Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng .... Phân tích tính bền vững c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGÔ THANH MAI
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Phân bố Lực lượng Sản xuất và Phân vùng Kinh tế)
Mã số: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS LÊ THU HOA
2 PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Trang 3Lời cảm ơn đầu tiên xin phép được gửi đến bố mẹ, chồng, và hai con Anh Tâm
- Gia Huy đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi có thể vững bước, chuyên tâm vào công việc nghiên cứu
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thu Hoa và PGS.TS Nguyễn Danh Sơn đã tận tình hướng dẫn chuyên môn, gợi mở những hướng đi, giới thiệu tài liệu tham khảo, tạo điều kiện để tôi tham gia các buổi hội thảo, giúp tôi hoàn thành luận án
Lời cảm ơn chân thành tôi xin được trân trọng gửi tới Ban Lãnh đạo, Thạc sĩ Khánh Ngọc, Tuyết Nhung và các cán bộ của Viện Đào tạo Sau đại học đã hỗ trợ rất nhiệt tình về các thủ tục hành chính trong thời gian học tập và hoàn thành luận án
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa và Bộ môn Kinh tế - Quản lý Tài nguyên và Môi trường, các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ nhiệt tình về chuyên môn
Lời cảm ơn sâu sắc xin được gửi đến em Hà, chị Nga ở HTX Thành Công, chị Thuở Hội phụ nữ xã Sài Sơn và em Phạm Ngọc Toàn - Viện Khoa học Lao động và
Xã hội đã cung cấp thông tin và hỗ trợ xử lý dữ liệu
Cuối cùng, lời tri ân tôi xin được gửi đến chị Mai Hoa, bạn Thanh Huyền và em
Đinh Đức Trường - những người chị, người bạn, người em của tôi dưới mái nhà ĐH Kinh tế Quốc dân - đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ những thời khắc khó khăn nhất để tôi có thể hoàn thành luận án của minh
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn./
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Kết cấu của Luận án 17
6 Những đóng góp mới của Luận án 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 20
1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20
1.1.1 Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị 23
1.1.3 Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 25
1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng 27
1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng 27
1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng 28
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng 30
1.2.4 Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng 32
1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33
1.3.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 34
1.3.3 Lý thuyết về hành động tập thể 36
1.4 Kết luận chương 1 40
Trang 5CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Quy trình thực hiện luận án 41
2.2 Nguồn dữ liệu 41
2.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp 41
2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp 43
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 48
2.3.1 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 48
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững cho mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 53
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 58
2.3.4 Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu khác 61
2.4 Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63
3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Thành phố Hà Nội 63
3.1.1 Tăng trưởng kinh tế 63
3.1.2 Đô thị hóa và gia tăng dân số 65
3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 66
3.2.1 Khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị 66
3.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị 67
3.2.3 Hiện trạng phân đoạn thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị 68
3.2.4 Hiện trạng phân đoạn vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70
3.2.5 Hiện trạng phân đoạn xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70
3.2.6 Hiện trạng phân đoạn tái chế chất thải rắn sinh hoạt đô thị 72
3.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 73
3.3.1 Xã hội hóa - chủ trương đặt nền tảng cho các sáng kiến dựa vào cộng đồng 73
3.3.2 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 75
Trang 63.4 Phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 82
3.4.1 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh kinh tế 82
3.4.2 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh xã hội 87
3.4.3 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh môi trường 97
3.4.4 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh thể chế/quản lý 100
3.5 Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững của 2 mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 104
3.5.1 Tính toán các chỉ số riêng biệt 104
3.5.2 Tính toán các chỉ số thành phần 108
3.5.3 Tính toán chỉ số tổng hợp bền vững 109
3.6 Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 112
3.6.1 Thống kê mô tả mẫu điều tra trên 2 địa bàn nghiên cứu 112
3.6.2 Kết quả ước lượng mô hình 115
3.7 Kết luận chương 3 119
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNg THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 120
4.1 Căn cứ đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 120
4.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 120
4.1.2 Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 122
4.1.3 Cơ chế, chính sách đối với quản lý chất thải rắn và vấn đề xã hội hóa 125
4.1.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 132
4.2 Định hướng hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 137
4.2.1 Nguyên tắc trong hoạch định và xây dựng chính sách 137
4.2.2 Định hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 137
Trang 74.2.3 Định hướng xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách 138
4.3 Một số khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 138
4.3.1 Khuyến nghị về cơ chế chính sách 139
4.3.2 Khuyến nghị về kinh tế 140
4.3.3 Khuyến nghị về quản lý 143
4.3.4 Khuyến nghị về nâng cao nhận thức cộng đồng 145
4.4 Kết luận chương 4 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 163
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ Môi trường
CBOs Tổ chức dựa vào cộng đồng - (Community-Based Organizations)
CTRĐT Chất thải rắn đô thị
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSHĐT Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
HHCC Hàng hóa Công cộng
NGOs Tổ chức phi Chính phủ - (Non-Government Organizations) NSNN Ngân sách Nhà nước
QLCT Quản lý chất thải
QLCTR Quản lý chất thải rắn
QLCTRĐT Quản lý chất thải rắn đô thị
QLCTRSH Quản lý chất thải rắn sinh hoạt
QLCTRSHĐT Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
UBND Ủy ban Nhân dân
URENCO Công ty Môi trường Đô thị
VHLSS Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam
WTP Sẵn lòng chi trả
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về địa bàn điều tra năm 2016 45
Bảng 2.2: Quy mô của mẫu điều tra 47
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 51
Bảng 2.4: Giá trị tối đa, giá trị tối thiểu và giá trị thực tế của các chỉ tiêu 55
Bảng 3.1: Thành phần CTRSHĐT phát sinh ở thành phố Hà Nội 67
Bảng 3.2: Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được tái chế ở một số đô thị Châu Á 73
Bảng 3.3: Doanh thu và chi phí hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSHĐT ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 83
Bảng 3.4: Lý do không nộp phí vệ sinh từ phía hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 85
Bảng 3.5: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về mức phí vệ sinh 86
Bảng 3.6: Mức độ hài lòng hộ gia đình về phương thức thu phí vệ sinh 87
Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động địa phương ở tổ đội thu gom xã Sài Sơn năm 2016 88
Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 89
Bảng 3.9: Mức độ thường xuyên nhận các thông tin về đặc điểm dịch vụ thu gom CTRSHĐT 91
Bảng 3.10: Mức độ thường xuyên được tham vấn về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 92
Bảng 3.11: Mức độ thường xuyên thảo luận và góp ý kiến về các dịch vụ QLCTRSHĐT 93 Bảng 3.12: Mức độ thường xuyên cùng thực hiện các quy định về QLCTRSHĐT 94
Bảng 3.13: Mức độ thường xuyên cùng chịu trách nhiệm và thực hiện các hoạt động QLCTRSHĐT 95
Bảng 3.14: Nhận thức của hộ gia đình về tầm quan trọng của hệ thống QLCTRSHĐT và tác động của CTRSHĐT 96
Bảng 3.15: Tỷ lệ thu gom CTRSHĐT tại phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 98 Bảng 3.16: Hệ thống số liệu các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 106
Bảng 3.17: Các chỉ số thành phần của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 108
Bảng 3.18: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109
Bảng 3.19: Phân bố hộ gia đình theo mức sẵn lòng chi trả ở Nhân Chính và Sài Sơn 113
Bảng 3.20: Mô tả thống kê các biến sử dụng trong mô hình 114
Trang 10Bảng 3.21: Kết quả ước lượng mô hình sẵn lòng chi trả 115
Bảng 3.22: Hệ số tương quan và R2 cho các mô hình 116
Bảng 3.23: Mức sẵn lòng chi trả bình quân của hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 118
Bảng 4.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hà Nội và cả nước giai đoạn 2011 - 2030 121
Bảng 4.2: Dự báo dân số Thành phố Hà Nội đến năm 2020 và 2030 121
Bảng 4.3: Dự báo khối lượng chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2050 123
Bảng 4.4: Mục tiêu quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2030 124
Bảng 4.5: Nguồn vốn cho Quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội 125
Bảng 4.6: Phân tích SWOT đối với mô hình kết hợp giữa Cộng đồng và Công ty/ 132
HTX dịch vụ môi trường 132
Bảng 4.7: Phân tích SWOT đối với mô hình Cộng đồng tự tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương 135
Bảng 4.8: Tỷ lệ phí vệ sinh trung bình so với thu nhập của hộ gia đình ở 141
Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 141
Bảng 4.9: Mức phí thu gom CTR ở một số thành phố trên thế giới năm 2010 142
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường và sức khoẻ của con người 23
Hình 1.2: Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 26
Hình 1.3: Các mức độ tham gia của cộng đồng 33
Hình 1.4: Mô hình hợp tác giữa Doanh nghiệp tư nhân và Tổ chức dựa vào 35
cộng đồng (CBOs) 35
Hình 1.5: Mô hình hợp tác giữa Chính quyền địa phương và Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs) 35
Hình 1.6: Mô hình kết hợp giữa NGOs và CBOs 36
Hình 1.7: Khung phân loại dịch vụ CTRSH 37
Hình 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu luận án 41
Hình 2.2: Quy trình xây dựng chỉ tiêu 48
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 -2016 63
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng theo ngành ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2016 64 Hình 3.3: Quy mô dân số ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 65
Hình 3.4: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Thành phố Hà Nội 66
Hình 3.5: Chủ thể tham gia các phân đoạn trong QLCTRSHĐT ở thành phố Hà Nội 71 Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính 79
Hình 3.7: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở xã Sài Sơn 82
Hình 3.8: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chất thải rắn (CTR - Solid Waste) là một bộ phận tất yếu, "đồng hành" với quá
trình sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế Đối với các quốc gia đang phát triển, chất
thải rắn đô thị (CTRĐT- Municipal Solid Waste) ngày càng tăng nhanh cả về khối lượng
phát sinh và mức độ nguy hại Phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa mạnh mẽ được xem là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này (UNEP, 2005) Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, mỗi năm trái đất sẽ tiếp nhận 2 tỷ tấn CTRĐT, tương đương với khối lượng 300kg/người/năm Đến năm 2025, khối lượng CTRĐT sẽ đạt 5,9
tỷ tấn/năm, tương đương với 59 tỷ m3, đủ để trải khắp diện tích đất nước Costarica với độ sâu 1 mét (UN-Habitat, 2010b) Trong bối cảnh đó, quản lý chất thải rắn đô thị (QLCTRĐT) trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hệ thống quản lý môi trường ở các quốc gia Schubeler (1996) đã khẳng định: "phát sinh CTRĐT và cầu đối với dịch vụ thu gom CTRĐT đang thực sự là một vấn đề cấp bách đi kèm với tiến trình phát triển"
Nhiều học giả cho rằng hệ thống QLCTRĐT ở các nước đang phát triển phải
đối mặt với một số khó khăn và thách thức Thứ nhất, hệ thống QLCTRĐT ở các nước
này bị giới hạn về nguồn lực tài chính, năng lực con người và hệ thống luật pháp chồng chéo (Hoornweg, 2000) Vì vậy, khả năng cung cấp dịch vụ và kết quả hoạt
động QLCTRĐT rất hạn chế Theo Pacione (2005), có khoảng 1/3 đến 1/2 lượng rác thải không được thu gom ở các nước thế giới thế 3 Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các khu vực ven đô và vùng nông thôn Phần rác thải không được thu gom có thể phá huỷ cảnh quan, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người
chủ thể khác, như: doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs -
vai trò và sự tham gia của các chủ thể được thừa nhận, khẳng định thì hoạt động QLCTRĐT được cải thiện hơn nhiều (Furedy, 1989) Có thể thấy, kết quả thực thi chưa
ấn tượng và những thách thức mà hệ thống QLCTRĐT phải đối mặt đang đặt ra những yêu cầu thay đổi cho hệ thống này Câu hỏi đặt ra là: cách thức QLCTRĐT truyền thống
mà các quốc gia đang áp dụng trong nhiều thập kỷ qua đã đúng hướng chưa và liệu có cần một sự thay đổi nào không?
Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ - Community-based Management) là
cách tiếp cận được một số nhà khoa học gợi mở từ các nghiên cứu học thuật cũng như
thực tế từ cuối thập kỷ 80 (Whande, 2007) Đây là cách tiếp cận từ dưới lên
Trang 13(Bottom-up) và nhấn mạnh đến vai trò của người sử dụng, khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tham gia hoạt động quản lý một cách chủ động và nhận trách nhiệm từ lập
kế hoạch, thực hiện, đến giám sát các nội dung của hệ thống quản lý Dưới góc độ chính sách, cách tiếp cận này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ khi cung
ứng hàng hóa, dịch vụ công trước cuộc khủng hoảng tài khóa và các chương trình thay
đổi cơ cấu Trao quyền quản lý cho địa phương trở thành một hướng đi đúng đắn trong bối cảnh này (Rasmussen, 1995)
Ở Việt Nam, QLCRĐT - đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị (QLCTRSHĐT) đã thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội Năm
2015, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên cả nước là 23 triệu tấn/năm Tại các vùng đô thị, nơi chiếm khoảng 30% dân số cả nước, mỗi năm phát sinh gần 14 triệu tấn CTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2017) Trước áp lực phải quản lý khối lượng CTRSHĐT khá lớn, các thành phố đều xác định đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, hệ thống QLCTRSHĐT đang gặp nhiều khó khăn do sự hữu hạn về thiết bị, về nguồn vốn, khung pháp lý còn thiếu và đặc biệt sự tham gia của cộng đồng còn mờ nhạt, chưa đúng với tiềm năng thực tế của chủ thể này (Bộ TN&MT, 2004) Nhận thức được bất cập đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương xã hội hóa (XHH) trong công tác Bảo vệ môi trường (BVMT) Ý tưởng của chủ trương này là huy động nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia vào sự nghiệp BVMT của đất nước Đây có thể coi là một hoạch định chính sách
đúng đắn của Chính phủ trong bối cảnh khu vực công đang gặp nhiều khó khăn trong QLCTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2011)
Cũng như nhiều đô thị khác trên thế giới, thủ đô Hà Nội đã và đang phải đối mặt với vấn đề QLCTRSHĐT do kết quả của quá trình gia tăng dân số, đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Tiếp nối và cụ thể hóa chủ trương XHH của Chính phủ, Hà Nội được đánh giá là một (1) trong hai (2) địa phương đi đầu trong hoạt động này (Bộ TN&MT, 2004) Ngay từ cuối thập kỷ 90, thành phố đã triển khai chương trình XHH trong QLCTR nói chung và QLCTRSHĐT nói riêng Hàng loạt công ty tư nhân được thành lập và tham gia vào phân đoạn cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển
CTRSHĐT Hàng chục mô hình dựa vào sáng kiến của cộng đồng (Community-based
Initiatives) đã được ra đời, tự hoạt động, tự quản lý ở nhiều khu vực Có thể kể đến mô hình thu gom, vận chuyển rác ở phường Nhân Chính, xã Sài Sơn, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng Các chương trình XHH đã chia sẻ trách nhiệm QLCTRSHĐT với Chính phủ và đem lại những kết quả tích cực ban đầu Tuy vậy, trải qua một thời gian vận hành, các mô hình QLDVCĐ đã bộc lộ những bất cập và hạn chế Vai trò,
Trang 14mức độ tham gia của cộng đồng còn yếu và chưa rõ nét; nhiều mô hình gặp khó khăn
về tài chính khi nguồn thu từ cộng đồng không đủ để chi trả cho cung ứng dịch vụ QLCTRSHĐT; mô hình chưa có vị thế rõ ràng, chưa có văn bản pháp lý đầy đủ và hoàn thiện để thúc đẩy phát triển Trong bối cảnh đó, việc phân tích và đánh giá mô hình QLDVCĐ là điều cần thiết để đề xuất các giải pháp vận hành, hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
2.1 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn
Đã từ lâu, QLCTR nói chung và QLCTRĐT nói riêng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Các nghiên cứu về QLCTR được thực hiện ở nhiều quốc gia, thành phố với nhiều nội dung hết sức đa dạng, phong phú Trên bình diện lớn, có thể nhận thấy bốn (4) mảng nội dung chính được các học giả tập trung nghiên cứu Cụ thể như sau:
• Một là , nhóm các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích hiện trạng phát
sinh, thu gom, xử lý chất thải ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển
Nghiên cứu của UN-Habitat (2010a) cho thấy khó khăn lớn nhất mà các thành phố/q uốc gia đang phát triển phải đối mặt trong QLCTRĐT là: tỷ lệ thu gom thấp, phương thức xử lý CTRSHĐT chưa đúng kỹ thuật và an toàn Theo nhiều nghiên cứu,
tỷ lệ thu gom CTRĐT ở các thành phố lớn chỉ đạt 30-50%, tỷ lệ này còn thấp hơn ở các thành phố nhỏ và khu vực ven đô (Hardoy và cộng sự, 2001; UN-Habitat, 2010a) Các tác giả cũng đã bình luận việc thiếu quy định về QLCTRĐT và điều kiện môi trường ô nhiễm ở các thành phố này Miêu tả một bức tranh tương tự, nghiên cứu của Worldbank (2012) ước tính rằng: trong một số trường hợp, 60% CTR phát sinh tại đô thị các nước
có thu nhập thấp không được thu gom Vấn đề này nổi bật và tập trung rõ nét ở các quốc gia thuộc khu vực châu Phi và châu Á
Ở khu vực châu Phi, trong nghiên cứu "Định hướng tương lai về QLCTR ở châu
Phi", Mohee, R và cộng sự (2015) đã thừa nhận tình trạng QLCTRĐT hết sức yếu kém
ở châu lục này Tỷ lệ thu gom ở các thành phố lớn đạt xấp xỉ 50%; ở khu vực ven đô, tỷ
lệ này còn đáng lo ngại hơn nhiều với con số là 10% Tình hình xử lý CTRĐT ở Lusaka, Zambia cũng được cho là xấu với 90% rác thải hàng ngày bị bỏ lại, tiềm ẩn các tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng (Hardoy và cộng sự, 2001) Tại Kinshasa (Congo), phần lớn rác thải phát sinh ở trên đường, trên các bãi rác bất hợp pháp, trong các kênh thoát nước mưa hoặc được chôn lấp ở các khu đất trống (Hardoy và cộng sự, 2001)
Trang 15Năm 2007, một nghiên cứu về hiện trạng QLCTRĐT ở 11 nước của Trung tâm Năng suất Châu Á (APO, 2007) nhấn mạnh: QLCTRĐT là một thách thức lớn ở các thành
phố Nghiên cứu chỉ rõ: "mặc dù bỏ ra chi phí rất lớn cho QLCTR, các đô thị ở 11 nước vẫn
đang phải vật lộn với những thách thức ngăn chặn suy thoái môi trường do hoạt động không hiệu quả của hệ thống này QLCTRĐT trở thành một vấn đề quan trọng và cần phải được giải quyết thông qua cách tiếp cận tổng hợp, dựa vào cộng đồng và khu vực tư nhân"
Tại Sri Lanka, trung tâm hỗ trợ QLCTR quốc gia (NSMSC) (2008) đã nhận
định QLCTR là một vấn đề lớn ở các thành phố của Sri Lanka Theo đó, tỷ lệ thu gom trung bình ở quốc gia này chỉ đạt 23% Tác giả đã mô tả thủ đô Colombo "đối mặt với một tình huống khủng hoảng" khi phải xử lý khoảng 1.500 tấn CTR mỗi ngày
Trong nghiên cứu "Quản lý chất thải rắn tại Trung Quốc: Tình trạng, các vấn
đề và thách thức", Dong QingZhang và các cộng sự (2010) đã nhận xét: Trung Quốc
đang chứng kiến sự tích tụ nhanh chóng của rác thải đô thị như là kết quả của quá trình CNH, đô thị hóa và gia tăng dân số 668 thành phố của nước này tạo ra khoảng 212 triệu tấn rác thải mỗi năm, chiếm khoảng một phần ba tổng lượng CTR trên thế giới, trong đó có khoảng 148 triệu tấn được thu gom và chôn lấp; lượng rác thải còn lại tồn
đọng trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và mỹ quan thành phố
Ở Việt Nam, hiện trạng QLCTRĐT được phác họa khá rõ nét qua 02 báo cáo quốc gia chuyên biệt về CTR do Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) ấn bản
năm 2004 và 2011 Theo "Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam - Chất thải rắn", Bộ
TN&MT (2004) dự báo khối lượng CTR sẽ tăng lên nhanh chóng trong bối cảnh phát triển kinh tế và gia tăng dân số Trước áp lực đó, khoảng 83 - 85% lượng chất thải phát sinh được thu gom, còn lại 15 - 17% CTR được thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố
đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường Trong Báo cáo "Quản lý tổng hợp
CTR ở Việt nam - đề xuất các giải pháp" - dự án CTR Việt Nam do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ, Hideki Wada (2016) lại đưa ra một bức tranh hơi khác khi cho rằng tỷ lệ thu gom CTRSHĐT ở các tỉnh, thành phố thực tế chỉ đạt 78% Dù đưa
ra số liệu khác nhau, nhưng các báo cáo đều thừa nhận "QLCTRĐT sẽ là một thách thức
to lớn và là một trong những dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng vì những tác động tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng" (Bộ TN&MT, 2011)
• Hai là, các nghiên cứu về QLCTR đã tập trung chỉ rõ các nguyên nhân/thách
thức mà hệ thống QLCTRĐT ở các quốc gia đang phát triển phải đối mặt
Linden, O và cộng sự (1997) đã xác định 8 mối lo ngại chung mà các quốc gia châu Á đang phải đối mặt trong QLCTRĐT, bao gồm:
Trang 161 Công nghệ xử lý không phù hợp/ không hiệu quả;
2 Thực thi / không tồn tại;
3 Thiếu nguồn lực tài chính;
4 Thiếu nguồn lực con người;
5 Thiếu sự ủng hộ của hệ thống chính trị;
6 Thiếu khung pháp lý về QLCTRĐT;
7 Xung đột chính sách giữa các cấp chính quyền/ trách nhiệm chồng chéo;
8 Nhận thức của cộng đồng chưa cao
Theo báo cáo, những yếu tố này làm giảm các nỗ lực QLCTR của chính quyền thành phố ở châu Á, gây khó khăn trong việc giữ gìn môi trường và an toàn cho người
dân Trong các trở ngại nêu trên, sự ràng buộc về nguồn lực tài chính được nhắc đến
khá nhiều trong các nghiên cứu
Nhiều tác giả đã cho rằng, sự thiếu hụt về tài chính là một hạn chế lớn đối với QLCTR ở các nước đang phát triển (Cointreau, 1995) Lohse (2003) đã mô tả vấn đề tài chính đô thị ở các nước đang phát triển là "có khoảng cách lớn giữa nguồn lực tài chính
