1.2.1 Nguồn gốc cây bưởi:
Theo Chawalit Niyomdham, 1992 cho rằng: Bưởi có nguồn gốc ở
Malaysia, sau đó lan sang Indonêsia, Trung Quốc, phía Nam Nhật Bản, phía Tây Ấn
Độ, Địa Trung Hải và Mỹ Decondolle cũng cho rằng bưởi có nguồn gốc ở phía
Đông Malaysia kể cả các đảo Fiji và Friendly
Janata cho rằng: bưởi được thu thập từ những cây hoang dại ở Garohills, từ
vùng nguyên sản này bưởi được chuyển đến phía Đông của vùng trồng cây có múi ở Yongtze và phía Nam đại dương theo đường Salween hoặc đường Songka
Trang 21Theo quan điểm của Giucopki để có tài liệu chắc chắn về nguồn gốc của cây
bưởi cần nghiên cứu các thực vật thuộc họ Rutaceae và nhất là họ phụ Aurantinoidea ở vùng núi Hymalaya miền Tây Trung Quốc và các vùng núi thuộc bán đảo Đông Dương Một số tác giả Trung Quốc cho rằng: cây bưởi hiện đang trồng ở Trung Quốc có thể được du nhập Song sự du nhập phải từ trên 2000 năm
Như vậy nguồn gốc của cây bưởi cho đến nay vẫn chưa được thống nhất, nhưng với lịch sử trồng trọt lâu đời nhiều tác giả cho rằng bưởi có thể có nguồn gốc tại Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc… Hiện nay, bưởi được trồng nhiều ở phía Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, Ấn Độ, Việt Nam …
1.2.2 Phân loại bưởi:
Cây bưởi có tên khoa học là: Citrus grandis (L).Osbeck
Cây bưởi thuộc họ cam: Rustaceae
Họ phụ: Aurantioideae
Chi: Citrus
Chi phụ: Eucitrus
Loài: Citrus grandis
Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle (1948) thì bưởi và bưởi chùm
là hai loài khác nhau trong cùng một chi Citrus, tuy vậy bưởi đơn và bưởi chùm có mối quan hệ chặt chẽ Theo Webber, 1943, bưởi chùm xuất hiện ở Barbados (Tây
Ấn Độ) Năm 1930, Macfadyen đã phân bưởi chùm thành một loài mới và lấy tên
là Citrus paradisi Macf
Bưởi (Citrus grandis):
Trang 22Quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua hoặc ngọt, bầu có từ 13- 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước Nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam … Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi
Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng …
Bưởi chùm (Citrus paradisi):
Được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citirus grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi nhưng là nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm cho những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida Mỹ chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của cả thế giới
1.2.3 Nghiên cứu về giống bưởi:
Trên thế giới:
Theo nghiên cứu của J.Saunt (1990), các giống bưởi triển vọng phát triển tốt
ở các nước châu Á như: Thái Lan 3 giống, Trung Quốc 3 giống, Indonexia 5 giống
Ở Thái Lan, theo kết quả điều tra, khảo sát của tác giả N.Chomchalaw và
cộng sự thì bưởi có 51 giống trên toàn bộ lãnh thổ, trong đó có nhiều giống mới có triển vọng phát triển sản xuất
Theo Prasert Anupunt - Viện Làm vườn Thái Lan, các giống bưởi phổ biến
trong sản xuất được trồng ở các tỉnh miền Trung như Nakhon Pathom, Samut Sakhon, Samut songkhram, Ratchaburi và Nothaburi là: Khao Tongdee, Khao Phuang, Khao Phan, Khao Hawm, Khao nhan phung, Khao kheaw, Khao Jeeb,
