1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)

203 233 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 406,35 KB
File đính kèm Luận án Full.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội (Luận án tiến sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN



NGÔ THANH MAI

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Phân bố Lực lượng Sản xuất và Phân vùng Kinh tế)

Mã số: 62340410

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS LÊ THU HOA

2 PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN

Hà Nội - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Trang 3

Lời cảm ơn đầu tiên xin phép được gửi đến bố mẹ, chồng, và hai con Anh Tâm

- Gia Huy đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi có thể vững bước, chuyên tâm vào công việc nghiên cứu

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thu Hoa và PGS.TS Nguyễn Danh Sơn đã tận tình hướng dẫn chuyên môn, gợi mở những hướng đi, giới thiệu tài liệu tham khảo, tạo điều kiện để tôi tham gia các buổi hội thảo, giúp tôi hoàn thành luận án

Lời cảm ơn chân thành tôi xin được trân trọng gửi tới Ban Lãnh đạo, Thạc sĩ Khánh Ngọc, Tuyết Nhung và các cán bộ của Viện Đào tạo Sau đại học đã hỗ trợ rất nhiệt tình về các thủ tục hành chính trong thời gian học tập và hoàn thành luận án

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa và Bộ môn Kinh tế - Quản lý Tài nguyên và Môi trường, các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ nhiệt tình về chuyên môn

Lời cảm ơn sâu sắc xin được gửi đến em Hà, chị Nga ở HTX Thành Công, chị Thuở Hội phụ nữ xã Sài Sơn và em Phạm Ngọc Toàn - Viện Khoa học Lao động và

Xã hội đã cung cấp thông tin và hỗ trợ xử lý dữ liệu

Cuối cùng, lời tri ân tôi xin được gửi đến chị Mai Hoa, bạn Thanh Huyền và em Đinh Đức Trường - những người chị, người bạn, người em của tôi dưới mái nhà ĐH Kinh tế Quốc dân - đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ những thời khắc khó khăn nhất để tôi có thể hoàn thành luận án của minh

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn./

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Kết cấu của Luận án 17

6 Những đóng góp mới của Luận án 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 20

1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20

1.1.1 Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20

1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị 23

1.1.3 Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 25

1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng 27

1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng 27

1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng 28

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng 30

1.2.4 Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng 32

1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33

1.3.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33

1.3.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 34

1.3.3 Lý thuyết về hành động tập thể 36

1.4 Kết luận chương 1 40

Trang 5

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Quy trình thực hiện luận án 41

2.2 Nguồn dữ liệu 41

2.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp 41

2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp 43

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 48

2.3.1 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 48

2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững cho mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 53

2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 58

2.3.4 Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu khác 61

2.4 Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63

3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Thành phố Hà Nội 63

3.1.1 Tăng trưởng kinh tế 63

3.1.2 Đô thị hóa và gia tăng dân số 65

3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 66

3.2.1 Khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị 66

3.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị 67

3.2.3 Hiện trạng phân đoạn thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị 68

3.2.4 Hiện trạng phân đoạn vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70

3.2.5 Hiện trạng phân đoạn xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70

3.2.6 Hiện trạng phân đoạn tái chế chất thải rắn sinh hoạt đô thị 72

3.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 73

3.3.1 Xã hội hóa - chủ trương đặt nền tảng cho các sáng kiến dựa vào cộng đồng 73

3.3.2 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 75

Trang 6

3.4 Phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị

dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 82

3.4.1 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh kinh tế 82

3.4.2 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh xã hội 87

3.4.3 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh môi trường 97

3.4.4 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh thể chế/quản lý 100

3.5 Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững của 2 mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 104

3.5.1 Tính toán các chỉ số riêng biệt 104

3.5.2 Tính toán các chỉ số thành phần 108

3.5.3 Tính toán chỉ số tổng hợp bền vững 109

3.6 Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 112

3.6.1 Thống kê mô tả mẫu điều tra trên 2 địa bàn nghiên cứu 112

3.6.2 Kết quả ước lượng mô hình 115

3.7 Kết luận chương 3 119

CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNg THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 120