và nhu cầu chi tiêu đô thị" do "hầu hết các đô thị thiếu tự chủ khi thiết lập thuế và cơ cấu chi tiêu Lohse (2003) cũng thấy rằng vấn đề tài chính ở các nước đang phát triển là do
hệ thống thuế địa phương còn yếu kém; vì vậy, tỷ lệ thu hồi chi phí trong QLCTR là khá thấp và phụ thuộc nặng nề vào trợ cấp của nhà nước
Một nghiên cứu tương tự với tên gọi "Quản lý CTRĐT ở Việt Nam: hiện trạng và
chiến lược hành động" được thực hiện bởi Thanh và các cộng sự (2011) cho thấy những
khó khăn về tài chính trong hoạt động QLCTRĐT Cụ thể là mức đóng góp từ phía cộng
đồng chỉ đủ bù đắp chi phí thu gom, chi phí vận chuyển và xử lý chủ yếu do chính quyền
địa phương trợ cấp Trên thực tế, nguồn vốn phát triển chính thức (ODA - Official
Development Assistance) đang hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam kinh phí này, về lâu dài thì
đây là một thách thức trong hệ thống QLCTRĐT
- Các thách thức liên quan đến thể chế cũng được nhiều học giả nghiên cứu
UN-Habitat (2010a) cho rằng: thể chế yếu kém là đặc trưng của các nước đang phát triển, điều đó ảnh hưởng xấu đến cung cấp dịch vụ môi trường Chức năng của các
cơ quan trong QLCTRĐT không được xác định rõ ràng và không có một cơ quan duy nhất được chỉ định để điều phối hoạt động của hệ thống Sự không rõ ràng về thể chế có thể dẫn đến trùng lắp về nhiệm vụ, những khoảng trống trong cung cấp dịch vụ và lãng phí nguồn lực vốn đã khan hiếm, hoặc thậm chí sụp đổ của chương trình QLCTRĐT
Trang 17Zurbrugg (2002) cũng đã ghi nhận sự yếu kém về năng lực quản lý ở các quốc gia đang phát triển Do đó, giải quyết vấn đề chất thải ở các thành phố đòi hỏi phải cải tiến về thể chế Tương tự Bộ TN&MT (2011) cũng thừa nhận hệ thống thể chế QLCTR ở Việt Nam
là "chưa đầy đủ, đồng bộ và thực thi triệt để"
- Một trở ngại khác gắn liền với hệ thống QLCTRĐT là sự tham gia hạn chế của
cộng đồng Theo Hashmi (2007), cộng đồng cần thiết để thúc đẩy "một trật tự tự do, dân
chủ mạnh mẽ trong thế giới thứ ba", nơi mà chính phủ không hoặc ít đáp ứng với các vấn đề xã hội Hashmi thấy phát triển cộng đồng là một giải pháp chia sẻ với những khó khăn của chính phủ Theo UNDP (2005), cộng đồng có vai trò quan trọng khi thiết lập các chính sách BVMT và không một chính phủ nào có thể đạt được phát triển bền vững
mà không có sự tham gia tích cực của cộng đồng Theo Bộ TN&MT (2011), "sự tham gia của cộng đồng làm tăng mức độ đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với các quyết định của chính quyền, tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương và tăng cường tính dân chủ trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chất thải"
• Ba là, tiếp nối các nghiên cứu về hiện trạng và thách thức mà hệ thống
QLCTRĐT phải đối mặt, khá nhiều nghiên cứu đi tìm kiếm đáp án cho bài toán
QLCTRĐT Một trong số các hướng đi như vậy là xây dựng chỉ tiêu để đánh giá
tính bền vững của mô hình QLCTRĐT Theo Wilson (2013) "việc xây dựng các chỉ tiêu chuẩn cho phép các địa phương đánh giá hiệu quả hoạt động QLCTR Ngoài
ra, các chỉ số phù hợp sẽ rất hữu ích trong bối cảnh nỗ lực hợp tác nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tăng cường thu hồi nguồn tài nguyên và quản trị đô thị tốt hơn."
Mặc dù không có nhiều, nhưng các nghiên cứu về xây dựng chỉ tiêu cho hệ
thống QLCTR đã có từ khá sớm Trong nghiên cứu "Các vấn đề về sử dụng chỉ tiêu
chất thải rắn", MacDonald (1996) đã xác định ba chỉ tiêu căn bản, bao gồm: chất thải phát sinh trên đầu người; tỷ lệ chất thải được quản lý theo các phương pháp khác nhau;
và tỷ lệ hộ gia đình được cung dịch vụ thu gom Các chỉ tiêu này đã được sử dụng như
là một phần của chỉ số phát triển bền vững tổng hợp ở các thành phố (Tanguay và cộng
sự, 2010)
Tiếp tục dành sự quan tâm cho việc xây dựng chỉ tiêu, trong nghiên cứu "Quản lý
chất thải rắn tại Ai-len: đánh giá tính bền vững", Desmond (2006) đã lựa chọn 12 chỉ tiêu cho 4 chủ đề, bao gồm: 5 chỉ tiêu môi trường, 2 chỉ tiêu kinh tế, 2 chỉ tiêu xã hội và
3 chỉ tiêu quản trị Tuy nhiên, do điều kiện không khả thi về số liệu, một bộ gồm năm (5) chỉ tiêu về môi trường và quản trị được tác giả lựa chọn để đánh giá tính bền vững của hoạt động QLCTR theo các mục tiêu đề ra
Trang 18Năm 2011, Armijo và các cộng sự đã xây dựng bộ công cụ đánh giá bằng chỉ tiêu
để đo lường hiệu quả hoạt động QLCTR trong nghiên cứu "Bộ chỉ tiêu cho các chương
trình quản lý chất thải". Các chỉ tiêu phù hợp nhất đã được đề xuất qua tổng quan tài liệu và tham vấn ý kiến của các chuyên gia Kết quả có 18 chỉ tiêu được lựa chọn để giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hoá hiệu quả chương trình QLCTR
Trong nghiên cứu "Đánh giá sự bền vững của hệ thống QLCTR ở Nigieria: xây
dựng và phát triển công cụ đánh giá dựa trên chỉ số", Rabia Lawal Batagarawa (2011)
đã đề xuất 13 chỉ tiêu trên 4 lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị Lý thuyết
về QLCTR tổng hợp và bền vững được tác giả lựa chọn để xây dựng chỉ tiêu Các chỉ tiêu được tính toán và quy chuẩn về một chỉ số để đánh giá mức độ bền vững của hệ thống QLCTR ở Nigieria
Một trong số những nỗ lực đáng được ghi nhận ở nội dung này là nghiên cứu
"Quản lý CTR ở các thành phố trên thế giới" của UN-Habitat (2010b) Scheinberg và các cộng sự (2010) đã thu thập dữ liệu cho 20 thành phố đại diện cho các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình và xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hệ thống QLCTR Bộ chỉ tiêu này được hình thành từ lý thuyết QLCTR tổng hợp và bền vững nhưng được đơn giản hóa bằng cách gộp lại thành 3 nhóm, bao gồm: (1) nhóm chỉ tiêu về các bên liên quan; (2) nhóm chỉ tiêu bền vững về tài chính; và (3) nhóm chỉ tiêu về thể chế, chính sách Tiếp nối công việc này, Wilson và các cộng sự (2015) tiếp tục cập nhật, chỉnh sửa các chỉ tiêu định tính, định lượng và tiến hành kiểm định trên 50 thành phố trong
nghiên cứu "Bộ chỉ số nền tảng cho QLCTR tổng hợp ở các thành phố"
• Bốn là, các nghiên cứu về QLCTR không chỉ được tập trung xem xét ở cấp
độ quốc gia hoặc thành phố mà còn được thực hiện thông qua xem xét hành vi của hộ
gia đình, một trong những nội dung chủ chốt là đánh giá sự sẵn lòng chi trả (WTP -
Willingness To Pay) của hộ đình
Các nghiên cứu về WTP của hộ gia đình xuất hiện từ khá sớm, chủ yếu bắt nguồn
từ nhu cầu cải thiện chất lượng môi trường Trong nghiên cứu "Nhu cầu hộ gia đình về cải
thiện hệ thống QLCTR: trường hợp của Gujranwala, Pakistan", Altaf và cộng sự (1996)
đã đánh giá WTP của hộ gia đình về ưu tiên cải thiện hệ thống QLCTR so với hệ thống cấp nước và vệ sinh Các tác giả đã sử dụng một mẫu ngẫu nhiên phân tầng khoảng 1.000
hộ gia đình để tìm hiểu thông tin về phía người sử dụng dịch vụ CTR Phân tích của tác giả cũng thách thức những giả định thông thường rằng hộ gia đình ít ưu tiên QLCTR so với các dịch vụ đô thị khác và không muốn trả tiền Họ cho rằng, mặc dù QLCTR ở thành phố các nước đang phát triển là không đạt yêu cầu và sử dụng nhiều ngân sách địa
Trang 19phương, nhưng các nỗ lực để cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống này cần phải được xem xét dưới góc độ của nhà cung ứng và người sử dụng dịch vụ
Pek Chuen-Khee and Othman (2010) đã ước lượng sự ưa thích của hộ gia đình khi cải thiện dịch xử lý CTR ở Malaysia bằng cách sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên Nhóm tác giả đã ước lượng và so sánh mức WTP cho 2 phương thức xử lý CTR Kết quả nghiên cứu cho thấy mức WTP của hộ gia đình đối với bãi chôn lấp vệ sinh là 1,53 euro, cao hơn 0,9 euro cho phương án đốt rác Điều này hàm ý rằng phương thức chôn lấp hợp vệ sinh là một giải pháp thay thế mang tính khả thi Ước lượng hồi quy cũng cho thấy tuổi, quyền sở hữu nhà ở, thu nhập hộ gia đình là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đáng kể đến WTP
Wang và cộng sự (2011) cũng tiến hành phân tích hành vi của hộ gia đình nhằm cải thiện dịch vụ xử lý CTR ở huyện Eryuan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy mức WTP bình quân chiếm 1% so với tổng thu nhập của hộ gia
đình Phân tích cũng chỉ ra rằng hầu hết các hộ gia đình nghèo nhất ở Eryuan không chỉ sẵn sàng chi trả nhiều hơn các hộ gia đình giàu về tỷ lệ thu nhập, mà còn sẵn sàng trả tương đương các hộ giàu về mặt giá trị tuyệt đối Các tác giả cho rằng những hộ gia đình nghèo nhất có nhu cầu cao về dịch vụ QLCTR công cộng, trong khi người giàu lại có khả năng thay thế bằng các dịch vụ tư nhân khi các dịch vụ công không có sẵn
Trong nghiên cứu "Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ
thu gom, xử lý CTRSH ở địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội", tác giả Nguyễn Văn Song và các cộng sự (2011) đã sử dụng phương pháp tạo dựng thị trường để xác định WTP cho hoạt động thu gom và xử lý rác thải ở huyện Gia Lâm Thông qua quan sát, thu thập số liệu thứ cấp và điều tra 116 hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, các tác giả xác định được mức chi trả bình quân của hộ nông dân là 6000 đồng/ người/ tháng Mức WTP chịu ảnh hưởng của các nhân tố thu nhập, giáo dục, nghề nghiệp, tuổi, giới tính
và quy mô của hộ gia đình Ước tính, mức sẵn lòng chi trả một năm trên địa bàn nghiên cứu khoảng 4 tỷ đồng/ năm Số tiền này nếu được sử dụng đúng mục đích sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom, xử lý CTRSH và môi trường sống của người dân
Nghiên cứu tương tự được Dagnew Hagos và các cộng sự (2012) đề cập trong
công trình "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống quản lý CTR