Trang 23Khao Yai, Tubtim và Sai Nham Phung Một số giống khác như: Khao Tangkwa, Som Krun, Khao Udom Sook và Manorom được trồng ở Chai Nat và Nakhon Sawan; giống Khao Uthai là giống đặc sản của tỉnh Uthai Thani; giống Takhoi và Som Pol được trồng phổ biến ở Phichit; giống Pattavia chỉ trồng ở vùng phía nam như ở tỉnh Surat Thani, Songkhla, Narathiwat và Pattani
Trung Quốc có 3 giống bưởi ngon: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê Đây là những giống đã được Bộ nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao và cấp huy Phần vàng Trong đó có giống bưởi Văn Đán rất nổi tiếng ở Đài Loan, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không
có hạt, chất lượng rất tốt được nhiều người ưa chuộng (Hoàng A Điền, 1999)
Theo W.C.Zhang (1981) có 7 giống bưởi chùm là những giống có nguồn
gốc từ cây lai Ở Trung Quốc dùng phương pháp lai tạo đã tạo ra được các giống bưởi có ưu thế lai nổi trội có triển vọng cho chiến lược phát triển cây ăn quả có múi hàng hoá của nước này với chất lượng cao, giá thành hạ, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Tuy nhiên các giống bưởi ở Philippine đều là các giống nhập nội từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan, ví dụ: giống Khao phuang từ Thái Lan, giống Amoy và Sunkiluk gốc Trung Quốc, chỉ
có giống Fortich là giống địa phương
Tại trung tâm nghiên cứu cây trồng quốc tế Davao tác giả N.T.Estellena và
cộng sự (1992) đã nghiên cứu khá sâu về tập đoàn giống bưởi, kết quả đã xác định được ở Philippin có 4 giống bưởi có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu với sâu bệnh khá tốt như Delacruzp - Pink, Magallanes và Amoymanta, Siamese
Trang 24Ở Malaysia có 24 giống được trồng phổ biến trong sản suất, bao gồm cả giống trong nước và nhập nội Một số giống nổi tiếng là: Large red fleshed pomelo, Pomelo China
Ấn Độ bưởi được trồng chủ yếu ở các vườn gia đình thuộc bang Assam và một số bang khác Một số giống được biết đến là: Dowali, Nowgong, Burni, Gagar, Zemabawk, Jorhat, Khanpara, Kamrup, Khasi, Bor Tanga, Hukma Tanga, Holong Tanga, Jamia Tanga và Aijal
Ở Việt Nam:
Công tác nghiên cứu về cây ăn quả cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nhà khoa học thuộc các Viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã thu được những kết quả không nhỏ trong công tác nghiên cứu, góp phần đáng kể vào việc phát triển nghề trồng cây ăn quả của nước ta, trong đó cây có múi có một vị trí quan trọng và được đông đảo bà con nông dân các vùng miền quan tâm, hưởng ứng
Qua kết quả điều tra, thu thập của một số nhà khoa học Bùi Huy Đáp (1960) , Trần Thế Tục (1977), Hoàng Ngọc Thuận (1993) và Đỗ Đình Ca (1992) đã
tổng hợp thống kê nguồn gen cây có múi nói chung và cây bưởi nói riêng tại một số vùng sinh thái, cụ thể như sau:
Tại Trạm nghiên cứu cam Tây Lộc (Huế) và Trạm nghiên cứu cam Vân Du (Thanh Hóa)
Thu thập 34 giống cam, trong đó có 19 giống nhập nội từ Pháp và một số nước thuộc Địa Trung Hải và 15 giống trong nước Đó là những giống đã và đang được trồng phổ biến ở một số vùng sản xuất như cam sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam Sông Con (Nghệ An), cam Vân Du (Thanh hóa), cam Xã Đoài (Nghệ An)