4.1 Căn cứ đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 120

4.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 120

4.1.2 Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 122

4.1.3 Cơ chế, chính sách đối với quản lý chất thải rắn và vấn đề xã hội hóa 125

4.1.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 132

4.2 Định hướng hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 137

4.2.1 Nguyên tắc trong hoạch định và xây dựng chính sách 137

4.2.2 Định hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 137

Trang 7

4.2.3 Định hướng xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách 138

4.3 Một số khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 138

4.3.1 Khuyến nghị về cơ chế chính sách 139

4.3.2 Khuyến nghị về kinh tế 140

4.3.3 Khuyến nghị về quản lý 143

4.3.4 Khuyến nghị về nâng cao nhận thức cộng đồng 145

4.4 Kết luận chương 4 146

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 163

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

BVMT Bảo vệ Môi trường

CBOs Tổ chức dựa vào cộng đồng - (Community-Based Organizations)

CNH Công nghiệp hóa

CTR Chất thải rắn

CTRĐT Chất thải rắn đô thị

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

CTRSHĐT Chất thải rắn sinh hoạt đô thị

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

HHCC Hàng hóa Công cộng

HTX Hợp tác xã

KCN Khu Công nghiệp

NGOs Tổ chức phi Chính phủ - (Non-Government Organizations) NSNN Ngân sách Nhà nước

QLCT Quản lý chất thải

QLCTR Quản lý chất thải rắn

QLCTRĐT Quản lý chất thải rắn đô thị

QLCTRSH Quản lý chất thải rắn sinh hoạt

QLCTRSHĐT Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị

QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng

UBND Ủy ban Nhân dân

URENCO Công ty Môi trường Đô thị

VHLSS Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam

WTP Sẵn lòng chi trả

XHH Xã hội hóa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thông tin chung về địa bàn điều tra năm 2016 45

Bảng 2.2: Quy mô của mẫu điều tra 47

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 51

Bảng 2.4: Giá trị tối đa, giá trị tối thiểu và giá trị thực tế của các chỉ tiêu 55

Bảng 3.1: Thành phần CTRSHĐT phát sinh ở thành phố Hà Nội 67

Bảng 3.2: Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được tái chế ở một số đô thị Châu Á 73

Bảng 3.3: Doanh thu và chi phí hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSHĐT ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 83

Bảng 3.4: Lý do không nộp phí vệ sinh từ phía hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 85

Bảng 3.5: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về mức phí vệ sinh 86

Bảng 3.6: Mức độ hài lòng hộ gia đình về phương thức thu phí vệ sinh 87

Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động địa phương ở tổ đội thu gom xã Sài Sơn năm 2016 88

Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 89

Bảng 3.9: Mức độ thường xuyên nhận các thông tin về đặc điểm dịch vụ thu gom CTRSHĐT 91

Bảng 3.10: Mức độ thường xuyên được tham vấn về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 92

Bảng 3.11: Mức độ thường xuyên thảo luận và góp ý kiến về các dịch vụ QLCTRSHĐT 93 Bảng 3.12: Mức độ thường xuyên cùng thực hiện các quy định về QLCTRSHĐT 94

Bảng 3.13: Mức độ thường xuyên cùng chịu trách nhiệm và thực hiện các hoạt động QLCTRSHĐT 95

Bảng 3.14: Nhận thức của hộ gia đình về tầm quan trọng của hệ thống QLCTRSHĐT và tác động của CTRSHĐT 96

Bảng 3.15: Tỷ lệ thu gom CTRSHĐT tại phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 98 Bảng 3.16: Hệ thống số liệu các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 106

Bảng 3.17: Các chỉ số thành phần của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 108

Bảng 3.18: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109

Bảng 3.19: Phân bố hộ gia đình theo mức sẵn lòng chi trả ở Nhân Chính và Sài Sơn 113

Bảng 3.20: Mô tả thống kê các biến sử dụng trong mô hình 114

Trang 10

Bảng 3.21: Kết quả ước lượng mô hình sẵn lòng chi trả 115

Bảng 3.22: Hệ số tương quan và R2 cho các mô hình 116

Bảng 3.23: Mức sẵn lòng chi trả bình quân của hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 118

Bảng 4.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hà Nội và cả nước giai đoạn 2011 - 2030 121

Bảng 4.2: Dự báo dân số Thành phố Hà Nội đến năm 2020 và 2030 121

Bảng 4.3: Dự báo khối lượng chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2050 123

Bảng 4.4: Mục tiêu quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2030 124

Bảng 4.5: Nguồn vốn cho Quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội 125

Bảng 4.6: Phân tích SWOT đối với mô hình kết hợp giữa Cộng đồng và Công ty/ 132

HTX dịch vụ môi trường 132

Bảng 4.7: Phân tích SWOT đối với mô hình Cộng đồng tự tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương 135