đô thị ở thành phố Mekelle, Ethiopia" Mẫu nghiên cứu với 226 hộ gia đình được lựa chọn để đánh giá WTP của cư dân nhằm cải thiện QLCTRĐT và đề xuất cơ chế phục hồi chi phí Nhóm tác giả sử dụng mô hình Tobit và Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình Kết quả cho thấy WTP của người dân có liên quan
đáng kể đến thu nhập và nhận thức về chất lượng môi trường Nghiên cứu chỉ rõ phí vệ
Trang 20sinh hiện tại của thành phố thấp hơn nhiều so với mức WTP của cư dân Mức WTP này là gợi ý cho các nhà chính sách xác định mức phí phù hợp hơn nhằm hỗ trợ cải tiến hệ thống QLCTR thành phố
Trong nghiên cứu "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện dịch vụ thu
gom CTR ở thành phố Kampala, Uganda", Margaret Banga và các cộng sự (2013) đã xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến WTP Dựa trên điều tra 381 hộ gia đình ở Kampala, nhóm tác giả đã ước tính mức sẵn lòng chi trả của hộ là USH 2.439 mỗi tháng Mức chi trả này chịu ảnh hưởng bởi thu nhập, giáo dục, tuổi tác và quyền sở hữu nhà ở Đây là cơ
sở để các nhà chính sách thiết lập mức phí cho phù hợp với bối cảnh của thành phố
Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề "Mức sẵn lòng chi trả nhằm cải thiện dịch
vụ xử lý CTR ở Tema Metropolis, Ghana", tác giả Nkansah E., (2015) tính toán WTP cho việc cải thiện hệ thống xử lý CTR tại bằng cách sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên Mẫu điều tra gồm 156 quan sát được thực hiện Mô hình Tobit được sử dụng để xác định các yếu tố tác động đến WTP cho việc cải thiện dịch vụ xử lý CTR Kết quả cho thấy tuổi, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, thu nhập, quy mô hộ gia đình và khoảng cách tới bãi thải là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình Tác giả cũng khuyến nghị Chính phủ nên phối hợp với các cơ quan thu gom rác để đầu tư thêm nguồn lực cho các nhà máy tái chế nhằm nâng cao hiệu quả xử lý CTR
Với nghiên cứu "Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của công chúng cho QLCTR ở
Yangon, Myanmar" (2016), tác giả Mya đã tiến hành điều tra ở 2 khu vực Botahtaung và Pazundaung nhằm tìm hiểu nhận thứccủa cộng đồng về tầm quan trọng của chương trình QLCTR Bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên, phần lớn người trả lời WTP ở mức 800MMK (tương đương với 0,8USD) Từ đó tác giả cũng xác định được quy mô nguồn tài chính tiềm năng để cải thiện hệ thống QLCTR
2.2 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng đồng
Đã từ lâu, các lý thuyết kinh tế về thất bại thị trường (market failure) và hiện
trạng đã thừa nhận vai trò của Chính phủ trong quản lý tài nguyên môi trường Đây là
cách thức quản lý từ trên xuống (top-down) mà rất nhiều quốc gia trên thế giới áp
dụng Tuy vậy, cách quản lý này đã bộc lộ những yếu kém khi thực thi, những hạn chế
về năng lực và tài chính trong quá trình quản lý Trong bối cảnh đó, trao quyền trách nhiệm quản lý cho cộng đồng địa phương được xem là hướng đi đúng đắn Hướng đi này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ, đồng thời cũng huy động nguồn lực tài chính và nhân lực trong cộng đồng để đảm bảo cho hoạt động quản lý được bền vững Dựa trên những ý tưởng này, mô hình QLDVCĐ được hình thành
Trang 21Trong 4 thập kỷ qua, QLDVCĐ bao phủ phạm vi rộng lớn, trên nhiều lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường Trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường, QLDVCĐ được bắt đầu sớm nhất và phát triển mạnh mẽ trong khía cạnh quản lý tài nguyên Sự khởi đầu đó được bắt nguồn từ phân loại tài nguyên là hàng hóa dùng
chung (Common - pool resources) Năm 1968, Hardin, G gọi đó là "Bi kịch tài sản
chung " (The Tragedy of the Commons) Kinh tế học đưa ra hai phương án giải quyết
vấn đề này, bao gồm: (i) tư nhân hóa và (ii) đánh thuế tài nguyên Điểm chung của hai giải pháp là áp dụng các quy định từ bên ngoài cộng đồng, thường do chính quyền trung ương tiến hành, hoặc dưới hình thức thuế hay hạn ngạch, hoặc bằng cách tư nhân hóa Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cả hai phương án này đều thất bại Một phương án thứ ba là phi tập trung hóa, cộng đồng địa phương sẽ thực hiện quản lý tài nguyên dùng chung Nghiên cứu của một số học giả đều cho rằng
phương án thứ ba không nhất thiết dẫn đến "bi kịch tài sản chung"
Trong tác phẩm "Governing the commons: The evolution of institutions for
collective action" (Quản lý tài nguyên chung: Diễn biến các định chế dành cho hành
động tập thể), Elinor Ostrom (1990) đã khẳng định: "Chính những người sử dụng tài nguyên sẽ định ra cơ chế sử dụng sao cho tài nguyên ấy đem lại lợi ích khả dĩ chấp nhận được cho mọi người; ngược lại, các quy định quản lý của nhà nước thường trở nên phản tác dụng bởi lẽ nhà nước thường xa rời với thực tế địa phương và cũng chẳng còn mấy uy lực ở cơ sở" Bằng các kết quả nghiên cứu tại hiện trường ở Trung Quốc, Mông Cổ và nhiều nước đang phát triển khác, Ostrom khẳng định không phải lúc nào
cơ chế quản lý tài nguyên chung cũng là một "bi kịch" Trong nhiều trường hợp, các thể chế quản lý tài nguyên chung của cộng đồng tỏ ra hiệu quả và bền vững
Tiếp nối hệ tư tưởng của Ostrom, nhiều học giả đã phát triển các nghiên cứu về
quản lý môi trường dựa vào cộng đồng Nội dung đầu tiên mà các nghiên cứu về
QLCTR dựa vào cộng đồng thường xem xét là sự tham gia của cộng đồng trong hệ
thống QLCTR
Có thể thấy, sự tham gia của cộng đồng đặt nền tảng cho việc triển khai mô hình
QLCTR dựa vào cộng đồng Nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực này là "Sự tham gia của
cộng đồng trong QLCTR đô thị ở Manila và Cebu, the Philippines" do Danilo G Lapid và
các cộng sự (1996) thực hiện Trong nghiên cứu, cách tiếp cận quản lý cộng đồng (CMA -
Community Management Approach) được nhóm tác giả sử dụng để phân tích hoạt động thu gom, xử lý CTR tại 2 thành phố Từ đó, những điều kiện tiên quyết để áp dụng, duy trì bền vững sự tham gia của cộng đồng được nhóm tác giả phân tích và đề xuất nhân rộng cho các đô thị khác
Trang 22Mockler (1998) đã nghiên cứu hệ thống QLCTR dựa vào cộng đồng ở Inđônêxia Theo tác giả, các sáng kiến trong QLCTR từ cộng đồng, bao gồm: phân loại chất thải, làm phân compost ở quy mô hộ gia đình Điểm quan trọng của nghiên cứu là: các sáng kiến của cộng đồng không chỉ khắc phục những khó khăn về mặt tài chính, quản lý, công nghệ mà còn cho thấy sự kết nối thành công hành vi của hộ gia đình với hệ thống thu gom rác của chính phủ Tuy nhiên, Mockler đã lưu ý rằng chỉ có 4 trong số 15 mô hình/ dự án dựa vào cộng đồng ở Jakarta là tồn tại Lý do của sự thất bại là nguồn thu từ bán phân compost không đủ động lực tài chính để các hộ gia đình tham gia vào hoạt động này
Nghiên cứu "Các vấn đề và kết quả về sự tham gia của cộng đồng trong môi
trường đô thị: Phân tích so sánh 9 dự án chất thải" của Sylvaine Bulle (1999) đã xác định mức độ tham gia của cộng đồng và nhận diện những khó khăn về tài chính,
xã hội của mô hình quản lý Căn cứ vào đó, cách thức và bài học nhằm khuyến khích/ tăng cường sự tham gia của cộng đồng được tác giả đề xuất khá chi tiết
Trong nghiên cứu "Sự tham gia của cộng đồng trong QLCTR: Tổng quan các
yếu tố thúc đẩy sự tham gia bền vững của cộng đồng", Laura Moningka (2000) đã phân
tích 8 nhân tố thúc đẩy sự tham gia bền vững của cộng đồng bằng cách tổng quan các nghiên cứu trước đó Có nhiều nhân tố khác nhau nhưng 2 nhân tố then chốt làm gia tăng sự tham gia của cộng đồng là: (i) sự hỗ trợ, hợp tác và tạo nền tảng pháp lý từ chính quyền địa phương; (ii) sự độc lập, bền vững về mặt tài chính trong mô hình quản lý
Nhiều nghiên cứu xem xét vai trò của cộng đồng trong một bối cảnh cụ thể, trong
đó có 2 nghiên cứu khá nổi bật ở Hà Nội và Duncan Ở Hà Nội, David W Richardson (2003) đã áp dụng các nguyên tắc xây dựng mô hình QLDVCĐ về mặt thể chế của Ostrom
để phân tích mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng tại 3 địa điểm nghiên cứu Theo tác giả, QLCTRSHĐT là một vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào sự hợp tác của hộ gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp tư nhân và chính phủ Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thành công của mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng nằm ở sự tham gia tích cực và chủ động của cộng đồng với vai trò là người chủ đạo và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương
Năm 2009, trong nghiên cứu "Sự tham gia của cộng đồng trong QLCTR ở các
khu vực có thu nhập thấp: nghiên cứu ở làng Duncan, Nam Phi", Sonwabo Perez Mazinyo đã điều tra mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động QLCTR bằng phương pháp định tính Bản chất mối quan hệ mờ nhạt, mâu thuẫn giữa cộng đồng với các bên liên quan được xác định và phân tích Các xung đột xuất hiện do thiếu thông tin truyền thông và mâu thuẫn lợi ích Nghiên cứu cho thấy đẩy mạnh truyền thông và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan là các yếu tố căn bản để hoạt động QLCTR đạt hiệu quả
Trang 23Nur Khaliesah Abdul Malika và cộng sự (2015) đã thực hiện nghiên cứu "Sự
tham gia của cộng đồng trong hoạt động phân loại CTR thông qua chương trình tái chế chất thải ở Putrajaya, Malaysia" Kết quả phân tích dựa trên điều tra 382 người cho thấy có tương quan yếu giữa sự tham gia của cộng đồng trong chương trình tái chế