Trang 25Thu thập 16 giống quýt, trong đó có 03 giống nhập nội từ Sátsuma, Clêmen tina và số giống còn lại là những giống trong nước Ngoài ra có 5 giống chanh, 6 giống bưởi (nguồn giống thu thập từ năm 1945 trở về trước)
GS.TS Trần Thế Tục (1977) , bước đầu điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên
cây ăn quả ở Việt Nam, đã giới thiệu 100 loài cây ăn quả, trong đó có 12 loài cam, quýt
Trong nhiều năm qua, Viện nghiên cứu rau quả đã nghiên cứu, tuyển chọn và thi tuyển giống cây có múi: 13 giống bưởi (Bưởi chùm, Đoan Hùng, Thanh Trà, PT3.10; PT3.36, PT3.13 …) và 11 giống cam sành Những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là những giống tiến bộ kỹ thuật
Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (1997), tập đoàn cây ăn quả của Viện nghiên
cứu rau quả đã thu thập được 22 chủng gồm 170 giống Trong đó cây có múi gồm 9 giống cam, 12 giống quýt, 8 giống chanh và 5 giống bưởi (có 1 giống bưởi nhập nội
từ Ai Cập)
Phạm Thị Chữ (1998) đã nghiên cứu tuyển chọn giống bưởi Phúc Trạch -
Hương Khê - Hà Tĩnh đã chọn được 3 giống đầu dòng là: M1, M4 và M5 để nhân ra sản xuất đại trà Theo tác giả thì giống bưởi ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, mỗi giống có những đặc điểm riêng biệt và nổi trội, chính những đặc điểm này đã tạo nên đặc sản của mỗi vùng Nguồn gốc của các giống bưởi đặc sản phần lớn là do biến dị tạo nên
Trong 3 năm (1993- 1995), Mạc Thị Đua đã tiến hành chọn lọc bưởi Thanh Trà, tác giả đã chọn được 8 cây đầu dòng cho năng suất cao, phẩm chất tốt Lê Quang Hạnh (1994) cho thấy ở vùng khu IV cũ tác giả đã thu thập được 23 giống
bưởi, 8 giống cam, 8 giống quýt và 4 giống chanh Trong số này có những giống hội
tụ khá nhiều những đặc tính quí như khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt …
Trang 26Trong thực tế những giống này đã trở thành những giống chủ lực của vùng cam quýt hàng hoá thuộc khu IV cũ
Kết quả nghiên cứu tuyển chọn từ tập đoàn giống bưởi thuộc các tỉnh phía
Bắc của Trần Thế Tục (1995) đã xác định được 8 giống bưởi là Đoan Hùng, bưởi
ngọt Như Quỳnh, bưởi đường Yên Phong, Phú Thọ 1, 2 …
Theo Trịnh Xuân Vũ (1995) cho biết ở vùng miền Đông Nam Bộ nước ta
có khoảng 20 giống bưởi khác nhau Giống bưởi được ưa chuộng nhất là bưởi đường da láng (đường núm), bưởi đường lá cam, bưởi Thanh Trà và bưởi ổi
Đỗ Đình Ca (1995), điều tra giống cây có múi ở vùng Bắc Quang - Hà
Giang cho biết vùng này có 16 giống, trong đó có 1 giống cam, 10 giống quýt, 3 giống bưởi và 2 giống chanh
Kết quả bình tuyển các giống bưởi tại các tỉnh phía Nam cho thấy: có 67 giống bưởi, trong đó có 54 giống được lưu giữ tại Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Trong đó các cá thể bưởi Năm Roi BNR03, BNR25 và cá thể bưởi đường lá cam BD34 được đề xuất nhân giống ra diện rộng
Nhìn chung, tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng, được trồng ở hầu khắp các tỉnh, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi lớn với những giống đặc trưng mang tính đặc sản địa phương Một số giống bưởi nổi tiếng ở các địa phương nước ta được trồng với mục đích sản xuất hàng hóa có các đặc điểm như sau:
Bưởi Năm Roi:
Trồng nhiều trên đất phù sa ven sông Hậu ở huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Hậu Giang Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến năm 2010 diện tích trồng bưởi Năm Roi ở ĐBSCL là 13.000 ha, sản lượng 150.000 tấn Không những tiêu thụ trong nước bưởi Năm Roi còn được xuất khẩu đi một số nước Doanh nghiệp Hoàng Gia đã
Trang 27đăng ký độc quyền kinh doanh thương hiệu bưởi Năm Roi Hoàng Gia và lập trang Web riêng nhằm quảng bá cho loại quả đặc sản này
Bưởi Da Xanh:
Có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, hiện được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre Toàn tỉnh Bến Tre hiện tại có 2.940 ha, dự kiến đạt 4.000 ha vào năm 2010 Ngoài tiêu thụ nội địa bưởi
Da Xanh được xuất khẩu sang một số nước như Mỹ, Thái Lan
Bưởi đường Lá Cam:
Trồng nhiều ở huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, hiện nay ở các tỉnh ĐBSCL
cũng phát triển trồng nhiều giống bưởi này Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa
Bưởi đường Hương Sơn:
Trồng nhiều ở vùng thung lũng hai sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu thuộc hai huyện Hương Sơn và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh Hai giống điển hình là bưởi Phúc Trạch (Hương Khê) và bưởi đường Hương Sơn Lá và quả bưởi đường Vinh đều to hơn bưởi Đoan Hùng, vỏ mỏng hơn, ngọt và khô hơn bưởi Đoan Hùng
Trang 28phố Huế Trong quy hoạch của tỉnh, diện tích bưởi Thanh Trà tiếp tục được mở rộng, tiến tới ổn định ở mức 1.400 ha
Bưởi Biên Hoà:
Vùng trồng nổi tiếng là ở cù lao Phố và cù lao Tân Triều trên sông Đồng
Nai Quả to, hình quả lê, vỏ dày, cùi xốp trắng, múi dễ tách, ăn giòn, ngọt dôn dốt chua Khối lượng quả trung bình từ 1,2 - 1,5 kg, tỷ lệ phần ăn được trên 60% Thời
vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch
Bưởi Phúc Trạch:
Nguồn gốc ở xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Hiện nay được trồng ở hầu hết 28 xã trong huyện và các vùng phụ cận Bưởi Phúc Trạch được coi là một trong những giống bưởi ngon nhất ở nước ta hiện nay Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ quả màu vàng xanh, khối lượng trung bình từ 1- 1,2 kg, tỷ lệ phần ăn được 60- 65%, số lượng hạt từ 50- 80 hạt, màu sắc thịt quả và tép múi phớt hồng, vách múi giòn dễ tách rời, thịt quả mịn, đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ brix từ 12-
14 Thời gian thu hoạch vào tháng 9
Bưởi Đoan Hùng:
Trồng tập trung chủ yếu ở các xã Chí Đám, Bằng Luân và Cát Lâm của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, trên đất phù sa ven sông Lô và sông Chảy Bưởi Đoan Hùng có 2 giống là bưởi Tộc Sửu, nguồn gốc ở xã Chí Đám và bưởi Khả Lĩnh, nguồn gốc ở thôn Khả Lĩnh xã Đại Minh huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái với diện tích cây cho quả khoảng trên 300 ha Trong những năm gần đây bưởi Đoan Hùng liên tục mất mùa, năng suất, sản lượng suy giảm một cách rõ rệt, sản phẩm hiện không đủ cho tiêu thụ nội tỉnh
Bưởi Diễn:
Trang 29Có nguồn gốc từ Đoan Hùng – Phú Thọ, trước đây được trồng nhiều ở xã Phú Diễn, xã Phú Minh huyện Từ Liêm Hà Nội, hiện nay đã được trồng và phát triển tốt tại một số địa phương như: Hà Nội (Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Phần Mỹ, Quốc Oai, ); Bắc Giang (Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Thế, ); Hưng Yên (Văn Giang, Tiên Lữ, ) với diện tích ước khoảng 1.000 ha và đang tiếp tục được