Bảng 4.8: Tỷ lệ phí vệ sinh trung bình so với thu nhập của hộ gia đình ở 141

Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 141

Bảng 4.9: Mức phí thu gom CTR ở một số thành phố trên thế giới năm 2010 142

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường và sức khoẻ của con người 23

Hình 1.2: Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 26

Hình 1.3: Các mức độ tham gia của cộng đồng 33

Hình 1.4: Mô hình hợp tác giữa Doanh nghiệp tư nhân và Tổ chức dựa vào 35

cộng đồng (CBOs) 35

Hình 1.5: Mô hình hợp tác giữa Chính quyền địa phương và Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs) 35

Hình 1.6: Mô hình kết hợp giữa NGOs và CBOs 36

Hình 1.7: Khung phân loại dịch vụ CTRSH 37

Hình 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu luận án 41

Hình 2.2: Quy trình xây dựng chỉ tiêu 48

Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 -2016 63

Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng theo ngành ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2016 64 Hình 3.3: Quy mô dân số ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 65

Hình 3.4: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Thành phố Hà Nội 66

Hình 3.5: Chủ thể tham gia các phân đoạn trong QLCTRSHĐT ở thành phố Hà Nội 71 Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính 79

Hình 3.7: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở xã Sài Sơn 82

Hình 3.8: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Chất thải rắn (CTR - Solid Waste) là một bộ phận tất yếu, "đồng hành" với quá

trình sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế Đối với các quốc gia đang phát triển, chất

thải rắn đô thị (CTRĐT- Municipal Solid Waste) ngày càng tăng nhanh cả về khối lượng

phát sinh và mức độ nguy hại Phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa mạnh mẽ được xem là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này (UNEP, 2005) Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, mỗi năm trái đất sẽ tiếp nhận 2 tỷ tấn CTRĐT, tương đương với khối lượng 300kg/người/năm Đến năm 2025, khối lượng CTRĐT sẽ đạt 5,9

tỷ tấn/năm, tương đương với 59 tỷ m3, đủ để trải khắp diện tích đất nước Costarica với độ sâu 1 mét (UN-Habitat, 2010b) Trong bối cảnh đó, quản lý chất thải rắn đô thị (QLCTRĐT) trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hệ thống quản lý môi trường ở các quốc gia Schubeler (1996) đã khẳng định: "phát sinh CTRĐT và cầu đối với dịch vụ thu gom CTRĐT đang thực sự là một vấn đề cấp bách đi kèm với tiến trình phát triển"

Nhiều học giả cho rằng hệ thống QLCTRĐT ở các nước đang phát triển phải đối mặt với một số khó khăn và thách thức Thứ nhất, hệ thống QLCTRĐT ở các nước này bị giới hạn về nguồn lực tài chính, năng lực con người và hệ thống luật pháp chồng chéo (Hoornweg, 2000) Vì vậy, khả năng cung cấp dịch vụ và kết quả hoạt động QLCTRĐT rất hạn chế Theo Pacione (2005), có khoảng 1/3 đến 1/2 lượng rác thải không được thu gom ở các nước thế giới thế 3 Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các khu vực ven đô và vùng nông thôn Phần rác thải không được thu gom có thể phá huỷ cảnh quan, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người

chủ thể khác, như: doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs -

vai trò và sự tham gia của các chủ thể được thừa nhận, khẳng định thì hoạt động QLCTRĐT được cải thiện hơn nhiều (Furedy, 1989) Có thể thấy, kết quả thực thi chưa

ấn tượng và những thách thức mà hệ thống QLCTRĐT phải đối mặt đang đặt ra những yêu cầu thay đổi cho hệ thống này Câu hỏi đặt ra là: cách thức QLCTRĐT truyền thống

mà các quốc gia đang áp dụng trong nhiều thập kỷ qua đã đúng hướng chưa và liệu có cần một sự thay đổi nào không?

Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ - Community-based Management) là

cách tiếp cận được một số nhà khoa học gợi mở từ các nghiên cứu học thuật cũng như

thực tế từ cuối thập kỷ 80 (Whande, 2007) Đây là cách tiếp cận từ dưới lên

Trang 13

Ở Việt Nam, QLCRĐT - đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị (QLCTRSHĐT) đã thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội Năm

2015, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên cả nước là 23 triệu tấn/năm Tại các vùng đô thị, nơi chiếm khoảng 30% dân số cả nước, mỗi năm phát sinh gần 14 triệu tấn CTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2017) Trước áp lực phải quản lý khối lượng CTRSHĐT khá lớn, các thành phố đều xác định đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, hệ thống QLCTRSHĐT đang gặp nhiều khó khăn do sự hữu hạn về thiết bị, về nguồn vốn, khung pháp lý còn thiếu và đặc biệt sự tham gia của cộng đồng còn mờ nhạt, chưa đúng với tiềm năng thực tế của chủ thể này (Bộ TN&MT, 2004) Nhận thức được bất cập đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương xã hội hóa (XHH) trong công tác Bảo vệ môi trường (BVMT) Ý tưởng của chủ trương này là huy động nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia vào sự nghiệp BVMT của đất nước Đây có thể coi là một hoạch định chính sách đúng đắn của Chính phủ trong bối cảnh khu vực công đang gặp nhiều khó khăn trong QLCTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2011)

Cũng như nhiều đô thị khác trên thế giới, thủ đô Hà Nội đã và đang phải đối mặt với vấn đề QLCTRSHĐT do kết quả của quá trình gia tăng dân số, đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Tiếp nối và cụ thể hóa chủ trương XHH của Chính phủ, Hà Nội được đánh giá là một (1) trong hai (2) địa phương đi đầu trong hoạt động này (Bộ TN&MT, 2004) Ngay từ cuối thập kỷ 90, thành phố đã triển khai chương trình XHH trong QLCTR nói chung và QLCTRSHĐT nói riêng Hàng loạt công ty tư nhân được thành lập và tham gia vào phân đoạn cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển

CTRSHĐT Hàng chục mô hình dựa vào sáng kiến của cộng đồng (Community-based

hình thu gom, vận chuyển rác ở phường Nhân Chính, xã Sài Sơn, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng Các chương trình XHH đã chia sẻ trách nhiệm QLCTRSHĐT với Chính phủ và đem lại những kết quả tích cực ban đầu Tuy vậy, trải qua một thời gian vận hành, các mô hình QLDVCĐ đã bộc lộ những bất cập và hạn chế Vai trò,

Trang 14

mức độ tham gia của cộng đồng còn yếu và chưa rõ nét; nhiều mô hình gặp khó khăn

về tài chính khi nguồn thu từ cộng đồng không đủ để chi trả cho cung ứng dịch vụ QLCTRSHĐT; mô hình chưa có vị thế rõ ràng, chưa có văn bản pháp lý đầy đủ và hoàn thiện để thúc đẩy phát triển Trong bối cảnh đó, việc phân tích và đánh giá mô hình QLDVCĐ là điều cần thiết để đề xuất các giải pháp vận hành, hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

2.1 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn

Đã từ lâu, QLCTR nói chung và QLCTRĐT nói riêng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Các nghiên cứu về QLCTR được thực hiện ở nhiều quốc gia, thành phố với nhiều nội dung hết sức đa dạng, phong phú Trên bình diện lớn, có thể nhận thấy bốn (4) mảng nội dung chính được các học giả tập trung nghiên cứu Cụ thể như sau:

• Một là, nhóm các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích hiện trạng phát

Nghiên cứu của UN-Habitat (2010a) cho thấy khó khăn lớn nhất mà các thành phố/q uốc gia đang phát triển phải đối mặt trong QLCTRĐT là: tỷ lệ thu gom thấp, phương thức xử lý CTRSHĐT chưa đúng kỹ thuật và an toàn Theo nhiều nghiên cứu,

tỷ lệ thu gom CTRĐT ở các thành phố lớn chỉ đạt 30-50%, tỷ lệ này còn thấp hơn ở các thành phố nhỏ và khu vực ven đô (Hardoy và cộng sự, 2001; UN-Habitat, 2010a) Các tác giả cũng đã bình luận việc thiếu quy định về QLCTRĐT và điều kiện môi trường ô nhiễm ở các thành phố này Miêu tả một bức tranh tương tự, nghiên cứu của Worldbank (2012) ước tính rằng: trong một số trường hợp, 60% CTR phát sinh tại đô thị các nước

có thu nhập thấp không được thu gom Vấn đề này nổi bật và tập trung rõ nét ở các quốc gia thuộc khu vực châu Phi và châu Á