và thái độ của cộng đồng đối với việc phân loại chất thải rắn, r = 0,343; và kiến thức cộng đồng về phân loại chất thải rắn, r = 0.251 Căn cứ vào phân tích đó, một số đề xuất được đưa ra nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động tái chế
Trong nghiên cứu "Đánh giá hệ thống QLCTR và vai trò tham gia của cộng
đồng tại thị trấn Jigjiga, bang Somalia, Ethiopia", Yohanis Birhanu và cộng sự (2015)
đã phát hiện sự thiếu hiệu quả của hệ thống QLCTR bắt nguồn từ: hệ thống thu gom thiết kế chưa phù hợp, thiết bị vận hành không đầy đủ Những khó khăn về mặt xã hội, bao gồm: thiếu nhận thức của công chúng và mức sẵn lòng chi trả từ phía cộng đồng còn thấp; thiếu thốn trang thiết bị, đội ngũ nhân lực yếu kém, chất lượng dịch vụ không đáng tin cậy là những thách thức mà thành phố phải đối mặt Cuối cùng, nghiên cứu đã đưa
ra một số khuyến nghị, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng nhằm cải thiện hoạt động QLCTR
• Nội dung thứ hai mà các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng thường
đề cập đến là tổng kết các vấn đề, bài học kinh nghiệm được rút ra từ các dự án
QLCTR dựa vào cộng đồng
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là "Tổng quan các dự án
CTR và nước sạch dựa vào cộng đồng: các vấn đề và so sánh" của Anschütz, J (1996) Điểm thành công nhất của nghiên cứu là phân tích và tổng kết 5 nhóm khó khăn/ thách thức khi triển khai mô hình này ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ Các thách thức đó bao gồm: thiếu sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động thu gom, phân loại, tái chế và đóng góp tài chính; khó khăn trong việc duy trì sự minh bạch
đối với hoạt động quản lý; khó khăn về xã hội khi điều kiện làm việc, thu nhập của người thu gom thấp và chứa đựng nhiều rủi ro; khó khăn về tài chính khi tỷ lệ thu hồi chi phí thấp và đóng góp phí chưa đầy đủ; khó khăn về quản lý khi thiếu sự hỗ trợ và hợp tác từ chính quyền địa phương Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm tháo
gỡ những khó khăn này
Trong nghiên cứu "Bài học rút ra từ các sáng kiến dựa vào cộng đồng trong
QLCTR", Ali, Mansoor và cộng sự (1999) đã tổng kết bài học kinh nghiệm dựa trên việc tìm hiểu các sáng kiến dựa vào cộng đồng cho dịch vụ thu gom CTR ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á và châu Phi Từ nghiên cứu, 9 bài học đã được
Trang 24đúc rút nhưng nổi bật hơn cả là các bài học: khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, quan tâm đến người nghèo và đặc biệt là phụ nữ; duy trì hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương Đây là những bài học cần quan trọng để duy trì các sáng kiến QLCTR dựa vào cộng đồng
Tương tự, nghiên cứu "QLCTR dựa vào cộng đồng: kinh nghiệm của các quốc gia
châu Á" của Maqsood Sinha, A.H Md và các cộng sự (2000) đã tổng kết mô hình này ở 7 quốc gia trong khu vực Các khó khăn trong mô hình được rút ra, bao gồm: chính sách QLCTR chưa đầy đủ, thiếu nguồn lực cho CBOs, nhận thức và WTP của cộng đồng chưa cao, thiếu năng lực hợp tác giữa chính quyền và tổ chức của cộng đồng
Trong ấn bản "Đánh giá so sánh QLCTR dựa vào cộng đồng Medan, Bandung,
Subang and Surabaya" của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) (2006), nhóm tác giả đã tiến hành so sánh mô hình này ở các địa phương Kết quả đánh giá chỉ ra rằng:
để mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng được triển khai tốt cần phải xây dựng thể chế minh bạch và rõ ràng giữa các bên tham gia Cụ thể, cần có những quy định rõ ràng về quyền lợi, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan
Trong nghiên cứu "Bài học thực tế và những đổi mới trong quản lý chất thải
rắn dựa vào cộng đồng tại Cebu" của tác giả Premakumara, D.G.J (2012), mô hình phối hợp giữa các chủ thể tham gia được đề xuất Bên cạnh đó, các bài học từ việc triển khai mô hình thu gom và tái chế phân compost ở Cebu, Philippin cũng được tổng kết Ngoài bài học về nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho cộng đồng, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường thể chế, như: thiết lập các chính sách hỗ trợ
từ Chính phủ, chia sẻ tầm nhìn và trách nhiệm giữa các bên liên quan
Nghiên cứu "Chiến lược QLCTR dựa vào cộng đồng: nghiên cứu ở đô thị
Kaduna, Nigieria" do Rigasal, Y.A và các cộng sự (2017) thực hiện đã đánh giá sự tham gia của cộng đồng trong QLCTR và đề xuất phương hướng phát triển mô hình quản lý này Kết quả điều tra qua bảng hỏi, phỏng vấn sâu và kiểm tra hiện trường 6
địa điểm cho thấy: hộ gia đình ở khu vực thu nhập thấp có xu hướng phân loại chất thải tại nguồn và tham gia vào các sáng kiến QLCTR dựa vào cộng đồng nhiều hơn; nhưng lại ít có khả năng chi trả dịch vụ Nghiên cứu cũng đề xuất việc tạo ra và lồng ghép các sáng kiến QLCTR dựa vào cộng đồng đặc biệt là ở các khu vực mật độ dân
số cao nhưng thu nhập thấp như ở đô thị Kaduna Các sáng kiến sẽ giúp tiết kiệm chi phí, tạo thu nhập, bảo vệ các giá trị địa phương, khuyến khích sự tham gia của công chúng và giảm thiểu đầu tư của chính phủ vào các dịch vụ QLCTR
Trang 252.3 Nhận xét chung về các nghiên cứu quản lý chất thải rắn đô thị dựa vào cộng đồng và khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Có thể nhận thấy, các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng ở trên thế giới
và một số ít ở Việt Nam tập trung vào các vấn đề cơ bản như sau:
• Về nội dung nghiên cứu chính
- Đa số các nghiên cứu tìm hiểu và phân tích cách thức tổ chức mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng ở các nước đang phát triển;
- Xác định và đánh giá sự tham gia, mức độ tham gia của cộng đồng trong mô hình quản lý;
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về những ảnh hưởng có thể của CTRSH
đến sức khỏe và môi trường;
- Nhận diện và phân tích một số khó khăn dưới góc độ xã hội và quản lý khi triển khai mô hình này
- Gợi mở và đề xuất một số giải pháp để vận hành mô hình tốt hơn
• Về cơ sở lý luận áp dụng
- Phần lớn các nghiên cứu áp dụng lý thuyết tham gia của cộng đồng một cách
đơn lẻ để nhận diện và đánh giá mức độ tham gia của hộ gia đình Một số ít nghiên
cứu áp dụng lý thuyết hành động tập thể (Collective Action) để tìm hiểu các nguyên tắc
về mặt thể chế khi vận hành mô hình
• Về phương pháp nghiên cứu được sử dụng
- Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính (bao gồm thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu cá nhân) và phương pháp phân tích thống kê, mô tả, so sánh sử dụng các nguồn số liệu sơ cấp, thứ cấp
• Về kết quả đạt được
Các kết quả nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở một số phát hiện chính như sau:
- QLCTR dựa vào cộng đồng là sự kết hợp giữa cộng đồng và các bên liên quan
ở các khu vực nhỏ, chưa phát triển
- QLCTR dựa vào cộng đồng gặp một số khó khăn khi sự tham gia và mức WTP của cộng đồng hạn chế; thiếu năng lực hợp tác và kết nối giữa cộng đồng với chính quyền địa phương
- Nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của QLCTR còn chưa đầy đủ
- Một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng và xây dựng
Trang 26thể chế minh bạch rõ ràng đã được đề xuất
• Hạn chế và khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Mặc dù có khá nhiều nghiên cứu về CTRSHĐT và QLDVCĐ, nhưng có thể nhận thấy không nhiều nghiên cứu tích hợp 2 mảng nội dung này Một số hạn chế và khoảng trống nghiên cứu có thể nhận diện như sau:
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Cơ cấu tổ chức và hiện trạng mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng, đặc biệt là các bên tham gia và cơ chế phối hợp chưa được phân tích một cách đầy đủ và toàn diện
+ Chưa có một bộ chỉ tiêu được xây dựng và đề xuất làm căn cứ đánh giá tính bền vững của mô hình QLDVCĐ
+ Mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng chưa được phân tích toàn diện trên 4 khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế/quản lý
+ Điểm mạnh, điểm yếu của mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng chưa được xác định và phân tích cụ thể
+ Đối với Hà Nội, số lượng các nghiên cứu về mô hình QLCTR dựa vào cộng
đồng còn khá khiêm tốn Đa số các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu và phân tích một vài góc độ riêng biệt của mô hình mà chưa thảo luận chi tiết, đánh giá toàn bộ mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng nhằm làm căn cứ để đề xuất giải pháp vận hành mô hình theo hướng bền vững
- Về cơ sở lý luận
+ Đa số các nghiên cứu chỉ dựa vào lý thuyết tham gia của cộng đồng mà chưa gắn kết với lý thuyết về QLCTRĐT tổng hợp và bền vững, lý thuyết hành động tập thể
để phân tích tính bền vững của mô hình dựa vào cộng đồng
- Về phương pháp nghiên cứu
+ Chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp đa tiêu chí, tính toán chỉ số bền vững để phân tích tính bền vững cho mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Với những khoảng trống nêu trên, luận án "Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng: nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội" được tác giả kỳ
vọng sẽ lấp được một phần khoảng trống qua nghiên cứu này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng và đề xuất các khuyến nghị chính sách để hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững
Trang 27Để đạt mục tiêu chung đó, Luận án hướng tới việc giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
(i) Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về QLCTR tổng hợp và bền vững; lý thuyết
sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết hành động tập thể Trên cơ sở đó, đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng;
(ii) Phân tích hiện trạng QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội; làm rõ
điểm mạnh, điểm yếu của các mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng;
(iii) Áp dụng các chỉ tiêu được đề xuất để phân tích tính bền vững của mô hình; Tính toán thử nghiệm chỉ số bền vững tổng hợp cho các trường hợp nghiên cứu điển hình ở Hà Nội;
(iv)Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng;
(v) Đề xuất định hướng và một số khuyến nghị chính sách nhằm vận hành và hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội theo hướng bền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hoạt động trong mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng Nếu xem xét dưới quy trình quản lý, đối tượng nghiên cứu của luận án là các phân đoạn trong quy trình đó, bao gồm: phân đoạn thu gom, vận chuyển,
xử lý, tái chế CTRSHĐT Nếu xem xét dưới góc độ là các chủ thể tham gia thì đối tượng nghiên cứu là người sử dụng và cung cấp dịch vụ CTRSHĐT, chính quyền địa phương và Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian
Luận án lựa chọn Hà Nội là bối cảnh nghiên cứu chính Đồng thời, tác giả đã tiến hành một cuộc điều tra, khảo sát 02 mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội để minh họa cho các phân tích và đánh giá
• Phạm vi thời gian
Phạm vi thời gian mà luận án lựa chọn nghiên cứu là giai đoạn 2006 - 2016 Đây
là khoảng thời gian trước và sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, các khu vực ven đô không thể tiếp cận các dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải do khả năng hữu hạn về tài chính, nhân lực của chính quyền thành phố Vì vậy, mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng được áp dụng khá phổ biến ở các khu vực này
Trang 28Để phân tích và đánh giá tính bền vững của 02 nghiên cứu điển hình, một cuộc
điều tra nhằm thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện vào tháng 9/10 năm 2016
• Phạm vi nội dung
- CTRSHĐT là một trong 3 loại chất thải cấu thành nên CTR, trong đó CTRSHĐT chiếm tỷ trọng lớn nhất và nổi cộm nhất Đối với CTRSHĐT, nguồn thải bao gồm: hộ gia đình, trường học, cơ quan, khu thương mại ở các đô thị.v.v Tuy nhiên, nguồn thải từ hộ gia đình chiếm tới 2/3 tổng lượng CTRSHĐT Do vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mô hình QLCTRSHĐT có nguồn thải từ hộ gia đình
- Theo Nghị Định 59/2007/NĐ - CP, "Hoạt động QLCTR bao gồm các hoạt
động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở QLCTR, các hoạt động phân loại,
thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người" Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu phân đoạn chính của hoạt động QLCTR
là thu gom vì một số lý do như sau (i) Một là, thu gom có thể được coi là một trong
số những phân đoạn đầu tiên của chu trình quản lý Phân đoạn này ảnh hưởng lớn
đến môi trường và sức khỏe của người dân Chính vì vậy, sự quan tâm của cộng
đồng và các nhà quản lý dành cho phân đoạn này là rất lớn (ii) Hai là, thực tế đã cho
thấy, thu gom là phân đoạn mà cộng đồng thể hiện sự tham gia một cách mạnh mẽ nhất Do đó, phân tích mô hình QLDVCĐ trong phân đoạn thu gom sẽ đem lại góc
nhìn sâu sắc về vai trò của cộng đồng (iii) Ba là, không giống như các phân đoạn xử
lý và vận chuyển, phân đoạn thu gom ít có các rào cản về mặt kỹ thuật, con người và nguồn lực tài chính.Vì vậy, cộng đồng có đủ năng lực để cung ứng phân đoạn này trên thị trường Khi đó, việc xem xét phân đoạn thu gom sẽ được nhìn nhận một cách thấu đáo với góc nhìn từ cấu trúc thị trường, tức là giữa nhà cung ứng và người sử dụng dịch vụ Mặc dù tập trung nghiên cứu và phân tích phân đoạn thu gom, nhưng luận án vẫn nhận diện và đem lại cách nhìn tổng quát về phân đoạn vận chuyển, xử
lý và tái chế Các hoạt động còn lại của hệ thống QLCTR như: xử lý, quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục bảng, Danh mục hình vẽ, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào
cộng đồng
Trang 29Chương này diễn giải những khái niệm quan trọng và phân tích các lý thuyết
mà tác giả sử dụng làm cơ sở để đánh giá, phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu
Nội dung cơ bản của chương này là trình bày chi tiết các phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong luận án, bao gồm: quy trình thực hiện luận án, nguồn dữ liệu được thu thập và phương pháp phân tích, xử lý số liệu để đạt mục tiêu nghiên cứu
Chương 3: Hiện trạng Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng
đồng ở Thành phố Hà Nội
Trong chương này, các nội dung về phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội, đánh giá sự sẵn lòng chi trả của cộng
đồng để cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT sẽ được trình bày và diễn giải cụ thể,
Chương 4: Định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững
Dựa trên các kết quả phân tích của chương 3, tác giả đề xuất các khuyến nghị chính sách để vận hành mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội theo hướng bền vững
6 Những đóng góp mới của Luận án
6.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên sử dụng và tích hợp 3 hệ thống lý thuyết: (i) lý thuyết quản lý chất thải rắn đô thị tổng hợp và bền vững; (ii) lý thuyết về
sự tham gia của cộng đồng và (iii) lý thuyết hành động tập thể Bằng phương pháp chuyên gia, tác giả đề xuất 17 chỉ tiêu trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế/quản lý nhằm phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng Điểm nổi bật của bộ chỉ tiêu này là sự ‘có mặt’ của các chỉ tiêu về sự tham gia của cộng đồng, chỉ tiêu giám sát, chế tài, giải quyết xung đột trong cộng đồng được tác giả phân tích và chiết xuất từ hệ thống lý thuyết (ii) và (iii) Các chỉ tiêu này đã nêu bật vai trò quan trọng của cộng đồng để mô hình quản lý được vận hành một cách bền vững
Luận án nỗ lực định lượng tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng
đồng bằng cách thử nghiệm tính toán chỉ số tổng hợp bền vững qua quy trình 3 bước: (i) chuẩn hóa các chỉ tiêu; (ii) tính toán các chỉ số thành phần tương ứng với bốn nhóm chỉ tiêu được đề xuất; (iii) tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững
Trang 30Thay vì phân tích hệ thống QLCTRSHĐT thị dưới góc độ liệt kê hoạt động và
đánh giá kết quả như nhiều báo cáo và nghiên cứu trước kia; luận án nhận diện và phân tích từng phân đoạn của hệ thống quản lý dưới cách nhìn cấu trúc thị trường Trong đó, các chủ thể tham gia với tư cách là người cung ứng, sử dụng dịch vụ CTRSHĐT được nhìn nhận và phân tích cụ thể
6.2 Những phát hiện và đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của Luận án
Kết quả phân tích, tính toán cho thấy: 2 mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng
đồng ở Hà Nội đều đạt sự bền vững cao trên khía cạnh môi trường, trong đó có sự
đóng góp rất lớn từ kết quả khả quan của tỷ lệ thu gom và tỷ lệ hộ gia đình được cung cấp dịch vụ này Kết quả tính toán cũng chỉ ra cả 2 mô hình ở Hà Nội đều kém bền vững trên khía cạnh kinh tế Nhân tố gây ra "mảng tối" đó là tỷ lệ thu hồi chi phí khá thấp Bên cạnh đó, mỗi mô hình lại chứa đựng những yếu tố bất ổn khác Đối với mô hình cộng đồng kết hợp với Công ty/HTX dịch vụ môi trường, khía cạnh xã hội là
đáng lo ngại khi mức độ tham gia của cộng đồng còn yếu và mờ nhạt Đối với mô hình cộng đồng tự tổ chức, khía cạnh thể chế/quản lý lại là điểm trừ rất lớn trong mô hình khi các vấn đề giám sát và chế tài hầu như bị bỏ ngỏ trong mô hình
Kết quả điều tra 504 hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn đã xác
định mức sẵn lòng chi trả bình quân của các hộ lần lượt là 35.000đ/hộ/tháng và 25.000đ/hộ/tháng Trong đó, thu nhập, trình độ giáo dục được xác định là 2 nhân tố then chốt ảnh hưởng đến mức WTP Với kết quả WTP thu thập được, mức phí thu gom được đề xuất tăng gấp 1,5 lần so với hiện tại, tương ứng 9.000 đồng/ người/ tháng
đối với khu vực nội thành và 4.500 đồng/ người/ tháng đối với khu vực ven đô đang trong quá trình chuyển đổi đô thị hóa Đây có thể coi là nguồn tài chính tiềm năng để chia sẻ gánh nặng ngân sách cho chính phủ khi cung ứng dịch vụ công
Thông qua các dự báo về bối cảnh mới cho Hà Nội và đánh giá cơ chế, chính sách hiện tại, các khuyến nghị về cơ chế chính sách, về kinh tế, về thể chế quản lý và nâng cao nhận thức đã được tác giả đề xuất để hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội theo hướng bền vững
Trang 31CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.1.1 Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.1.1.1 Khái niệm chất thải, chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt đô thị
• Khái niệm chất thải
Thuật ngữ chất thải có nội hàm khá rộng và được hiểu theo một số cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng Cho đến nay, có khá nhiều định nghĩa về chất thải và nội dung các định nghĩa cũng thay đổi theo thời gian Một định nghĩa nhận được sự
đồng thuận của nhiều tác giả là định nghĩa xem chất thải như một nguyên liệu không còn tính hữu dụng và bị loại bỏ Có thể nhận thấy định nghĩa này trong nhiều văn bản của các tổ chức quốc tế và trong nghiên cứu của nhiều học giả
Theo UNEP (2005), chất thải là "một nguyên liệu nào đó đã bị loại bỏ, sắp bị
loại bỏ hoặc có yêu cầu bị loại bỏ."