mở rộng
Bưởi Đỏ (Bưởi Đào):
Giống bưởi này có nhiều dạng khác nhau, điển hình là bưởi đỏ Mê Linh, trồng nhiều ở huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, bưởi gấc ở Đại Hoàng - Nam Định, Hoài Đức - Hà Tây và một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc, bưởi Xiêm Vang ở tỉnh Vĩnh Cửu - Đồng Nai
Bưởi Phục Hoà:
Có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng nhiều ở vùng Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng từ những năm 1960 khi bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ Bưởi Phục Hoà cây sinh trưởng khoẻ, phân cành nhiều, cành
lá mở rộng, tán hình bán cầu, lá hình ovan, xanh đậm ra hoa vào khoảng tháng 2 tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11- tháng 12, quả hình lê, vỏ quả sau khi chín có màu xanh vàng hoặc màu da cam, quả dễ bóc, tép bó chặt, ngọt có mùi thơm, không he đắng Bưởi Phục Hoà có những đặc điểm giống như bưởi Sa Điền (huyện Dung, Quảng Tây, Trung Quốc) qua quá trình trồng ở Việt Nam thấy chất lượng tốt hơn như vị ngọt thanh hơn, có nhiều nước hơn,… nên rất được ưa chuộng
Bưởi Phục Hoà nếu được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật thì sau khi trồng
3 - 5 năm cho thu hoạch quả, sau 15 năm cây bước vào thời kỳ sai quả ổn định và
có thể kéo dài 40-60 năm Sản lượng 1 cây có thể đạt 150-350 quả, mặt khác bưởi Phục Hoà còn có đặc điểm là dễ bảo quản - Sau khi thu hoạch nếu được lựa chọn và
Trang 30bảo quản tốt trong điều kiện bình thường có thể bảo quản được 3 - 4 tháng (Người dân Trung Quốc gọi quả có đặc điểm như vậy là “đồ hộp hoa quả tự nhiên” )
Ngoài những giống bưởi chính kể trên còn có nhiều giống bưởi ngon được trồng rải rác ở các tỉnh trong cả nước như: bưởi Ổi, bưởi Da Láng (Biên Hoà, Vĩnh Long), bưởi Tàu, bưởi Bành, bưởi Phò Trạch (Thừa Thiên Huế), bưởi Luận Văn (Thanh Hoá), bưởi Quế Dương (Hoài Đức – Hà Nội), bưởi Hoàng Trạch (Văn Giang – Hưng Yên) Ở mỗi vùng, các giống bưởi đều có vai trò nhất định trong sản xuất nông nghiệp
Trồng bưởi mang lại giá trị kinh tế cao Người ta tính được hiệu quả của việc trồng bưởi Diễn gấp 4 – 5 lần trồng lúa, giá trị thu nhập của 1 sào bưởi (360 m2) khoảng trên 10 triệu đồng Đối với bưởi Đoan Hùng, thông thường những nhà trồng
30 cây bưởi thu từ 15 – 20 triệu đồng/năm Với các giống bưởi Năm Roi, Da Xanh thu nhập lên tới 120 – 150 triệu đồng/ha
Bưởi ở Việt Nam chủ yếu sản xuất để ăn tươi, hiện chưa đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Một vài năm gần đây đã có một số hoạt động đầu tư sản xuất,
áp dụng quản lý chất lượng theo hướng GAP, đăng ký thương hiệu cho một số giống bưởi đặc sản như Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch, Đoan Hùng, với mục đích xuất khẩu ra thị trường ngoài nước
Tình hình xuất khẩu bưởi ở Việt Nam:
Ở nước ta nhóm cây ăn quả có múi nói chung, cây bưởi nói riêng được coi là
một trong 4 loại các cây ăn quả chủ lực
Theo các tác giả Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca , nước ta có 3
vùng trồng cây có múi chủ yếu là:
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Trang 31Ở đây có một tập đoàn cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, cam giấy, bưởi, quýt, quất Các giống được ưa chuộng và trồng hiện nay là cam sành, cam mật, bưởi năm roi, bưởi Long Tuyền Theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi ở Đồng bằng sông Cửu Long là 41.267ha bằng 61,16% diện tích cây ăn quả có múi cả nước Năng suất bình quân tương đối cao trong đó bưởi đạt 7,4 tấn/ha
Vùng Bắc Trung bộ:
Theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi toàn vùng là 7.743 ha với sản lượng 22.661 tấn Trong vùng này có hai vùng bưởi dặc sản đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch của Hương Khê Với ưu việt của mình, diện tích bươi Phúc Trạch ngày được mở rộng Trong năm 2006, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến 1600ha, trong đó có khoảng 950ha đã cho quả, sản lượng quả bình quân những năm gần đây đạt 12-15 nghìn tấn/năm (www.cesti.gov.vn)
Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc:
Cây có múi ở vùng này được trồng ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, sông Chảy Hiện chỉ còn một số vùng tương đối tập trung là Bắc Sơn, Bắc Quang (Đỗ Đình Ca,1995) , riêng cây bưởi ở vùng này
có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây có múi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, đến năm 2009 cả nước có 776,2 nghìn
ha cây ăn quả, trong đó diện tích cam quýt là 73,4 nghìn ha, diện tích bưởi, bòng là 45,2 nghìn ha
Cũng dễ dàng nhận thấy rằng ở nước ta bưởi được trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, và có nhiều vùng sản xuất tập trung nổi tiếng tới hàng trăm hecta bưởi là: vùng bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ (khoảng 300 ha), bưởi Diễn - Hà Nội
Trang 32(riêng xã Phú Diễn có khoảng 53 ha với 600 hộ trồng, xã Thượng Mỗ huyện Hoài Đức - Hà Tây diện tích bưởi Diễn khoảng 125 ha), Phúc Trạch - Hà Tĩnh (1.250 ha), Thanh Trà - Thừa Thiên Huế (165,2 ha), Biên Hòa - Đồng Nai vv…, đặc biệt là vùng bưởi ĐBSCL
Trước đây bưởi ở Việt Nam chủ yếu sử dụng ăn tươi và sản xuất bưởi của nước ta chỉ đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Một vài năm gần đây đã có một số công ty như Hoàng Gia, Đông Nam đã bắt đầu những hoạt động như đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng theo GAP, đăng ký thương hiệu một số giống bưởi ngon ở nước ta như Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch vv với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Bưởi Năm roi ở ĐBSCL được nhiều khách nước ngoài ưa chuộng, Hội Làm vườn huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) vừa ký hợp đồng xuất khẩu trên 40.000 trái bưởi đặc sản Tân Triều sang thị trường Singapore với giá 18.000đ/kg (khoảng
220.000đ/chục) Dự kiến toàn bộ lô hàng sẽ được xuất sang Singapore trong tháng 6-2007 Đầu năm 2007 đến nay, toàn huyện đã bán trên 50.000 trái bưởi và 15.000 lít rượu bưởi Tân Triều Dự kiến cả năm toàn huyện sẽ bán trên 100.000 trái bưởi và 25.000 lít rượu bưởi Toàn huyện hiện có gần 2.000 hộ trồng bưởi với tổng diện tích khoảng 700ha, tập trung chủ yếu tại hai xã Tân Bình, Bình Lợi
Hiện nay mặt hàng bưởi da xanh là đặc sản của tỉnh Bến Tre, đã được xuất khẩu sang 50 thị trường khác nhau trên thế giới
Trang 33Bảng 1: Giá trị xuất khẩu của cây có múi tại Việt Nam (2001 - 2008)
(Nguồn: Trung tâm thương mại quốc gia, 2009)
Nhận xét: Các giống bưởi ở nước ta rất đa dạng, có nhiều nguồn gen quý, nhiều giống có tiềm năng xuất khẩu với giá trị kinh tế cao Trồng bưởi mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, sản xuất vẫn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch nên còn nhiều bất cập Bưởi chủ yếu sử dụng ăn tươi, hiện chưa đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Trong những năm gần đây hiện tượng mất mùa liên tục xảy
ra với một số giống bưởi đặc sản khiến người trồng bưởi chán nản, nhiều hộ dân đã chặt bỏ cây bưởi để thay bằng các loại cây trồng khác Để nâng cao và ổn định năng suất, phẩm chất các giống bưởi đặc sản cần có những nghiên cứu cơ bản cho từng giống, ở mỗi vùng sinh thái khác nhau Việc phát triển trồng bưởi ở những vùng có điều kiện phát triển cũng như bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền thống là định hướng chiến lược của nhiều địa phương, trong đó việc phát hiện và nhập nội giống cây tốt phù hợp để bổ sung vào cơ cấu giống của nước
ta là rất cần thiết
Trang 341.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY BƯỞI
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên:
Bưởi trong dân gian còn được gọi là dữu, bòng, lôi dữu, xú dữu, chu loan, hương loan, phao, văn đán Về thành phần hoá học, trong lá, hoa và vỏ quả đều có chứa tinh dầu Bưởi là loại cây cao to 10- 13cm, vỏ thân màu vàng nhạt, đôi khi ở
kẽ nứt thân chảy ra một thứ gôm nhựa Cành có gai dài, nhọn Lá hình trứng dài 11- 12cm, rộng 4,5 - 5,5cm, hai đầu tù, nguyên, dai, cuống có dìa cánh to Hoa đều,
to, mọc thành chùm 6 - 10 hoa, rất thơm Quả hình cầu to, có khi to bằng đầu người lớn, vỏ dày, màu thay đổi tùy theo giống Trong bưởi chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, đạm, béo, acid tannic, beta-caroten và các chất khoáng như phospho, sắt, canxi, kali, magiê, các vitamin B1, B2, C
1.3.2 Nhu cầu sinh thái cây:
Nhiệt độ: Cây bưởi có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ
13 - 380C, thích hợp nhất là 23 - 290C Dưới 130C cây ngừng sinh trưởng, dưới âm
50C cây bưởi sẽ bị chết;
Ánh sáng: Cây bưởi không thích hợp với ánh sáng trực tiếp, cường độ ánh sáng thích hợp nhất cho cây bưởi khoảng 10.000 - 15.000 lux (tương đương với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều trong mùa nắng);
Nước: Cây bưởi có nhu cầu về nước rất lớn, nhất là trong thời kỳ cây ra hoa và phát triển trái Mặt khác, cây bưởi cũng rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước Trong mùa mưa, nếu mực nước ngầm trong đất cao và không thoát nước kịp, cây sẽ bị thối rễ, vàng lá và chết
1.3.3 Thời vụ trồng cây bưởi:
Cây bưởi thường được trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới, tuy nhiên cũng có thể trồng được quanh năm nếu chủ động nguồn nước tưới
Trang 351.3.4 Trồng cây chắn gió và che mát cho cây bưởi:
Cây bưởi thích hợp ánh sáng tán xạ, do đó phải trồng cây che mát cho cây bưởi bằng các loại cây khác như mãng cầu xiêm, Đồng thời, trồng cây chắn gió như dừa, xoài, các loại cây lấy gỗ , để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, sự lây lan của côn trùng, mầm bệnh
1.3.5 Yêu cầu sinh thái của cây bưởi:
Nhiệt độ: Cây Bưởi có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, có thể sinh trưởng được từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-
29°C
Ánh sáng: Cường độ ánh sáng thích hợp cho cây bưởi là 10.000- 15.000 lux (tương đương nắng sáng lúc 8 giờ hoặc nắng chiều lúc 16 giờ) Trong điều kiện miền Nam, khi trồng cây bưởi cần trồng cây che bóng hướng Đông- Tây
Nước: Cây bưởi cần nhiều nước trong thời kỳ ra hoa kết trái và thời kỳ cây con, nhưng cây cũng rất sợ ngập úng Ẩm độ đất thích hợp nhất là 70- 80%, lượng mưa khoảng 1000- 2000 mm/năm Trong mùa nắng cần phải tưới nước cho cây bưởi, nhưng nước tưới không được mặn quá 3‰
Đất đai: Đất trồng cây bưởi phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0, 6m, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, có hàm lượng hữu cơ cao>3%, PH từ 5, 5- 7, nhiễm mặn không quá 3‰, mực nước ngầm dưới 0,8m
1.4 TÁC DỤNG CỦA BƯỞI
1.4.1 Tác dụng chữa bệnh:
Đông y cho rằng mỗi bộ phận của quả bưởi đều có tác dụng riêng Cơm bưởi
vị ngọt, chua, tính mát, không độc, có tác dụng kiện tỳ, trị ho, giải rượu Vỏ ngoài chứa tinh dầu (vỏ trong thường dùng làm mứt), vị cay, đắng, ngọt, tính ấm, có tác dụng trị ho, giảm đau Hạt bưởi vị đắng, tính ấm, chứa chất béo, có tác dụng trị đau
Trang 36thoát vị bẹn, sa đì Lá bưởi vị đắng, the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tán khí, thông kinh lạc, giải cảm, trừ đờm, tiêu thực, hoạt huyết, tiêu sưng, tiêu viêm
Chữa ho nhiều:
Cơm bưởi 100g, rượu gạo 15 ml, mật ong 30 ml, chưng cách thủy cho chín nhừ, mỗi ngày ăn 1 lần - Cơm bưởi cắt nhuyễn cho vào bình, ngâm rượu, đậy kín 1 đêm, nấu nhừ, dùng mật ong trộn đều, ngậm nuốt thường xuyên
Rối loạn tiêu hóa, thai phụ miệng nhạt, nước dãi trào ngược:
Cơm bưởi 60g, ăn hết một lần, mỗi ngày ăn 3 lần - Nước bưởi, mỗi lần dùng 50g, ngày 3 lần, dùng liền 5 ngày - Bưởi 5-8 quả ép lấy nước, dùng lửa nấu đặc, thêm 500g mật ong, 100g đường phèn, 10 ml nước gừng tươi, cùng nấu thành dạng cao, để nguội, đựng trong lọ Mỗi lần dùng 15 ml, ngày 2 lần, dùng liền 5 ngày
Hôi miệng, giải rượu:
Cơm bưởi 100g, nhai nuốt dần dần - Bưởi 1 quả lấy nước, vỏ quít 10g, gừng tươi 6 g, thêm đường đen lượng vừa nấu chung, mỗi ngày dùng 1 liều, dùng liền trong 5 ngày
Say tàu xe hay rối loạn tiêu hóa, miệng nhạt buồn nôn do cảm:
Mứt bưởi 30-60g, nhai nuốt dần
Đau khớp hay té ngã sưng đau:
Vỏ bưởi tươi 250g, gừng tươi 30g, cùng băm nhuyễn, đắp tại chỗ, mỗi ngày thay 1 lần
Dị ứng da hay mẩn ngứa không rõ nguyên nhân:
Trang 37Bưởi da xanh 1 quả, cắt bổ nguyên quả, nấu nước thoa rửa tại chỗ, mỗi ngày làm 3 lần, đồng thời có thể ăn bưởi mỗi ngày 60g, chia 3 lần
Thoát vị bẹn, sa đì :
Hạt bưởi 15g, băm nhuyễn nấu nước uống, ngày uống 1 lần vào sáng và chiều
Bong gân, sưng khớp do lạnh, chấn thương:
Lá bưởi không kể liều lượng, nướng chín để nắn, xoa bóp hay nấu nước xông và ngâm tại chỗ
1.4.2 Những tác dụng khác:
Người ta trồng chủ yếu để lấy quả ăn, lấy hoa ướp thơm thức ăn, bánh trái hoặc cất nước hoa bưởi Người ta còn hái lá làm thuốc, thường chỉ dùng lá tươi Người ta còn dùng vỏ quả và hạt bưởi sau khi ăn quả Bưởi là loại quả quen thuộc,
có ở hầu khắp các vùng, miền ở Việt Nam