Ở khu vực châu Phi, trong nghiên cứu "Định hướng tương lai về QLCTR ở châu

ở châu lục này Tỷ lệ thu gom ở các thành phố lớn đạt xấp xỉ 50%; ở khu vực ven đô, tỷ

lệ này còn đáng lo ngại hơn nhiều với con số là 10% Tình hình xử lý CTRĐT ở Lusaka, Zambia cũng được cho là xấu với 90% rác thải hàng ngày bị bỏ lại, tiềm ẩn các tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng (Hardoy và cộng sự, 2001) Tại Kinshasa (Congo), phần lớn rác thải phát sinh ở trên đường, trên các bãi rác bất hợp pháp, trong các kênh thoát nước mưa hoặc được chôn lấp ở các khu đất trống (Hardoy và cộng sự, 2001)

Trang 15

Năm 2007, một nghiên cứu về hiện trạng QLCTRĐT ở 11 nước của Trung tâm Năng suất Châu Á (APO, 2007) nhấn mạnh: QLCTRĐT là một thách thức lớn ở các thành

phố Nghiên cứu chỉ rõ: "mặc dù bỏ ra chi phí rất lớn cho QLCTR, các đô thị ở 11 nước vẫn

đang phải vật lộn với những thách thức ngăn chặn suy thoái môi trường do hoạt động không hiệu quả của hệ thống này QLCTRĐT trở thành một vấn đề quan trọng và cần phải được giải quyết thông qua cách tiếp cận tổng hợp, dựa vào cộng đồng và khu vực tư nhân"

Tại Sri Lanka, trung tâm hỗ trợ QLCTR quốc gia (NSMSC) (2008) đã nhận định QLCTR là một vấn đề lớn ở các thành phố của Sri Lanka Theo đó, tỷ lệ thu gom trung bình ở quốc gia này chỉ đạt 23% Tác giả đã mô tả thủ đô Colombo "đối mặt với một tình huống khủng hoảng" khi phải xử lý khoảng 1.500 tấn CTR mỗi ngày

Trong nghiên cứu "Quản lý chất thải rắn tại Trung Quốc: Tình trạng, các vấn

đang chứng kiến sự tích tụ nhanh chóng của rác thải đô thị như là kết quả của quá trình CNH, đô thị hóa và gia tăng dân số 668 thành phố của nước này tạo ra khoảng 212 triệu tấn rác thải mỗi năm, chiếm khoảng một phần ba tổng lượng CTR trên thế giới, trong đó có khoảng 148 triệu tấn được thu gom và chôn lấp; lượng rác thải còn lại tồn đọng trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và mỹ quan thành phố

Ở Việt Nam, hiện trạng QLCTRĐT được phác họa khá rõ nét qua 02 báo cáo quốc gia chuyên biệt về CTR do Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) ấn bản

năm 2004 và 2011 Theo "Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam - Chất thải rắn", Bộ

TN&MT (2004) dự báo khối lượng CTR sẽ tăng lên nhanh chóng trong bối cảnh phát triển kinh tế và gia tăng dân số Trước áp lực đó, khoảng 83 - 85% lượng chất thải phát sinh được thu gom, còn lại 15 - 17% CTR được thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường Trong Báo cáo "Quản lý tổng hợp

Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ, Hideki Wada (2016) lại đưa ra một bức tranh hơi khác khi cho rằng tỷ lệ thu gom CTRSHĐT ở các tỉnh, thành phố thực tế chỉ đạt 78% Dù đưa

ra số liệu khác nhau, nhưng các báo cáo đều thừa nhận "QLCTRĐT sẽ là một thách thức

to lớn và là một trong những dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng vì những tác động tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng" (Bộ TN&MT, 2011)

• Hai là, các nghiên cứu về QLCTR đã tập trung chỉ rõ các nguyên nhân/thách

Linden, O và cộng sự (1997) đã xác định 8 mối lo ngại chung mà các quốc gia châu Á đang phải đối mặt trong QLCTRĐT, bao gồm:

Trang 16

1 Công nghệ xử lý không phù hợp/ không hiệu quả;

2 Thực thi / không tồn tại;

3 Thiếu nguồn lực tài chính;

4 Thiếu nguồn lực con người;

5 Thiếu sự ủng hộ của hệ thống chính trị;

6 Thiếu khung pháp lý về QLCTRĐT;

7 Xung đột chính sách giữa các cấp chính quyền/ trách nhiệm chồng chéo;

8 Nhận thức của cộng đồng chưa cao

Theo báo cáo, những yếu tố này làm giảm các nỗ lực QLCTR của chính quyền thành phố ở châu Á, gây khó khăn trong việc giữ gìn môi trường và an toàn cho người

dân Trong các trở ngại nêu trên, sự ràng buộc về nguồn lực tài chính được nhắc đến