Theo Nguyễn Đình Hương (2006), "chất thải được hiểu là bất kỳ loại vật liệu
nào mà cá nhân không còn dùng nữa, chúng không còn có tác dụng gì với cá nhân đó
và được loại thải ra môi trường."
Luật Bảo vệ Môi trường (2015) cho rằng: "chất thải là vật chất được thải ra từ
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác."
Tuy nhiên, theo Pongracz (2002), khái niệm chất thải là tương đối ở trên 2 khía cạnh: (1) vật chất nào đó mất đi chức năng ban đầu đối với người sử dụng, nó sẽ trở thành chất thải; (2) khái niệm về chất thải là tương đối so với hiện trạng công nghệ và
địa điểm phát thải
Như vậy, "chất thải" là một khái niệm mang tính động và được hiểu theo từng bối cảnh cụ thể Chất thải có thể không hữu dụng đối với cá nhân này, xã hội này ở thời điểm hiện tại nhưng lại có thể hữu dụng đối với cá nhân khác, xã hội khác tại thời
điểm khác Xuất phát từ lý do đó, khái niệm về chất thải có sự thay đổi "Chất thải" có
thể được xem như là một tài nguyên, một nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động khác
mà từ đó nhiều sản phẩm hữu ích có thể được tạo ra Dựa trên ý tưởng này, Furedy
(1992) đã định nghĩa chất thải như là "một nguồn tài nguyên quý giá."
Trang 32Trong nghiên cứu này, khái niệm "chất thải" được tác giả sử dụng là: "bất cứ
vật liệu gì được thải bỏ ra môi trường từ quá trình sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác"
• Khái niệm chất thải rắn
Dựa trên nội hàm của khái niệm chất thải, khái niệm CTR được các tổ chức và học giả đưa ra như sau:
Theo Pfeffer (1992) (trích dẫn trong Ndum, Asi Eugene 2013), "CTR là bất cứ
vật liệu nào ở thế rắn nằm trong dòng chảy nguyên liệu bị xã hội loại bỏ."
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Hoa Kỳ (EPA) (2015) CTR là: ''rác thải,
bùn từ nhà máy xử lý chất thải, nhà máy xử lý nước, hoặc cơ sở kiểm soát ô nhiễm không khí và các vật liệu phế thải khác được bắt nguồn từ các hoạt động công nghiệp, thương mại, khai thác mỏ, nông nghiệp, và từ các hoạt động cộng đồng."
Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất thải và phế liệu đã
nêu rõ: "CTR là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải), được thải ra từ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác."
Trong nghiên cứu này, khái niệm CTR được tác giả sử dụng là: những chất
không phải dưới dạng lỏng, bắt nguồn từ các hoạt động sản suất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và hoạt động khác Chất thải này không có giá trị sử dụng dưới góc độ của người đầu tiên phát sinh CTR
• Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Cùng với CTR công nghiệp và CTR nguy hại, CTRSH là một bộ phận cấu thành của CTR nói chung
Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất thải và phế liệu đã
nêu rõ: "CTRSH (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt
thường ngày của con người"
Theo tác giả Cù Huy Đấu (2009) "CTRSHĐT là CTR phát sinh trong sinh hoạt
cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng tại khu vực đô thị."
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm về CTRSH đô thị dựa trên khái niệm về CTR nói chung nhưng thu hẹp và cụ thể hóa nguồn phát sinh, địa điểm phát sinh
1.1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến môi trường và sức khỏe con người
Tác động tiềm ẩn của CTRSHĐT đến môi trường và sức khỏe cộng đồng được bắt nguồn chủ yếu từ hoạt động yếu kém của hệ thống QLCTRSHĐT Theo P.T
Trang 33Nguyen (2011) nhiều thành phố ở các nước đang phát triển phải đối mặt với sự xuống cấp nghiêm trọng về môi trường và rủi ro về sức khoẻ do những tác động tiêu cực của CTRSHĐT Vấn đề này sẽ được cụ thể hóa qua phân tích cụ thể dưới đây
• Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến môi trường nước
Sự phân hủy CTRSHĐT thành các hóa chất cấu thành là nguồn gây ô nhiễm môi trường tại địa phương Ở các nước đang phát triển, vấn đề này càng trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi rất ít bãi chôn lấp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường do điều kiện ngân sách hạn chế Tại các bãi chứa rác thải, CTRSHĐT đặc biệt là chất thải hữu
cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy Nước có trong rác sẽ kết hợp với các nguồn khác như: nước mưa, nước ngầm để hình thành nước rỉ rác Nước rỉ rác trong bãi rác
sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như quá trình vận chuyển các chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh Nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rỉ rác rất cao Đối với bãi rác thông thường, các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu và gây ô nhiễm tầng nước ngầm, từ đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người khi tầng nước này được
sử dụng cho sinh hoạt Ngoài ra, chất ô nhiễm này còn có khả năng di chuyển theo chiều ngang, gây ô nhiễm nước mặt
• Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất tạo
ra sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng Với một lượng nước thải và nước rỉ rác vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy chất này trở thành chất ít ô nhiễm hoặc không gây ô nhiễm Nhưng với một lượng rác thải quá lớn, vượt quá khả năng tự làm sạch, môi trường đất sẽ bị quá tải
và ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại nặng và các chất độc hại sẽ theo nước trong đất chảy xuống nguồn nước ngầm và làm ô nhiễm nguồn nước này
• Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến môi trường không khí
Mối quan tâm lớn nhất khi xem xét ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường không khí là việc giải phóng khí khi phân hủy rác thải CTRSHĐT thường có một phần bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Một số chất thải có khả năng thăng hoa phân tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp, cũng có những loại rác thải
dễ phân hủy (như thực phẩm, trái cây hỏng) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo thành mùi hôi, tác động xấu đến môi trường
đô thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người (xem phụ lục 1)
• Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến sức khỏe con người
Theo Giusti, L (2009), tác động tiềm ẩn của CTRSHĐT đến sức khỏe con người được bắt nguồn từ thành phần phức tạp của CTRSHĐT, trong đó có chứa các
Trang 34mầm bệnh từ người và gia súc tạo điều kiện cho sinh vật, muỗi chuột, ruồi sinh sản, lây lan mầm bệnh cho con người
Rủi ro hàng đầu về sức khoẻ trực tiếp liên quan đến các công nhân làm việc trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSHĐT Việc phơi nhiễm trực tiếp chất thải có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm và mãn tính cho công nhân Rủi ro tiếp theo liên quan đến các cư dân sống gần bãi xử lý rác (Aatamila, M., 2010) Các nghiên cứu do Yongsi (2008) thực hiện cho thấy việc tiếp xúc với chất thải trong bãi rác có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, trong đó trẻ em là những người
dễ bị tổn thương nhất Chất thải độc hại không kiểm soát từ các ngành công nghiệp trộn lẫn với rác thải đô thị tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khoẻ Đặc biệt, rác thải hữu cơ tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng, vì chúng lên men, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh Rủi ro cuối cùng là ảnh hưởng của CTRSHĐT đến sức khỏe cộng đồng dân cư Đây là những ảnh hưởng gián tiếp và phát sinh từ việc sinh ra các vec tơ bệnh, chủ yếu là ruồi và chuột
Hình 1.1: Ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường và sức khoẻ của con người
Nguồn: Nguyễn Đình Hương, 2006
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị
1.1.2.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn đô thị
Quản lý là một quá trình mang tính chu kỳ, bắt đầu từ việc thiết lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch dài hạn, lập trình, lập ngân sách, thực hiện, vận hành và bảo trì, giám sát và đánh giá, kiểm soát chi phí, tổng kết lại các mục tiêu và kế hoạch (Schübeler, P., 1996) Quản lý các dịch vụ cơ sở hạ tầng đô thị nói chung và QLCTRĐT nói riêng cũng là một quy trình phức tạp như vậy
Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Nước mặt Nước ngầm MT đ ấ t
Môi trường không khí
Người, động vật
Trang 35Cũng theo Schübeler (1996), "QLCTRĐT bao gồm các hoạt động thu gom, vận
chuyển, xử lý, tái chế, phục hồi tài nguyên và xử lý CTR ở các đô thị."
Theo Nghị Định 59/2007/NĐ - CP, "Hoạt động QLCTR bao gồm các hoạt động
quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người"
Theo Luật BVMT 2014, "Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu,
giám sát, phân loại, thu gom, vận chyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải."