khá nhiều trong các nghiên cứu

Nhiều tác giả đã cho rằng, sự thiếu hụt về tài chính là một hạn chế lớn đối với QLCTR ở các nước đang phát triển (Cointreau, 1995) Lohse (2003) đã mô tả vấn đề tài chính đô thị ở các nước đang phát triển là "có khoảng cách lớn giữa nguồn lực tài chính

và nhu cầu chi tiêu đô thị" do "hầu hết các đô thị thiếu tự chủ khi thiết lập thuế và cơ cấu chi tiêu Lohse (2003) cũng thấy rằng vấn đề tài chính ở các nước đang phát triển là do

hệ thống thuế địa phương còn yếu kém; vì vậy, tỷ lệ thu hồi chi phí trong QLCTR là khá thấp và phụ thuộc nặng nề vào trợ cấp của nhà nước

Một nghiên cứu tương tự với tên gọi "Quản lý CTRĐT ở Việt Nam: hiện trạng và

khó khăn về tài chính trong hoạt động QLCTRĐT Cụ thể là mức đóng góp từ phía cộng đồng chỉ đủ bù đắp chi phí thu gom, chi phí vận chuyển và xử lý chủ yếu do chính quyền địa phương trợ cấp Trên thực tế, nguồn vốn phát triển chính thức (ODA - Official

đây là một thách thức trong hệ thống QLCTRĐT

- Các thách thức liên quan đến thể chế cũng được nhiều học giả nghiên cứu

UN-Habitat (2010a) cho rằng: thể chế yếu kém là đặc trưng của các nước đang phát triển, điều đó ảnh hưởng xấu đến cung cấp dịch vụ môi trường Chức năng của các

cơ quan trong QLCTRĐT không được xác định rõ ràng và không có một cơ quan duy nhất được chỉ định để điều phối hoạt động của hệ thống Sự không rõ ràng về thể chế có thể dẫn đến trùng lắp về nhiệm vụ, những khoảng trống trong cung cấp dịch vụ và lãng phí nguồn lực vốn đã khan hiếm, hoặc thậm chí sụp đổ của chương trình QLCTRĐT

Trang 17

Zurbrugg (2002) cũng đã ghi nhận sự yếu kém về năng lực quản lý ở các quốc gia đang phát triển Do đó, giải quyết vấn đề chất thải ở các thành phố đòi hỏi phải cải tiến về thể chế Tương tự Bộ TN&MT (2011) cũng thừa nhận hệ thống thể chế QLCTR ở Việt Nam

là "chưa đầy đủ, đồng bộ và thực thi triệt để"

- Một trở ngại khác gắn liền với hệ thống QLCTRĐT là sự tham gia hạn chế của

vấn đề xã hội Hashmi thấy phát triển cộng đồng là một giải pháp chia sẻ với những khó khăn của chính phủ Theo UNDP (2005), cộng đồng có vai trò quan trọng khi thiết lập các chính sách BVMT và không một chính phủ nào có thể đạt được phát triển bền vững

mà không có sự tham gia tích cực của cộng đồng Theo Bộ TN&MT (2011), "sự tham gia của cộng đồng làm tăng mức độ đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với các quyết định của chính quyền, tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương và tăng cường tính dân chủ trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chất thải"

• Ba là, tiếp nối các nghiên cứu về hiện trạng và thách thức mà hệ thống

QLCTRĐT phải đối mặt, khá nhiều nghiên cứu đi tìm kiếm đáp án cho bài toán

QLCTRĐT Một trong số các hướng đi như vậy là xây dựng chỉ tiêu để đánh giá

tiêu chuẩn cho phép các địa phương đánh giá hiệu quả hoạt động QLCTR Ngoài

ra, các chỉ số phù hợp sẽ rất hữu ích trong bối cảnh nỗ lực hợp tác nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tăng cường thu hồi nguồn tài nguyên và quản trị đô thị tốt hơn."

Mặc dù không có nhiều, nhưng các nghiên cứu về xây dựng chỉ tiêu cho hệ

thống QLCTR đã có từ khá sớm Trong nghiên cứu "Các vấn đề về sử dụng chỉ tiêu

phát sinh trên đầu người; tỷ lệ chất thải được quản lý theo các phương pháp khác nhau;

và tỷ lệ hộ gia đình được cung dịch vụ thu gom Các chỉ tiêu này đã được sử dụng như

là một phần của chỉ số phát triển bền vững tổng hợp ở các thành phố (Tanguay và cộng

sự, 2010)

Tiếp tục dành sự quan tâm cho việc xây dựng chỉ tiêu, trong nghiên cứu "Quản lý

tiêu cho 4 chủ đề, bao gồm: 5 chỉ tiêu môi trường, 2 chỉ tiêu kinh tế, 2 chỉ tiêu xã hội và

3 chỉ tiêu quản trị Tuy nhiên, do điều kiện không khả thi về số liệu, một bộ gồm năm (5) chỉ tiêu về môi trường và quản trị được tác giả lựa chọn để đánh giá tính bền vững của hoạt động QLCTR theo các mục tiêu đề ra

Trang 18

Năm 2011, Armijo và các cộng sự đã xây dựng bộ công cụ đánh giá bằng chỉ tiêu

để đo lường hiệu quả hoạt động QLCTR trong nghiên cứu "Bộ chỉ tiêu cho các chương

liệu và tham vấn ý kiến của các chuyên gia Kết quả có 18 chỉ tiêu được lựa chọn để giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hoá hiệu quả chương trình QLCTR

Trong nghiên cứu "Đánh giá sự bền vững của hệ thống QLCTR ở Nigieria: xây

đã đề xuất 13 chỉ tiêu trên 4 lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị Lý thuyết

về QLCTR tổng hợp và bền vững được tác giả lựa chọn để xây dựng chỉ tiêu Các chỉ tiêu được tính toán và quy chuẩn về một chỉ số để đánh giá mức độ bền vững của hệ thống QLCTR ở Nigieria

Một trong số những nỗ lực đáng được ghi nhận ở nội dung này là nghiên cứu

các cộng sự (2010) đã thu thập dữ liệu cho 20 thành phố đại diện cho các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình và xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hệ thống QLCTR Bộ chỉ tiêu này được hình thành từ lý thuyết QLCTR tổng hợp và bền vững nhưng được đơn giản hóa bằng cách gộp lại thành 3 nhóm, bao gồm: (1) nhóm chỉ tiêu về các bên liên quan; (2) nhóm chỉ tiêu bền vững về tài chính; và (3) nhóm chỉ tiêu về thể chế, chính sách Tiếp nối công việc này, Wilson và các cộng sự (2015) tiếp tục cập nhật, chỉnh sửa các chỉ tiêu định tính, định lượng và tiến hành kiểm định trên 50 thành phố trong

nghiên cứu "Bộ chỉ số nền tảng cho QLCTR tổng hợp ở các thành phố"

• Bốn là, các nghiên cứu về QLCTR không chỉ được tập trung xem xét ở cấp

độ quốc gia hoặc thành phố mà còn được thực hiện thông qua xem xét hành vi của hộ

gia đình, một trong những nội dung chủ chốt là đánh giá sự sẵn lòng chi trả (WTP -

Các nghiên cứu về WTP của hộ gia đình xuất hiện từ khá sớm, chủ yếu bắt nguồn

từ nhu cầu cải thiện chất lượng môi trường Trong nghiên cứu "Nhu cầu hộ gia đình về cải

đã đánh giá WTP của hộ gia đình về ưu tiên cải thiện hệ thống QLCTR so với hệ thống cấp nước và vệ sinh Các tác giả đã sử dụng một mẫu ngẫu nhiên phân tầng khoảng 1.000

hộ gia đình để tìm hiểu thông tin về phía người sử dụng dịch vụ CTR Phân tích của tác giả cũng thách thức những giả định thông thường rằng hộ gia đình ít ưu tiên QLCTR so với các dịch vụ đô thị khác và không muốn trả tiền Họ cho rằng, mặc dù QLCTR ở thành phố các nước đang phát triển là không đạt yêu cầu và sử dụng nhiều ngân sách địa

Trang 19

Wang và cộng sự (2011) cũng tiến hành phân tích hành vi của hộ gia đình nhằm cải thiện dịch vụ xử lý CTR ở huyện Eryuan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy mức WTP bình quân chiếm 1% so với tổng thu nhập của hộ gia đình Phân tích cũng chỉ ra rằng hầu hết các hộ gia đình nghèo nhất ở Eryuan không chỉ sẵn sàng chi trả nhiều hơn các hộ gia đình giàu về tỷ lệ thu nhập, mà còn sẵn sàng trả tương đương các hộ giàu về mặt giá trị tuyệt đối Các tác giả cho rằng những hộ gia đình nghèo nhất có nhu cầu cao về dịch vụ QLCTR công cộng, trong khi người giàu lại có khả năng thay thế bằng các dịch vụ tư nhân khi các dịch vụ công không có sẵn