Theo Schübeler (1996), QLCTRĐT là trách nhiệm của chính quyền địa phương vì đó là một nhiệm vụ phức tạp, phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác giữa hộ gia
đình, cộng đồng, doanh nghiệp tư nhân và chính quyền thành phố Hơn thế nữa, QLCTRĐT còn là một nhiệm vụ quan trọng bởi những tác động của hệ thống đó
đến sức khỏe cộng đồng và phúc lợi, chất lượng và tính bền vững của môi trường
đô thị, hiệu quả và năng suất của nền kinh tế đô thị Với ý nghĩa tổ chức rộng và liên kết chặt chẽ với các ngành khác, QLCTRSHĐT tạo thành một cửa ngõ quan trọng để hỗ trợ quản lý đô thị tích hợp
1.1.2.1 Mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị
Theo Schübeler (1996), hệ thống QLCTRĐT cần đạt 4 mục tiêu căn bản như sau:
• Một là, hệ thống QLCTRĐT cần bảo vệ sức khỏe người dân đô thị, đặc biệt là
đối với người nghèo/người có thu nhập thấp không được thụ hưởng dịch vụ CTRĐT như các khu vực khác
• Hai là, QLCTRĐT nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường bằng cách kiểm soát ô nhiễm, hạn chế những tác động tiềm ẩn của CTR đến các thành phần môi trường
• Ba là, QLCTRĐT hỗ trợ phát triển kinh tế đô thị bằng cách cung ứng các dịch
vụ CTR phù hợp với nhu cầu và hiệu quả sử dụng;
• Bốn là, QLCTR đô thị hướng tới mục tiêu tạo việc làm và thu nhập cho người dân đô thị
Để đạt được các mục tiêu trên, hệ thống QLCTR đô thị cần phải được thiết kế
một cách bền vững Tính bền vững của QLCTR đô thị ngụ ý rằng: hệ thống cần phải
được thiết kế phù hợp với điều kiện địa phương, khả thi trên các góc độ: kinh tế, xã hội, môi trường và quản lý Hệ thống đó có thể tự duy trì lâu dài mà không làm cạn kiệt các nguồn lực trong đô thị
Trang 361.1.3 Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
1.1.1.3 Khái niệm quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
Thuật ngữ "Tổng hợp" (Intergrated) lần đầu tiên được đề cập trong quản lý
chất thải rắn (QLCTR) vào cuối thập kỷ 70s (Murray và cộng sự, 1971, trích dẫn trong Wilson, D.C và cộng sự, 2013) Kể từ đó, nhiều học giả sử dụng thuật ngữ này với hàm ý: (1) kết hợp hoặc tổng hợp các bộ phận riêng lẻ để tạo thành một hệ thống tốt; (2) kết hợp những phân đoạn riêng biệt để tạo thành một chu trình; (3) kết hợp mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, văn hóa để tạo vốn xã hội cho sự phát triển bền vững (Klundert, A Van De, 2001)
Năm 1995, chương trình hợp tác về QLCTR ở các nước có thu nhập thấp
do UNDP, UN-Habitat và Ngân hàng Thế giới khởi xướng đã hình thành khung lý thuyết về QLCTR tổng hợp và bền vững Theo đó, QLCTR tổng hợp và bền vững được định nghĩa là "sự lựa chọn và ứng dụng các công nghệ, chương trình quản
lý phù hợp để đạt mục tiêu cụ thể của QLCTR" (Tchobanoglous, 1993 trích dẫn trong Taskanen, 2000) Phương pháp mới này chủ yếu được xây dựng trên tổng thể toàn diện, gồm: tất cả các chủ thể, các yếu tố cấu thành của hệ thống QLCTR
và các khía cạnh để đạt mục tiêu phát triển bền vững (Klundert, A Van De và cộng sự, 2001)
Từ các nghiên cứu của Chương trình chuyên biệt về chất thải đô thị (UWEP -
Urban Waste Expertise Program) ở các nước đang phát triển, Bulle (1999) đã cho rằng QLCTR tổng hợp và bền vững cần thực hiện những giải pháp sau:
- Kết nối khu vực tư nhân, chính phủ và cộng đồng Đưa họ một trách nhiệm rõ ràng trên các phân đoạn quản lý khác nhau, từ thu gom đến tái chế chất thải
- Tích hợp các công nghệ được điều chỉnh một cách phù hợp để tạo ra thu nhập
và việc làm
- Quan tâm và xem xét các cộng đồng không được cung cấp dịch vụ CTR ở đô thị
Klundert, A Van De và cộng sự (2001) đã giải thích thuật ngữ "bền vững" và
"tổng hợp" được sử dụng trong QLCTR để nhấn mạnh sự cần thiết của việc tự duy trì
mà không làm ảnh hưởng đến các nguồn lực hiện tại và tương lai
• Thuật ngữ "Bền vững" hàm ý:
- Hệ thống đó phải phù hợp với với điều kiện địa phương, đảm bảo sự hài hòa, cân đối từ góc độ kinh tế, xã hội, tài chính, môi trường, thể chế
Trang 37- Hệ thống đó phải có khả năng tự duy trì trong một thời gian dài mà không làm suy giảm tài nguyên
Nguồn: Virginia Maclaren & Trần Hiếu Nhuệ, 2005
1.1.3.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
Hệ thống QLCTR tổng hợp và bền vững cần thiết phải hình thành các mục tiêu
cụ thể và đưa ra các giải pháp phù hợp trong bối cảnh xem xét đầy đủ các nguồn lực/điều kiện của hệ thống Theo Klundert, A Van De và cộng sự (2001), để đạt được tính bền vững, hệ thống đó cần thực thi đầy đủ các nguyên tắc như sau:
Các phân đoạn trong hệ thống chất thải
Phục hồi
Phát sinh và phân loại Thu gom Vận chuyển Xử lý và loại bỏ
Giảm thiểu Tái sử dụng Tái chế
Các chủ thể
• Chính quyền địa phương
• Các tổ chức NGOs/CBOs
• Người sử dụng dịch vụ
• Khu vực tư nhân không chính thức
• Khu vực tư nhân chính thức
Trang 381 Tối đa khả năng tạo việc làm/thu nhập trong cộng đồng
2 Các dịch vụ cung ứng phải làm thỏa mãn, hài lòng người sử dụng
3 Người sử dụng dịch vụ phải tham gia các hoạt động QLCTR
Nguyên tắc
môi trường
1 Tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực đến các thành phần môi trường
2 Tăng cường khả năng tái chế/tái sử dụng chất thải theo cách thức phù hợp
Nguyên tắc
thể chế/quản lý
1 Quy định rõ quyền/trách nhiệm của các bên liên quan
2 Tạo cơ chế để các bên liên quan có thể tham gia đầy đủ, công bằng trong mô hình quản lý
3 Tồn tại khung pháp lý hỗ trợ hoạt động của mô hình QLCTR
1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng
1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng
1.2.1.1 Khái niệm cộng đồng
"Cộng đồng" là một khái niệm được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực liên quan
đến chính sách xã hội và phát triển cộng đồng Giống như nhiều thuật ngữ khác, hiện vẫn chưa có sự đồng thuận giữa các học giả về khái niệm cộng đồng Một số nhà nghiên cứu định nghĩa cộng đồng thông qua việc xem xét các mối quan hệ trong đó
Chaskin (1997) cho rằng "cộng đồng là sự kết nối giữa những có cùng niềm tin, hoàn
cảnh, ưu tiên, mối quan hệ hoặc mối quan tâm chia sẻ" Một số học giả khác coi "cộng
đồng là những người ở trong một ranh giới địa lý hoặc nhóm người có cùng sở thích,
mục đích, hoặc giá trị" (Falk & Harrison, 1998) Chaskin (1997) lập luận: "cộng đồng
là một nhóm người trong xã hội có các mối liên kết, như: liên kết xã hội (thân nhân, tình bạn và mạng lưới người quen); liên kết chức năng (tiêu dùng và chuyển giao hàng hoá và dịch vụ); liên kết văn hoá (tôn giáo, truyền thống, hoặc sắc tộc" Như vậy, dù
là cộng đồng địa lý hay cộng đồng các mối quan tâm thì các học giả đều thừa nhận ở
trong cộng đồng tồn tại một mối liên kết để tạo ra cơ hội nhận diện nhóm và tạo ra cơ hội cho các hoạt động tập thể
Bray (1996) định nghĩa cộng đồng là "một nhóm người sống trong một khu vực địa
lý cụ thể (xã, thôn, huyện,) cùng có một vài giá trị chung, cùng đối diện những thách thức chung mặc dù họ có thể khác nhau về nền tảng, kinh nghiệm và kỹ năng"
Trang 39Anschutz, J., (1996) định nghĩa "cộng đồng bao gồm những người sống cùng
nhau trong một số hình thức tổ chức xã hội và sự gắn kết Mặc dù có sự khác nhau về đặc
điểm chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, nhưng các thành viên trong cộng đồng cùng có
khả năng tiếp cận, sử dụng và mối quan tâm tới dịch vụ môi trường".
Điểm chung của các tác giả đều cho rằng: cộng đồng là "một tập hợp công dân cư
trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích chung, cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của cộng đồng". Định nghĩa này về cộng đồng phù hợp để tác giả áp dụng vào bối cảnh QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng bởi lẽ dân cư ở đây được phân bố theo đơn
vị hành chính (phường, xã), có ranh giới địa lý rõ ràng, có những lợi ích chung về bảo
vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đảm bảo sự hài hòa, cân đối từ góc độ kinh
tế, xã hội, môi trường, thể chế/ quản lý
1.2.1.2 Khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng
Hiện nay, khái niệm Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ) được nhiều tác giả
và tổ chức đưa ra với những quan điểm khác nhau tùy thuộc vào đối tượng quản lý
Trong lĩnh vực tài nguyên, theo Christie, P.(1997), QLDVCĐ là "quá trình khuyến
khích người sử dụng tài nguyên và các thành viên trong cộng đồng tham gia quản lý một cách chủ động và chịu trách nhiệm về tài nguyên". Cách tiếp cận này dựa trên giả định rằng: nếu được giao trách nhiệm, thì những người sử dụng tài nguyên ở địa phương sẽ quản
lý nguồn lực của họ theo cách bền vững và thực thi các quy tắc hướng về cộng đồng
Trong lĩnh vực môi trường, Douglass và các cộng sự (1994) định nghĩa:
"QLDVCĐ là những hành động thực thi của hộ gia đình để cải thiện điều kiện môi trường và các nỗ lực tập thể của họ nhằm tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực và giảm thiểu rủi ro về sức khỏe" Định nghĩa này nhấn mạnh nhiều đến mục tiêu cải thiện môi trường địa phương và sử dụng các dịch vụ môi trường cơ bản của thành phố
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát QLDVCĐ là hình
thức quản lý có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng và được hưởng lợi từ việc tham gia quản lý đó (Phạm Phương Nam, 2015)
Như vậy, cộng đồng là trọng tâm trong quản lý, bắt đầu tham gia từ lên kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện, nhật xét, đánh giá sau khi kết thúc thực hiện QLDVCĐ
là hình thức quản lý từ dưới lên (bottom-up) và được thực hiện theo nhu cầu, nguyện
vọng của chính cộng đồng
1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng
Theo Phạm Phương Nam (2015), mô hình QLVCĐ có những đặc điểm và điều kiện như sau:
Trang 40• Đặc điểm của quản lý dựa vào cộng đồng
-Thứ nhất , QLDVCĐ có ba khía cạnh chính là trách nhiệm, quyền lực và kiểm
soát Cộng đồng có trách nhiệm quản lý, khai thác nguồn lực, đồng thời có quyền kiểm
soát và quyền đưa ra các quyết định trong quá trình quản lý, khai thác nguồn lực để
đạt hiệu quả cao nhất
-Thứ hai, sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương, quy mô của cộng đồng, pháp luật của nhà nước, thể chế và năng lực địa phương, công nghệ được sử dụng trong quản lý
quản lý, họ có thể tham gia một, một số hay tất cả công việc liên quan đến quản lý tùy theo điều kiện cụ thể của cộng đồng
-Thứ tư, cộng đồng đóng vai trò trung tâm và chủ động trong quá trình quản lý, tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, đề xuất và thực hiện các giải pháp trong quản
lý tài nguyên
-Thứ năm, cộng đồng được quyền tự chủ, tự quyết về nhân lực, tài chính
-Thứ sáu, quản lý tài nguyên phục vụ, gắn trực tiếp đời sống của cộng đồng hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống cộng đồng, phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
-Thứ bảy, QLDVCĐ là quá trình liên tục phát triển, được cập nhật, điều chỉnh, xây dựng trên những kinh nghiệm thực tế đã được đúc kết trong quá trình quản lý và kết hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật
-Thứ tám, sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã đóng vai trò quan trọng trong QLDVCĐ
• Điều kiện để quản lý dựa vào cộng đồng
-Thứ nhất, cộng đồng cần được biết tham gia quản lý, giám sát việc gì và được hưởng lợi gì, phải đối diện với những chi phí, rủi do gì… Do vậy, cần tuyền truyền, phổ biến để cộng đồng nhận thức được trách nhiệm phải bảo vệ tài nguyên