Trong nghiên cứu "Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ

các cộng sự (2011) đã sử dụng phương pháp tạo dựng thị trường để xác định WTP cho hoạt động thu gom và xử lý rác thải ở huyện Gia Lâm Thông qua quan sát, thu thập số liệu thứ cấp và điều tra 116 hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, các tác giả xác định được mức chi trả bình quân của hộ nông dân là 6000 đồng/ người/ tháng Mức WTP chịu ảnh hưởng của các nhân tố thu nhập, giáo dục, nghề nghiệp, tuổi, giới tính

và quy mô của hộ gia đình Ước tính, mức sẵn lòng chi trả một năm trên địa bàn nghiên cứu khoảng 4 tỷ đồng/ năm Số tiền này nếu được sử dụng đúng mục đích sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom, xử lý CTRSH và môi trường sống của người dân

Nghiên cứu tương tự được Dagnew Hagos và các cộng sự (2012) đề cập trong

công trình "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống quản lý CTR

chọn để đánh giá WTP của cư dân nhằm cải thiện QLCTRĐT và đề xuất cơ chế phục hồi chi phí Nhóm tác giả sử dụng mô hình Tobit và Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình Kết quả cho thấy WTP của người dân có liên quan đáng kể đến thu nhập và nhận thức về chất lượng môi trường Nghiên cứu chỉ rõ phí vệ

Trang 20

sinh hiện tại của thành phố thấp hơn nhiều so với mức WTP của cư dân Mức WTP này là gợi ý cho các nhà chính sách xác định mức phí phù hợp hơn nhằm hỗ trợ cải tiến hệ thống QLCTR thành phố

Trong nghiên cứu "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện dịch vụ thu

định các nhân tố ảnh hưởng đến WTP Dựa trên điều tra 381 hộ gia đình ở Kampala, nhóm tác giả đã ước tính mức sẵn lòng chi trả của hộ là USH 2.439 mỗi tháng Mức chi trả này chịu ảnh hưởng bởi thu nhập, giáo dục, tuổi tác và quyền sở hữu nhà ở Đây là cơ

sở để các nhà chính sách thiết lập mức phí cho phù hợp với bối cảnh của thành phố

Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề "Mức sẵn lòng chi trả nhằm cải thiện dịch

việc cải thiện hệ thống xử lý CTR tại bằng cách sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên Mẫu điều tra gồm 156 quan sát được thực hiện Mô hình Tobit được sử dụng để xác định các yếu tố tác động đến WTP cho việc cải thiện dịch vụ xử lý CTR Kết quả cho thấy tuổi, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, thu nhập, quy mô hộ gia đình và khoảng cách tới bãi thải là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình Tác giả cũng khuyến nghị Chính phủ nên phối hợp với các cơ quan thu gom rác để đầu tư thêm nguồn lực cho các nhà máy tái chế nhằm nâng cao hiệu quả xử lý CTR

Với nghiên cứu "Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của công chúng cho QLCTR ở

Pazundaung nhằm tìm hiểu nhận thứccủa cộng đồng về tầm quan trọng của chương trình QLCTR Bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên, phần lớn người trả lời WTP ở mức 800MMK (tương đương với 0,8USD) Từ đó tác giả cũng xác định được quy mô nguồn tài chính tiềm năng để cải thiện hệ thống QLCTR

2.2 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng đồng

Đã từ lâu, các lý thuyết kinh tế về thất bại thị trường (market failure) và hiện trạng đã thừa nhận vai trò của Chính phủ trong quản lý tài nguyên môi trường Đây là

cách thức quản lý từ trên xuống (top-down) mà rất nhiều quốc gia trên thế giới áp

dụng Tuy vậy, cách quản lý này đã bộc lộ những yếu kém khi thực thi, những hạn chế

về năng lực và tài chính trong quá trình quản lý Trong bối cảnh đó, trao quyền trách nhiệm quản lý cho cộng đồng địa phương được xem là hướng đi đúng đắn Hướng đi này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ, đồng thời cũng huy động nguồn lực tài chính và nhân lực trong cộng đồng để đảm bảo cho hoạt động quản lý được bền vững Dựa trên những ý tưởng này, mô hình QLDVCĐ được hình thành

Trang 21

Luận án đầy đủ ở file: Luận án full

Ngày đăng: 28/03/2018, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm